Luận văn: Giải pháp bảo vệ quyền con người trong pháp luật

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp bảo vệ quyền con người trong pháp luật hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Giải pháp bảo vệ và thúc đẩy quyền con người trong pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

Có thể thấy, cho đến thời điểm này, Đảng và Nhà nước ta đã từng bước xây dựng và hoàn thiện nên một cơ chế hữu hiệu nhất từ trước đến nay về bồi thường Nhà nước. Từ khi chưa có đạo luật riêng cho đến lúc có một đạo luật riêng với tương đối đầy đủ các văn bản hướng dẫn thi hành, mục đích là để bảo vệ tối đa các quyền con người về dân sự, chính trị, quyền được công bằng trước pháp luật, quyền được tự bảo vệ lợi ích của mình về tài sản, về tinh thần trước Nhà nước. Đồng thời, thể hiện mục đích đề cao tính dân chủ, tính tự chịu trách nhiệm của Nhà nước đối với nhân dân trong Nhà nước pháp quyền đi đôi với bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước. Để thấy, Bồi thường nhà nước là một cụm từ không còn mấy xa lạ với cả hai bên, một bên là cán bộ, công chức thực thi công vụ của Nhà nước có khả năng gây thiệt hại, oan sai cho người dân; một bên là cá nhân, tổ chức có khả năng bị thiệt haị do hành vi trái pháp luật của người thừa hành công vụ Nhà nước gây ra. Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được khẳng định đã thực sự đi vào cuộc sống sau 4 năm triển khai, thi hành. Những kết quả, thành tựu đạt được, có thể kể đến là những nỗ lực của Nhà nước trong việc ban hành một cơ chế về bồi thường nhà nước ngày càng hoàn thiện hơn, phù hợp hơn với trình độ kinh tế – xã hội, phù hợp hơn với xu thế chung của thế giới, phù hợp hơn với các văn bản luật mới được sửa đổi, bổ sung sau này và phù hợp với thể chế của một Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân. Đồng thời, tinh thần cầu thị, dám chịu trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước trước nhân dân ngày càng được thể hiện ở kết quả, số liệu các vụ việc được bồi thường và số tiền bồi thường, song song đó, việc các cơ quan Nhà nước nghiêm khắc giáo dục, răn đe công chức vi phạm pháp luật thông qua số liệu, số tiền hoàn trả đã cho thấy một bộ máy Nhà nước ngày càng được ổn định, bền vững và chuyên nghiệp. Đối với người dân, việc ngày càng có nhiều đơn yêu cầu bồi thường, ngày càng có nhiều vụ việc được giải quyết bồi thường với số tiền bồi thường lớn thông qua thủ tục giải quyết bồi thường tại cơ quan có trách nhiệm bồi thường đã thể hiện lòng tin của nhân dân đối với Nhà nước, thể hiện nhận thức và hiểu biết của nhân dân về pháp luật nói chung và pháp luật về Bồi thường nhà nước nói riêng ngày càng được nâng cao, giúp người dân tự bảo vệ quyền và lợi ích của mình trước hành vi trái pháp luật của một bộ phận người thừa hành công vụ, trước cơ quan Nhà nước và trước pháp luật.

Bên cạnh đó, mặc dù Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được ban hành đã thể hiện tính ưu việt so với các văn bản quy phạm pháp luật trước đó, đặc biệt, về cơ bản, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã hiện thực hóa được một trong những mục tiêu quan trọng là “thiết lập một cơ chế pháp lý mới, đồng bộ, hiệu quả để người bị thiệt hại thực hiện tốt hơn quyền được bồi thường của mình đối với những thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra” [9, tr.3]. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, đến nay người bị thiệt hại vẫn gặp khó khăn trong việc thực hiện quyền yêu cầu của mình. Những khó khăn này không chỉ xuất phát từ thực tiễn thi hành mà còn từ chính một số quy định của Luật còn hạn chế, chưa phù hợp với thực tiễn. Thêm vào đó, người dân vẫn có tâm lý ngại va chạm với cơ quan chức năng và ngậm đắng nuốt cay chịu những oan ức mình phải gánh chịu. Có thể nói, tình hình yêu cầu bồi thường và giải quyết bồi thường chưa phản ánh đúng thực chất của vấn đề. Luận văn: Giải pháp bảo vệ quyền con người trong pháp luật.

