Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp PL về bảo vệ cổ đông trong lĩnh vực NHTM hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ cổ đông trong lĩnh vực ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1 Quy định về chuẩn mực và thời hạn tối đa cho việc xem xét tư cách của thành viên Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc trong hoạt động Ngân hàng TMCP
Ngân hàng là một lĩnh vực nhạy cảm đối với an ninh kinh tế của quốc gia, vì vậy việc Ngân hàng nhà nước giám sát chặt chẽ hoạt động Ngân hàng là điều cần thiết. Tuy nhiên, khi thực hiện việc giám sát quá chặt chẽ và tham gia nhiều vào các hoạt động của Ngân hàng thương mại cổ phần có thể dẫn đến việc vi phạm các quy định của Hiến pháp. Tại Điều 33 Hiến pháp 2013 quy định : Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm. Như vậy, việc can thiệp vào quyền tự do kinh doanh cũng như việc mua bán chuyển nhượng các phần vốn góp giữa các ngân hàng, như việc chuẩn y đối với các chức danh thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc là chưa phù hợp. Hiện tại, việc đề cử nhân sự vào Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc của các Ngân hàng thương mại cổ phần, ngoài việc phải sở hữu đủ số lượng cổ phiếu và đủ thời gian theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng và Luật doanh nghiệp thì phải được Ngân hàng nhà nước thẩm tra tư cách của từng thành viên Hội đồng quản trị. Trong trường hợp, được sự chấp thuận của Ngân hàng nhà nước thì những thành viên này mới được đưa vào danh sách bầu Hội đồng quản trị tại Đại hội đồng cổ đông hoặc bổ nhiệm làm Tổng giám đốc. Việc thẩm tra tư cách này không quy định thời gian cụ thể cũng như chưa đưa ra được chuẩn mực rõ ràng để các ngân hàng làm căn cứ đề xuất danh sách các thành viên Hội đồng quản trị. Do đó, việc Ngân hàng nhà nước xem xét để phê chuẩn tư cách của thành viên Hội đồng quản trị còn mang tính chủ quan và chưa phù hợp với quyền tự do kinh doanh quy định trong Hiến pháp.
Trong thực tiễn, tại Đại hội cổ đông thường niên của ACB năm 2018, trước khi đại hội diễn ra danh sách ứng viên đề cử hội đồng quản trị của ACB là 11 người. Tuy nhiên, tại đại hội thì Hội đồng quản trị nhiệm kỳ cũ chỉ công bố danh sách ứng viên đề cử vào hội đồng quản trị nhiệm kỳ mới chỉ còn 8 người, 3 thành viên còn lại Ngân hàng nhà nước chưa đồng ý phê chuẩn nên chưa đủ tư cách để ứng cử vào Hội đồng quản trị. Trong 3 thành viên không được chấp thuận có 1 thành viên đại diện cho nhóm cổ đông sở hữu trên 10% vốn điều lệ, còn lại 2 thành viên do Hội đồng quản trị của ACB đề xuất. Hơn nữa, việc Ngân hàng nhà nước trả lời cho ACB đối với các trường hợp đề cử trước ngày đại hội 1 ngày nên các bên không kịp đưa danh sách đề cử mới để Ngân hàng nhà nước xem xét tư cách tham gia Hội đồng quản trị của ACB. Cũng tại đại hội này, đại diện cho phía Ngân hàng nhà nước chưa giải thích được lý do tại sao Ngân hàng nhà nước không chấp thuận tư cách tham gia vào Hội đồng quản trị của thành viên này. Tại khoản 1 điều 50 luật các Tổ chức tín dụng đưa ra tiêu chuẩn, điều kiện của người tham gia thành viên Hội đồng quản trị chưa được cụ thể như: có đạo đức nghề nghiệp tuy nhiên việc đưa ra tiêu chuẩn về đạo đức nghề nghiệp thì khó đánh giá khách quan đối với những người được đề cử. Điển hình như vụ Đại hội cổ đông của ACB khi Ngân hàng nhà nước cho rằng nhóm cổ đông sở hữu hơn 10% vốn điều lệ kia là thuộc sở hữu của ông Nguyễn Đức Kiên đang còn bị phạt tù liên quan đến hoạt động của ACB trước đây nên đã không chấp thuận cho thành viên này tham gia vào Hội đồng quản trị của nhiệm kỳ mới. Theo quy định của pháp luật thì tư cách tham gia vào Hội đồng quản trị được đánh giá trên cơ sở người đại diện tham gia vào Hội đồng quản trị hay người điều hành chứ không phải người sở hữu vốn. Do đó, việc không được chấp thuận vào Hội đồng quản trị nhiệm kỳ mới của đại diện nhóm cổ đông sở hữu trên 10% vốn điều lệ ACB của Ngân hàng nhà nước là chưa phù hợp với việc bảo vệ cho nhóm cổ đông thiểu số và chưa thực hiện đúng tinh thần của Hiến pháp là “mọi người có quyền tự do kinh doanh”. Trong thời gian không tham gia vào Hội đồng quản trị thì nhóm cổ đông này đã bị hạn chế quyền nắm thông tin cũng như việc giám sát điều hành hoạt động của ngân hàng đối với nhóm cổ đông lớn.
