Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân tại VKSND hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân trong việc bảo vệ QCN – Từ thực tiễn kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự tại VKSND tỉnh Đắk Lắk dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Giá trị QCN được phổ biến rộng rãi trong cả nhân loại, là kết quả của quá trình đấu tranh và phát triển kéo dài của tất cả các dân tộc và nhân dân trên toàn cầu. Quyền của con người cần phải được thừa nhận bởi pháp luật, đó là những quyền tự nhiên, vốn có và được công nhận rộng rãi. Những quyền này được bảo vệ theo quy định của pháp luật và các thỏa thuận quốc tế, và áp dụng cho tất cả mọi người. Quyền con người được quan tâm từ dư luận các nước và có sự tác động mạnh mẽ tới chính trị, xã hội của mỗi quốc gia và quốc tế. Lần đầu tiên quy định về quyền dân sự, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân tại Chương 2 đã được Hiến pháp năm 2013 thực hiện. Điều này không chỉ là việc kế thừa từ các hiến pháp trước đó mà còn là sự thể hiện của chủ trương và tư duy mới của đất nước về việc phát huy yếu tố con người, xem con người như chủ thể, nguồn lực và mục tiêu của sự phát triển theo.
Khoản 3 Điều 107 Hiến pháp năm 2013 quy định rõ về nhiệm vụ bảo vệ QCN của VKSND. Vai trò, nhiệm vụ và quyền hạn của VKSND đã được tăng cường và làm rõ, không chỉ giới hạn ở công tác kiểm sát mà còn mở rộng ra kiểm sát các hoạt động của các cơ quan tư pháp. Để bảo vệ QCN và đảm bảo tính công bằng trong phiên họp và phiên tòa giải quyết các vụ việc dân sự, BLTTDS năm 2015 đã quy định rõ vai trò và thẩm quyền của VKSND, bao gồm việc tham gia vào phiên họp, phiên tòa để phát biểu ý kiến, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, cũng như thu thập chứng cứ và xác minh thông tin. Tuy nhiên, việc giải quyết các vụ việc dân sự vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế và vi phạm QCN trong hoạt động tố tụng. Những vi phạm này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến chủ thể được bảo vệ mà còn làm suy yếu vai trò và năng lực bảo vệ QCN của VKSND.
Điểm mới của Hiến pháp năm 2013 đã được quy định lần đầu tiên về nhiệm vụ bảo vệ QCN của VKSND. Thực tế cho thấy vi phạm QCN trong hoạt động TTDS của các cơ quan tư pháp vẫn diễn ra phổ biến. Yêu cầu và trách nhiệm bảo vệ QCN của VKSND cần được nghiên cứu, đánh giá, và thực tiễn bảo vệ QCN trong hoạt động tố tụng giải quyết các vụ việc dân sự của VKSND còn tồn tại nhiều hạn chế, khó khăn. Vì lẽ đó, đề tài “Trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân trong việc bảo vệ QCN – Từ thực tiễn kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự tại VKSND tỉnh Đắk Lắk” được chọn làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ nhằm đáp ứng yêu cầu cấp thiết hiện nay. Đề tài này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, nhằm mục tiêu giải quyết các hạn chế, khó khăn trong bảo vệ QCN và QCN trong hoạt động TTDS.
2. Tình hình nghiên cứu Luận văn: Trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân tại VKSND.
Vấn đề thực hiện trách nhiệm, thẩm quyền của VKS trong TTDS nói chung, đối với công tác kiểm sát việc giải quyết các tranh chấp dân sự nói riêng với mục tiêu bảo vệ QCN đã lôi cuốn sự chú ý của đông đảo tác giả. Qua quá trình khảo sát các công trình khoa học liên quan đến đề tài luận văn, tác giả nhận thấy thông thường các công trình đi vào nghiên cứu một lĩnh vực tố tụng gắn với vai trò bảo vệ hoặc bảo đảm QCN của VKSND, hoặc trong cả hoạt động tư pháp, hoặc nhấn mạnh đến vai trò của VKSND. Sản phẩm của hoạt động nghiên cứu các công trình được công bố dưới nhiều hình thức khác nhau như: Đề tài nghiên cứu khoa học, sách chuyên khảo, các luận án, luận văn, các bài báo khoa học, kỷ yếu hội thảo khoa học trong lĩnh vực ngành luật học và nhiều chuyên ngành khác nhau. Các công trình khoa học được công bố từ trước đến nay liên quan đến đề tài luận văn chủ yếu tập trung vào lĩnh vực tố tụng hình sự vì đây là lĩnh vực được quan tâm nhiều nhất. Vì vậy, về cơ bản là chưa có một công trình nghiên cứu toàn diện, chuyên sâu về bảo vệ QCN trong hoạt động tố tụng dân sự của VKSND ở nước ta hiện nay.
Trong phạm vi nghiên cứu chủ đề luận văn, tác giả chỉ lựa chọn và nêu ra những quan điểm nghiên cứu chính của một số công trình tiêu biểu ở trong nước và một số nước trên thế giới có liên quan trực tiếp tới các nội dung ở chuyên ngành luận văn. Trên tinh thần đó, có thể tổng hợp một số công trình đã công bố liên quan đến đề tài của Luận văn thành các nhóm vấn đề như sau:
- Nhóm công trình nghiên cứu các vấn đề lý luận về bảo vệ quyền con người trong hoạt động tố tụng của VKSND:
Sách chuyên khảo, Quyền con người, của GS. TS. Võ Khánh Vinh (chủ biên), nhà xuất bản khoa học xã hội, (2011). Trong cuốn sách chuyên khảo này, tại phần II, Chương VIII. Bảo vệ quyền con người bằng Tòa án đã trình bày một số vấn đề lý luận và pháp luật về bảo vệ QCN của người bị buộc tội và của người bị hại trong TTHS. Theo tác giả, QCN trong TTHS cần được bảo vệ chủ yếu tập trung vào 2 chủ thể là người bị buộc tội và bị hại. Trong TTDS, chủ thể cần được bảo vệ là đương sự nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tác giả đã phân tích, chỉ rõ quyền của đương sự trong quan hệ pháp luật TTDS cần được bảo vệ trên cơ sở 10 nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự.
Luận án tiến sỹ luật học, Bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong TTDS, của Nguyễn Thị Thúy Hằng, tại trường Đại học Luật Hà Nội, 2019. Luận án đã xây dựng được vấn đề lý luận cơ bản về bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong TTDS như bản chất, cơ sở khoa học của việc xây dựng các quy định về bảo đảm quyền tố tụng của đương sự; xác định được nội dung của biện pháp lý bảo đảm quyền tố tụng của đương sự và các yếu tố cơ bản chi phối thực hiện việc bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong TTDS. Đây có thể coi là một trong những công trình hiếm hoi đi sâu vào lĩnh vực bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong TTDS. Luận văn: Trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân tại VKSND.
Trong những công trình trên, các tác giả đi sâu vào nghiên cứu việc bảo đảm, bảo vệ QCN trong hoạt động tư pháp nói chung và hoạt động tố tụng nói riêng. Các bài viết tập trung phân tích, làm rõ một số vấn đề lý luận về bảo đảm, bảo vệ QCN trong hoạt động tư pháp nói chung và hoạt động tố tụng nói riêng (chủ yếu là TTHS), như: khái niệm bảo đảm, bảo vệ QCN; đặc điểm, nội dung, các yếu tố tác động đến việc bảo đảm, bảo vệ QCN trong hoạt động tư pháp và hoạt động tố tụng.
Một số bài viết sôi nổi về chế định VKSND trong tiến trình cải cách tư pháp và trước bối cảnh sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 2013. Điển hình như: Lê Hữu Thể, Một số vấn đề về mô hình tổ chức bộ máy và chức năng, nhiệm vụ của VKS trong tiến trình cải cách tư pháp, kỷ yếu hội thảo về VKS trong tiến trình cải cách tư pháp, Hải phòng 2008; Sách chuyên khảo (2012), Sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992 – Những vấn đề lý luận và thực tiễn, tập 1 những vấn đề chung về Hiến pháp và Bộ máy nhà nước, Nxb Hồng Đức, trong đó bài viết của tác giả Nguyễn Thái Phúc, Sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992 về chế định VKSND; Đề tài khoa học cấp Bộ, Báo cáo thường niên năm 2013 về Đổi mới tổ chức và hoạt động của TAND và VKSND trong năm 2013 theo Nghị quyết số 49/TW của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” do tác giả Nguyễn Thị Việt Hương chịu trách nhiệm tổ chức nghiên cứu. Các công trình tập trung nghiên cứu làm rõ vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của VKS trong bộ máy nhà nước, qua đó, các công trình đều khẳng định VKSND có vị trí là cơ quan độc lập trong bộ máy nhà nước, thực hiện chức năng THQCT và KSHĐTP.
Luận văn thạc sĩ luật học, “Đảm bảo pháp lý về QCN trong hoạt động tư pháp của VKSND Việt Nam hiện nay” của Ngô Diệu Hiền, tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí 13 Minh, năm 2013. Trong phần lý luận, luận văn làm rõ cơ sở lý luận đảm bảo pháp lý về QCN trong hoạt động tư pháp của VKSND. Trong đó, chỉ ra khái quát về đảm bảo pháp lý về QCN trong hoạt động tư pháp của VKSND. Luận văn đã đưa ra khái niệm đảm bảo pháp lý về QCN trong hoạt động tư pháp của VKSND là việc đảm bảo các điều kiện, yếu tố cần và đủ cho quá trình thực hiện QCN trong lĩnh vực hoạt động tư pháp của VKSND, nhằm làm cho hoạt động này có hiệu lực, hiệu quả cao nhất. Luận văn cũng chỉ rõ một số đặc trưng cơ bản của đảm bảo pháp lý về QCN trong hoạt động tư pháp của VKSND
Luận văn thạc sĩ luật học, Nhiệm vụ bảo vệ QCN, QCD của VKSND – qua thực tiễn tại VKSND huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, của Trần Hoàng Nhung, tại Khoa Luật – Đại học Quốc Gia Hà Nội, năm 2014. Trong phần lý luận, Luận văn đi vào phân tích, chỉ rõ quan niệm về QCN và bảo vệ QCN của VKSND. Luận văn đã chỉ rõ các đặc trưng cơ bản của bảo vệ QCN của VKSND và phân tích các nguyên tắc bảo vệ QCN, QCD trong hệ thống các nguyên tắc cơ bản của Luật TTHS và Luật TTDS, TTHC.
- Nhóm công trình nghiên cứu thực trạng về bảo vệ QCN trong hoạt động tố tụng của VKSND:
Luận văn thạc sỹ luật học, Vai trò của VKSND tỉnh Đăk Nông trong bảo vệ QCD, Tạ Đình Đề, chuyên ngành luật hiến pháp và luật hành chính tại Học viện Hành chính quốc gia, năm 2016. Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc phân tích, đánh giá những vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến vai trò của VKSND trong việc bảo vệ QCD là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, bị án trong TTHS. Luận văn: Trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân tại VKSND.
Luận văn thạc sỹ luật học, Vai trò của VKSND tỉnh trong bảo vệ QCN từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk, của Huỳnh Ngọc Hoàng Hải, tại Học viện Hành chính quốc gia, năm 2016. Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu trong lĩnh vực hình sự. Chương 2 của luận văn trình bày về thực trạng vai trò của VKSND tỉnh Đắk Lắk trong bảo vệ QCN. Trên cơ sở đó đưa ra đánh giá chung về những thành tựu và hạn chế, bất cập và nguyên nhân của chúng.
Luận văn thạc sĩ luật học, Nhiệm vụ bảo vệ QCN, QCD của VKSND – qua thực tiễn tại VKSND huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, của Trần Hoàng Nhung, tại Khoa Luật – Đại học Quốc Gia Hà Nội, năm 2014. Phần thực trạng, Luận văn đã phân tích các nhiệm vụ cụ thể qua từng khâu công tác trong chức năng THQCT và KSHĐTP của VKSND trên địa bàn huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Trên cơ sở đó đưa ra đánh giá chung về thực trạng bảo vệ QCN, QCD của VKSND huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.
Tìm hiểu về các tài liệu liên quan đến đề tài có nội dung đề cập đến thực trạng bảo vệ QCN trong hoạt động tố tụng của VKSND ở nước ta hiện nay, chúng tôi nhận thấy đa số các công trình tiếp cận ở phạm vi khái quát chung mang tính đánh giá về những kết quả đạt được và những tồn tại của thực trạng này và nguyên nhân của nó ở Việt Nam hiện nay. Phần lớn các công trình nghiên cứu chuyên sâu về bảo vệ QCN của VKSND được nghiên cứu trong lĩnh vực TTHS.
- Nhóm công trình nghiên cứu về quan điểm, giải pháp bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong hoạt động tố tụng của Viện kiểm sát nhân dân:
Đề tài khoa học cấp bộ, Chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND trong giai đoạn mới – Nhận thức và thực tiễn, Vụ pháp chế và quản lý khoa học, VKSND tối cao, năm 2018. Đề tài đi sâu phân tích, đánh giá quy định của hệ thống pháp luật về chức năng KSHĐTP của VKSND, từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả KSHĐTP trong giai đoạn mới thực hiện chức năng này.
Luận án tiến sỹ luật học, Bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong TTDS, của Nguyễn Thị Thúy Hằng, tại trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2019. Trên cơ sở, phân tích, đánh giá một cách toàn diện những hạn chế, bất cập trong quy định của pháp luật cũng như thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về bảo vệ quyền tố tụng của đương sự. Luận án đã xây dựng được hệ thống các yêu cầu, kiến nghị khoa học về bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong TTDS đáp ứng được xu hướng hội nhập quốc tế và đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước về cải cách tư pháp bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét xử, bao gồm các kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật TTDS về bảo đảm quyền của đương sự trong TTDS và các kiến nghị thực hiện pháp luật. Đây là những kiến nghị, giải pháp có giá trị tham khảo cho luận văn khi viết phần giải pháp hoàn thiện pháp luật TTDS. Luận văn: Trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân tại VKSND.
Luận văn thạc sĩ luật học, Đảm bảo pháp lý về QCN trong hoạt động tư pháp của VKSND Việt Nam hiện nay, của Ngô Diệu Hiền, tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2013. Phần giải pháp, luận văn đưa ra yêu cầu và giải pháp đảm bảo pháp lý về QCN trong hoạt động tư pháp của VKSND. Trong phần yêu cầu khách quan đảm bảo pháp lý về QCN trong hoạt động tư pháp của VKSND, luận văn đã đưa ra hai yêu cầu là xuất phát từ yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN trong xu thế hội nhập quốc tế và xuất phát từ thực trạng đảm bảo pháp lý về QCN trong hoạt động tư pháp ở nước ta hiện nay. Trên cơ sở đó, luận văn đưa ra một số giải pháp đảm bảo pháp lý về QCN trong hoạt động tư pháp của VKSND.
Luận văn thạc sỹ luật học, Vai trò của VKSND tỉnh Đăk Nông trong bảo vệ QCN, Tạ Đình Đề, chuyên ngành luật hiến pháp, luật hành chính tại Học viện Hành chính quốc gia, năm 2016. Phần giải pháp tại Chương 3, luận văn đưa ra một số giải pháp tăng cường vai trò của VKSND tỉnh Đắk Nông trong bảo vệ QCN.
Những công trình, bài viết đã được nghiên cứu thấy rằng: Việc đi sâu vào nghiên cứu về các nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước và vấn đề về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong TTDS dưới góc độ của Luật nhà nước đã được thực hiện. Tuy nhiên, việc nhìn nhận hoạt động kiểm sát các hoạt động tư pháp của VKS dưới góc độ bảo vệ QCN theo Hiến pháp năm 2013, theo Luật Tổ chức VKS nhân dân năm 2014, BLTTDS năm 2015 là một vấn đề còn mới, đặc biệt là trong khu vực cấp tỉnh như tỉnh Đắk Lắk. Vì thế, việc nghiên cứu về tiến hành kiểm sát các vụ việc dân sự để bảo vệ QCN cần phải được thực hiện một cách có hệ thống từ lý luận đến thực tiễn. Mục tiêu là tìm ra những giải pháp có ích trong bối cảnh hiện nay và không trùng lắp với các công trình khoa học đã được công bố trước đó. Đề tài luận văn này mang tính ứng dụng cho VKS ở cấp tỉnh và mong muốn góp phần vào việc hoàn thiện công tác kiểm sát và bảo vệ quyền, lợi ích của người dân.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Mục đích chính của luận văn là bổ sung luận cứ khoa học nhằm làm rõ cơ sở lý luận xác định trách nhiệm của VKSND đối với công tác bảo vệ QCN trong hoạt động kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự. Trên cơ sở lý luận đã minh chứng, luận văn phân tích thực tiễn về trách nhiệm bảo vệ QCN thông qua hoạt động kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự của VKSND và thực tế VKSND tỉnh Đắk Lắk hiện nay. Từ đó kiến nghị các biện pháp khoa học góp phần hoàn thiện thể chế và tổ chức thực thi bảo vệ QCN thông qua hoạt động kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự của VKSND hiện nay.
