Luận văn: Thực trạng bảo vệ cổ đông trong NHTM cổ phần

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng bảo vệ cổ đông trong NHTM cổ phần hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng bảo vệ cổ đông trong ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam và một số giải pháp hoàn thiện dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Sơ lược về tình hình thành lập và hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam.

2.1.1. Tình hình thành lập.

Đến thời điểm năm 2017, hệ thống Ngân hàng thương mại trong nước gồm có 35 ngân hàng bao gồm 4 ngân hàng thuộc sở hữu của nhà nước và 31 Ngân hàng thương mại cổ phần. Tình hình thành lập hệ thống ngân hàng được định hình rõ nét nhất kể từ khi ngân hàng một cấp được tách thành ngân hàng hai cấp là cấp ngân hàng trung ương còn gọi là ngân hàng nhà nước và Ngân hàng thương mại quốc doanh. Ngân hàng nhà nước có nhiệm vụ điều tiết toàn bộ hệ thống ngân hàng và nền kinh tế vĩ mô, còn hệ thống Ngân hàng thương mại quốc doanh sẽ thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ như nhận gửi tiền, cho vay và các loại dịch vụ khác. Thời điểm bắt đầu vào năm 1988, ngành ngân hàng có sự tăng trưởng về mặt số lượng, quy mô, đa dạng về cơ cấu sở hữu và loại hình. Tuy nhiên, nó được phát triển vượt bậc về số lượng thành lập là từ năm 1991, có thể chia thành ba giai đoạn hình thành phát triển hệ thống Ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam. (i) Trong giai đoạn thứ nhất, nếu loại trừ các Ngân hàng thương mại đã giải thể và Ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn, thì số lượng ngân hàng được thành lập từ năm 1991 đến năm 1994 lên đến 20 Ngân hàng thương mại cổ phần đô thị. (ii) Giai đoạn thứ hai bắt đầu từ năm 1995 đến năm 2005, trong giai đoạn này chỉ có 4 ngân hàng được Ngân hàng nhà nước cấp phép mới để thành lập và hoạt động. (iii) Đợt sóng ra đời tiếp theo của các Ngân hàng thương mại cổ phần được đánh dấu thông qua việc ban hành quy chế thành lập ngân hàng theo Quyết định số 24/2007/QĐ-NHNN ngày 07/06/2007, với sự ra đời của quy chế này đã mở đường cho việc thành lập một số ngân hàng mới sau một thập kỷ ngừng cấp phép thành lập ngân hàng và chuyển đổi các Ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn thành các Ngân hàng thương mại đô thị được hoạt động trên phạm vi toàn quốc.

Bên cạnh các ngân hàng được cấp phép hoạt động và được chuyển đổi từ Ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn sang Ngân hàng thương mại cổ phần đô thị thì cũng có một số ngân hàng đã được đồng ý về mặt chủ trương tuy nhiên lại không được cấp phép để đi vào hoạt động. Khi Quyết định 24/2007/QĐ-NHNN ngày 07/06/2007 về quy chế cấp phép thành lập và hoạt động của Ngân hàng thương mại cổ phần được ban hành, quy chế này sau đó được sửa đổi, bổ sung theo Quyết định số 46/2007/QĐ-NHNN ngày 25/12/2007, kể từ thời điểm này đã có 21 bộ hồ sơ xin thành lập ngân hàng được trình cho ngân hàng nhà nước. Nhưng trong số các bộ hồ sơ xin thành lập thì Ngân hàng nhà nước chỉ chấp thuận về mặt chủ trương được 9 Ngân hàng thương mại cổ phần, trong số đó có 3 ngân hàng được cấp phép hoạt động gồm Ngân hàng thương mại cổ phần Liên Việt, Ngân hàng thương mại cổ phần Tiên Phong, Ngân hàng thương mại cổ phần Bảo Việt và 6 ngân hàng không được cấp phép hoạt động gồm NH Hồng Việt (Dầu Khí), NH Năng Lượng, NH Ngoại Thương Châu Á, NH Ngôi Sao Việt Nam, NH Đông Dương Thương Tín, NH Bảo Tín. Như vậy, khi chính sách của Ngân hàng nhà nước nới lỏng việc thành lập Ngân hàng thương mại cổ phần thì sự tăng trưởng về số lượng ngân hàng được thành lập mới là 4 ngân hàng và có đến 12 ngân hàng được chuyển đổi thành Ngân hàng thương mại cổ phần đô thị làm cho hệ thống ngân hàng Việt Nam tăng lên đến 16 Ngân hàng thương mại cổ phần đô thị. Nhưng trong số những ngân hàng được thành lập trong đợt nóng sốt này chỉ còn lại 9 Ngân hàng thương mại cổ phần còn đang hoạt động tính đến thời điểm hiện tại gồm: Việt Á, Nam Việt (được đổi tên là Quốc Dân), Sài Gòn – Hà Nội, An Bình, Kiên Long, Việt Nam Thương Tín, Tiên Phong, Liên Việt và Bảo Việt. Các ngân hàng còn lại bị rơi vào tình trạng kiểm soát đặc biệt Ngân hàng nhà nước mua lại với giá 0 đồng hoặc đã bị sáp nhập vào các ngân hàng khác lớn hơn.

2.1.2. Tình hình hoạt động Luận văn: Thực trạng bảo vệ cổ đông trong NHTM cổ phần.

Theo thống kê tại thời điểm ban hành Nghị định 141/2006/NĐ-CP, trong số 39 NHTM trong nước đang hoạt động thì có 26 ngân hàng có vốn điều lệ dưới 1.000 tỷ đồng trong đó ngân hàng có vốn điều lệ thấp nhất là 70 tỷ đồng và 3 Ngân hàng thương mại nhà nước gồm Vietcombank, Argibank, BIDV là có mức vốn lớn hơn 3.000 tỷ đồng. Đến cuối năm 2007, chỉ còn lại 15 ngân hàng có mức vốn pháp định lớn hơn 1.000 tỷ đồng trong đó ngân hàng có mức vốn thấp nhất là 200 tỷ đồng và đến cuối năm 2008 chỉ còn lại 4 Ngân hàng thương mại cổ phần (Phát triển Mê Kông, Đại Á, Đại Tín, Đệ Nhất) là chưa tăng vốn lên mức 1.000 tỷ đồng. Đến giai đoạn tăng vốn điều lệ lần hai lên mức 3.000 tỷ đồng, thời điểm 31/12/2010 thì hệ thống Ngân hàng thương mại cổ phần vẫn còn 11 ngân hàng chưa tăng vốn kịp và thời điểm này Thủ tướng Chính phủ đã chấp thuận cho gia hạn việc tăng vốn điều lệ lên 3.000 tỷ đồng đến 31/12/2011. Khi vốn điều lệ tăng, tỷ lệ an toàn vốn (CAR) của từng ngân hàng cũng như của cả hệ thống được cải thiện. Năm 2010 hệ số an toàn vốn bình quân của các Ngân hàng thương mại là 10,98%; năm 2012 là 13,75%; năm 2013 là 13,25% và năm 2014 là 12,75%. Tuy nhiên, nếu tính đủ các loại rủi ro hoạt động, rủi ro thị trường và loại trừ vốn ảo do sở hữu chéo theo tiêu chuẩn và yêu cầu của Basel II thì hệ số CAR của các Ngân hàng thương mại thấp hơn so với số liệu được nêu trên. Điều này cho thấy sự phát triển của hệ thống Ngân hàng thương mại của Việt Nam chưa bền vững theo chuẩn mực quốc tế.