Như vậy, việc Ngân hàng nhà nước đánh giá tư cách của thành viên Hội đồng quản trị và người điều hành của ngân hàng là cần thiết tuy nhiên phải có quy định cụ thể về chuẩn mực từng chức danh được đề cử và thời hạn tối đa cho việc xem xét của Ngân hàng nhà nước để tránh trường hợp như đã xảy ra trong thực tiễn nêu trên.
3.2 Xây dựng cơ chế quản lý chặt đối với người quản trị ngân hàng. Luận văn: Giải pháp PL về bảo vệ cổ đông trong lĩnh vực NHTM.
Khi ngân hàng bị phá sản có thể dẫn đến hiệu ứng dây chuyền và có thể gây ra lũng đoạt cho nền kinh tế, trong suốt những năm qua việc sở hữu chéo trong các Ngân hàng thương mại cổ phần đã không phản ảnh đúng thực trạng khó khăn của các ngân hàng cho đến khi đổ vỡ ra thì các ngân hàng lại không có khả năng thanh toán và lúc đó Ngân hàng nhà nước lại thực hiện tiếp quản và xử lý. Mặt khác, hàng loạt các Ngân hàng thương mại cổ phần được thành lập được sử dụng như công cụ để các ông chủ khai thác vốn phục vụ cho các công ty sân sau có cùng chủ sở hữu hoặc phục vụ cho chính việc cho vay vốn để góp vốn ngược trở lại các ngân hàng thông qua các công ty sân sau, điển hình cho việc này là cơ cấu sở hữu vốn của SCB và các công ty có mối quan hệ với bà Trương Mỹ Lan như Tác giả đã phân tích. Việc sở hữu chéo có thể tác động mạnh đến việc thẩm định, quyết định cho vay và kiểm soát không tuân thủ quy định hệ quả này làm phát sinh nhiều khoản nợ xấu dẫn đến ngân hàng mất khả năng thanh khoản và có thể bị Ngân hàng nhà nước mua lại với giá 0 đồng hoặc bị mua bán sáp nhập với Ngân hàng thương mại cổ phần khác. Như vậy, chính các cổ đông lớn của ngân hàng đã tác động đến các quyết định cho vay và sử dụng vốn vay này cho các mục đích riêng của các cổ đông lớn hoặc thông qua các hình thức vay để lấy lại số tiền đã đầu tư góp vốn mua cổ phần trong khi hậu quả thì các cổ đông nhỏ phải gánh chịu chính những hành vi này dẫn đến ngân hàng bị thiệt hại.
Luật các Tổ chức tín dụng 2010 đã dành riêng Chương VI quy định về các hạn chế để đảm bảo an toàn trong hoạt động của Tổ chức tín dụng, tại điều 126, 127 Luật các Tổ chức tín dụng đã liệt kê tất cả các đối tượng có thể tác động đến thẩm định và quyết định cho vay không đúng, không khách quan thuộc nhóm không được cấp tín dụng hoặc hạn chế cấp tín dụng. Tuy nhiên, trên thực tế trong khoản thời gian từ khi Luật các Tổ chức tín dụng có hiệu lực vào ngày 01/01/2011 thì việc cho vay đối với nhóm cổ đông lớn cũng vẫn diễn ra khá lớn và biến tướng thông qua việc cho vay các doanh nghiệp không thuộc sở hữu của họ, người khác đứng tên thay nhưng họ có quyền chi phối trực tiếp đối với các doanh nghiệp này. Tiêu biểu cho việc này là vụ án liên quan đến NH TMCP Xây Dựng do ông Phạm Công Danh là đại diện, sau khi tiếp quản ngân hàng Trustbank và đổi tên thành NH TMCP Xây Dựng thì vào 28/12/2012 hội đồng tín dụng của NH Xây dựng đã phê duyệt cho vay đối với công ty Quốc Thịnh vay 370 tỷ đồng và Công ty Đại Hoàng Phương vay 280 tỷ đồng, đây là 2 công ty không do ông Phạm Công Danh làm đại diện nhưng nó chính là công ty sân sau của ông Phạm Công Danh. Do bị tác động nên Hội đồng tín dụng của NH Xây dựng đã ra quyết định cho vay không đánh giá đúng năng lực tài chính của doanh nghiệp, chính hành vi này đã gây ra thiệt hại cho NH Xây dựng số tiền 471,1 tỷ đồng. Như vậy, chính cổ đông lớn đã tác động đến trực tiếp đến quyết định của người cho vay, người điều hành ngân hàng đã ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng, chính việc thẩm định và ra quyết định cho vay không đúng đã dẫn đến tình trạng nợ xấu nhiều, ngân