3.2 Nhiệm vụ Luận văn: Trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân tại VKSND.
Từ mục đích nêu trên, luận văn có nhiệm vụ: Làm rõ những vấn đề lý luận về QCN trong TTDS; Nêu được cơ sở pháp lý xác định chức trách, nhiệm vụ, thẩm quyền của VKS trong hoạt động kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự để đảm bảo QCN trong TTDS; Làm sáng tỏ hoạt động của VKS trong kiểm sát giải quyết vụ việc dân sự để đảm bảo QCN trong TTDS; Nhận xét, đánh giá về hoạt động kiểm sát giải quyết vụ việc dân sự của VKS nhân dân tỉnh Đắk Lắk, từ đó đề xuất những định hướng, biện pháp cụ thể để góp phần bảo vệ QCN trong công tác giải quyết vụ việc dân sự của VKS trong giai đoạn hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn về trách nhiệm của VKSND trong việc bảo vệ QCN, từ thực tiễn kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự của VKSND tỉnh Đắk Lắk hiện nay. Nghiên cứu tính khoa học và khả thi của các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao trách nhiệm của VKSND trong bảo vệ QCN thông qua hoạt động kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự hiện nay.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Đề tài luận văn của tác giả đi sâu nghiên cứu về trách nhiệm của VKSND trong việc bảo vệ QCN thông qua hoạt động kiểm sát giải quyết các vụ, việc dân sự.
- Phạm vi không gian: Đề tài luận văn thu thập tài liệu thực tế trong phạm vi hai cấp ngành VKSND tỉnh Đắk Lắk.
- Phạm vi thời gian: Đề tài luận văn của tác giả tiến hành khảo sát và đánh giá thực tiễn về trách nhiệm của VKSND trong việc bảo vệ QCN thông qua hoạt động kiểm sát giải quyết các vụ, việc dân sự trong thời gian 03 năm gần đây, từ năm 2021 đến năm 2023.
5. Phương pháp nghiên cứu Luận văn: Trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân tại VKSND.
Đề tài được nghiên cứu căn cứ trên nền tảng lý luận và phương pháp luận của triết học Mác – Lênin, quan điểm xây dựng Nhà nước pháp quyền của Hồ Chí Minh và chủ trương đường lối về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân đã được Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước ta ban hành. Phương pháp được áp dụng đối với đề tài là tiếp cận hệ thống liên ngành khoa học xã hội và nhân văn, đề cập đến luật học (đặc biệt là tiếp cận chuyên ngành luật Hiến pháp, pháp luật về QCN, Lý luận nhà nước và pháp luật, luật TTDS, chuyên ngành khoa học kiểm sát. ..). Vận dụng các phương pháp tiếp cận khoa học cơ bản: phương pháp định lượng, thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh, minh chứng, …
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Luận văn có giá trị làm sâu sắc hơn lý luận bảo vệ QCN thông qua TTDS, việc bảo đảm QCN trong công tác kiểm sát các vụ việc dân sự của VKSND trong bối cảnh thực hiện Hiến pháp 2013, Luật Tổ chức VKS nhân dân năm 2014 và BLTTDS 2015. Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa quan trọng về cơ sở lý luận và thực tiễn phục vụ công tác giảng dạy, bồi dưỡng, học tập chuyên ngành pháp luật, bồi dưỡng chính trị, pháp luật và nghiệp vụ công tác kiểm sát.
7. Bố cục đề tài
Bố cục của luận văn bao gồm phần mở đầu, kết luận, danh mục từ vựng viết tắt cùng danh mục các tư liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn chia làm 3 chương:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận về QCN và trách nhiệm của VKSND trong việc bảo vệ QCN thông qua hoạt động kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự.
- Chương 2: Thực trạng trách nhiệm của VKSND tỉnh Đắk Lắk trong bảo vệ QCN thông qua kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự.
- Chương 3: Quan điểm và giải pháp tăng cường trách nhiệm của VKSND tỉnh Đắk Lắk trong bảo vệ QCN thông qua kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự.
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG VIỆC BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT GIẢI QUYẾT CÁC VỤ VIỆC DÂN SỰ
1.1 Khái quát về quyền con người, cơ chế bảo vệ quyền con người
1.1.1 Khái niệm, bản chất của QCN
- Khái niệm QCN: Luận văn: Trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân tại VKSND.
QCN là một khái niệm vô cùng phức tạp, và được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, mỗi cách tiếp cận đều mang đến một góc nhìn riêng biệt về vấn đề này. Mỗi định nghĩa chỉ ra những thuộc tính cụ thể, tuy nhiên không có định nghĩa nào bao quát hết tất cả các thuộc tính của QCN. Sự phù hợp của các định nghĩa hiện có về QCN phụ thuộc vào quan điểm chủ quan của mỗi người, tuy nhiên, ở cấp quốc tế, có một định nghĩa về QCN do Liên Hợp Quốc công bố thường được nhà nghiên cứu trích dẫn. Theo đó, QCN là những bản quyền pháp lý toàn cầu được thiết lập để bảo vệ cá nhân và nhóm người khỏi hành vi hoặc sự bỏ qua gây tổn thương cho danh dự, quyền tự do cơ bản của con người. Ngoài ra, một định nghĩa khác thường được trích dẫn là QCN là những quyền không phân biệt giới tính, tôn giáo, chủng tộc hay vị trí xã hội. Tất cả thành viên của cộng đồng loài người sở hữu nó từ khi sinh ra chỉ vì họ là con người. Định nghĩa này mang dấu ấn của học thuyết về các quyền tự nhiên.
Ở Việt Nam, một số cơ quan nghiên cứu và chuyên gia cũng đã đưa ra định nghĩa về QCN. Mặc dù có những định nghĩa khác nhau, nhưng thông thường QCN được hiểu là những nhu cầu và lợi ích tự nhiên đã được công nhận và bảo vệ bởi luật pháp quốc gia và các hiệp định pháp lý quốc tế. Vì vậy, ở mọi góc độ, ở mọi cấp độ, QCN được xác định là tiêu chuẩn được cộng đồng quốc tế thừa nhận và tuân thủ. Những tiêu chuẩn này là những giá trị chung của toàn thể nhân loại, được áp dụng đối với con người và áp dụng cho hết thảy mọi người. Bằng cách này, nhân phẩm của mỗi thành viên thuộc đại gia đình nhân loại sẽ được bảo vệ vì họ sẽ có thể phát huy tối đa các năng lực tiềm ẩn của mình với tư cách là một con người. Cho dù có một vài điểm dị biệt nhỏ trong cách tiếp cận nhưng có một điểm chung là QCN là những giá trị cao đẹp phải được trân trọng và bảo vệ trong toàn nhân loại xuyên qua từng thời kỳ lịch sử.
QCN là tập hợp các quyền lợi cơ bản và không thể xâm phạm được của con người, được công nhận bởi pháp luật và xã hội. Đây là những quyền lợi mà con người được sinh ra là có, không phụ thuộc vào bất kỳ tổ chức nào. Cơ chế pháp lý về bảo vệ quyền con người đảm bảo rằng mỗi cá nhân đều được đối xử công bằng và tôn trọng trong xã hội. Khi mỗi cá nhân được biết và nhận thức về những quyền lợi của họ, họ có thể tự tin hơn trong việc yêu cầu và bảo vệ quyền của mình. Cơ chế pháp lý cũng giúp ngăn chặn sự lạm dụng quyền lực và đảm bảo rằng mọi người đều được đối xử bình đẳng trước pháp luật.
QCN trong TTDS xuất phát từ những quyền tự nhiên của con người, các quyền đó được thừa nhận với những giá trị mang tính phổ quát nhất. Trước hết, cơ sở lý luận về quyền con người trong tố tụng dân sự xuất phát từ hệ thống pháp lý quốc tế. QCN trong TTDS được Tuyên ngôn Thế giới về quyền con người và các Công ước quốc tế về quyền con người và một số Nghị quyết của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc ghi nhận. Đây là những nguyên tắc chung nhất để từ đó, con người có cơ sở tự bảo vệ và yêu cầu các nhà nước thành viên bảo vệ họ. Trong TTDS, luật pháp quốc tế thừa nhận sự tham gia của ba nhóm người, tương ứng với ba nhóm quyền con người trong TTDS: Nhóm quyền của các bên tranh chấp (quyền của nguyên đơn, bị đơn); nhóm quyền của người tiến hành tố tụng (điển hình là Tòa án). Thứ hai, lý luận về QCN trong TTDS xuất phát từ hệ thống pháp lý quốc gia: Hệ thống pháp luật quốc gia có vai trò tạo cơ sở pháp lý cho con người được hành động trong khuôn khổ pháp lý khi tham gia các quan hệ pháp luật. Đối với TTDS, các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật TTDS luôn xác định Hiến pháp, BLTTDS là những nguồn cơ bản, hữu hiệu không chỉ điều chỉnh hành vi mà còn là những đảm bảo pháp lý về QCN trong lĩnh vực TTDS. Hệ thống pháp luật TTDS xác định các nội dung cơ bản như: Nguyên tắc cơ bản trong quy trình TTDS; Các quyền cơ bản của đương sự; Thẩm quyền và điều kiện đảm bảo việc thực hiện các quyền của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng cũng như trách nhiệm của người tiến hành tố tụng trong việc đảm bảo quyền của đương sự và những người có liên quan trong tố tụng dân sự; Các quyền cơ bản của người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, phiên dịch v.v… Luận văn: Trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân tại VKSND.
- Bản chất của QCN
Nhận thức phổ biến của cộng đồng quốc tế cho rằng QCN có những tính chất cơ bản sau đây:
Tính phổ biến. Sự phổ biến của tính nhân quyền được thể hiện qua việc chúng là quyền bất biến của mọi người và phải được đối xử công bằng với tất cả thành viên trong gia đình nhân loại, bất kể lý do nào. Tuy nhiên, việc công bằng không có nghĩa là tất cả mọi người đều được hưởng quyền lợi một cách như nhau, mà thay vào đó, họ cần phải có vị trí và khả năng để hưởng thụ QCN một cách tương đương.
Tính không thể tước đoạt. Các QCN không thể bị tước bỏ hay hạn chế một cách tùy tiện bởi bất cứ chủ thể nào. Kể cả bởi các Nhà nước. Mọi cấm đoán, hạn chế hay tước bỏ quyền lợi của một cá nhân đều phải được pháp luật cho phép và phải nhằm mục đích bảo đảm quyền lợi chính đáng, hợp pháp của tập thể hay của cá nhân ấy.
Tính không thể phân chia, phụ thuộc lẫn nhau. Tất cả các quyền của con người đều có tầm quan trọng như nhau nên việc bị tước bỏ hoặc hạn chế bất kỳ quyền nào đều gây ra tác động tiêu cực đối với giá trị, nhân phẩm và sự phát triển của con người, nếu vi phạm một quyền sẽ gây ra ảnh hưởng tiêu cực trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc bảo đảm các quyền khác và ngược lại.
Hiện nay, trong khoa học xã hội nói chung và khoa học pháp lý nói riêng tồn tại nhiều quan điểm khác nhau xoay quanh vấn đề về đặc điểm của QCN. Dựa vào những nét tương đồng của các quan điểm đó, có thể phân chúng thành ba quan điêm liên đến đặc điểm cơ bản của QCN. Quan điểm thứ nhất cho rằng, QCN chỉ mang tính phổ biến. Theo quan điểm thứ hai thì ngược lại, QCN chỉ mang tính đặc thù. Luận văn: Trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân tại VKSND.
Trong khi đó, quan điểm thứ ba lại cho rằng, QCN vừa mang tính phổ biến lại vừa mang tính đặc thù. Vậy, đâu là thực chất của vấn đề? Phân tích hình thức pháp lý của QCN có thể khẳng định ngay rằng quan điểm thứ hai coi QCN chỉ có tính đặc thù là hoàn toàn không chính xác, vì nó không chỉ được ghi nhận trong pháp luật quốc gia mà còn được ghi nhận cả trong các điều ước quốc tế. Một khi các quốc gia tham gia ký kết hoặc công nhận các điều ước quốc tế về QCN cũng có nghĩa là thừa nhận tính phổ biến của nó. Quan điểm thứ nhất thừa nhận QCN chỉ có tính phổ biến liệu có thuyết phục được mọi người về tính khoa học của nó? Câu trả lời ở đây là không. Vấn đề là ở chỗ, tuy là giá trị chung của loài người song đối với xã hội có phân công giai cấp đối lập, QCN có ý nghĩa sâu sắc. Mặt khác, QCN còn gắn với quyền lợi dân tộc căn bản nằm trong phạm trù lợi ích quốc gia. Đặc biệt, QCN còn gắn liền với lịch sử, truyền thống mà còn tuỳ thuộc vào mức độ phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia. Việc sao chép máy móc các tiêu chuẩn, mô hình của quốc gia này cho quốc gia khác sớm muộn gì cũng không được chấp nhận trên thực tế. Về điều này không thể không đồng ý với ý kiến cho rằng “việc xử lý và bảo vệ QCN là trách nhiệm và quyền hạn của mỗi quốc gia, dân tộc, phải phù hợp với đặc thù lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,… đồng thời phải phù hợp với những mục tiêu, chuẩn mực và nguyên tắc quốc tế đã được thừa nhận rộng rãi. Chúng tôi không chấp nhận bên ngoài áp đặt quan điểm về QCN và lợi dụng QCN để can thiệp vào công việc nội bộ, đặt điều kiện trong quan hệ quốc tế” [7, tr.134]. Quốc gia nào trên thế giới cũng có chủ quyền gắn với lãnh thổ và biên giới quốc gia, cũng có quyền độc lập trong các quan hệ quốc tế. Do vậy, sẽ là hết sức vô lý khi áp đặt các tiêu chuẩn nhân quyền của quốc gia này lên một quốc gia khác, dù đó là sự áp đặt “mang tính chất vô tư”. Từ những điều phân tích trên đây, tác giả chia sẻ với quan điểm thứ ba cho rằng QCN vừa có tính phổ biến vừa có tính đặc thù. Tính đặc thù đó thể hiện ở mỗi quốc gia, mỗi dân tộc và từng khu vực trên thế giới. Tính đặc thù của QCN được tạo nên bởi truyền thống dân tộc, lịch sử và chủ quyền quốc gia. Do đó, tính phổ biến của QCN không thể được sử dụng để phủ nhận tính đặc thù của nó. Bên cạnh đó khi tiếp cận, xử lý vấn đề QCN cần kết hợp hài hòa các chuẩn mực, nguyên tắc chung của luật pháp quốc tế với những điều kiện đặc thù về lịch sử, chính trị, kinh tế – xã hội, các giá trị văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục tập quán của mỗi quốc gia, khu vực [8, tr.182]. Cũng từ những điều phân tích trên đây có thể thấy trong xã hội có các giai cấp đối kháng, QCN thể hiện rõ nét bản chất giai cấp của nó, sự phát triển của xã hội loài người, đặc biệt là trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đã dẫn đến việc bản chất giai cấp của QCN ngày càng “bị thu hẹp” và thay thế bằng bản chất xã hội. QCN vừa là kết quả của các cuộc cách mạng xoá bỏ mọi áp bức bất công, là tài sản chung của loài người và là nền tảng, động lực của dân chủ và tiến bộ xã hội.
1.1.2 Nội dung quy định của pháp luật quốc tế về QCN
- Quyền dân sự, chính trị Luận văn: Trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân tại VKSND.