Xuất phát từ thực tế đó, giai đoạn hiện nay đặt ra việc cần từng bước hoàn thiện pháp luật và tạo cơ chế thuận lợi hơn cho người dân trong việc yêu cầu Nhà nước bồi thường những thiệt hại đã gây ra, và, cho cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện giải quyết bồi thường. Để đề xuất được những giải pháp khắc phục những điểm còn hạn chế, bất cập của pháp luật cũng như việc áp dụng các quy định đó trên thực tiễn, cần phải hiểu việc ban hành đạo luật riêng về Bồi thường nhà nước đã đạt được mục đích theo tinh thần Đảng và Nhà nước đề ra chưa? Qua đó, việc sửa đổi để hoàn thiện cơ chế này cần phù hợp với quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta trong từng thời kỳ nhất định.

3.1. Mục đích ban đầu khi ban hành đao luật riêng về bồi thường nhà nước không đạt được

Ban đầu, như đã đề cập tại chương I, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được ban hành với 03 mục tiêu lớn là nhất thể hoá pháp luật về bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra, khắc phục tình trạng tồn tại hai mặt bằng pháp lý về bồi thường thiệt hại trong hoạt động hành chính và tố tụng hình sự hiện nay; tạo cơ chế pháp lý mới, đồng bộ, hiệu quả để người bị thiệt hại thực hiện tốt hơn quyền được bồi thường của mình đối với những thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra; Nhà nước thực hiện tốt hơn trách nhiệm của mình trước công dân trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; và, xác định rõ Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại để một mặt, tạo thuận lợi cho người bị thiệt hại trong việc thực hiện quyền yêu cầu bồi thường của mình, mặt khác, góp phần tăng cường trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, của công chức trong quá trình thực thi công vụ.

Tuy nhiên, sau 4 năm triển khai thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước thì “một số quy định của Luật đã bộc lộ những hạn chế, bất cập so với yêu cầu của thực tế và thiếu thống nhất, đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành” [24, tr.2]. Điều này dẫn đến việc không đạt được mục đích của Đảng và Nhà nước ta như mong muốn đối với đạo luật này, cụ thể là: cơ chế pháp lý chưa thực sự thống nhất, đồng bộ, tính hiệu quả không cao; người bị thiệt hại chưa được tạo điều kiện thuận lợi khi thực hiện quyền yêu cầu bồi thường đối với những thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra. Bên cạnh đó, các quy định về mức hoàn trả đối với người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật chưa cao, chưa đủ sức răn đe, dẫn đến chưa thực sự tăng cường trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, của công chức trong quá trình thi hành công vụ. Do đó, vấn đề đặt ra trong giai đoạn này là cần một cơ chế về Bồi thường nhà nước với đầy đủ các quy định phù hợp với thực tế tình hình yêu cầu bồi thường của người dân và tình hình giải quyết yêu cầu bồi thường của các cơ quan Nhà nước thay thế cho cơ chế Bồi thường nhà nước và các quy định như hiện nay trong Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

3.2. Quan điểm về giải pháp sửa đổi, bổ sung Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước Luận văn: Giải pháp bảo vệ quyền con người trong pháp luật.

Theo những quan điểm chỉ đạo của Bộ Chính trị thì việc quán triệt và thể chế hoá Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 là “Củng cố cơ sở pháp lý về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc xây dựng, ban hành kịp thời, đồng bộ và tổ chức thực thi các pháp luật, các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên về quyền con người, quyền công dân trong các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá – xã hội” [5, tr.4]. Học viên nhận thấy việc đề xuất các giải pháp để hoàn thiện cơ chế bồi thường Nhà nước theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và văn bản hướng dẫn thi hành cần bám sát chủ trương, đường lối này của Bộ Chính trị, để phù hợp với tình hình chính trị của đất nước ta trong giai đoạn hiện nay. Tiếp tục thực hiện chủ trương cải cách hành chính, cải cách tư pháp và phù hợp với tình hình kinh tế – xã hội của đất nước. Điều này là hết sức cần thiết, bởi lẽ, một cơ chế bồi thường Nhà nước bảo vệ tối đa quyền con người, quyền công dân của một quốc gia, đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng của nhân dân nhưng lại đi ngược với chủ trương, đường lối của đất nước, như vậy là thiếu tính phù hợp.

