Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật bảo vệ quyền phụ nữ bằng hình sự Việt Nam hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Phụ nữ – “một nửa của nhân loại” – không chỉ có khả năng đóng góp cho sự tiến bộ của thế giới ngang bằng với nam giới mà còn mang thiên chức thiêng liêng làm vợ, làm mẹ là cội nguồn hạnh phúc của loài người. Với những phẩm giá đó, phụ nữ xứng đáng được tôn vinh bởi mọi lực lượng xã hội. Tuy nhiên, những đặc thù về sinh học và sự tồn tại của định kiến xã hội khiến cho phụ nữ đã và đang phải gánh chịu rất nhiều sự phân biệt đối xử, các hình thức bạo hành, xâm hại tình dục và những cản trở đối với việc thực hiện thiên chức cũng như sự tiến bộ mọi mặt của họ. Bởi vậy, trong các văn kiện pháp lý, trong các hoạt động nghiên cứu cũng như thực tiễn về quyền con người trên thế giới, phụ nữ được được xác định là một trong “các nhóm xã hội dễ bị tổn thương” (vulnerable groups) – là khái niệm chỉ tới những nhóm người có nguy cơ cao bị tổn thương về quyền con người [19, tr.229]. Trên cơ sở nhận thức đó, pháp luật quốc tế đã nhấn mạnh yêu cầu bảo vệ quyền phụ nữ ở phương diện quyền con người nói chung cũng như quyền đặc thù giới nói riêng bằng nhiều văn kiện pháp lý quan trọng như: Hiến chương liên hiệp quốc năm 1945; Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948; Công ước về trấn áp việc buôn người và bóc lột mại dâm người khác năm 1949; Công ước về các quyền chính trị của phụ nữ năm 1952; Công ước về quốc tịch của phụ nữ khi kết hôn năm 1957; Công ước về đăng ký kết hôn, tuổi tối thiểu khi kết hôn và việc kết hôn tự nguyện năm 1962; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ năm 1979 (CEDAW)…
Bởi vậy, việc bảo vệ quyền phụ nữ được đặt ra như một nhiệm vụ trọng yếu đối với pháp luật của mọi quốc gia trên thế giới, nhất là pháp luật hình sự – lĩnh vực pháp luật vốn mang tư cách của ngành luật bảo vệ trong hệ thống pháp luật quốc gia. Để bảo vệ quyền phụ nữ, ngoài những quy định nhằm bảo vệ quyền con người nói chung, luật hình sự còn cần phải có những quy định riêng, quy định nhấn mạnh cho phù hợp với đặc điểm giới và tính chất dễ bị tổn thương của đối tượng bảo vệ.
Đáp ứng các yêu cầu trên, Bộ luật hình sự (BLHS) Việt Nam năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 đã có những biện pháp bảo vệ quyền phụ nữ trực tiếp và mạnh mẽ nhất thông qua việc tội phạm hoá và trừng trị nghiêm khắc những hành vi xâm hại các quyền phụ nữ; quy định nguyên tắc bình đẳng, trong đó có bình đẳng về giới trong quan hệ pháp luật hình sự để loại bỏ mọi yếu tố có thể tạo ra sự phân biệt đối xử, hạn chế đối với phụ nữ; đảm bảo các tiêu chuẩn chung về quyền phụ nữ trong quy định về trách nhiệm hình sự (TNHS) và hệ thống hình phạt… Tuy nhiên, bản thân các quy định này vẫn còn nhiều hạn chế, khiếm khuyết như: bỏ lọt một số hành vi có tính chất tội phạm hoặc một số dạng của tội phạm cụ thể xâm phạm quyền phụ nữ; không mô tả cấu thành tội phạm hoặc mô tả không rõ ràng, không sát với thực tế tội phạm; chưa đáp ứng yêu cầu của các chuẩn mực pháp lý quốc tế hoặc chưa tương thích với quy định của Hiến pháp và các đạo luật khác của Việt Nam… Mặc dù BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã khắc phục một số trong những hạn chế kể trên nhưng nhiều vấn đề trong đó vẫn chưa được BLHS mới giải quyết triệt để, đòi hỏi phải được tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện. Luận văn: Pháp luật bảo vệ quyền phụ nữ bằng hình sự Việt Nam.
Mặc dù pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay đã có một hệ thống quy định nhằm bảo vệ quyền phụ nữ nhưng trên thực tế tình hình tội phạm xâm hại tình dục, bạo lực gia đình, buôn bán phụ nữ, phạm tội với phụ nữ mang thai… vẫn đang diễn biến phức tạp theo chiều hướng gia tăng. Theo kết quả từ Nghiên cứu quốc gia về bạo lực gia đình với phụ nữ ở Việt Nam năm 2010 thì có 58% phụ nữ từng kết hôn đã từng bị ít nhất một trong ba loại bạo lực: thể xác, tinh thần hoặc tình dục bởi chồng; 35% phụ nữ Việt Nam đã từng bị bạo lực thể xác hoặc tình dục trong đời bởi bất kỳ một ai đó [89, tr.51, 67]. Chỉ riêng các vụ phạm tội xâm hại tình dục đối với phụ nữ và trẻ em, theo thống kê của Tòa án nhân dân tối cao, trong 06 năm từ 2008 đến 2013, Tòa án các cấp đã xét xử theo thủ tục sơ thẩm 8772 vụ với 10265 bị cáo [86, tr.5]. Có nhiều dạng hành vi xâm phạm nghiêm trọng quyền phụ nữ diễn ra phổ biến trên thực tế nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự như: phá thai vì lý do giới tính, quấy rối tình dục… Thực trạng trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, trong đó những hạn chế tự thân các quy định của BLHS là một nguyên nhân cơ bản. Bởi vậy, đầu tư nghiên cứu để hoàn thiện quy định đồng thời tìm ra các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi của pháp luật hình sự nhằm bảo vệ quyền phụ nữ là một đòi hỏi cấp thiết.
Thực tiễn pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự ở Việt Nam đều cho thấy việc nghiên cứu, hoàn thiện các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự nước ta hiện nay là hết sức cấp thiết nhưng trong khoa học luật hình sự đề tài này còn ít được quan tâm nghiên cứu. Những năm gần đây đã có một số công trình khoa học liên quan đến đề tài, tuy nhiên, các nghiên cứu hầu hết ở quy mô bài viết trên tạp chí chuyên ngành hoặc chỉ nghiên cứu một khía cạnh của vấn đề bảo vệ quyền phụ nữ hay đề cập đến đề tài này với tư cách là một nội dung, khía cạnh trong đề tài tổng quát hơn (cụ thể: xem phần tổng quan tình hình nghiên cứu dưới đây). Tuy đạt được một số thành tựu ban đầu nhưng các nghiên cứu hiện nay chưa giải quyết được một cách tổng thể những vấn đề lý luận và thực tiễn về đề tài cũng như chưa có tác động sâu sắc đến việc cải cách quy định pháp luật hình sự nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ các quyền phụ nữ. Vì vậy, việc tiếp tục đầu tư nghiên cứu đề tài trong giai đoạn hiện nay là hết sức cấp thiết.
Những đòi hỏi về mặt lý luận, thực tiễn kể trên cho thấy việc tiến hành nghiên cứu đề tài bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự ở Việt Nam hiện nay là hoàn toàn cấp bách và cần thiết. Xuất phát từ lý do đó, tác giả đã lựa chọn đề tài “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự ở Việt Nam” để thực hiện luận án tiến sĩ với mục đích nghiên cứu một cách sâu sắc vấn đề bảo vệ quyền phụ nữ dưới góc độ luật hình sự nhằm tìm ra những giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả áp dụng những quy định của pháp luật hình sự trong lĩnh vực này.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án Luận văn: Pháp luật bảo vệ quyền phụ nữ bằng hình sự Việt Nam.
Việc nghiên cứu đề tài Những vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự ở Việt Nam hướng đến mục đích chính là: nghiên cứu các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự ở Việt Nam về khía cạnh lập pháp và thực tiễn áp dụng nhằm kiến nghị giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng của những quy định này.
Phục vụ mục đích nghiên cứu trên, luận án phải giải quyết các nhiệm vụ:
- Xây dựng cơ sở lý luận của việc bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự, trong đó làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản như: khái niệm, đặc điểm, tính cần thiết, các phương thức, những chuẩn mực pháp lý quốc tế đối với việc bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự;
- Phân tích, đánh giá thực trạng và thực tiễn áp dụng các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự Việt Nam;
- Nghiên cứu so sánh các các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam và pháp luật các quốc gia trên thế giới để tham khảo, học tập kinh nghiệm lập pháp.
- Xác định phương hướng, đề xuất giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả áp dụng của các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu của luận án đúng như tên gọi của nó là: những vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự ở Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu: Luận án nghiên cứu về đề tài bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự Việt Nam dưới góc độ của khoa học luật hình sự với phạm vi những vấn đề nghiên cứu cụ thể gồm:
- Các luận điểm khoa học của các học giả trong nước và một số nước trên thế giới liên quan đến vấn đề bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự. Luận văn: Pháp luật bảo vệ quyền phụ nữ bằng hình sự Việt Nam.
- Hệ thống các chuẩn mực quốc tế đối với việc bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự và các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự ở một số quốc gia như: Liên bang Nga, Nhật Bản, Cộng hòa liên bang Đức.
- Hệ thống các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự Việt Nam từ thế kỷ XV cho đến nay.
- Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật hình sự bảo vệ quyền phụ nữ ở Việt Nam trong giai đoạn 2007 – 2016.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Việc nghiên cứu đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận là phép duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về chính sách hình sự, lý luận luật hình sự và vấn đề giới.
Phương pháp tiếp cận đồng thời là cơ sở khoa học của luận án là tiếp cận dựa trên quyền con người, “lấy quyền con người làm trung tâm để xem xét và giải quyết vấn đề” [25, tr.18]. Với phương pháp tiếp cận này, luận án lấy các chuẩn mực chung về quyền con người của phụ nữ làm tiêu chí cơ bản để đánh giá và hoàn thiện các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự Việt Nam.
Trong quá trình thực hiện đề tài, các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng bao gồm:
- Phương pháp tổng hợp: tổng hợp các quan điểm, nhận thức lý luận liên quan đến khái niệm, đặc điểm, phương thức bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự;
- Phương pháp phân tích: phân tích nội dung quy định pháp luật hình sự để làm rõ những khía cạnh thể hiện của việc bảo vệ quyền phụ nữ; phân tích số liệu, vụ việc cụ thể để đánh giá vấn đề trên phương diện thực tiễn.
- Phương pháp so sánh: so sánh lịch sử để làm rõ sự phát triển của các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự Việt Nam, so sánh nội dung quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự Việt Nam với các tiêu chuẩn quốc tế, các quy định tương ứng trong pháp luật của một số quốc gia trên thế giới để đánh giá mức độ tương thích, học hỏi kinh nghiệm hoàn thiện những quy định này.
- Phương pháp thống kê: thống kê số liệu xét xử, tư liệu thực tiễn liên quan đến việc áp dụng các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự Việt
- Phương pháp điều tra xã hội học: được sử dụng trong việc phỏng vấn, khảo sát những vấn đề liên quan đến nhận thức, áp dụng các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án Luận văn: Pháp luật bảo vệ quyền phụ nữ bằng hình sự Việt Nam.