Những quy định của pháp luật quốc tế về QCN đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo và bảo vệ quyền dân sự, chính trị của mỗi cá nhân trên toàn thế giới. Việc xác định rõ ràng các quy định này không chỉ là vấn đề của một quốc gia mà còn là trách nhiệm của cộng đồng quốc tế để đảm bảo tôn trọng và thực thi các quyền này một cách công bằng và minh bạch. QCN là khái niệm rộng lớn, bao gồm các quyền dân sự, quyền chính trị, quyền kinh tế, xã hội và văn hóa. Trong bối cảnh hiện nay, với sự phát triển không ngừng của xã hội và sự tăng cường của việc hợp tác quốc tế, việc thảo luận và thực thi quy định về quyền dân sự, chính trị trở nên cấp bách hơn bao giờ hết. Các quyền này không chỉ đơn giản là những định nghĩa trên giấy tờ mà còn là các giá trị cốt lõi của con người mà không thể phủ nhận. Quyền dân sự, chính trị là một khía cạnh quan trọng của QCN, đảm bảo các cá nhân được tự do, bình đẳng và công bằng trong xã hội. Pháp luật quốc tế có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ và thúc đẩy việc thực thi các quyền này trên toàn cầu. Các quyền dân sự thường bao gồm quyền tự do cá nhân, như quyền tự do ngôn luận, tự do tôn giáo, tự do di chuyển và quyền công bằng trước pháp luật. Quyền chính trị thường liên quan đến quyền tham gia vào quyết định chính trị của một quốc gia, bao gồm quyền bầu cử và quyền tham gia vào cuộc sống chính trị cộng đồng.
- Quyền kinh tế, xã hội, văn hóa
Trong lĩnh vực kinh tế, QCN cũng đóng vai trò quan trọng. Việc bảo vệ quyền lợi của người lao động, quyền được làm việc trong môi trường an toàn và quyền biểu tình lao động là những điểm quan trọng mà pháp luật quốc tế thường quan tâm. Ngoài ra, việc ngăn chặn sự kỳ thị và đạo đức trong lĩnh vực kinh tế cũng là một phần quan trọng của việc bảo vệ QCN trong lĩnh vực này. Trong thời đại công nghệ số, QCN trong lĩnh vực kinh tế cũng cần được đặc biệt chú trọng. Việc bảo vệ thông tin cá nhân, ngăn chặn việc lạm dụng dữ liệu và đảm bảo rằng mọi người có quyền truy cập công bằng vào các cơ hội kinh tế là những vấn đề đang trở nên ngày càng quan trọng trong lĩnh vực này.
Quyền kinh tế của con người được bảo vệ và quy định mạnh mẽ trong các văn bản pháp luật quốc tế. Một số điểm quan trọng về quyền kinh tế của con người bao gồm: Quyền sở hữu tư nhân: Pháp luật quốc tế thừa nhận quyền sở hữu tư nhân là một quyền cơ bản của con người. Điều này đảm bảo cá nhân có quyền sở hữu và quản lý tài sản cá nhân một cách tự do; Quyền lao động: Các văn bản quốc tế bảo vệ quyền lao động của con người bằng cách đảm bảo điều kiện làm việc công bằng, lương thích đáng và không phân biệt đối xử; Chống kỳ thị kinh tế: Pháp luật quốc tế cũng nghiêm cấm mọi hình thức kỳ thị kinh tế, bao gồm việc loại bỏ các rào cản kinh tế không công bằng giữa các cá nhân hoặc nhóm người. Một số công ước quốc tế quan trọng về quyền kinh tế của con người như: Công ước ILO: Bảo vệ quyền lao động và thúc đẩy việc cải thiện điều kiện làm việc; Hiến Chương LHQ: Bảo vệ quyền sở hữu tư nhân và nguyên tắc công bằng trong thương mại; Công ước về Nhân Quyền: Bảo vệ quyền kinh tế và quyền lao động của con người. Luận văn: Trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân tại VKSND.
Quyền văn hóa của con người đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ và thúc đẩy sự đa dạng văn hóa trên toàn cầu. Một số quy định của pháp luật quốc tế về quyền văn hóa của con người bao gồm: Quyền tự do tư duy: Mọi người có quyền tự do tư duy, tìm kiếm, nhận và truyền đạt thông tin và ý kiến một cách tự do mà không bị can thiệp; Bảo vệ di sản văn hóa: Các văn bản quốc tế thường đề cập đến việc bảo vệ di sản văn hóa, bao gồm việc bảo tồn các di tích lịch sử, văn hóa và truyền thống dân tộc; Quyền tham gia vào cuộc sống văn hóa: Đảm bảo mọi người có quyền tham gia vào cuộc sống văn hóa của cộng đồng một cách tích cực và không bị phân biệt đối xử. Một số tài liệu quốc tế quan trọng về quyền văn hóa của con người như: UNESCO 1972: Bảo vệ di sản văn hóa thế giới và khuyến khích hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này; Hiến Chương LHQ: Bảo vệ quyền tự do tư duy và tự do truyền thông; UNESCO 2001: Bảo vệ và khuyến khích sự đa dạng văn hóa trên toàn cầu.
Quyền xã hội bao gồm nhiều khía cạnh khác nhau như quyền y tế, quyền giáo dục, quyền phát triển bền vững. Một số điểm quan trọng về quyền xã hội của con người bao gồm: Quyền y tế cơ bản: Mọi người đều có quyền truy cập vào dịch vụ y tế cơ bản để đảm bảo sức khỏe và chăm sóc y tế cho bản thân; Quyền giáo dục: Pháp luật quốc tế thừa nhận quyền giáo dục là quyền cơ bản của con người và khuyến khích việc phát triển giáo dục đại học và nghề nghiệp cho tất cả mọi người; Phát triển bền vững: Bảo vệ môi trường sống và khuyến khích phát triển bền vững là một khía cạnh quan trọng của quyền xã hội của con người. Một số văn bản quốc tế quan trọng về quyền xã hội của con người: UNICEF: Bảo vệ quyền trẻ em và đảm bảo điều kiện sống tốt cho trẻ nhỏ; Công ước về Nhân Quyền: Bảo vệ quyền y tế cơ bản và quyền giáo dục của con người; Công ước về Môi Trường: Bảo vệ môi trường sống và khuyến khích phát triển bền vững.
- Quyền của một số nhóm người dễ bị tổn thương
Pháp luật quốc tế bảo vệ QCN bằng cách thiết lập các chuẩn mực và nguyên tắc cơ bản đối với việc đối xử công bằng và tôn trọng đối với tất cả mọi người. Các văn bản quốc tế, như Tuyên ngôn Nhân quyền của Liên Hợp Quốc và các công ước quốc tế về QCN, đều cam kết bảo vệ các quyền cơ bản của con người mà không phân biệt đối xử dựa trên bất kỳ lý do nào. Điều này bao gồm việc bảo vệ quyền của những nhóm người dễ bị tổn thương, như trẻ em, người tàn tật, người già, người nghèo và phụ nữ. Mặc dù chưa từng có công ước nào hay văn bản quốc tế nào đưa ra định nghĩa về người dễ bị tổn thương, nhưng tinh thần bảo vệ quyền của nhóm người này, được thể hiện qua những văn kiện quốc tế quan trọng về QCN cũng như một số điều ước quốc tế đặc thù của từng nhóm người. Các văn kiện quốc tế tổng quát về QCN có thể kể đến như Hiến chương Liên hợp quốc (LHQ) về QCN năm 1945; Tuyên ngôn Nhân quyền quốc tế năm 1948; Tuyên bố Viên và Chương trình hành động năm 1993; Tuyên bố thiên niên kỷ của LHQ năm 2000… Các văn kiện cụ thể về quyền tự do, cơ bản của con người như: Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966; Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa năm 1966…
Ngoài những nhóm người trên, người dễ bị tổn thương, theo một số quan điểm quốc tế hiện nay, còn có thể là người di tản hoặc tìm kiếm nơi lánh nạn, người thiểu số, người sống chung với HIV- AIDS, tù binh chiến tranh, người đồng tính hoặc người chuyển giới… Và danh sách người dễ bị tổn thương có thể được mở rộng bởi “theo cách tiếp cận về vấn đề này, mỗi chúng ta, vào lúc này hay lúc khác, trong hoàn cảnh này hay hoàn cảnh khác, đều có thể thuộc về một hoặc một vài nhóm dễ bị tổn thương”. Mặc dù các quốc gia không phải có nghĩa vụ nội luật hóa tất cả những quyền của nhóm người dễ bị tổn thương trên trong các văn kiện pháp lý quốc tế, nhưng các văn kiện này là cơ sở quan trọng để Ủy ban Nhân quyền LHQ cũng như các cơ quan khác đánh giá và đưa ra những khuyến nghị. Đồng thời, phạm vi nội luật hoá trong pháp luật quốc gia cũng phụ thuộc vào cách tiếp cận và lĩnh vực mà pháp luật quốc gia điều chỉnh. Ví dụ, tuỳ theo lĩnh vực điều chỉnh, đó là pháp luật hình sự, pháp luật dân sự hay pháp luật lao động… mà phạm vi người yếu thế cũng có khác nhau, không phải là toàn bộ danh sách mà pháp luật quốc tế đề cập ở trên. Bảo vệ quyền của nhóm người dễ bị tổn thương không chỉ là trách nhiệm pháp lý mà còn là trách nhiệm đạo đức và nhân văn của mọi cá nhân và tổ chức. Việc thực hiện các biện pháp bảo vệ quyền của trẻ em, phụ nữ, người khuyết tật, người già… không chỉ nâng cao chất lượng cuộc sống của họ mà còn đóng góp vào sự phát triển toàn diện và bền vững của xã hội. Các nước cần hợp tác chặt chẽ để thúc đẩy việc thực thi các quy định pháp luật quốc tế về quyền của nhóm người dễ bị tổn thương. Việc tăng cường ý thức cộng đồng, đào tạo và giáo dục về QCN là cách hiệu quả để xây dựng một xã hội công bằng và nhân văn, nơi mà tất cả mọi người đều được đối xử công bằng và tôn trọng.
1.1.3 Cơ chế pháp lý về bảo vệ QCN Luận văn: Trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân tại VKSND.
- Khái niệm
Theo từ điển Tiếng Việt, “bảo vệ” có nghĩa là chống lại mọi sự hủy hoại, xâm phạm để giữ gìn cho được nguyên vẹn, hoặc là bênh vực bằng lý lẽ để giữ vững ý kiến hay quan điểm. Từ nội dung của thuật ngữ “bảo vệ” và với những tính chất, nội dung của QCN cho thấy “bảo vệ QCN” có nội dung cơ bản là chống lại mọi sự hủy hoại, xâm phạm để giữ gìn cho “nhân phẩm, lợi ích, nhu cầu và năng lực” của tất cả mọi người trong xã hội được “nguyên vẹn” và tồn tại an toàn. Theo đó, ở nghĩa chung nhất “bảo vệ QCN” là hoạt động chống lại mọi sự hủy hoại, xâm phạm lợi ích, nhu cầu, nhân phẩm để giữ gìn cho QCN được nguyên vẹn. Trên phương diện pháp lý, trong hoạt động bảo vệ QCN thì pháp luật có vị trí, vai trò quan trọng hàng đầu, bởi vì pháp luật là phương tiện chính thức hóa giá trị xã hội của QCN, pháp lý hóa giá trị xã hội của các quyền tự nhiên; là công cụ sắc bén của nhà nước trong việc thực hiện thúc đẩy và bảo vệ QCN; pháp luật tạo cơ sở pháp lý để mọi cá nhân đấu tranh bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Pháp luật xác lập và bảo vệ sự bình đẳng giữa các cá nhân trong xã hội và sự độc lập tương đối của các cá nhân với tập thể, cộng đồng, nhà nước, thông qua việc pháp điển hóa các quyền và tự do tự nhiên, vốn có của cá nhân. Chỉ khi mang tính pháp lý, các quyền tự nhiên mới chuyển thành những QCN có đầy đủ giá trị hiện thực bằng pháp luật. Đồng thời, pháp luật là phương tiện bảo đảm giá trị thực tế của các QCN.
Bảo vệ QCN hiện nay được thực hiện thông qua ba cơ chế đó là cơ chế quốc tế, cơ chế khu vực và cơ chế quốc gia. Trong đó, cơ chế quốc tế và cơ chế khu vực có tầm ảnh hưởng rất lớn đến cơ chế quốc gia, đặc biệt đối với các quốc gia tham gia công ước, điều ước quốc tế về bảo vệ QCN. Như vậy, nghĩa vụ bảo vệ QCN của mỗi nhà nước được coi là một nghĩa vụ chủ động bởi để ngăn chặn sự vi phạm QCN của bên thứ ba, các nhà nước phải chủ động đưa ra những biện pháp và xây dựng các cơ chế phòng ngừa, xử lý những hành vi vi phạm. Theo đó, ở cấp độ quốc tế, bảo vệ QCN được hiểu là hoạt động của mỗi nhà nước nhằm ngăn ngừa, phòng chống, xử lý những hành vi vi phạm QCN của bất cứ chủ thể nào. Trong các cơ chế bảo vệ QCN, cơ chế quốc gia có vai trò quan trọng nhất, được chứng minh bằng lịch sử lâu đời và có hiệu quả cao trong thực tiễn. Theo đó, các quốc gia có trách nhiệm tạo cơ sở, tiền đề để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ QCN như pháp luật, bộ máy nhà nước, cơ chế thực hiện vận hành bộ máy. Để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ QCN mỗi quốc gia cần xây dựng một hệ thống pháp luật với mục đích ngăn chặn và xử lý những hành vi vi phạm QCN, bên cạnh đó cũng tính đến việc phục hồi, khôi phục lại những quyền và lợi ích hợp pháp của người bị vi phạm. Việc thực hiện hoạt động này thường được trao cho những cơ quan nhà nước có thẩm quyền tùy theo từng lĩnh vực mà QCN bị xâm hại, hạn chế hoặc bị tước bỏ. Luận văn: Trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân tại VKSND.
Trên cơ sở khái niệm về QCN và những phân tích nêu trên, bảo vệ QCN có thể hiểu là toàn bộ các hoạt động phát hiện, ngăn ngừa và xử lý những hành vi vi phạm QCN, nhằm khôi phục những quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân đã bị xâm hại, hạn chế hoặc tước bỏ bởi hành vi vi phạm pháp luật về QCN, do các chủ thể có thẩm quyền thực hiện.
TTDS là một hình thức thủ tục tố tụng tư pháp, là công cụ pháp lý quan trọng bảo vệ QCN nhằm mục đích giải quyết các tranh chấp trong lĩnh vực dân sự. TTDS là công cụ để sử dụng trong những trường hợp cần áp dụng khả năng tác động của quyền lực nhà nước nhằm giải quyết thỏa đáng các tranh chấp trong lĩnh vực dân sự. Các bên tham gia vào quan hệ pháp luật TTDS về nội dung đang bị tranh chấp và trở thành thành chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự được gọi là đương sự trong TTDS, là những cá nhân hoặc tổ chức bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Bảo vệ QCN trong TTDS có thể hiểu là nhiệm vụ của nhà nước thông qua hệ thống cơ quan tư pháp tiến hành hoạt động ngăn chặn mọi hành vi vi phạm QCN để khôi phục lại những QCN đã bị xâm hại được thực hiện theo thủ tục TTDS nhằm bảo đảm cho các quyền của cá nhân được tôn trọng và thực thi trên thực tế. Do đó, pháp luật TTDS sự mang ý nghĩa hết sức quan trọng nhằm bảo vệ QCN trong TTDS để các quyền về dân sự, kinh tế của cá nhân, công dân được thực hiện trong thực tiễn, qua đó bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người tham gia tố tụng khác.
- Cơ chế quốc tế về bảo vệ QCN
Như đã đề cập, về cơ bản, cơ chế quốc tế về bảo vệ QCN thể hiện ở bộ máy các cơ quan và các quy tắc, thủ tục về bảo vệ QCN trong hệ thống Liên hợp quốc. Mặc dù có mục tiêu chung là để bảo vệ QCN, song dựa trên vị thế pháp lý và chức năng, nhiệm vụ, các cơ quan QCN Liên hợp quốc được chia thành hai dạng: các cơ quan được thành lập theo (hoặc dựa trên) Hiến chương và các cơ quan được thành lập theo (hoặc dựa trên) một số điều ước quan trọng về QCN. Một số tài liệu gọi hệ thống các cơ quan và thủ tục này là cơ chế dựa trên Hiến chương và cơ chế dựa trên điều ước.