hàng mất khả năng thanh khoản và đứng bên bờ vực phá sản. Ngoài ra, việc cho vay công ty sân sau còn gây ảnh hưởng lớn đến việc đánh giá năng lực của Ngân hàng thương mại cổ phần. Thông qua việc quy định mức vốn điều lệ tối thiểu nhằm mục đích nâng cao năng lực của các Ngân hàng thương mại cổ phần tuy nhiên đằng sau việc tăng vốn điều lệ đáp ứng mức tổi thiểu theo quy định chính từ việc ra quyết định cho vay đối với các công ty sân sau rồi dùng chính những khoản tiền đầu tư trở lại Ngân hàng thương mại cổ phần để đối phó với quy định của Ngân hàng nhà nước và cũng như tăng tỷ trọng sở hữu của một nhóm cổ đông lớn đã làm cho cơ quan quản lý nhà nước không đánh giá đúng bản chất của ngân hàng. Vì vậy, khi những khoản vay liên quan không có khả năng trả nợ thì ngân hàng mất luôn khả năng thanh toán dẫn đến phá sản. Những kết quả như nêu trên xảy ra do nguyên nhân từ việc các cổ đông lớn là thành viên trong Hội đồng quản trị hoặc Ban điều hành ngân hàng vì vậy chính họ đã tác động rất lớn đến các quyết định dẫn đến nhiều sai phạm đã xảy ra hàng loạt đối với các Ngân hàng thương mại cổ phần. Do đó, để hạn chế bớt những sai phạm cũng như có thể bảo vệ được người điều hành trước những tác động của nhóm cổ đông lớn là thành viên Hội đồng quản trị thì phải xây dựng cơ chế giám sát chặt chẽ với các khoản vay có giá trị lớn, có mối quan hệ với cổ đông lớn. Luận văn: Giải pháp PL về bảo vệ cổ đông trong lĩnh vực NHTM.
Để giám sát Ban điều hành và giảm bớt những sự ảnh hưởng của cổ đông lớn từ những quyết định thiếu minh bạch của Hội đồng quản trị làm ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của cổ đông đặc biệt là cổ đông nhỏ, Luật doanh nghiệp 2015 quy định trong cơ cấu Hội đồng quản trị có tối thiểu 20% số lượng thành viên Hội đồng quản trị là thành viên độc lập. Các thành viên độc lập thực hiện chức năng giám sát và tổ chức thực hiện kiểm soát đối với việc quản lý điều hành. Ngoài ra, thành viên độc lập này không được trực tiếp hoặc gián tiếp sở hữu ít nhất 1% cổ phần có quyền biểu quyết. Về tiêu chuẩn và điều kiện của thành viên độc lập được quy định tại khoản 2 điều 151 Luật doanh nghiệp 2015 có thể được phân thành 2 loại chính: độc lập trong quan hệ nhân thân quy định tại điểm a, c, đ và độc lập trong quan hệ sở hữu về kinh tế tại điểm b, d. Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất hiện nay để xác định thành viên Hội đồng quản trị độc lập có thật sự độc lập hay không phụ thuộc nhiều vào quy trình giới thiệu thành viên này vào danh sách đề cử chứ không nằm ở chỗ thành viên này có đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của pháp luật hay không. Vì nếu thành viên độc lập được giới thiệu bởi ban điều hành, các cổ đông chi phối, cổ đông có quyền kiểm soát hoặc cổ đông lớn thì quan điểm độc lập này sẽ không còn. Để phát huy tốt vai trò của các thành viên độc lập trong Hội đồng quản trị thì Luật doanh nghiệp phải quy định về quy trình đề cử các thành viên này có thể do tổ chức độc lập đánh giá và đề cử hoặc nhóm cổ đông nhỏ đề cử để các thành viên này thể hiện đúng vai trò độc lập trong việc giám sát hoạt động điều hành của Hội đồng quản trị và Ban điều hành như vậy mới có thể bảo vệ được lợi ích của cổ đông nhỏ đối với các khoản đầu tư. Ngoài ra, để minh bạch trong việc lựa chọ các cổ đông độc lập này thì trong tài liệu họp Đại hội đồng cổ đông cần phải có thêm nội dung ngoài những tiêu chuẩn quy định theo pháp lần thì có thêm nội dung lý do lựa chọn và nguồn giới thiệu chính nhân sự này, để các cổ đông hiểu rõ và đưa ra quyết định bầu chọn phù hợp.
