Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
Chế định kết hôn trong Luật HN&GĐ năm 2000 được quy định tại Chương II của Luật, gồm 9 điều từ Điều 9 đến Điều 17 quy định về điều kiện kết hôn, các trường hợp cấm kết hôn, thẩm quyền đăng ký kết hôn, giải quyết việc đăng ký kết hôn, tổ chức đăng ký kết hôn, người có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, hủy kết hôn trái pháp luật và hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật.
2.1 ĐIỀU KIỆN KẾT HÔN
Luật HN&GĐ năm 2000 quy định nam nữ kết hôn phải đáp ứng đủ ba điều kiện về mặt nội dung sau đây.
2.1.1. Về độ tuổi kết hôn
Khoản 1 Điều 9 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định: “Nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên” mới được kết hôn. Luật HN&GĐ năm 2000 quy định độ tuổi kết hôn dựa trên căn cứ khoa học về sự phát triển tâm sinh lý của các bên nam nữ và phong tục, tập quán của người Việt Nam.
Gia đình là tế bào của xã hội, và để xã hội phát triển thì gia đình cần phải thực hiện tốt chức năng của mình, đó là thực hiện chức năng sinh đẻ nhằm duy trì nòi giống. Nghiên cứu khoa học chỉ ra rằng nam từ 16 tuổi, nữ từ 13 tuổi trở lên đã có khả năng sinh sản. Tuy nhiên, để đảm bảo đứa trẻ sinh ra được khỏe mạnh, sức khỏe của cả người bố và người mẹ được đảm bảo, thì độ tuổi sinh đẻ ở nam phải từ 18 tuổi trở lên và nữ từ 17 tuổi trở lên. Theo nghiên cứu khoa học thì phụ nữ sinh con trước 18 tuổi và sau 34 tuổi thường gặp nguy cơ cao trong quá trình thai nghén, sinh nở như: sẩy thai, đẻ non, băng huyết, dị tật thai nhi, nhiễm độc thai nghén. Phụ nữ từ 24 đến 29 tuổi có sức khỏe sinh sản tốt nhất vì cơ thể đã phát triển toàn diện, chất lượng trứng ở thời kì tốt nhất. Đồng thời xét trên phương diện phát triển tâm lý, khi nam nữ đạt đến độ tuổi trưởng thành, cơ bản sẽ đạt được sự chín chắn trong suy nghĩ, nghiêm túc trong hành động, đảm bảo đưa ra quyết định đúng đắn trong việc kết hôn cũng như cuộc sống hôn nhân sau này. Độ tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi) là độ tuổi đã được nghiên cứu, tối thiểu đảm bảo sự phát triển tương đối đầy đủ về trí tuệ và thể chất. Ở độ tuổi này, hai bên nam nữ đã phần nhiều tự tạo lập được cuộc sống bản thân, không bị phụ thuộc vào gia đình. Yếu tố này là cần thiết để đảm bảo cho hai bên nam nữ sau khi kết hôn xây dựng được một cuộc sống ổn định, no ấm, bền vững [55].
Mặt khác, việc quy định độ tuổi kết hôn trong Luật HN&GĐ năm 2000 là kế thừa quy định của Luật HN&GĐ năm 1959 và 1986. Cả hai văn bản này đều quy định nam từ 20 tuổi, nữ từ 18 tuổi trở lên mới được kết hôn. Kể từ khi Luật HN&GĐ năm 1959 có hiệu lực (ngày 13/01/1960) cho đến Luật HN&GĐ năm 2000 được ban hành quy định về độ tuổi kết hôn đã được thi hành hơn 50 năm và được thực hiện như một tập quán. Luận văn: Thực trạng chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân.
Quyền kết hôn là một trong những quyền nhân thân của cá nhân. Pháp luật quy định: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân có quyền tự do kết hôn” [46, Điều 39]. Vì thế, pháp luật chỉ quy định độ tuổi kết hôn tối thiểu mà không quy định độ tuổi kết hôn tối đa. Việc quy định độ tuổi kết hôn tối thiểu nhằm đảm bảo cho nam nữ khi đến độ tuổi có những suy nghĩ chín chắn, trưởng thành để quyết định kết hôn với nhau. Đồng thời quy định về độ tuổi kết hôn trong Luật HN&GĐ hoàn toàn phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 16 Công ước Cedaw – Công ước chống mọi sự phân biệt, đối xử với phụ nữ “Việc hứa hôn và kết hôn của trẻ em phải bị coi là không có hiệu lực pháp lý và mọi hoạt động cần thiết, kể cả xây dựng luật lệ phải được tiến hành nhằm quy định độ tuổi tối thiểu có thể kết hôn”.
Cách tính tuổi kết hôn: Theo Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP thì “Không bắt buộc nam phải đủ từ 20 tuổi, nữ phải đủ từ 18 tuổi trở lên mới được kết hôn; do đó nam đã bước sang tuổi 20, nữ bước sang tuổi 18 mà kết hôn là không vi phạm điều kiện về độ tuổi kết hôn” [57]. Để làm rõ hơn về cách tính tuổi kết hôn, tại Điều 3 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP cũng quy định “Nam đang ở tuổi 20, nữ đang ở tuổi 18 thì đủ điều kiện về tuổi kết hôn theo quy định của Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000”. Như vậy, từ quy định của hai văn bản trên thì có thể hiểu là nam bước sang tuổi 20 (tuổi 19 cộng 1 ngày) và nữ bước sang tuổi 18 (17 tuổi cộng 1 ngày) thì được phép kết hôn. Ví dụ: Chị Nguyễn Thị A sinh ngày 28/7/1990 thì đến ngày 28/7/2007 chị A tròn 17 tuổi. Như vậy bắt đầu từ ngày 29/7/2007 là chị A đã bước sang tuổi 18 và đủ tuổi kết hôn theo luật định. Lúc đó, chị A hoàn toàn có quyền kết hôn mà không bị coi là vi phạm điều kiện về độ tuổi kết hôn.
Các văn bản luật hướng dẫn áp dụng cách tính tuổi tối thiểu quy định trong Luật HN&GĐ năm 2000 như trên là phù hợp với tình hình thực tiễn và phong tục tập quán của người Việt Nam. Văn bản giải thích về cách tính tuổi kết hôn trong Luật HN&GĐ năm 2000 là bước tiến bộ đáng kể trong việc tổ chức thực hiện pháp luật, giúp các nhà thực thi pháp luật có căn cứ để giải quyết những vấn đề phát sinh liên quan đến độ tuổi kết hôn.
Tuy nhiên, quy định độ tuổi kết hôn như trên cũng có sự mâu thuẫn với các Luật khác. Điều 20 BLDS năm 2005 quy định người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên. Người phụ nữ lấy chồng khi bước sang tuổi 18 (17 tuổi cộng 1 ngày) được xem là chủ thể của quan hệ HN&GĐ, tuy nhiên theo BLDS thì người này vẫn là người chưa thành niên, cho nên khi họ xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự (trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày) phải được sự đồng ý của cha mẹ (là người đại diện theo pháp luật theo Điều 22 BLDS năm 2005). Ngoài ra, quy định này còn mâu thuẫn với Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2004. Khi người vợ chưa đủ tuổi thành niên họ không có năng lực hành vi TTDS khi tham gia quan hệ TTDS (theo Điều 57 BLTTDS).
Có thể thấy, việc xác định chính xác độ tuổi kết hôn có ý nghĩa trong việc xác định kết hôn trái pháp luật; đồng thời là cơ sở để xem xét xử hủy việc kết hôn trái pháp luật. Quy định độ tuổi kết hôn thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với sức khỏe của nam nữ, đảm bảo cho nam nữ có thể đảm đương được trách nhiệm làm vợ, làm chồng, làm cha, làm mẹ trong gia đình, đảm bảo con cái sinh ra khỏe mạnh cả về thể chất lẫn trí tuệ, đồng thời cũng phù hợp với phong tục, tập quán của người Việt Nam.
2.1.2. Sự tự nguyện của hai bên nam nữ khi kết hôn Luận văn: Thực trạng chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân.
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 9 Luật HN&GĐ năm 2000 thì “việc kết hôn do nam nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào; không ai được cưỡng ép hoặc cản trở” [42].
Về mặt ý chí chủ quan của hai bên nam nữ thì tự nguyện kết hôn là việc hai bên nam nữ thể hiện sự đồng ý trở thành vợ chồng của nhau. Mỗi bên đều tự do, độc lập về ý chí khi quyết định kết hôn, không bị cưỡng ép hay lừa dối khiến cho họ phải kết hôn trái với nguyện vọng của bản thân. Sự tự nguyện hoàn toàn trong việc kết hôn là việc hai bên nam nữ thực sự yêu thương nhau, mong muốn trở thành vợ chồng xuất phát từ tình yêu thương giữa họ nhằm mục đích cùng nhau xây dựng gia đình mà không nhằm các mục đích giả tạo khác. Sự tự nguyện hoàn toàn này là yếu tố quan trọng đảm bảo cho hôn nhân tồn tại lâu dài và bền vững.
Về hành vi khách quan thì cả hai bên nam nữ phải tự mình thể hiện nguyện vọng, mong muốn kết hôn với nhau qua việc đưa đơn đăng ký kết hôn. Để đảm bảo việc kết hôn hoàn toàn tự nguyện, Luật HN&GĐ năm 2000 đã quy định “khi tổ chức đăng ký kết hôn phải có mặt hai bên nam nữ kết hôn” [42, Điều 14]. Theo đó, hai bên nam nữ sẽ bày tỏ ý chí của mình bằng cách trả lời trực tiếp trước cán bộ phụ trách việc đăng ký kết hôn và đại diện của cơ quan đăng ký kết hôn rằng họ hoàn toàn tự nguyện kết hôn với nhau. Luật quy định việc kết hôn phải có mặt của cả hai bên nam nữ nhằm mục đích đảm bảo cho họ được tự do thể hiện ý chí và tình cảm khi kết hôn, khẳng định mục đích xây dựng gia đình và chung sống lâu dài của họ. Về nguyên tắc không thể có hôn nhân ngoài ý muốn của người kết hôn. Đây là điều kiện hết sức quan trọng được pháp luật hầu hết các nước trên thế giới ghi nhận để đảm bảo giá trị đích thực của hôn nhân. Cuộc sống gia đình chỉ thực sự có hạnh phúc khi được xây dựng trên cơ sở sự hòa hợp và tự nguyện của hai bên nam nữ. Luận văn: Thực trạng chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân.
Pháp luật quy định việc kết hôn phải có sự tự nguyện của hai bên nam, nữ nhằm đảm bảo cho họ được tự do thể hiện ý chí và tình cảm khi kết hôn. Do đó, đối với những người bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không có khả năng nhận thức, làm chủ được hành vi của mình và bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự thì pháp luật cấm họ kết hôn. Đối với những trường hợp nam, nữ bị chấn động về thần kinh hoặc đang trong tình trạng say rượu, bia thì tạm thời họ không được đăng ký kết hôn cho đến khi họ khôi phục khả năng nhận biết và hoàn toàn tỉnh táo [61, tr. 97].