Các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam mức độ đa dạng hóa loại hình dịch vụ không cao, chủ yếu tập trung vào cung ứng các dịch vụ ngân hàng truyền thống là huy động vốn, cho vay và thanh toán. Trong số các loại hình truyền thống thì dịch vụ cho vay là hoạt động kinh doanh có rủi ro nhiều nhất và mang lại lợi nhuận cao cho các Ngân hàng thương mại. Ở giai đoạn 2006 – 2010, tốc độ tăng trưởng tín dụng bình quân khoảng 35%/năm cao hơn gấp 5 – 6 lần tốc độ tăng trưởng GDP, giai đoạn 2011 – 2015 tốc độ tăng trưởng tín dụng là 11%/năm cao hơn 2 lần tốc độ tăng trưởng GDP. Nhìn chung, tốc độ tăng trưởng tín dụng cao nhưng chất lượng tín dụng vẫn còn thấp do một số ngân hàng cho vay các lĩnh vực có độ rủi ro cao như: (i) cho vay đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh bất động sản khá cao, tính đến tháng 9/2015 dư nợ cho vay vào bất động sản của toàn ngành ngân hàng chiếm 8,3% tổng dư nợ toàn ngành kinh tế; (ii) cho vay bằng vàng và đầu tư kinh doanh vàng, ngoại tệ. Để hạn chế việc cho vay vào những ngành nghề có rủi ro cao ảnh hưởng đến hoạt động của các Ngân hàng thương mại và nền kinh tế, Ngân hàng nhà nước ban hành một số văn bản nhằm quản lý và kiểm soát các hoạt động cho vay. Hiện nay, việc Ngân hàng thương mại cho vay bằng vàng đã bị cấm; cho vay đầu tư kinh doanh bất động sản đang hạn chế; việc sử dụng vốn để cho vay trung dài hạn cũng được quy định cụ thể; cho vay đầu tư mua cổ phiếu hiện cũng bị kiểm soát chặt.

2.1.3. Những tồn tại, hạn chế

2.1.3.1. Thanh khoản Luận văn: Thực trạng bảo vệ cổ đông trong NHTM cổ phần.

Thanh khoản là khả năng của ngân hàng vừa có thể tăng thêm tài sản vừa đáp ứng các nghĩa vụ nợ khi đến hạn mà không bị những thiệt hại quá mức cho phép. Thanh khoản là một trong ba yếu tố quan trọng trong hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại gồm: an toàn, sinh lợi và thanh khoản. Từ sau năm 2007, hệ thống ngân hàng Việt Nam đối diện với nhiều khó khăn có thể gây mất an toàn cho cả hoạt động của hệ thống do gặp phải hai vấn đề lớn gồm (i) rủi ro về mặt thanh khoản và (ii) rủi ro từ hoạt động liên quan đến chứng khoán và bất động sản. Cuối năm 2008 rủi ro thanh khoản của hệ thống ngân hàng tăng, khi Chính phủ đưa ra giải pháp kích thích tăng trưởng kinh tế từ đó hoạt động cho vay được mở rộng quá nhanh, điều này dẫn đến việc mất cân đối giữa việc huy động vốn và cho vay vốn ở các ngân hàng. Ngoài ra, với việc cấp phép chuyển đổi và thành lập mới ngân hàng trong thời điểm này quá dễ dàng, điều này dẫn đến hệ lụy là quá nhiều ngân hàng hoạt động mà lợi thế cạnh tranh không tương đồng. Với những ngân hàng lớn, việc huy động sẽ thuận lợi hơn do đã có sẵn hệ thống, mối quan hệ và lượng cho vay ra cũng ở mức giới hạn ngược lại các ngân hàng nhỏ lại khó khăn trong việc huy động vốn trong khi các ngân hàng nhỏ đang cần mở rộng thị trường, từ đó việc cho vay mượn trên thị trường liên ngân hàng xuất hiện. Việc Chính phủ tung ra gói kích thích tăng trưởng trong thời điểm này đã làm cho lạm phát tăng cao. Khi đó, Chính phủ lại đưa ra chính sách thắt chặt tiền tệ quá mạnh và việc suốt thời gian dài các Ngân hàng thương mại đã cho vay quá nhiều vào hoạt động đầu tư kinh doanh chứng khoán và bất động sản làm cho tình hình thanh khoản ở các Ngân hàng thương mại đều căng thẳng trong thời điểm này. Với tình hình này, Ngân hàng nhà nước ban hành thông tư 13/2010/TT-NHNN (Thông tư 13) quy định mức giới hạn tín dụng trên huy động tối thiểu là 80% với mục đích làm hạ nhiệt tình trạng thanh khoản.

2.1.3.2 Nợ xấu

Thu nhập chính của các Ngân hàng thương mại là từ hoạt động tín dụng, có khi chiếm đến 80% đến 90% thu nhập hàng năm. Hệ thống ngân hàng sau một thời gian dài tăng trưởng tín dụng nhanh, liên tục cùng với khả năng kiểm soát rủi ro còn nhiều hạn chế và những yếu tố bất lợi của nền kinh tế (như tăng trưởng kinh tế chậm lại, lạm phát cao, thị trường bất động sản sụt giảm và đóng băng kéo dài, sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn…), làm nợ xấu của hệ thống ngân hàng bắt đầu lộ diện và tăng nhanh từ cuối năm 2011. Tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống ngân hàng đã tăng từ 3,63% cuối năm 2013 lên 4,17% tính đến 30/6/2014 với giá trị nợ xấu tăng tuyệt đối là 132.500 tỷ đồng. Theo Thanh tra Ngân hàng nhà nước, nếu các Ngân hàng thương mại không được giữ nguyên nhóm các khoản nợ đã tái cơ cấu, con số nợ xấu thực tế sẽ tăng thêm 185.000 tỷ đồng, tổng số nợ xấu lên 307.000 tỷ đồng, tương đương tỉ lệ nợ xấu là 9,71%. Trước tình hình này, tháng 7/2013, Công ty quản lý tài sản của các Tổ chức tín dụng tại Việt Nam (VAMC) được đưa vào hoạt động là một biện pháp giải quyết nợ xấu cho nền kinh tế. Việc bán nợ xấu cho VAMC giúp các Ngân hàng thương mại có bảng cân đối tốt hơn, có điều kiện giải ngân các khoản vay mới cho nền kinh tế. Tuy nhiên, việc xử lý nợ xấu diễn ra rất chậm và chưa mang lại hiệu quả, việc xử lý nợ xấu thông qua VAMC chẳng qua là tạm cất khoản nợ xấu và kéo dài thời gian trích lập dự phòng của các Tổ chức tín dụng. Tính đến thời điểm hiện tại, sau hơn 3 năm hoạt động, VAMC đã mua tổng cộng được 25.631 khoản nợ xấu tại 42 Tổ chức tín dụng tại Việt Nam, với tổng dư nợ gốc 282.124 tỷ đồng, giá mua nợ là 245.672 tỷ đồng, thanh toán bằng trái phiếu đặc biệt. Chi tiết như sau:

  • Bảng 2.1: Thống kê số lượng ngân hàng bán nợ cho VAMC

2.1.3.3 Quản trị rủi ro Luận văn: Thực trạng bảo vệ cổ đông trong NHTM cổ phần.

Trong những năm gần đây, hệ thống Ngân hàng thương mại ở Việt Nam đã nhận thức được tầm quan trọng của hệ thống quản trị rủi ro, khi ngân hàng có hệ thống quản lý rủi ro tốt, sẽ có sức đề kháng tốt, ít bị ảnh hưởng bởi những tác động không lường trước và có khả năng đưa ra những hành động kịp thời, hạn chế thấp nhất những tổn thất cho ngân hàng. Rủi ro ngân hàng trong thực tế là khá đa dạng, với 3 loại rủi ro chính là rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động. Hiện nay, với những khó khăn xảy ra trong quá khứ như tình hình nợ xấu từ hoạt động cho vay lớn vì vậy, các ngân hàng ngoài việc ưu tiên việc giải quyết nợ xấu, còn phải thực hiện xây dựng hệ thống quản lý rủi ro tiên tiến theo chuẩn mực quốc tế để phòng ngừa rủi ro trong tương lai. Trước tình hình đó việc áp dụng các chuẩn mực quốc tế trong việc xây dựng hệ thống quản lý rủi ro của các Ngân hàng thương mại là việc rất cần thiết. Hiệp ước Basel là một thước đo chung để quản lý rủi ro tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam. Basel được xây dựng trên nguyên tắc cơ bản nhằm đảm bảo các ngân hàng duy trì đủ nguồn vốn bù đắp cho các khoản lỗ có thể phát sinh từ những rủi ro mà ngân hàng đang nắm giữ. Basel II được ban hành vào năm 2006 với phương pháp tiêu chuẩn được chuẩn hóa và được xem là bước đầu tiến tới phương pháp đánh giá theo độ nhạy cảm rủi ro. Basel II được Ngân hàng nhà nước triển khai áp dụng vào hệ thống Ngân hàng thương mại thành 2 giai đoạn: (i) năm 2013 – 2015 giai đoạn này NHNH đã thực hiện việc tái cơ cấu lại hệ thống ngân hàng và đưa nợ xấu giảm xuống dưới mức 3%; (ii) năm 2016 – 2018 xây dựng hệ thống ngân hàng hiện đại, đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế về hoạt động ngân hàng. Dự kiến đến tháng 9/2017 sẽ thực hiện thí điểm áp dụng Basel II với 10 ngân hàng lớn nhất hệ thống, những ngân hàng còn lại theo Thông tư 41/2016/TT-NHNN được hoãn việc áp dụng Basel II sau 3 năm nữa chậm nhất là ngày 1/1/2020 phải thực hiện hoàn tất việc điều chỉnh giảm hệ số CAR xuống 8%.

2.2. Thực trạng pháp luật về bảo vệ cổ đông tại một số nước trên thế giới Luận văn: Thực trạng bảo vệ cổ đông trong NHTM cổ phần.

2.2.1. Theo pháp luật của Nhật Bản

Theo Luật Công ty của Nhật, trong cơ cấu Công ty cổ phần không cần thiết phải có Hội đồng quản trị, ngoại trừ 3 loại hình Công ty cổ phần phải thiết lập Hội đồng quản trị là Công ty đại chúng, công ty có thiết lập Ban kiểm soát và Công ty có thiết lập các Ủy ban. Hai loại hình công ty đại chúng và công ty có thiết lập Ban kiểm soát thì mô hình tương tự mô hình công ty cổ phần của Việt Nam. Riêng đối với mô hình công ty có thiết lập ủy ban có sự khác biệt so với 2 loại hình nêu trên, mô hình này được du nhập vào Nhật Bản năm 2002 để khắc phục các mô hình truyền thống chưa phát huy được vai trò của Hội đồng quản trị trong việc giám sát phát hiện ra những gian lận tài chính trong quá trình điều hành Công ty cổ phần.

Trong cơ cấu mô hình công ty có thiết lập Ủy ban bao gồm Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, các ủy ban, người điều hành, giám sát viên kế toán. Trong đó, Đại hội đồng cổ đông vẫn là cơ quan quyền lực cao nhất trong công ty, ngoài ra điểm khác biệt trong mô hình công ty có ủy ban còn có thêm chức danh thành viên Hội đồng quản trị bên ngoài với nhiệm vụ đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của công ty được an toàn. Cơ cấu các ủy ban trong công ty bao gồm: Ủy ban bổ nhiệm, Ủy ban quyết định thù lao và Ủy ban giám sát, các ủy ban này đều có chức năng nhiệm vụ khác nhau. Trong đó, Ủy ban giám sát nắm giữ nhiệm vụ rất quan trọng là thực hiện các hoạt động giám sát hoạt động quản lý điều hành của Hội đồng quản trị, người điều hành. Ngoài ra, Ủy ban giám sát có quyền đề xuất bổ nhiệm và bãi nhiệm người quản lý điều hành được thuê, yêu cầu đình chỉ hành vi vi phạm đối với người điều hành và có quyền khởi kiện thành viên Hội đồng quản trị khi vi phạm pháp luật.

Với mô hình hoạt động có thiết lập các Ủy ban thì các cổ đông trong công ty có thể tin tưởng hơn vào sự minh bạch trong điều hành hoạt động của Hội đồng quản trị và người điều hành Công ty cổ phần. Việc giám sát chặt chẽ trong hoạt động điều hành giúp Ủy ban giám sát có thể phát hiện kịp thời các hành vi vi phạm của các thành viên Hội đồng quản trị và người điều hành đã gây thiệt hại cho công ty và cho cổ đông. Đây là một trong những biện pháp nhằm bảo vệ các cổ đông thiểu số trong Công ty cổ phần.

2.2.2. Theo pháp luật của Mỹ Luận văn: Thực trạng bảo vệ cổ đông trong NHTM cổ phần.

Theo pháp luật của Mỹ thì Công ty cổ phần là một pháp nhân được thành lập hoạt động theo pháp luật của bang. Công ty cổ phần có thể có một hoặc nhiều người sở hữu gọi là cổ đông và là thể nhân hoặc pháp nhân hoặc bất kỳ thực thể pháp lý nào. Về giới hạn trách nhiệm, cổ đông không phải chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ của công ty tức là cổ đông được giới hạn trách nhiệm trong phạm vi số tiền họ đầu tư. Vì sao Công ty cổ phần có sức hấp dẫn các nhà đầu tư từ công chúng và họ sẵn sàng bỏ tiền ra để đầu tư vào các hoạt động kinh doanh mạo hiểm bởi vì họ không lo về tính trách nhiệm của cá nhân và quyền lợi của các chủ thể đầu tư phải được pháp luật bảo vệ. Trong thực tiễn cho thấy nhiều người đã lợi dụng vào Công ty cổ phần để thực hiện các mục đích không chính đáng gây thiệt hại cho các chủ thể khác. Chính vì vậy, trong những trường hợp nhất định, Tòa án sẽ bỏ qua tư cách pháp nhân của Công ty cổ phần mà buộc các cổ đông phải chịu trách nhiệm cá nhân cho hành vi đã gây ra khoản nợ hoặc nghĩa vụ của công ty, cơ chế này được gọi là “xuyên thủng màng pháp nhân”. Các trường hợp mà Tòa án có thể áp dụng “xuyên thủng màng pháp nhân”, chi tiết như sau: (i) lẫn lộn giữa tài sản của cổ đông và tài sản riêng của mình tức là cổ đông đã sử dụng tài sản của công ty cho mục đích cá nhân như tài sản riêng của chính mình; (ii) Không tuân thủ các quy định về việc ghi chép sổ sách kế toán, không tiến hành các cuộc họp đúng quy định hoặc không phát hành cổ phần; (iii) công ty bị kiểm soát bởi một cổ đông dẫn đến công ty không có tính độc lập trong việc ra các quyết định, chính sách của Công ty cổ phần hoặc trong quan hệ giữa các pháp nhân có liên quan như công ty mẹ với công ty con, nếu công ty con không được độc lập trong việc ra quyết định bởi sự chi phối của công ty mẹ thì Tòa án có thể cũng sẽ áp dụng học thuyết xuyên thủng màng pháp nhân; (iv) cổ đông hoặc nhóm cổ đông nắm quyền kiểm soát sử dụng Công ty cổ phần như một công cụ nhằm mang lại lợi ích cho mình.