3.3 Tăng cường trách nhiệm đối với Ban kiểm soát
Hàng loạt các sai phạm của các Ngân hàng thương mại cổ phần 0 đồng xảy ra trong thời gian vừa qua đã cho thấy rằng vai trò của BKS trong NH là rất mờ nhạt. Toàn bộ các sai phạm xảy ra do cơ quan điều tra, ngân hàng nhà nước phát hiện hoặc các NH bên bờ vực phá sản thì những sai phạm này mới được làm rõ. Vậy thì vai trò trách nhiệm của BKS được quy định cụ thể như thế nào trong luật mà khi Đại hội đồng cổ đông của các Ngân hàng thương mại cổ phần thì báo cáo của BKS hầu như giống nhau và mang tính báo cáo cho có lệ chứ chưa có báo cáo nào nêu ra sai phạm cũng như những lời cảnh báo cho cổ đông trong các kỳ họp Đại hội đồng cổ đông thường niên hoặc bất thường. Theo quy định của Luật DN và Luật các Tổ chức tín dụng thì BKS có quyền đề nghị triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông bất thường nếu Hội đồng quản trị có những quyết định vi phạm nghiêm trọng. Tuy nhiên, đối với những sai phạm nghiệm trọng xảy ra trong thực tế nhưng trong suốt quá trình hoạt động không thấy bất kỳ việc triệu tập Đại hội đồng cổ đông bất thường do BKS triệu tập. Việc không triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông bất thường là do thành viên BKS không phát hiện ra sai phạm hay đã phát hiện ra sai phạm nhưng cố tình không triệu tập Đại hội đồng cổ đông bất thường để báo cáo và đưa ra lời cảnh báo cho các cổ đông biết tình trạng hoạt động của Ngân hàng thương mại cổ phần. Điển hình cho trường hợp này là vụ của Trust Bank, vào tháng 02/2012 khi Ngân hàng nhà nước chính thức công bố Trust Bank là 1 trong 9 ngân hàng yếu kém thuộc diện phải thực hiện tác cơ cấu thì trong báo cáo tài chính được kiểm toán của năm 2011 vẫn tuyên bố tình hình tài chính bình thường cho đến khi thanh khoản của NH này có vấn đề thì Ngân hàng nhà nước vào kiểm tra giám sát mới phát hiện ra nhiều sai phạm. Luận văn: Giải pháp PL về bảo vệ cổ đông trong lĩnh vực NHTM.
Nhiệm vụ, quyền hạn của BKS trong Ngân hàng thương mại cổ phần là rất lớn và phải chịu trách nhiệm trước Đại hội đồng cổ đông trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao, tuy nhiên việc quy định này không có chế tài cụ thể vì vậy, trách nhiệm của BKS chưa thể hiện rõ nên chưa có tính răn đe đối với những chưa phát hiện ra sai phạm hay cố tình không báo cáo những sai phạm đã biết. Trong vụ án sai phạm tại Ngân hàng Đông Á (DAB) thì kể từ năm 2007 thì các hành vi sai phạm của người đại diện cho cổ đông có quyền chi phối và cấp dưới quyền đã bắt đầu xảy ra nhưng tất cả các sai phạm này đều không được phát hiện. Việc DAB âm quỹ, hụt tiền và vàng chỉ được phát hiện vào năm 2015 khi Thanh tra Ngân hàng Nhà nước vào cuộc thì các sai phạm này mới được khởi tố, điều tra. Và một lần nữa vai trò của BKS lại không thể hiện đúng theo quy định, đến tháng 6/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an (C46) đã khởi tố bị can Nguyễn Thị Cúc (nguyên Trưởng ban Kiểm soát – DAB) về tội Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng.
Việc hằng năm trong báo cáo của Hội đồng quản trị trong Đại hội đồng cổ đông luôn luôn phải công bố mức thù lao cho BKS để tránh sự tác động lên nhiệm vụ của BKS đã được phân công theo quy định tại điều lệ ngân hàng và theo Luật. Tuy nhiên, Ban Kiểm soát thời gian qua chưa có phát huy được vai trò của mình, tính độc lập không có, hoặc nếu có cũng không cao. Mặc dù, theo cơ cấu quy định BKS có quyền hạn rất lớn do Đại hội đồng cổ đông bầu ra và với mục đích giám sát hoạt động của Hội đồng quản trị & Tổng giám đốc tuy nhiên cả 3 thành phần này đều do người đại diện của nhóm cổ đông lớn đề cử và bỏ phiếu bầu chọn. Vì vậy, sai phạm của các Ngân hàng thương mại cổ phần do nhóm cổ đông lớn gây ra rất khó bị công bố là đã phát hiện cho đến khi cơ quan điều tra vào cuộc hoặc Ngân hàng thương mại cổ phần nằm bên bờ vực phá sản thì sự thật mới được phát hiện, lúc đó toàn bộ tiền đầu tư của cổ đông nhỏ hoặc nhóm cổ đông yếu thế hơn sẽ bị thiệt hại. Như vậy, vai trò của BKS hầu như chỉ có cho đủ cơ cấu theo quy định của Pháp luật chứ chưa thật sự phát huy được đúng bản chất của việc kiểm tra, giám sát hoạt động của Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc.
