Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng bảo vệ và phát triển rừng theo pháp luật hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng công tác bảo vệ và phát triển rừng theo pháp luật Việt Nam trên địa bàn tỉnh Quảng Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của tỉnh Quảng Nam
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý
Quảng Nam là một tỉnh ven biển thuộc vùng phát triển kinh tế trọng điểm của miền Trung, phía Bắc giáp thành phố Đà Nẵng, phía Đông giáp biển Đông với trên 125 km bờ biển, phía Tây giáp tỉnh Kon Tum và nước cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào, phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi. Quảng Nam có 16 huyện và 2 thành phố, trong đó có 9 huyện miền núi là Tây Giang, Đông Giang, Nam Giang, Phước Sơn, Bắc Trà My, Nam Trà My, Hiệp Đức, Tiên Phước và Nông Sơn; 9 huyện, thành đồng bằng: thành phố Tam Kỳ, thành phố Hội An, huyện Điện Bàn, Duy Xuyên, Đại Lộc, Thăng Bình, Quế Sơn, Núi Thành và Phú Ninh. Diện tích tự nhiên của tỉnh là 10.438,4 km2 (theo số liệu thống kê năm 2014).
- Địa hình
Địa hình tỉnh Quảng Nam tương đối phức tạp, thấp dần từ Tây sang Đông, hình thành ba vùng sinh thái: vùng núi cao, vùng trung du, vùng đồng bằng và ven biển; bị chia cắt theo các lưu vực sông Vu Gia, Thu Bồn, Tam Kỳ có mối quan hệ bền chặt về kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái đa dạng với các hệ sinh thái đồi núi, đồng bằng, ven biển.
- Khí hậu
Quảng Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới điển hình, chỉ có 2 mùa là mùa khô và mùa mưa, ít chịu ảnh hưởng của mùa đông lạnh miền Bắc. Nhiệt độ trung bình năm 20-210C, không có sự cách biệt lớn giữa các tháng trong năm. Lượng mưa trung bình 2.000-2.500 mm nhưng phân bố không đều theo thời gian và không gian, mưa ở miền núi nhiều hơn đồng bằng, mưa tập trung vào các tháng 9-12, chiếm 80% lượng mưa cả năm; mùa mưa trùng với mùa bão, nên các cơn bão nên các cơn bão đổ vào miền Trung thường gây ra lở đất, lũ quét ở các huyện Nam Trà My, Bắc Trà My, Tây Giang, Đông Giang, Nam Giang và ngập lụt ở các huyện đồng bằng. Luận văn: Thực trạng bảo vệ và phát triển rừng theo pháp luật.
- Sông ngòi và chế độ thuỷ văn
Quảng Nam có trên 125 km bờ biển thuộc các huyện: Điện Bàn, Hội An, Duy Xuyên, Thăng Bình, Tam Kỳ, Núi Thành. Ngoài ra còn có 15 hòn đảo lớn nhỏ ngoài khơi, 10 hồ nước. Có 941 km sông ngòi tự nhiên, đang quản lý và khai thác 307 km sông (chiếm 32,62%), gồm 11 sông chính. Hệ thống sông hoạt động chính gồm 2 hệ thống: sông Thu Bồn và sông Trường Giang, hai hệ thống sông này đều đổ ra biển Đông theo 3 cửa sông: sông Hàn, Cửa Đại và Kỳ Hà. Sông Trung ương quản lý: dài 132 km, gồm: Đoạn 1 sông Thu Bồn, sông Trường Giang. Toàn bộ đường sông đang khai thác vận tải thuỷ của tỉnh Quảng Nam dài 207 km, gồm 11 tuyến: Sông Thu Bồn, sông Trường Giang, sông Vu Gia, sông Yên, sông Vĩnh Điện, sông Hội An,sông Cổ Cò, sông Duy Vinh, sông Bà Rén, sông Tam Kỳ và sông An Tân.
2.1.2. Đặc điểm kinh tế – xã hội
Tính đến hết năm 2017, dân số Quảng Nam là 1.471,8 nghìn người, với mật độ dân số trung bình là 141 người/km². Dân cư phân bố trù mật ở dải đồng bằng ven biển, dọc quốc lộ 1, đồng bằng Vu Gia Thu Bồn và Tam Kỳ. Mật độ dân số của Tam Kỳ, Hội An và Điện Bàn vượt quá 1,000 người/km2 trong khi rất thưa thớt ở các huyện miền núi phía Tây. Mật độ dân số trung bình của 6 huyện miền núi gồm Đông Giang, Tây Giang, Nam Giang, Phước Sơn, Bắc Trà My và Nam Trà My là dưới 20 người/km2. Với 81,4% dân số sinh sống ở nông thôn, Quảng Nam có tỷ lệ dân số sinh sống ở nông thôn cao hơn tỷ lệ trung bình của cả nước. Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa của tỉnh đang diễn ra mạnh mẽ sẽ tác động lớn đến sự phân bố dân cư nông thôn-thành thị trong thời gian tới [60].
Hiện có 34 tộc người cùng sinh sống trên địa bàn Quảng Nam, trong đó đông nhất là người Kinh (91,1%), người Cơtu (3,2%), người Xơ Đăng (2,7%), và người Gié Triêng (1,3%). 29 tộc người còn lại chỉ chiếm 0,9% dân số.
Quảng Nam hiện có 18 đơn vị hành chính cấp huyện bao gồm 2 thành phố, 1 thị xã và 15 huyện, trong đó có với 247 đơn vị cấp xã (25 phường, 12 thị trấn, 210 xã).
Hoà cùng với sự phát triển trong công cuộc đổi mới của đất nước, Quảng Nam đã đạt được nhiều thành quả trên mọi lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội. Ngành du lịch đã vươn lên, phát huy những tiềm năng sẵn có trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; sản xuất công nghiệp; cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh sang sản xuất hàng hoá, dịch vụ cung ứng cho thị trường. Tuy nhiên, nông, lâm nghiệp phát triển còn chậm, lâm nghiệp chưa thực sự phát triển theo hướng xã hội hoá và đảm bảo phát triển bền vững. Khoảng cách, chênh lệch về đời sống kinh tế, văn hoá cũng như trình độ dân trí giữa thành thị và nông thôn còn lớn, đặc biệt ở các xã vùng sâu, vùng xa, hải đảo đời sống mọi mặt của nhân dân còn thấp. Trật tự, an ninh xã hội nhất là ở thành thị và vùng biên giới còn nhiều phức tạp, các tệ nạn xã hội như cờ bạc, ma tuý, mại dâm còn có chiều hướng gia tăng. Tình trạng phát, phá rừng trái phép, lấn chiếm rừng trái pháp luật, sử dụng rừng trái quy định, khai thác trái phép gỗ và lâm sản, săn bắt thú rừng trái phép, nạn cháy rừng vẫn còn diễn ra, làm thiệt hại không nhỏ đến rừng.
2.1.3. Hiện trạng rừng và định hướng phát triển rừng tại tỉnh Quảng Nam Luận văn: Thực trạng bảo vệ và phát triển rừng theo pháp luật.
Quảng Nam có tổng diện tích tự nhiên là 608.391 ha. Năm 2016, toàn tỉnh có 427.302,3 ha rừng và đất lâm nghiệp (chiếm trên 70% diện tích tự nhiên). Có 301.751,8 ha có rừng (trên 48% diện tích tự nhiên), trong đó có 149.192,0 ha rừng tự nhiên, 152.559,8 ha rừng trồng [8]. Rừng giàu ở Quảng Nam hiện có khoảng 10 nghìn ha, phân bố ở các đỉnh núi cao, diện tích rừng còn lại chủ yếu là rừng nghèo, rừng trung bình và rừng tái sinh, có trữ lượng gỗ khoảng 69 m3/ha.
Qua những biến động của lịch sử, có những thời kỳ rừng Quảng Nam bị tàn phá nặng nề. Trong cơ chế cũ của nền kinh tế, rừng bị khai thác quá mức, tình trạng người dân phá rừng để làm nương rẫy và các nhu cầu khác của nền kinh tế mà không có kế hoạch phục hồi giữ cho rừng phát triển bền vững. Rừng đã bị giảm sút nghiêm trọng cả về diện tích và chất lượng. Mất rừng làm cho độ che phủ của rừng. Từ nhận thức đúng đắn về vai trò, vị trí của rừng; bằng những sự nỗ lực trong việc Bảo vệ và phát triển rừng, đến năm 2017 độ che phủ của rừng đã đạt tỷ lệ 51,5%. Tuy nhiên, chất lượng của rừng nhất là đối với rừng phòng hộ vẫn còn kém, bị suy giảm về cả diện tích và chất lượng, chưa đáp ứng được yêu cầu phòng hộ, bảo vệ môi trường. Đây là một trong những nguyên nhân chính làm tụt, giảm trữ lượng nước của toàn bộ các hồ thủy lợi. Nguy cơ thiếu nước cho sản xuất cả trong nông nghiệp và công nghiệp cũng như cho sinh hoạt của đời sống xã hội ngày càng trở nên bức xúc. Đây là một vấn đề mà cấp ủy và chính quyền các cấp của tỉnh Quảng Nam đang rất quan tâm giải quyết để bảo đảm sự cân đối, bền vững khi phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn.
Hiện toàn tỉnh có 22.920 ha rừng đặc dụng, có 98.477.4 ha rừng phòng hộ, có 149.192.0 ha rừng tự nhiên, có 180.261.3 ha rừng sản xuất, cụ thể:
- Biểu 2.1. Tổng hợp diện tích các loại rừng từ năm 2013 – 2017
Từ biểu thống kê trên thấy, diện tích có rừng qua 5 năm tăng 12% bằng 33.348,8 ha; trong đó, diện tích rừng sản xuất tăng 39,2% bằng 50.825,5 ha. Tuy nhiên, diện tích rừng phòng hộ và rừng đặc dụng lại giảm đi 12,6% bằng 17.570,5 ha. Điều đó phản ánh xu hướng phát triển rừng sản xuất, rừng kinh tế và sự giảm đi diện tích rừng phòng hộ, rừng đặc dụng. Sự thay đổi về cơ cấu, tỷ lệ 3 loại rừng, giảm diện tích rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, cùng với đó là sự gia tăng các nguyên nhân, các hậu quả tiêu cực của phát triển kinh tế làm ảnh hưởng đến xấu đến môi trường; đòi hỏi phải có các giải pháp hữu hiệu để bảo vệ và phát huy một cách tốt nhất chức năng phòng hộ, chức năng bảo vệ môi trường của rừng; chỉ có như vậy mới tạo được môi trường bền vững tốt nhất cho phát triển kinh tế – xã hội. Luận văn: Thực trạng bảo vệ và phát triển rừng theo pháp luật.
2.1.4. Những tác động của đặc điểm tự nhiên – kinh tế – xã hội đến công tác bảo vệ và phát triển rừng theo pháp luật tại tỉnh Quảng Nam
- Những tác động tích cực
Rừng có vai trò, vị trí quan trọng đối với đời sống kinh tế – xã hội của tỉnh; mối quan hệ hữu cơ, khăng khít, biện chứng giữa rừng với cuộc sống con người là một thuận lợi cho việc tuyên truyền giáo dục để nâng cao ý thức pháp luật Bảo vệ và phát triển rừng cho cộng đồng trên địa bàn, thuận lợi cho hoạt động Bảo vệ và phát triển rừng theo pháp luật hiện hành.
Cuộc sống bao đời nay của nhân dân trong tỉnh, đặc biệt là các dân tộc thiểu số luôn sống dựa vào việc khai thác lâm sản từ rừng tự nhiên. Rừng là nguồn sinh thủy giữ nước cho các sông, hồ, công trình thủy lợi trong tỉnh, giữ nguồn nước cho sinh hoạt, cho sản xuất nông nghiệp và công nghiệp như cho sàng tuyển than, cho hoạt động của các nhà máy nhiệt điện. Rừng còn là nguồn cung cấp gỗ mỏ rất quan trọng cho vùng khai thác than lớn nhất nước.