2.2.3. Theo nguyên tắc quản trị công ty của OECD

OECD là Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế, bộ nguyên tắc quản trị công ty của OECD được phê chuẩn lần đầu vào năm 1999 và từ đó trở thành chuẩn mực quốc tế cho các nhà hoạch định chính sách, nhà đầu tư, công ty và các bên có quyền lợi liên quan khác trên toàn thế giới. Bộ nguyên tắc OECD không mang tính bắt buộc, chỉ đóng vai trò để tham khảo và nó được sử dụng hiệu quả nhất cho các nhà hoạch định chính sách khi xem xét và phát triển về khuôn khổ pháp lý. Bộ nguyên tắc này tập trung vào các công ty cổ phần đại chúng trong lĩnh vực tài chính và phi tài chính. Có 6 nguyên tắc được ban hành chủ yếu liên quan đến mối quan hệ giữa cổ đông và ban điều hành công ty như (i) đảm bảo cở sở cho một khuôn khổ Quản trị công ty hiệu quả; (ii) quyền của cổ đông và các chức năng sở hữu chính; (iii) đối xử bình đẳng với cổ đông; (iv) vai trò của các bên có quyền lợi liên quan; (v) công bố thông tin và tính minh bạch; (vi) trách nhiệm của hội đồng quản trị. Bộ nguyên tắc được xây dựng với nhận định chính sách quản trị công ty có vai trò rất quan trọng trong việc tạo niềm tin đối với nhà đầu tư. Quản trị công ty tốt sẽ đảm bảo với cổ đông, các bên có quyền lợi liên quan rằng quyền và lợi ích hợp pháp của họ được bảo vệ, điều này có thể giúp các doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận với nhiều nguồn vốn khác nhau và giảm được chi phí vốn. Bên cạnh đó, bộ nguyên tắc không phải là những quy định pháp luật cụ thể mà nó chỉ nêu lên những mục tiêu và biện pháp để thực hiện mục tiêu đó. Những quy định của bộ nguyên tắc liên quan đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cổ đông bao gồm:

Quyền của cổ đông: Các quyền của cổ đông cơ bản giống Luật doanh nghiệp Việt Nam, tuy nhiên theo Bộ nguyên tắc trong phần quyền của cổ đông có thêm các nguyên tắc (i) cơ cấu vốn và các thỏa ước cho phép một số cổ đông nắm giữ quyền kiểm soát không tương ứng với tỷ lệ cổ phần sở hữu phải được công bố công khai; (ii) thị trường giao dịch thâu tóm công ty phải được phép hoạt động một cách minh bạch, hiệu quả. Quy định và thủ tục đối với việc thâu tóm công ty trong thị trường vốn và các giao dịch bất thường như sáp nhập, mua bán phần lớn tài sản của công ty phải được quy định và công bố rõ ràng để các nhà đầu tư hiểu được quyền và sự trợ giúp đối với mình. Các giao dịch phải diễn ra với mức giá minh bạch, trong điều kiện công bằng bảo vệ quyền lợi của tất cả các cổ đông. Không sử dụng các công cụ chống thâu tóm để bảo vệ Ban giám đốc và Hội đồng quản trị khỏi trách nhiệm. Luận văn: Thực trạng bảo vệ cổ đông trong NHTM cổ phần.

Đối xử bình đẳng với các cổ đông: cần đảm bảo đối xử bình đẳng đối với mọi cổ đông, trong đó có cổ đông thiểu số và cổ đông nước ngoài. Mọi cổ đông phải có cơ hội khiếu nại khi quyền của họ bị vi phạm. Với nguyên tắc này nhằm bảo vệ cổ đông thiểu số tránh khỏi các giao dịch nội gián, giao dịch tư lợi từ các cổ đông nắm quyền kiểm soát bằng công cụ khởi kiện các hành vi này khi xảy ra trong quá trình điều hành kiểm soát công ty của nhóm cổ đông lớn.

Công bố thông tin và tính minh bạch: phải đảm bảo việc công bố thông tin kịp thời và chính xác về mọi vấn đề liên quan đến công ty, bao gồm tình hình tài chính, tình hình hoạt động, sở hữu và quản trị công ty. Nguyên tắc này đề cao việc kiểm toán độc lập bởi tổ chức kiểm toán có uy tín về tình hình tài chính và hoạt động của công ty. Tuy nhiên, để tránh trường hợp tổ chức kiểm toán thiếu trung thực đối với những hành vi gây ra thiệt hại cho công ty và cổ đông thì nguyên tắc này đòi hỏi đơn vị kiểm toán độc lập phải chịu trách nhiệm với cổ đông với những trường hợp sai phạm đối với tình hình tài chính, hoạt động của công ty theo báo cáo hằng năm của kiểm toán. Việc để tổ chức kiểm toán độc lập thực hiện kiểm tra số liệu nhằm tạo thêm sự tin tưởng đối với các nhà đầu tư.

Trách nhiệm của Hội đồng quản trị: đảm bảo định hướng chiến lược của công ty, giám sát có hiệu quả công tác quản lý của Hội đồng quản trị và trách nhiệm của Hội đồng quản trị đối với công ty và cổ đông

2.3. Tình hình thực thi pháp luật về bảo vệ cổ đông trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam Luận văn: Thực trạng bảo vệ cổ đông trong NHTM cổ phần.

2.3.1 Những thành công

Quyền khởi kiện của cổ đông thiểu số: trước đây quyền khởi kiện theo Luật doanh nghiệp 2005 cũng trao cho cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu tối thiểu 1% trong thời gian liên tục 6 tháng khởi kiện Hội đồng quản trị và người điều hành công ty cổ phần. Tuy nhiên, điều kiện tiên quyết trước khi khởi kiện phải được Ban kiểm soát thông qua và Ban kiểm soát trực tiếp thực hiện khởi kiện theo yêu cầu của cổ đông, nhóm cổ đông này trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu khởi kiện mà ban kiểm soát không thực hiện thì cổ đông có quyền trực tiếp khởi kiện. Chi phí khởi kiện sẽ do cổ đông, nhóm cổ đông tự chịu trong trường hợp khởi kiện nhân danh công ty. Trên thực tế các vụ cổ đông kiện Hội đồng quản trị, người điều hành doanh nghiệp chưa nhiều có thể do nguyên nhân phải thông qua Ban kiểm soát thì cổ đông mới thực thi được quyền của mình. Mặt khác, Ban kiểm soát lại do Hội đồng quản trị bầu ra do đó ban kiểm soát sẽ không thể trực tiếp thực hiện việc khởi kiện Hội đồng quản trị, người điều hành. Để khắc phục tình trạng này, Luật doanh nghiệp 2014 đã trao quyền khởi kiện trực tiếp cho cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu tối thiểu 1% trong thời gian liên tục 6 tháng mà không phải thông qua ban kiểm soát và chi phí khởi kiện sẽ được tính vào chi phí công ty. Đây là một trong những quyền quan trọng trong việc bảo vệ cổ đông thiểu số so với Luật doanh nghiệp 2005. Mặc dù trong hiện nay trong thực tiễn chưa có hướng dẫn rõ ràng cụ thể để các cổ đông, nhóm cổ đông thực thi quyền này của mình, tuy nhiên kể từ khi Luật doanh nghiệp 2015 có hiệu lực thì việc các thành viên Hội đồng quản trị hoặc người quản lý điều hành ngân hàng muốn thực hiện bất kỳ hành vi nào gây thiệt hại cho ngân hàng cũng phải đối diện với việc có thể bị khởi kiện bởi cổ đông hoặc nhóm cổ đông đủ điều kiện khởi kiện.