Bên cạnh đó, trọng tâm giải pháp để sửa đổi, bổ sung Luật cần gắn kết chặt chẽ với việc thể chế hoá các quy định mới của Hiến pháp 2013 liên quan đến một số quy định về quyền, nghĩa vụ của công dân, phù hợp với tinh thần, nguyện vọng của cả dân tộc trong bản Hiến pháp mới này. Đồng thời, bảo đảm tính thống nhất và đồng bộ của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước với các văn bản pháp luật khác có liên quan và sự phù hợp với các điều ước quốc tế mà nước Việt Nam là thành viên.

Một điều cốt lõi khi đưa ra giải pháp để hoàn thiệt Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước không thể không đề cập đến vấn đề cơ bản là việc cần phát huy hiệu quả những quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước hiện hành và các văn bản hướng dẫn thi hành, theo đó, quy định cụ thể hơn những nội dung còn chưa rõ, chưa cụ thể; bổ sung những quy định mới để điều chỉnh những vấn đề mới phát sinh trên thực tiễn về bồi thường nhà nước; quy định hợp lý và chặt chẽ hơn về trình tự, thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường cũng như cơ quan có trách nhiệm bồi thường để phúc đáp quyền yêu cầu bồi thường của người bị thiệt hại một cách tốt nhất; quy định phạm vi điều chỉnh theo hướng phù hợp hơn với điều kiện kinh tế xã hội cũng như với thực tế các thiệt hại đang có hiện nay nhằm xây dựng một khuôn khổ pháp luật có giá trị pháp lý cao, tương đối đồng bộ cho công tác bồi thường Nhà nước.

3.3. Một số giải pháp bảo đảm việc bảo vệ, thúc đẩy quyền con người trong pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ở Việt Nam một cách hữu hiệu

3.3.1. Giải pháp hoàn thiện thể chế Luận văn: Giải pháp bảo vệ quyền con người trong pháp luật.

Bên cạnh những mặt tích cực có thể dễ dàng thấy được thì Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cũng đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, gây khó khăn cho cơ quan Nhà nước, và đặc biệt, làm hạn chế quyền con người về bảo vệ lợi ích của mình trong việc yêu cầu Nhà nước bồi thường trong các mặt như: phạm vi điều chỉnh chưa bao quát được các thiệt hại thực tế phát sinh do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra; căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường được quy định chưa thật hợp lý, thực tế bộc lộ bất cập là rào cản đối với người bị thiệt hại thực hiện quyền yêu cầu bồi thường; thời hạn, thời hiệu yêu cầu và giải quyết bồi thường còn chưa thống nhất với các đạo luật liên quan về tố tụng dân sự, hành chính; thủ tục giải quyết chưa tạo ra cơ chế bình đẳng giữa nhà nước và công dân trong giải quyết bồi thường; mô hình quản lý và cấp phát kinh phí còn bất cập, gây khó khăn cho cơ quan giải quyết bồi thường và cho người bị thiệt hại; về xác định Trách nhiệm hoàn trả chưa bảo đảm tính răn đe đối với đội ngũ cán bộ, công chức; mô hình về cơ quan giải quyết bồi thường còn bất cập.

Có thể nói, pháp luật là phương tiện quan trọng để bảo vệ quyền con người, do đó, để đạt được những mục tiêu đặt ra nhằm tạo một cơ chế hữu hiệu nhất nhằm bảo vệ quyền con người, quyền công dân về Bồi thường nhà nước trong giai đoạn hiện nay để phù hợp với tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước cũng như bảo đảm tính thống nhất và đồng bộ của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước với các văn bản pháp luật khác có liên quan và sự phù hợp với các điều ước quốc tế, học viên nhận thấy cần sửa đổi, bổ sung toàn diện Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước theo hướng mở rộng phạm vi điều chỉnh của Luật; sửa đổi bổ sung căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường theo hướng tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người bị thiệt hại; sửa đổi quy định về thời hiệu yêu cầu bồi thường, thời hạn giải quyết bồi thường cho phù hợp với hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và bảo vệ quyền yêu cầu bồi thường của người bị thiệt hại; sửa đổi, bổ sung quy định về trình tự, thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường theo hướng lấy người dân làm trung tâm; quy định cụ thể, chi tiết và hợp lý hơn các thiệt hại được bồi thường; tăng trách nhiệm của người thi hành công vụ trên cơ sở tăng mức hoàn trả và trách nhiệm hoàn trả để thể hiện tính chuyên môn, tính chuyên nghiệp, có giải pháp mạnh mẽ để thay đổi nhận thức của đội ngũ cán bộ, công chức. Đồng thời, xây dựng một mô hình cơ quan giải quyết bồi thường theo hướng tập trung, đáp ứng yêu cầu giải quyết bồi thường trên thực tiễn, cụ thể như sau:

Học viên cho rằng đối với việc đưa ra giải pháp để hoàn thiện thể chế trong giai đoạn hiện nay, cần sửa đổi, bổ sung Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cũng như văn bản hướng dẫn thi hành cho phù hợp với các quy định tại Hiến pháp 2013 liên quan đến các quyền con người, quyền công dân được ghi nhận, được bảo vệ và tôn trọng và phù hợp với pháp luật chuyên ngành, cũng như phù hợp với tình hình đất nước trong giai đoạn hiện nay, cụ thể:

  • Mở rộng phạm vi bồi thường Luận văn: Giải pháp bảo vệ quyền con người trong pháp luật.

Khoản 2, Điều 14 Hiến pháp 2013 quy định: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” [45, tr.4]. Theo quy định này thì người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân quy định tại Điều 30, Hiến pháp năm 2013 nếu không bị hạn chế vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng được quy định trong luật thì đều có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự.

Khoản 1 Điều 20 Hiến pháp năm 2013 quy định “mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm.” [45, tr.5]. Đối với các trường hợp bị xâm phạm về thân thể, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra nhưng không thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước tại các Điều 13, 26 và 38 thì cá nhân, tổ chức bị thiệt hại không được bồi thường.

Khoản 5 Điều 31 Hiến pháp năm 2013 quy định “người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự” [45, tr.7]. Thực tế, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước mới chỉ quy định với các trường hợp tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự mà chưa quy định trường hợp bị bắt. Bên cạnh đó, cũng tại Điều này có quy định về quyền được bồi thường thiệt hại trong trường hợp người bị điều tra, bị tạm giữ, tạm giam phục vụ cho hoạt động điều tra trái pháp luật. Tuy nhiên, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cũng như Nghị định số 16 chưa quy định các trường hợp nêu trên.

Tuy nhiên, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước mới chỉ quy định các trường hợp do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra trong một số hoạt động thuộc các lĩnh vực quản lý hành chính, thi hành án và tố tụng thì được bồi thường, còn đối với các trường hợp khác thì không được bồi thường cho dù Nhà nước gây ra thiệt hại nên đã giới hạn quyền khiếu nại, tố cáo và quyền được bồi thường về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Họ viên cho rằng cần mở rộng hơn về phạm vi điều chỉnh của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước để bảo đảm phạm vi bảo vệ quyền con người về bồi thường Nhà nước trên mọi lĩnh vực, mọi khía cạnh của cuộc sống; phù hợp với Hiến pháp, tương thích với các văn bản luật chuyên ngành khác, bắt kịp với xu hướng bồi thường toàn diện của một số quốc gia trên thế giới như Nhật, Pháp; nội luật hóa toàn diện theo quy định về quyền con người của Luật nhân quyền quốc tế. Do đó, để bảo đảm quyền và lợi ích của người dân và nâng cao tinh thần trách nhiệm của đội ngũ công chức, cũng như hiệu quả của nền công vụ trong tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chủ tại Việt Nam, nên mở rộng phạm vi theo hướng bổ sung thêm phạm vi bồi thường phù hợp với thực tế các thiệt hại mà cơ quan Nhà nước gây ra cho người dân.

  • Mở rộng các loại thiệt hại được bồi thường Luận văn: Giải pháp bảo vệ quyền con người trong pháp luật.

Khoản 1 Điều 37 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em. Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em” [45, tr.9].