Vì vậy, để có thể tăng cường vai trò của BKS phải quy định đối với những Ngân hàng thương mại cổ phần cần phải có BKS độc lập cùng với BKS nội bộ thực hiện kiểm tra giám sát đối với chức danh Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc. BKS độc lập không sợ tác động từ phía Hội đồng quản trị hoặc Tổng giám đốc để không bị tác động bởi các cổ đông có quyền chi phối. Như vậy, thì hoạt động của Ngân hàng thương mại cổ phần mới có thể được giám sát đúng bản chất và có thể bảo vệ được nhóm cổ đông nhỏ trước những hành vi trục lợi của nhóm cổ đông lớn khi quản lý điều hành chính Ngân hàng thương mại cổ phần.
3.4 Ngăn chặn hành vi tẩu tán tài sản trong thời gian cổ đông mới tiếp quản ngân hàng. Luận văn: Giải pháp PL về bảo vệ cổ đông trong lĩnh vực NHTM.
Theo quy định tại Luật doanh nghiệp và Luật các Tổ chức tín dụng thì các cổ đông sở hữu trên 10% vốn điều lệ trong thời gian 6 tháng thì mới có quyền triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông và đề cử thành viên vào danh sách bầu Hội đồng quản trị mới. Đây là một trong những điểm mà các cổ đông cũ, Hội đồng quản trị và ban điều hành cũ sẽ vận dụng để thực hiện các công việc gây bất lợi cho nhóm cổ đông mới tiếp quản như: gây khó khăn cho tổ chức họp, trì hoãn họp để bầu chọn Hội đồng quản trị mới hoặc có hành vi trục lợi nhằm mục đích tẩu tán tài sản. Trong thực tế đã xảy ra trường hợp nhóm cổ đông mới sở hữu 51% vốn cổ phần tại doanh nghiệp nhưng vẫn không thể tiếp cận doanh nghiệp, sự việc cụ thể đã xảy ra tại Công ty CP Khoáng sản Hòa Bình (KHB). Khi nhóm cổ đông sở hữu trên 51% vốn điều lệ đã đến dự họp tại Đại hội đồng cổ đông vào ngày 17/4/2017 nhưng bất ngờ bị hủy họp. Hành vi hủy họp này theo nhóm cổ đông mới cho rằng những cổ đông cũ cố tình hủy họp ngay ngày tổ chức họp nhằm mục đích tẩu tán tài sản. Cụ thể như sau: KHB sở hữu 49% vốn điều lệ trong Công ty CP Khoáng sản Gia Lai (KSG) cả 2 công ty đều do bà Phạm Thị Hinh làm chủ tịch Hội đồng quản trị. Cổ đông cũ lo lắng việc nhóm cổ đông mới sở hữu đến 51% vốn điều lệ thì trong cuộc họp Đại hội đồng cổ đông vào ngày 17/4/2017 sẽ làm thay đổi thành viên Hội đồng quản trị cũ vì vậy đã hủy họp Đại hội đồng cổ đông để duy trì lại Hội đồng quản trị cũ. Thay vào đó tại ngày 27/4/2017 KSG (công ty con của KHB) tổ chức họp Đại hội đồng cổ đông thông qua quyết định tăng vốn điều lệ lên gấp 2 lần thông qua việc phát hành riêng lẻ cho cổ đông chiến lược. Như vậy, việc thông qua tăng vốn trong công ty con của nhóm cổ đông cũ đã làm yếu thế của KHB trong KSG từ mức sở hữu 49% vốn điều lệ thì sau đợt tăng vốn KHB chỉ còn sở hữu 25% vốn điều lệ trong KSG. Nếu Đại hội đồng cổ đông của KHB được tổ chức vào ngày 17/4/2017 thì nhóm cổ đông mới đã thực hiện việc tiếp quản KHB và việc tăng vốn điều lệ để làm giảm sở hữu của KHB trong KSG đã không thể tiến hành sớm và nhóm cổ đông mới sẽ không bị mất quyền biểu quyết trong KSG khi vẫn còn sở hữu 49%. Do đó, hành vi của nhóm cổ đông cũ trong thời gian chờ tiếp quản của nhóm cổ đông mới đã gây bất lợi cho nhóm cổ đông mới, khi trong KSG (công ty con) rất có thể nhóm cổ đông cũ vẫn quản lý điều hành và chi phối khi thông qua việc phát hành riêng lẻ cho nhóm cổ đông chiến lược sở hữu đến 50% vốn điều lệ của KSG.