Giảm sở hữu chéo: bản chất sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng không phải là xấu, bởi nó đã tồn tại khá lâu và ở nhiều nước trên thế giới việc sở hữu chéo cũng khá phổ biến. Ở Việt Nam, sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng xuất phát từ khi hệ thống ngân hàng cổ phần được thành lập và mở rộng, Chính phủ có chủ trương lựa chọn các ngân hàng quốc doanh lớn thực hiện việc góp vốn với tư cách là cổ đông nhà nước. Với mục đích nhằm hạn chế những hoạt động không thể kiểm soát được và chia sẻ những kinh nghiệm quản trị ngân hàng, đây là việc sở hữu chéo cần thiết trong giai đoạn đầu mở cửa của hệ thống ngân hàng. Tuy nhiên, từ việc sở hữu chéo này đã làm cho các ngân hàng với quy mô nhỏ đã lách luật để tăng nguồn vốn điều lệ theo quy định của Nghị định 141/2006/NĐ-CP vì vậy đã làm gia tăng việc cho vay thiếu kiểm soát đối với các cổ đông lớn gây áp lực cho Ngân hàng thương mại cấp vốn vay cho những dự án nhiều rủi ro có khả năng mất vốn lớn, điều này đã gây thiệt hại cho cổ đông, nhóm cổ đông nhỏ do nó dễ dẫn đến nguy cơ bị phá sản hoặc sáp nhập Ngân hàng thương mại khác. Nhiệm vụ tái cơ cấu hệ thống các Tổ chức tín dụng đã xây dựng khung pháp lý hạn chế việc sở hữu chéo, thông tư 36/2014/TT-NHNN ngày 20/11/2014 (Thông tư 36) quy định về giới hạn sở hữu cổ phần lẫn nhau và cho vay đối với các đối tượng có liên quan với thành viên góp vốn, Hội đồng quản trị, người điều hành, ban kiểm soát của Ngân hàng thương mại. Cụ thể, theo khoản 3 điều 20 Thông tư 36 quy định Ngân hàng thương mại chỉ được nắm giữ cổ phiếu của tối đa không quá hai Tổ chức tín dụng khác, với tỷ lệ dưới 5% vốn cổ phần có quyền biểu quyết và không được cử người tham gia hội đồng quản trị Tổ chức tín dụng mà ngân hàng mua cổ phần, trừ trường hợp Tổ chức tín dụng đó là công ty con của ngân hàng hoặc Ngân hàng thương mại tham gia tái cơ cấu, xử lý Tổ chức tín dụng yếu kém theo chỉ định của Ngân hàng nhà nước. Ngoài ra, Luật các Tổ chức tín dụng 2010 bổ sung quy định về quyền và trách nhiệm của công ty kiểm soát nhằm hạn chế các quan hệ tín dụng, hùn vốn, góp vốn chéo (sở hữu chéo) giữa Tổ chức tín dụng với các công ty góp vốn, tránh rủi ro cho các Ngân hàng thương mại do sự can thiệp quá mức của các công ty kiểm soát. Để đạt được mục đích này, Luật đưa ra các quy định buộc phải minh bạch hoá các quan hệ giữa công ty kiểm soát với các Ngân hàng thương mại, giữa Ngân hàng thương mại với các công ty con của mình; quy định không cho phép Ngân hàng thương mại và các công ty con, liên kết của cùng một công ty kiểm soát được sở hữu chéo cổ phần; công ty con, công ty liên kết của cùng một Tổ chức tín dụng không được góp vốn, mua cổ phần của Tổ chức tín dụng; Tổ chức tín dụng là công ty con, công ty liên kết của công ty kiểm soát không được góp vốn, mua cổ phần của công ty kiểm soát. Ngoài ra, các công ty con, công ty liên kết của Tổ chức tín dụng phải gửi báo cáo tài chính, báo cáo hoạt động của mình cho Ngân hàng nhà nước khi được yêu cầu. Hơn nữa, Ngân hàng nhà nước cũng kiên quyết xử lý mạnh đối với những sai phạm trong việc cho vay cầm cố cổ phiếu qua lại giữa các ngân hàng và các ông chủ ngân hàng, vì vậy việc sở hữu chéo sau thời gian tái cơ cấu đã sụt giảm. Theo báo cáo tổng kết thi hành Luật các Tổ chức tín dụng 2010, Ngân hàng nhà nước cho biết sau 3 năm thực hiện tái cơ cấu ngân hàng tình trạng sở hữu chéo đã giảm mạnh, số cặp sở hữu chéo đã giảm từ 7 cặp còn 3 cặp. Việc Ngân hàng nhà nước đưa ra khung pháp lý nhằm hạn chế và ngăn chặn việc sở hữu chéo trong lĩnh vực ngân hàng cũng là một trong những phương án bảo vệ cổ đông tránh khỏi việc bị cổ đông lớn chèn ép để đầu tư tràn lan gây thua lỗ và mất vốn của Ngân hàng thương mại. Luận văn: Thực trạng bảo vệ cổ đông trong NHTM cổ phần.

Đại chúng hóa các Ngân hàng thương mại cổ phần: Luật các Tổ chức tín dụng 2010 thay đổi mức giới hạn sở hữu cổ phần đối với cổ đông là cá nhân từ 10% xuống 5%; cổ đông là pháp nhân từ 20% xuống 15% (trừ trường hợp sở hữu cổ phần theo quyết định của Ngân hàng Nhà nước để xử lý tổ chức tín dụng gặp khó khăn, bảo đảm an toàn hệ thống tổ chức tín dụng; sở hữu cổ phần nhà nước tại các tổ chức tín dụng cổ phần hóa; sở hữu cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài). Cổ đông và những người có liên quan của cổ đông đó không được sở hữu vượt quá 20% vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng. Các tỷ lệ sở hữu nêu trên bao gồm cả phần vốn uỷ thác cho các tổ chức, cá nhân khác mua cổ phần. Việc giảm tỷ lệ sở hữu tối đa của từng cổ đông trong Ngân hàng thương mại nhằm mục đích để quyền lực trong ngân hàng được dàn trải ra, thật ra trong hoạt động ngân hàng vốn nhiều vì vậy một cổ đông sở hữu lượng cổ phiếu 5% cũng là rất lớn, với tỷ lệ của từng cổ đông sở hữu tối đa theo quy định của luật các Tổ chức tín dụng thì muốn khống chế hoạt động của Tổ chức tín dụng thì cần phải có từ 10 cổ đông hợp tác với nhau mới đủ quyền lực để thực hiện việc này. Bên cạnh đó, việc đại chúng hóa các Ngân hàng thương mại cũng giúp thông tin được minh bạch hơn vì phải công bố thông tin khi cổ phiếu được niêm yết. Như vậy, đây là một trong những thành tựu của Luật các TCTD nhằm giảm sự ảnh hưởng của cổ đông hoặc nhóm cổ đông lớn đối với hoạt động ngân hàng và cũng góp phần bảo vệ cổ đông nhỏ.