Rừng Quảng Nam nói riêng là lá phổi cho một môi trường sinh thái lành mạnh của một tỉnh công nghiệp, thương mại và du lịch. Đặc biệt rừng có tác dụng chống xói mòn trong điều kiện địa hình có độ dốc, phân cắt mạnh như tỉnh Quảng Nam.
Trong cuộc sống, con người luôn có nhiều thời gian tiếp cận, nhận thức về vai trò, ý nghĩa của rừng; có điều kiện thấy ngay những hậu quả về môi trường, sự bụi bặm, khô nóng của thời tiết, sự thiếu thốn, khô hạn về nước, có điều kiện nhận thức được ngay tác động xấu, trực tiếp đến ngành du lịch khi rừng bị phá, rừng bị mất,… Do nền kinh tế phát triển mạnh, các yếu tố vật chất, cơ sở hạ tầng ngày càng tốt hơn đã phát huy tính tích cực trong quá trình tác động tới việc Bảo vệ và phát triển rừng. Các chủ rừng đã có nhiều điều kiện đầu tư kinh phí cho công tác Bảo vệ và phát triển rừng. Các cơ quan bảo đảm chấp hành pháp luật về Bảo vệ và phát triển rừng cũng có nhiều điều kiện nâng cao năng lực, cơ sở vật chất để thực thi nhiêm vụ. Công tác tuyên truyền giáo dục ý thức pháp luật về Bảo vệ và phát triển rừng được đầu tư thoả đáng hơn. Nhận thức của cộng đồng được nâng cao, nền kinh tế phát triển, các điều kiện vật chất được tăng cường là những nhân tố tích cực, quyết định đến chất lượng, hiệu quả việc Bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam những năm qua.
- Những tác động không thuận lợi Luận văn: Thực trạng bảo vệ và phát triển rừng theo pháp luật.
Rừng Quảng Nam rất đa dạng và phong phú về tài nguyên rừng, có rất nhiều loại gỗ tốt như lim xanh, gỗ sến, gỗ táu, gỗ dẻ, có nhiều loại dược liệu quý như Ba kích, Đẳng sâm, Ngọc Linh,… đã làm nên thương hiệu rượu Ba kích, sâm Ngọc Linh nổi tiếng của Quảng Nam. Các loại lâm sản thông thường khác như tre, song, mây,…. rất thông dụng trong đời sống và là nguyên liệu chính cho các ngành nghề chế biến lâm sản phục vụ đời sống xã hội và hàng hoá xuất khẩu. Sự phong phú về lâm sản là thế mạnh, nhưng lại cũng là mục tiêu cho các hoạt động khai thác lâm sản trái với các quy định của pháp luật và là khó khăn cho công tác Bảo vệ và phát triển rừng.
Với đặc điểm có khoảng hơn 30% dân số trong tỉnh có cuộc sống ở trong rừng, ở gần rừng; người dân luôn lấy việc khai thác lâm sản là nguồn mưu sinh; từ đó dẫn đến sự phức tạp, gia tăng của các hành vi vi phạm pháp luật về Bảo vệ và phát triển rừng. Nhu cầu khai thác lâm sản để mưu sinh luôn tạo ra áp lực cho công tác Bảo vệ và phát triển rừng.
Do điều kiện đặc thù, có sông, có biển, có đường biên giới giáp với nước bạn Lào, có hệ thống đường giao thông thuỷ, bộ thuận lợi cho mua, bán, vận chuyển gỗ, lâm sản, các loại động vật hoang dã quý hiếm từ các vùng miền trong cả nước và cả quốc tế vận chuyển qua Quảng Nam để đưa qua biên giới tiêu thụ nên cuộc đấu tranh chống các hành vi vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng trong lĩnh vực này luôn có diễn biến phức tạp, các thủ đoạn vi phạm pháp luật để buôn bán trái phép động vật rừng, lâm sản quý hiếm qua biên giới ngày càng diễn ra tinh vi, bằng nhiều hình thức. Các đối tượng vi phạm không từ một thủ đoạn nào để thực hiện hành vi vi phạm và gây rất nhiều khó khăn cho công tác quản lý, kiểm tra và xử lý vi phạm; gây khó khăn cho Bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn.
Với tốc độ tăng trưởng cao, các điều kiện vật chất cùng với sự nâng lên về nhận thức pháp luật về Bảo vệ và phát triển rừng là thuận lợi cho việc Bảo vệ và phát triển rừng nhưng sự tăng trưởng về kinh tế, những yêu cầu ngày càng cao của đời sống xã hội đang là sức ép cho công tác Bảo vệ và phát triển rừng theo pháp luật được đảm bảo. Cùng với sự phát triển là sự gia tăng rất lớn các yêu cầu về gỗ và lâm sản. Với tài nguyên sẵn có, khi điều kiện sống đang còn khó khăn, người ta sẽ dễ dàng vi phạm quy định của pháp luật để khai thác trái phép lâm sản bán kiếm tiền mà không chú ý đến hậu quả sau này; nhất là khi cuộc sống của người dân vùng cao đang còn rất nhiều khó khăn. Trong thực tế, tài nguyên rừng thường xuyên bị xâm hại. Rừng bị suy giảm về chất lượng bởi sự tác động của nhiều đối tượng, dưới nhiều hình thức như bị khai thác lâm sản, khai thác than trái phép, chuyển đổi mục đích sử dụng đất và rừng. Nạn cháy rừng xảy ra hàng năm làm thiệt hại rất nhiều diện tích rừng, làm mất rất nhiều vốn rừng…. Luận văn: Thực trạng bảo vệ và phát triển rừng theo pháp luật.
Cùng với những tác động tích cực của công cuộc đổi mới, mặt trái của nền kinh tế thị trường có ảnh hưởng không nhỏ đến các hành vi của con người, trong đó có các hành vi trong lĩnh vực Bảo vệ và phát triển rừng. Những lợi nhuận không nhỏ từ việc buôn bán, kinh doanh hàng lâm sản, săn bắt, giết thịt, kinh doanh các loại động vật rừng để làm thực phẩm, làm cảnh; lợi nhuận từ việc khai thác buôn bán, vận chuyển gỗ, hàng lâm sản đã kích thích các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng. Cùng với đó là sự phân tầng xã hội không hợp thức; có một bộ phận dân cư giàu lên một cách nhanh chóng và có nhu cầu sử dụng rất cao, rất lớn đối với các đồ dùng có nguồn gốc từ rừng; trong khi đó một bộ phận người dân, đặc biệt là người dân ở vùng sâu, vùng xã lại có đời sống rất khó khăn phần lớn thu nhập trông cậy vào rừng nên rất khó khăn khi tự giác tuân thủ và chấp hành các quy định của pháp luật về Bảo vệ và phát triển rừng.
Hiện nay, từ việc trồng rừng, đặc biệt là trồng Keo mang lại hiệu quả kinh tế cao; cùng với đó là sự tự giác thi hành quy định của pháp luật chưa cao nên dẫn đến các vi phạm, phá rừng, phát rừng tự nhiên để trồng keo khi chưa được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; một số chủ rừng, một số dự án phát triển kinh tế đã phá rừng, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng không đúng quy định của pháp luật. Việc không tự giác chấp hành quy định pháp luật khi đầu tư phát triển rừng, tức là hình thức chấp hành pháp luật về Bảo vệ và phát triển rừng không được thực hiện đang ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động thực hiện pháp luật về Bảo vệ và phát triển rừng.
Tóm lại, những điều kiện tự nhiên, đặc điểm về địa lý, đặc điểm về kinh tế – xã hội của tỉnh Quảng Nam vừa có những tác động tích cực, vừa có những ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động Bảo vệ và phát triển rừng theo pháp luật. Điều đó xuất phát từ vai trò, vị trí đặc biệt của rừng trong đời sống kinh tế – xã hội của tỉnh Quảng Nam. Rừng Quảng Nam là đặc điểm, là điều kiện tự nhiên ưu đãi để phát triển kinh tế – xã hội. Nhưng rừng cũng là mục tiêu của các hành vi trái pháp luật để khai thác, sử dụng trái phép để đạt mục đích vụ lợi, vì mục đích cá nhân; từ lợi nhuận do những hành vi trái pháp luật này mang lại, các đối tượng vi phạm không từ một thủ đoạn nào để vi phạm và lôi kéo những người dân khác, đặc biệt là những người có cuộc sống còn khó khăn tham gia vi phạm pháp luật nhằm thực hiện mục đích kiếm lời của chúng.
2.2. Đánh giá sơ bộ Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 và những điểm mới của Luật Lâm nghiệp năm 2017 Luận văn: Thực trạng bảo vệ và phát triển rừng theo pháp luật.
2.2.1. Đánh giá sơ bộ Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004
Sau 13 năm thực hiện, Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 đã đi vào cuộc sống, góp phần tạo sự chuyển biến quan trọng từ nền lâm nghiệp lấy quốc doanh là chủ yếu sang nền lâm nghiệp với nhiều thành phần kinh tế tham gia; từ chủ yếu dựa vào khai thác, lợi dụng rừng tự nhiên sang bảo vệ, nuôi dưỡng, gây trồng rừng. Nhờ đó đã thúc đẩy, tạo cơ chế, chính sách phát triển nhanh chóng diện tích rừng từ 12,306 triệu ha năm 2004 lên 13,954 triệu ha vào năm 2013; tương ứng độ che phủ của rừng toàn quốc từ 37% lên 41%. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật về Bảo vệ và phát triển rừng đã bộc lộ một số tồn tại, hạn chế chính sau đây:
Một là, pháp luật Bảo vệ và phát triển rừng và các pháp luật khác có liên quan quy định còn thiếu đồng bộ, chồng chéo, thậm chí mâu thuẫn, nhất là những quy định liên quan đến quyền và nghĩa vụ của một số chủ thể quản lý rừng, về phân loại đất, phân loại rừng, quản lý đa dạng sinh học hệ sinh thái rừng, quản lý hệ thống bảo tồn thiên nhiên là rừng đặc dụng,… thiếu thống nhất với một số Luật khác (như Luật Dân sự, Luật Đa dạng sinh học 2008,…). Quốc hội Khóa 13 mới thông qua Hiến pháp năm 2013, Luật Đất đai năm 2013, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, trong đó có nhiều chế định và quy định mới liên quan đến lâm nghiệp (quyền sở hữu rừng, quyền sử dụng rừng và thực hiện các quyền trong mối quan hệ với quyền sử dụng đất; các quy định về môi trường trong quản lý lâm nghiệp…).
Hai là, Luật Bảo vệ và phát triển rừng chưa quy định rõ, đầy đủ chuỗi sản xuất lâm nghiệp, từ quản lý, bảo vệ, phát triển rừng đến khai thác, vận chuyển, chế biến, kinh doanh, thương mại lâm sản, dẫn đến những khó khăn, vướng mắc trong hoạch định chính sách, đầu tư phát triển, nâng cao giá trị kinh tế của rừng và chưa đánh giá đúng thành quả của ngành lâm nghiệp; rừng và đất lâm nghiệp chiếm tới trên 50% diện tích cả nước, nhưng tổng giá trị GDP lâm nghiệp chỉ chiếm chưa đến 1% GDP quốc gia, một phần là do không đưa giá trị chế biến lâm sản và dịch vụ môi trường rừng vào thành quả của ngành lâm nghiệp.
Ba là, quy hoạch Bảo vệ và phát triển rừng chất lượng chưa cao, chưa đồng bộ với quy hoạch sử dụng đất, chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, chưa sát với thực tế và thường xuyên bị phá vỡ, việc điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch Bảo vệ và phát triển rừng còn sai mục đích, kém hiệu quả; thanh tra, giám sát thi hành pháp luật chưa nghiêm, trong khi chế tài xử lý vi phạm pháp luật về Bảo vệ và phát triển rừng còn thiếu và chưa đủ mạnh để ngăn chặn các hành vi vi phạm, nên tình trạng phá rừng, khai thác vận chuyển lâm sản trái phép, lấn chiếm, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng và đất lâm nghiệp trái pháp luật còn diễn ra phức tạp ở nhiều địa phương gây bức xúc trong xã hội và làm suy giảm tài nguyên rừng, nhất là rừng tự nhiên.