Trong các thương vụ M&A, khi thâu tóm mang tính thù địch, ám ảnh lớn nhất cho các cổ đông mới chính là nguy cơ bị rút ruột trong thời gian chờ tiếp quản. Xét ở góc độ pháp luật, cổ đông có quyền kiện Ban điều hành khi chứng minh các giao dịch diễn ra theo hướng trục lợi. Nhưng ngay cả trong tình huống kiện được, thì đến khi nào quyền lợi cổ đông mới được đảm bảo lại là điều không dễ được trả lời. Trong vụ thâu tóm Sacombank, đại diện nhóm cổ đông mới đã thực hiện việc khởi kiện nhóm cổ đông cũ đang thực hiện việc điều hành ngân hàng đã có hành vi tẩu tán tài sản thông qua việc mua bán các tài sản thuộc sở hữu của Sacombank với giá trị không phù hợp với giá thị trường đang giao dịch cho các đối tượng có liên quan đến ban điều hành cũ. Ngoài ra, trong thời gian chờ tiếp quản đã phát sinh các khoản nợ vay cho công ty có liên quan đến gia đình của thành viên ban điều hành . Khi nhóm cổ đông mới sở hữu trên 51% vốn điều lệ của Sacombank nhưng vẫn chưa có cử đại diện nào trong Hội đồng quản trị của ngân hàng thì việc điều hành của ngân hàng sẽ không có sự giám sát chặt chẽ của nhóm cổ đông mới. Khi nhóm cổ đông mới đề nghị được tham gia vào Hội đồng quản trị và thương lượng bàn thảo về cơ cấu Hội đồng quản trị mới không đạt kết quả như mong muốn của 2 nhóm cổ đông. Giữa lúc cuộc chiến quyền lực đang diễn ra căng thẳng, phe cổ đông mới mang theo giấy chứng nhận sở hữu cổ phần trên 51% vốn điều lệ đến gặp Hội đồng quản trị yêu cầu ngưng mọi quyết định bán tài sản, hoặc các giao dịch giá trị lớn. Mục đích của việc này là để tránh tình trạng “rút ruột” doanh nghiệp có thể diễn ra khi Hội đồng quản trị không đại diện cho sở hữu chi phối của các cổ đông tại doanh nghiệp và có nguy cơ bị thay thế trong thời gian ngắn. Luận văn: Giải pháp PL về bảo vệ cổ đông trong lĩnh vực NHTM.
Thông qua vụ xảy ra trong thực tế cho thấy việc quy định của Luật chưa đủ để bảo vệ cổ đông, điều gì sẽ xảy nếu Ban lãnh đạo hiện hành có những hành động mang tính bất lợi cho cổ đông? Ai sẽ bảo vệ quyền lợi của họ? Liệu nhà đầu tư có quyền yêu cầu ngân hàng tạm ngưng mọi giao dịch có nguy cơ dẫn đến các thiệt hại, hay chấp nhận chờ đợi đến khi tiếp quản điều hành tại doanh nghiệp rồi mới truy xét?
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3
Ngân hàng là một trong những ngành nghề kinh doanh có điều kiện và giữ vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế. Việc bảo vệ cho các cổ đông trong lĩnh vực ngân hàng là điều cần thiết, nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến dòng vốn đầu tư chảy vào hệ thống ngân hàng. Hệ thống ngân hàng sẽ cần nguồn vốn rất lớn, pháp luật không thực hiện tốt vai trò bảo vệ các cổ đông trong lĩnh vực Ngân hàng thương mại cổ phần sẽ là thiệt hại vì các nhà đầu tư sẽ e ngại việc đầu tư vào lĩnh vực này. Sự gia tăng nhanh chóng số lượng các Ngân hàng thương mại cổ phần trong giai đoạn mở cửa trong khi pháp luật chưa theo kịp với sự tăng trưởng nhanh chóng của ngành ngân hàng. Chính sự lõng lẽo trong quản lý hệ thống ngân hàng đã làm xuất hiện hình thức sở hữu chồng chéo giữa các ngân hàng với nhau và giữa doanh nghiệp với ngân hàng. Các công cụ bảo vệ cổ đông thiểu số, nhà đầu tư trước những biến tướng của thị trường gần như bị vô hiệu hóa. Cụ thể như vai trò của BKS là để giám sát hoạt động của Hội đồng quản trị và Ban điều hành ngân hàng thì trên thực tế vai trò này chưa được phát huy cụ thể dẫn đến hàng loạt các sai phạm đã xảy ra như (i) Hội đồng quản trị hoặc cổ đông lớn đã tác động trực tiếp lên các quyết định cho vay nhằm mục đích sử dụng vốn cho hoạt động của công ty sân sau hoặc góp vốn ngược trở lại cho chính ngân hàng mình đang là cổ đông lớn để đáp ứng quy định của Ngân hàng nhà nước về việc tăng vốn (ii) không thực hiện việc giám sát hoạt động của Hội đồng quản trị cũ trong việc gây cản trở việc tham gia điều hành của thành viên Hội đồng quản trị mới khi được cổ đông mới đủ điều kiện tham gia vào hoạt động hiện tại của ngân hàng (iii) không giám sát việc Hội đồng quản trị cũ thực hiện các hành vi tẩu tán tài sản của Ngân hàng thương mại cổ phần trong thời gian cổ đông mới chờ tiếp quản. Chính những quy định của pháp luật hiện hành chưa đủ công cụ để bảo vệ cổ đông thiểu số, nhất là trong lĩnh vực ngân hàng vì vậy hàng loạt các sai phạm đã xảy ra trong thực tế mà pháp luật chưa điều chỉnh kịp thời đã dẫn đến một số cổ đông, nhóm cổ đông và nhà đầu tư bị mất vốn.