Cơ chế dựa trên Hiến chương: Do bảo vệ và thúc đẩy các QCN được xác định là một trong những mục tiêu cơ bản của Liên hợp quốc nên cả 6 cơ quan chính (Đại hội đồng – General Assembly, Hội đồng Bảo an – Security Council, Hội đồng Kinh tế và Xã hội – Economic and Social Council – ECOSOC, Hội đồng Quản thác – Trusteeship Council và Toà án quốc tế – International Court of Justice – ICJ), đều có trách nhiệm trên lĩnh vực này. Một số cơ quan chính thiết lập một mạng lưới các cơ quan giúp việc về QCN, đồng thời xây dựng một quy chế để huy động sự tham gia, hỗ trợ của các tổ chức phi chính phủ (quốc tế, khu vực và quốc gia) vào hoạt động thúc đẩy và bảo vệ QCN. Luận văn: Trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân tại VKSND.
Cơ chế dựa trên công ước: Cơ chế này được dựa trên các ủy ban giám sát việc thực hiện một số công ước quốc tế về QCN được thành lập theo quy định của chính các công ước đó (ngoại trừ Uỷ ban về các quyền kinh tế, xã hội, văn hoá được thành lập theo một nghị quyết của ECOSOC). Nếu như các cơ quan trong cơ chế dựa trên Hiến chương có những chức năng đa dạng, bao gồm cả việc nghiên cứu, xây dựng các dự thảo văn kiện, thẩm định, theo dõi, giám sát và điều hành các chương trình, hoạt động về QCN… thì hệ thống uỷ ban công ước có chức năng hẹp hơn. Các uỷ ban này được thiết lập chỉ để giám sát, thúc đẩy việc thực hiện những điều ước quốc tế về QCN, thông qua việc nhận, xem xét và ra khuyến nghị liên quan đến các báo cáo về việc thực hiện những công ước này của những quốc gia thành viên (và với một số uỷ ban, còn thông qua thẩm quyền nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại về việc vi phạm các QCN được ghi nhận trong một số công ước).
- Cơ chế quốc gia về bảo vệ QCN
Cơ chế quốc gia về bảo vệ QCN xuất phát từ và nhằm thực hiện những nghĩa vụ của các nhà nước được nêu trong tất cả các văn kiện quốc tế về QCN. Nòng cốt của cơ chế là các cơ quan quốc gia về bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền. Các cơ quan quốc gia về bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền có hình thức tổ chức rất đa dạng.
Tại Việt Nam, QCN được bảo vệ chặt chẽ thông qua các cơ chế pháp lý quốc gia. Cơ chế pháp lý về bảo vệ QCN được quy định trong Hiến pháp 2013 và các văn bản pháp lý khác như Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao động, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Luật Tư pháp và nhiều văn bản khác. Các văn bản này tập trung vào việc bảo vệ quyền sống, quyền tự do, quyền bình đẳng và quyền được hưởng lợi ích từ sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi cá nhân. Ngoài ra, Việt Nam không chỉ chú trọng vào việc bảo vệ QCN trên lãnh thổ quốc gia mà còn hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này bằng việc tham gia vào nhiều công ước quốc tế về QCN như Công ước Quốc tế về Quyền Dân Sự và Chính Trị, Công ước Quốc tế về Quyền Kinh Tế, Xã Hội và Văn Hóa. Việt Nam tham gia và thúc đẩy các hợp đồng, hiệp định quốc tế liên quan đến QCN nhằm mục đích cùng nhau tạo ra môi trường khung cho việc bảo vệ QCN không chỉ tại Việt Nam mà còn trên toàn thế giới.
Hiến pháp là tài liệu căn cứ quan trọng nhất để bảo vệ QCN, trong đó quy định rõ việc tôn trọng và bảo vệ QCN là nghĩa vụ hàng đầu của Nhà nước. Ở mỗi quốc gia, có các cơ quan chuyên trách giám sát việc bảo vệ QCN. Tại Việt Nam, Ủy ban nhân quyền là cơ quan có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ chức trong và ngoài hệ thống chính trị, xã hội, hoạt động giám sát, theo dõi, đánh giá, cung cấp thông tin, khuyến khích, bảo vệ và thúc đẩy QCN. Ngoài ra, hệ thống luật pháp, hệ thống tư pháp, cơ quan quản lý nhà nước, các cơ quan chức năng như Tòa án, Công an, VKSND cũng có vai trò quan trọng trong việc thực thi, bảo vệ và thúc đẩy QCN. Công tác giám sát cũng được thực hiện thông qua các tổ chức xã hội dân sự và truyền thông độc lập. Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc vào ngày 2/9/1945, nó được xem là một văn bản có ý nghĩa lịch sử trên bình diện thế giới đối với QCN. Từ ngày lập quốc cho đến bây giờ, nhà nước Việt Nam luôn luôn đề cao nguyên tắc QCN, xem đó là một trong những nguyên tắc hình thành luật pháp của nhà nước. Tuy nhiên, nguyên tắc trên không được thể hiện một cách đầy đủ qua các bản hiến pháp năm 1946, năm 1959 và năm 1980; trong Hiến pháp 1992, lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến tại nước ta, nguyên tắc tôn trọng các QCN được xác định thành đạo luật căn bản của nhà nước. Đây là một bước phát triển mới của các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân theo Hiến pháp (Điều 50). Đảng và nhà nước ta cũng thực thi nhiều chính sách để bảo đảm QCN, tham gia hầu hết các điều ước quốc tế về QCN và đã đạt được nhiều thành tựu to lớn. Qua đó góp phần xây dựng một đất nước giàu mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh, đóng góp vào cuộc đấu tranh chung của toàn nhân loại vì mục tiêu hòa bình và tiến bộ xã hội. Những quyết định tiến triển trong Hiến pháp mới nhất của Việt Nam đã được kế thừa và phát triển từ những quy định của những bản Hiến pháp trước đây. Hiến pháp năm 2013 đã có sự đổi mới căn bản và quan trọng cả về cơ cấu, sắp xếp cách viết và nội dung. Việc tiếp tục nâng cao chất lượng chỉ đạo QCN, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân đã được thể hiện rõ ràng trong Hiến pháp. Với việc thể hiện rõ ràng qua 35 điều luật theo các tiêu chuẩn pháp lý quốc tế. Những quy định về bảo vệ QCN có tầm khái quát quy định trong Hiến pháp 2013 (Điều 14) được cụ thể hóa tại các văn bản luật chuyên ngành. Chẳng hạn, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định nhiệm vụ của mình là “góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ QCN, QCD.” (Điều 2). BLTTDS năm 2015 cũng ghi nhận quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp là quyền tự do dân chủ rất quan trọng của cá nhân: Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện, yêu cầu giải quyết vụ, việc dân sự tại để yêu cầu tòa án bảo vệ công lý, bảo vệ QCN, QCD, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác (Điều 4).
QCN trong TTDS đã và đang được cụ thể hóa trong văn bản quy phạm pháp luật mà điển hình là BLTTDS năm 2015, quy định cụ thể tại chương II: Những nguyên tắc cơ bản và từ Điều 70 đến Điều 74 BLTTDS. Theo đó, trong TTDS, đương sự có phạm vi quyền và nghĩa vụ rất lớn và họ bình đẳng với nhau. Trên cơ sở nguyên tắc và tự định đoạt, các đương sự thực hiện việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Luận văn: Trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân tại VKSND.
Một trong những đặc trưng cơ bản của TTDS là nguyên tắc tự định đoạt của đương sự. Nguyên tắc này thể hiện vai trò tích cực chủ động của đương sự trong việc tự bảo vệ và yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích của mình. Cùng với nguyên tắc về quyền tự định đoạt là nguyên tắc bình đẳng giữa các bên và nguyên tắc hòa giải. Như vậy, rõ ràng hiệu quả của thủ tục TTDS phụ thuộc vào tính tích cực của các bên, và điều này hoàn toàn phụ thuộc vào mức độ quyền và nghĩa vụ của họ do pháp luật TTDS quy định. Nguyên tắc chung là các bên có quyền và nghĩa vụ ngang nhau khi tham gia tố tụng.
Các bên có các quyền sau: Cung cấp chứng cứ và chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; Yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang lưu giữ, quản lý chứng cứ cung cấp chứng cứ đó cho mình để giao nộp cho tòa án, đề nghị tòa án xác minh, thu thập chứng cứ của vụ án mà mình không thể thực hiện được hoặc đề nghị tòa án triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, định giá, khiếu nại với VKS về những chứng cứ mà tòa án đã xác minh, thu thập do đương sự khác yêu cầu được biết và ghi chép, sao chụp các tài liệu, chứng cứ do các đương sự khác xuất trình hoặc do tòa án thu thập đề nghị tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án; tham gia hòa giải do tòa án tiến hành, nhận thông báo hợp lệ để thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình; tự bảo vệ hoặc nhờ người khác (như luật sư, luật gia) bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; tham gia phiên tòa; yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng theo quy định của BLTTDS; tranh luận tại phiên tòa; kháng cáo, khiếu nại bản án, quyết định của tòa án; phát hiện và thông báo cho người có thẩm quyền kháng nghị căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
Ngoài các quyền và nghĩa vụ chung nêu trên, BLTTDS năm 2015 còn quy định các quyền, nghĩa vụ cho riêng nguyên đơn và bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Đối với nguyên đơn, có quyền sau: Rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện, thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện; Đề nghị tòa án đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng; Đề nghị tòa án tạm đình chỉ giải quyết vụ án. Bị đơn có những quyền riêng sau đây: Chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn; bác bỏ toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn; đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn nếu có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn hoặc đề nghị đối với nghĩa vụ mà nguyên đơn yêu cầu; được thông báo về việc bị khởi kiện.
Để bảo vệ quyền lợi cho các bên, BLTTDS năm 2015 còn quy định việc kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của các đương sự trong điều kiện đương sự bị chết hoặc chấm dứt hoạt động, nếu quyền có nghĩa vụ tài sản đang bị tranh chấp của họ được thừa kế (Điều 74). Thông thường, vụ án dân sự phát sinh là do chính nguyên đơn khởi kiện. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp do nhiều nguyên nhân khác nhau, theo quy định của BLTTDS năm 2015, cùng tham gia vào tố tụng còn có người đại diện của đương sự và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là người được đương sự nhờ và được Tòa án chấp nhận để tham gia tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có thể là luật sư hoặc cũng có thể là bất cứ công dân Việt Nam nào có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và đáp ứng các yêu cầu theo quy định của BLTTDS năm 2015. Vấn đề người đại diện trong TTDS được giải quyết dựa trên cơ sở các quy định về đại diện trong Bộ luật dân sự. Người đại diện trong TTDS bao gồm người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền. Nhằm bảo vệ một cách đầy đủ, khách quan các quyền và lợi ích của các bên, pháp luật quy định một số trường hợp không được làm người đại diện và những trường hợp tòa án phải chỉ định người đại diện. Ví dụ, trong khi tiến hành TTDS, nếu có đương sự là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà không có người đại diện hoặc có người đại diện theo quy định tại khoản 1 Điều 88 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, thì tòa án phải chỉ định người đại diện cho người đó để tham gia tố tụng tại tòa án, hoặc ví dụ những người sau đây không được làm người đại diện trong tố tụng dân sự như: cán bộ, công chức trong ngành tòa án, kiểm sát, công an, trừ trường hợp họ tham gia tố tụng với tư cách người đại diện cho cơ quan của họ hoặc với tư cách là người đại diện theo pháp luật.
Rõ ràng, đương sự trong TTDS là chủ phạm vi quyền rất rộng lớn và khả năng sử dụng phương thức khởi kiện, sử dụng thủ tục TTDS để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình một cách hữu hiệu nhất. Ưu thế của thủ tục TTDS thể hiện ở những nguyên tắc đặc trưng của nó là quyền tự định đoạt của các bên đương sự đảm bảo cho các bên chủ động áp dụng các phương thức, biện pháp khác nhau với mục tiêu cao nhất, phục hồi một cách nhanh chóng, kịp thời và đầy đủ quyền và lợi ích của mình đã và đang bị vi phạm hoặc tranh chấp. Các bên có thể tự hòa giải với nhau hoặc người khởi kiện có thể tự mình rút đơn khởi kiện. Nguyên tắc tự định đoạt có hiệu lực trong suốt quá trình áp dụng thủ tục TTDS; và nguyên tắc này là cơ sở để xác định không những chỉ có quyền và nghĩa vụ của các bên mà đối với các chủ thể khác như tòa án và VKS, những chủ thể được coi là người tiến hành TTDS. Luận văn: Trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân tại VKSND.
Đề cao nguyên tắc về quyền tự định đoạt của các bên là tâm điểm của nội dung quá trình hoàn thiện pháp luật TTDS và cải cách tư pháp ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Nguyên tắc này có ý nghĩa xuyên suốt tất cả các giai đoạn của quá trình tố tụng từ khi khiếu kiện, thụ lý vụ án cho đến khi thi hành án, kết thúc vụ án, cùng với việc áp dụng nguyên tắc hai cấp xét xử, nguyên tắc độc lập của tòa án khi xét xử, nguyên tắc về quyền tự định đoạt của các bên cho phép xác định thẩm quyền của các cấp tòa án cũng như vai trò và vị trí của VKS trong trong TTDS. Cùng với việc ban hành BLTTDS, VKS không còn có thẩm quyền khởi tố vụ án dân sự như trước đây, hoặc quy định rằng tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi; để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự, bảo đảm cho đương sự thực hiện quyền bảo vệ của họ theo quy định của pháp luật. Việc giải quyết vụ việc dân sự được tiến hành một cách công khai, đảm bảo sự tham gia của Hội thẩm nhân dân; xét xử tập thể. Về nguyên tắc, tiếng nói và chữ viết trong TTDS là tiếng Việt (Điều 20, BLTTDS năm 2015). Tuy nhiên, để bảo vệ lợi ích của các chủ thể thuộc các dân tộc khác nhau, BLTTDS quy định rằng người tham gia TTDS có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình và trong trường hợp này, tòa án phải chỉ định người phiên dịch. Bên cạnh đó, để bảo vệ quyền tự do, dân chủ của người dân trong TTDS, pháp luật quy định quyền khiếu nại, tố cáo của họ trong TTDS và trong trường hợp đó, cơ quan chức cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, xem xét và giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các khiếu nại, tố cáo, thông báo bằng văn bản về kết quả giải quyết cho người đã khiếu nại, tố cáo biết.
1.2 Trách nhiệm của VKSND trong bảo vệ QCN thông qua hoạt động kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự. Luận văn: Trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân tại VKSND.
1.2.1 Khái quát chung về giải quyết vụ việc dân sự, kiểm sát giải quyết vụ việc dân sự
- Khái niệm
Khi nói đến giải quyết vụ việc dân sự, chúng ta đề cập đến quá trình phân xử những tranh chấp, mâu thuẫn giữa các cá nhân, tổ chức trong xã hội một cách hợp lý và công bằng. Điều quan trọng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự là tôn trọng quy định pháp luật, đảm bảo nguyên tắc công bằng, minh bạch và đúng luật. Có nhiều phương pháp giải quyết vụ việc dân sự như đàm phán, hòa giải, trọng tài, hoặc thông qua phiên tòa án. Quá trình giải quyết vụ việc dân sự thường bắt đầu khi một bên có khiếu nại hoặc tố cáo về việc xảy ra mâu thuẫn, tranh chấp với bên kia. Đầu tiên, họ có thể thử giải quyết vấn đề một cách hòa bình thông qua đàm phán hoặc hòa giải. Nếu không thể đạt được thỏa thuận, họ có thể nộp đơn kiện lên cơ quan tư pháp để yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự thông qua phiên tòa.