Bốn là, các quy định về phát triển rừng chưa tạo ra được những bước tiến mới trong kinh doanh rừng trồng; năng suất, chất lượng, giá trị rừng sản xuất vẫn còn thấp, chủ yếu là trồng rừng gỗ nhỏ, chưa đáp ứng nhu cầu cơ bản về nguyên liệu gỗ lớn cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu, chưa đem lại hiệu quả kinh tế để có thể giảm cách biệt thu nhập so với các cây trồng và ngành nghề khác; đa số người dân làm nghề rừng còn nghèo, tỷ trọng thu nhập từ lâm nghiệp chỉ chiếm 25% trong tổng thu nhập của nông dân miền núi, nên chưa góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho người làm nghề rừng..
Năm là, các quy định của pháp luật chưa làm rõ cơ chế thực hiện các quyền định đoạt của Nhà nước với vai trò là đại diện chủ sở hữu đối với rừng tự nhiên và các quyền, nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân khi được Nhà nước giao, cho thuê rừng tự nhiên; nên chưa tạo điều kiện phát huy tính tự chủ trong sản xuất kinh doanh và thu hút mạnh mẽ đầu tư vào nghề rừng;cơ chế chính sách hưởng lợi từ rừng còn nhiều bất cập, chưa tính đến các giá trị dịch vụ môi trường rừng;
Sáu là, Luật chưa quy định toàn diện, đồng bộ hệ thống quản lý nhà nước về lâm nghiệp, mới chỉ quy định được lực lượng Kiểm lâm, dẫn đến hệ thống tổ chức quản lý ngành lâm nghiệp, tổ chức của lực lượng Kiểm lâm, lực lượng bảo vệ rừng ở địa phương thiếu thống nhất, không phát huy được hiệu quả tổng hợp và phân định rõ chức năng quản lý ngành lâm nghiệp trong một đầu mối. Luận văn: Thực trạng bảo vệ và phát triển rừng theo pháp luật.
Bảy là, Luật chưa quy định cụ thể về hệ thống tổ chức sản xuất và dịch vụ lâm nghiệp cấp cơ sở. Các lâm trường quốc doanh trước đây, sau khi đã sắp xếp lại, chuyển thành công ty lâm nghiệp, chưa có sự thay đổi căn bản về cơ chế quản lý, quản trị doanh nghiệp, nhất là chưa tạo điều kiện để công ty phát huy tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong sản xuất kinh doanh; phần lớn đất đai và rừng chưa được rà soát, đo đạc trên thực địa, chưa lập bản đồ địa chính, diện tích đất được cấp sổ đỏ chiếm tỷ lệ thấp, còn có biểu hiện vi phạm pháp luật đất đai với nhiều hình thức khác nhau; nhiều công ty lâm nghiệp hiệu quả sản xuất kinh doanh và thu nhập của người lao động thấp.
Tám là, Luật chưa có quy định cụ thể về chế biến và thương mại lâm sản, nhất là cơ chế ưu đãi đầu tư và tín dụng cần thiết cho ngành chế biến gỗ và lâm sản, tạo động lực phát triển rừng, phát triển nguồn nguyên liệu. Trên thực tế, quản trị doanh nghiệp, công nghệ chế biến; chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh thấp; giá trị gia tăng của lâm sản thấp; tăng trưởng chưa tương xứng với tiềm năng. Mặc dù Việt Nam đã trở thành quốc gia xuất khẩu đồ gỗ lớn trên thế giới, nhưng quy mô sản xuất nhỏ, manh mún, chưa tổ chức liên kết theo chuỗi, kết cấu hạ tầng phục vụ chế biến yếu kém; công nghệ và quản trị các doanh nghiệp vừa và nhỏ phổ biến còn lạc hậu, nên hiệu quả của sản xuất lâm nghiệp thấp so với khu vực và thế giới. Năng suất lao động trong chế biến lâm sản của Việt Nam chỉ bằng 50% so với Philipin, 40% so với Trung Quốc và 20% so với bình quân các nước EU; chất lượng, mẫu mã sản phẩm kém cạnh tranh. Thị trường trong nước chưa được quan tâm đúng mức, chưa hình thành hệ thống phân phối lưu thông, thiếu gắn kết giữa nhà máy chế biến và vùng nguyên liệu.
Chín là, Luật chưa có quy định cụ thể về khoa học và công nghệ; đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, hợp tác, hội nhập quốc tế trong lâm nghiệp. Trên thực tế, trình độ tay nghề lao động lâm nghiệp thấp, kỹ thuật canh tác lạc hậu, trồng rừng vẫn chủ yếu là quảng canh. Công tác nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ vào sản xuất còn nhiều bất cập. Công nghệ sinh học và công tác tạo giống chưa được ứng dụng trên quy mô rộng. Pháp luật Bảo vệ và phát triển rừng còn những quy định chưa phù hợp hoặc thiếu cụ thể với một số công ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia, dẫn đến việc một số khó khăn, hạn chế trong thực thi và hội nhập kinh tế quốc tế.
Vì vậy, Luật Lâm nghiệp năm 2017 ra đời trên cơ sở kế thừa Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 1991 và Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004. Luật mới kế thừa, sửa đổi, bổ sung phải thể chế hóa được cương lĩnh, chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tái cơ cấu nền kinh tế, chiến lược tăng trưởng xanh, tăng cường quản lý tài nguyên, ứng phó với biến đổi khí hậu và hội nhập quốc tế, phù hợp với hệ thống pháp luật chung.
2.2.2. Những điểm mới của Luật Lâm nghiệp năm 2017 Luận văn: Thực trạng bảo vệ và phát triển rừng theo pháp luật.
Luật Lâm nghiệp năm 2017 được thông qua ngày 15/11/2017 tại Kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XIV, bao gồm 12 chương, 108 điều, sẽ có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2019. Trong đó, luật quy định về quy hoạch lâm nghiệp, bảo vệ, phát triển rừng, quyền và nghĩa vụ của chủ rừng, thẩm quyền giao rừng, cho thuê rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng, thu hồi rừng, dịch vụ môi trường rừng, hoạt động tài chính trong lâm nghiệp, khoa học và công nghệ về lâm nghiệp, quản lý nhà nước về lâm nghiệp. Với các quy định của Luật sẽ góp phần quản lý các hoạt động về lâm nghiệp hiệu quả hơn, phát huy những lợi thế về rừng theo hướng là ngành kinh tế -kỹ thuật, đồng thời, rừng sẽ được bảo vệ tốt hơn, người dân có thể đầu tư vào trồng rừng, làm kinh tế, phát triển nghề rừng.
Về chính sách của Nhà nước, Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 được quy định tại điều 10 về chính sách của Nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng: “Nhà nước có chính sách đầu tư cho việc bảo vệ và phát triển rừng gắn liền, đồng bộ với các chính sách kinh tế – xã hội khác, ưu tiên đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực, định canh định cư, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân miền núi”. Còn theo Luật Lâm nghiệp năm 2017 quy định tại điều 4 về chính sách của Nhà nước về lâm nghiệp, bên cạnh những chính sách chung đảm bảo sự phát triển bền vững của ngành lâm nghiệp, Luật đã quy định rõ đối với đối tượng là đồng bào dân tộc thiểu số, đó là tại khoản 6 “Nhà nước bảo đảm cho đồng bào dân tộc thiểu số, cộng đồng dân cư sinh sống phụ thuộc vào rừng được giao rừng gắn với giao đất để sản xuất lâm, nông, ngư nghiệp kết hợp; được hợp tác, liên kết bảo vệ và phát triển rừng với chủ rừng, chia sẻ lợi ích từ rừng; được thực hành văn hóa, tín ngưỡng gắn với rừng theo quy định của Chính phủ”. Điều này thể hiện sự quan tâm của Ban soạn thảo và Quốc hội đối với đồng bào dân tộc thiểu số. Xuất phát từ thực tiễn, nước ta có ¾ diện tích tự nhiên đất liền là đồi núi, đây là địa bàn sinh sống chủ yếu của hơn 14 triệu đồng bào các dân tộc thiểu số, những người sống gắn bó với rừng và tạo thu nhập chủ yếu từ nghề rừng, từ sản xuất nương rẫy [3]. Vì vậy, phần lớn đồng bào dân tộc thiểu số là những cử tri có ảnh hưởng sâu sắc từ sự điều chỉnh của Luật. Quy định của luật về nội dung này là bước tiến quan trọng để đồng bào các dân tộc thiểu số thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình đối với quá trình quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng, chế biến và thương mại lâm sản.
Trước hết chính sách đã khẳng định việc bảo đảm cho đồng bào dân tộc thiểu số, cộng đồng dân cư sinh sống phụ thuộc vào rừng được giao rừng gắn với giao đất để sản xuất lâm, nông, ngư nghiệp kết hợp. Nội dung này được cụ thể hóa trong chương III, mục 1, khoản 8 của luật. Theo đó nguyên tắc khi tiến hành giao rừng thì các cơ quan chức năng phải ưu tiên giao rừng cho đồng bào dân tộc thiểu số, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư có phong tục, tập quán, văn hóa, tín ngưỡng, truyền thống gắn bó với rừng, có hương ước, quy ước phù hợp với quy định của pháp luật. Đây là vấn đề mà cử tri, đồng bào dân tộc thiểu số quan tâm. Cùng với đó, quyền của chủ rừng là chủ sở hữu, quyền chủ rừng được giao quản lý hợp pháp theo quy định, sẽ được thực hiện, đảm bảo sự chủ động trong việc sản xuất lâm, nông, ngư nghiệp kết hợp, được hợp tác, liên kết bảo vệ và phát triển rừng, chia sẻ lợi ích từ rừng,… Luận văn: Thực trạng bảo vệ và phát triển rừng theo pháp luật.
Cộng đồng các dân tộc thiểu số sinh sống gắn với rừng từ ngàn đời, có những bản sắc văn hóa và phong tục tập quán riêng, theo từng vùng. Trong đó, nhiều tập tục có giá trị rất lớn trong việc bảo tồn và phát huy rừng. Thấy được giá trị của vấn đề này đối với công tác bảo vệ rừng và đối với đời sống kinh tế, văn hóa của đồng bào, trong luật cũng quy định rất rõ về chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số là được thực hành văn hóa, tín ngưỡng gắn với rừng theo quy định của Chính phủ. Tại điểm d, khoản 2, điều 5 của luật quy định rừng tín ngưỡng là một trong những loại rừng đặc dụng, để có cơ chế bảo tồn đặc biệt. Cũng tại khoản 8, Điều 14 của luật quy định nguyên tắc giao rừng, cho thuê rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác, thu hồi rừng thì phải tôn trọng không gian sinh tồn, phong tục, tập quán của cộng đồng dân cư. Về chính sách đầu tư bảo vệ và phát triển rừng tại Điều 94 của luật cũng quy định rất cụ thể việc Nhà nước có chính sách hỗ trợ đầu tư cho các hoạt động hợp tác, liên kết bảo vệ và phát triển rừng của đồng bào dân tộc thiểu số, cộng đồng dân cư gắn với chương trình phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng nông thôn mới.
Luật Lâm nghiệp mới ban hành đã căn cứ từ thực tiễn, từ những mong muốn nguyện vọng của các cử tri, nhất là các đồng bào gắn bó với rừng, từ đòi hỏi của thực tiễn trong công cuộc bảo vệ phát triển rừng, đồng thời đảm bảo việc phát triển kinh tế lâm nghiệp theo chuỗi giá trị. Trong đó luật quy định chính sách rõ ràng với chủ thể được ưu tiên là đồng bào dân tộc thiểu số, chính sách chung này được ghi nhận trong luật sẽ là cơ sở để các cấp, các ngành khi triển khai các phần việc có liên quan, phải đặc biệt chú trọng đến đối tượng ưu tiên này, khắc phục những vấn đề tồn tại trước đây, để chính sách thực sự đi vào cuộc sống.