Luận án sau khi bảo vệ thành công sẽ là công trình khoa học pháp lý đầu tiên của đất nước ở cấp độ luận án tiến sĩ luật học nghiên cứu một cách toàn diện và chuyên sâu đối với đề tài bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự. Luận án giải quyết những vấn đề quan trọng về lý luận và thực tiễn liên quan đến bảo vệ quyền phụ nữ pháp luật hình sự ở Việt Nam với những đóng góp dưới đây:
Lần đầu tiên hệ thống hóa và đánh giá tổng quan về sự thể hiện, phát triển của các quan điểm về vấn đề bảo vệ quyền phụ nữ trong khoa học luật hình sự trong và ngoài nước.
Lần đầu tiên xây dựng cơ sở lý luận của việc bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự, trong đó làm sáng tỏ những nhận thức lý luận thiết yếu về vấn đề này;
Lần đầu tiên đánh giá một cách toàn diện, sâu sắc các khía cạnh thể hiện nội dung bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự Việt Nam trên cơ sở phân tích quy phạm pháp luật thực định, đối chiếu lịch sử, so sánh pháp luật; Đánh giá sát thực thực tiễn áp dụng các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong BLHS và xác định nguyên nhân hạn chế trong áp dụng các quy định này.
Trên cơ sở những kết quả nghiên cứu kể trên, luận án đạt được kết quả quan trọng nhất là: Đề xuất định hướng hoàn thiện, kiến nghị mô hình lập pháp cụ thể cho việc tiếp tục hoàn thiện các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong BLHS; đề xuất có hệ thống các giải pháp đảm bảo thực thi các quy định này. Luận văn: Pháp luật bảo vệ quyền phụ nữ bằng hình sự Việt Nam.
6. Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án
Về mặt lý luận: Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên trong khoa học luật hình sự Việt Nam nghiên cứu một cách hệ thống và đồng bộ về vấn đề bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự ở cấp độ luận án tiến sĩ luật học. Trong quá trình thực hiện luận án, tác giả đã công bố các công trình khoa học trên một số sách báo pháp lý nhằm đóng góp trong khoa học luật hình sự Việt Nam những tri thức lý luận, thực tiễn về bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.
Về mặt thực tiễn: Những phát hiện của luận án trong đánh giá thực trạng và thực tiễn áp dụng các quy định bảo vệ quyền phụ nữ pháp trong luật hình sự Việt Nam; những kiến nghị của luận án về giải pháp hoàn thiện và đảm bảo thực thi những quy định này có thể phục vụ đắc lực cho công tác lập pháp cũng như áp dụng pháp luật ở nước ta trong giai đoạn hiện nay nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền phụ nữ nói riêng, quyền con người nói chung bằng pháp luật hình sự.
Ngoài ra, luận án còn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo cho các nhà khoa học – luật gia, cán bộ giảng dạy, nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên thuộc chuyên ngành Tư pháp hình sự trong các cơ sở đào tạo đại học, sau đại học tại Việt Nam.
7. Cơ cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận án được cơ cấu thành 04 chương, cụ thể:
- Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án.
- Chương 2. Những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.
- Chương 3. Thực tiễn bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự ở Việt
- Chương 4. Hoàn thiện và đảm bảo thực thi các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay.
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Trước nhu cầu cấp bách của vấn đề bảo vệ quyền phụ nữ, những nghiên cứu nhằm đề xuất chính sách, pháp luật, biện pháp hành động để bảo vệ các quyền của phụ nữ đã và đang được triển khai đẩy mạnh trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Riêng trong lĩnh vực khoa học luật hình sự, trường phái nữ quyền (ferminism in criminal law) đã tạo nên một “làn sóng” nghiên cứu trên thế giới bắt đầu từ những năm 1920, tạo ra ảnh hưởng đáng kể đối với việc hình thành các quy định pháp luật quốc tế và cải cách pháp luật quốc gia theo hướng chú trọng bảo vệ quyền phụ nữ [112, pp.3-4]. Ở Việt Nam, đề tài này mới được quan tâm, chú ý trong khoa học luật hình sự những năm gần đây và đã đạt được một số thành tựu nhất định. Do vậy, việc tổng hợp, đánh giá tình hình, tham chiếu kết quả của những nghiên cứu trong và ngoài nước chính là một trong các cơ sở quan trọng để kiến tạo nền tảng lý luận, định hướng nghiên cứu và làm căn cứ đề xuất những kiến nghị hữu ích của luận án tiến sĩ về đề tài bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự ở Việt Nam.
1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước Luận văn: Pháp luật bảo vệ quyền phụ nữ bằng hình sự Việt Nam.
Ở Việt Nam, vấn đề bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu ở nhiều khía cạnh, cấp độ khác nhau, có thể tiếp cận đề tài ở cấp độ nghiên cứu đa ngành luật học hoặc chuyên ngành luật hình sự hay tội phạm học.
1.1.1. Các nghiên cứu đa ngành luật học
Trong khoa học pháp lý ở nước ta đã có những nghiên cứu về đề tài bảo vệ quyền phụ nữ, trong đó đề cập đến pháp luật hình sự với tư cách một trong những công cụ bảo vệ quyền phụ nữ bên cạnh các ngành luật, các công cụ khác. Tuy nhiên, các công trình này chủ yếu nghiên cứu vấn đề bảo vệ quyền phụ nữ dưới góc độ thực tiễn, có thể là những phân tích đối với pháp luật thực định hoặc đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật bảo vệ quyền phụ nữ.
Nhóm công trình nghiên cứu thực tiễn pháp luật về bảo vệ quyền phụ nữ có một số sách tham khảo, giáo trình điển hình sau:
- Sách Sự bình đẳng về cơ hội kinh tế của phụ nữ trong pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật ở Việt nam của Luật gia Ngô Bá Thành do NXB Chính trị Quốc gia xuất bản năm 2000;
- Giáo trình Lý luận chung về quyền con người của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, NXB Chính trị Quốc gia, năm 2009. Trong đó vấn đề quyền phụ nữ thể hiện tập trung ở Chương VI – “Luật quốc tế về quyền của một số nhóm người dễ bị tổn thương” và Mục 9.3, Chương IX – “Quyền của một số nhóm người dễ bị tổn thương trong pháp luật Việt Nam”;
- Sách tham khảo Luật quốc tế về quyền của các nhóm người dễ bị tổn thương của Trung tâm nghiên cứu quyền con người và quyền công dân – Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, NXB Lao động xã hội xuất bản năm 2011.
Các công trình trên đã đề cập đến quyền phụ nữ với tính chất một bộ phận không thể tách rời của quyền con người và là quyền con người đặc thù của nhóm xã hội dễ bị tổn thương; phân tích nội dung các quy định về quyền phụ nữ trong pháp luật quốc tế, pháp luật Việt Nam (bao gồm pháp luật hình sự). Tuy nhiên, các công trình này rất ít đề cập đến khía cạnh lý luận của vấn đề, chỉ tập trung vào phân tích, giải thích pháp luật thực định mà chưa đưa ra những đánh giá sâu sắc đối với nội dung quy định cũng như thực tiễn thực thi. Vì thế, các nghiên cứu này cũng không đề xuất giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền phụ nữ của pháp luật nói chung, pháp luật hình sự nói riêng [36]; [76]; [94].
Bên cạnh các công trình nghiên cứu lớn kể trên còn có một số bài viết về đề tài bảo vệ quyền phụ nữ đăng các tạp chí chuyên ngành luật như: 1) “Bảo vệ quyền phụ nữ và trẻ em trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam” của TS. Nguyễn Hồng Bắc, Tạp chí Luật học, số Đặc san tháng 3 năm 2004; 2) “Bạo lực với phụ nữ và trẻ em dưới góc độ nhân quyền” của TS. Lưu Bình Nhưỡng trên Tạp chí Luật học, số 2 năm 2009; 3) “Tổng quan về quyền của phụ nữ theo pháp luật Việt Nam” của TS. Lưu Bình Nhưỡng trên Tạp chí Luật học, số 2 năm 2010; 4) “Pháp luật bảo vệ phụ nữ, trẻ em nhằm phòng chống bạo lực gia đình và một số giải pháp hoàn thiện” của TS Nguyễn Cảnh Quý trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 6 năm 2010… Đây cũng là những công trình tập trung vào mục đích phân tích các quy định nhằm bảo vệ quyền phụ nữ của pháp luật trong nước hoặc quốc tế, bao gồm luật hình sự, nhưng chỉ ở quy mô bài viết. Luận văn: Pháp luật bảo vệ quyền phụ nữ bằng hình sự Việt Nam.
Nhóm công trình nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật bảo vệ quyền phụ nữ tiêu biểu là một số đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước, cấp Bộ sau:
- Nghiên cứu quốc gia về bạo lực gia đình với phụ nữ ở Việt Nam của Tổng cục Thống kê, năm 2010;
- Báo cáo nghiên cứu: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ở Việt Nam: Bức tranh khái quát và khung pháp lý để giải quyết do Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội phối hợp với Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) thực hiện năm 2012;
- Đề tài khoa học cấp Bộ: Nghiên cứu các giải pháp phòng, chống bạo lực gia đình ở Việt Nam hiện nay do Vụ Gia đình – Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện, nghiệm thu năm 2014.
Những nghiên cứu này có thiên hướng đi sâu vào đánh giá diễn biến thực tiễn của các hành vi xâm hại các quyền an ninh cá nhân, tự do và an toàn tình dục phụ nữ và mức độ đáp ứng của hệ thống pháp luật trước diễn biến thực tiễn ấy. Trong đó, những quy định pháp luật hình sự có liên quan được phân tích sâu sắc về khía cạnh khả năng bảo vệ phụ nữ trước những loại bạo lực chủ yếu nhằm vào nữ giới. Việc hoàn thiện các quy định pháp luật hình sự liên quan được đề xuất với tư cách là một trong các giải pháp phòng, chống hành vi xâm hại các quyền phụ nữ nêu trên. Tuy đặt ra yêu cầu hoàn thiện pháp luật hình sự nhưng các công trình này đều không đi đến kiến giải lập pháp cụ thể [8]; [89]; [109].
1.1.2. Các nghiên cứu chuyên ngành luật hình sự
Riêng trong khoa học luật hình sự ở Việt Nam hiện nay chưa có nghiên cứu quy mô lớn, chuyên biệt về vấn đề bảo vệ quyền phụ nữ. Ở một số công trình nghiên cứu lớn, việc bảo vệ quyền phụ nữ được đề cập đến với tư cách một khía cạnh của đề tài tổng quát hơn hoặc có công trình chỉ nghiên cứu riêng về một trong các nội dung, khía cạnh của vấn đề bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự. Các nghiên cứu này tập trung vào hai hướng nghiên cứu chính: Bảo vệ quyền phụ nữ trên phương diện lý luận và thực tiễn pháp luật hình sự; Bảo vệ quyền phụ nữ trên phương diện thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự.
Nhóm nghiên cứu trên phương diện lý luận và thực tiễn pháp luật hình sự liên quan đến đề tài có các công trình tiêu biểu như sau: Luận văn: Pháp luật bảo vệ quyền phụ nữ bằng hình sự Việt Nam.