2.3.2 Những vướng mắc, bất cập Luận văn: Thực trạng bảo vệ cổ đông trong NHTM cổ phần.

Ban kiểm soát không thể kiểm soát được: trong thời gian qua hàng loạt các sai phạm của Hội đồng quản trị và Ban giám đốc tại các Tổ chức tín dụng làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích cổ đông nhưng chưa có bất kỳ sự cảnh báo nào từ BKS cho đến khi sự việc được phát hiện ra hay cơ quan điều tra vào cuộc xử lý thì hàng loạt các sai phạm mới được đưa ra. Theo quy định tại Luật doanh nghiệp 2014 và Luật các Tổ chức tín dụng 2010, vai trò BKS trong doanh nghiệp là rất lớn và quyền hạn được Đại hội đồng cổ đông trao cho rất nhiều. Theo cơ cấu tổ chức của Ngân hàng thương mại cổ phần hoặc Công ty cổ phần thì BKS do Đại hội đồng cổ đông bầu ra để thay mặt cổ đông giám sát hoạt động của Hội đồng quản trị và ban giám đốc vì vậy BKS cần phải hoạt động độc lập. Với mục tiêu của các nhà làm luật là thông qua việc thực hiện chức năng của mình, BKS sẽ đảm bảo rằng các quyết định của Hội đồng quản trị và BGĐ là phù hợp với pháp luật, với các nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông và bảo vệ lợi ích của các cổ đông. Chính vai trò bảo vệ cổ đông, bảo vệ nhà đầu tư là lý do cho sự ra đời, tồn tại và hoạt động của BKS. Tuy nhiên, trên thực tế sự tồn tại của BKS gần như chỉ cho đủ cơ cấu theo quy định của Luật mà chưa thấy phát huy vai trò bảo vệ cổ đông nên rủi ro mà cổ đông phải gánh chịu từ việc giao trách nhiệm cho BKS là rất lớn. BKS không thể thực hiện việc kiểm soát rủi ro nguyên nhân do các cổ đông lớn thường nắm quyền chi phối tại Đại hội đồng cổ đông cử người nắm giữ chức vụ cao và chiếm số lượng thành viên nhiều nhất trong Hội đồng quản trị, như vậy cả BKS và Hội đồng quản trị không thể độc lập với nhau vì đều do cùng các cổ đông lớn có quyền chi phối để bầu chọn ra, do đó các cổ đông lớn sẽ giữ vai trò quyết định trong việc bổ nhiệm thành viên BKS. Vì vậy, tính độc lập của BKS trong mô hình Công ty cổ phần hầu như không được đề cao và chưa phát huy được vai trò bảo vệ cho cổ đông nhất là cổ đông nhỏ. Hơn nữa, trong mô hình của Ngân hàng thương mại cổ phần thì vai trò BKS được đề cao nhiều hơn so với mô hình Công ty cổ phần, trong cơ cấu BKS của Ngân hàng thương mại cổ phần phải có Kiểm toán nội bộ (KTNB) thực hiện việc kiểm soát hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại cổ phần để đảm bảo Ngân hàng thương mại cổ phần hoạt động an toàn, hiệu quả và đúng pháp luật. Do lĩnh vực ngân hàng là một trong những ngành nghề cần phải được giám sát chặt chẽ nên vai trò của BKS trong các Ngân hàng thương mại cổ phần là rất quan trọng vì nó có thể giúp ngăn chặn được hành vi tiêu cực của Hội đồng quản trị và Ban giám đốc đối với các quyết định nhằm gây thiệt hại cho các cổ đông và nền kinh tế. Tuy nhiên, trên thực tế qua các mùa Đại hội đồng cổ đông thường niên của các Ngân hàng thương mại cổ phần thì báo cáo của BKS thường gần giống như báo cáo của Hội đồng quản trị và Ban giám đốc rất ít thông tin để cổ đông nắm được những sự việc phát sinh trong hoạt động của NH trong suốt năm qua. Đối với một số Ngân hàng thương mại cổ phần thường trước khi đại hội cổ đông chính thức thì Hội đồng quản trị, Ban giám đốc và BKS sẽ thống nhất với nhau các nội dung để đưa vào báo cáo của BKS tại đại hội. Theo dõi diễn biến của ngành ngân hàng trong thời gian qua toàn bộ các sai trái của Hội đồng quản trị và ban giám đốc ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của cổ đông nhưng chưa từng có sự cảnh bảo nào từ phía BKS trong các kỳ đại hội cổ đông mà cho đến khi sự việc xảy ra thì các cổ đông mới biết được sự thật. Cụ thể như các ngân hàng được mua lại với giá 0 đồng như Ngân hàng thương mại cổ phần Đại Dương, Ngân hàng thương mại cổ phần Xây Dựng, Ngân hàng thương mại cổ phần Dầu Khí do tình hình hoạt động kinh doanh yếu kém, Hội đồng quản trị và Ban giám đốc đã trục lợi trên hoạt động của các Ngân hàng thương mại cổ phần này để nhằm mục đích phục vụ cho các công ty sân sau của mình hoặc thực hiện các hành vi sai phạm dẫn đến thua lỗ và mất khả năng thanh toán. Tuy nhiên, trong suốt thời gian dài những hành vi sai phạm này diễn ra trong các Ngân hàng thương mại cổ phần thì không có bất kỳ sự cảnh báo hoặc báo cáo nào của BKS về các vấn đề xảy ra cho đến khi Ngân hàng nhà nước công bố việc mua lại cổ phần với giá 0 đồng thì các cổ đông nhỏ, nhà đầu tư mới biết được những sai phạm này. Như vậy, vai trò của BKS trong Ngân hàng thương mại cổ phần cũng chưa thể hiện đúng nhiệm vụ chức năng của mình nên thiệt hại vẫn thuộc các cổ đông nhỏ.

Hệ quả từ các quyết định điều chỉnh chính sách của nhà nước: trong giai đoạn mở cửa ngành ngân hàng có 2 quyết định được ban hành nhằm điều chỉnh chính sách tuy nhiên hệ lụy của nó đã để lại rất lớn cho hệ thống ngân hàng từ việc sở hữu chéo phức tạp cho đến việc Ngân hàng thương mại cổ phần bị mua lại với giá 0 đồng và hàng loạt các Ngân hàng thương mại cổ phần yếu kém buộc phải sáp nhập, hợp nhất với nhau. Hai quyết định đó bao gồm:

Quyết định 1577/QĐ-NHNN ngày 09/08/2006 của Ngân hàng nhà nước về việc cơ cấu lại Ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn quyết định này đã làm mất đi hệ thống ngân hàng nông thôn, và đã vượt quá khả năng đối với các ngân hàng mới chuyển đổi này. Hơn nữa, khi bộ máy điều hành quản lý của các ngân hàng này chưa hoàn thiện và việc xuất hiện quá nhiều Ngân hàng thương mại cổ phần đã dẫn đến việc quản lý lỏng lẽo của Ngân hàng nhà nước. Luận văn: Thực trạng bảo vệ cổ đông trong NHTM cổ phần.

Nghị định 141/2006/NĐ-CP ngày 22/11/2006 (Nghị định 141) yêu cầu tăng vốn pháp định của các Ngân hàng thương mại đô thị lên 1.000 tỷ đồng vào cuối năm 2008 và 3.000 tỷ đồng vào cuối năm 2010. Tuy nhiên, sau 4 năm kể từ ngày Nghị định 141 có hiệu lực thì chỉ có 17 ngân hàng đáp ứng mức yêu cầu về vốn pháp định, còn tới 23 Ngân hàng thương mại chưa đáp ứng yêu cầu. Việc cơ quan quản lý nhà nước đưa ra lộ trình tăng vốn trong thời gian quá ngắn và chưa đánh giá được tình hình kinh tế trong nước có đủ đáp ứng việc gia tăng quá nhiều vốn vào lĩnh vực này đã để lại hậu quả rất lớn cho ngành ngân hàng cho đến hiện nay. Các mệnh lệnh hành chính thiếu tính thực tế đó đã khiến các ngân hàng phải dùng các biện pháp để lách luật từ các khoản đầu tư chéo giữa các ngân hàng với nhau qua đó góp phần làm phức tạp quá trình sở hữu chéo tại các ngân hàng hiện nay. Trước áp lực tăng vốn điều lệ trong năm 2010 cũng làm cho vấn đề sở hữu chéo của các ngân hàng trở nên phức tạp hơn từ năm 2011 đến nay và việc gia tăng vốn điều lệ theo đúng yêu cầu của Nghị định 141 thực chất chỉ mang hình thức mà không đánh giá đúng thực lực của các Ngân hàng thương mại cổ phần. Do đó, việc sở hữu chéo đã đặt các ngân hàng đứng trước nguy cơ đổ vỡ hoặc bị thâu tóm.

Lợi dụng ngân hàng để phục vụ cho hoạt động kinh doanh khác của cổ đông lớn: Trong hệ thống Ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam thì đa số thành phần cổ đông của các ngân hàng là các doanh nghiệp. Vì vậy, việc sở hữu này đã gây ra hệ lụy là các cổ đông lớn đã sử dụng quyền của mình để chi phối hàng loạt các hoạt động cho vay không có đảm bảo hoặc rút ruột ngân hàng nhằm phục vụ cho các doanh nghiệp sân sau của các cổ đông. Điều 126, 127 Luật các Tổ chức tín dụng 2010, quy định cụ thể các đối tượng cấm cho vay và hạn chế cho vay đối với Hội đồng quản trị, ban giám đốc, cổ đông…tuy nhiên trên thực tế hàng loạt các vụ án trong lĩnh vực ngân hàng xảy ra thì các hoạt động cho vay không đúng quy định đều thuộc các công ty sân sau của các cổ đông dẫn đến việc khó có khả năng thu hồi nợ vay và nguy cơ bị thiệt hại là rất lớn.