Luật Lâm nghiệp lần này được xây dựng trên cơ sở kế thừa Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 1991 và Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 nhưng cũng thể hiện 3 tư tưởng mới:
Thứ nhất, Luật mới ban hành là thể chế hóa các Nghị quyết, Chỉ thị của TW Đảng về phát triển nông nghiệp nông thôn. Trong đó coi lâm nghiệp là một ngành kinh tế có vai trò hết sức quan trọng, vừa thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế, giải quyết công ăn việc làm, đảm bảo đời sống ổn định cho người trồng rừng, để người trồng rừng có thể sống được và từng bước có thu nhập cao hơn. Cùng với đó vừa phát huy vai trò xã hội, thích ứng với tình trạng biến đổi khí hậu, vừa đảm bảo nhiệm vụ an ninh – quốc phòng. Luận văn: Thực trạng bảo vệ và phát triển rừng theo pháp luật.
Thứ hai, theo tinh thần của Hiến pháp mới, Luật Lâm nghiệp cũng xác định khá cụ thể về quyền sở hữu. Theo đó, chỉ có tài nguyên rừng mới được coi là sở hữu toàn dân nhà nước thống nhất quản lý. Còn lại rừng được hình thành từ các hộ gia đình, từ cộng đồng, từ doanh nghiệp… thì khi xác định được ai là người đầu tư, người đó sẽ được ghi nhận là chủ sở hữu. Từ quan điểm về quyền sở hữu như vậy sinh ra một loạt chế định khác từ quản lý cho tới chế độ chính sách đối với các chủ rừng.
Thứ ba, tuy có kế thừa, nhưng Luật Lâm nghiệp mới được thông qua cũng có nhiều điểm mới, phát triển thêm so với 2 Luật Bảo vệ và phát triển rừng trước đó. Ví dụ trước đây nói đến việc hình thành rừng tức là đề cập tới quản lý, bảo vệ, phát triển rừng thì lần này xây dựng theo chuỗi thêm lĩnh vực chế biến và thương mại cho phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa, trong điều kiện hội nhập ngày càng sâu sắc với nhiều hiệp định Afta về lĩnh vực lâm nghiệp. Có thể nói, đó là 3 điểm lớn, đáng chú ý của Luật lâm nghiệp lần này.
2.3. Thực trạng công tác bảo vệ và phát triển rừng theo pháp luật tại tỉnh Quảng Nam hiện nay Luận văn: Thực trạng bảo vệ và phát triển rừng theo pháp luật.
2.3.1. Những kết quả đạt được trong công tác bảo vệ và phát triển rừng theo pháp luật tại tỉnh Quảng Nam
Tuân thủ pháp luật và chấp hành pháp luật về Bảo vệ và phát triển rừng ngày một tốt hơn. Nhận thức của cộng đồng, của cả hệ thống chính trị các cấp, của các ban ngành, đoàn thể, tổ chức có liên quan về Bảo vệ và phát triển rừng ngày càng nâng cao. Các quy định của pháp luật, của tỉnh về Bảo vệ và phát triển rừng ngày càng hoàn thiện và đi vào đời sống thực tiễn. Sự phối hợp giữa các lực lượng để Bảo vệ và phát triển rừng, để thực hiện quản lý nhà nước về rừng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam ngày càng tốt, có hiệu quả hơn. Công tác Bảo vệ và phát triển rừng ngày càng được coi trọng, cộng đồng xã hội, các cấp, các ngành và toàn dân ngày càng nhận thức rõ và đầy đủ hơn về trách nhiệm Bảo vệ và phát triển rừng theo quy định của Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Các chủ rừng ngày càng nhận thức cao hơn về nghĩa vụ và trách nhiệm Bảo vệ và phát triển rừng; đã quan tâm thực hiện các quy định về phòng cháy chữa cháy rừng, trước hết là trên diện tích rừng được Các chủ thể có liên quan, kể cả chủ thể được nhà nước uỷ quyền áp dụng pháp luật về Bảo vệ và phát triển rừng cũng nhận thức đầy đủ hơn quy định của pháp luật khi thi hành công vụ. Qua việc giáo dục, tuyên truyền ý thức pháp luật về Bảo vệ và phát triển rừng, từ hiệu quả răn đe, phòng ngừa của xử lý các hành vi vi phạm, từ nhận thức về vai trò, ý nghĩa của rừng, từ tác động tích cực của sự phát triển kinh tế – xã hội nói chung; tính tự giác không thực hiện các hành vi pháp luật ngăn cấm để Bảo vệ và phát triển rừng đã được nâng cao rất nhiều. Ý thức thực hiện pháp luật, các hình thức thực hiện pháp luật và chấp hành pháp luật về Bảo vệ và phát triển rừng được thực hiện đầy đủ hơn, tự giác hơn, có chiều sâu hơn, bảo đảm đúng các quy định của pháp luật. Những vụ vi phạm về phá rừng, cháy rừng, khai thác rừng trái phép ngày càng giảm đi; các vi phạm đã được xử lý nghiêm minh; đơn thư khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực Bảo vệ và phát triển rừng không có diễn biến phức tạp.
Thực tiễn cho thấy, sử dụng pháp luật đã được thực hiện có kết quả, có biểu hiện tích cực vì thực hiện pháp luật theo hình thức này cũng chính là việc trực tiếp tự bảo vệ lợi ích và tài sản của các chủ rừng. Các chủ rừng đã thực hiện các quyền của mình theo pháp luật quy định để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trên diện tích được giao, bảo vệ thành quả đã đầu tư vào rừng. Các chủ rừng cũng đã quan tâm đầu tư cho hoạt động Bảo vệ và phát triển rừng. Các doanh nghiệp, công ty lâm nghiệp đều có lực lượng Bảo vệ và phát triển rừng của mình và chịu trách nhiệm về vốn rừng tự nhiên trên diện tích được giao. Các cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng thôn bản đã quan tâm gìn giữ vốn rừng vì đó chính là tài sản của họ. Đó chính là biểu hiện tích cực của chính sách giao đất, giao rừng. Đối với những diện tích rừng chưa giao, đang do chính quyền quản lý cũng được quan tâm bảo vệ hơn, được giữ gìn tốt hơn. Luận văn: Thực trạng bảo vệ và phát triển rừng theo pháp luật.
Đối với hình thức áp dụng pháp luật: thực hiện chủ trương xã hội hoá nghề rừng, tạo điều kiện cho mọi cá nhân, tổ chức được tham gia Bảo vệ và phát triển rừng, làm kinh tế từ nghề rừng theo quy định của pháp luật; các cơ quan nhà nước có thẩm quyền của tỉnh Quảng Nam đã tạo điều kiện tốt cho việc Bảo vệ và phát triển rừng của các chủ thể có mục tiêu trồng rừng, phát triển kinh tế từ nghề rừng. Các quyết định giao đất, cho thuê đất trồng rừng sản xuất được thực hiện nhanh chóng, hành lang pháp lý được xem xét, vận dụng thông thoáng, các chính sách khuyến khích trồng rừng của trung ương, của tỉnh được áp dụng tích cực. Nhân dân đã hăng hái nhận đất, nhận rừng để bảo vệ và sản xuất, kinh doanh nghề rừng. Hiện nay, thống kê trong toàn tỉnh, các hộ gia đình đã nhận 152.029 ha, các doanh nghiệp nhận 149.057 ha, các ban quản lý rừng quản lý 60.109 ha, các đơn vị vũ trang nhận 10.549 ha, công đồng thôn bản nhận 811,0 ha và Ủy ban nhân dân các địa phương quản lý 54.744 ha [35, tr.2].
Theo quy định của pháp luật: “Kiểm lâm là lực lượng chuyên trách của nhà nước có chức năng bảo vệ rừng, giúp Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về về bảo vệ rừng, bảo đảm chấp chấp hành pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng” [19, tr.186-187].
Là lực lượng nòng cốt trong hoạt động BVR; tổ chức, bộ máy của Kiểm lâm Quảng Nam không ngừng được củng cố, đổi mới về mọi mặt, trình độ cán bộ công chức Kiểm lâm ngày càng nâng cao; hoạt động tuyên truyền và thực thi tuân thủ pháp luật về Bảo vệ và phát triển rừng đạt hiệu quả ngày càng cao. Công tác bảo vệ rừng trên địa bàn đã có nhiều chuyển biến tích cực. Các hành vi vi phạm pháp luật về Bảo vệ và phát triển rừng được xử lý theo đúng các quy định của pháp luật.
- Biểu 2.2. Số liệu cơ bản về Kiểm lâm Quảng Nam
Dưới sự lãnh đạo của cấp uỷ và chính quyền, đã có sự phối hợp tốt giữa Kiểm lâm với Công an, với Quân đội, Viện kiểm sát nhân dân, Toà án nhân dân v.v… trong đấu tranh ngăn ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trong lĩnh vực Bảo vệ và phát triển rừng. Các đơn thư khiếu tố, khiếu nại đã được giải quyết kịp thời dân chủ, công khai đúng quy định của pháp luật; các tranh chấp về rừng, đất trồng rừng cũng được giải quyết kịp thời theo quy định của pháp luật.
- Biểu 2.3. Kết quả xử lý vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng từ năm 2013 – 2017
Lực lượng Kiểm lâm và các cơ quan chức năng trên địa bàn tỉnh đã phát hiện, lập biên bản nhiều trường hợp vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng. Trung bình mỗi năm có trên 650 vụ vi phạm bị bắt giữ và xử lý, số vụ vi phạm đã có chiều hướng giảm đi qua các năm, qua đó chúng ta thấy được sự tích cực, cố gắng của các cơ quan thừa hành pháp luật về Bảo vệ và phát triển rừng, nhất là của cơ quan Kiểm lâm trên địa bàn Quảng Nam.
Song song với công tác bảo vệ, ngăn chặn tình trạng phá rừng, xâm phạm tài nguyên rừng, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam cũng đã triển khai nhiều chương trình, dự án liên quan đến rừng như kế hoạch bảo khoán bảo vệ rừng và khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên; triển khai đề án thực hiện Nghị định số 75/2015/NĐ-CP ngày 09/9/2015 của Chính phủ về cơ chế, chính sách bảo vệ và phát triển rừng gắn với hính sách giảm ngho nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2017 – 2020 trên địa bàn tỉnh. Luận văn: Thực trạng bảo vệ và phát triển rừng theo pháp luật.
Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 120/QĐ-UBND ngày 11/01/2017 về phê duyệt điều chỉnh, bổ sung quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh giai đoạn 2011 – 2020, thành lập thêm một số ban quản lý rừng phòng hộ. Điều này làm cho diện tích rừng có chủ tăng lên. Các địa phương lần lượt dừng khai thác gỗ rừng tự nhiên trừ việc khai thác tận thu, tận dụng gỗ trên diện tích rừng phải chuyển đổi mục đích sử dụng rừng để thực hiện các công trình như thủy điện, đường giao thông, công trình quốc phòng. Hầu hết diện tích chuyển đổi này là đất trống hoặc trạng thái rừng nghèo (dưới 50m3/ha). Cạnh đó, rà soát, chuyển đổi các lâm trường, công ty lâm nghiệp có thực hiện khai thác gỗ rừng tự nhiên thành các đơn vị sự nghiệp công lập.
Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh, rừng Quảng Nam có hệ sinh học đa dạng bậc nhất miền Trung là nhờ các chính sách siết chặt quản lý của Nhà nước về bảo vệ rừng. Hầu như cả hệ thống chính trị đã được huy động để giữ rừng. Nhiều cơ quan, đơn vị đã ký kết quy chế phối hợp, hiệu quả rõ nhất là giữa lực lượng kiểm lâm với công an và bộ đội biên phòng. Trong vành đai biên giới, giữa tháng 3.2017, Chi cục Kiểm lâm tỉnh và Chi cục Thanh tra lâm nghiệp tỉnh Sê Kông (Lào) đã ký kết biên bản ghi nhớ về phối hợp trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng và quản lý lâm sản vùng giáp ranh 2 tỉnh giai đoạn 2017 – 2020. Trong 4 tháng đầu năm 2017, tình hình vi phạm trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng và lâm sản giảm cả về số lượng và tang vật vi phạm so với cùng kỳ năm 2016. Ông Phan Tuấn – Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh khẳng định: “Chuyển biến nhất là thay đổi nhận thức, tư tưởng của người dân. Nhiều cánh rừng bình yên, dân xem như khu vực bất khả xâm phạm”.