Sách chuyên khảo Các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân theo luật hình sự Việt Nam của tập thể tác giả do TS. Trịnh Tiến Việt chủ biên, xuất bản năm 2010. Cuốn sách này không giải quyết một cách tổng quát vấn đề bảo vệ quyền phụ nữ mà chỉ đề cập đến hành vi xâm hại quyền bình đẳng của phụ nữ với tư cách một trong những hành vi phạm tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ cơ bản của công dân. Liên quan đến Tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ, tác phẩm phân tích nội dung quy định của BLHS Việt Nam năm 1999, so sánh với quy định tương ứng của pháp luật một số nước trên thế giới, đánh giá thực tiễn thi hành quy định này và kiến nghị hoàn thiện BLHS nhằm bảo vệ hiệu quả hơn quyền bình đẳng của phụ nữ [107].
Sách chuyên khảo: Bảo đảm quyền con người trong tư pháp hình sự Việt Nam xuất bản năm 2010 tại Nhà xuất bản Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh do TS. Võ Thị Kim Oanh chủ biên [60]. Các chuyên đề trong cuốn sách này tập trung nghiên cứu vấn đề bảo vệ quyền phụ nữ ở các khía cạnh thực tiễn pháp luật hình sự, tố tụng hình sự và thi hành án. Duy nhất trong chuyên đề đầu tiên “Những vấn đề chung về bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự”, tác giả Lê Văn Cảm đã khái quát một số đặc điểm, yêu cầu của việc bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự – những tri thức có thể tham khảo trong việc tạo dựng cơ sở lý luận của việc bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự. Bên cạnh đó, những nghiên cứu về hình phạt tử hình trong chuyên đề thứ hai và thứ tư của cuốn sách cũng tiếp cận vấn đề bảo vệ quyền phụ nữ khi nghiên cứu quy định liên quan đến hình phạt này trong pháp luật hình sự thực định ở Việt Nam [60, tr.5 -70].
Sách chuyên khảo: Quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự của tập thể tác giả do PGS.TS. Nguyễn Ngọc Chí chủ biên, xuất bản tại nhà xuất bản Hồng Đức năm Cuốn sách là công trình có tính khái quát cao về những vấn đề lý luận, thực tiễn liên quan đến quyền con người trong tư pháp hình sự nói chung. Trong đó, Chương 1 và Chương 2 đã làm rõ nhiều vấn đề lý luận cơ bản về quyền con người trong pháp luật hình sự như khái niệm, ý nghĩa, các khía cạnh thể hiện, các cơ chế bảo đảm quyền con người trong tư pháp hình sự [14]. Tuy không trực tiếp nghiên cứu về vấn đề bảo vệ quyền phụ nữ nhưng những kết quả nghiên cứu của cuốn sách đã cung cấp một hệ thống nhận thức khá toàn diện về lý luận cũng như thực tiễn pháp luật liên quan đến quyền con người trong pháp luật hình sự mà bao gồm trong đó các quyền phụ nữ.
Bên cạnh các công trình quy mô lớn nêu trên còn có một số công trình tuy ở quy mô bài viết đăng trên tạp chí chuyên ngành nhưng lại là những nghiên cứu chuyên biệt dưới góc độ luật hình sự về vấn đề bảo vệ quyền phụ nữ. Trong đó phải kể đến những nghiên cứu của một số tác giả tiêu biểu dưới đây: Luận văn: Pháp luật bảo vệ quyền phụ nữ bằng hình sự Việt Nam.
- Phạm Hồng Hải (2001), “Bộ luật hình sự năm 1999 với vấn đề bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 155 [29, tr.15-29];
- Đỗ Đức Hồng Hà (2008), “Pháp luật hình sự và tố tụng hình sự ở Việt Nam trong việc bảo vệ phụ nữ”, Tạp chí Luật học, số 3 [27, tr.9-17];
- Đỗ Đức Hồng Hà (2009),“Pháp luật hình sự Việt Nam bảo vệ phụ nữ khỏi những hành vi bạo lực”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 10 [28, tr.65-71, 82-83];
- Dương Tuyết Miên (2010), “Pháp luật hình sự Lào với việc bảo vệ quyền của người phụ nữ”, Tạp chí Luật học, số 2 (số chuyên đề về Quyền của phụ nữ theo pháp luật các nước ASEAN) [51, tr.52-57];
- TS. Hoàng Thị Kim Quế (2012), “Bảo vệ quyền lợi phụ nữ trong Luật Hồng Đức (Lê Triều hình luật) – Tính tiến bộ, nhân văn và giá trị đương đại”, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Luật học, số 28 [62, tr.199-203].
Hầu hết các bài viết này đều tiếp cận vấn đề bảo vệ quyền của phụ nữ trong pháp luật hình sự ở phương diện thực tiễn pháp luật. Trong đó cũng có nghiên cứu về nữ quyền dưới góc độ lịch sử hoặc so sánh pháp luật hình sự Việt Nam với các quốc gia khác. Về kết quả nghiên cứu, nhìn chung các bài viết chủ yếu đã chỉ ra và phân tích những quy định có ý nghĩa bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự ở nước ta, một số ít trong đó đã tiến xa hơn khi bước đầu đánh giá phê bình và kiến nghị những đề xuất sửa đổi, hoàn thiện pháp luật thực định nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ các quyền phụ nữ.
- b. Nhóm nghiên cứu trên phương diện thực tiễn áp dụng pháp luật liên quan đến đề tài có các công trình tiêu biểu như:
Báo cáo Đánh giá tình hình phụ nữ trong hệ thống tư pháp hình sự Việt Nam do Cơ quan Phụ nữ Liên hợp quốc thực hiện năm Đây là một nghiên cứu thực tiễn về tình hình phụ nữ trong hệ thống tư pháp hình sự ở nước ta dưới nhiều góc độ. Một mặt, Báo cáo đánh giá tình hình phụ nữ với tư cách là nạn nhân chủ yếu của các loại hình bạo lực trên cơ sở giới và những đáp ứng của hệ thống tư pháp hình sự đối với việc hỗ trợ các nạn nhân này. Đồng thời, nghiên cứu này cũng phân tích tổng quan về tình hình phụ nữ ở tư cách là người phạm tội và những chính sách, phản ứng của hệ thống tư pháp hình sự đối với phụ nữ phạm tội. Mặt khác, công trình còn xem xét vị thế của phụ nữ trong hệ thống cơ quan tư pháp hình sự, những khó khăn đối với giới này khi công tác trên cương vị đó và ảnh hưởng của nó đối với việc đảm bảo các quyền phụ nữ ở tất cả những tư cách trong hệ thống tư pháp nêu trên. Dựa trên những đánh giá thực tiễn đó, các chuyên ra nghiên cứu đã đề xuất những khuyến nghị có giá trị quan trọng giúp Nhà nước Việt Nam trong nỗ lực đảm bảo hiệu quả các quyền và vị thế bình đẳng của phụ nữ trong hệ thống tư pháp hình sự [17].
Báo cáo Đánh giá về kiểm soát và khởi tố tình trạng bạo lực tình dục đối với phụ nữ và trẻ em gái tại Việt Nam do Bộ Tư pháp thực hiện năm 2014. Báo cáo tập trung đánh giá các quy định pháp luật và thực tiễn xử lý tội phạm xâm hại tình dục phụ nữ và trẻ em. Trên cơ sở phân tích quy định pháp luật, đánh giá tình hình khởi tố, xét xử các vụ án, Báo cáo tìm ra nguyên nhân hạn chế, phát hiện các khoảng trống về pháp luật và các cơ chế thực thi để đưa ra những đề xuất hoàn thiện, cải cách nhằm bảo vệ tốt hơn quyền tự do và an toàn về tình dục của phụ nữ, trẻ em gái trước sự xâm hại của tội phạm [9].
1.1.3. Các nghiên cứu chuyên ngành tội phạm học Luận văn: Pháp luật bảo vệ quyền phụ nữ bằng hình sự Việt Nam.
Liên quan đến bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự, các công trình nghiên cứu thuộc chuyên ngành tội phạm học đề cập đến các quy định pháp luật hình sự với tư cách là công cụ đắc lực trong đấu tranh phòng chống các tội phạm xâm hại quyền phụ nữ. Ở nhóm nghiên cứu này có một số công trình tiêu biểu sau:
Sách chuyên khảo: Công tác phòng, chống tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em ở Việt Nam của tác giả Trần Minh Hưởng xuất bản năm 2008. Nghiên cứu này không đề cập đến vấn đề bảo vệ quyền phụ nữ nói chung mà tập trung vào một loại hành vi hành vi tước đoạt quyền tự do, bóc lột, chà đạp nhân phẩm của phụ nữ là mua bán phụ nữ. Tác giả đã hệ thống hóa các văn bản pháp luật quốc tế, quốc gia về phòng, chống buôn bán và bảo vệ phụ nữ, trẻ em làm nền tảng cho việc đánh giá diễn biến của tội phạm, tình hình hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm này trong thực tế. Trong các kiến nghị mà tác giả đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả phòng, chống loại tội phạm này cũng bao hàm kiến nghị hoàn thiện các quy định có liên quan của Bộ luật hình sự [35].
Sách chuyên khảo: Hoạt động phòng ngừa tội phạm về bạo lực gia đình ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay của lực lượng cảnh sát nhân dân của T.S. Phạm Minh Chiêu, xuất bản năm 2012 tại NXB Công an nhân dân. Cuốn sách nghiên cứu các tội phạm về bạo lực gia đình dưới góc độ tội phạm học và phòng ngừa tội phạm. Những đánh giá về đặc điểm, tình hình tội phạm trong đó đã chỉ ra rằng phụ nữ là nạn nhân chủ yếu của các tội phạm về bạo lực gia đình và định kiến, sự bất bình đẳng giới đối với phụ nữ là một trong những nguyên nhân phát sinh loại tội phạm này. Liên quan đến pháp luật hình sự với tư cách là một công cụ đấu tranh phòng ngừa tội phạm về bạo lực gia đình, tác giả đã phân tích một số điểm hạn chế của quy định pháp luật hình sự hiện hành và kiến nghị hoàn thiện những quy định này [15]. Tuy nhiên, do đối tượng nghiên cứu chính là hoạt động đấu tranh phòng ngừa tội phạm về bạo lực gia đình của lực lượng cảnh sát nhân dân nên những vấn đề liên quan đến pháp luật hình sự trong cuốn sách không phải là nội dung chủ đạo.
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Đại học Quốc gia Hà Nội: Đấu tranh phòng chống tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em trong giai đoạn hiện nay do TS. Chu Thị Trang Vân làm chủ nhiệm, nghiệm thu năm 2010. Đề tài đã khái quát một số vấn đề lý luận về tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em; Phân tích quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội buôn bán phụ nữ, trẻ em ở các phương diện: đặc điểm, dấu hiệu pháp lý đặc trưng và đường lối xử lý; Đánh giá diễn biến, phương thức, thủ đoạn phạm tội, nguyên nhân, điều kiện phạm tội buôn bán phụ nữ, trẻ em và thực tiễn đấu tranh, xử lý các tội phạm này trong 05 năm từ 2004 đến 2009; Kiến nghị các giải pháp lập pháp và các giải pháp khác góp phần đấu tranh có hiệu quả với tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em [101].