Khoản 4 Điều 13 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định phạm vi trách nhiệm bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính, trong đó có “áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa người vào trường giáo dưỡng, đưa người vào cơ sở giáo dục hoặc đưa người vào cơ sở chữa bệnh” [44, tr.6]. Thiệt hại do tổn thất về tinh thần trong thời gian bị đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh được quy định tại khoản 1 Điều 47 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Theo đó, thiệt hại do tổn thất về tinh thần được xác định là 02 ngày lương tối thiểu cho 01 ngày bị đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh. Tuy nhiên, đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng được quy định tại Điều 92 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 là trẻ em. Như vậy, với thiệt hại được bồi thường như đã được quy định tại Điều 47 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là chưa bảo đảm được mức tương xứng giữa thiệt hại thực tế và thiệt hại được bồi thường. Cụ thể là tại Chương II Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định về các quyền cơ bản và bổn phận của trẻ em, trong đó trẻ em có các quyền như quyền sống chung với cha mẹ, quyền vui chơi, giải trí, hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao, du lịch, … Như vậy, trường hợp trẻ em bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, đưa người vào cơ sở giáo dục, đưa người vào cơ sở chữa bệnh mà sau đó xác định do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra thì hậu quả do việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính nêu trên sẽ hạn chế, ảnh hưởng trực tiếp đến các quyền của trẻ em quy định tại Chương II Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Mặt khác, do đặc thù của lứa tuổi, nên những thiệt hại phát sinh trong thời gian áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng là lâu dài và sâu sắc. Vì vậy, việc quy định thiệt hại do tổn thất về tinh thần áp dụng chung cho các trường hợp như đã nêu tại Điều 47 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là chưa hợp lý. Đối với đối tượng là trẻ em, học viên cho rằng cần có các quy định mở rộng về mức thiệt hại được bồi thường cho phù hợp với quy định tại Hiến pháp năm 2013 và bảo đảm quyền của trẻ em.

Bên cạnh việc sửa đổi, bổ sung một số Điều, khoản còn chưa hợp lý của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Nhà nước cần xây dựng mới hoặc sửa đổi, bổ sung các thông tư, thông tư liên tịch thuộc thẩm quyền để hướng dẫn thực hiện công tác bồi thường nhà nước nhằm kịp thời tháo gỡ những vướng mắc trong hoạt động giải quyết bồi thường của các cơ quan Nhà nước trong các lĩnh vực thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

  • Bỏ quy định về việc người bị thiệt hại tự chứng minh căn cứ để thực hiện quyền yêu cầu bồi thường Luận văn: Giải pháp bảo vệ quyền con người trong pháp luật.

Pháp luật về Bồi thường nhà nước quy định về căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành án phải có các căn cứ là văn bản của Cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật và thuộc phạm vi Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định tại các Điều 13, Điều 28, Điều 38 và Điều 39 của Luật; trong hoạt động tố tụng hình sự phải có bản án, quyết định của Cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người bị thiệt hại thuộc các trường hợp được bồi thường quy định tại Điều 26 của Luật. Về vấn đề này, học viên cho rằng, theo quy định này thì để thực hiện quyền yêu cầu bồi thường, người bị thiệt hại trước tiên phải thực hiện thủ tục xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ. Quy định này không phù hợp với quy định tại Điều 619 về bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức gây ra và Điều 620 về bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra của Bộ luật dân sự, bởi lẽ, Bộ luật dân sự không quy định người bị thiệt hại phải có văn bản xác định hành vi trái pháp luật làm căn cứ yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết bồi thường. Do đó, việc trước khi yêu cầu bồi thường nhà nước, người bị thiệt hại phải thực hiện thủ tục riêng về xác định hành vi trái pháp luật chưa thực sự tạo thuận lợi cho người bị thiệt hại thực hiện quyền yêu cầu bồi thường. Học viên cho rằng cần bỏ quy định này để bảo vệ tối ưu quyền con người về yêu cầu bồi thường và quy định theo hướng khi cho rằng mình bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra, người bị thiệt hại có quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường và Cơ quan nhà nước có trách nhiệm giải quyết bồi thường sẽ thực hiện việc xác định hành vi trái pháp luật của công chức của mình gây ra thiệt hại.