2.3.2. Những tồn tại, hạn chế trong công tác bảo vệ và phát triển rừng theo pháp luật tại tỉnh Quảng Nam Luận văn: Thực trạng bảo vệ và phát triển rừng theo pháp luật.
Tuy đã đạt được những kết quả tích cực, nhưng công tác Bảo vệ và phát triển rừng theo pháp luật hiện hành trên địa bàn tỉnh Quảng Nam vẫn còn nhiều tồn tại, yếu kém và bất cập sau:
- Tồn tại, hạn chế trong công tác bảo vệ và phát triển rừng theo pháp luật tại tỉnh Quảng Nam
Hành vi không tự giác thực hiện các quy định pháp luật ngăn cấm như: Cấm khai thác lâm sản trái phép, cấm phát đốt rừng trái phép, cấm săn bắt, mua, bán, kinh doanh, nuôi nhốt động vật rừng trái phép, cấm chăn thả gia súc vào rừng trái quy định, cấm vận chuyển lâm sản trái phép… còn diễn biến phức tạp. Tình trạng chặt phá, khai thác rừng diễn ra phức tạp, một số vụ phá rừng trở thành điểm nóng trong thời gian gần đây được phản ánh trên các phương tiện thông tin đại chúng, điển hình là: Vụ phá rừng Pơ mu nghiêm trọng tại khu vực biên giới Việt – Lào thuộc huyện Nam Giang được phát hiện vào tháng 7/2016; vụ phá 124 ha rừng phòng hộ tại xã Tiên Lãnh (huyện Tiên Phước, Quảng Nam); vụ phá rừng phòng hộ ở huyện Đông Giang,… nhiều vụ phá rừng quy mô lớn diễn ra trong thời gian dài nhưng chậm phát hiện, xử lý. Mục đích phá rừng tự nhiên lấy đất trồng rừng, chuyển từ sở hữu rừng nhà nước thành sở hữu tư nhân; canh tác nông nghiệp, trồng cây công nghiệp; khai thác gỗ có giá trị thương mại cao.
Bình quân hàng năm đều có trên 650 vụ vi phạm bị bắt giữ, xử lý, không ít vụ đã bị xử lý hình sự và chắc chắn số vụ vi phạm trên thực tế còn lớn hơn nhiều.
- Biểu 2.4. Số liệu về tình hình bảo vệ rừng từ năm 2013 – 2017
Tình hình vi phạm vẫn diễn ra với các thủ đoạn ngày càng đa dạng, liều lĩnh, tinh vi, đối tượng vi phạm sử dụng trang thiết bị, phương tiện hiện đại và có cả sự tổ chức để vi phạm. Tình hình chống người thi hành công vụ vẫn diễn ra phức tạp. Đặc biệt, hành vi không tự giác tuân thủ quy định của pháp luật, gây thiệt hại lớn cho rừng như việc chuyển mục đích sử dụng rừng trái quy định hoặc phá rừng tự nhiên trái phép để chuyển thành rừng trồng vì mục đích kinh tế còn phổ biến. Trồng rừng thay thế tại các khu vực có dự án chuyển đổi mục đích sử dụng rừng không đảm bảo chất lượng như trước, ví dụ như: Trên địa bàn huyện Phú Ninh có nhiều diện tích rừng bị khai thác vàng xong rồi bỏ hoang nhiều năm. Hiện còn hơn 20 ha chưa được hoàn thổ, trồng lại rừng. Có nơi (như xã Tam Lãnh) các đơn vị TRTT (trồng rừng thay thế) chỉ trồng cây sao đen để hoàn rừng rất thưa thớt không đạt độ che phủ. Tương tự, huyện Bắc Trà My cũng chỉ trồng cây sao đen trên diện tích rừng trồng thay thế khá lớn. Được biết, việc TRTT ở nhiều nơi trên địa bàn tỉnh Quảng Nam còn rất sơ sài, chủng loại cây trồng không được chọn lựa kỹ lượng theo thổ nhưỡng, khí hậu và chức năng của cây. Điều này không chỉ làm cho đa dạng sinh học bị suy giảm mà còn làm giảm chất lượng rừng trồng vì khả năng sinh trưởng và phát triển của cây. Thực tế cho thấy, một số khu vực rừng trồng có thực bì phát triển nhanh hơn cả cây trồng. Trong khi công tác chăm sóc rừng trồng, phát dọn thực bì chỉ triển khai 2 năm đầu không đủ để cây trồng có điều kiện sinh trưởng và phát triển. Luận văn: Thực trạng bảo vệ và phát triển rừng theo pháp luật.
Tình trạng người dân trồng keo, canh tác trên đất rừng phòng hộ đã làm ảnh hưởng đến độ che phủ rừng. Nhiều khu rừng đang rậm rạp cây xanh với nhiều chủng loại cây cũng bị người dân phát dọn để lấy đất làm kinh tế. Nhiều nơi, rừng đang phát triển tốt cũng được chặt hết để trồng rừng thay thế
Các dự án trồng rừng trên địa bàn tỉnh đều không thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật mà trong các quyết định giao đất, giao rừng, cho thuê đất để trồng rừng của cấp có thẩm quyền đều có điều khoản ghi rõ trách nhiệm tuân thủ các quy định về Bảo vệ và phát triển rừng. Việc không tích cực xây dựng và thực hiện các phương án Phòng cháy chữa cháy rừng theo nội dung, yêu cầu của pháp luật đã là nguyên nhân của nhiều vụ cháy rừng gây ra nhiều thiệt hại lớn cho rừng và tài sản. Tình trạng phát dọn thực bì để trồng rừng không đúng đối tượng quy định cũng đã làm cho diện tích rừng khoanh nuôi để phục hồi thành rừng tự nhiên bị mất, suy giảm v.v…
- Biểu 2.5. Số liệu theo dõi cháy rừng từ năm 2013 – 2013
Số liệu tổng hợp cho thấy, thiệt hại do cháy gây ra là rất lớn. Bình quân mỗi năm toàn tỉnh trồng mới được trên 1.000 ha nhưng sau 5 năm cũng bị cháy trên 1.000 ha, như vậy cứ 5 năm lại bị cháy hết kết quả trồng của 1 năm, đó là chưa nói đến thiệt hại về sinh trưởng của rừng sau khi trồng. Đặc biệt, rừng bị cháy chủ yếu trên những diện tích rừng trồng bằng tiền ngân sách; nguyên nhân thì có nhiều, tuy nhiên nguyên nhân chính vẫn là nguyên nhân chủ quan, là việc chưa chấp hành nghiêm túc các quy định của pháp luật về công tác Phòng cháy chữa cháy rừng.
- Biểu 2.6. Các nguyên nhân làm mất rừng từ năm 2013 – 2017
Tình trạng Ủy ban nhân dân cấp huyện và xã chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm Bảo vệ và phát triển rừng của mình theo quy định của pháp luật, khoán trắng việc Bảo vệ và phát triển rừng cho Kiểm lâm vẫn còn diễn ra, nhất là ở cấp xã. Việc lãnh đạo, điều hành, phối hợp các cơ quan, bộ phận làm công tác Bảo vệ và phát triển rừng trong địa bàn để thực hiện nhiệm vụ Bảo vệ và phát triển rừng chưa đạt hiệu quả cao. Trước những bức xúc và yêu cầu của đời sống trước mắt của người dân địa phương, do tư tưởng cục bộ địa phương nên nhiều hành vi vi phạm pháp luật về Bảo vệ và phát triển rừng còn bị làm ngơ, xử lý không nghiêm, thậm chí đã có một số cán bộ xã, huyện, kiểm lâm địa bàn tiếp tay cho hành vi khai thác rừng trái phép. Thực trạng đó thể hiện việc chấp hành pháp luật không nghiêm của một số cơ quan quản lý nhà nước về BVR, thể hiện sự yếu kém, thiếu trách nhiệm cả về trình độ năng lực chuyên môn và nghiệp vụ phẩm chất của một số cán bộ trong cơ quan quản lý nhà nước. Thực trạng này để lại hậu quả tiêu cực lâu dài đến môi trường sống, kỷ cương của pháp luật bị xâm phạm, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước trong lĩnh vực Bảo vệ và phát triển rừng không cao.
Các chủ rừng và các chủ thể pháp luật có liên quan đều quan tâm đến việc sử dụng các quyền của mình để Bảo vệ và phát triển rừng trên diện tích được giao nhưng vì thiếu hiểu biết hoặc hiểu không đúng về các quyền mà pháp luật cho phép, từ đó có các hành vi vi phạm, lạm quyền trong lĩnh vực Bảo vệ và phát triển rừng. Ví dụ, chủ rừng tự ý đặt ra các barie bảo vệ rừng, tự ý thu các lệ phí cho hoạt động trong rừng của họ được giao; hoặc đặt ra các quy định về Bảo vệ và phát triển rừng làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác v.v.. từ đó dẫn đến các tranh chấp, khiếu kiện không đáng có.
Sự yếu kém của các cơ quan thi hành pháp luật Bảo vệ và phát triển rừng thể hiện trong các hoạt động thực hiện pháp luật về Bảo vệ và phát triển rừng như tuyên truyền giáo dục pháp luật về Bảo vệ và phát triển rừng trong cộng đồng, tổ chức cho các chủ thể có liên quan tuân thủ, chấp hành và sử dụng pháp luật về Bảo vệ và phát triển rừng, kiểm tra, xử lý các vi phạm, bảo đảm chấp hành pháp luật về Bảo vệ và phát triển rừng. Luận văn: Thực trạng bảo vệ và phát triển rừng theo pháp luật.
Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về Bảo vệ và phát triển rừng trong cộng đồng dân cư, thôn bản còn hạn chế về nhiều mặt. Các hình thức tuyên truyền còn đơn điệu, chưa thường xuyên, chưa sâu, còn mang nặng tính hình thức. Các quy ước Bảo vệ và phát triển rừng chưa phù hợp với đặc điểm của từng thôn, bản, chưa được kiểm điểm đánh giá hiệu quả thường xuyên, dẫn đến ý thức Bảo vệ và phát triển rừng của người dân chưa cao.
Còn nhiều tồn tại trong việc nắm tình hình Bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn, việc thiếu kiểm tra, giám sát thực hiện pháp luật của các doanh nghiệp lâm nghiệp, chậm xử lý hoặc xử lý chưa kiên quyết và còn nương nhẹ, đặc biệt đối với các công ty lâm nghiệp nhà nước có vi phạm pháp luật về Bảo vệ và phát triển rừng đã gián tiếp làm cho các vi phạm xảy ra trong việc phát rừng tự nhiên nghèo kiệt đi để trồng lại rừng. Công tác quản lý chuyển đổi mục đích sử dụng rừng cũng còn sự buông lỏng, thiếu kiểm tra, giám sát dẫn đến thực hiện không đúng quy định. Việc sử dụng rừng, đào bới, san gạt, lấn chiếm xâm hại rừng tự nhiên còn phổ biến và có lúc nóng bỏng do nhu cầu về đất làm dự án, phát triển kinh tế trang trại vườn rừng của các tổ chức và cá nhân, hộ gia đình, phá rừng để lấy đất ở v.v… Đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về Bảo vệ và phát triển rừng còn nhiều yếu kém về trình độ, năng lực chuyên môn, nhất là ở cấp xã là cấp trực tiếp Bảo vệ và phát triển rừng. Còn có nhiều tiêu cực, nhiều khuyết điểm gây bất bình và mất lòng tin trong nhân dân. Khuyết điểm về phẩm chất, thiếu tinh thần trách nhiệm, quan liêu, sách nhiễu, tham nhũng vẫn xảy ra trong hệ thống một số cơ quan bảo vệ rừng. Còn nhiều địa phương, chủ yếu là cấp xã chưa quan tâm, không nắm bắt được tình hình vi phạm các quy định Bảo vệ và phát triển rừng ở địa phương. Còn có hiện tượng cán bộ, công chức tiếp tay, làm ngơ cho các hành vi phá rừng để trục lợi cá nhân.