Quy định về điều kiện kết hôn tại Khoản 2 Điều 9 Luật HN&GĐ năm 2000 hoàn toàn phù hợp với tinh thần của Công ước Cedaw “Quyền tự do như nhau được lựa chọn người để kết hôn và chỉ kết hôn khi mình được tự do quyết định và hoàn toàn tự nguyện” và phù hợp với Điều 35 BLDS năm 2005 “nam nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình có quyền tự do kết hôn, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào; không ai được cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ hoặc cưỡng ép kết hôn” [46]. Sự cưỡng ép, lừa dối từ hai phía đối với nhau, sự cưỡng ép hay cản trở từ phía gia đình, xã hội đều không thể đem lại hạnh phúc trong quan hệ vợ chồng. Pháp luật tôn trọng và bảo vệ quyền lợi của các bên khi xác lập một quan hệ hôn nhân, vì vậy việc kết hôn có thể bị hủy khi có dấu hiệu cưỡng ép, không tự nguyện.
Bất kỳ trường hợp kết hôn nào mà không có sự tự nguyện của hai bên nam nữ thì đều bị coi là kết hôn trái pháp luật. Những hành vi cưỡng ép, lừa dối để kết hôn hoặc cản trở việc kết hôn tự nguyện, tiến bộ đều vi phạm sự tự nguyện kết hôn nên bị cấm. Tuy nhiên trong thực tiễn vẫn còn xảy ra một số trường hợp kết hôn do bị cưỡng ép, bị lừa dối, kết hôn giả tạo không nhằm mục đích xác lập quan hệ vợ chồng mà nhằm để đạt được ý muốn xuất cảnh một cách hợp pháp…Những trường hợp này khi có yêu cầu, về nguyên tắc Tòa án nhân dân có quyền xử lý hủy việc kết hôn trái pháp luật.
Như vậy, sự tự nguyện kết hôn là một quy định được Luật HN&GĐ năm 2000 kế thừa và phát triển từ Luật HN&GĐ năm 1959 và 1986. Quy định sự tự nguyện khi kết hôn nhằm xóa bỏ hoàn toàn chế độ hôn nhân phụ thuộc vào cha mẹ trong gia đình phong kiến và xây dựng chế độ HN&GĐ xã hội chủ nghĩa dựa trên nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng bình đẳng.
2.1.3. Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn
Chỉ khi hai bên nam nữ tuân thủ đầy đủ các điều kiện về độ tuổi kết hôn, về tự do tự nguyện kết hôn và không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn tại Điều 10 thì việc kết hôn đó mới có giá trị pháp lý và được Nhà nước bảo hộ. Luật HN&GĐ năm 1959, 1986 và 2000 đều có điều khoản quy định về các trường hợp cấm kết hôn bởi đây là vấn đề hết sức quan trọng. Trên thực tế, có trường hợp đã có vợ hoặc chồng nhưng vẫn quan hệ chung sống như vợ chồng với người khác; có những người không có năng lực hành vi nhưng bị gia đình lừa dối, ép buộc phải kết hôn; hoặc tồn tại hôn nhân giữa hai bên nam nữ có quan hệ về nuôi dưỡng hoặc có cùng dòng máu về trực hệ. Dù thuộc trường hợp nào kể trên thì đây cũng là một trong những nguyên nhân đem lại sự đau khổ, bất hạnh cho các gia đình và không phù hợp với truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam. Vì thế, trên cơ sở kế thừa Luật HN&GĐ năm 1959, 1986, Luật HN&GĐ năm 2000 đã quy định rất cụ thể các trường hợp cấm kết hôn và có bổ sung một số trường hợp mới. Luận văn: Thực trạng chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân.
- Cấm người đang có vợ hoặc có chồng kết hôn với người khác
Điều 36 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định hôn nhân phải theo nguyên tắc một vợ, một chồng. Theo đó, Điều 38 đoạn 1 BLDS năm 2005, Điều 4 và Điều 10 Khoản 1 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định: Cấm người đang có có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác. Theo nguyên tắc đó, chỉ những người chưa kết hôn hoặc những người tuy đã kết hôn nhưng vợ hoặc chồng họ đã chết hoặc vợ chồng đã ly hôn thì mới có quyền kết hôn. Quy định này nhằm xóa bỏ chế độ hôn nhân gia đình phong kiến, xóa bỏ sự đối xử bất bình đẳng đối với người phụ nữ. Chỉ có hôn nhân một vợ một chồng mới bảo đảm bền vững và hạnh phúc gia đình, vợ chồng mới thực sự yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau.
Theo mục 1 Điểm c.1 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP thì “người đang có vợ hoặc chồng” được hiểu là:
- Người đã kết hôn với người khác theo đúng quy định của pháp luật về HN&GĐ nhưng chưa ly hôn;
- Người chung sống với người khác như vợ chồng từ trước ngày 03/01/1987 và đang chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn;
Người đang sống chung với người khác như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến trước ngày 01/01/2001 và đang chung sống với nhau như vợ chồng mà có đủ điều kiện kết hôn nhưng không đăng ký kết hôn (trường hợp này chỉ áp dụng từ ngày Nghị quyết này có hiệu lực cho đến ngày 01/01/2003). Luận văn: Thực trạng chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân.
Việc quy định các trường hợp nam, nữ được xem là người đang có vợ, có chồng và thời hạn luật định có ý nghĩa xác định thời điểm phát sinh và chấm dứt quyền và nghĩa vụ vợ chồng cũng như các vấn đề liên quan khác: quyền và nghĩa vụ đối với con, quyền và nghĩa vụ về tài sản…
Cần lưu ý trường hợp người bị Tòa án tuyên bố là đã chết. Theo Điều 91 BLDS năm 2005, một người nếu sau ba năm kể từ ngày tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật, mất tích trong chiến tranh, bị tai nạn, thiên tai thảm họa, v.v…, mà sau một thời gian luật định vẫn không có tin tức gì để chứng tỏ người đó còn sống thì những người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố người đó chết. Sau khi tuyên bố của Tòa án tuyên bố một người đã chết có hiệu lực pháp luật, thì vợ hoặc chồng của người đó có quyền kết hôn với người khác. Nếu người bị tuyên bố là đã chết trở về, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố chết, mà vợ hoặc chồng của người đó đã kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân được xác lập sau vẫn có hiệu lực pháp luật; nếu người vợ hoặc chồng chưa kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân đương nhiên được khôi phục lại.
Hiện nay, ở Việt Nam vẫn tồn tại một số trường hợp một vợ hai chồng hoặc một chồng hai vợ. Đó là trường hợp các cán bộ, bộ đội miền Nam đã có vợ, có chồng ở miền Nam tập kết ra Bắc (1954) lấy vợ hoặc lấy chồng khác. Sau khi thống nhất đất nước, họ trở về đoàn tụ với gia đình, dẫn đến hiện tượng một người có hai vợ hoặc hai chồng. Trường hợp trên không phải ảnh hưởng của chế độ HN&GĐ phong kiến mà do hoàn cảnh lịch sử của đất nước. Do đó, những trường hợp này cần được quan tâm nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của vợ, chồng, đặc biệt là đối với phụ nữ và trẻ em. Vì vậy, việc kết hôn của họ tuy đã vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng nhưng không bị coi là trái pháp luật mà Nhà nước vẫn thừa nhận quan hệ hôn nhân đó (Thông tư liên tịch số 60/1978/TATC ngày 22/02/1978 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn giải quyết các trường hợp cán bộ, bộ đội trong Nam tập kết ra Bắc mà lấy vợ, lấy chồng khác).
Luật HN&GĐ năm 2000 quy định cấm người đang có vợ có chồng kết hôn với người khác hoặc chung sống như vợ chồng với người khác nhằm mục đích xóa bỏ tận gốc chế độ đa thê, bảo đảm hạnh phúc và sự bền vững của gia đình, phù hợp với thực tiễn xã hội, bảo đảm quyền và lợi ích của người vợ, người chồng. Nguyên tắc một vợ một chồng đảm bảo sự bình đẳng thực chất đối với người phụ nữ. Luận văn: Thực trạng chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân.
- Cấm người mất năng lực hành vi dân sự kết hôn
Khi tham gia vào các giao dịch dân sự nói chung và quan hệ HN&GĐ nói riêng, chủ thể phải có đủ năng lực hành vi theo quy định của pháp luật.
Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự. Người bị mất năng lực hành vi dân sự là người do bị mắc bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình nên Tòa án ra quyết định tuyên bố người đó mất năng lực hành vi dân sự khi có yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan và trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định có thẩm quyền (Điều 22 BLDS năm 2005).
Trước đây, Luật HN&GĐ năm 1959 quy định: “Những người sau đây không được kết hôn: bất lực hoàn toàn về sinh lý; mắc một trong các bệnh hủi, hoa liễu, loạn óc mà chưa chữa khỏi” [39, Điều 10] và Luật HN&GĐ năm 1986 quy định cấm kết hôn trong trường hợp “…đang mắc bệnh tâm thần không có khả năng nhận thức được hành vi của mình, đang mắc bệnh hoa liễu…” [40, Điều 7 Khoản b]. Luật HN&GĐ năm 2000 đã có sự thay đổi về thuật ngữ, thể hiện tính khái quát, bao hàm hơn và phù hợp với quy định của BLDS năm 2005 về năng lực hành vi dân sự của cá nhân. Đồng thời Luật HN&GĐ năm 2000 cũng không cấm kết hôn đối với những người bị bất lực hoàn toàn về sinh lý hoặc đang mắc bệnh hủi, hoa liễu hay loạn óc. Quy định này hoàn toàn phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay vì khoa học ngày càng phát triển, các bệnh trên có thể chữa khỏi mà không để lại di chứng ảnh hưởng đến sức khỏe và hạnh phúc của gia đình.
Có thể thấy, quy định cấm người mất năng lực hành vi dân sự kết hôn là hoàn toàn đúng đắn và cần thiết. Bởi vì, những người không nhận thức được hành vi thì không thể có khả năng thể hiện một cách đúng đắn ý chí của mình trong kết hôn, cũng không thể nhận thức và thực hiện trách nhiệm làm vợ, làm chồng, làm cha, làm mẹ trong gia đình. Khi bị mất năng lực hành vi dân sự, việc họ thể hiện ý chí tự nguyện – một nguyên tắc quan trọng của Luật HN&GĐ năm 2000 cũng không thể xác định được bởi lẽ họ không có khả năng thể hiện ý chí của mình. Những người bị mất năng lực hành vi dân sự không những không có khả năng lao động, không có khả năng lo cho cuộc sống của bản thân mà còn ảnh hưởng tới cuộc sống, quyền lợi và sức khỏe của vợ, chồng, con cái họ. Trong nhiều trường hợp người bị bệnh tâm thần có thể gây nguy hiểm về, tính mạng, sức khỏe cho người vợ hoặc người chồng. Điều 22 BLDS năm 2005 quy định: “giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải có người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện” [46]. Tuy nhiên, quyền tự do kết hôn là một quyền nhân thân, gắn liền với nhân thân của chủ thể, không thể do người khác thực hiện thay. Hơn nữa, bệnh tâm thần không có khả năng nhận thức, điều khiển hành vi và khoa học cũng đã chứng minh, có những bệnh về tâm thần có thể có khả năng di truyền nên càng cần cấm những người bị bệnh này kết hôn nhằm đảm bảo cho thế hệ tương lai sinh ra được mạnh khỏe, đảm bảo hạnh phúc gia đình được bền vững, đảm bảo sự an toàn về tính mạng, sức khỏe của người khác trong gia đình. Luận văn: Thực trạng chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân.