KẾT LUẬN CHUNG Luận văn: Giải pháp PL về bảo vệ cổ đông trong lĩnh vực NHTM.
Tại sao phải bảo vệ cổ đông? Đó là câu hỏi mà phần lớn đối với nhà làm luật phải thực hiện giải đáp khi pháp luật hiện hành chưa đủ công cụ để bảo vệ cho cổ đông trước những thay đổi của thị trường. Trong các mối quan hệ, bên được bảo vệ thường là bên yếu thế, chính vì vậy việc bảo vệ cổ đông chủ yếu là tập trung để bảo vệ cho nhóm cổ đông thiểu số. Theo Luật doanh nghiệp quy định tất cả các cổ đông đều có quyền và lợi ích đối với phần vốn góp của mình tuy nhiên không phải tất cả các cổ đông đều có các quyền lợi, khả năng tham gia chi phối hoạt động, kiểm soát công ty giống nhau, chính vì vậy việc bảo vệ cổ đông là rất cần thiết nhất là trong lĩnh vực nhạy cảm như ngân hàng. Trong quá trình nghiên cứu, tác giả nhận thấy có 4 vấn đề cần được giải quyết đối với việc bảo vệ cổ đông trong lĩnh vực ngân hàng, như sau:
Thứ nhất, xuất phát từ mối quan hệ bất bình đẳng giữa các cổ đông lớn với cổ đông nhỏ và giữa các cổ đông cũ và cổ đông mới. Khi có mâu thuẫn xảy ra thì cổ đông lớn có khả năng lợi dụng sức mạnh để chèn ép cổ đông thiểu số, còn đối với cổ đông mới và cổ đông cũ thì người ta thường ví cổ đông cũ và người quản lý hiện hành trong công ty là người bên trong còn cổ đông mới là người bên ngoài. Trong thời gian gần đây, khi hệ thống ngân hàng phát triển mạnh thì những biến động trong lĩnh vực này cũng gia tăng nhanh chóng chủ yếu từ các cổ đông lớn dùng quyền để chi phối những nhà quản lý ngân hàng thực hiện các giao dịch nội gián, cũng như không minh bạch thông tin điều này đã làm xâm phạm đến quyền và lợi ích của cổ đông, nhà đầu tư dẫn đến nhiều thiệt hại. Hơn nữa, chính những quy định của Luật các Tổ chức tín dụng và của các cơ quan quản lý như ngân hàng nhà nước ban hành thì việc vận dụng vào thực tế lại biến tướng gây khó khăn và thiệt hại cho hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần mà người gánh chịu nặng nề lại là các cổ đông thiểu, các nhà đầu tư. Ngoài ra, sự khác biệt của Công ty cổ phần và Ngân hàng thương mại cổ phần trong việc cử thành viên vào Hội đồng quản trị, ngoài những tiêu chuẩn quy định trong Luật Doanh nghiệp, còn phải tuân thủ các chuẩn mực theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng và để được lọt vào danh sách của đề cử tại Đại hội đồng cổ đông phải được phê chuẩn của Ngân hàng nhà nước. Tuy nhiên, Luật các Tổ chức tín dụng lại không quy định chuẩn mực cụ thể và thời gian phê chuẩn đối với các chức danh thành viên Hội đồng quản trị như thế nào. Vì vậy, trong thực tế đã xảy ra trường hợp nhóm cổ đông sở hữu trên 10% vốn điều lệ và trong thời gian 6 tháng không thể đề cử thành viên Hội đồng quản trị trong nhiệm kỳ mới điều này có thể dẫn đến nhóm cổ đông này không thể giám sát được hoạt động của Ngân hàng thương mại cổ phần mà mình đang sở hữu hơn 10% vốn điều lệ. Do đó, Luật các Tổ chức tín dụng cần phải có quy định cụ thể cho việc phê chuẩn và xem xét tư cách đối với các thành viên được nhóm cổ đông đủ điều kiện đề cử tham gia vào Hội đồng quản trị để nắm thông tin và giám sát hoạt động của Ngân hàng thương mại cổ phần. Luận văn: Giải pháp PL về bảo vệ cổ đông trong lĩnh vực NHTM.