Giải quyết vụ việc dân sự chính là quá trình mà Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác tiến hành nhằm giải quyết các tranh chấp hoặc yêu cầu phát sinh từ các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động. Quá trình này bao gồm nhiều bước, từ việc tiếp nhận đơn khởi kiện, chuẩn bị xét xử, xét xử sơ thẩm, phúc thẩm đến thi hành án. Các bước cơ bản trong giải quyết vụ việc dân sự gồm: Tiếp nhận đơn khởi kiện: Người khởi kiện nộp đơn khởi kiện tại tòa án có thẩm quyền; Thụ lý vụ án: Tòa án kiểm tra và thụ lý đơn khởi kiện nếu đủ điều kiện; Chuẩn bị xét xử: Bao gồm các hoạt động thu thập chứng cứ, lấy lời khai, hòa giải giữa các bên tranh chấp; Xét xử sơ thẩm: Tòa án tiến hành phiên tòa sơ thẩm để xem xét và ra phán quyết; Xét xử phúc thẩm (nếu có): Nếu có kháng cáo, kháng nghị, vụ án sẽ được xem xét lại ở phiên tòa phúc thẩm.
Trên hành lang pháp lý, việc giải quyết vụ việc dân sự đòi hỏi sự tham gia của các cơ quan chức năng, trong đó VKS đóng vai trò quan trọng. Khái niệm kiểm sát giải quyết vụ việc dân sự đề cập đến quá trình kiểm tra, rà soát, xác định vi phạm pháp luật, và tiến hành các biện pháp khắc phục theo đúng quy định của pháp luật. Với sứ mệnh bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên tham gia, VKS phải thực thi công lý một cách khách quan và công bằng, tạo ra sự minh bạch và tin cậy trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự. Mục đích của hoạt động này là đảm bảo việc giải quyết vụ việc dân sự được thực hiện đúng pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan. Các nhiệm vụ chính của VKSND trong kiểm sát giải quyết vụ việc dân sự bao gồm: Kiểm sát việc thụ lý, giải quyết vụ án: Giám sát việc thụ lý và các bước xử lý vụ án dân sự của tòa án để đảm bảo đúng quy trình pháp luật; Tham gia phiên tòa: KSV có thể tham gia phiên tòa để giám sát hoạt động xét xử, đảm bảo phán quyết của tòa án là công bằng và đúng pháp luật; Kháng nghị bản án, quyết định của tòa án: Nếu phát hiện có vi phạm pháp luật trong quá trình xét xử, VKS có quyền kháng nghị bản án, quyết định của tòa án; Kiểm sát việc thi hành án: Giám sát quá trình thi hành các bản án, quyết định dân sự để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên được thực hiện đầy đủ. Mối quan hệ giữa giải quyết và kiểm sát giải quyết vụ việc dân sự là mối quan hệ giám sát và kiểm soát. Tòa án thực hiện chức năng giải quyết các tranh chấp dân sự, trong khi VKS thực hiện chức năng kiểm sát để đảm bảo quá trình giải quyết đó tuân thủ đúng pháp luật. Sự phối hợp này giúp nâng cao tính minh bạch, công bằng và hiệu quả trong công tác tư pháp dân sự. Những khái niệm này thể hiện rõ sự phân công chức năng và nhiệm vụ giữa các cơ quan trong hệ thống tư pháp nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của công dân và tổ chức trong các quan hệ dân sự. Luận văn: Trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân tại VKSND.
- Thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự
Khi xảy ra mâu thuẫn hoặc tranh chấp trong xã hội, việc giải quyết vụ việc dân sự cần phải thông qua các cơ quan có thẩm quyền. Thẩm quyền này được quy định rõ trong văn bản pháp luật và được thực thi để đảm bảo sự công bằng và hiệu quả trong quá trình xử lý vụ việc. Các vụ việc dân sự thường liên quan đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia. Quá trình giải quyết vụ việc dân sự đòi hỏi sự nỗ lực từ phía cả hai bên để tìm ra giải pháp hòa bình và khả thi. Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, các vụ việc dân sự được giải quyết thông qua các cơ quan tư pháp, chủ yếu là Tòa án, trong việc thụ lý, xét xử và ra quyết định về các vụ việc liên quan đến tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động. Cụ thể:
Thẩm quyền của Tòa án: Tòa án là cơ quan có thẩm quyền cao nhất trong việc giải quyết các vụ việc dân sự tại Việt Nam. Tòa án được xem là tổ chức có thẩm quyền pháp lý chính thức để xét xử và phán quyết các tranh chấp, mâu thuẫn giữa các bên. Tòa án có quyền ra quyết định cuối cùng và các quyết định này phải được tất cả mọi người tuân thủ.
- Thẩm quyền của các cơ quan khác:
Trọng tài thương mại: Giải quyết các tranh chấp về hợp đồng kinh doanh, thương mại theo sự thỏa thuận của các bên liên quan khi có điều khoản trọng tài.
Hòa giải viên: Hòa giải các tranh chấp dân sự tại cơ sở trước khi các bên đưa vụ việc ra tòa án, nhằm giảm tải cho hệ thống tòa án và thúc đẩy giải quyết tranh chấp bằng phương thức hòa giải.
- Thẩm quyền kiểm sát giải quyết vụ việc dân sự
Thẩm quyền kiểm sát giải quyết vụ việc dân sự của VKSND là chức năng, nhiệm vụ của cơ quan này nhằm giám sát và kiểm tra tính hợp pháp của các hoạt động tư pháp trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự. Mục đích của hoạt động kiểm sát này là đảm bảo việc thực thi pháp luật một cách đúng đắn, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan, đồng thời nâng cao hiệu quả và uy tín của hệ thống tư pháp. Thẩm quyền kiểm sát giải quyết vụ việc dân sự của VKSND được quy định trong Hiến pháp, Luật tổ chức VKSND, và Bộ luật TTDS. Các quy định này xác định rõ vai trò, chức năng, và nhiệm vụ của VKSND trong hoạt động kiểm sát: Luận văn: Trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân tại VKSND.
Cơ quan tiến hành tố tụng là tòa án, nơi thực hiện chức năng xét xử bởi những người tiến hành tố tụng. Nếu những người này thiếu sự cẩn trọng, trách nhiệm, chủ quan, hay thiên vị do tình cảm hoặc ảnh hưởng từ lợi ích và các mối quan hệ lệ thuộc, vi phạm quyền tố tụng dễ xảy ra. Do đó, việc VKS thực hiện kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự được coi là một trong những hoạt động giám sát để đảm bảo quyền tố tụng của các bên được thực hiện hiệu quả. Tuy nhiên, không phải tất cả các nước đều áp dụng cơ chế kiểm sát của VKS để bảo đảm quyền tố tụng của các đương sự. Ví dụ, ở những quốc gia như Hoa Kỳ, Anh, Viện công tố chỉ có vai trò trong việc buộc tội các bị cáo trong những vụ án hình sự chứ không đóng vai trò quan trọng trong giải quyết các vụ việc dân sự. Bởi vì quan niệm của các nước này cho rằng, trong hoạt động TTDS là giải quyết các tranh chấp về lợi ích cá nhân, do đó Viện công tố sẽ không tham gia vào hoạt động này [9, tr.100]. Ngược lại, ở một số nước như Nga, Trung Quốc, Pháp quy định rằng VKS có quyền tham gia vào quá trình TTDS. Tuy nhiên, mức độ và sự can thiệp của VKS vào quá trình này ở mỗi quốc gia là khác nhau. Ở Việt Nam, vai trò kiểm sát của VKS được coi là một trong những “kênh” để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đương sự trong TTDS và được điều chỉnh theo Điều 21 của Bộ luật TTDS năm 2015. Pháp luật TTDS nhiều nước xã hội chủ nghĩa, đều khẳng định bảo đảm quan trọng của việc tuân thủ nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa là chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS [10, tr.36]. Sự tham gia của VKS trong TTDS được coi là một phần quan trọng trong việc đảm bảo rằng mọi cá nhân, tổ chức và cơ quan liên quan sẽ phải tuân theo đúng và nghiêm ngặt theo luật lệ của TTDS nói chung, cũng như đảm bảo tính hợp pháp của các quyết định và bản án từ Tòa án nói riêng [10, tr.36]. Qua việc tiến hành kiểm sát các hoạt động TTDS, VKS bảo đảm rằng các hoạt động TTDS được thực hiện theo đúng quy định pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi để quyền lợi hợp pháp của các đương sự được bảo vệ [11, tr.55]. Quan điểm của TS. Phạm Hữu Nghị lại cho rằng, việc giải quyết tranh chấp dân sự giữa các bên không nên bị can thiệp trực tiếp bởi VKSND với tư cách công quyền, trái ngược hoàn toàn với quan điểm trước đó [12, tr.41]. TS. Nguyễn Thái Phúc cũng đã nhận định rằng việc nói về vai trò độc lập của Tòa án là khó khăn khi hoạt động chức năng xét xử được kiểm sát bởi VKS [13, tr.48]. Như vậy, có các quan điểm trái ngược nhau đối với việc kiểm sát của VKS đối với quá trình giải quyết vụ việc dân sự nói chung, bảo đảm quyền tố tụng của các đương sự nói riêng. Theo tác giả, trong việc kiểm sát các hoạt động tố tụng thì VKS bảo đảm quá trình giải quyết vụ án diễn ra theo đúng quy trình và thủ tục tố tụng, bảo đảm rằng các quyền tố tụng của đương sự được thi hành trên thực tiễn. Đồng thời, từ hoạt động kiểm sát VKS có thể phát hiện kịp thời những sai phạm pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ việc nhằm có những kiến nghị, kháng nghị phù hợp để bảo đảm cho các quyền tố tụng của đương sự được thi hành. Bởi vì suy đến cùng thì việc kiểm sát hoạt động xét xử của Toà án cùng với đương sự trong tố tụng là nhằm bảo đảm Toà án giải quyết vụ án dân sự được công minh, khách quan, vô tư, đúng pháp luật cũng như giúp đương sự chấp hành đúng qui định của pháp luật [14, tr.20].
Trách nhiệm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mọi tổ chức, cá nhân khi tham gia giải quyết các vụ việc dân sự là trách nhiệm của VKSND, quy định rõ tại Hiến pháp năm 2013 (Điều 107) và Luật tổ chức VKSND năm 2014 (Điều 2). Vai trò của VKSND trong lĩnh vực TTDS được tăng cường, từ đó bảo vệ tốt hơn lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của những yếu thế theo yêu cầu của thực tiễn và đảm bảo tuân thủ quy định pháp luật. VKS sẽ kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức trong việc tiến hành hoặc tham gia tố tụng giải quyết các tranh chấp dân sự, đảm bảo tuân thủ theo quy định pháp luật và thực hiện quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của công dân. Do vậy, VKSND thể hiện rõ vai trò hết sức quan trọng với tư cách là chủ thể bảo vệ QCN trong hoạt động TTDS.
1.2.2 Nội dung, hình thức bảo vệ QCN thông qua hoạt động kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự của VKSND Luận văn: Trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân tại VKSND.
1.2.1.1 Nội dung bảo vệ QCN thông qua hoạt động kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự
- Quy định quyền của chủ thể được bảo vệ trong hoạt động TTDS
Trong TTDS, chủ thể quan trọng nhất cần thiết để được bảo hộ là đương sự và những người tham gia tố tụng khác. Đương sự có phạm vi quyền và nghĩa vụ rất lớn và bình đẳng với nhau trong TTDS. Dựa trên nguyên lý quyền tự quyết định, việc thực hiện bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của chủ thể được thực hiện thông qua đương sự. Trong TTDS, có nhiều chủ thể tham gia, tuy nhiên chỉ có chủ thể mà lợi ích của họ được bảo vệ mới được gọi là các bên đương sự trong TTDS. Để xử lý các tranh chấp dân sự một cách chính xác, việc xác lập đúng tư cách chủ thể là các bên đương sự có vai trò then chốt đối với sự bảo vệ quyền của các bên trong quan hệ pháp luật TTDS.
- Phát hiện, ngăn chặn, xử lý hành vi vi phạm, khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của người bị vi phạm
Việc bảo vệ QCN của các cơ quan hành chính nhà nước nói chung, của VKSND nói riêng được thực hiện trên nguyên tắc mọi hành động xâm phạm quyền riêng tư của công dân phải bị ngăn chặn trừ khi có lý do chính đáng. Khoản 1 Điều 20 Hiến pháp năm 2013 quy định rằng quyền bất khả xâm phạm về thân thể của mọi người được bảo đảm theo pháp luật. Theo đó, Luật tổ chức VKSND năm 2014 cũng quy định mục đích của KSHĐTP, tại điểm đ khoản 2 Điều 4: “VKSND KSHĐTP nhằm bảo đảm mọi vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp phải được phát hiện kịp thời…”. Qua đó, nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích của công dân phải được VKSND tuân thủ và thực hiện một cách nghiêm túc, để phát hiện và xử lý hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích của công dân. Trách nhiệm chính của VKSND là bảo vệ các quyền của công dân, như tự do, sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm và tài sản. Trong việc thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình, VKSND sẽ chịu trách nhiệm trong việc phát hiện mọi hành vi vi phạm quyền của công dân. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật, VKS cần được đảm bảo rằng họ có trách nhiệm phát hiện kịp thời các hành vi vi phạm trong thời gian và điều kiện mà Luật quy định. Điều này sẽ tạo điều kiện cho việc ngăn chặn, xử lý và khôi phục quyền lợi của người bị vi phạm một cách hiệu quả. Chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp đã được quy định rõ ràng trong Hiến pháp năm 2013. Hoạt động kiểm sát tuân theo pháp luật của VKS là một loại hoạt động mang tính cấp bách nhà nước, có nguồn gốc từ quyền lực giám sát của Quốc hội; tiến hành kiểm tra và giám sát tuân theo Hiến Pháp và luật lệ trong các hoạt động cụ thể theo sự chỉ đạo từ Quốc hội [15]. VKS thực hiện hoạt động kiểm sát cũng là thực hiện hoạt động giám sát tư pháp theo luật định theo lệnh uỷ thác của Quốc hội. Đồng thời, VKSND cũng là cơ quan nhà nước có chức năng thích hợp nhất được giao trọng trách bảo vệ QCN. Thông qua việc thực hiện chức năng Kiểm sát hoạt động tư pháp, cụ thể là kiểm sát hoạt động của Toà án để phát hiện xâm phạm QCN của cơ quan tư pháp, từ đó sẽ đảm bảo thẩm quyền của Toà án đối với các tranh chấp dân sự. Chức năng KSHĐTP là hoạt động có tính chất giám sát nhà nước, là một công cụ giám sát, kiểm soát quyền lực nhà nước của cơ quan tư pháp. Tuy nhiên, khác với hoạt động giám sát nhà nước thông thường về tư pháp, KSHĐTP là sự giám sát thông qua các hoạt động thực tiễn của cơ quan tư pháp và các cơ quan được phân công thực hiện quyền tư pháp trong quá trình hoạt động [16, tr.39].
- Ngăn chặn hành vi vi phạm QCN Luận văn: Trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân tại VKSND.
Việc ngăn chặn hành vi vi phạm QCN là một hoạt động mang tính cản trở, trì hoãn, và dừng lại những hành vi này. Hành vi này được thực hiện trong lĩnh vực TTDS của VKSND bằng cách áp dụng các biện pháp để cản trở, trì hoãn và ngăn chặn hành vi vi phạm QCN thông qua các thủ tục TTDS. Hiệu quả của pháp luật đối với công tác ngăn chặn hành vi xâm phạm QCN trong lĩnh vực TTDS được thể hiện thông qua tính chất quyền lực nhà nước của pháp luật. Hoạt động này có vai trò then chốt và trọng tâm, đặc biệt là khi liên quan đến chức năng của VKSND, nó rõ ràng biểu hiện vai trò của công tác thực hiện kiểm soát hành vi xâm phạm QCN.
Thực tế cho thấy rằng có rất nhiều hành vi xâm phạm QCN trong các lĩnh vực dân sự. Do tính chất đặc biệt của lĩnh vực TTDS, việc xâm phạm quyền và lợi ích chủ yếu được tập trung vào nhóm quyền dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội. Người bị xâm phạm quyền và lợi ích muốn được bảo vệ sẽ phải tiến hành khởi kiện tại Tòa án. VKSND sẽ đảm bảo việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp ngay từ khi Tòa án nhận đơn khởi kiện. Đồng thời, vai trò giám sát hoạt động của Tòa án cũng được thực hiện bởi cơ quan VKSND và có quyền yêu cầu Tòa án tuân thủ đúng theo các điều khoản pháp luật khi quyền của các bên bị xâm phạm.