Hiện nay, Luật HN&GĐ năm 2000 chỉ cấm người bị mất năng lực hành vi dân sự kết hôn, còn người bị mắc bệnh tâm thần nhưng chưa bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự thì vẫn được phép kết hôn. Tuy nhiên, trong thực tế đã có không ít những trường hợp một bên bị mắc bệnh tâm thần đã gây ra những cái chết thương tâm hoặc gây thương tích cho vợ con, người thân, cho gia đình khi bệnh tâm thần tái phát. Ví dụ trường hợp chị Nguyễn Thu H được gia đình anh Phạm Thế P – một gia đình giàu có nhất làng xin cưới về làm dâu. Chuyện anh P bị tâm thần chỉ có người nhà biết (vì những biểu hiện của anh không rõ ràng, chỉ là việc ít nói, không thích giao tiếp với mọi người). Niềm vui lấy được chồng giàu có chưa bao lâu thì chị phát hiện anh bị tâm thần, tuy không đánh đập chị H, nhưng anh P thường xuyên bắt vợ quan hệ tình dục một cách bệnh hoạn, nếu chị không đồng ý anh lại chạy ra đường la hét. Dần dần, anh mắc chứng hoang tưởng, luôn cho rằng có ai đó luôn giết mình nên đã treo cổ tự vẫn ở ngoài vườn. Khi chồng chết, cả nhà đuổi chị đi, không cho mang theo đồ đạc gì bất chấp chị đang bụng mang dạ chửa. Chị H đến vùng biên giới sinh sống, định lấy đứa con làm nguồn an ủi song hạnh phúc nhỏ nhoi ấy đã không đến với chị. Đứa con gái chị sinh ra cũng mắc bệnh tâm thần thể nhẹ. Ngày ngày, chị chạy vạy khắp nơi lo chữa bệnh cho con. Dù nhiều cơ sở y tế đã khuyên chị nên chấp nhận sự thật là bệnh con chị không chữa được vì là di truyền…
Từ ví dụ trên, đặt ra yêu cầu pháp luật cần có quy định điều kiện kết hôn như thế nào để hạn chế những rủi ro này trong thực tế?
- Cấm kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời
Khoản 3 Điều 10 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định cấm kết hôn “giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời” [42]. Những người có cùng dòng máu về trực hệ là cha mẹ đối với con; ông bà đối với cháu nội và cháu ngoại (Khoản 12 Điều 8 Luật HN&GĐ năm 2000). Những người có họ trong phạm vi ba đời là những người cùng một gốc sinh ra: cha mẹ là đời thứ nhất; anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh chị em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì là đời thứ ba (Khoản 13 Điều 8 Luật HN&GĐ năm 2000). Những người có họ trong phạm vi ba đời bị cấm kết hôn với nhau cụ thể: cấm kết hôn giữa anh chị em cùng cha mẹ, anh chị em cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha với nhau; cấm bác ruột, chú ruột, cậu ruột kết hôn với cháu gái; cấm cô ruột, dì ruột kết hôn với cháu trai; cấm anh chị em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì kết hôn với nhau. Quy định này là phù hợp với khoa học và phong tục tập quán của nước ta.
Xét về mặt khoa học, việc cấm kết hôn giữa những người có quan hệ gần gũi nhau về huyết thống là nhằm đảm bảo sức khỏe và sự lành mạnh của nòi giống của thế hệ con cái. Phạm vi cấm kết hôn rộng sẽ tạo ra những điều kiện tốt hơn cho việc tổ hợp gen tạo nên những cơ thể mới với những đặc điểm sinh học trội hơn, đảm bảo sự phát triển về thể chất, trí tuệ của thế hệ mới. Các nhà khoa học thông qua nghiên cứu khảo sát, điều tra trên thực tế để đi đến kết luận rằng những trường hợp kết hôn có quan hệ huyết thống gần với nhau, con cái của họ ra đời dễ mắc bệnh tật, dễ bị dị dạng thậm chí là có thể tử vong ngay sau khi sinh…
Về mặt xã hội và truyền thống, phong tục dân tộc thì trước kia cha ông ta đã có quy định cấm kết hôn giữa những người cùng huyết thống dù xa hay gần, thậm chí là cấm kết hôn đến cả những người có cùng một họ. Bởi theo phong tục, tập quán, việc kết hôn giữa những người có quan hệ huyết thống gần gũi sẽ phá vỡ tôn ti trật tự trong họ hàng, cách xưng hô; những chuẩn mực đạo đức bị xâm phạm, suy đồi, làm ảnh hưởng và phá vỡ sự lành mạnh trong quan hệ giữa các thế hệ của gia đình Việt Nam.
Hầu hết các nước trên thế giới đều có quy định cấm kết hôn giữa những người có dòng máu trực hệ hoặc có họ trong phạm vi nào đó. Ví dụ: Bungari quy định cấm kết hôn giữa những người trực hệ và những người thân thuộc bàng hệ trong bốn đời; Pháp nghiêm cấm kết hôn giữa những người cùng một dòng họ trong quan hệ trực hệ; cấm việc kết hôn giữa anh em, chị em chính thức hoặc ngoài giá thú trong bàng hệ, đồng thời, cấm kết hôn giữa chú, bác và cháu gái, cô và cháu trai, dù quan hệ họ hàng là chính thức hay ngoài giá thú. Luận văn: Thực trạng chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân.
Trước đây, Luật HN&GĐ năm 1959 không quy định cụ thể cấm kết hôn giữa những người có họ trong phạm vi mấy đời mà chỉ quy định: “…Cấm kết hôn giữa anh chị em ruột, anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha. Đối với những người khác có họ trong phạm vi năm đời hoặc có quan hệ thích thuộc về trực hệ, thì việc kết hôn sẽ giải quyết theo phong tục tập quán” [39, Điều 9].
Quan hệ thích thuộc về trực hệ là mối quan hệ giữa bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể. Luật quy định như vậy vì còn chịu ảnh hưởng sâu sắc của những tập tục cũ. Luật HN&GĐ năm 1986 và năm 2000 đã thu hẹp phạm vi cấm kết hôn là giữa những người có họ trong phạm vi ba đời, trên cơ sở quy định như vậy đã bảo đảm hạnh phúc gia đình, phù hợp về khoa học và đạo đức truyền thống của dân tộc.
- Cấm kết hôn giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.
Quy định này mở rộng phạm vi cấm kết hôn hơn so với Luật HN&GĐ năm 1986. Trong đó, Luật HNGĐ năm 1986 chỉ quy định kết hôn giữa “cha mẹ nuôi và con nuôi”, đến Luật HNGĐ năm 2000 quy định cả những người “đã từng” là cha mẹ nuôi và con nuôi và một số đối tượng khác nữa. Xét về mặt huyết thống thì họ không có quan hệ huyết thống nhưng đã từng có quan hệ chăm sóc nuôi dưỡng: cha, mẹ nuôi – con nuôi, bố chồng – con dâu, mẹ vợ – con rể, bố dượng – con riêng của vợ và mẹ kế – con riêng của chồng. Pháp luật cấm những người này kết hôn với nhau để đảm bảo thuần phong mỹ tục, tránh đảo lộn trật tự trong gia đình, phù hợp với đạo đức xã hội và truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam. Việt Nam là đất nước coi trọng và đề cao mối quan hệ tốt đẹp giữa con người với con người, giữa những người trong gia đình với nhau. Đối với những người đã từng có quan hệ nuôi dưỡng, chăm sóc lẫn nhau, từng là cha nuôi, mẹ nuôi – con nuôi; con dâu – bố chồng, con rể – mẹ vợ; bố dượng, mẹ kế – con riêng lại phát sinh quan hệ kết hôn sẽ đảo lộn các giá trị truyền thống, lề lối sinh hoạt của chính gia đình, dòng họ và ảnh hưởng tới cộng đồng xã hội. Đồng thời, quy định này còn đảm bảo duy trì trật tự trong gia đình, tránh đảo lộn ngôi thứ trong gia đình, các bên sẽ rất khó xưng hô và đối xử với nhau đúng mực.
Như vậy, luật không cấm việc kết hôn giữa con nuôi với con đẻ, giữa anh chị em nuôi, chị dâu với em chồng hoặc em dâu với anh chồng nếu hai bên kết hôn đủ điều kiện kết hôn với nhau và việc kết hôn đó được pháp luật công nhận khi thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật HN&GĐ. Tuy nhiên, đây là những trường hợp kết hôn khá “đặc biệt” nên hai bên nam, nữ cũng cần lưu ý đến tập quán địa phương cũng như tranh thủ được sự ủng hộ của cha mẹ, gia đình để việc kết hôn được thuận lợi, bảo đảm cuộc sống hạnh phúc sau này. Luận văn: Thực trạng chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân.
Quy định của pháp luật hiện hành là chặt chẽ, bảo đảm giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc, bảo đảm thực hiện các nguyên tắc của cuộc sống, giữ gìn tôn ti trật tự gia đình và xã hội, ngăn chặn những trường hợp lợi dụng mối quan hệ phụ thuộc để ép buộc đối phương kết hôn với mình. Có thể nói đây vừa là quy định của pháp luật vừa là một quy tắc đạo đức.
- Cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính
Kết hôn giữa những người cùng giới tính là việc xác lập quan hệ vợ chồng giữa hai người đều là nam hoặc đều là nữ. Trước đây, Luật HN&GĐ năm 1959 và 1986 không quy định cụ thể về điều này, dẫn đến tình trạng trên thực tế ở một số địa phương đã có hiện tượng các cặp nam, các cặp nữ chung sống với nhau như vợ chồng và ngày nay con số này đang có chiều hướng gia tăng. Như vậy, tại Khoản 5 Điều 10 Luật HN&GĐ điều kiện về giới tính được xác định rõ, khi đăng ký kết hôn thì hai bên bắt buộc phải là một nam và một nữ.