Tóm lại, ở Việt Nam hiện nay chưa có nghiên cứu nào chuyên biệt về đề tài bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự. Các công trình quy mô lớn có thể đề cập đến đề tài với tư cách là một trong các đối tượng nghiên cứu hoặc chỉ đề cập đến một khía cạnh, nội dung cụ thể của đề tài. Một số công trình có hướng nghiên cứu riêng về đề tài thì chỉ ở quy mô bài viết đăng tạp chí và chủ yếu đánh giá thành tựu, hạn chế của pháp luật thực định mà chưa nghiên cứu tổng quát cả khía cạnh lý luận lẫn thực tiễn áp dụng pháp luật. Nhìn chung, ở Việt Nam chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn về đề tài bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự, đặc biệt là ở cấp độ luận án tiến sĩ.
1.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước Luận văn: Pháp luật bảo vệ quyền phụ nữ bằng hình sự Việt Nam.
Chiếm số lượng đông đảo nhất trong các nhóm xã hội dễ bị tổn thương nên phụ nữ luôn là đối tượng quan trọng trong các nghiên cứu về nhân quyền trên thế giới. Trong khoa học luật hình sự quốc tế, các nghiên cứu về đề tài bảo vệ quyền phụ nữ khá sôi động và phong phú. Trong đó có cả những công trình có tính khái quát về vấn đề nữ quyền trong luật hình sự cũng như công trình chỉ đi sâu vào một khía cạnh, nội dung cụ thể của đề tài này. Cụ thể có thể chia thành ba nhóm nghiên cứu: 1) Những nghiên cứu chung về các vấn đề nữ quyền trong pháp luật hình sự; 2) Những nghiên cứu về các tội phạm xâm phạm quyền phụ nữ; 3) Những nghiên cứu về trách nhiệm hình sự (TNHS) và hình phạt đối với phụ nữ phạm tội.
1.2.1. Những nghiên cứu chung về quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự
Các công trình nghiên cứu này thường được xếp vào trường phái nữ quyền trong luật hình sự (ferminism in criminal law). Ở nhóm này các nhà nghiên cứu lấy lập trường nữ quyền làm căn cứ để đánh giá nội dung quy định pháp luật hình sự hoặc hệ thống thực thi những quy định ấy với một số công trình tiêu biểu như:
Sách chuyên khảo Những khía cạnh nữ quyền trong luật hình sự (Feminist perspectives on criminal law) của tập thể tác giả do Donald Nicolson và Lois Bibbings (giảng viên Đại học Bristol) đồng chủ biên, xuất bản năm 2000. Cuốn sách phê bình những khiếm khuyết của luật hình sự thực định trong việc bảo vệ quyền phụ nữ cả ở tư cách nạn nhân và người phạm tội. Ba hạn chế cơ bản được các tác giả tập trung phê phán là: sự bảo vệ không đầy đủ đối với phụ nữ, sự phân biệt đối xử và cấu trúc giới của luật hình sự. Phân tích nội dung quy định và thực tiễn thực thi pháp luật hình sự ở Anh Quốc, các tác giả đã chỉ ra những vấn đề tồn tại cơ bản như: Do pháp luật nhìn nhận từ quan điểm nam giới về hành vi hiếp dâm nên hành vi này nhất định phải thỏa mãn dấu hiệu giao cấu bằng cơ thể mới cấu thành tội phạm còn những hành vi tương tự nhưng thông qua công cụ khác thì không cấu thành tội phạm này và hiếp dâm trong hôn nhân hầu như không bị xử lý bởi quan điểm rằng trường hợp này đã có sự đồng thuận quan hệ tình dục ngay từ thời điểm kết hôn; Việc áp dụng quy định pháp luật về hiếp dâm trong thực tế tỏ rõ sự phân biệt đối xử khi xem xét phẩm hạnh của phụ nữ, gần như bỏ qua hiếp dâm đối với gái mại dâm hoặc truy ngược lại quá khứ tình dục của nạn nhân khi xem xét tội phạm; Cấu trúc giới trong những khuôn mẫu hành vi thiết lập bởi quy định pháp luật dường như khiến cho các nữ tội phạm giống như kẻ tâm thần, thiếu tự chủ hoặc đơn cử như mô típ của phòng vệ chính đáng luôn phải là phản ứng tức thời khiến cho sự phản ứng của phụ nữ sau khi chịu bạo lực kéo dài không được xem xét là phòng vệ chính đáng… Nhìn chung cuốn sách đã đưa ra những chỉ trích sâu sắc về khía cạnh nữ quyền đối với pháp luật thực định ở Anh, tuy nhiên không đưa ra giải pháp cải cách cụ thể [118]. Luận văn: Pháp luật bảo vệ quyền phụ nữ bằng hình sự Việt Nam.
Sách chuyên khảo Chủ nghĩa nữ quyền và tư pháp hình sự: Một cái nhìn lịch sử (Feminism and criminal justice: A historical perspective) của tác Anne Logan xuất bản tại Anh năm 2008. Đúng như tựa đề, cuốn sách cung cấp một cái nhìn lịch sử về ảnh hưởng của phong trào nữ quyền đối với việc cải cách hệ thống tư pháp hình sự theo hướng cải thiện vị thế của phụ nữ trong hệ thống này. Những thay đổi về vai trò của phụ nữ được tác giả cung cấp qua những tư liệu thực tiễn phong phú về số lượng, vị trí của nữ giới trong hệ thống cơ quan tư pháp như: thẩm phán, thành viên bồi thẩm đoàn; công chức, ủy viên hội đồng, thanh tra, thống đốc trong nhà tù. Với nguồn số liệu dồi dào được thống kê từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 21, tác giả đã chỉ ra rằng vị trí của phụ nữ trong hệ thống tư pháp hình sự đã được cải thiện rõ rệt, tuy sẽ còn gặp nhiều rào cản nhưng có triển vọng rõ ràng. Và đó là một trong những điều kiện quan trọng để đảm bảo nữ quyền được tôn trọng, thực thi trong hệ thống tư pháp hình sự [112].
Bên cạnh các nghiên cứu có quy mô lớn, còn có rất nhiều nghiên cứu ở cấp độ bài viết nhưng là những đánh giá sâu sắc về pháp luật hình sự trên lập trường bảo vệ nữ quyền. Tiêu biểu phải kể đến một số tác phẩm sau:
Bài viết “Luật học nữ quyền: tại sao luật pháp phải cân nhắc những lập trường của nữ giới” đăng trên Tạp chí trường luật William Mitchell, Hoa Kỳ (“Feminist jurisprudence: Why law must consider women’s perspectives”, William Mitchell Magazine, USA) năm 1991 của tác giả Ann Juergens. Bài viết đã chỉ trích những quy định pháp luật hình sự được xây dựng với tư duy nam giới. Những vấn đề cơ bản như phương diện chủ quan, khách quan của tội phạm hoàn toàn xuất phát từ ý tưởng về tâm lý và hành vi của nam giới. Thêm vào đó tình trạng thiểu số của phụ nữ công tác trong hệ thống cơ quan tư pháp hình sự (qua số liệu thực tế ở bang Minnesota, Hoa Kỳ) khiến cho việc thực thi pháp luật hình sự cũng phản ánh tư duy nam giới. Tác giả đặt ra những giả định về sự thay đổi của luật hình sự nếu được xây dựng trên quan điểm của nữ giới. Từ đó, tác giả luận chứng cho yêu cầu phải xem xét đến quan điểm của phụ nữ trong công tác lập pháp và đòi hỏi sự thay đổi lập trường tư duy của cả hệ thống tư pháp hình sự. Tuy nhiên, tác giả chỉ đặt ra yêu cầu chứ không làm rõ phương hướng hay nội dung cụ thể cần phải cải cách trong quy định pháp luật và công tác áp dụng để đảm bảo sự trung tính, công bằng của pháp luật hình sự [111, pp.31-35].
Bài viết “Thách thức nữ quyền trong luật hình sự” của Stephen Schulhofer trên Tạp chí luật Đại học Pennsylvania, Hoa Kỳ (“The feminist challenge in criminal law”, University of Pennsylvania Law Review) năm 1995. Bài viết đề cập đến vấn đề bảo vệ quyền phụ nữ dưới góc độ nghiên cứu pháp luật thực định và thực tiễn thực thi pháp luật hình sự. Những phân tích của tác giả chỉ ra rằng các quy định của luật hình sự được thiết kế cũng như áp dụng bởi khuôn mẫu nam giới về hành vi và tư tưởng. Chính những quy định có vẻ bề ngoài bênh vực và nương nhẹ đối với phụ nữ lại làm mất đi sự bình đẳng về tư cách của phụ nữ khi đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Tác giả cũng phân tích thực tiễn áp dụng hình phạt, thi hành án để chỉ ra tác động nghiêm trọng hơn của các hình phạt đối với phụ nữ so với nam giới và những bất lợi mà tính chất thiểu số của nữ phạm nhân trong nhà tù mang lại cho chính họ. Mặc dù đưa ra nhiều chỉ trích xác đáng về phương diện nữ quyền đối với luật hình sự nhưng bài viết không đề xuất giải pháp cho những hạn chế này [139, pp.2151-2207].
Bài viết “Những thành tựu, thất bại “thông thường” của nữ quyền và luật hình sự” trên Tạp chí nghiên cứu luật công và lý thuyết pháp lý Georgetown (“The “normal” successes and failures of feminism and the criminal law”, Georgetown Public Law and Legal Theory Research Paper) năm 2000 của Victoria Nourse. Bài viết rất đặc biệt khi chỉ ra rằng những thành tựu trong cải cách pháp luật nhằm bảo vệ nữ quyền cũng đồng thời bộc lộ những thất bại của công cuộc ấy. Ví dụ: Cải cách luật về hiếp dâm đã loại bỏ yêu cầu phải có dấu hiệu sự kháng cự của người phụ nữ nhưng thực tế áp dụng lại vẫn đòi hỏi chứng minh dấu hiệu này; Luật hiếp dâm không loại trừ hiếp dâm trong hôn nhân nhưng hành vi này thực tế hầu như không bị truy cứu; Quy định về bạo lực gia đình đổi mới theo hướng tăng cường ủng hộ phụ nữ nhưng lại không thừa nhận phản ứng của người phụ nữ sau quãng thời gian dài chịu bạo hành là hành vi phòng vệ chính đáng… Những nhìn nhận mang tính chất phê bình ở đây có ý nghĩa gợi mở cho việc tiếp tục cải cách nhằm nâng cao giá trị bảo vệ quyền phụ nữ của pháp luật hình sự nhưng phương án cải cách cụ thể không được tác giả trực tiếp đề xuất [143, pp.951-978].
1.2.2. Những nghiên cứu về các tội phạm xâm phạm quyền phụ nữ Luận văn: Pháp luật bảo vệ quyền phụ nữ bằng hình sự Việt Nam.