Nguy cơ bị rút ruột trong thời gian chờ tiếp quản: Các cổ đông sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên liên tục trong thời gian 6 tháng thì được đề cử người vào Hội đồng quản trị và BKS quy định tại Luật Doanh nghiệp và được triệu tập Đại hội đồng cổ đông bất thường quy định tại Luật các Tổ chức tín dụng. Như vậy, khi cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu phần vốn góp lên đến 51% nếu thời gian sở hữu liên tục chưa đến 6 tháng thì vẫn chưa có quyền tham gia vào Hội đồng quản trị hoặc triệu tập Đại hội đồng cổ đông bất thường. Vì vậy, trong các vụ thâu tóm thì các cổ đông mới có thể phải gánh chịu những thiệt hại liên quan đến việc rút ruột Ngân hàng thương mại cổ phần thông qua các quyết định bán tài sản, các giao dịch có giá trị lớn khi chủ sở hữu có nguy cơ bị thay thế trong thời gian sắp đến. Trong khi các cổ đông, nhà đầu tư mới lại không có quyền đề nghị Hội đồng quản trị, Ban giám đốc tạm ngưng mọi giao dịch có nguy cơ gây ra thiệt hại cho đến khi ban điều hành mới tiếp quản.

2.3.3 Nguyên nhân của những vướng mắc, bất cập Luận văn: Thực trạng bảo vệ cổ đông trong NHTM cổ phần.

Để lý giải cho nguyên nhân của những vướng mắc, bất cập, Tác giả sử dụng một số trường hợp đã xảy ra trong thực tiễn để phân tích những nguyên nhân này:

Ban kiểm soát không thể kiểm soát được: BKS đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động quản trị ngân hàng, trên thực tế việc bầu chọn BKS do Đại hội đồng cổ đông nhưng bản chất Đại hội đồng cổ đông cũng do một số cổ đông lớn chi phối. Vì vậy, thành viên BKS rất khó thực hiện đúng vai trò của mình trong việc giám sát Hội đồng quản trị vì Hội đồng quản trị có tác động rất lớn đối với việc bổ nhiệm họ. Mặc dù, hằng năm thù lao của BKS đều được công bố tuy nhiên mỗi thành viên của BKS lại phải tuân thủ quy trình tuyển dụng và cũng là người lao động vẫn hưởng lương thưởng, phúc lợi từ hoạt động kinh doanh của ngân hàng mang lại nên sẽ khó tránh khỏi báo cáo của BKS không bị tác động bởi Hội đồng quản trị, Ban giám đốc và việc thành lập BKS để cho đủ cơ cấu tổ chức theo luật định mà chưa thể hiện rõ chức năng của mình. Điển hình cho nguyên nhân này tác giả xin dùng tình huống xảy ra trong thực tiễn của cuộc chuyển đổi từ NHMTCP Đại Tín (Trustbank) sang Ngân hàng thương mại cổ phần Xây Dựng (VNBC) và hiện tại là Ngân hàng thương mại Trách nhiệm hữu hạn MTV Xây dựng Việt Nam (CB Bank). Trong cơ cấu vốn của Trustbank năm 2011 cổ đông lớn nhất nắm quyền chi phối toàn bộ NH này là bà Hứa Thị Phấn, chiếm 84,92% cổ phần dưới danh nghĩa nhiều cá nhân và tổ chức góp vốn vào Trustbank khi thực hiện tăng vốn điều lệ. Bà Phấn không là thành viên Hội đồng quản trị nhưng bà lại giữ chức cố vấn cao cấp của Trustbank và sau khi NH này được đưa vào diện kiểm soát thì Thanh tra giám sát của Ngân hàng nhà nước đã xác định các cá nhân đứng tên thay cho Bà Phấn để vay hộ tại Trustbank trong thời gian 2009 –2012 với số tiền lớn hơn vốn điều lệ tại thời điểm đó. Điều này cho thấy các cá nhân và tổ chức thực hiện góp vốn vào Trustbank để tăng vốn điều lệ theo quy định của Ngân hàng nhà nước bằng chính từ tiền vay của ngân hàng này. Hơn nữa sau khi đầu tư vào Trustbank bà Phấn đã dùng tiền từ ngân hàng này đầu tư lại vốn vào các công ty con do Bà thành lập. Như vậy, chưa kể đến những việc khác xảy ra thì năm 2011 hoạt động của Trustbank đã có những sai phạm: (i) tỷ lệ nắm giữ cổ phần tại Ngân hàng thương mại cổ phần đã vượt tỷ lệ quy định; (ii) vượt giới hạn cho vay đối với nhóm khách hàng có liên quan; (iii) dùng chính từ tiền vay tại Trustbank để tăng vốn điều lệ của Trustbank. Tuy nhiên, với nhiều sai phạm cơ bản như vậy nhưng trong báo cáo tài chính được kiểm toán năm 2011 thì Trustbank vẫn tuyên bố tình hình tài chính bình thường cho đến khi thanh khoản của NH này có vấn đề thì cơ quan thanh tra của Ngân hàng nhà nước vào kiểm tra giám sát thì đến tháng 2/2012 thì Ngân hàng nhà nước chính thức công bố Trustbank là 1 trong 9 ngân hàng yếu kém phải thực hiện tái cơ cấu và thuộc diện kiểm soát đặc biệt. Tháng 10/2012 bà Phấn đã buộc phải chuyển nhượng toàn bộ số cổ phần đang nắm giữ cho nhóm cổ đông mới đại diện là ông Phạm Công Danh, việc chuyển nhượng này chủ yếu để thực hiện cấn trừ nợ của nhóm cổ đông Hứa Thị Phấn đang vay Trustbank. Luận văn: Thực trạng bảo vệ cổ đông trong NHTM cổ phần.

Hệ quả từ các quyết định điều chỉnh chính sách của nhà nước: hình thức sở hữu chồng chéo lên nhau giữa các ngân hàng đã làm cho hệ thống ngân hàng càng thêm phức tạp. Xem qua cơ cấu của các Ngân hàng thương mại cổ phần khối ngoài quốc doanh thì hầu như ngân hàng nào cũng xảy ra cơ cấu sở hữu chéo. Từ nghị định 141 bắt buộc các ngân hàng phải tăng vốn pháp định lên 3.000 tỷ đồng trong năm 2010 việc bắt buộc tăng vốn quá nhanh này là trở ngại lớn đối với nhóm các ngân hàng nông thôn vừa được chuyển đổi lên ngân hàng đô thị và có khả năng không đáp ứng được yêu cầu đặt ra của Ngân hàng nhà nước. Trước tình thế này, cách duy nhất để tăng vốn đủ theo yêu cầu thì các ngân hàng cho vay đối với các công ty liên kết để góp vốn vào ngân hàng có cùng chủ sở hữu, chính điều này đã làm thay đổi vị trí từ vai trò con nợ của ngân hàng nay đã trở thành chủ sở hữu. Tiêu biểu cho tình trạng sở hữu chéo đã làm vô hiệu hóa chính các quyết định của nhà nước là nhóm 3 ngân hàng sáp nhập: Ngân hàng thương mại cổ phần Đệ Nhất (FCB) – Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn (SCB) – Ngân hàng thương mại cổ phần Tín Nghĩa (TNB) đã sáp nhập và lấy tên là Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn. Cụ thể, SCB cho các công ty con thuộc sở hữu của bà Trương Mỹ Lan vay, sau đó các công ty này dùng chính tiền vay để góp vốn vào FCB và TNB. Nếu xét về mặt sở hữu thì cả 3 ngân hàng SCB, FCB, TNB và các công ty vay vốn đều có cùng chủ sở hữu là bà Trương Mỹ Lan vì vậy việc giám sát hoặc sử dụng vốn của các công ty này sẽ không được tuân thủ. Năm 2006, công ty Trách nhiệm hữu hạn Đầu tư Tài chính Việt Vĩnh Phú do bà Trương Mỹ Lan sở hữu và nắm quyền kiểm soát, công ty này bắt đầu tham gia vốn vào SCB, đến cuối năm 2007 đã nâng tỷ lệ sở hữu lên 28,5% vốn của SCB và cổ đông lớn này đã đưa người của mình vào Hội đồng quản trị. Năm 2009 nhóm cổ đông Trương Mỹ Lan và các công ty của bà Lan bắt đầu mua lại TNB và cũng nhóm nhà đầu tư này bắt đầu mua và nắm quyền kiểm soát FCB từ đầu năm 2010 đến giữa năm 2011 từ ông Trầm Bê. Việc các ngân hàng và doanh nghiệp có cùng chủ sở hữu thì ngân hàng chính là công cụ huy động dễ dàng để phục vụ cho hoạt động kinh doanh của chính chủ sở hữu này, bao gồm (i) Ngân hàng tài trợ cho hoạt động sân sau của chủ doanh nghiệp như SCB đã tài trợ chính cho 2 dự án bất động sản của thuộc loại bậc nhất ở TPHCM là dự án Times Square với tổng vốn đầu tư là 125 triệu USD và Saigon Peninsula với tổng vốn đầu tư là 6 tỷ USD; (ii) dùng nguồn vốn của ngân hàng mua trái phiếu doanh nghiệp cùng chủ sở hữu phát hành, trị giá trái phiếu doanh nghiệp lớn hơn mức vốn chủ sở hữu của ngân hàng. Tháng 9/2010 Công ty cổ phần Đầu tư Vạn Thịnh Phát phát hành trái phiếu doanh nghiệp với tổng giá trị là 6.000 tỷ đồng và TNB đã nắm giữ toàn bộ trái phiếu doanh nghiệp trị giá 6.000 tỷ đồng, trong khi vốn chủ sở hữu của TNB thời điểm này chỉ là 3.902 tỷ đồng; (iii) Thực hiện hoạt động ủy thác đầu tư thông qua công ty chứng khoán để đầu tư và góp vốn vào các cổ đông của chính ngân hàng. Trong năm 2011, TNB đã ủy thác cho Công ty cổ phần Quản lý quỹ đầu tư Chứng khoán Thái dương 8.000 tỷ đồng để đầu tư vào các công ty Công ty cổ phần Đầu tư Vạn Thịnh Phát 1.518 tỷ đồng, Công ty cổ phần Đầu tư An Đông 2.730 tỷ đồng, Công ty cổ phần Đầu tư Đại Trường Sơn 3.752 tỷ đồng tuy nhiên cả 3 công ty này đều do cổ đông chi phối là công ty Trách nhiệm hữu hạn Vạn Thịnh Phát do bà Trương Mỹ Lan sáng lập. Như vậy, thông qua việc đầu tư vào SCB nắm quyền chi phối để thực hiện việc cho vay các công ty con thuộc sở hữu của bà Lan và sử dụng vốn này góp vào TNB, FCB để tăng vốn theo thông tư 141 và dùng chính các ngân hàng này để làm công cụ phục vụ cho hoạt động sân sau của các doanh nghiệp của bà Trương Mỹ Lan. Do việc đầu tư tràn lan và sở hữu chéo lẫn nhau nên 3 ngân hàng này đã bị sáp nhập vào nhau để giải quyết thanh khoản và tránh bị phá sản. Luận văn: Thực trạng bảo vệ cổ đông trong NHTM cổ phần.