Năm 1990, tổ chức y tế thế giới đã loại bỏ đồng tính ra khỏi danh sách bệnh tâm thần. Đứng dưới góc độ y tế thì đồng tính, song tính và chuyển giới không phải là một loại bệnh, do đó y học không thể can thiệp. Ở một số nước Bắc Âu như Bỉ, Đan Mạch, Hà Lan có đạo luật cho phép những người cùng giới tính có thể kết hôn, trên cơ sở lập luận rằng điều này là sự tôn trọng quyền tự do lựa chọn hạnh phúc của con người, những gia đình này vẫn bảo đảm chức năng duy trì nòi giống cho xã hội bằng cách thụ tinh trong ống nghiệm, qua các ngân hàng tinh trùng, mang thai hộ hoặc nhận con nuôi.
Pháp luật Việt Nam không cho phép những người cùng giới tính kết hôn vì những người cùng giới tính kết hôn với nhau là đi ngược lại truyền thống đạo đức, trái với tự nhiên, không phù hợp với chức năng duy trì nòi giống của gia đình và lo ngại rằng nếu pháp luật cho phép kết hôn đồng tính có thể kéo theo nhiều hệ lụy như việc nhận con nuôi của các cặp đồng tính. Việc được nuôi dưỡng bởi hai người đồng tính có thể ảnh hưởng đến nhận thức, tâm sinh lý của đứa trẻ được nhận nuôi. Hôn nhân đồng giới sẽ dẫn đến nhiều thay đổi như sự biến mất của các từ “cha” – “mẹ” trong gia đình người đồng tính, sẽ kích thích các cặp đồng tính sử dụng phương pháp mang thai hộ… Luận văn: Thực trạng chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân.
Trên thực tế có những trường hợp bị khiếm khuyết về mặt giới tính khi mới sinh ra, dẫn đến giới tính trong giấy khai sinh không đúng với giới tính thật. Những trường hợp này được phép xác định lại giới tính thật của mình. Ví dụ: Chào đời năm 1984, bộ phận sinh dục bị dị dạng, chị Thành (Bình Phước) được cha mẹ khai sinh là nam, song thực tế khi lớn lên, cơ thể lại có buồng trứng, có kinh nguyệt, ngực nở. Năm 13 tuổi, chị Thành tới Bệnh viện Từ Dũ (Thành phố Hồ Chí Minh) kiểm tra thì phát hiện là nữ, và được xác định lại giới tính theo hướng này. Gia đình đánh mất giấy xác nhận của bệnh viện nên chị không thể làm lại được khai sinh. Chị đã tới Phân viện Pháp y Thành phố Hồ Chí Minh để xác định lại giới tính, và được chứng thực là “nữ”…[35].
Cần phân biệt rõ những trường hợp được phẫu thuật xác định lại giới tính khác với các trường hợp phẫu thuật chuyển giới tính. Người chuyển giới là người có những đặc điểm giới tính trên cơ thể phát triển bình thường, hoàn chỉnh (phân biệt rõ là nam hay nữ) nhưng lại có cảm nhận và mong muốn giới tính của mình không trùng với giới tính sinh học khi sinh ra. Pháp luật Việt Nam nghiêm cấm thực hiện việc chuyển đổi giới tính đối với những người đã hoàn thiện về giới tính (Khoản 1 Điều 4 Nghị định số 88/2008/NĐ-CP). Còn những người phẫu thuật để xác định lại giới tính thì về bản chất giới tính của họ chưa rõ ràng, cần được phẫu thuật để xác định. Khoản 4 Điều 36 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP quy định rõ: “xác định lại giới tính của một người trong trường hợp giới tính của người đó bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình chính xác mà cần có sự can thiệp của y học nhằm xác định lại giới tính” [15]. Nghị định số 88/2008/NĐ-CP đã quy định cụ thể điều kiện, tiêu chuẩn, thủ tục, trình tự đối với việc xác định lại giới tính trên nguyên tắc: “đảm bảo mỗi người được sống theo đúng giới tính của mình” và “việc xác định lại giới tính phải được tiến hành trên nguyên tắc tự nguyện, khách quan, trung thực, khoa học và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc đã xác định lại giới tính” [17, Điều 3]. Theo đó, sau khi đã xác định lại giới tính thì người đó sẽ được đăng ký hộ tịch theo giới tính mới của mình và họ hoàn toàn có quyền kết hôn với người có giới tính khác với giới tính đã được xác định lại mà không thuộc các trường hợp cấm kết hôn quy định tại Khoản 5 Điều 10 Luật HN&GĐ năm 2000.
Nhìn chung, phạm vi cấm kết hôn của Luật HN&GĐ năm 2000 so với Luật HN&GĐ năm 1959 và 1986 là rộng và cụ thể, đầy đủ hơn, phù hợp hơn với thực tế xã hội và pháp luật của một số nước trên thế giới, nhằm mục tiêu cao nhất là bảo đảm sự yên ấm và hạnh phúc của mỗi gia đình.
2.2 ĐĂNG KÝ KẾT HÔN VÀ VIỆC CHUNG SỐNG NHƯ VỢ CHỒNG KHÔNG ĐĂNG KÝ KẾT HÔN Luận văn: Thực trạng chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân.
Việc kết hôn phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Đăng ký kết hôn là thủ tục do Nhà nước quy định – như một điều kiện về hình thức nhằm công nhận việc xác lập quan hệ hôn nhân giữa hai bên nam nữ là hợp pháp. Việc pháp luật quy định sự kiện kết hôn phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận là sự ràng buộc pháp lý, là cơ sở làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng. Ở các nước, hình thức thủ tục, nghi lễ kết hôn có khác nhau. Có những nước thừa nhận hình thức kết hôn trên cơ sở nghi lễ tôn giáo (tại nhà thờ) mà không cần thông qua các thủ tục hành chính như Mỹ, Anh… Một số nước khác lại quy định hình thức kết hôn mang tính pháp lý, tức là phải được sự chứng nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền như Pháp, Trung Quốc…
Ở Việt Nam, việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo nghi thức quy định tại Điều 14 Luật HN&GĐ năm 2000. Đăng ký kết hôn là biện pháp để cơ quan nhà nước có thể kiểm tra và kịp thời ngăn chặn các hiện tượng vi phạm điều kiện kết hôn của nam nữ, qua đó tuyên truyền, giải thích các quy định của pháp luật về kết hôn nói riêng và hôn nhân gia đình nói chung. Quy định này hoàn toàn phù hợp với Khoản 2 Điều 16 Công ước Cedaw, đó là hôn nhân “bắt buộc phải có đăng ký kết hôn trong hồ sơ chính thức của Nhà nước”.
2.2.1. Thẩm quyền và thủ tục đăng ký kết hôn
Trên cơ sở kế thừa quy định của Luật HN&GĐ năm 1986, Điều 12 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn như sau: “Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của một trong hai bên kết hôn là cơ quan đăng ký kết hôn. Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài là cơ quan đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau ở nước ngoài” [42]. Luận văn: Thực trạng chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân.
Như vậy, khi hai bên là công dân Việt Nam kết hôn với nhau tại Việt Nam thì cơ quan đăng ký kết hôn là UBND xã, phường, thị trấn nơi cư trú của một trong hai bên kết hôn. Khi hai bên kết hôn là công dân Việt Nam kết hôn với nhau ở nước ngoài thì cơ quan đăng ký kết hôn là cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài. Trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài tại Việt Nam thì cơ quan đăng ký kết hôn là UBND tỉnh hoặc thành phố trực thuộc trung ương nơi công dân Việt Nam thường trú. Điều 17 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP quy định như sau: “Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của bên nam hoặc bên nữ thực hiện việc đăng ký kết hôn”. Quy định này là nguyên tắc chung để xác định thẩm quyền đăng ký kết hôn. Để xác định chính xác thẩm quyền đăng ký kết hôn đối với từng trường hợp cụ thể cần viện dẫn tới quy định tại Điều 8 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP để hiểu và vận dụng quy định về “nơi cư trú” trong xác định thẩm quyền đăng ký kết hôn. Kết hợp Điều 8 và Điều 17 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP, có thể thấy, mặc dù pháp luật quy định có thể lựa chọn nơi đăng ký kết hôn theo nơi cư trú của bên nam hoặc bên nữ, nhưng quyền lựa chọn này chỉ đặt ra trong hai trường hợp sau:
- Cả bên nam và bên nữ cùng có hộ khẩu thường trú, hoặc;
- Cả bên nam và bên nữ cùng không có hộ khẩu thường trú mà chỉ có đăng ký tạm trú có thời hạn.
Ngoài hai trường hợp nói trên thì việc xác định thẩm quyền đăng ký kết hôn phải tuân theo thứ tự quy định tại Điều 8 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP, đó là: việc đăng ký kết hôn trước hết phải đăng ký tại nơi bên nam hoặc bên nữ có hộ khẩu thường trú. Trường hợp cả hai bên không có hộ khẩu thường trú, nhưng có đăng ký tạm trú có thời hạn theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ khẩu, thì UBND cấp xã, nơi một trong hai bên đăng ký tạm trú có thời hạn, thực hiện việc đăng ký kết hôn.
Như vậy, tùy từng trường hợp, cơ quan đăng ký kết hôn có thể là UBND cấp xã, UBND cấp tỉnh hoặc cơ quan ngoại giao, lãnh sự. Trong trường hợp việc đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền, thì việc kết hôn đó không có giá trị pháp lý. Quy định này có ý nghĩa quan trọng, là biện pháp để nhà nước kiểm soát việc tuân theo pháp luật của nam nữ trong việc kết hôn đồng thời ngăn chặn hiện tượng kết hôn vi phạm các điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật.
Một điểm mới của Luật HN&GĐ năm 2000 so với Luật HN&GĐ năm 1986 là quy định về thủ tục giải quyết và tiến hành đăng ký kết hôn. Sau khi nhận đủ giấy tờ hợp lệ theo quy định của pháp luật về hộ tịch, cơ quan đăng ký kết hôn kiểm tra hồ sơ đăng ký kết hôn; nếu xét thấy hai bên nam nữ có đủ điều kiện kết hôn thì cơ quan đăng ký kết hôn tổ chức đăng ký kết hôn. Trong trường hợp một bên hoặc cả hai bên không đủ điều kiện kết hôn thì cơ quan đăng ký kết hôn từ chối đăng ký và giải thích rõ lý do bằng văn bản; nếu người bị từ chối không đồng ý thì có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật. Hướng dẫn quy định này, Nghị định số 158/2005/NĐ-CP quy định cụ thể các loại giấy tờ (tờ khai, giấy xác nhận tình trạng hôn nhân), thời hạn cơ quan có thẩm quyền giải quyết đăng ký kết hôn cho hai bên nam nữ. Luận văn: Thực trạng chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân.