  • Sửa đổi quy định về thời hiệu yêu cầu bồi thường

Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định thời hiệu yêu cầu bồi thường là 02 năm kể từ ngày có văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ. Quy định như vậy là chưa thống nhất với quy định của các Luật chuyên ngành liên quan, gây khó hiểu và nhầm lẫn cho người bị thiệt hại bởi lẽ trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung và Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước nói riêng chỉ phát sinh khi có thiệt hại thực tế xảy ra. Theo quy định của Điều 159 BLTTDS 2004 thì thời hiệu yêu cầu bồi thường thiệt hại “là hai năm kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm hoặc kể từ ngày biết quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm” [42, tr.48]. Thực tế, trong nhiều trường hợp, do người bị thiệt hại không nắm bắt được quy định đặc thù về thời hiệu yêu cầu bồi thường nhà nước nên đã thực hiện quyền yêu cầu bồi thường trong thời hạn 02 năm kể từ ngày có thiệt hại xảy ra nhưng họ lại chưa có văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ. Khi được Cơ quan nhà nước hướng dẫn về điều kiện yêu cầu bồi thường là phải có văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ, người bị thiệt hại thực hiện thủ tục xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ xong thì cũng là lúc thời hiệu giải quyết khiếu nại hoặc thời hiệu giải quyết vụ án hành chính đã hết. Để khắc phục hạn chế này, học viên cho rằng cần sửa đổi quy định về thời hiệu theo hướng áp dụng nguyên tắc xác định thời hiệu yêu cầu bồi thường theo quy định của pháp luật dân sự.

3.3.2. Giải pháp lâu dài về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức và hiểu biết của người dân Luận văn: Giải pháp bảo vệ quyền con người trong pháp luật.

Để Bồi thường nhà nước trở thành một cơ chế hữu hiệu nhất hướng tới bảo vệ các quyền con người về dân sự, chính trị, quyền con người về Bồi thường nhà nước, Đảng và Nhà nước ta cần đẩy mạnh mục tiêu trọng tâm mang tính lâu dài, bền vững là “xác định rõ vai trò, tầm quan trọng của công tác bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ giải quyết bồi thường” [23, tr.15] nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức theo hướng tập trung đào tạo, bồi dưỡng theo chiều sâu, tăng cường kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, nhằm xây dựng đội ngũ công chức Nhà nước có chuyên môn cao, có đạo đức và uy tín nghề nghiệp, sẽ giảm được đáng kể những sai phạm gây ra cho người dân.

Ngoài ra, việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân một cách sâu rộng, qua nhiều kênh thông tin nhằm giúp người dân từ thành phố tới nông thôn, từ trí thức tới người lao động hiểu được quyền của mình, vị trí của mình được bảo vệ và tôn trọng trong pháp luật về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Từ đó, chủ động bảo vệ quyền và lợi ích của ban thân khi có phát sinh thiệt hại từ cơ quan nhà nước trong quá trình thi hành công vụ.

3.3.3. Xây dựng cơ quan chuyên trách bảo vệ các quyền và lợi ích của con người về bồi thường nhà nước cấp quốc gia

Theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, cơ quan có Trách nhiệm bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính là cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại (Điều 14); cơ quan có Trách nhiệm bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự là cơ quan được quy định tại các Điều 29, Điều 30, Điều 31 và Điều 32 của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; cơ quan có Trách nhiệm bồi thường trong hoạt động thi hành án hình sự là trại giam, trại tạm giam, cơ quan quản lý nhà tạm giữ, cơ quan công an có thẩm quyền và Toà án ra quyết định thi hành án và cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong hoạt động thi hành án dân sự là cơ quan thi hành án dân sự trực tiếp quản lý người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại (Điều 40). Như vậy, Luật quy định cơ quan có trách nhiệm theo mô hình phân tán. Ưu điểm của mô hình này là gắn hoạt động chuyên môn khi giải quyết bồi thường và không làm phát sinh bộ máy. Tuy nhiên, điểm hạn chế cơ bản của mô hình này là: thiếu khách quan trong hoạt động giải quyết bồi thường; người bị thiệt hại trong nhiều trường hợp không xác định được cơ quan có trách nhiệm bồi thường hoặc phải chờ đợi cơ quan có thẩm quyền xác định cơ quan có Trách nhiệm bồi thường; không bảo đảm tính chuyên nghiệp trong giải quyết bồi thường, dẫn đến lúng túng, kéo dài thời gian giải quyết, gây bức xúc cho người bị thiệt hại. Luận văn: Giải pháp bảo vệ quyền con người trong pháp luật.