Đây là nhóm nghiên cứu khá sôi động, thường tập trung vào các quy định pháp luật hình sự hoặc chính sách thực thi pháp luật hình sự nhằm chống lại một hoặc một số loại tội phạm xâm phạm quyền phụ nữ. Trong nhóm nghiên cứu này phải kể đến một số công trình có tầm cỡ như:
Sách Bạo lực chống lại phụ nữ – Một tầm nhìn quốc tế (Violence against women – An international perspective) xuất bản năm 2008 của các nhà tội phạm học Canada và Phần Lan là Holly Johnson, Natalia Ollus và Sami Công trình nghiên cứu hướng đến mục tiêu đưa ra những giải pháp phòng chống bạo lực đối với phụ nữ trên toàn thế giới thông qua điều tra thực tiễn ở 09 quốc gia: Argentina, Australia, Canada, Costa Rica, Đan Mạch, Indonesia, Italy, Kazakhstan, Phần Lan, Philippines, Serbia, Thụy Sĩ và Ukraine. Làm cơ sở cho việc đánh giá thực tiễn, các tác giả đã phân tích tổng quan quy định pháp luật quốc tế liên quan đến bạo lực chống lại phụ nữ. Khi đánh giá tình hình bạo lực chống lại phụ nữ, công trình đồng thời đánh giá phản ứng và mức độ đáp ứng của hệ thống tư pháp hình sự ở các quốc gia được khảo sát trước vấn đề này. Cải cách pháp luật hình sự, hệ thống cơ quan tư pháp hình sự cũng là một trong những giải pháp mà các tác giả kiến nghị nhằm ngăn chặn bạo lực đối với phụ nữ trên toàn cầu [127].
Sách Ngăn chặn bạo lực gia đình: Lý thuyết, chính sách và thực tiễn (Tackling domestic violence: Theories, policies and practice) của Lynne Harne và Jill Radford phát hành năm 2008 tại Anh Quốc. Cuốn sách là kết quả từ những nghiên cứu của các tác giả trong 10 năm tham gia đào tạo chuyên gia ứng phó bạo lực gia đình cho lực lượng cảnh sát, luật sư, các tổ chức hỗ trợ phụ nữ cho ở nước Anh, Bắc Ireland, Kazakhstan và Thổ Nhĩ Kỳ. Cuốn sách có cách tiếp cận đa ngành đối với vấn đề bạo lực gia đình trên lập trường bảo vệ phụ nữ và trẻ em với tư cách nạn nhân của loại bạo lực này. Mặc dù lấy trung tâm nghiên cứu ở Anh nhưng nghiên cứu phản ánh những biến đổi liên quan đến vấn đề trên toàn cầu. Các tác giả đã làm rõ bản chất, các mức độ biểu hiện của bạo lực gia đình, trong đó mức độ biểu hiện cực đoan nhất là một loại tội phạm trên cơ sở giới; đưa ra những đánh giá về tác động của bạo lực gia đình lên sức khỏe, nhân phẩm của phụ nữ, trẻ em; phân tích các quy định của pháp luật hình sự, luật hôn nhân và gia đình, luật bảo vệ trẻ em liên quan đến vấn đề bạo lực gia đình, đánh giá phê bình đối với những phản ứng của pháp luật trước bạo lực gia đình; đánh giá tác động tích cực của phong trào nữ quyền đối với cải cách chính sách, pháp luật về bạo lực gia đình; khuyến nghị các giải pháp phòng chống bạo lực gia đình. Tuy nhiên các giải pháp mà nghiên cứu đề xuất chủ yếu trên phương diện hành động thực tiễn chứ không bao gồm giải pháp về mặt lập pháp [132].
Bên cạnh các công trình ở quy mô sách chuyên khảo, trong khoa học luật hình sự quốc tế còn có nhiều bài viết đăng trên các tạp chí danh tiếng, nghiên cứu về phản ứng của pháp luật hình sự đối với các loại tội phạm chủ yếu nhằm phụ nữ. Trong đó phải kể đến: Luận văn: Pháp luật bảo vệ quyền phụ nữ bằng hình sự Việt Nam.
Nghiên cứu so sánh pháp luật về hiếp dâm của Gilbert Geis năm 1978: “Hiếp dâm trong hôn nhân: Pháp luật và cải cách pháp luật ở Anh, Hoa Kỳ và Thụy Điển”, Tạp chí luật Adelaide, Úc (“Rape in marriage: Law and law reform in England, The United States and Sweden”, Adelaide Law Review, Australia). Bài viết phân tích sự thay đổi quan niệm về hiếp dâm trong hôn nhân theo thời gian qua các quy định pháp luật và vụ việc cụ thể ở ba nước Anh, Hoa Kỳ, Thụy Điển. Vào cuối thế kỷ 19 ở các quốc gia này, hiếp dâm có nghĩa là hành vi bạo lực tình dục đối với một người phụ nữ xa lạ, ngoài vợ và người tình bởi vì hôn nhân, tình yêu được coi như thỏa thuận trong đó người phụ nữ tự nguyện trao thân thể mình ngay từ đầu cho nam giới. Đến đầu thế kỷ 20, những cáo buộc về hành vi hiếp dâm trong hôn nhân bắt đầu xuất hiện trước tòa án. Pháp luật các quốc gia này dần thừa nhận có hiếp dâm trong hôn nhân nhưng phải chứng minh được yếu tố bạo lực thể xác hay để lại thương tích. Đến thập niên 50, 60 của thế kỷ 20, quan điểm về hiếp dâm trong hôn nhân đã thay đổi, đó là hành vi quan hệ tình dục trái với ý muốn của người vợ. Tác giả cho rằng việc thừa nhận hiếp dâm trong hôn nhân, thay đổi quan niệm về bản chất của tội phạm theo hướng này là đúng đắn vì luật pháp dựa vào tính chất, hậu quả của hành vi để xác định tội phạm chứ không dựa vào mối quan hệ giữa thủ phạm với nạn nhân [123, pp. 284-303].
Bài viết “Cải cách luật hiếp dâm ở Canada: những thành tựu và hạn chế lập pháp” trên Tạp chí Quốc tế về xử lý tội phạm và tội phạm học so sánh (“Rape Law reform in Canada: The success and limits of legislation”, International Journal of Offender Therapy and Comparative Criminology) của Kwong-leung Tang năm Phù hợp với khuynh hướng nghiên cứu chủ đạo của tạp chí, bài viết là một đánh giá mang tính lịch sử và so sánh quốc tế về những cải cách trong quy đinh pháp luật về hiếp dâm ở Canada. Trước tiên, tác giả nhìn nhận luật về hiếp dâm ở Canada là phương tiện quan trọng trong việc bảo vệ tự do và nhân phẩm của phụ nữ. Tác giả phê bình quy định về hiếp dâm ở Canada trước cải cách năm 1983 ở những khía cạnh như: không coi tội phạm hiếp dâm là hành vi xâm hại đối với bản thân người phụ nữ bị cưỡng hiếp mà là sự xúc phạm đối với người cha hoặc chồng của cô ấy; đòi hỏi hành vi hiếp dâm phải bị tố giác ngay sau khi xảy ra, nếu không cáo buộc sẽ vô giá trị; hiếp dâm trong hôn nhân không phải tội phạm bởi người chồng có quyền sở hữu đối với cơ thể vợ; truy xét uy tín và nhân cách của người phụ nữ bị hiếp dâm khi xem xét tội phạm… Sau cải cách năm 1983, hiếp dâm đã được luật pháp Canada xếp vào một loại bạo lực mà nạn nhân chủ yếu là nữ giới, hiếp dâm trong hôn nhân cũng bị coi là tội phạm và việc truy ngược lịch sử tình dục, uy tín của nạn nhân bị cấm, hình phạt đối với các tội phạm về tình dục cũng nghiêm khắc hơn, cao nhất có thể là án tử hình. Tác giả cũng so sánh quy định về hiếp dâm theo luật Canada so với một số quốc gia, khu vực trên thế giới. Ví dụ, giống như ở Anh, luật Canada sau cải cách xác định cốt lõi của hiếp dâm là quan hệ tình dục mà không có sự đồng ý của người phụ nữ, khác với khu vực Bắc Mỹ vốn xác định phương thức bạo lực để thực hiện hành vi giao cấu mới là bản chất của vấn đề. Tuy thừa nhận những bước tiến về mặt lập pháp đối với tội phạm hiếp dâm nhưng tác giả cho rằng những cải cách này chưa thực sự hiệu quả bởi những con số thống kê cho thấy tội phạm về tình dục vẫn gia tăng. Theo tác giả, những giải pháp thiết thực hơn là: giáo dục nhận thức xã hội về tấn công tình dục, nâng cao ý thức cảnh giác cho phụ nữ, trẻ em gái, thành lập các cơ quan chuyên ứng phó với bạo lực tình dục, thu hút các tổ chức, cộng đồng tham gia đấu tranh với hình thức bạo lực này [131, pp.258-270]. Luận văn: Pháp luật bảo vệ quyền phụ nữ bằng hình sự Việt Nam.
Bài viết “Luật hình sự và tội phạm tình dục: những cải cách gần đây trong luật hình sự Đức” (Penal Law and Sexuality: Recent Reforms in German Criminal Law) của Giáo sư Tatjana Hörnle (Đại học Humboldt – Đức) trên Tạp chí luật hình sự Buffalo, tập 3, năm 2000. Những phân tích của tác giả đã cho thấy sự thay đổi lớn lao trong quan điểm về các tội phạm tình dục trong quá trình phát triển của luật hình sự Đức. Từ khi BLHS Đức được ban hành trong thế kỷ 19 đến trước năm 1973, các tội phạm tình dục được coi là loại vi phạm về đạo đức. Sau cải cách năm 1973, những hành vi này chính thức được coi là hành vi xâm phạm sự tự chủ về tình dục – loại tội phạm chống lại con người. Năm 1997 được coi là một năm luật hình sự Đức có nhiều cải cách đặc biệt cho nữ quyền liên quan đến hành vi hiếp dâm. Trước đó, luật đòi hỏi hiếp dâm phải có yếu tố bạo lực hoặc đe dọa sử dụng bạo lực. Do vậy, trường hợp người phụ nữ bị quan hệ tình dục trái ý muốn khi đang say chất kích thích hoặc ốm yếu, mệt mỏi không được coi là hiếp dâm. Sau năm 1997, việc quan hệ tình dục trái ý muốn do nạn nhân ở trong tình trạng yếu thế hoặc không thể tự vệ bắt đầu được coi là hiếp dâm. Trước năm 1997, nạn nhân của hiếp dâm nhất định phải là phụ nữ và chỉ hành vi giao cấu mới cấu thành tội hiếp dâm nên thủ phạm chắc chắn là nam giới (trường hợp phụ nữ bị cưỡng bức thực hiện hành vi quan hệ tình dục đồng tính không phải là hiếp dâm). Sau đó quan điểm này đã được mở rộng, và cho đến nay, luật hình sự Đức không có yêu cầu nào về giới tính của thủ phạm hay nạn nhân của hành vi hiếp dâm. Hơn nữa, những hành vi quan hệ tình dục đồng tính hoặc hành vi tương tự giao cấu cũng cấu thành tội hiếp dâm [140, pp.639-685].