Trước khi có Luật HN&GĐ năm 2000, Nhà nước ta chưa ban hành văn bản quy phạm pháp luật để hướng dẫn việc đăng ký kết hôn cho đồng bào vùng sâu, vùng xa nói chung và đồng bào các dân tộc thiểu số nói riêng. Do đó tình hình vi phạm pháp luật về đăng ký kết hôn diễn ra ở nhiều địa phương và diễn biến phức tạp. Chẳng hạn, ở tỉnh Lào Cai, hai dân tộc người Dao và người Mông chiếm tỷ lệ dân số cao nhất tỉnh và thường sống ở vùng cao, vùng xa có đến 90% các cặp vợ chồng kết hôn với nhau mà không đăng ký kết hôn [24]. Vì vậy, để tạo điều kiện tốt nhất cho đồng bào các dân tộc vùng sâu, vùng xa thực hiện đăng ký kết hôn, Khoản 2 Điều 11 Luật HN&GĐ năm 2000 đã giao Chính phủ quy định việc đăng ký kết hôn ở vùng sâu, vùng xa. Ngày 27/3/2002, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 32/2002/NĐ-CP, trong đó có quy định vấn đề kết hôn (từ Điều 4 đến Điều 9) với thủ tục gọn nhẹ, thuận tiện và linh hoạt, tạo điều kiện cho người dân thực hiện quy định của pháp luật. Theo đó, việc đăng ký kết hôn được thực hiện tại trụ sở UBND cấp xã hoặc tại tổ dân phố, thôn, bản, phum, sóc, nơi cư trú của một trong hai bên kết hôn. Sau khi nhận Tờ khai đăng ký kết hôn, UBND cấp xã kiểm tra, nếu các bên đã có đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại Nghị định này, thì thực hiện ngay việc đăng ký kết hôn trong ngày làm việc đó, nếu nhận hồ sơ sau 15 giờ thì việc đăng ký được thực hiện trong ngày làm việc tiếp theo; trong trường hợp cần xác minh, thời hạn được kéo dài không quá 05 ngày làm việc.
Lễ đăng ký kết hôn được tổ chức tại UBND xã, phường, thị trấn nơi cư trú của một hoặc hai bên (nơi nộp hồ sơ đăng ký kết hôn). Tại trụ sở UBND, phải có mặt cả hai bên nam nữ kết hôn. Đại diện UBND sẽ hỏi lần cuối ý kiến của hai bên đối với việc kết hôn của mình, khẳng định lại sự tự nguyện của hai bên trước khi tiến hành kết hôn. Nếu hai bên vẫn đồng ý kết hôn thì cán bộ tư pháp hộ tịch sẽ mời họ cùng ký vào giấy chứng nhận đăng ký kết hôn và sổ đăng ký kết hôn. Chủ tịch UBND cấp xã sẽ ký và trao cho mỗi bên một bản giấy chứng nhận đăng ký kết hôn và giải thích cho hai bên về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định của pháp luật về HN&GĐ. Giấy chứng nhận kết hôn là chứng cứ xác nhận giữa hai bên đã phát sinh và tồn tại quan hệ vợ chồng, được nhà nước ghi nhận và bảo hộ.
2.2.2. Chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn Luận văn: Thực trạng chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân.
Khoản 1 Điều 11 Luật HN&GĐ năm 2000 đã quy định “Nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng” [42]. Việc Luật HN&GĐ năm 2000 không thừa nhận hôn nhân thực tế, thể hiện rõ thái độ nghiêm khắc của Nhà nước đối với những trường hợp kết hôn không tuân thủ quy định của pháp luật. Nghị quyết số 35/2000/QH10 đã có hướng dẫn áp dụng Khoản 1 Điều 11 về việc giải quyết hậu quả pháp lý đối với các trường hợp hôn nhân thực tế (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 35/2000/QH10). Theo tinh thần của Mục 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 và Nghị định số 77/2001/NĐ-CP thì:
Trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03 tháng 01 năm 1987, ngày Luật HN&GĐ năm 1986 có hiệu lực mà chưa đăng ký kết hôn thì được Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho đăng ký kết hôn. Việc đăng ký kết hôn đối với những trường hợp này không bị hạn chế về thời Những trường hợp này pháp luật không bắt buộc mà chỉ khuyến khích đăng ký kết hôn vì thực tế họ đã ở vào tuổi ông, bà, quan hệ vợ chồng đã được xác lập từ lâu. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn thì được Tòa án thụ lý giải quyết theo quy định về ly hôn của Luật HN&GĐ năm 2000. Một trong hai bên chết trước thì người còn lại được thừa kết với tư cách là vợ chồng của người chết.
Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03 tháng 01 năm 1987 đến trước ngày 01 tháng 01 năm 2001, mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực cho đến ngày 01 tháng 01 năm 2003; trong thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn, nhưng có yêu cầu ly hôn thì Tòa án áp dụng các quy định về ly hôn của Luật HN&GĐ năm 2000 để giải quyết. Từ sau ngày 01 tháng 01 năm 2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng.
Theo Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC thì được coi nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng, nếu họ có đủ điều kiện để kết hôn theo quy định của Luật HN&GĐ năm 2000 và thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Có tổ chức lễ cưới khi về chung sống với nhau; Luận văn: Thực trạng chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân.
- Việc họ về chung sống với nhau được gia đình (một bên hoặc cả hai bên) chấp nhận;
- Việc họ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến;
- Họ thực sự có chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình.
Thời điểm nam và nữ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng là ngày họ tổ chức lễ cưới hoặc ngày họ về chung sống với nhau được gia đình (một hoặc cả hai bên) chấp nhận hoặc ngày họ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến hoặc ngày họ thực sự bắt đầu chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình. Theo Thông tư này thì những trường hợp chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 01/01/2001 thực hiện việc đăng ký kết hôn thì quan hệ vợ chồng của họ tính “hồi tố” trở về trước, tức là hôn nhân của họ được công nhận kể từ ngày họ chung sống với nhau như vợ chồng mà không phải kể từ ngày đăng ký kết hôn.
Nếu nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 01/01/2001 trở đi, trừ trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 3 của Nghị quyết 35/2000/QH10, mà không đăng ký kết hôn, đều không được pháp luật công nhận là vợ chồng; nếu có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì Tòa án áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 17 của Luật HN&GĐ năm 2000 để giải quyết.
Như vậy, Luật HN&GĐ năm 2000 đã tạo một khoảng thời gian để giải quyết tình trạng “chung sống với nhau như vợ chồng” mà không đăng ký kết hôn xác lập trước ngày Luật có hiệu lực. Trên thực tế, từ ngày 01/01/2001 đến ngày 01/01/2003, chính quyền các cấp, các cơ quan tư pháp ở địa phương, các tổ chức đoàn thể đã hết sức cố gắng trong việc tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện quy định pháp luật, ngoài ra cách thức đăng ký kết hôn cũng được tổ chức phong phú, linh hoạt hơn. Phần lớn các trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001 mà có đủ điều kiện kết hôn đã được rà soát, lập danh sách và đăng ký kết hôn. Tuy nhiên, do số lượng các trường hợp phải đăng ký kết hôn theo mục 3 Nghị quyết 35/2000/QH10 quá lớn, nên đến hết thời gian này, trong cả nước vẫn còn không ít trường hợp đã được rà soát, lập danh sách nhưng chưa được đăng ký kết hôn. Nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực này, bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của công dân, đặc biệt là quyền và lợi ích của phụ nữ và trẻ em, ngày 28/4/2003, Chính phủ đã có tờ trình số 520/CP-TTr đề nghị Quốc hội gia hạn thời gian thực hiện điểm b mục 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10. Ngày 29/4/2001, Ủy ban Thường vụ Quốc hội có kết luận số 84a/UBTVQH về vấn đề nói trên. Để triển khai kết luận đó, ngày 14/7/2003, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Chỉ thị số 02/2003/CT-BTP về việc tiếp tục đăng ký kết hôn cho các trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001. Việc gia hạn thời hạn kết hôn được quy định như sau:
Đối với các trường hợp hồ sơ đăng ký kết hôn rõ ràng, hai bên nam nữ có đủ điều kiện kết hôn, thì hoàn thành việc đăng ký kết hôn cho họ trong năm 2003. Đối với các trường hợp phức tạp, cần xác minh hoặc xin ý kiến chỉ đạo của cấp trên thì cần cố gắng, tích cực hoàn thành việc đăng ký kết hôn trước ngày 01 tháng 08 năm 2004 [8].
Như vậy, theo Chỉ thị số 02/2003/CT-BTP, những trường hợp chung sống với nhau như vợ chồng nhưng chưa được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vẫn có thêm một khoảng thời gian để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Luận văn: Thực trạng chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân.
Kết quả trên cho thấy việc thực hiện Mục 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 và Nghị định số 77/2001/NĐ-CP về đăng ký hôn nhân thực tế cho thấy chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với vấn đề hôn nhân thực tế được quy định trong các văn bản pháp luật nói trên là phù hợp với thực tế, đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân, được các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể và nhân dân nhiệt liệt hưởng ứng, tham gia thực hiện. Việc đăng ký hôn nhân thực tế cũng đã góp phần tăng cường quản lý nhà nước về công tác hộ tịch, hộ khẩu và các hoạt động quản lý khác của Nhà nước, bảo hộ các quyền về dân sự và hôn nhân, gia đình của người dân. Mặt khác, qua hoạt động đăng ký hôn nhân thực tế, ý thức pháp luật, đặc biệt là ý thức pháp luật về HN&GĐ của người dân được nâng lên một bước đáng kể.
Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra nếu một trong hai bên nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng không đăng ký kết hôn nhưng vi phạm một trong các điều kiện kết hôn (ví dụ, người đang có vợ, chồng lại chung sống như vợ chồng với người khác, người có quan hệ thân thích quy định tại Khoản 3, Khoản 4 Điều 10 chung sống như vợ chồng với nhau…) thì sẽ xử lý như thế nào? Những người đó có phải chịu chế tài gì không? Điều 4 Luật HN&GĐ năm 2000 chỉ quy định cấm người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác, còn những trường hợp khác như anh em thân thích chung sống với nhau như vợ chồng thì pháp luật không quy định, do đó không có cơ sở để quy định chế tài xử lý đối với những trường hợp này, ảnh hưởng tới tính nghiêm minh của pháp luật.
2.3 HỦY KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2000 Luận văn: Thực trạng chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân.
2.3.1. Nguyên tắc xử lý đối với việc kết hôn trái pháp luật
Kết hôn trái pháp luật là việc nam, nữ xác lập quan hệ vợ chồng có đăng ký kết hôn tại cơ quan đăng ký kết hôn nhưng vi phạm điều kiện kết hôn do pháp luật quy định, cụ thể là vi phạm một trong các quy định tại Điều 9, 10 Luật HN&GĐ năm 2000.