Thứ hai, hàng loạt các Ngân hàng thương mại cổ phần được thành lập được sử dụng như công cụ để các ông chủ khai thác vốn phục vụ cho các công ty sân sau có cùng chủ sở hữu hoặc phục vụ cho chính việc cho vay vốn để góp vốn ngược trở lại các ngân hàng thông qua các công ty sân sau điều này là nguyên nhân chính dẫn đến sở hữu chéo trong lĩnh vực ngân hàng. Do đó, chính các cổ đông lớn của ngân hàng đã tác động đến các quyết định cho vay và sử dụng vốn vay cho các mục đích riêng của các cổ đông lớn trong khi hậu quả xảy ra đối với các Ngân hàng thương mại cổ phần thì các cổ đông nhỏ phải gánh chịu. Cho nên, để giám sát Ban điều hành và giảm bớt những sự ảnh hưởng của cổ đông lớn, Luật doanh nghiệp 2015 quy định trong cơ cấu Hội đồng quản trị có tối thiểu 20% số lượng thành viên Hội đồng quản trị là thành viên độc lập. Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất hiện nay để xác định thành viên Hội đồng quản trị độc lập có thật sự độc lập hay không? Vì vậy, Luật doanh nghiệp cần phải quy định rõ về quy trình đề cử các thành viên này có thể do tổ chức độc lập đánh giá và đề cử hoặc nhóm cổ đông nhỏ đề cử để các thành viên này thể hiện đúng vai trò độc lập trong việc giám sát hoạt động điều hành của Hội đồng quản trị và Ban điều hành.
Thứ ba, trong cơ cấu của Ngân hàng thương mại cổ phần hoặc công ty cổ phần thì Ban kiểm soát được xem như là một trong những giải pháp để thực hiện việc giám sát và bảo vệ quyền lợi của những cổ đông. Tuy nhiên, trên thực tế thì vai trò của BKS trong bộ máy của một số Ngân hàng thương mại cổ phần thì gần như chỉ để cho đủ cơ cấu theo quy định của luật mà chưa phát huy đúng vai trò và trách nhiệm trong việc giám sát hội đồng quản trị, ban điều hành. Trong thời gian qua, hàng loạt các sai phạm xảy ra trong hệ thống Ngân hàng thương mại cổ phần thì chưa có bất kỳ sai phạm nào được phát hiện từ BKS mà mãi cho đến khi Ngân hàng thương mại cổ phần nằm bên bờ vực phá sản và cơ quan điều tra vào cuộc thì các sai phạm mới được công bố. Để có thể tăng cường vai trò của BKS cần phải có BKS độc lập cùng với BKS nội bộ thực hiện kiểm tra giám sát đối với chức danh Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc đối với Ngân hàng thương mại cổ phần.
Thứ tư, không phải chỉ có cổ đông nhỏ mới cần được bảo vệ mà trong một số trường hợp, cổ đông lớn cũng cần được bảo vệ khi cổ đông cũ có hành động rút ruột tài sản của doanh nghiệp trong thời gian chờ tiếp quản của cổ đông mới hoặc trước những hành vi trục lợi từ ban quản lý doanh nghiệp. Cần phải có quy định chế tài đối với những hành vi trục lợi của nhóm cổ đông cũ khi có những hành động gây cản trở cho việc tiếp quản Ngân hàng thương mại cổ phần nhằm mục đích tẩu tán tài sản hoặc cần phải có quy định liên quan đến việc nhóm cổ đông sở hữu trên 51% vốn điều lệ của Ngân hàng thương mại cổ phần có thể được rút ngắn thời gian sở hữu từ 6 tháng xuống còn 4 tháng để có đầy đủ các quyền đề cử người vào Hội đồng quản trị, đề nghị họp Đại hội đồng cổ đông bất thường.
Những vấn đề được nêu ra như trên, trong quá trình nghiên cứu tác giả nhận thấy rằng những điểm này chưa được quy định cụ thể trong luật vì vậy để hoàn thiện các quy định của luật tác giả đã đưa ra một số kiến nghị khi thực hiện luận văn. Tuy nhiên, luận văn chỉ đưa ra những kiến nghị theo quan điểm của người nghiên cứu khoa học, với mong muốn đưa thêm cách nhìn đa chiều, góc độ sâu hơn về luật pháp trong vấn đề bảo vệ cổ đông trong lĩnh vực ngân hàng. Dù có nhiều cố gắng, nhưng, do những biến động xảy ra trong lĩnh vực này khá phức tạp, điều kiện nghiên cứu và thời gian có hạn nên không tránh khỏi thiếu sót. Vì vậy, tác giả rất mong nhận được sự trao đổi để luận văn tiếp tục được nghiên cứu sâu hơn. Luận văn: Giải pháp PL về bảo vệ cổ đông trong lĩnh vực NHTM.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Bảo vệ cổ đông trong NHTM cổ phần theo pháp luật

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Thực trạng bảo vệ cổ đông trong NHTM cổ phần