- Xử lý hành vi vi phạm QCN
Trong khuôn khổ của quyền hạn và nhiệm vụ được ủy quyền bởi nhà nước, hoạt động của VKSND thông qua THQCT và KSHĐTP có trách nhiệm xử lý các vi phạm đến QCN một cách kịp thời và nghiêm minh (quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 4 Luật Tổ chức VKSND năm 2014). Do đó, VKSND có trách nhiệm bảo vệ quyền lợi của công dân khi xử lý các hành vi phạm tội hoặc các hành vi xâm hại nghiêm trọng đến tính mạng, danh dự, uy tín… cá nhân hoặc tổ chức. Trong hoạt động TTDS, chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng của Tòa án để đảm bảo mọi vi phạm pháp luật trong hoạt động tố tụng phải được xử lý nghiêm minh, kịp thời. Do đó, khi các vụ việc dân sự được giải quyết, nếu có vi phạm của Tòa án trong xét xử và làm ảnh hưởng, xâm hại đến quyền lợi của bên đương sự, VKSND có quyền xử lý theo quy định.
- Khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của người bị vi phạm
Bảo vệ QCN là hành vi được xác lập theo mong muốn và yêu cầu của nhà nước, cá nhân, chủ thể trong xã hội với mục tiêu bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của chủ thể bị xâm phạm. Việc bảo vệ QCN chỉ được thực hiện khi nó được nhà nước đại diện hoặc mỗi cá nhân, công dân trong xã hội nhận thấy cần thiết, có nhu cầu và yêu cầu thực hiện các hoạt động bảo vệ để đảm bảo QCN được tôn trọng và thi hành trên thực tiễn. Trái lại, nếu chính nhà nước và chủ thể của QCN không có nhu cầu, không yêu cầu bảo vệ QCN, thì hoạt động này sẽ không được tiến hành trong đời sống xã hội. Qua đó có thể hiểu nhu cầu và yêu cầu bảo vệ là vô cùng cấp thiết, quan trọng nhất, nó sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến nhà nước và mỗi cá nhân, công dân trong xã hội thực hiện hoạt động bảo vệ QCN. Nhà nước cũng như cá nhân sẽ thực hiện hoạt động bảo vệ quyền công dân khi từng chủ thể trên đã nhận thức rõ được hành vi có nguy cơ đe doạ gây phương hại hoặc là hành vi đã xâm hại QCN. Khi họ nhận thức rõ hành vi này sẽ đe doạ hoặc xâm hại các quyền, lợi ích hợp pháp của mỗi cá nhân, công dân thì nhà nước, cá nhân sẽ thực hiện những hoạt động cần thiết để đấu tranh, ngăn chặn và hạn chế những hành vi ảnh hưởng tiêu cực đến QCN. Khi quyền của từng cá nhân, công dân bị xâm phạm thì họ luôn có nhu cầu được bảo vệ, đó vừa là mong muốn tự thân, cũng là trách nhiệm của nhà nước và xã hội trong đấu tranh với các hành vi xâm hại QCN nhằm bảo đảm duy trì sự ổn định và tiến bộ của xã hội, cũng như khôi phục lại những quyền, lợi ích chính đáng của công dân. Trên thực tế, nhà nước sẽ chỉ thực hiện hoạt động bảo vệ QCN của cá nhân khi cá nhân đề nghị hoặc trừ khi nhà nước cảm thấy thật sự cấp bách cũng như thể hành vi tội phạm gây tổn hại hoặc đe doạ gây tổn hại đến lợi ích của nhà nước. Với tư cách là cơ quan bảo vệ pháp luật, nhiệm vụ đặc biệt trong hoạt động tố tụng được giao cho VKSND. Trong TTDS, khi đương sự yêu cầu khởi kiện, thì Tòa án sẽ thụ lý giải quyết. Do đó, hoạt động bảo vệ QCN của VKSND là hoạt động được thực hiện bằng quyền lực nhà nước dựa trên sự tự nguyện và chủ động của người có nhu cầu được bảo vệ. Luận văn: Trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân tại VKSND.
Quá trình khôi phục quyền không chỉ là để bảo vệ những quyền mà còn nhằm tái thiết lại lợi ích do quyền đó mang lại đã bị mất hoặc sẽ mất do hành vi vi phạm luật [18, tr. 45]. Hoạt động vận dụng pháp luật khôi phục QCN là việc áp dụng các công cụ, phương thức và hành vi nhất định nhằm ép buộc các chủ thể đã xâm hại QCN phải thi hành. Khi mỗi cá nhân, đương sự bị hành vi trái pháp luật trong quan hệ dân sự thì họ có quyền khởi kiện, đề nghị Toà án giải quyết và họ sẽ trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật TTDS, họ sẽ được pháp luật bảo hộ trong việc khởi kiện nhằm khôi phục lại, đòi lại những thứ đã bị mất, đã bị xâm phạm. Với vai trò hiến định KSHĐTP, kiểm sát TTDS, VKSND có trách nhiệm, quyền hạn kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự, bảo đảm mọi hành vi đều đúng theo qui định của pháp luật và thực hiện quyền bảo vệ lợi ích chính đáng của công dân. Qua đó, phạm vi, cách thức, mức độ quyền, lợi ích đối với từng chủ thể có yêu cầu khôi phục sẽ được xác định thông qua VKSND. Đồng thời, VKSND cũng sẽ thực hiện khôi phục khi có điều kiện nhằm bắt buộc các chủ thể khác tự nguyện khôi phục lại quyền và lợi ích chính đáng của cá nhân khi họ không tuân theo hoặc làm tổn hại đối với người có quyền. Mục tiêu là nhằm khôi phục lại quyền và lợi ích chính đáng của mỗi cá nhân, quyền công dân vì lợi ích của quốc gia, dân tộc.
1.2.2.2 Hình thức bảo vệ QCN thông qua hoạt động kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự
Việc bảo vệ QCN trong hoạt động tố tụng cần phải được thực hiện, VKSND sẽ phải tiến hành việc ban hành văn bản như yêu cầu, kháng nghị, kiến nghị để TAND khắc phục vi phạm pháp luật trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự. Trong phạm vi thẩm quyền của mình, VKSND các cấp có nhiệm vụ và quyền hạn để phát hiện mọi vi phạm pháp luật của Tòa án. Tùy thuộc vào mức độ vi phạm, VKSND sẽ ban hành kiến nghị, kháng nghị, yêu cầu khắc phục kịp thời. Đây cũng là cách thức bảo vệ QCN trong hoạt động tố tụng. Mục đích của điều này là đảm bảo rằng các vụ việc dân sự được giải quyết theo đúng luật và góp phần bảo vệ hiệu quả các QCN trong hoạt động TTDS trong thực tiễn. Theo quy định của pháp luật, VKSND có thể áp dụng các biện pháp để hạn chế, ngăn chặn và loại bỏ vi phạm pháp luật, từ đó bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người tham gia vào hoạt động tố tụng.
- Thông qua hoạt động kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu
Quy định về quyền khởi kiện tại Tòa án nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, đồng thời cũng có quy định về việc trả đơn khởi kiện và đơn yêu cầu trong trường hợp không tuân theo luật định. Việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu mà không tuân theo quy định sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực tới quyền lợi hợp pháp của người liên quan. Do đó, việc kiểm sát chặt chẽ việc trả lại các đơn này là trách nhiệm của VKS nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người liên quan và để đảm bảo rằng Thẩm phán có thể xem xét và giải quyết các vụ án theo đúng quy định của pháp luật. Khoản 1 Điều 192 BLTTDS năm 2015 đã bổ sung, quy định rõ một số trường hợp trả đơn khởi kiện. Cụ thể, trong trường hợp người khởi kiện không ghi đầy đủ, cụ thể những nội dung của đơn khởi kiện theo quy định tại Điều 189 BLTTDS 2015 hoặc ghi không đúng tên, địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mà không sửa chữa, bổ sung theo yêu cầu của Thẩm phán thì Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện. Đặc biệt BLTTDS 2015 đã bổ sung trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú, trụ sở mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện thì Thẩm phán không trả lại đơn khởi kiện mà xác định người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung. Khi trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu và các tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện, Tòa án phải có văn bản ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đồng thời gửi cho VKSND cùng cấp. Đương sự có quyền khởi kiện, VKS có quyền kiến nghị với Toà án xem xét việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu.
Sau khi nhận được thông báo về việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của Toà án cùng cấp, Viện trưởng VKS phân công KSV, KTV xem xét, giải quyết, kiểm sát, vào sổ kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu hợp lệ. Khi cần thiết thì thực hiện quyền yêu cầu theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 20 và Điều 21 TTLT số 02/2016. Trường hợp xét thấy việc Tòa án trả lại đơn khởi kiện không có căn cứ thì báo cáo, đề xuất Viện trưởng để thực hiện quyền kiến nghị với Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 194 BLTTDS. Trường hợp không đồng ý với quyết định trả lời khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện của Thẩm phán, trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định, VKS cùng cấp thực hiện quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp theo quy định tại khoản 6 Điều 194 BLTTDS. Trường hợp có căn cứ xác định quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị của Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp có vi phạm pháp luật thì trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định, VKS có quyền kiến nghị với Chánh án TAND cấp cao nếu quyết định bị khiếu nại, kiến nghị là của Chánh án TAND cấp tỉnh hoặc với Chánh án TAND tối cao nếu quyết định bị khiếu nại, kiến nghị là của Chánh án TAND cấp cao. Quyết định của Chánh án TAND cấp cao hoặc của Chánh án TAND tối cao là quyết định cuối cùng. Trong những trường hợp mà thông báo về việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu cho VKS hoặc về nội dung, hình thức thông báo không được gửi đầy đủ hoặc chậm trễ theo quy định của pháp luật bởi Toà án, VKS có quyền yêu cầu và kiến nghị Tòa án sửa chữa vi phạm.
- Thông qua hoạt động kiểm sát việc thụ lý, giải quyết vụ việc dân sự Luận văn: Trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân tại VKSND.
Khoản 2 Điều 58 BLTTDS 2015 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của KSV khi được Viện trưởng VKS phân công thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS đó là kiểm sát việc thụ lý, giải quyết vụ việc dân sự. Quy định trên nêu rõ VKS tiến hành kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với việc thụ lý giải quyết các vụ việc dân sự. Đồng thời, thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật ngay từ khi Toà án đã thụ lý vụ, việc dân sự. Theo quy định, VKS có trách nhiệm kiểm sát việc Toà án thụ lý vụ, việc dân sự. Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ việc dân sự, VKSND kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Toà án, của Thẩm phán, Thư ký Toà án, người được giao giải quyết các vụ việc dân sự và những người tham gia tố tụng nhằm đảm bảo quyết định thụ lý của Toà án được chính xác, khách quan và đúng pháp luật.
- Thông qua hoạt động nghiên cứu hồ sơ, yêu cầu xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ
Xuất phát từ chức năng KSHĐTP của VKS, BLTTDS năm 2015 quy định về thẩm quyền xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ của VKS, bổ sung so với BLTTDS năm 2004 như sau: KSV khi được Viện trưởng phân công thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS có nhiệm vụ, quyền hạn “Yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này; thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định tại khoản 6 Điều 97 của Bộ luật này” (khoản 3 Điều 58). VKS thu thập tài liệu, chứng cứ để bảo đảm cho việc thực hiện thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm (khoản 6 Điều 97). Luận văn: Trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân tại VKSND.
Yêu cầu là hình thức thực hiện quyền của VKSND trong hoạt động KSHĐTP đối với những chủ thể hữu quan nhằm đảm bảo việc thực hiện chức trách, quyền hạn của VKSND. Một số yêu cầu thường được VKSND thực hiện bao gồm: Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động tư pháp theo đúng quy định của pháp luật hoặc tự kiểm tra việc thực hiện hoạt động tư pháp theo thẩm quyền và báo cáo kết quả về VKSND; Yêu cầu xuất trình chứng cứ, tài liệu do VKSND chứng minh sự đúng đắn của từng hành vi, quyết định trong hoạt động tư pháp; Yêu cầu, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phát hiện, xử lý các vi phạm pháp luật đối với hoạt động tư pháp. Do vậy, hoạt động của VKSND thực hiện các yêu cầu trên theo quy định của pháp luật cũng là một trong những hình thức đảm bảo QCN đối với hoạt động TTDS của VKSND.
Sau khi nhận được hồ sơ vụ việc do Tòa án chuyển qua, cán bộ, KSV được Lãnh đạo phân công kiểm sát giải quyết vụ việc dân sự tiến hành nghiên cứu toàn bộ hồ sơ vụ việc. Việc nghiên cứu hồ sơ giúp KSV nắm đầy đủ nội dung vụ án (bao gồm quan hệ pháp luật tranh chấp, thành phần tham gia và tư cách pháp lý của đương sự, các yêu cầu của đương sự); nắm vững hệ thống tài liệu, chứng cứ và các tình tiết của vụ án; Xác định các vi phạm pháp luật tố tụng của Thẩm phán và những người tham gia tố tụng để xây dựng để cương hỏi và phát biểu ý kiến tại phiên tòa; Làm cơ sở cho việc thực hiện thẩm quyền yêu cầu, kiến nghị nhằm kịp thời khắc phục các vi phạm pháp luật, góp phần bảo đảm cho việc giải quyết vụ án kịp thời, đúng pháp luật. Thời gian nghiên cứu hồ sơ vụ án của KSV tối đa là 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án. Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, kiểm sát việc xác minh, thu thập tài liệu, chúng cứ, KSV, KTV kiểm sát về trình tự, thủ tục, về nguồn chứng cứ, bảo đảm tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp, khách quan, đầy đủ, làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án đúng pháp luật.
- Thông qua hoạt động tham gia phiên tòa, phiên họp và phát biểu quan điểm của KSV về việc giải quyết các vụ việc dân sự
Điều 21 BLTTDS năm 2015 đã được quy định rõ về trường hợp VKSND tham gia phiên tòa, phiên họp giải quyết vụ việc dân sự, đồng thời được quy định rằng VKS tham gia phiên tòa sơ thẩm trong trường hợp Toà án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự với lý do không có điều luật để giải quyết. Cụ thể: VKS tham gia các phiên họp sơ thẩm đối với các việc dân sự; phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, QSDĐ, nhà ở hoặc có đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc trường hợp Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng theo quy định tại khoản 2 Điều 4 BLTTDS năm 2015. Điều đáng chú ý là lần đầu tiên Bộ luật này quy định rằng trong trường hợp VKS viên được phân công tham dự phiên tòa, phiên họp sơ thẩm hoặc phiên tòa, phiên họp phúc thẩm mà không có mặt, Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục quá trình xét xử mà không hoãn phiên tòa, trừ khi VKS có kháng nghị phúc thẩm. Quy định trên góp phần đảm bảo cho việc xét xử, giải quyết vụ án dân sự được kịp thời, hiệu quả, tăng cường trách nhiệm của KSV và của VKSND. Sự tham gia của VKS vào phiên tòa, cuộc họp giải quyết vụ việc dân sự là biểu hiện của vị trí và vai trò quan trọng của VKS trong hệ thống TTDS. Qua đó, niềm tin vào công lý của người liên quan và cộng đồng được củng cố, góp phần quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi và lẽ phải trong TTDS khi có sự tham gia của VKS.