Mặt bằng trình độ nghiệp vụ, chuyên môn, kiến thức pháp luật của lực lượng Kiểm lâm còn thấp, chưa theo kịp yêu cầu đổi mới, hạn chế đến kết quả hoạt động (nhất là Kiểm lâm địa bàn). Nghiệp vụ điều tra, khởi tố các vụ án hình sự còn yếu, chỉ có một số ít kiểm lâm viên nắm được các trình tự thủ tục để lập hồ sơ một vụ án hình sự. Một số cán bộ công chức thi hành pháp luật về Bảo vệ và phát triển rừng còn bị đồng tiền tha hoá, biến chất, giảm sút về phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức. “Con sâu làm rầu nồi canh” làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với cán bộ làm công tác giữ rừng.
Mặt khác, về khách quan, cơ chế chính sách của ngành Kiểm lâm như quyền hạn, trang bị, quy định về việc sử dụng vũ khí trong thực thi nhiệm vụ, trong việc tự bảo vệ mình “Kiểm lâm bảo vệ rừng, ai bảo vệ kiểm lâm?”, quy định về thang ngạch bậc công chức, chế độ và chính sách đãi ngộ chưa phù hợp với đặc điểm hoạt động của ngành, chưa được quan tâm thoả đáng. Các đối tượng là lái xe, là nhân viên phục vụ trong ngành không được hưởng chế độ thâm niên nghề, không được hưởng chế độ ưu đãi ngành dẫn đến bức xúc về tâm lý và hiệu quả công tác v.v… ; sự đầu tư cho hoạt động của ngành Kiểm lâm mang tính đặc thù chưa đáp ứng được và chưa tương xứng với tính chất, mức độ nhiệm vụ được giao nên ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả thực hiên pháp luật về Bảo vệ và phát triển rừng. Luận văn: Thực trạng bảo vệ và phát triển rừng theo pháp luật.
- Biểu 2.7. Kết quả xử lý theo loại hình vi phạm từ năm 2005 – 2009
Phân tích biểu 2.7 cho thấy, bình quân mỗi năm có trên 650 vụ vi phạm pháp luật Bảo vệ và phát triển rừng bị phát hiện và xử lý, con số trong thực tế chắc chắn sẽ lớn hơn nhiều lần. Qua phân tích cũng cho thấy do đặc điểm của tỉnh Quảng Nam rất thuận lợi cho thông thương, giao lưu hàng hoá, có nhu cầu sử dụng lâm sản cao nên loại hình vi phạm mua, bán, vận chuyển lâm sản trái phép chiếm tỷ lệ lớn (47,5%) trong tổng số các vụ vi phạm. Tỷ lệ 1.340 trên 3.374 vụ (bằng 39,7%) không xác định được đối tượng vi phạm (vô chủ) cho thấy tính phức tạp trong cuộc đấu tranh chống các hành vi vi phạm, truy tìm đối tượng vi phạm. Tỷ lệ này cũng phản ánh những tồn tại, yếu kém về năng lực thừa hành pháp luật, điều kiện trang bị hoạt động của cơ quan áp dụng pháp luật về BVR, trong đó chủ yếu là của lực lượng Kiểm lâm.
Số vụ khởi tố xử lý hình sự chỉ chiếm một tỷ lệ thấp (45/3.374 vụ trong 5 năm, chiếm tỷ lệ 1,33%). Mức án đã tuyên chủ yếu là án treo nên không đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa. Thực tế, có đối tương vi phạm lại mong được xử lý hình sự do nếu bị xử phạt hành chính sẽ bị thiệt hại hơn về kinh tế vì “hình sự thì chỉ án treo mà lại không bị phạt nhiều tiền”. Hiện vẫn còn nhiều khi có bất cập, có những quan điểm, đánh giá khác nhau giữa các cơ quan thi hành pháp luật về tính chất và mức độ của một vụ vi phạm pháp luật BVR, dẫn đến các quan điểm khác nhau khi xử lý vi phạm đã làm giảm tác dụng răn đe, giáo dục, của công tác xử lý, phần nào làm nhờn kỷ cương phép nước.
Cơ cấu, tỷ lệ 3 loại rừng: Rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng thay đổi. Diện tích rừng sản xuất tăng, giảm diện tích rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, cùng với đó là sự gia tăng các nguyên nhân, các hậu quả tiêu cực của phát triển kinh tế làm ảnh hưởng xấu đến môi trường. Sự thay đổi cơ cấu diện tích 3 loại rừng như sau:
- Biểu 2.8. Thực trạng diện tích 03 loại rừng từ năm 2013 – 2017
Từ biểu thống kê trên thấy, diện tích có rừng qua 5 năm tăng 12% bằng 33.348,8 ha; trong đó, diện tích rừng sản xuất tăng 39,2% bằng 50.825,5 ha. Tuy nhiên, diện tích rừng phòng hộ và rừng đặc dụng lại giảm đi 12,6% bằng 17.570,5 ha. Điều đó phản ánh xu hướng phát triển rừng sản xuất, rừng kinh tế và sự giảm đi diện tích rừng phòng hộ, rừng đặc dụng. Từ phân tích biểu số liệu trên cho thấy: Luận văn: Thực trạng bảo vệ và phát triển rừng theo pháp luật.
Công tác phát triển rừng tự nhiên tăng phản ánh xu hướng phát triển rừng sản xuất, rừng kinh tế làm ảnh hưởng đến rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, phát triển không thuần theo tự nhiên và không đúng theo quy định của pháp luật. Đồng nghĩa với việc phát triển diện tích rừng sản xuất, rừng trồng vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng hiện hành thông qua các hành vi chặt phá rừng cấm để mở rộng diện tích rừng sản xuất để làm kinh tế như: Trồng keo, trồng sao đen, cao su… Tình hình vi phạm đối với rừng tự nhiên còn diễn biến phức tạp ở nhiều địa phương trong tỉnh, nhất là khu vực các huyện miền núi có diện tích rừng tưn nhiên lớn, một số vụ phá rừng nghiêm trọng, nhưng chậm bị phát hiện và xử lý ở các các địa phương: Đông Giang, Nam Giang, Tiên Phước,… xử lý vi phạm thiếu kiên quyết, nhất quán; thậm chí có biểu hiện né tránh trách nhiệm, làm ngơ, tiếp tay cho người phá rừng, gây thiệt hại lớn đối với tài nguyên rừng, kỷ cương pháp luật không được thực hiện nghiêm túc, gây bức xúc trong xã hội. Thực hiện chủ trương đóng cửa rừng tự nhiên nhằm bảo vệ diện tích rừng tự nhiên hiện có, ngăn chặn và hướng đến chấm dứt tình trạng suy thoái rừng về số lượng cũng như chất lượng là cần thiết và đúng đắn, tuy nhiên về lâu, về dài đóng cửa rừng tự nhiên không phải là giải pháp hay bởi lẽ tài nguyên rừng là tài nguyên có tái tạo. Việc đóng cửa rừng một cách triệt để và tức thời đã ảnh hưởng nhất định đến ngành lâm nghiệp nói riêng và kinh tế xã hội nói chung.
Công tác phát triển phòng hộ chưa tốt, diện tích rừng phòng hộ liên tục suy giảm qua các năm. Công tác quy hoạch, bảo vệ, phát triển rừng thiếu đồng bộ với quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội. Trong đó, nhiều dự án phát triển chưa chú trọng đến bảo vệ, phát triển rừng làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sinh thái, suy giảm chất lượng rừng gây nguy cơ sạt lở rừng ngày một tăng cao, đặc biệt các dự án thủy điện, tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác lâm sản trái pháp luật, nhất là đối với rừng phòng hộ vẫn tiếp tục diễn ra phức tạp như: Trong thời gian qua, dư luận hết sức quan tâm vụ chặt phá rừng phòng hộ tại huyện Nam Giang, Đông Giang, Phước Sơn, Tiên Phước,… Diện tích rừng phòng hộ đang dần bị mất đi, thảm thực vật bị chia cắt, phân mảnh dẫn tới chất lượng rừng suy giảm, tình trạng khai thác, chặt phá rừng trái phép đang tiếp diễn trong các năm qua và ngày càng có xu hướng phức tạp, đặc biệt là các khu tiếp giáp hồ chứa thủy điện, đường giao thông, sản xuất nông nghiệp.
Công tác phát triển rừng đặc dụng: Trong 5 năm, diện tích rừng đặc dụng đã giảm 1,4 triệu ha (năm 2017, Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Quảng Nam, theo biểu số 2,8). Không chỉ giảm về số lượng, những ai quan tâm đến rừng đặc dụng đều lo lắng cho chất lượng rừng. Hệ thống rừng đặc dụng tỉnh Quảng Nam đang đối mặt với tình trạng suy giảm đa dạng sinh học do tác động của con người, do nhu cầu, lợi nhuận từ lâm sản và động vật rừng ngày càng cao trong khi việc quản lý bảo vệ rừng của các lực lượng kiểm lâm còn yếu, thiếu sự phối kết hợp giữa các cấp chính quyền địa phương. Việc chuyển mục đích sử dụng rừng đặc dụng để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội các công trình thủy điện, khai thác khoáng sản, hạ tầng cơ sở… một mặt tạo áp lực lớn đối với quản lý bảo vệ rừng, mặt khác tạo điều kiện cho các hoạt động phá rừng, khai thác và vận chuyển lâm sản trái phép. Công tác bảo vệ và phát triển cây Di sản Việt Nam đối với quần thể Pơ mu tại huyện Tây Giang có dấu hiệu vi phạm pháp luật theo quy định hiện hành, địa phương tự ý mở tuyến đường giao thông và xây dựng hơn 10 ngôi nhà vào quần thể cây Di sản Việt Nam trong khi chưa được cấp có thẩm quyền điều chỉnh quy hoạch, trong quá trình mở đường, san ủi mặt bằng để xây dựng nhà đã chặt phá nhiều loài cây thuộc rừng đặc dụng (khu vực 725 cây Pơ mu nguyên sinh tại đỉnh núi Zi’liêng, thuộc xã Tr’hy, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam vừa được Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam công nhận là Cây Di sản Việt Nam và được hưởng các điều kiện ưu đãi theo quy định của Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam),….Dự án thủy điện Sông Tranh làm giảm diện tích rừng phòng đặc dụng thuộc khu bảo tồn Sông Tranh, vụ chặt phá rừng Pơ mu, rừng lim tại gần cửa khẩu huyện Nam Giang giáp với nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào làm giảm diện tích và ảnh hưởng nặng nề rừng đặc dụng thuộc khu bảo tồn Sông Thanh,… Luận văn: Thực trạng bảo vệ và phát triển rừng theo pháp luật.
Công tác giao đất rừng và quản lý, sử dụng đất rừng trên địa bàn tỉnh cũng còn một số hạn chế như: Việc giải quyết những vấn đề nảy sinh sau khi điều chỉnh lại quy hoạch 3 loại rừng còn chậm; tỷ lệ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp còn thấp; hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp chưa cao; chưa đánh giá được chất lượng, trữ lượng rừng khi giao đất, giao rừng cho các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân, hộ gia đình; hiện có nhiều hộ gia đình, cá nhân đang sinh sống tại khu vực đất rừng có cuộc sống phụ thuộc vào rừng, có nhu cầu được giao đất rừng để sản xuất nhưng chưa được giao đất rừng, hoặc không còn đất rừng để giao; tình trạng chuyển đổi mục đích sử dụng rừng và đất rừng trái phép để lấy đất sản xuất, xây dựng công trình còn xảy ra ở một số địa phương trong tỉnh. Hiện nay, tại nhiều địa phương trong tỉnh, diện tích rừng chưa giao hiện do Ủy ban nhân dân xã quản lý vẫn còn tương đối nhiều, một bộ phận hộ gia đình sống trên đất rừng, gần rừng vẫn còn thiếu đất sản xuất hoặc chưa được giao đất rừng để sản xuất dẫn đến tình trạng đất rừng bị xâm lấn, rừng bị chặt phá và khai thác trái phép để lấy đất sản xuất, làm nương rẫy,…
Về xử lý vi phạm pháp luật trong Bảo vệ và phát triển rừng: Người dân không có quyền và không được hưởng lợi gì khi tham gia giải quyết các trường hợp vi phạm lâm luật trong rừng của mình. Mặc dù rừng đã được nhà nước giao cho hộ gia đình, nhóm hộ và cộng đồng quản lý nhưng các “chủ rừng” này vẫn không có quyền gì trong việc giải quyết các vi phạm lâm luật trên diện tích rừng đã được giao cho họ. Cả hộ gia đình, nhóm hộ và cộng đồng đều cho rằng khi đi tuần tra bắt gặp người khai thác trái phép gỗ và các lâm sản khác trên rừng của mình thì họ không biết phải xử lý như thế nào ngoài việc nhắc nhở người vi phạm không được phá rừng và nếu có thể thì đuổi họ ra khỏi rừng. Trường hợp điển hình là trường hợp hộ gia đình anh Arất Trong ở xã Avương, huyện Tây Giang tỉnh Quảng Nam. Mặc dù là chủ rừng, nhưng khi phát hiện rừng của gia đình mình bị người ngoài địa phương đến khai thác gỗ trái phép, anh phải đành nhìn các đối tượng đó ngang nhiên chặt gỗ mang ra khỏi rừng vì không có quyền tạm giữ họ cũng như lập biên bản vi phạm hành chính. Do rừng ở quá xa khu dân cư, có khi phải đi một ngày đường mới tới nơi nên anh Trong cũng không thể báo cho Ủy ban nhân dân xã hoặc kiểm lâm đến tận nơi để xử lý được.