Nguy cơ bị rút ruột trong thời gian chờ tiếp quản: Theo Luật các Tổ chức tín dụng 2010 quy định nhiệm kỳ của Hội đồng quản trị ngân hàng là 5 năm và ngoài tiêu chuẩn về năng lực cá nhân của từng thành viên Hội đồng quản trị thì để chính thức được công nhận là thành viên Hội đồng quản trị phải được sự chấp thuận của Ngân hàng nhà nước. Đây là điểm khác biệt giữa Hội đồng quản trị của Công ty cổ phần so với Ngân hàng thương mại cổ phần và chính điểm khác biệt này có thể giúp cho việc tiếp quản ngân hàng của nhóm cổ đông lớn có thể xảy ra xung đột. Điển hình cho trường hợp này là vụ “Thâu tóm Sacombank”, hoạt động thoái vốn của các cổ đông lớn tại Sacombank diễn ra từ quý 3 năm 2011 và kết thúc vào đầu năm 2012 khi các cổ đông nước ngoài lần lượt thoái vốn. Tháng 7 năm 2011 khi giá cổ phiếu Sacombank giảm gần 50% thì tại thời điểm này hơn 26 triệu cổ phiếu sacombank được giao dịch tương đương với 2,83% vốn điều lệ và các giao dịch thỏa thuận cũng diễn ra như Eximbank mua lại toàn bộ số cổ phiếu của ANZ nắm giữ tương đương 9,6% vốn điều lệ hay 10,6% cổ phần đang lưu hành và Công ty cổ phần Sài Gòn – Exim công bố đã mua và sở hữu 5,17% vốn cổ phần của Sacombank. Thời điểm này Eximbank và công ty có liên quan là cổ đông lớn của Sacombank, phải thực hiện việc công bố thông tin. Tiếp theo đó là việc thoái vốn của các cổ đông như: REE sở hữu 3,9% vốn điều lệ hay 4,3% cổ phần, Tập đoàn Temasek của Singapore sở hữu 2,04% vốn điều lệ và đến cuối năm 2012 tổng số cổ phần của nhóm cổ đông lớn đang thâu tóm Sacombank là 37,7% vốn điều lệ. Đại diện phía cổ đông lớn được ủy quyền trên 51% tổng số cổ phần biểu quyết, Hội đồng quản trị của Eximbank đã gửi văn bản đề nghị bầu lại toàn bộ Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát của Sacombank. Tại thời điểm này đã xảy ra mâu thuẫn giữa 2 nhóm cổ đông của Sacombank, đại diện nhóm cổ đông mới cho rằng trong tổng số 51% cổ phần biểu quyết đang nắm giữ có 17% số cổ phần biểu quyết sở hữu trên 6 tháng vì vậy theo Luật doanh nghiệp và điều lệ của Sacombank thì nhóm cổ đông này hoàn toàn có quyền yêu cầu họp Đại hội đồng cổ đông bất thường và đề cử người làm thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát. Tuy nhiên, đại diện Hội đồng quản trị của Sacombank và cổ đông cũ cho rằng đề nghị của nhóm cổ đông mới chưa phù hợp vì (i) Sacombank là ngân hàng niêm yết toàn bộ chứng khoán lưu ký đều được chuyển cho Trung tâm chứng khoán lưu ký vì vậy khi có xác nhận danh sách cổ đông từ trung tâm mới đủ căn cứ; (ii) Hội đồng quản trị của Sacombank được bầu chọn cho nhiệm kỳ 2011 – 2015 và đã được Ngân hàng nhà nước thông qua nên việc bầu lại Hội đồng quản trị là chưa có cơ sở. Chính vì quy định của Luật các Tổ chức tín dụng 2010 đối với việc các thành viên Hội đồng quản trị của Ngân hàng thương mại cổ phần phải được sự chấp thuận của Ngân hàng nhà nước mới đủ điều kiện tham gia vào Hội đồng quản trị nên dẫn đến việc chậm trễ khi nhóm cổ đông mới thực hiện các quyền liên quan trong việc tham gia điều hành Ngân hàng thương mại cổ phần. Trong thời gian chờ bầu chọn lại Hội đồng quản trị mới có thể nhóm cổ đông hiện hữu thông qua Hội đồng quản trị cũ thực hiện các việc liên quan đến tẩu tán tài sản hiện có của Ngân hàng thương mại cổ phần trong thẩm quyền của Hội đồng quản trị cũ theo điều lệ dẫn đến việc gây thiệt hại cho nhóm cổ đông mới sau khi tiếp quản ngân hàng. Cụ thể, trong thương vụ “Thâu tóm Sacombank” khi hàng loạt các cổ đông thoái vốn thì nhóm cổ đông hiện hữu đã sử dụng biện pháp phòng thủ trước nguy cơ bị thâu tóm là thực hiện mua lại 100 triệu cổ phần là cổ phiếu quỹ để giảm số cổ phần đang lưu hành và nâng tỷ lệ sở hữu của các cổ đông hiện hữu, đồng thời thực hiện thoái vốn hoặc cho vay các công ty thuộc sở hữu của cổ đông cũ để mua lại cổ phần tăng tỷ lệ sở hữu. Luận văn: Thực trạng bảo vệ cổ đông trong NHTM cổ phần.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Giải pháp PL về bảo vệ cổ đông trong lĩnh vực NHTM

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464