Hoạt động phát biểu quan điểm của VKS tại phiên toà sơ thẩm: Để đảm bảo sự thống nhất với Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức VKSND năm 2014, Luật Tổ chức TAND năm 2014, việc bổ sung quy định về phát biểu của KSV tại phiên toà sơ thẩm đã được thực hiện để khắc phục những hạn chế và bất cập của quy định tại Điều 234, BLTTDS năm 2004 và Điều 262 BLTTDS năm 2015: “Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, KSV phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Toà án, người tham gia TTDS trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án”. Dưới góc độ khoa học pháp luật và thực tiễn xét xử các vụ việc dân sự ở nước ta hiện nay, việc quy định cho phép VKSND được tham gia sâu hơn đối với quá trình giải quyết vụ việc dân sự, đồng thời quy định cho phép KSV phát biểu ý kiến của VKS đối với quá trình giải quyết vụ việc dân sự tại phiên toà, là hoàn toàn phù hợp và có tính khả thi cao trên các khía cạnh sau đây: KSV tham gia phát biểu quan điểm của VKS đối với quá trình giải quyết vụ án không có nghĩa là Hội đồng xét xử chỉ theo ý kiến hay phải dựa trên ý kiến của KSV, ngược lại còn làm phong phú thêm các quan điểm, đường lối giải quyết vụ án, đưa ra các luận cứ, tình tiết trên cơ sở nghiên cứu vụ án để Hội đồng xét xử có thêm cơ sở phục vụ cho việc xem xét toàn diện, đưa ra quyết định sau cùng đối với vụ việc dân sự. Do vậy, ý kiến phát biểu của KSV về đường lối giải quyết vụ án không ảnh hưởng đến tính độc lập trong việc xét xử của Toà án theo nguyên tắc Toà án xét xử độc lập và luôn tuân theo pháp luật. Ý kiến này chỉ là một góp ý để Hội đồng xét xử tham khảo, cũng như ý kiến của đại diện đương sự. Qua đó, các ý kiến này góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, đảm bảo cho mọi hoạt động trước, trong và sau phiên toà, phiên họp được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Đồng thời, quyền và lợi ích chính đáng của đương sự và những người tham gia tố tụng khác được được bảo vệ. Thực tế xét xử cho thấy, KSV phát biểu quan điểm của VKS về đường lối giải quyết vụ việc tại phiên toà phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm đã đem lại hiệu quả cao đối với công tác giải quyết vụ việc dân sự; bên cạnh đó, góp phần nâng cao trách nhiệm của VKSND khi tham gia phiên toà, phiên họp sơ thẩm giải quyết vụ việc dân sự. Bởi vậy, bản thân từng KSV khi phát biểu ý kiến về đường lối giải quyết vụ việc dân sự tại phiên toà, phiên họp sơ thẩm cũng đặt vấn đề “trách nhiệm” của mình trước pháp luật và tại cơ quan, đơn vị mình. Luận văn: Trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân tại VKSND.
Hoạt động phát biểu của KSV khi tham gia phiên tòa xét xử vụ án dân sự có vai trò quan trọng trong công tác kiểm sát việc giải quyết vụ án dân sự; thể hiện trực tiếp, chính thức, tập trung, phản ánh rõ ràng và đầy đủ kết quả hoạt động kiểm sát việc giải quyết vụ án dân sự; góp phần củng cố vai trò, vị trí của VKSND trong TTDS, thể hiện trách nhiệm của KSV VKSND đối với xã hội và nhân dân; là cơ sở quan trọng để Tòa án xem xét ban hành bản án, quyết định giải quyết vụ án dân sự có căn cứ và đúng pháp luật; là phương thức tuyên truyền, phổ biến pháp luật, nâng cao nhận thức pháp luật của người tham gia tố tụng và nhân dân; là cơ sở để nhân dân thực hiện giám sát trực tiếp đối với các hoạt động của VKSND trong quá trình giải quyết vụ án dân sự.
- Thông qua hoạt động kiểm sát bản án, quyết định giải quyết vụ việc dân sự
Công tác kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án là một trong những nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND khi kiểm sát việc giải quyết vụ việc dân sự được quy định tại khoản 5 Điều 27 Luật Tổ chức VKSND năm 2014. Trên cơ sở đó, VKS có thẩm quyền kháng nghị, kiến nghị bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật; kiến nghị, yêu cầu Tòa án, cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động tố tụng (khoản 7 Điều 27 Luật Tổ chức VKSND).
Theo quy định của BLTTDS, VKS thực hiện quyền kiểm sát đối với các quyết định sau: Quyết định chuyển vụ án dân sự cho Tòa án khác (Điều 41); Quyết định nhập hoặc tách vụ án (Điều 42); Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời (Điều 140); Quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự (Điều 216); Quyết định đưa vụ án ra xét xử (Điều 220); Quyết định hoãn phiên tòa (Điều 233)… Khi nhận được các quyết định trên, KSV, KTV được phân công phải vào sổ thụ lý theo từng loại quyết định, lập phiếu kiểm sát để kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của quyết định như: thời hạn Tòa án gửi quyết định cho VKS, trình tự, thủ tục, nội dung, hình thức của các quyết định theo đúng hướng dẫn tại Quy chế công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự của Viện trưởng VKSND Tối cao (gọi tắt là Quy chế 364). Trường hợp phát hiện vi phạm phải kịp thời báo cáo Lãnh đạo Viện để xem xét thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị theo quy định pháp luật.
Đối với việc kiểm sát các quyết định: Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự (Điều 212); tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự (Điều 214); đình chỉ giải quyết vụ án dân sự (Điều 217); bản án sơ thẩm (Điều 266 đến Điều 269) được thực hiện theo quy định tại Điều 16, 17, 18 và Điều 26 Quy chế 364. Khi nhận được các quyết định, bản án nói trên, KSV, KTV phải lập phiếu kiểm sát, kiểm sát chặt chẽ về thời hạn gửi, căn cứ, thẩm quyền ban hành, nội dung, hình thức của bản án, quyết định. Nếu xét thấy cần phải nghiên cứu hồ sơ vụ việc thì yêu cầu Tòa án chuyển hồ sơ theo quy định tại Điều 5 Thông tư liên tịch số 02/2016. Trường hợp phát hiện vi phạm thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm để xem xét kháng nghị hoặc kiến nghị theo thẩm quyền. Trường hợp đã hết thời hạn kháng nghị của VKS cùng cấp thì báo cáo Lãnh đạo VKS cấp trên trực tiếp xem xét kháng nghị phúc thẩm theo thẩm quyền. Khi xét thấy cần thiết phải thu thập tài liệu, chứng cứ để bảo đảm cho việc kháng nghị phúc thẩm, KSV, KTV báo cáo Lãnh đạo Viện để thực hiện quyền thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định tại khoản 6 Điều 97 BLTTDS. Trường hợp bản án, quyết định sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện vi phạm nghiêm trọng hoặc có tình tiết mới làm thay đổi cơ bản nội dung bản án, quyết định thì KSV, KTV đề xuất với Lãnh đạo Viện để báo cáo VKS có thẩm quyền xem xét kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm. Luận văn: Trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân tại VKSND.
Thực tế đã chứng minh rằng, việc phát hiện vi phạm khi nghiên cứu và kiểm sát bản án, quyết định giải quyết các vụ việc dân sự trong của Tòa án chủ yếu là các vụ, việc không được kiểm sát bởi VKS và không có sự tham gia của VKS vào phiên tòa xét xử. Điều này đòi hỏi KSV phải có năng lực chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng, cũng như thường xuyên nghiên cứu và tích lũy kinh nghiệm thực tiễn vì những vi phạm trong bản án, quyết định không phản ánh được đầy đủ các tình tiết khách quan của vụ án nên khó phát hiện vi phạm trên thực tế. Việc thực hiện công tác này một cách chặt chẽ sẽ đóng góp vào việc nâng cao số lượng và chất lượng các kháng nghị, kiến nghị của VKS, từ đó đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các đương sự.
- Thông qua kiến nghị, kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật
- Kiến nghị:
Kiến nghị là cách thức VKSND thực hiện quyền trong quá trình kiểm sát các hoạt động tư pháp. Việc sử dụng kiến nghị được VKSND áp dụng trong những trường hợp khi phát hiện vi phạm pháp luật trong việc giải quyết các vụ việc dân sự mà chưa đạt đến mức cần thiết phải kháng nghị, hoặc khi phát hiện nguyên nhân và điều kiện gây ra vi phạm pháp luật của các cơ quan, tổ chức, đơn vị liên quan cần áp dụng biện pháp phòng ngừa. Cụ thể, hành vi, quyết định nào của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp có vi phạm ít nghiêm trọng mà không thuộc trường hợp phải kháng nghị thì bị VKSND kiến nghị yêu cầu khắc phục và xử lý người vi phạm. Nếu có sơ hở, thiếu sót trong hoạt động quản lý, VKSND sẽ kiến nghị cơ quan, tổ chức liên quan để khắc phục và áp dụng biện pháp ngăn chặn việc vi phạm pháp luật và tội phạm. Việc VKSND ban hành kiến nghị đối với các cơ quan hữu quan được coi là một biện pháp bảo vệ QCN trong quá trình tố tụng. Thực tế cho thấy, sự hiệu quả của việc bảo vệ QCN trong hoạt động TTDS được thể hiện thông qua việc kiến nghị được ban hành với số lượng và chất lượng cao.
Luật Tổ chức VKS năm 2014 quy định cụ thể, rõ ràng và chặt chẽ về chế định kiến nghị hơn so với Luật Tổ chức VKSND các năm 1960, 1981 và năm 2002. Tại điểm c, khoản 3, Điều 4 Luật Tổ chức VKSND năm 2014 quy định: “Khi thực hiện chức năng KSHĐTP, VKSND có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: Kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền khắc phục, xử lý nghiêm minh vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp; kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm.” Tại khoản 2 Điều 5 Luật Tổ chức VKSND năm 2014 quy định: “Trường hợp hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp có vi phạm pháp luật ít nghiêm trọng không thuộc trường hợp kháng nghị quy định tại khoản 1 Điều này thì VKSND kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân đó khắc phục vi phạm và xử lý nghiêm minh người vi phạm pháp luật; nếu phát hiện sơ hở, thiếu sót trong hoạt động quản lý thì kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan khắc phục và áp dụng các biện pháp phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm. Cơ quan, tổ chức cá nhân có liên quan có trách nhiệm xem xét, giải quyết, trả lời kiến nghị của VKSND theo quy định của pháp luật”. Tại khoản 7 Điều 27 Luật Tổ chức VKSND năm 2014 quy định: “Nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND khi kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật: Kháng nghị, kiến nghị bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật; kiến nghị, yêu cầu Tòa án, cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động tố tụng”.
Ngày 02/01/2020 VKSND tối cao ban hành Hướng dẫn công tác kiểm sát giải quyết các vụ, việc dân sự, hôn nhân gia đình năm 2020 số 02/HD/VKS-TC. Trong đó có nêu nhiệm vụ cụ thể và giải pháp thực tiễn trong công tác kiến nghị, cụ thể: “VKS các cấp tập trung đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công tác kiến nghị đảm bảo đạt và vượt tỷ lệ kiến nghị được chấp nhận theo Nghị quyết của Quốc hội. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, VKS các cấp có trách nhiệm nghiên cứu, phát hiện, tổng hợp những vi phạm pháp luật của Tòa án để thực hiện quyền kiến nghị yêu cầu Tòa án khắc phục vi phạm theo đúng quy định của pháp luật. Cần chú trọng phát hiện những vi phạm của các cơ quan, tổ chức khác, nhất là các cơ quan quản lý nhà nước về đất đai, trong đó tập trung vào công tác lập hồ sơ và cấp giấy chứng nhận QSDĐ; việc lưu trữ… để kiến nghị đối với các cơ quan tổ chức đó thực hiện các biện pháp khắc phục, phòng ngừa vi phạm nhằm bảo đảm sự tuân thủ pháp luật. Tiếp tục thực hiện tốt việc quản lý, báo cáo, đánh giá chất lượng kiến nghị để phục vụ hoạt động giám sát của Quốc hội tại các kỳ họp”. Những quy định, hướng dẫn trên là cơ sở cho việc thực hiện quyền kiến nghị khi thực hiện chức năng kiểm sát trong hoạt động tư pháp trong TTDS.
- Kháng nghị: Luận văn: Trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân tại VKSND.
Kháng nghị phúc thẩm dân sự là quyền năng pháp lý của VKSND trong quá trình KSHĐTP được quy định trong Luật Tổ chức VKSND năm 2014 (khoản 7, Điều 27) và BLTTDS năm 2015 (Điều 278), nhằm “Bảo vệ pháp luật, bảo vệ QCN, QCD, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất” (khoản 2 Điều 2 Luật Tổ chức VKSND và khoản 2 Điều 13 BLTTDS).
Kháng nghị của VKSND bao gồm: Kháng nghị các quyết định, bản án của TAND theo trình tự thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm; kháng nghị với Toà án cùng cấp và cấp dưới, yêu cầu cơ quan tổ chức, cá nhân có liên quan khắc phục những vi phạm pháp luật đối với việc ban hành quyết định, bản án của Toà án. Kháng nghị cũng là một biện pháp cần thiết nhằm thi hành chức trách, quyền hạn của VKSND, kháng nghị cũng là một biện pháp bảo đảm QCN đối với hoạt động tư pháp. Trong trường hợp xảy ra vụ việc, bản án hoặc quyết định được thực hiện bởi cơ quan hoặc cá nhân có thẩm quyền trong việc tiến hành các hoạt động tố tụng có hậu quả vi phạm pháp luật nghiêm trọng, gây tổn thất đến quốc gia, lợi ích của nhà nước và quyền lợi chính đáng của cộng đồng hay cá nhân, thì VKSND phải tiến hành kháng nghị. Cơ quan, cá nhân có thẩm quyền phải chấp hành kháng nghị của VKSND theo qui định của pháp luật.
Với tầm quan trọng đặc biệt đó, VKSND tối cao ban hành Chỉ thị số 10/CT- VKSTC, ngày 06/4/2016 về, “Tăng cường công tác kháng nghị phúc phẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ việc dân sự, vụ án hành chính”; Chỉ thị số 07/CT- VKSTC, ngày 21/8/2021 về, “Tăng cường công tác kháng nghị phúc phẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ án hành chính, vụ việc dân sự” (thay thế Chỉ thị số 10/CT-VKSTC, ngày 06/4/2016) và Hướng dẫn số 33/HD-VKSTC ngày 17/10/2019 về, “Phát hiện vi phạm của bản án, quyết định sơ thẩm giải quyết các vụ, việc dân sự, thực hiện thẩm quyền kháng nghị ngang cấp theo thủ tục phúc thẩm nhằm giảm tỷ lệ bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị Tòa án cấp phúc thẩm hủy có trách nhiệm của VKS ngang cấp; đồng thời, nâng cao tỷ lệ, chất lượng kháng nghị phúc thẩm của VKS ngang cấp”.
Kháng nghị bản án, quyết định dân sự là hoạt động tố tụng của người tiến hành tố tụng có thẩm quyền thể hiện quan điểm phản đối bản án, quyết định dân sự mà Toà án đã tuyên trước đó, yêu cầu Toà án có thẩm quyền xét xử lại. Kháng nghị phúc thẩm là quyền hạn mà pháp luật quy định duy nhất đối với VKSND để kháng nghị những bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án cùng cấp và cấp dưới trực tiếp khi thấy có vi phạm pháp luật nghiêm trọng nhằm đề nghị Toà án giải quyết lại theo trình tự phúc thẩm để bảo đảm yêu cầu xét xử vụ án theo quy định của pháp luật, đảm bảo lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích chính đáng của đương sự. Quy định của Điều 278 trong BLTTDS quy định rằng: Bản án sơ thẩm, quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm có thể bị kháng nghị bởi Viện trưởng VKS cùng cấp và cấp trên trực tiếp để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm. Quy định của BLTTDS về người có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm dân sự là đặc điểm để phân biệt với kháng nghị giám đốc thẩm và tái thẩm dân sự. Viện trưởng VKSND có quyền kháng nghị phúc thẩm hoặc kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm. Tuy nhiên, kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm của Viện trưởng VKSND được thực hiện đối với các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và bản án, quyết định đó có sai lầm, vi phạm pháp luật hoặc phát hiện có tình tiết mới. Còn kháng nghị phúc thẩm của Viện trưởng VKSND được áp dụng trong trường hợp bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật. Điều 282 BLTTDS ghi nhận: Bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm hoặc những phần bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp pháp luật quy định cho thi hành ngay. Xuất phát từ nguyên tắc bảo đảm phần bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng nghị có giá trị thi hành, đồng thời bảo đảm cho việc xử lý vụ việc kịp thời, nhanh chóng theo quy định pháp luật, BLTTDS yêu cầu Toà án cấp sơ thẩm phải xem xét lại nội dung của bản án, quyết định sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị nếu có ảnh hưởng đến quá trình xem xét phần kháng cáo, kháng nghị (Điều 293 BLTTDS).
1.3. Các điều kiện đảm bảo tăng cường trách nhiệm của VKSND trong bảo vệ QCN Luận văn: Trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân tại VKSND.