Nhà nước không thừa nhận những trường hợp nam, nữ kết hôn mà không tuân thủ đầy đủ các điều kiện kết hôn. Vì vậy, về nguyên tắc việc kết hôn trái pháp luật sẽ bị tòa án nhân dân xử hủy. Hủy việc kết hôn trái pháp luật là biện pháp xử lý đối với những trường hợp kết hôn vi phạm điều kiện kết hôn nhằm bảo đảm chấp hành nghiêm chỉnh Luật HN&GĐ. Đây là biện pháp chế tài của Luật HN&GĐ, thể hiện thái độ phủ định của Nhà nước đối với các trường hợp kết hôn trái pháp luật. Điều 16 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định:
Theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 15 của Luật này, Tòa án xem xét và quyết định việc hủy kết hôn trái pháp luật và gửi bản sao quyết định cho cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn. Căn cứ vào quyết định của Tòa án, cơ quan đăng ký kết hôn xóa đăng ký kết hôn trong Sổ đăng ký kết hôn [42].
Về nguyên tắc, việc kết hôn vi phạm một trong các điều kiện kết hôn được quy định tại Điều 9 và Điều 10 Luật HN&GĐ năm 2000 là trái pháp luật, khi có yêu cầu, tòa án có quyền hủy việc kết hôn trái pháp luật đó. Tuy nhiên, việc hủy kết hôn trái pháp luật ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của hai người kết hôn trái pháp luật và của con cái họ. Vì vậy, khi xử lý các trường hợp kết hôn trái pháp luật, tòa án phải điều tra làm rõ hành vi vi phạm điều kiện kết hôn, mức độ vi phạm và hoàn cảnh vi phạm, đặc biệt là phải xem xét và đánh giá thực chất mối quan hệ tình cảm giữa hai bên nam – nữ kể từ khi kết hôn để từ đó tòa án có quyết định xử lý đúng đắn, bảo đảm “thấu tình, đạt lý”. Ví dụ trường hợp của anh Hòa và chị Thanh (Hải Dương) đã kết hôn với nhau năm 2004. Hai người sinh được một người con chung là cháu Tân vào năm 2006. Năm 2008, anh Hòa vào Thành phố Hồ Chí Minh làm ăn có quen biết với chị Hà và tháng 9/2011 đưa chị Hà về Nam Định (quê chị Hà) đăng ký kết hôn. Đến tháng 2/2012, chị Thanh đến đánh ghen và có đơn gửi Tòa án nhân dân tuyên bố hủy kết hôn trái pháp luật giữa anh Hòa và chị Hà vì anh Hòa và chị vẫn là vợ chồng hợp pháp, chưa ly hôn thì anh Hòa không được kết hôn với người khác. Sau khi thụ lý và xác minh, Tòa án nhân dân đã tuyên hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh Hòa và chị Hà do vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng.
2.3.2. Căn cứ hủy kết hôn trái pháp luật Luận văn: Thực trạng chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân.
Hủy việc kết hôn trái pháp luật dựa trên những căn cứ sau:
- Chưa đến tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật mà nam nữ đã kết hôn
Căn cứ vào Giấy khai sinh của các bên nam nữ, vào thời điểm kết hôn nếu nam chưa bước sang tuổi hai mươi, nữ chưa bước sang tuổi mười tám là vi phạm độ tuổi kết hôn. Việc kết hôn đó là trái pháp luật và là căn cứ để Tòa án có thể xử hủy kết hôn trái pháp luật.
- Thiếu sự tự nguyện của một trong hai bên hoặc của cả hai bên nam nữ khi kết hôn.
Theo Mục 1 Điểm b Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP việc kết hôn bị coi là thiếu sự tự nguyện khi bị cưỡng ép, lừa dối. Đó là khi việc kết hôn có một trong những biểu hiện sau:
Một bên lừa dối (ví dụ: lừa dối là nếu kết hôn sẽ xin việc làm phù hợp hoặc nếu kết hôn sẽ bảo lãnh ra nước ngoài; không có khả năng sinh lý nhưng cố tình giấu; biết mình bị nhiễm HIV nhưng cố tình giấu…) nên bên bị lừa dối đã đồng ý kết hôn. Lừa dối để kết hôn là một trong hai người kết hôn đã nói sai sự thật về người đó làm cho người kia lầm tưởng mà kết hôn hoặc một trong hai người kết hôn đã hứa hẹn sẽ làm việc gì đó có lợi cho người kia làm người kia đồng ý kết hôn. Hành vi lừa dối khác với sự nhầm lẫn nên cần phân biệt rõ hai trường hợp này. Khác với luật của nhiều nước trên thế giới, luật Việt Nam hiện hành không coi sự nhầm lẫn như là một trong những lí do để yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật. Nếu một người chỉ nhầm lẫn về một số yếu tố của người kia như: nhầm lẫn về nghề nghiệp, về địa vị công tác, về hoàn cảnh gia đình, v.v.., thì không coi là thiếu tự nguyện khi kết hôn. Ví dụ như một người vì lầm tưởng đối tượng của mình là một người giàu có hay có địa vị cao trong xã hội mà quyết định đi tới hôn nhân nhưng sau khi kết hôn mới phát hiện ra sự thật hoàn toàn trái ngược với những gì đã tưởng tượng, cho rằng mình bị lừa dối thì điều này không được pháp luật công nhận. Nếu một người do nhầm lẫn mà chấp nhận kết hôn, thì người đó có quyền xin ly hôn mà không thể yêu cầu Tòa án hủy kết hôn trái pháp luật do bị lừa dối. Một số trường hợp khác cũng được coi là kết hôn trái pháp luật do bị lừa dối như che giấu tiền án tiền sự, kết hôn để tránh sự truy nã của cảnh sát, kết hôn nhằm làm gián điệp… hoặc kết hôn không trên cơ sở tình yêu mà chỉ nhằm hướng tới một mục đích nào đó khác (ví dụ như kết hôn để nhằm nhập quốc tịch…). Các trường hợp khai man tuổi để tảo hôn, che giấu việc đã kết hôn từ trước nhưng chưa ly hôn để tiếp tục kết hôn với người khác… thì xét vào kết hôn trái luật trên cả hai cơ sở lừa dối và vi phạm điều kiện kết hôn khác. Tuy nhiên, việc xác định thế nào là kết hôn trái pháp luật do bị lừa dối hoàn toàn không dễ. Ví dụ như một bên hứa hẹn sau khi kết hôn sẽ tìm việc làm hoặc xin bảo lãnh ra nước ngoài nhưng không thực hiện được cho rằng là một trường hợp kết hôn do bị lừa dối, điều này có khía cạnh không thỏa đáng. Nếu ra điều kiện như vậy tức là người bị lừa dối kia hướng tới mục đích vật chất, vì việc làm hay vì để được bảo lãnh ra nước ngoài mà tiến đến hôn nhân, hoàn toàn không phải vì tình yêu mà đến với đối phương, đi ngược lại với quan điểm hôn nhân tiến bộ của pháp luật. Thiết nghĩ, kết hôn là một quyền nhân thân của con người, tuy rằng nó có liên quan đến một số quyền tài sản nhưng bản chất vẫn là được xây dựng trên nền tảng của những quan hệ nhân thân mà có, lừa dối hay không lừa dối khi kết hôn phải dựa trên các quan hệ nhân thân liên quan đến con người mà đánh giá, không thể mang vấn đề vật chất làm thước đo giá trị hôn nhân. Luận văn: Thực trạng chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân.
- Một bên ép buộc (ví dụ: đe dọa dùng vũ lực hoặc uy hiếp tinh thần hoặc dùng vật chất…) nên buộc bên bị ép buộc đồng ý kết hôn.
- Một bên hoặc cả hai bên nam và nữ bị người khác cưỡng ép (ví dụ: bố mẹ của người nữ do nợ của người nam một khoản tiền nên cưỡng ép người nữ phải kết hôn với người nam để trừ nợ; do bố mẹ của hai bên có hứa hẹn với nhau nên cưỡng ép con của họ phải kết hôn với nhau…) buộc người bị cưỡng ép kết hôn trái với nguyện vọng của họ.
Hiện nay, các hành vi ép buộc, cưỡng ép người khác kết hôn vẫn còn tồn tại với nhiều mục đích và biểu hiện khác nhau. Đe dọa dùng vũ lực hay uy hiếp tinh thần là có hành vi ép buộc đối phương phải kết hôn với mình nếu không sẽ gây tổn hại lớn về tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh sự cho người đó, cho thân nhân của họ hoặc thậm chí có trường hợp dọa sẽ tự tử để ép kết hôn. Dùng vật chất để cưỡng ép như cho vay với lãi suất cao rồi tìm mọi cách để bắt họ kết hôn để trừ nợ; lừa đảo chiếm đoạt tài sản rồi dùng nó để làm điều kiện trao đổi… Sử dụng thủ đoạn để khiến đối phương làm mình mang thai rồi lấy đó như cái “cớ” để ép người đó phải “chịu trách nhiệm”. Cha mẹ buộc con phải kết hôn để trừ nợ, đây là trường hợp khá phổ biến ở đồng bào các dân tộc thiểu số, các gia đình nghèo hay cha mẹ hai bên đã từng có hứa hẹn nên ép con cái của họ kết hôn với nhau… Những hành động ép buộc trên xuất phát từ tư tưởng phong kiến “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”, xâm phạm nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ và đi ngược với tinh thần của pháp luật HN&GĐ Việt Nam hiện nay, đáng bị lên án và trừng phạt.
Tuy nhiên, cần phải phân biệt giữa “ép buộc” và “thuyết phục”. Có thể ban đầu cha, mẹ hướng con đến một đối tượng kết hôn không hợp ý của con nhưng sau một thời gian nghe cha mẹ mình khuyên nhủ, thuyết phục, người con đã thuận theo mà tiến đến hôn nhân thì đây không thể coi là kết hôn không tự nguyện. Bởi lẽ, một người bị “cưỡng ép” tức là về mặt ý chí người đó không thể tự làm chủ, chịu người khác điều khiển, áp đặt do bị lệ thuộc về mặt nào đó. Các trường hợp bị ép buộc, cưỡng ép có thể phải chịu sự chi phối về sức khỏe, tính mạng, vật chất hoặc tinh thần mà phải kết hôn; còn trường hợp bị thuyết phục thì hoàn toàn tự do về mặt ý chí, thoải mái trong tư tưởng. Nói một cách khác, để xem xét một cuộc việc kết hôn có sự cưỡng ép hay không, hoàn toàn dựa vào ý chí chủ thể tham gia mong muốn hay không mong muốn việc kết hôn đó.
Khi việc kết hôn có hành vi ép buộc, cưỡng ép hoặc lừa dối thì được xác định là có căn cứ để Tòa án xử hủy việc kết hôn đó khi có yêu cầu. Luận văn: Thực trạng chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân.