Mặc khác, các chính sách quy định về việc giải quyết các vụ vi phạm luật lâm nghiệp trên diện tích rừng đã giao cho người dân của các cơ quan chức năng cũng tạo ra sự thiếu công bằng, làm mất lòng tin của người dân về chính sách giao rừng. Nhiều trường hợp các hộ gia đình khi phát hiện tang vật là gỗ trong rừng của mình do người phá rừng bỏ lại, họ phải bỏ công sức ra để vận chuyển tang vật về giao nộp cho kiểm lâm huyện xử lý. Tuy nhiên, kết quả xử lý như thế nào thì người dân không được biết do cơ quan kiểm lâm không có phản hồi cũng như họ không hề được hỗ trợ công cán gì khi vận chuyển tang vật từ rừng xa về giao nộp lại cho các cơ quan chức năng. Bên cạnh việc thiếu cơ chế hưởng lợi, do không được quyền xử lý các vụ vi phạm luật cũng như nếu có tham gia xử lý thì cũng không được hưởng lợi gì nên người dân cũng dần dần giảm đi ý chí bảo vệ rừng các khu rừng mà nhà nước đã giao cho họ. Luận văn: Thực trạng bảo vệ và phát triển rừng theo pháp luật.
- Tồn tại, hạn chế trong công tác kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng theo pháp luật tại tỉnh Quảng Nam
Công tác lập quy hoạch, kế hoạch Bảo vệ và phát triển rừng chưa được coi trọng đúng mức và chưa được thực hiện theo đúng quy định của nhà nước, đây cũng là một trong những nguyên nhân làm giảm hiệu quả của thực hiện pháp luật về Bảo vệ và phát triển rừng. Công tác quy hoạch Bảo vệ và phát triển rừng tại tỉnh Quảng Nam được đánh giá là khâu yếu của ngành lâm nghiệp. Một số tồn tại, hạn chế như: Thiếu sự liên kết giữa các địa phương trong tỉnh và ngoài tỉnh; trật tự quy hoạch chưa bảo đảm, quy hoạch lâm nghiệp toàn quốc, vùng chưa được lập… nên không có cơ sở cho các quy hoạch nhỏ hơn; công tác quy hoạch 03 loại rừng chưa sát với thực tế và tính khả thi không cao….
Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội chậm nên thiếu căn cứ cho xây dựng quy hoạch lâm nghiệp. Quan hệ giữa quy hoạch lâm nghiệp với các quy hoạch khác còn mâu thuẫn, chồng chéo, từ khâu khảo sát thông tin, phân tích, dự báo, đến các giải pháp thực hiện… làm giảm hiệu lực, hiệu quả của quy hoạch. Bên cạnh đó, chất lượng quy hoạch lâm nghiệp còn thấp, kém khả thi, chưa gắn với nguồn lực thực hiện, việc phân định nội dung các loại quy hoạch, cấp độ quy hoạch chưa rõ ràng, dẫn đến sự trùng lắp…
Thực trạng công tác quy hoạch Bảo vệ và phát triển rừng tại tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2011-2020, cụ thể như sau:
- Biểu 2.9. Diện tích quy hoạch 03 loại rừng tính đến năm 2020
Qua biểu phân tích số liệu số 2.10 cho thấy quy hoạch diện tích đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh đến năm 2020 là 729.756,8 ha (trong đó, rừng đặc dụng 139.895,8 ha; rừng phòng hộ 315.812,5 ha; rừng sản xuất 274.048,5 ha).
Công tác quy hoạch, kế hoạch quản lý, bảo vệ toàn bộ diện tích đất có rừng, bao gồm rừng tự nhiên và rừng trồng thuộc rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất; giao khoán bảo vệ rừng đối với toàn bộ diện tích đất có rừng thuộc quy hoạch phòng hộ, đặc dụng và diện tích rừng tự nhiên thuộc quy hoạch sản xuất thực được triển khai thực hiện nhưng chưa sát với tình hình thực tế của địa phương và tính khả thi để đạt được không cao. Luận văn: Thực trạng bảo vệ và phát triển rừng theo pháp luật.
Công tác quy hoạch khoanh nuôi tái sinh rừng, khoanh nuôi bảo vệ rừng được áp dụng cho rừng đặc dụng và phòng hộ; công tác thiết lập các vùng sản xuất lâm nghiệp, quy hoạch, kế hoạch trồng rừng mới được đã được ban hành nhưng tính khả thi trong thực hiện chưa cao. Diện tích trong quy hoạch trồng rừng mới đặt ra cao nên khó thực hiện, cụ thể là: 26.313 ha (trong đó, trồng rừng phòng hộ: 1.913 ha; trồng rừng đặc dụng: 110 ha; trồng rừng sản xuất: 23.290 ha).
Công tác quy hoạch lại ba loại rừng cũng đã được thực hiện xong nhưng đã bộc lộ một số điểm bất hợp lý gây ảnh hưởng đến công tác quản lý của các cơ quan chức năng cũng như sinh kế của người dân sống gần rừng:
Việc quy hoạch đất rừng sản xuất và rừng phòng hộ ở nhiều địa phương trong tỉnh chưa sát với thực tế. Một số diện tích được quy hoạch là rừng tự nhiên nhưng kiểm tra thực tế lại không có rừng, một số diện tích đất chưa sử dụng, đất khác nằm ngoài quy hoạch lại có rừng tự nhiên. Trong thời gian qua, các huyện trong tỉnh đã giao nhiều diện tích rừng tự nhiên nằm ngoài qui hoạch 3 loại rừng, do vậy trong quyết định giao rừng không ghi đây là rừng phòng hộ hay rừng sản xuất. Bên cạnh đó, một số diện tích rừng tự nhiên có chức năng phòng hộ ở xa khu dân cư, vùng biên giới (như ở xã Tr’hy, xã Axan, huyện Tây Giang) nhưng lại qui hoạch là rừng sản xuất.
Việc qui hoạch 3 loại rừng đã bộc lộ nhiều điểm bất hợp lý như: i) có sự chồng chéo giữa quy hoạch khoáng sản và qui hoạch lâm nghiệp trên cùng một vị trí, diện tích đất lâm nghiệp, ii) có sự chồng chéo giữa đất thổ cư gần rừng và đất lâm nghiệp. Điều này đã dẫn đến việc lập bản đồ quy hoạch 3 loại rừng không phù hợp với điều kiện thực tế ở từng địa phương. Còn theo người dân có rừng thì nhiều diện tích rừng của hộ gia đình (đã được giao theo Nghị đinh số 02/1994/NĐ-CP trước đây) đã bị quy hoạch thành rừng phòng hộ mặc dù trên các diện tích đó người dân đang trồng rừng kinh tế hoặc tự chuyển đổi sang trồng cây nông lâm nghiệp để cải thiện thu nhập. Thậm chí nhiều khu vực rừng ở gần ngay khu dân cư cũng được qui hoạch thành rừng phòng hộ như trường hợp ở thôn A’ur, xã Avương, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam,…
Những bất cập trong công tác quy hoạch Bảo vệ và phát triển rừng dẫn tới tình trạng chuyển đổi mục đích sử dụng rừng một cách ồ ạt, đặc biệt là sang làm thủy điện, khai thác khoáng sản, xây dựng hạ tầng nông thôn, tái định cư. Tình trạng xâm lấn, phá rừng trái pháp luật để trồng những loại cây nông nghiệp có giá trị cao diễn ra phổ biến. Quy hoạch không gắn với vùng nguyên liệu, quản lý thiếu kiểm tra, giám sát, đặc biệt đối với xưởng chế biến gỗ gần rừng đã làm gia tăng tình trạng phá rừng và mua bán gỗ bất hợp pháp. Bên cạnh đó, việc triển khai thực hiện quy hoạch chậm cũng dẫn đến nhiều hệ quả. Việc chuyển mục đích sử dụng rừng sang thực hiện dự án không được điều chỉnh trong quy hoạch sử dụng đất; quy hoạch, kế hoạch Bảo vệ và phát triển rừng nên dẫn đến tình trạng quy hoạch luôn bị phá vỡ, nhiều dự án chưa chấp hành nghĩa vụ trồng rừng thay thế và đánh giá tác động môi trường, như: Dự án thủy điện Sông Tranh, Sông Bung, Avương; nhất là những sai phạm tại các dự án phát triển kinh tế, xã hội trồng cao su những năm trước vẫn tồn tại chưa được giải quyết dứt điểm; đáng quan tâm là một số nơi có biểu hiện vì lợi ích trước mắt, cục bộ địa phương.
2.3.3. Nguyên nhân những khó khăn, tồn tại trong công tác bảo vệ và phát triển rừng theo pháp luật tại tỉnh Quảng Nam Luận văn: Thực trạng bảo vệ và phát triển rừng theo pháp luật.
- Nguyên nhân chủ quan
Thứ nhất, do ý thức pháp luật nói chung và ý thức pháp luật về Bảo vệ và phát triển rừng của các chủ rừng, của người dân và các chủ thể có liên quan chưa cao. Một là họ thiếu hiểu biết quy định của pháp luật về Bảo vệ và phát triển rừng từ đó vô ý vi phạm; hai là họ biết quy định của pháp luật về Bảo vệ và phát triển rừng nhưng do lợi ích cá nhân, nếu tự giác thực hiện sẽ có thiệt hại về kinh tế, vật chất, sức lực của họ nên họ cố ý bỏ qua không tự giác chấp hành các quy định về Bảo vệ và phát triển rừng.
Thứ hai, do chưa làm tốt công tác phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật. Công tác tuyên truyền toàn dân tham gia Bảo vệ và phát triển rừng chưa thường xuyên, hình thức tuyên truyền còn đơn giản, chiếu lệ, không có hiệu quả, chậm khắc phục được sự hạn chế, thiếu ý thức tự giác tuân thủ và chấp hành pháp luật về Bảo vệ và phát triển rừng của người dân.
Thứ ba, việc đào tạo nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức quản lý nhà nước trong lĩnh vực Bảo vệ và phát triển rừng chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ về nhiều mặt, đào tạo trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ còn thiên về số lượng, chưa chú trọng đến vấn đề đảm bảo chất lượng đào tạo. Xử lý, kỷ luật cán bộ chưa nghiêm, còn nặng về tình cảm, thiếu tính giáo dục, làm gương; Nhiều nơi, nhiều lúc chưa thực sự tuân thủ các quy định của pháp luật trong công tác xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực Bảo vệ và phát triển rừng.