Bài viết “Phản ứng hình sự đối với bạo lực gia đình” của Heather Douglas trên Tạp chí Luật Sysney năm 2008 (“The criminal response to dometic violence”, Sydney Law Review). Trong khi các nhà hoạt động nữ quyền luôn vận động việc ghi nhận bạo lực gia đình là một loại tội phạm thì tác giả lại cảnh báo những bất lợi do việc tội phạm hóa hành vi này đem lại. Theo tác giả, nếu không tội phạm hóa bạo lực gia đình thì hành vi này vẫn có thể xử lý về hình sự như bất kỳ một dạng bạo lực nào khác. Và thực tế, từ khi pháp luật ở Úc công nhận bạo lực gia đình là tội phạm thì hình phạt quy định cho tội phạm này lại chủ yếu là hình phạt tiền và án treo, rất nhẹ so với các hình thức bạo lực tương tự nhưng đối với người xa lạ. Mặt khác, các con số thực tiễn tác giả đưa ra cho thấy phần lớn phụ nữ không tố giác hay trông cậy vào sự giúp đỡ của hệ thống tư pháp hình sự khi bị bạo lực gia đình bởi tâm lý ngại tiếp xúc với cảnh sát, sợ tan vỡ gia đình, lo lắng về ảnh hưởng đối với trẻ em khi gia đình vướng mắc vào tố tụng hình sự, sợ bạo lực tiếp tục tăng lên do người chồng trả thù sau khi thụ án (những mức án vốn không mấy nghiêm khắc)… Trên cơ sở những phân tích của mình, tác giả cho rằng phải quy định hình phạt nghiêm khắc hơn đối với bạo lực gia đình hoặc không cần tội phạm hóa hành vi bạo lực gia đình mà áp dụng các quy định về tội phạm bạo lực nói chung để xử lý. Và các biện pháp phòng ngừa bạo lực gia đình cần được ưu tiên trước khi vấn đề diễn biến đến mức phải xử lý về hình sự [126, pp.439-469].
Bài viết “Quan điểm nữ quyền đối với hiếp dâm vị thành niên trong luật hình sự Trung Quốc” đăng trên Tạp chí Trung tâm Tự do thuộc Trường Luật của Đại học Cincinmati (“Feminist perspective to teenage rape in Chinese criminal law”, Freedom Center Journal – University of Cincinmati College of Law) của tác giả Gulazat Tursun năm 2010. Bài viết này là một phân tích phê bình đối với quy định về hiếp dâm trong luật hình sự Trung Quốc. Luật nước này coi mọi giao cấu với trẻ em gái dưới 14 tuổi là hiếp dâm nhưng lại loại trừ trường hợp giao cấu với sự đồng ý trẻ em gái dưới 14 tuổi mà người đó không biết, không thể biết được cô gái này dưới 14 tuổi và hành vi giao cấu gây hại không nghiêm trọng. Theo tác giả, quy định loại trừ này là không hợp lý về mặt logic cũng như trên phương diện nữ quyền. Thứ nhất, bởi pháp luật Trung Quốc xác định những người chưa đủ 14 tuổi là người chưa có năng lực đầy đủ trong việc nhận thức, điều khiển hành vi của mình nên liệu việc đồng ý của họ thực sự có ý nghĩa? Thứ hai, không thể có hành vi quan hệ tình dục với vị thành niên mà không gây hại nghiêm trọng bởi nếu không chịu thiệt hại về thể chất thì những tổn thương đối với tinh thần và bất lợi cho sự hình thành nhân cách của trẻ là không thể tránh khỏi. Về phương diện nữ quyền, những hậu quả nguy hại của hành vi này rõ rệt hơn nhiều. Đối với trẻ em gái, nhất là ở châu Á vốn không được chú ý giáo dục về giới tính thì việc mang thai ngoài ý muốn, mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục rất dễ xảy ra dẫn đến tổn thương cho cơ thể chưa phát triển toàn diện, ảnh hưởng đến cơ hội học tập, phát triển sự nghiệp và xây dựng hạnh phúc gia đình trong tương Chưa kể đến chính sách dân số của Trung Quốc chỉ cho phép sinh một con sẽ khiến việc mang thai ngoài ý muốn trở thành sự tước đoạt quyền thực hiện thiên chức làm mẹ của bé gái khi lớn lên. Gulazat Tursun vạch ra những phê bình sâu sắc như vậy nhằm gợi mở định hướng nữ quyền cho các nhà lập pháp Trung Quốc trong cải cách quy định về hiếp dâm nhưng ông không đề xuất kiến giải lập pháp cụ thể [124, pp.35-46]. Luận văn: Pháp luật bảo vệ quyền phụ nữ bằng hình sự Việt Nam.
Nghiên cứu so sánh luật hình sự Đức và luật hình sự Israel về “Phẩm giá con người với tư cách một lợi ích được bảo vệ trong luật hình sự” trên Tạp chí luật học Israel (“Human dignity as a protected interest in criminal law”, Israel Law Review) năm 2011 của Giáo sư Tatjana Hörnle (Đức) và Giáo sư Mordechai Kremnitzer (Viện hàn lâm Israel). Xác định phẩm giá con người là một lợi ích được luật hình sự bảo vệ, các tác giả đã chỉ ra những quy định cấm đoán trong Bộ luật Hình sự Đức và Bộ luật Hình sự Israel nhằm bảo vệ nhóm khách thể này. Trong đó, phần lớn những hành vi bị cấm được các tác giả xác định là có đối tượng bị xâm hại chủ yếu là phụ nữ như: hiếp dâm, quấy rối tình dục, khiêu dâm, buôn bán người vì mục đích mại dâm. Các quy định liên quan đến những hành vi này trong luật hình sự của hai quốc gia phản ánh chính sách coi trọng phẩm giá con người, đặc biệt là phụ nữ. Tuy nhiên, theo các tác giả, xét từ góc độ nữ quyền cần phải cân nhắc thêm một số vấn đề như: 1) Theo luật của cả hai nước thì việc phát hành các tác phẩm khiêu dâm với người lớn, do diễn viên là người thành niên thực hiện không phải là tội phạm cho dù chứa đựng yếu tố bạo lực tình dục với phụ nữ, hiếp dâm hay tình dục giữa người với động vật. Đây rõ ràng là một sự lăng mạ nhân phẩm tồi tệ, cần được tội phạm hóa. 2) Luật của Đức và Israel đều không cấm mại dâm mà chỉ cấm buôn bán người vì mục đích mại dâm. Tuy nhiên, theo Bộ luật Hình sự Đức thì bất kỳ hình thức buôn bán người vì mục đích mại dâm nào cũng là tội phạm còn Bộ luật Hình sự Israel chỉ coi trường hợp có yếu tố lừa dối, cưỡng bức đối tượng (người phụ nữ bị bán không đồng ý) để buôn bán người vì mục đích mại dâm mới là tội phạm. Điều này cần xem xét lại bởi việc buôn bán con người dù bằng cách này thì cũng chà đạp nghiêm trọng nhân phẩm do nó không thừa nhận tư cách con người của người bị mua bán mà chỉ coi họ như vật thể, hàng hóa [141, pp.143-167].
Nghiên cứu về tội phạm quốc tế xâm hại phụ nữ đăng trên Tạp chí Luật của phụ nữ cấp tiến năm 2013 của Elena Gekker: “Hiếp dâm, nô lệ tình dục và hôn nhân cưỡng bức trước Tòa án Hình sự Quốc tế” (“Rape, sexual slavery, and forced marriage at the International Criminal Court”, Hastings Women’s Law Journal Volume 25). Tác giả đánh giá sự thay đổi quan điểm về các tội ác chống lại con người trên cơ sở sự xâm hại tình dục qua lịch sử xét xử các tội ác chiến tranh của Tòa án Hình sự Quốc tế. Trước Thế chiến II, những tội phạm này không được xem xét cùng các tội ác chiến tranh khác. Sau đó, các Tòa án đặc biệt được thành lập xét xử các tội ác ở Rwanda, Nam Tư cũ, Kunarac, Sierra Leoni, Campuchia (Khmer đỏ) có xét xử các tội ác hiếp dâm, nô lệ tình dục nhưng không đề cập đến cưỡng bức hôn nhân. Lần đầu tiên vào năm 2004, tòa án Hình sự đặc biệt thiết lập cho vụ Bogora của Congo đã xét xử các bị cáo các tội ác chiến tranh và tội ác chống lại nhân loại, trong đó có tội cưỡng bức hôn nhân. Tuy nhiên, tội cưỡng bức hôn nhân đã không thành lập do không đủ cơ sở pháp lý mặc dù có đầy đủ bằng chứng. Trên cơ sở phân tích thực tiễn đó, tác giả lập luận rằng cưỡng bức hôn nhân cần được coi là tội ác chống lại con người về tình dục như tội hiếp dâm và nô lệ tình dục để đảm bảo cơ sở pháp lý cho việc truy tố những hành vi này. Sở dĩ như vậy bởi vì hôn nhân cưỡng bức, đặc biệt là trong chiến tranh không thực nhằm đến mối quan hệ ràng buộc về hôn nhân với người phụ nữ mà hướng tới mục tiêu tình dục là chính [119, pp.105-134]. Luận văn: Pháp luật bảo vệ quyền phụ nữ bằng hình sự Việt Nam.
1.2.3. Những nghiên cứu về trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với phụ nữ phạm tội
Các công trình ở nhóm này thường tập trung nghiên cứu khía cạnh tội phạm học hoặc thực thi pháp luật hình sự. Sở dĩ như vậy vì trong xã hội tiến bộ, luật hình sự thực định hầu như không chứa đựng nội dung có thể tổn hại nhân quyền chính đáng của phụ nữ. Chỉ có điều, sự tồn tại của định kiến giới, tư tưởng phân biệt đối xử trong hệ thống thực thi pháp luật hoặc chính bản thân đặc điểm giới có thể đem đến những bất lợi về nhân quyền cho người phụ nữ phạm tội. Một số công trình tiêu biểu theo định hướng nghiên cứu này phải kể đến như:
Cuốn sách Phụ nữ phạm tội – nữ giới vi phạm pháp luật và hệ thống tư pháp hình sự (Offending women – Female lawbreaker and ciminal justice system) của Anni Worral xuất bản tại Anh Quốc năm 1990. Tác giả đã tiến hành nghiên cứu thực nghiệm này nhằm tìm hiểu lý do tại sao các tòa án và cơ quan phúc lợi xã hội đối xử khác biệt đáng kể giữa người phạm tội là nữ giới so với nam giới phạm tội. Phân tích của tác giả dựa trên thông tin thu thập được từ nhiều hồ sơ vụ án và các cuộc phỏng vấn với một số lượng lớn các phạm nhân nữ, quan tòa, nhân viên quản chế, luật sư và nhà tâm thần học ở đất nước mình. Từ đó, nghiên cứu đi đến kết luận rằng các nữ phạm nhân phải chịu đựng sự đàn áp rất tinh vi, phức tạp do định kiến của các chuyên gia cải huấn hoặc nhà quản lý phúc lợi xã hội. Chủ yếu do tư tưởng bảo thủ về đạo đức của phụ nữ khiến cho những người thực thi pháp luật mặc nhiên kết luận rằng phụ nữ phạm tội là đặc biệt xấu xa. Do đó họ thường tập trung vào trừng trị, quản lý phòng ngừa mà ít tạo cơ hội tái hòa nhập cho các nữ phạm nhân [113].