Để giải quyết bất cập này, học viên cho rằng cần xây dựng một cơ quan chuyên trách bảo vệ các quyền và lợi ích của con người về Bồi thường nhà nước cấp quốc gia, tức là, giao cho một cơ quan làm đầu mối tiếp nhận và thay mặt Nhà nước giải quyết bồi thường cho mọi tổ chức, công dân bị thiệt hại trong phạm vi cả ba lĩnh vực quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án được pháp luật bảo vệ như hiện nay. Khi thay mặt nhà nước giải quyết, cơ quan đại diện nhà nước thực hiện giải quyết bồi thường sẽ phối hợp với cơ quan quản lý người thi hành công vụ để giải quyết. Trường hợp xác định người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại thì cơ quan giải quyết bồi thường ban hành quyết định bồi thường. Trường hợp xác định người thi hành công vụ không thực hiện hành vi trái pháp luật hoặc không gây ra thiệt hại thì không ban hành quyết định giải quyết bồi thường. Người bị thiệt hại có quyền khởi kiện vụ án về Bồi thường nhà nước nếu như không nhất trí với quyết định của cơ quan giải quyết bồi thường.

3.3.4. Hợp tác quốc tế

Do đặc thù đất nước ta đa dạng về dân tộc, tôn giáo với một nên kinh tế đang phát triền, xuất phát điểm thấp, lại phải khắc phục những hậu quả nạng nề của chiến tranh, việc bảo đảm và thực thi các quyền con người ở Việt Nam có những ưu tiên cụ thể phù hợp với hoàn cảnh của đất nước [52, tr.262].

Để đạt được nhiều tiến bộ hơn nữa trong việc bảo đảm các quyền con người, Việt Nam cần đẩy mạnh việc ưu tiên các hoạt động của đất nước cũng như tiếp tục cam kết hợp tác với các quốc gia khác, đặc biệt là với các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á; với Liên hợp quốc và các cơ quan của tổ chức này để bảo đảm ngày càng tốt hơn việc thụ hưởng các quyền và tự do cơ bản của con người trên lãnh thổ Việt Nam và trên toàn thế giới. “Trong xu hướng hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa, các quốc gia đang tiếp tục nỗ lực cải cách trong nhiều lĩnh vực, bao gồm lĩnh vực nhân quyền, để đáp ứng những đòi hỏi mới của thời đại” [53, tr.70].

KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp bảo vệ quyền con người trong pháp luật.

Có thể nói, việc ban hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước nhằm thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng, hoàn thiện pháp luật về Bồi thường nhà nước đã tạo một cơ chế bảo đảm, hữu hiệu hơn cho cơ quan có Trách nhiệm bồi thường cũng như bảo vệ tối đa quyền con người trong pháp luật về Bồi thường nhà nước, bảo đảm sự hoạt động ổn định hơn của Cơ quan nhà nước, phù hợp với trình độ phát triển kinh tế- xã hội của đất nước và năng lực chuyên môn của cán bộ, công chức trong Nhà nước ta. Đồng thời việc ban hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước nhằm mục đích vừa bảo đảm quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, vừa phù hợp với điều kiện kinh tế đất nước. Theo đó, nhất thể hoá pháp luật về Bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra, khắc phục tình trạng tồn tại hai mặt bằng pháp lý về bồi thường thiệt hại trong hoạt động hành chính và tố tụng hình sự; tạo cơ chế pháp lý mới, đồng bộ, hiệu quả để người bị thiệt hại thực hiện tốt hơn quyền được bồi thường của mình và Nhà nước thực hiện tốt hơn trách nhiệm của mình trước công dân; xác định rõ Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước để tạo thuận lợi cho người bị thiệt hại thực hiện quyền yêu cầu bồi thường của mình và góp phần tăng cường trách nhiệm của người thi hành công vụ.

Cho đến nay, sau 4 năm thi hành trên thực tiễn, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã từng bước đi vào cuộc sống, việc thi hành Luật cũng đạt được kết quả trên nhiều mặt, góp phần đáng kể vào việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức cũng như củng cố lòng tin của người dân vào hoạt động của bộ máy nhà nước [18, tr.1].