- Người đang có vợ hoặc có chồng lại kết hôn với người khác
Người đang tồn tại quan hệ hôn nhân hợp pháp thì không có quyền kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác. Nếu việc kết hôn vi phạm quy định này thì có căn cứ để Tòa án nhân dân xử hủy việc kết hôn đó. Cơ sở pháp lý để xác định một người đang có vợ, có chồng là dựa vào Giấy chứng nhận kết hôn do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp và Giấy chứng nhận kết hôn đó phải đang có hiệu lực. Trong trường hợp nam, nữ chung sống như vợ chồng tuy không có Giấy chứng nhận kết hôn nhưng được công nhận là có quan hệ vợ chồng theo Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 thì các bên nam nữ cũng được coi là người đang có vợ, có chồng, do đó nếu một trong hai bên lại kết hôn với người khác thì việc kết hôn sau của họ bị coi là trái pháp luật. Tòa án có quyền hủy việc kết hôn trái pháp luật đó khi có yêu cầu.
- Người mất năng lực hành vi dân sự mà vẫn kết hôn
Luật HN&GĐ năm 2000 cấm những người mất năng lực hành vi dân sự kết hôn. Nếu vào thời điểm đăng ký kết hôn, quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì việc kết hôn của họ là trái pháp luật. Trường hợp một người bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, nhưng đã được Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự của họ, sau đó người này mới kết hôn thì việc kết hôn của họ vẫn được coi là hợp pháp. Như vậy, chỉ là căn cứ xử hủy khi kết hôn vào thời gian người đó đang bị mất năng lực hành vi dân sự.
- Những người cùng dòng máu về trực hệ và những người khác có họ trong phạm vi ba đời bị cấm kết hôn nhưng lại kết hôn với
Khoản 3 Điều 10 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định cấm những người có cùng dòng máu về trực hệ, những người có họ trong phạm vi ba đời kết hôn với nhau. Nếu nam, nữ kết hôn mà vi phạm quy định này thì là căn cứ để Tòa án nhân dân hủy việc kết hôn của họ. Tuy vậy, trong thực tế việc xác định căn cứ này thường gặp khó khăn nhất định. Bởi vì, ở nước ta trải qua một thời gian dài chiến tranh, loạn lạc nên đã có không ít các trường hợp những người có cùng huyết thống nhưng đã bị lưu lạc, việc xác định quan hệ họ hàng, huyết thống đối với họ sẽ khó khăn. Nếu những người này lại vô tình mà kết hôn với nhau thì khó có thể xác định họ có quan hệ huyết thống và bị cấm kết hôn với nhau để hủy việc kết hôn trái pháp luật của họ. Tuy nhiên, dù họ không biết là có quan hệ huyết thống nhưng nếu họ đã kết hôn thì vẫn sẽ bị hủy khi phát hiện ra.
Trong thực tế trường hợp kết hôn vi phạm điều cấm này rất ít xảy ra. Bởi vì, theo truyền thống đạo lý và phong tục của người Việt Nam thì những người có họ dù gần hay xa đều không thể kết hôn với nhau. Ở nông thôn, những trường hợp người có họ đến đời thứ năm, thứ sáu mà muốn kết hôn với nhau vẫn bị cha mẹ, họ hàng ngăn cấm. Nhưng trong vài năm gần đây, đã có trường hợp những người kết hôn muốn lợi dụng việc kết hôn để làm thủ tục xuất cảnh. Ví dụ: cậu ruột mang quốc tịch nước ngoài kết hôn với cháu gái nhằm mục đích là làm thủ tục cho cháu gái cùng xuất cảnh. Trường hợp này đã vi phạm quy định tại Khoản 3 Điều 10 về cấm kết hôn giữa những người có họ trong phạm vi ba đời.
- Những người là cha mẹ nuôi với con nuôi, những người đã từng là cha mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng kết hôn với
Để xác định những người kết hôn có những mối quan hệ trên cần dựa vào Quyết định công nhận nuôi con nuôi hoặc Giấy chứng nhận kết hôn do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp. Hai người chỉ coi là có quan hệ cha, mẹ nuôi với con nuôi khi đã có quyết định nhận nuôi con nuôi. Trong trường hợp xác định người từng có quan hệ giữa bố mẹ chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng không dễ dàng. Một người chỉ được coi đã từng là con dâu của một người đàn ông khi họ có Giấy chứng nhận kết hôn với con trai của người đàn ông đó. Tuy nhiên, Giấy chứng nhận kết hôn chỉ ghi tên người nữ và người nam kết hôn với nhau, mà không ghi tên người bố đẻ của người chồng. Vậy căn cứ vào đâu để xác định quan hệ đã từng là bố chồng với con dâu?
- Hai người cùng giới tính kết hôn với nhau
Khoản 5 Điều 10 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định cấm hai người cùng giới tính kết hôn với nhau. Vì vậy, đây được coi là căn cứ để xử hủy việc kết hôn trái pháp luật. Trước khi Luật HN&GĐ năm 2000 được ban hành ở nước ta đã xuất hiện một số trường hợp hai người cùng giới tính kết hôn với nhau. Do Luật HN&GĐ năm 1986 không quy định cụ thể vấn đề này nên cơ quan chức năng rất lúng túng trong việc giải quyết.
2.3.3. Quyền yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật Luận văn: Thực trạng chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân.
Trong tố tụng dân sự, về nguyên tắc, Tòa án chỉ xét xử khi có đơn khởi kiện của cá nhân, của tổ chức hoặc quyết định khởi tố của Viện kiểm sát. Trong hủy việc kết hôn trái pháp luật, Điều 15 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định những người sau đây có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật: Bên bị cưỡng ép, bị lừa dối kết hôn, Viện kiểm sát, cá nhân liên quan, Ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ.
Việc quy định Viện kiểm sát nhân dân, Hội liên hiệp phụ nữ, Ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật nhằm bảo đảm việc xét xử đối với việc kết hôn trái pháp luật vẫn được tiến hành khi các cá nhân không yêu cầu. Ví dụ: người bị cưỡng ép kết hôn không dám khởi kiện vì sợ bị đánh đập, ngược đãi; người đang có vợ, có chồng lại kết hôn với người khác không khởi kiện vì muốn duy trì hôn nhân trái pháp luật; hoặc những cá nhân không biết là họ có quyền yêu cầu nên đã không yêu cầu…Tuy nhiên theo quy định của BLTTDS thì những quy định này không còn phù hợp. Khoản 1 Điều 162 BLTTDS quy định “Cơ quan về dân số, gia đình và trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án về hôn nhân và gia đình trong trường hợp do Luật Hôn nhân và gia đình quy định” [45] để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước. Như vậy, theo quy định trên thì Viện kiểm sát nhân dân không có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật.
Tòa án nhân dân sau khi nhận được đơn yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật phải tiến hành điều tra, xác minh làm rõ hành vi vi phạm các điều kiện kết hôn của nam nữ và xem xét mối quan hệ tình cảm giữa họ. Tòa án tiến hành mở phiên họp giải quyết việc dân sự và đưa ra quyết định. Quyết định hủy kết hôn trái pháp luật có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của BLTTDS năm 2004 (Điều 316 BLTTDS). Luận văn: Thực trạng chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân.
2.3.4. Đường lối giải quyết hủy kết hôn trái pháp luật
Về nguyên tắc, Nhà nước không thừa nhận những trường hợp nam, nữ kết hôn mà không tuân thủ đầy đủ các điều kiện kết hôn. Do vậy, việc kết hôn trái pháp luật sẽ bị Tòa án nhân dân xử hủy. Tuy nhiên, hủy việc kết hôn trái pháp luật ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của hai người kết hôn trái pháp luật và con cái họ. Vì vậy, trong quá trình xử lý cần cân nhắc để có quyết định phù hợp. Tùy từng trường hợp cụ thể có thể căn cứ vào hoàn cảnh của sự vi phạm, điều kiện kết hôn, thực trạng quan hệ giữa hai bên trong thời gian chung sống và hiện tại sự vi phạm điều kiện kết hôn còn tiếp diễn hay đã chấm dứt để tòa án có thể quyết định hủy hay không hủy việc kết hôn đó.
Theo Nghị quyết số 02/NQ-HĐTP thì đường lối xử lý cụ thể đối với các trường hợp kết hôn trái pháp luật như sau:
Đối với trường hợp kết hôn trước tuổi luật định (tảo hôn):
- Nếu đến thời điểm có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật mà một bên hoặc cả hai bên vẫn chưa đến tuổi kết hôn thì quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật.
- Nếu đến thời điểm có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật cả hai bên tuy đã đến tuổi kết hôn, nhưng cuộc sống của họ trong thời gian đã qua không có hạnh phúc, không có tình cảm vợ chồng, thì quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật.
- Nếu đến thời điểm có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật cả hai bên đã đến tuổi kết hôn, trong thời gian đã qua họ chung sống bình thường, đã có con, có tài sản chung thì không quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật. Nếu mới phát sinh mâu thuẫn và có yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn thì Tòa án thụ lý vụ án để giải quyết ly hôn theo thủ tục chung.
Trên tinh thần đó, khi giải quyết các trường hợp yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật do vi phạm điều kiện về tuổi kết hôn hoặc các trường hợp yêu cầu ly hôn mà khi kết hôn các bên chưa đến tuổi kết hôn, Tòa án phải xem xét hai yếu tố: thứ nhất là độ tuổi của các bên vào thời điểm Tòa án giải quyết yêu cầu của các đương sự, thứ hai là quan hệ tình cảm giữa các bên kết từ khi họ kết hôn cho đến thời điểm Tòa án giải quyết yêu cầu của họ. Trong trường hợp các bên đã đến tuổi kết hôn và cuộc sống của họ bình thường, có con chung, tài sản chung thì không cần hủy việc kết hôn đó. Tuy nhiên, một số Tòa án khi giải quyết vụ việc tương tự đã không quán triệt đường lối giải quyết đó nên đã có những quyết định chưa phù hợp.
Thực tế cho thấy khi nam nữ chưa đến tuổi kết hôn thì thông thường họ chỉ tổ chức lễ cưới mà không đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Theo quy định tại Điều 11 Luật HN&GĐ năm 2000 và Mục 2 Điểm b Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP thì Tòa án không hủy kết hôn trái pháp luật mà áp dụng Khoản 1 Điều 11 tuyên bố không công nhận họ là vợ chồng. Trong công tác xét xử, các Tòa án đã quán triệt tinh thần đó để giải quyết các vụ kiện.
- Đối với những trường hợp bị cưỡng ép hoặc bị lừa dối khi kết hôn
Bị cưỡng ép hoặc bị lừa dối kết hôn đều trái với nguyên tắc tự nguyện kết hôn. Vì vậy, tòa án xử hủy việc kết hôn. Tuy vậy, khi giải quyết các trường hợp này cần phải xem xét và đánh giá quan hệ tình cảm giữa các bên kể từ khi họ kết hôn cho đến khi Tòa án xem xét và giải quyết việc kết hôn của họ. Luận văn: Thực trạng chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân.
- Nếu sau khi bị cưỡng ép, bị lừa dối kết hôn mà cuộc sống không có hạnh phúc, không có tình cảm vợ chồng thì Tòa án quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật.