Cuốn sách Hình phạt khắc nghiệt: Những trải nghiệm quốc tế về hình phạt tù đối với phụ nữ (Harsh punishment: International experiences of women’s imprisonment) của các tác giả Sandy Cook và Sussan Davies, xuất bản tại Hoa Kỳ năm 1999. Thông qua nghiên cứu thực tiễn thi hành hình phạt tù đối với phụ nữ ở Hoa Kỳ, Canada, Anh, New Zealand, Ba Lan và Thái Lan, các tác giả đã chỉ ra sự khắc nghiệt và những vấn đề bất cập trong áp dụng, thực thi hình phạt tù đối với phụ nữ. Chính tư tưởng “nương nhẹ” đối với phụ nữ trong hệ thống tư pháp hình sự (vốn phổ biến trên thế giới) khiến cho những phụ nữ bị áp dụng hình phạt tù được nhìn nhận là hạng người không thể dung thứ. Vì vậy, trong tù họ thường bị đối xử khắc nghiệt, chịu nhiều hình thức kỷ luật mang tính trừng phạt hơn là cải tạo. Bên cạnh đó, tỉ lệ phụ nữ phạm tội vốn thấp, số lượng phụ nữ chịu án tù lại càng thấp hơn nên các vấn đề của phạm nhân nữ thường ít được quan tâm. Kết quả là nữ phạm nhân thường xuyên phải đối mặt với tình trạng bị lạm dụng tình dục, bạo hành, thiếu sự chăm sóc về sức khỏe sản phụ .. Những vấn đề tâm lý do bị tách khỏi gia đình, con cái thường gặp ở các nữ phạm nhân cũng ít được quan tâm vì nam tù nhân hiếm gặp phải vấn đề này. Điều đó dễ dẫn đến khủng hoảng tâm lý và tái phạm tội với tính chất bạo lực ở nữ tù nhân sau khi được phóng thích. Từ những kết luận nghiên cứu trên, các tác giả khuyến nghị việc hạn chế án phạt tù đối với nữ bị cáo, thay thế bằng các hình phạt không tách rời khỏi cộng đồng, gia đình; đồng thời cải cách chế độ nhà tù để chú trọng đến những đặc thù giới của nữ phạm nhân [137].
Chương 10 “Phụ nữ và bạo lực” trong sách Nghiên cứu về tội phạm bạo lực: những mối tương quan của nó của Scott Mire và Cliff Roberson xuất bản tại Anh Quốc năm 2011 (Chapter 10 – “Female and Violence” in Scott Mire and Cliff Roberson (2011), The study of violent crime: Its correlates and concerns). Trong chương sách này các tác giả cung cấp tư liệu về lịch sử và diễn biến thực tiễn của tình trạng phụ nữ phạm tội bạo lực ở Mỹ và Châu Âu. Phân tích các yếu tố tương quan với tình hình tội phạm này, các tác giả chỉ ra rằng tỉ lệ phụ nữ có hành vi phạm tội bạo lực rất thấp so với nam giới và nguyên nhân sâu xa, chủ yếu là do bản thân họ vốn là nạn nhân của bạo lực gia đình hoặc phân biệt đối xử. Do đó, trừng phạt không phải giải pháp hữu hiệu nhất cho vấn đề phụ nữ phạm tội bạo lực mà đảm bảo an ninh cá nhân, quyền bình đẳng của họ mới là cách phòng ngừa hiệu quả [138, 155-169].
Tựu chung lại, mặc dù rất sôi động nhưng các nghiên cứu trên thế giới cũng như ở Việt Nam, dù nghiên cứu toàn bộ vấn đề bảo vệ quyền phụ nữ hay đi sâu nghiên cứu một nội dung, khía cạnh cụ thể của đề tài nhưng đều chủ yếu là các đánh giá về pháp luật thực định hoặc thực tiễn áp dụng các quy định này, hầu như chưa có nghiên cứu nào đồng thời giải quyết sâu sắc, toàn diện các vấn đề lý luận, thực tiễn về đề tài bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.
1.3. Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu Luận văn: Pháp luật bảo vệ quyền phụ nữ bằng hình sự Việt Nam.
Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự cho thấy các nghiên cứu đều thống nhất về các vấn đề sau:
Thừa nhận bảo vệ quyền phụ nữ là một nội dung quan trọng của nhiệm vụ bảo vệ quyền con người bằng pháp luật hình sự;
Xác định trọng tâm của vấn đề bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự là hướng tới bảo vệ quyền con người đặc thù của phụ nữ – quyền thực hiện thiên chức làm mẹ và được bảo hộ đặc biệt đối với thiên chức này cùng với các quyền con người dễ bị tổn thương do chủ thể của quyền là phụ nữ như: quyền bình đẳng giới, quyền tự do và an toàn về tình dục, quyền tự do và an ninh cá nhân, quyền tự do hôn nhân;
Khẳng định việc bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự gắn liền với những đặc thù giới của phụ nữ và có những khó khăn, thách thức xuất phát từ quan điểm xã hội về nữ giới.
Tuy có sự thống nhất cơ bản về nội dung, định hướng nghiên cứu nhưng những công trình nghiên cứu điển hình về đề tài hầu hết vẫn tập trung vào khía cạnh thực tiễn pháp lý, chưa chú trọng khía cạnh lý luận. Về kết quả nghiên cứu, các công trình nghiên cứu trên đã đưa ra những phê bình sâu sắc trên phương diện nữ quyền đối với quy định của pháp luật hình sự nhằm thúc đẩy các nhà lập pháp tiến hành cải cách nhưng hầu hết không đề xuất phương án lập pháp cụ thể. Một số nghiên cứu đề xuất các biện pháp thế mạnh trong việc bảo vệ phụ nữ chống lại các tội phạm chủ yếu nhằm vào giới này nhưng không chạm tới một hệ thống đồng bộ của các giải pháp lập pháp và hành động thực tiễn.
Từ kết quả khảo sát tình hình nghiên cứu trên, tác giả nhận thấy những vấn đề cần tập trung nghiên cứu và nghiên cứu sâu sắc hơn để có một cái nhìn toàn diện về đề tài bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự ở Việt Nam bao gồm:
- Nghiên cứu xây dựng cơ sở lý luận của việc bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự, trong đó làm rõ những nhận thức cơ bản như: khái niệm, đặc điểm, phương thức, sự cần thiết của việc bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự;
- Tiếp tục đánh giá một cách cụ thể, sâu sắc hiện trạng các quy định nhằm bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự Việt Nam;
- Khảo sát, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong áp dụng các quy định pháp luật hình sự nhằm bảo vệ quyền phụ nữ ở Việt Nam;
- Đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện và đảm bảo thực thi các quy định nhằm bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự Việt Nam. Luận văn: Pháp luật bảo vệ quyền phụ nữ bằng hình sự Việt Nam.
Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN PHỤ NỮ BẰNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
Những nhận thức lý luận chuẩn mực và thực tiễn áp dụng của các quy định pháp luật chính là cơ sở đối sánh quan trọng nhất cho việc việc đánh giá, hoàn thiện bản thân các quy định ấy. Vì vậy, để đánh giá, hoàn thiện những quy định nhằm bảo vệ quyền phụ nữ trong BLHS Việt Nam hiện nay, nhất định phải làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản như: khái niệm, đặc điểm, sự cần thiết, ý nghĩa, các phương thức bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.
2.1. Khái niệm và sự cần thiết phải bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự
2.1.1. Khái niệm bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự
Để thiết lập một định nghĩa khoa học về việc bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự, trước hết phải làm rõ khái niệm trung tâm của định nghĩa này là quyền phụ nữ. Khái niệm quyền phụ nữ gồm hai yếu tố cần được giải mã: một là chủ thể của các quyền ấy – phụ nữ; hai là phạm vi quyền trong khái niệm quyền phụ nữ.
Về phụ nữ – chủ thể của các quyền phụ nữ: trên phương diện ý nghĩa của ngôn từ, “phụ nữ” cùng với một số từ khác như “đàn bà”, “con gái” có đặc điểm chung là ám chỉ tới nữ giới. Phân biệt với nam giới, dưới khía cạnh sinh học, nữ giới được cho là những người thuộc giống cái, tức là người mang những đặc điểm giới tính được xã hội thừa nhận về khả năng mang thai và sinh nở một cách tự nhiên khi cơ thể họ hoàn thiện bình thường. Tuy nhiên, “phụ nữ” là một thuật ngữ có tính phân biệt cao hơn “nữ giới” về khía cạnh lứa tuổi hoặc tình trạng hôn nhân. Trong đời sống dân sự, từ “phụ nữ” thường được dùng để chỉ nữ giới trưởng thành [110, tr.1272] nhằm phân biệt với trẻ em hoặc vị thành niên mang giới tính nữ hoặc “phụ nữ” còn có thể còn được hiểu là nữ giới đã kết hôn trong sự so sánh với từ “con gái” để chỉ nữ giới chưa kết hôn.
Mặc dù vậy, khi tiếp cận dưới góc độ nhân quyền, khái niệm “phụ nữ” lại không mang ý nghĩa phân biệt như trên mà chỉ tới toàn bộ nữ giới. Văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng nhất về quyền phụ nữ – Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ năm 1979 (CEDAW) – tuy không xác định phụ nữ gồm những người nào nhưng đã khẳng định việc chống lại mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ bất kể tình trạng hôn nhân của họ như thế nào (Điều 1) và ghi nhận quyền bình đẳng của phụ nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống, bao gồm quyền bình đẳng trong học tập của trẻ em gái (Điều 10). Theo đó, Công ước CEDAW hướng tới bảo vệ quyền của tất cả những người thuộc nữ giới không kể họ đã kết hôn hay chưa, là người trưởng thành hay trẻ em. Luận văn: Pháp luật bảo vệ quyền phụ nữ bằng hình sự Việt Nam.
Sau Công ước CEDAW, một văn kiện quốc tế chuyên biệt về quyền phụ nữ khác – Tuyên bố về xóa bỏ bạo lực với phụ nữ năm 1993 – đã thể hiện rõ lập trường bảo vệ quyền phụ nữ là hướng tới tất mọi phụ nữ không phân biệt lứa tuổi, xuất thân, địa vị xã hội, tình trạng kinh tế… Trong Lời nói đầu, Tuyên bố này ghi nhận mối quan ngại về bạo lực đối với phụ nữ như sau:
Lo ngại rằng, một số nhóm phụ nữ, chẳng hạn như phụ nữ thuộc các nhóm thiểu số, phụ nữ bản xứ, phụ nữ tỵ nạn, phụ nữ nhập cư, phụ nữ đang sống trong những cộng đồng nông thôn xa xôi, phụ nữ trong hoàn cảnh bần hàn, phụ nữ trong các nhà giam, trẻ em gái, phụ nữ khuyết tật, phụ nữ cao tuổi và phụ nữ trong những hoàn cảnh có xung đột vũ trang, là những người đặc biệt dễ có nguy cơ phải chịu bạo lực.
Cách tiếp cận khái niệm phụ nữ với ý nghĩa là mọi nữ giới, không phân biệt về bất kể yếu tố nào, kể các tuổi tác như trên tiếp tục được khẳng định bởi Tuyên bố Vienna tại Hội nghị thế giới về quyền con người năm 1993, ngay tại Phần 1 (đoạn thứ 18): “Các quyền của phụ nữ và trẻ em gái là một bộ phận cấu thành, gắn liền và không thể tách rời khỏi các quyền mang tính phổ biến của con người” [48].
Như vậy, dưới góc độ nhân quyền, phụ nữ với tư cách chủ thể của các quyền phụ nữ được hiểu thống nhất là tất cả các cá nhân thuộc giới nữ, bao gồm cả trẻ em gái. Có thể có quan điểm ngược lại cho rằng trẻ em gái không thuộc nhóm chủ thể này mà là chủ thể của các quyền trẻ em. Tuy nhiên, khi đã nói đến cụm từ “trẻ em gái” nghĩa là nhấn mạnh về phương diện giới tính nữ của trẻ em đó, nếu không liên quan đến khía cạnh này thì chỉ cần sử dụng thuật ngữ chung là “trẻ em”. Bởi vậy, các quyền của trẻ em gái là những quyền gắn với yếu tố giới tính nữ của trẻ em đó chứ không phải quyền gắn với yếu tố lứa tuổi của họ.