Từ nhận thức đúng đắn và tôn trọng quyền con người, pháp luật Việt Nam đang được Đảng và Nhà nước quan tâm để biến tinh thần tôn trọng và bảo vệ đó thành hành động thông qua việc xây dựng và có những bước đi mạnh mẽ kế tiếp để từng bước hoàn thiện thể chế về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Từ những nghiên cứu nghiêm túc của học viên đối với đề tài này, có thể rút ra một số kết luận như sau: Luận văn: Giải pháp bảo vệ quyền con người trong pháp luật.

Từ việc nghiên cứu và phân tích các quy định của pháp luật về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ở một số quốc gia trên thế giới, cho thấy việc tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm và tinh thần tại các văn bản luật về Bồi thường nhà nước của các quốc gia đó đã có tầm ảnh hưởng không nhỏ tới pháp luật về Bồi thường nhà nước ở Việt Nam. Tạo tiền đề cho Nhà nước ta xây dựng và ban hành một đạo luật riêng về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước tương đối toàn diện, đặt quyền con người, quyền công dân về Bồi thường nhà nước là mục đích chính để điều chỉnh trong đạo luật này.

Các quy định của pháp luật quốc tế liên quan đến quyền dân sự, chính trị của công dân liên quan đến Bồi thường nhà nước đã được pháp luật về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ở Việt Nam tiếp thu và từng bước pháp điển hóa các quy định đó vào trong đạo luật riêng về Bồi thường nhà nước. Qua đó, các quy định về quyền con người trong pháp luật quốc tế có mối quan hệ chặt chẽ với các quy định về quyền con người, quyền công dân của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, cụ thể là liên quan đến quyền sống, quyền bất khả xâm phạm, không bị tra tấn, nhục hình và được đối xử nhân đạo; quyền tự do thân thể, không bị bắt, giam giữ tùy tiện, trái pháp luật; quyền về lao động, không bị lao động khổ sai, cưỡng bức; quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở và bí mật thư tín…Có thể thấy pháp luật về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ở Việt Nam về cơ bản phù hợp với các quy định của các Công ước quốc tế về quyền con người nói chung và Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị năm 1966 nói riêng. Với tính chất là công cụ pháp lý quan trọng trong việc bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã góp phần tích cực vào việc bảo đảm quyền con người về Bồi thường nhà nước ở Việt Nam.

Qua việc phân tích thực trạng, hạn chế, bất cập từ các quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và đánh giá các sai phạm dẫn đến Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cho thấy: tại thời điểm ban hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước thì nội dung của đạo luật này được xây dựng phù hợp với quy định của một số đạo luật có liên quan như Luật Khiếu nại, tố cáo, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính… Tuy nhiên, đến nay, Hiến pháp sửa đổi 2013 và một số Luật chuyên ngành đã có nhiều thay đổi theo hướng quy định rõ hơn các quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. Do đó, trong điều kiện Hiến pháp và các đạo luật khác có liên quan đến Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã thay đổi thì một số quy định hiện hành của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và cơ chế Bồi thường thiệt hại không còn phù hợp với Nhà nước pháp quyền trong giai đoạn hiện nay. Do đó, việc sửa đổi, bổ sung Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước để đáp ứng với thực tế việc áp dụng pháp luật về Bồi thường nhà nước và tình hình chính trị, xã hội của nước ta trong gian đoạn này là một đòi hỏi tất yếu để phù hợp với giai đoạn phát triển của Nhà nước ta.

Thực tế hiện nay cần có một cơ chế Bồi thường nhà nước minh bạch, thuận tiện, gọn nhẹ trong thủ tục hành chính, đáp ứng nhu cầu bảo vệ quyền con người, quyền công dân liên quan đến Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, cụ thể ở việc sửa đổi một số quy định liên quan đến phạm vi bồi thường, thời hiệu yêu cầu bồi thường, căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường… cho phù hợp với thực tế triển khai và áp dụng các quy định về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là vô cùng cần thiết. Việc bảo vệ tối ưu nhất các quyền con người, quyền công dân về Bồi thường nhà nước thông qua hệ thống pháp luật hoàn thiện luôn là tham vọng của mọi Nhà nước, mọi quốc gia trên thế giới, mà đất nước Việt Nam không nằm ngoài tham vọng đó. Luận văn: Giải pháp bảo vệ quyền con người trong pháp luật.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Bảo vệ quyền con người trong pháp luật Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464