- Nếu sau khi bị cưỡng ép, bị lừa dối kết hôn mà bên bị cưỡng ép, bị lừa dối đã biết nhưng đã cảm thông, tiếp tục chung sống hòa thuận thì không quyết định hủy việc kết hôn. Nếu sau đó mới phát sinh mâu thuẫn và có yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn, thì Tòa án thụ lý để giải quyết ly hôn theo thủ tục chung.
Ngoài việc tuyên hủy kết hôn trái pháp luật thì, theo quy định tại Điều 15 Nghị định số 109/2009/NĐ-CP ngày 10/12/2009 của Chính phủ Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình thì phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với hành vi cưỡng ép người khác kết hôn, ly hôn, tảo hôn bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần hoặc bằng thủ đoạn khác. Và theo quy định tại Điều 146 Bộ luật hình sự năm 1999 thì người nào cưỡng ép người khác kết hôn trái với sự tự nguyện của họ bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.
Chính vì vậy, việc xác định chính xác hành vi cưỡng ép, lừa dối có vai trò quan trọng, làm căn cứ để giải quyết việc hủy kết hôn trái pháp luật. Ví dụ có trường hợp của anh M (quận Cầu Giấy, Hà Nội) bề ngoài vẫn giao tiếp, ăn nói bình thường nhưng lâu lâu lại lên cơn tâm thần, có những hành vi kỳ quái không giống ai. Cha mẹ cũng biết tình trạng sức khỏe tâm thần của anh không được bình thường nhưng xem đây là “bí mật gia đình” và quyết tâm tìm vợ cho anh với hy vọng rằng biết đâu khi có vợ rồi, bệnh tình của anh sẽ khỏi. Trong ví dụ trên, anh M và gia đình anh M đã cố tình che giấu để kết hôn thì có bị coi là hành vi lừa dối để kết hôn và có bị xử hủy kết hôn trái pháp luật hay không? Và pháp luật sẽ có những biện pháp gì để hạn chế tình trạng trên?
- Người đang có vợ, có chồng lại kết hôn hoặc chung sống với người khác như vợ chồng
Đối với trường hợp này, tòa án nhân dân cần xử hủy việc kết hôn trái pháp luật hoặc ra quyết định chấm dứt cuộc sống chung trái pháp luật đó. Tuy nhiên, khi xử lý cần lưu ý những trường hợp theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/NQ-HĐTP như sau:
Đối với cán bộ, bộ đội ở miền Nam, đã có vợ (có chồng) ở miền Nam tập kết ra miền Bắc năm 1954 lại lấy vợ (chồng) khác ở miền Bắc thì theo hướng dẫn tại Thông tư số 60/DS ngày 22/2/1978 của Tòa án nhân dân tối cao, đây là những trường hợp ngoại lệ, có vi phạm khoản 1 Điều 10 Luật HN&GĐ nhưng không nhất thiết phải xử hủy việc kết hôn sau của họ mà tùy từng trường hợp, tòa án nhân dân các cấp giải quyết khi có yêu cầu của các đương sự. Tòa án có thể giải quyết cho ly hôn nếu các đương sự thực sự mong muốn được chấm dứt hôn nhân. Trong trường hợp người vợ (người chồng) trước ở miền Nam yêu cầu hủy việc kết hôn của chồng (vợ) mình với người ở miền Bắc thì tòa án cần giải thích cho họ thấy rõ hoàn cảnh của đất nước dẫn đến tình trạng này và khuyên họ rút đơn. Nếu không rút đơn thì “tòa án đưa ra xét xử và trong trường hợp đó không thỏa mãn được yêu cầu của đương sự”. Cá biệt, nếu sau khi điều tra có bằng chứng rõ ràng rằng người tập kết đã có vợ (có chồng) ở miền Nam lại nói dối là chưa, nay người vợ hoặc người chồng lấy sau cho rằng bị lừa dối nên xin hủy việc kết hôn của họ thì tòa án xử hủy việc kết hôn đó. Luận văn: Thực trạng chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân.
Một người đang có vợ hoặc có chồng, nhưng tình trạng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài mà kết hôn với người khác, nếu khi có yêu cầu hủy việc kết hôn sau khi họ đã ly hôn với vợ hoặc chồng của lần kết hôn trước thì không quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật đối với lần kết hôn sau. Nếu sau đó mới phát sinh mâu thuẫn và có yêu cầu tòa án giải quyết việc ly hôn thì tòa án thụ lý để giải quyết ly hôn theo thủ tục chung.
- Đối với trường hợp kết hôn vi phạm các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều 10 Luật HN&GĐ năm 2000
Đối với các trường hợp kết hôn vi phạm các điều cấm này thì khi có yêu cầu tòa án cần xử hủy việc kết hôn mà không có ngoại lệ nào.
Ví dụ: Tòa án đã tuyên hủy kết hôn trái pháp luật đối với trường hợp ông Đinh Văn Miên và bà Đinh Thị Miêu ở huyện miền núi An Lão (Bình Định). Chiến tranh loạn lạc khiến gia đình ông Đinh Văn Miên chia lìa, ông và chị gái bị thất lạc nhau từ nhỏ. Khi hòa bình lập lại, ông và chị gái gặp lại nhau nhưng không biết là chị em ruột nên họ đã nên nghĩa vợ chồng. Sau 10 năm chung sống, đôi vợ chồng bất ngờ biết được sự thật đau lòng, họ là hai chị em ruột… [29].
- Đối với trường hợp kết hôn vi phạm Điều 12 và Điều 14 Luật HN&GĐ năm 2000
Trong thực tế vẫn có trường hợp đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền như UBND cấp xã đăng ký kết hôn cho nam, nữ khi không có bên kết hôn nào cư trú tại địa phương đó… Đối với trường hợp này, việc đăng ký kết hôn đó không có giá trị pháp lý. Do vậy, nếu có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, thì mặc dù có vi phạm một trong những điều kiện kết hôn quy định tại Điều 9, Tòa án không tuyên bố hủy kết hôn trái pháp luật mà áp dụng khoản 1 Điều 11 tuyên bố không công nhận họ là vợ chồng (Mục 2 Điểm b Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP).
- Luật HN&GĐ cũng quy định về tổ chức đăng ký kết hôn:
Khi tổ chức đăng ký kết hôn phải có mặt hai bên nam, nữ kết hôn. Đại diện cơ quan đăng ký kết hôn yêu cầu hai bên cho biết ý muốn tự nguyện kết hôn, nếu hai bên đồng ý kết hôn thì đại diện cơ quan đăng ký kết hôn trao Giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên [42, Điều 14].
Như vậy, nếu việc kết hôn không theo nghi thức về tổ chức đăng ký kết hôn thì việc kết hôn đó không có giá trị pháp lý. Do vậy, nếu có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật thì dù có vi phạm một trong các điều kiện kết hôn được quy định tại Điều 9, Tòa án cũng không tuyên bố hủy việc kết hôn trái pháp luật mà áp dụng khoản 1 Điều 11 tuyên bố không công nhận các bên kết hôn là vợ chồng (Mục 2 Điểm c Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP).
Trong thực tế có một số trường hợp vì những lý do khách quan hay chủ quan mà khi tổ chức đăng ký kết hôn chỉ có một bên nam hoặc nữ, nhưng nếu trước khi tổ chức đăng ký kết hôn các bên đã thực hiện đúng quy định tại khoản 1 Điều 13 Luật HN&GĐ năm 2000 và sau khi tổ chức đăng ký kết hôn họ thực sự về chung sống với nhau, thì không coi việc đăng ký kết hôn đó là không theo nghi thức quy định tại Điều 14 (Mục 2 Điểm c2 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP). Vì vậy, đối với những trường hợp này, việc kết hôn đó vẫn được coi là hợp pháp. Luận văn: Thực trạng chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân.
2.3.5. Hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật
Khi Tòa án nhân dân hủy việc kết hôn trái pháp luật, cần giải quyết các vấn đề sau:
- Về quan hệ nhân thân
Nhà nước không thừa nhận hai người kết hôn trái pháp luật là vợ chồng. Do đó, giữa họ chưa từng phát sinh quan hệ vợ chồng. Việc họ chung sống như vợ chồng là trái pháp luật, vì vậy: “Khi việc kết hôn trái pháp luật bị hủy thì hai bên nam, nữ phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng” [42, Khoản 1 Điều 17]. Kể từ ngày quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật của tòa án có hiệu lực pháp luật, hai người phải chấm dứt cuộc sống chung trái pháp luật đó.
- Về tài sản
Theo quy định tại Khoản 3 Điều 17 Luật HN&GĐ năm 2000 thì tài sản được giải quyết như sau:
Tài sản được giải quyết theo nguyên tắc tài sản riêng của ai thì vẫn thuộc quyền sở hữu của người đó nhưng người có tài sản riêng có nghĩa vụ chứng minh tài sản đó là tài sản riêng của mình. Nếu họ không chứng minh được thì tài sản đó được xác định là tài sản chung.
Tài sản chung được chia theo thỏa thuận của các bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết, có tính đến công sức đóng góp của mỗi bên; ưu tiên bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ và con.
Do hai người kết hôn trái pháp luật nên giữa họ không phát sinh quan hệ vợ chồng. Vì vậy, tài sản mà họ tạo ra trong thời gian chung sống không phải là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng. Khi tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật, tài sản chung (nếu có) được chia theo thỏa thuận của các bên, nếu không thỏa thuận được thì tòa án quyết định chia trên cơ sở công sức đóng góp của mỗi bên trong việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung, tài sản riêng của ai thì vẫn thuộc quyền sở hữu của người đó. Tuy nhiên, người có tài sản riêng phải có nghĩa vụ chứng minh tài sản đó là tài sản riêng của mình. Nếu họ không chứng minh được thì tài sản đó được xác định là tài sản chung.
- Quan hệ giữa cha mẹ và con
Quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con được pháp luật quy định không phụ thuộc vào hôn nhân của cha, mẹ có hợp pháp hay không. Hai người kết hôn trái pháp luật tuy không phải là vợ chồng nhưng vẫn là cha và mẹ của con chung. Vì vậy, khi Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật thì quyền lợi của con được giải quyết như trường hợp cha mẹ ly hôn (khoản 2 Điều 17 Luật HN&GĐ năm 2000). Quy định này nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con. Tòa án nhân dân phải căn cứ vào điều kiện thực tế của các bên đương sự và căn cứ vào các Điều 92, 93, 94 Luật HN&GĐ năm 2000 để giải quyết cho hợp tình, hợp lý.
Nhìn chung, chế định kết hôn theo Luật HN&GĐ năm 2000 đã được xây dựng trên cơ sở kế thừa và phát triển chế định kết hôn trong Luật HN&GĐ năm 1959 và 1986. Những quy định về kết hôn theo Luật HN&GĐ năm 2000 được chỉnh sửa, bổ sung ngày một hoàn thiện hơn, quy định chặt chẽ và triệt để hơn phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Luận văn: Thực trạng chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực tiễn chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