Thứ tư, hệ thống các cơ quan nhà nước có chức năng thừa hành pháp luật về Bảo vệ và phát triển rừng còn bộc lộ sự chưa đồng bộ, thiếu thống nhất và vẫn đang trong quá trình hoàn thiện từ trung ương đến địa phương. Chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước trong lĩnh vực Bảo vệ và phát triển rừng của Ủy ban nhân dân các cấp và của các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành tuy đã được quy định trong Luật Bảo vệ và phát triển rừng nhưng trong thực tiễn còn có nhiều chồng chéo trong quản lý cũng như trong công tác thanh tra và kiểm tra trong lĩnh vực Bảo vệ và phát triển rừng.
Hệ thống quy định của pháp luật về Bảo vệ và phát triển rừng thiếu đồng bộ; sự chồng chéo giữa các văn bản quy phạm pháp luật của các ngành luật khác nhau khi điều chỉnh cùng một quan hệ xã hội trong lĩnh vực Bảo vệ và phát triển rừng đã gây rất nhiều khó khăn cho hoạt động áp dụng pháp luật trong lĩnh vực này. Thủ tục hành chính trong giao đất, giao rừng, khoán Bảo vệ và phát triển rừng còn rườm rà, gây khó khăn cho việc thực hiện pháp luật về Bảo vệ và phát triển rừng.
Việc thực hiện xã hội hóa hoạt động Bảo vệ và phát triển rừng chưa có chuyển biến rõ rệt, quản lý rừng và đất rừng còn nhiều bất cập, tiến độ giao đất, giao rừng chậm. Vẫn còn nhiều bất cập trong việc xây dựng và thực hiện các chính sách quản lý của nhà nước từ trung ương trong việc gắn việc Bảo vệ và phát triển rừng với phát triển xã hội miền núi.
Thứ năm, nguyên nhân của việc quy hoạch rừng không hợp lý được giải thích một phần là do cán bộ quy hoạch không tham vấn ý kiến của người dân trước khi quy hoạch, hơn nữa họ cũng ít xem trọng vai trò, tiếng nói của chính quyền cấp xã trong việc quy hoạch đất rừng và nhiều nguyên nhân khác. Luận văn: Thực trạng bảo vệ và phát triển rừng theo pháp luật.
- Nguyên nhân khách quan
Nền kinh tế đang phát triển mạnh, đa dạng về ngành nghề, các ngành kinh tế như công nghiệp khai thác khoáng sản, ngành du lịch, ngành xây dựng. Sự gia tăng nhu cầu sử dụng các loại sản phẩm, hàng hoá có nguồn gốc từ rừng đã là nguyên nhân khách quan làm gia tăng các hành vi vi phạm trong lĩnh vực Bảo vệ và phát triển rừng.
Do đặc điểm tự nhiên của tỉnh; rừng trải rộng trên địa bàn lớn, trong khi sức ép dân số lên đất rừng và lâm sản gia tăng, khu vực miền núi thiếu đất sản xuất. Sự thuận lợi về thông thương, giao lưu hàng hoá, với thị trường trong và ngoài nước luôn luôn hấp dẫn các hành vi buôn bán lâm sản, động vật rừng trái phép từ các nơi trong nước và nước ngoài qua Quảng Nam nên vi phạm trong lĩnh vực này luôn diễn ra phức tạp. Kéo theo đó là sự xâm hại, khai thác tài nguyên rừng sẵn có của địa phương như các loại dược liệu, cây cảnh, động vật có nguồn gốc từ rừng Quảng Nam; điều đó đã làm cho công tác Bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn có những khó khăn do đặc thù riêng.
2.4. Đánh giá chung về công tác bảo vệ và phát triển rừng theo pháp luật hiện hành tại tỉnh Quảng Nam
Thực hiện lời dạy của Hồ Chủ tịch: “Phá rừng thì dễ, nhưng gây lại rừng thì phải mất hàng chục năm. Phá rừng nhiều như vậy sẽ ảnh hưởng đến khí hậu, ảnh hưởng đến sản xuất, đời sống rất nhiều. Ta thường nói “rừng vàng biển bạc”. Rừng là vàng nếu mình biết bảo vệ, xây dựng thì rừng rất quý”, công tác Bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam ngày càng tốt hơn đã làm cho rừng trồng phát triển và ngày càng đóng góp nhiều hơn cho sự tăng trưởng kinh tế – xã hội của tỉnh. Những quan điểm, chủ trương, đúng đắn của Đảng, những chính sách, quy định cụ thể phù hợp với từng thời kỳ, từng giai đoạn của Nhà nước và của địa phương về xã hội hoá nghề rừng, xã hội hoá công tác Bảo vệ và phát triển rừng đã tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho thực hiện pháp luật về Bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.
Cũng xuất phát từ đặc điểm, ảnh hưởng, vai trò, vị trí quan trọng của rừng đối với đời sống và sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh nên những năm qua, công tác Bảo vệ và phát triển rừng theo pháp luật luôn được các cấp đảng, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong tỉnh quan tâm. Công tác Bảo vệ và phát triển rừng được thực hiện ngày càng có hiệu quả theo quy hoạch và kế hoạch chung. Xã hội hoá công tác Bảo vệ và phát triển rừng có nhiều chuyển biến tốt. Nhận thức của cộng đồng, của cấp uỷ và chính quyền địa phương, của nhân dân đối với nhiệm vụ Bảo vệ và phát triển rừng, đối với việc giữ rừng ngày càng được nâng cao. Các diện tích rừng phòng hộ, rừng đặc dụng được trú trọng bảo vệ. Rừng sản xuất được sử dụng tốt cho mục tiêu kinh tế; nhiều khu rừng trồng đã được tái tạo và phát huy tốt tác dụng. Độ che phủ của rừng ngày càng tăng, từ 40% năm 2013 đến năm 2017 đã đạt 49% và đang phấn đấu đạt 50% vào năm 2020 theo đúng chỉ tiêu đại hội tỉnh Đảng bộ tỉnh Quảng Nam lần thứ XXI đã đặt ra. Luận văn: Thực trạng bảo vệ và phát triển rừng theo pháp luật.
Tuy nhiên, công tác Bảo vệ và phát triển rừng theo pháp luật hiện hành trên địa bàn tỉnh Quảng Nam còn nhiều tồn tại và gặp phải không ít khó khăn. Tình trạng phá rừng tự nhiên để trồng rừng kinh tế, tình trạng khai thác lâm sản trái phép, nạn vận chuyển, mua bán kinh doanh hàng lâm sản qua biên giới, đặc biệt là động vật rừng diễn ra hết sức phức tạp. Các đối tượng vi phạm bất chấp các quy định của pháp luật để khai thác, vận chuyển, buôn bán, chế biến, cất giữ lâm sản trái phép. Tài nguyên rừng bị giảm sút về chất lượng, trữ lượng rừng ở các khu rừng phòng hộ, rừng đặc dụng bị suy giảm đã làm ảnh hưởng xấu tới nguồn nước, tới sự cân bằng môi trường sinh thái của tỉnh. Hàng năm, nạn cháy rừng vẫn xảy ra làm giảm sút diện tích rừng, gây tác động xấu đến quá trình phát triển bền vững của rừng; từ đó làm ảnh hưởng đến bảo vệ môi trường, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển kinh tế – xã hội nói chung.
Đặc biệt, việc tổ chức Bảo vệ và phát triển rừng theo pháp luật còn rất nhiều tồn tại, hạn chế. Còn nhiều sự chồng chéo hoặc có quan điểm khác nhau khi xử lý các vi phạm. Hoạt động phối hợp giữa các cơ quan thi hành pháp luật về Bảo vệ và phát triển rừng chưa được thường xuyên liên tục do thiếu ngân sách hoặc do thiếu kế hoạch. Trình độ nghiệp vụ tuân thủ pháp luật của cán bộ công chức còn hạn chế. Điều kiện, cơ sở vật chất cho tổ chức thực hiện pháp luật về Bảo vệ và phát triển rừng còn thiếu thốn v.v….
Như đã nêu ở trên, các quan hệ xã hội trong lĩnh vực Bảo vệ và phát triển rừng ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp. Tình trạng vi phạm quy định pháp luật về Bảo vệ và phát triển rừng cũng có những diễn biến đa dạng, phức tạp theo. Hàng năm, số vụ vi phạm và bắt giữ bình quân trên 650 vụ, số vụ trong thực tế còn lớn hơn nhiều; tình trạng chống người thi hành công vụ còn diễn ra phức tạp. Sự đầu tư về vật chất và con người cho hoạt động Bảo vệ và phát triển rừng còn hạn chế, chưa đủ mạnh để thực hiện tốt pháp luật, chưa đủ mạnh để trấn áp các đối tượng vi phạm v.v…
Qua kết quả phân tích đánh giá tình hình, chúng ta thấy việc đưa ra các biện pháp để phát huy ưu điểm, khắc phục những tồn tại, yếu kém của hoạt động Bảo vệ và phát triển rừng theo pháp luật hiện hành trên địa bàn tỉnh Quảng Nam là một đòi hỏi khách quan, cấp bách để bảo vệ tốt nguồn tài nguyên vô giá; đồng thời bảo đảm công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh một cách bền vững; hoà chung với sự phát triển của đất nước trong xu thế hội nhập và mở cửa; góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân.
Tiểu kết chương 2 Luận văn: Thực trạng bảo vệ và phát triển rừng theo pháp luật.
Quảng Nam là một tỉnh có những nét đặc thù rất riêng so với các địa phương khác trong cả nước; là một trong những địa phương có diện tích tự nhiên là rừng và đất rừng lớn với rất nhiều loại lâm sản quý hiếm; có nhiều diện tích rừng đặc dụng như: Khu bảo tồn Sao La, Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh, Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Tranh, Khu bảo tồn sâm Ngọc Linh, Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Voi,…
Với rất nhiều dân tộc khác nhau cùng sinh sống, trong đó phần lớn người dân tộc thiểu số sống ở vùng núi, vùng cao. Tài nguyên rừng là nguồn cung cấp các điều kiện sống cả về vật chất lẫn tinh thần cho người dân. Thói quen bao đời đã gắn người dân với rừng, đó là mối quan hệ hữu cơ khăng khít và mối quan hệ này sẽ còn tồn tại mãi mãi.
Với một vị trí, vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế – xã hội, dưới tác động của con người rừng Quảng Nam đã trực tiếp hoặc gián tiếp góp phần phát triển kinh tế xã hội địa phương. Càng ngày, con người càng nhận thức cao hơn, trân trọng hơn những giá trị mà rừng mang lại cho con người và càng ngày, chúng ta lại tìm tòi, đưa ra các biện pháp tốt hơn để bảo vệ rừng.
Tuy nhiên, cũng theo tốc độ phát triển của nền kinh tế – xã hội, nhu cầu sử dụng tài nguyên rừng càng ngày càng lớn lên. Mâu thuẫn khách quan giữa phát triển và bảo tồn, tác động mặt trái của nền kinh tế thị trường đã có những ảnh hưởng, tác động tiêu cực mạnh mẽ tới rừng. Diện tích rừng trồng vì mục tiêu kinh tế tăng lên, nhưng diện tích, chất lượng rừng phòng hộ, rừng đặc dụng ngày càng giảm đi, những hành vi phá rừng, đốt rừng, khai thác, vận chuyển, mua bán, kinh doanh lâm sản trái pháp luật luôn diễn ra phức tạp, đa dạng, đối tượng vi phạm ngày càng manh động, liều lĩnh, không từ thủ đoạn nào để thu lợi bất chính.
Từ lý luận chung về Bảo vệ và phát triển rừng theo pháp luật; việc phân tích, đánh giá vai trò, vị trí của rừng đối với đời sống kinh tế – xã hội địa phương giúp chúng ta nắm bắt được những nguyên nhân của cả những tác động tích cực và những tác động tiêu cực đến rừng. Qua phân tích thực trạng công tác bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh Quảng Nam, luận văn sẽ có cơ sở để đưa ra những quan điểm, giải pháp để thực hiện tốt hơn công tác bảo vệ và phát triển rừng theo pháp luật hiện hành tại chương 3 của luận văn. Luận văn: Thực trạng bảo vệ và phát triển rừng theo pháp luật.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp bảo vệ và phát triển rừng theo pháp luật

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Bảo vệ và phát triển rừng theo pháp luật Việt Nam