1.3.1. Bảo đảm các giá trị cơ bản của Nhà nước pháp quyền XHCN:
Thượng tôn pháp luật, pháp luật là tối cao: Mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội, kể cả các cơ quan nhà nước, đều phải tuân thủ pháp luật. Pháp luật phải được xây dựng dựa trên nguyên tắc công bằng, dân chủ và minh bạch. Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không có sự phân biệt đối xử dựa trên bất kỳ tiêu chí nào như giới tính, dân tộc, tôn giáo, hay địa vị xã hội. Thượng tôn pháp luật là nguyên tắc căn bản của hệ thống pháp luật. VKSND cần thực hiện trách nhiệm của mình dựa trên cơ sở của pháp luật, không có sự chênh lệch, tiên lượng, hay chi phối từ bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào khác. Việc thực hiện công việc theo pháp luật giúp đảm bảo quyền lợi, tự do và bình đẳng của con người.
Bảo vệ QCN và quyền công dân: Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm các QCN cơ bản được tôn trọng và bảo vệ, bao gồm quyền sống, quyền tự do, quyền an toàn, quyền bình đẳng, và các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa. Các quyền và nghĩa vụ của công dân phải được quy định rõ ràng trong pháp luật và được bảo đảm thực hiện đầy đủ, bao gồm quyền bầu cử, quyền ứng cử, quyền tự do ngôn luận, quyền tự do hội họp, và quyền khiếu nại, tố cáo. VKSND cần đảm bảo việc bảo vệ QCN và quyền công dân theo đúng quy định của pháp luật. VKSND cần kiên quyết đấu tranh với các hành vi vi phạm QCN và quyền công dân, bảo vệ và thúc đẩy sự công bằng và bình đẳng cho mọi công dân.
Phân chia quyền lực và kiểm soát lẫn nhau: Quyền lực nhà nước cần được phân chia rõ ràng giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp. Mỗi cơ quan có chức năng và quyền hạn riêng biệt, đồng thời có cơ chế kiểm soát lẫn nhau để ngăn chặn sự lạm quyền. Cơ chế kiểm soát và cân bằng quyền lực phải được thiết lập một cách hiệu quả để đảm bảo rằng không có cơ quan hoặc cá nhân nào có thể lạm quyền hoặc vi phạm pháp luật. VKSND cần được đảm bảo độc lập và không có sự can thiệp từ bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào khác. Tuy nhiên, việc này không có nghĩa là VKSND được hoạt động hoàn toàn độc lập. Việc kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan chức năng như VKSND, Tòa án và Công an nhân dân giúp đảm bảo quyền lực không bị lạm dụng và công lý được thực hiện đúng đắn.
Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa: Pháp chế xã hội chủ nghĩa là cơ sở để đảm bảo quyền lợi và lợi ích chung của người dân. Hệ thống pháp luật cần được hoàn thiện, đồng bộ và nhất quán, đảm bảo tính minh bạch, dễ hiểu và khả thi. Các quy định pháp luật phải phản ánh đúng các giá trị cơ bản của xã hội chủ nghĩa. Pháp luật cần được sử dụng như một công cụ chủ yếu để quản lý và điều hành các hoạt động của nhà nước, bảo đảm sự công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước. VKSND cần tăng cường vai trò của mình trong việc xây dựng, sửa đổi và thực hiện pháp chế xã hội chủ nghĩa. Việc này đòi hỏi không chỉ khả năng sử dụng và áp dụng pháp luật mà còn cần trang bị kiến thức chuyên môn, nắm vững tình hình xã hội và có khả năng đưa ra quyết định công bằng.
1.3.2. Bảo đảm mục tiêu xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân Luận văn: Trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân tại VKSND.
Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tư pháp: Để đảm bảo mục tiêu xây dựng một nền tư pháp chuyên nghiệp, việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tư pháp là yếu tố then chốt. Cần thiết phải có các chính sách đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực pháp lý. Đồng thời, cần đầu tư vào việc tạo điều kiện để cán bộ tư pháp có cơ hội tiếp cận với các khóa đào tạo, học bổng để nâng cao trình độ chuyên môn và kiến thức pháp lý. Sự chuyên nghiệp và am hiểu sâu sắc về pháp luật sẽ giúp cán bộ tư pháp có khả năng thực thi công bằng và nghiêm minh. Cán bộ tư pháp cần được đào tạo bài bản, liên tục cập nhật kiến thức pháp luật mới và các kỹ năng chuyên môn cần thiết. Đảm bảo cán bộ tư pháp có đạo đức nghề nghiệp cao, ý thức trách nhiệm, công tâm, và luôn đặt lợi ích của Tổ quốc và Nhân dân lên hàng đầu. Quy trình tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ tư pháp cần được thực hiện minh bạch, công bằng, dựa trên năng lực và phẩm chất đạo đức.
Hiện đại hóa hệ thống tư pháp: Việc hiện đại hóa hệ thống tư pháp không chỉ giúp nhanh chóng giải quyết các vấn đề pháp lý mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận công lý. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hồ sơ, tra cứu pháp luật, giải quyết tranh chấp, quản lý và hoạt động tư pháp để nâng cao hiệu quả, tính minh bạch và sự tiện lợi cho người dân. Đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm thiểu thời gian và chi phí cho người dân và doanh nghiệp khi tiếp cận dịch vụ tư pháp. Thực hiện quy trình tư pháp trực tuyến sẽ giảm thiểu tối đa thủ tục phức tạp, đồng thời tăng cường minh bạch và minh chứng số trong hoạt động tư pháp.
Bảo đảm tính công bằng và nghiêm minh trong xét xử: Bảo đảm sự độc lập của các tòa án trong xét xử, không chịu sự can thiệp của bất kỳ cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào. Mọi hành vi vi phạm pháp luật phải được xử lý nghiêm minh, không có sự phân biệt đối xử, đảm bảo tính răn đe và giáo dục. Tăng cường công khai, minh bạch trong các hoạt động xét xử, đảm bảo quyền được thông tin của người dân và xã hội. Để đảm bảo tính công bằng và nghiêm minh trong quá trình xét xử, VKSND cần tăng cường sự minh bạch trong quy trình đưa ra các quyết định truy tố, kháng nghị. Việc xây dựng hệ thống giám sát chặt chẽ, đánh giá công bằng kết quả xét xử cũng đóng vai trò quan trọng. Ngoài ra, việc đề cao nguyên tắc tiến hành xét xử công bằng, minh bạch, phải kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng thông tin, chứng cứ để đảm bảo quá trình tư pháp diễn ra một cách công bằng, minh bạch nhất. Luận văn: Trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân tại VKSND.
Phụng sự Tổ quốc và phục vụ Nhân dân: Mục tiêu cao cả nhất của nền tư pháp là phục vụ Tổ quốc, phục vụ Nhân dân. Mọi hoạt động của ngành tư pháp phải lấy lợi ích của Nhân dân làm trung tâm, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người dân được bảo vệ một cách tốt nhất. Cải thiện khả năng tiếp cận của người dân đối với các dịch vụ tư pháp, đảm bảo mọi người đều có quyền tiếp cận công lý một cách công bằng và thuận lợi. Để đạt được mục tiêu này, VKSND cần đa dạng hóa các hình thức phục vụ, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận công lý. Việc tổ chức các chương trình tư vấn pháp lý, cung cấp thông tin pháp luật đến cộng đồng sẽ giúp tăng cường nhận thức pháp lý cho người dân, đồng thời tăng cường lòng tin và sự hỗ trợ từ phía VKSND.
Hợp tác quốc tế: Tích cực học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia có nền tư pháp phát triển, áp dụng những thực tiễn tốt nhất phù hợp với điều kiện Việt Nam.
Việc thúc đẩy hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp không chỉ mở rộng tầm nhìn, nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ tư pháp mà còn mang lại cơ hội tiếp cận với những tiêu chuẩn quốc tế, giúp cải thiện hoạt động tư pháp theo hướng chuyên nghiệp và hiện đại hơn. Qua việc học hỏi kinh nghiệm quốc tế, VKSND có thể áp dụng những phương pháp tiên tiến, hiệu quả trong quá trình xây dựng nền tư pháp chất lượng và phục vụ tốt nhất cho Nhân dân.
1.3.3. Bảo đảm thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ của VKSND
Hoàn thiện khung pháp lý: Cần hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến QCN, đảm bảo rõ ràng, minh bạch và khả thi. Đặc biệt, cần có các quy định cụ thể về trách nhiệm và quyền hạn của VKSND trong việc bảo vệ QCN. Việc này cần được thúc đẩy thông qua việc đẩy mạnh việc thẩm định, kiểm tra và hoàn thiện các văn bản điều chỉnh hoạt động của cơ quan kiểm sát. Đồng thời, cần phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng khác để xây dựng và điều chỉnh các quy định pháp lý liên quan đến hoạt động kiểm sát, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho sự hoạt động của VKSND. Đảm bảo rằng các quy định pháp luật của Việt Nam phù hợp với các công ước quốc tế về QCN mà Việt Nam đã tham gia ký kết.
Đào tạo và nâng cao năng lực cho cán bộ của VKSND: Một yêu cầu quan trọng khác trong việc tăng cường trách nhiệm của VKSND là đào tạo và nâng cao năng lực cho cán bộ, công chức của VKS. Để bảo vệ QCN một cách chính xác và hiệu quả, cán bộ, công chức cần phải có kiến thức sâu rộng về pháp luật, đặc biệt là pháp luật về QCN cũng như các kỹ năng điều tra và xử lý các vụ việc liên quan đến vi phạm QCN. Việc đầu tư vào đào tạo và phát triển năng lực của cán bộ sẽ giúp họ thực hiện nhiệm vụ của mình một cách chuyên nghiệp. Tăng cường nhận thức về tầm quan trọng của việc bảo vệ QCN trong toàn bộ hệ thống VKSND, đảm bảo cán bộ kiểm sát có ý thức trách nhiệm cao trong thực hiện nhiệm vụ.
Tăng cường công tác kiểm sát: VKSND cần thực hiện tốt vai trò giám sát việc tuân thủ pháp luật của các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân, đảm bảo rằng các QCN được tôn trọng và bảo vệ đúng pháp luật. Cần chú trọng đến việc xây dựng kế hoạch kiểm sát chi tiết, minh bạch và hiệu quả; đồng thời, thực hiện kiểm tra, giám sát việc thực hiện kế hoạch một cách nghiêm ngặt, kịp thời. Đảm bảo mọi hành vi vi phạm pháp luật đều được phát hiện, xử lý một cách nhanh chóng và công bằng, tạo sự tin tưởng từ phía công dân và xã hội đối với cơ quan kiểm sát. Thiết lập các cơ chế giám sát chặt chẽ để theo dõi việc thực hiện QCN trong các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Thực hiện kiểm tra định kỳ và đột xuất để phát hiện và khắc phục kịp thời các sai phạm, bảo đảm sự liêm chính và minh bạch trong hoạt động của VKSND.
Tăng cường hợp tác quốc tế và học hỏi kinh nghiệm: Tăng cường hợp tác với các tổ chức quốc tế về QCN để học hỏi kinh nghiệm, nhận hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo. Nghiên cứu và áp dụng các thực tiễn tốt từ các quốc gia khác vào hoạt động bảo vệ QCN của VKSND. Luận văn: Trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân tại VKSND.
Đẩy mạnh công tác truyền thông và giáo dục pháp luật: Tăng cường công tác truyền thông, giáo dục pháp luật về QCN, cần xây dựng kế hoạch truyền thông rõ ràng, đa dạng, kịp thời và hiệu quả, nhằm nâng cao nhận thức của công dân về vai trò, chức năng của cơ quan kiểm sát. Đồng thời, cần tăng cường công tác giáo dục pháp luật, giúp người dân nắm vững pháp luật, thúc đẩy ý thức tuân thủ pháp luật và tích cực tham gia vào việc ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật. Công khai các hoạt động của VKSND liên quan đến việc bảo vệ QCN để tạo niềm tin và sự ủng hộ của xã hội.
Phát triển cơ sở vật chất và công nghệ: Cần đầu tư vào việc xây dựng, nâng cấp cơ sở vật chất hiện đại đáp ứng yêu cầu công tác kiểm sát, đồng thời tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình kiểm sát và giám sát. Việc này giúp nâng cao hiệu suất làm việc, tối ưu hóa quá trình xử lý vụ án, cũng như tăng cường khả năng phòng, chống tội phạm hiệu quả. Xây dựng cơ sở dữ liệu và hệ thống thông tin liên kết cho VKSND. Thông qua việc quản lý và cập nhật dữ liệu một cách hiệu quả, Viện có thể nắm bắt tình hình, xu hướng của các vấn đề liên quan đến bảo vệ QCN. Hệ thống thông tin liên kết cũng giúp Viện có khả năng truy cứu thông tin nhanh chóng, từ đó đảm bảo việc thực thi pháp luật đúng mức và kịp thời.
Thúc đẩy sự minh bạch và truy cứu trách nhiệm của VKSND: Minh bạch và truy cứu trách nhiệm là yếu tố then chốt trong việc tăng cường trách nhiệm của VKSND. Viện cần công khai thông tin về các hoạt động giám sát, kết quả đánh giá, cũng như những biện pháp xử lý các vi phạm pháp luật liên quan đến QCN. Chỉ thông qua sự minh bạch và truy cứu trách nhiệm, Viện có thể xây dựng niềm tin từ phía công dân và xã hội, đồng thời nâng cao uy tín và hiệu quả của mình.
Tiểu kết chương 1 Luận văn: Trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân tại VKSND.
Chương 1 đã trình bày khái niệm, bản chất, cơ chế, nội dung quy định của pháp luật về bảo vệ QCN. Đồng thời, vai trò, chức năng và nhiệm vụ của VKSND trong tư cách là người bảo vệ QCN trong hoạt động TTDS cũng được xác định rõ ràng. Đặc biệt, đã chỉ rõ được khái niệm giải quyết và kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự, ý nghĩa của lĩnh vực này trong bảo vệ QCN. Qua đó, nội dung và hình thức bảo vệ QCN trong hoạt động TTDS của VKSND đã được xác định cụ thể như sau: Chủ thể và quyền của chủ thể sẽ được bảo vệ; việc phát hiện, ngăn chặn, xử lý và truy cứu hành vi vi phạm QCN, cũng như khôi phục quyền lợi ích hợp pháp của người bị vi phạm. Hình thức bảo vệ QCN trong hoạt động tố tụng của VKSND xuất phát từ nhiệm vụ và quyền hạn của VKSND, thông qua các biện pháp như ban hành quyết định, kháng nghị, kiến nghị và yêu cầu. Việc đưa ra các vấn đề lý luận về lĩnh vực TTDS trong việc bảo vệ QCN liên quan chặt chẽ đến vai trò, chức năng và nhiệm vụ của VKSND. Điều này giúp xác định và làm rõ sự khác biệt giữa các phương thức bảo vệ QCN trong hoạt động TTDS của VKSND. Như vậy, những vấn đề lý luận về bảo vệ QCN trong hoạt động TTDS đã được trình bày tại chương 1 của luận văn. Những luận điểm khoa học như khái niệm, nguồn gốc, bản chất, cơ chế bảo vệ và quy chế pháp lý về QCN đã được khái quát. Vai trò, chức năng và nhiệm vụ của VKSND trong việc bảo vệ QCN thông qua hoạt động kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự cũng đã được nêu rõ. Khái niệm, thẩm quyền kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự, nội dung, hình thức và phương thức bảo vệ QCN trong hoạt động TTDS của VKSND cũng đã được đề cập. Đây là những cơ sở lý luận chính giúp tác giả đánh giá thực trạng bảo vệ QCN trong hoạt động TTDS của VKSND tỉnh Đắk Lắk hiện nay. Trong đó, cơ sở lý luận chủ yếu để đánh giá thực trạng bảo vệ QCN trong hoạt động TTDS của VKSND tỉnh Đắk Lắk hiện nay, đó là đối tượng, cách thức, phương pháp bảo vệ QCN trong hoạt động TTDS của VKSND. Luận văn: Trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân tại VKSND.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực trạng trách nhiệm của VKSND tỉnh Đắk Lắk

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Luận văn: Trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân tại VKSND
Pingback: Luận văn: Giải pháp trách nhiệm của VKSND tỉnh Đắk Lắk