Liên quan đến giới tính, thực tiễn xã hội hiện nay cũng đặt ra một vấn đề khác là liệu những người vốn không phải nữ giới thực hiện việc chuyển giới để trở thành nữ giới và những người vốn là nữ giới đã thực hiện chuyển giới để trở thành nam giới có được coi là phụ nữ trong bối cảnh của việc bảo vệ quyền phụ nữ. Tuy nhiên, đối với giới tính mới của những người này, việc có được thừa nhận hay không còn tùy thuộc vào pháp luật của mỗi quốc gia. Không ai có thể phủ nhận việc bản thân họ là những con người và có những nhân quyền như mọi cá nhân con người. Nhưng vấn đề bảo vệ nhân quyền của những người này chắc chắn phải gắn với những đặc thù riêng của việc chuyển giới. Bởi vậy, khi đề cập đến vấn đề bảo vệ quyền phụ nữ, nghiên cứu này thống nhất rằng: Phụ nữ – với tư cách chủ thể của các quyền phụ nữ – là những người mang giới tính nữ một cách tự nhiên, không phân biệt về tuổi tác, xuất thân, thành phần xã hội, địa vị, tình trạng kinh tế hay bất cứ yếu tố nào khác.
Về phạm vi quyền trong khái niệm quyền phụ nữ, trong khoa học pháp lý tồn tại những cách hiểu khác nhau. Ở Việt Nam, các nghiên cứu về quyền phụ nữ thường hướng đến nội dung các quyền thể hiện trong pháp luật thực định hoặc thực tiễn bảo hộ, thực thi những quyền ấy. Vậy nên khái niệm quyền phụ nữ, nữ quyền hay quyền của phụ nữ chưa từng được các nhà khoa học Việt Nam khái quát. Trên thế giới, các nghiên cứu về nữ quyền đã tạo thành một trường phái luật học phát triển mạnh [112, pp.3-4] nhưng xung quanh khái niệm quyền phụ nữ vẫn tồn tại những cách hiểu khác nhau. Tuy rằng các nhà nghiên cứu đều thống nhất quyền phụ nữ là các nhân quyền thuộc về phụ nữ nhưng lại có đến ba luồng quan điểm khác nhau về phạm vi của các quyền ấy như sau: thứ nhất là các đặc quyền của riêng nữ giới; thứ hai là quyền bình đẳng về mọi quyền con người của phụ nữ với nam giới và thứ ba là các quyền con người phản ánh đặc điểm giới của phụ nữ.
Các hiểu thứ nhất được Fran. P. Hosken – nhà hoạt động xã hội, nhà nữ quyền Mỹ gốc Australia, người thành lập Mạng lưới Phụ nữ Quốc tế năm 1975, đề cập đến trong Quý san Nhân quyền của Đại học Johns Hopkins như sau: “Quyền phụ nữ là thuật ngữ dùng để chỉ các quyền tự do và đặc quyền được cho là thuộc về nữ giới” và “những quyền này thường được phân biệt với các quan niệm chung về quyền con người mà được ghi nhận là dành cho nam giới” [121, p.5]. Quan điểm của Hosken giới hạn quyền phụ nữ trong phạm vi hẹp chỉ bao gồm các quyền đặc thù của phụ nữ, phân biệt với các quyền con người nói chung. Hiểu như vậy nghĩa là quyền phụ nữ chỉ bao gồm: quyền mang thai, sinh nở, quyền được bảo hộ thiên chức làm mẹ. Trong khi đó, với tư cách con người, phụ nữ có tất cả những nhân quyền phổ biến ở mọi cá nhân trên thế giới. Việc hiểu khái niệm theo cách này đã gạt bỏ phần lớn các quyền con người của phụ nữ. Nói chung, các quyền đặc thù giới chỉ có thể là một bộ phận chứ không thể bao hàm toàn bộ khái niệm quyền phụ nữ. Luận văn: Pháp luật bảo vệ quyền phụ nữ bằng hình sự Việt Nam.
Cách hiểu thứ hai về phạm vi của quyền phụ nữ với ý nghĩa là quyền bình đẳng trong việc thụ hưởng các quyền con người của phụ nữ so với nam giới thường được diễn giải trong các từ điển tiếng Anh. Thuật ngữ “women’s rights” (quyền của phụ nữ) trong Từ điển tiếng Anh Oxford được giải thích: “là những quyền mà thúc đẩy địa vị pháp lý và xã hội bình đẳng của phụ nữ với nam giới” [114, p.2076]. Còn theo Từ điển Anh – Mỹ, thuật ngữ này có nghĩa là: 1) “quyền về sự bình đẳng trong các lợi ích và cơ hội so với nam giới, thuộc về phụ nữ và dành cho phụ nữ”; 2) “các quyền kinh tế – xã hội, chính trị, pháp lý dành cho phụ nữ bình đẳng hoặc tương đương với những quyền đó dành cho nam giới” [128, p.816].
Ruth Bader Ginsburg – nữ thẩm phán Do Thái đầu tiên của Tòa án Tối cao của Mỹ cũng từng nhìn nhận quyền phụ nữ với ý nghĩa là sự bình đẳng trong việc thụ hưởng các quyền con người: “Quyền của phụ nữ là một phần thiết yếu của quyền con người nói chung, hướng đến sự bình đẳng về phẩm giá và khả năng sống trong tự do mà tất cả mọi người nên hưởng thụ” [125, p.3]. Bề ngoài, cách hiểu này dường như đem đến một phạm vi rộng hơn cho khái niệm quyền phụ nữ so với cách hiểu thứ nhất vì nó đề cập đến tất cả các quyền, tự do cơ bản của con người. Tuy nhiên, cốt lõi của cách hiểu này khiến quyền phụ nữ thực chất chỉ gồm một quyền duy nhất là quyền bình đẳng về cơ hội hưởng thụ mọi quyền con người của phụ nữ so với nam giới. Bình đẳng về cơ hội hưởng thụ các quyền chính là nền tảng của nhân quyền nhưng không vì thế mà quyền bình đẳng ấy bao hàm tất cả các quyền con người của phụ nữ. Cách hiểu này đã thiếu sót ngay ở chỗ nó đã loại trừ những quyền đặc thù của phụ nữ ra khỏi khái niệm quyền phụ nữ vì các quyền đặc thù giới không bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới.
Cách hiểu thứ ba được hai nhà hoạt động nữ quyền nổi tiếng Charlotte Bunch và Samantha Frost – giảng viên Đại học Illinois – đề cập trong cuốn Bách khoa toàn thư thế giới về phụ nữ: Những vấn đề và tri thức toàn cầu về phụ nữ như sau: “Quyền phụ nữ là những quyền con người của phụ nữ thông qua lăng kính giới” [115, p.15]. Theo đó, quyền phụ nữ cũng là các quyền con người nhưng phản ánh những đặc thù giới tính của phụ nữ. Đây có lẽ là cách hiểu phù hợp nhất về khái niệm quyền phụ nữ. Sở dĩ như vậy bởi vì với tư cách con người, phụ nữ có mọi nhân quyền như các cá nhân khác. Tuy nhiên, khái niệm quyền phụ nữ không chỉ đến tất cả mọi nhân quyền đó bởi nếu mang ý nghĩa như vậy thì chỉ cần dùng khái niệm “quyền con người” (human rights) chung cho cả phụ nữ và nam giới mà không cần phải xác định một khái niệm “quyền phụ nữ” (women’s right) riêng. Khái niệm quyền phụ nữ phải được hiểu trong bối cảnh gắn kết chặt chẽ của hai yếu tố: quyền con người và đặc thù giới của phụ nữ.
Như vậy, quyền phụ nữ nên hiểu “là những quyền con người của phụ nữ thông qua lăng kính giới”. Vấn đề cần được làm rõ hơn về khái niệm này là “lăng kính giới” đã tạo ra sự khác biệt như thế nào giữa quyền phụ nữ với quyền con người nói chung mà phụ nữ vốn cũng là một chủ thể được hưởng thụ. Luận văn: Pháp luật bảo vệ quyền phụ nữ bằng hình sự Việt Nam.
Đặc thù giới về sinh học và thiên chức xã hội đã mang lại cho phụ nữ một loại quyền con người riêng mà nửa kia của thế giới không có là quyền thực hiện thiên chức làm mẹ và được bảo hộ đặc biệt đối với thiên chức này. Đặc thù giới tất nhiên cũng không làm mất đi bất kỳ một quyền con người nói chung nào của phụ nữ bởi vì không ai có thể phủ nhận việc phụ nữ là con người. Tuy nhiên, đặc thù giới có thể khiến một số quyền con người ở phụ nữ dễ bị tổn thương hơn so với quyền ấy ở nam giới. Ví dụ như: do đặc điểm sinh học của cơ thể nên quyền tự do và an toàn tình dục của phụ nữ dễ bị xâm hại hơn; do định kiến xã hội về giới, phụ nữ dễ bị kỳ thị, phân biệt đối xử; đặc điểm thể chất và chức năng sinh sản, vai trò xã hội… khiến phụ nữ dễ trở thành nạn nhân của bạo lực, tình trạng ngược đãi hoặc lạm dụng…v.v. Như vậy, đặc điểm giới mang lại cho phụ nữ quyền con người đặc thù, đồng thời khiến cho nhiều quyền con người của phụ nữ dễ bị tổn thương hơn. Vì lẽ đó, trong thực tiễn pháp lý, nội dung bảo vệ quyền phụ nữ của các văn kiện của quốc tế cũng như quốc gia thường tập trung vào việc bảo vệ quyền thực hiện thiên chức làm mẹ của phụ nữ và các quyền con người dễ bị tổn thương do chủ thể của quyền là phụ nữ như: quyền bình đẳng giới; quyền tự do và an toàn về tình dục; quyền tự do và an ninh cá nhân; quyền tự do hôn nhân… Bởi vậy, dưới góc độ bảo vệ quyền phụ nữ, khái niệm quyền phụ nữ hàm ý chỉ đến một nhóm quyền bao gồm quyền con người đặc thù của nữ giới và những quyền dễ bị tổn thương do chủ thể của quyền là nữ giới. Khái niệm này không làm giới hạn nhân quyền của nữ giới so với các nhân quyền phổ biến của cá nhân nói chung mà chỉ nhằm nhấn mạnh yêu cầu bảo vệ chặt chẽ hơn đối với một số nhân quyền ở phụ nữ. Để có một cách nhìn nhận đầy đủ và chính xác về khái niệm quyền phụ nữ, có thể mô hình hóa khái niệm này như dưới đây:
- Biểu đồ 2.1. Miền khái niệm quyền phụ nữ trong các quyền con người của phụ nữ
Với tư cách con người và đặc thù giới của mình, phụ nữ là chủ thể của tất cả các nhóm quyền được thể hiện trong biểu đồ trên. Tuy nhiên, khi đề cập đến quyền phụ nữ với tư cách là những quyền được bảo hộ bằng một chế độ riêng trên nền tảng bảo vệ nhân quyền chung thì nghĩa là chỉ đề cập đến hai miền trong biểu đồ này – hai miền chứa nhóm quyền đặc thù giới của phụ nữ và quyền dễ bị tổn thương do chủ thể là phụ nữ. Bởi vậy, dưới góc độ bảo vệ quyền phụ nữ, khái niệm quyền phụ nữ được hiểu thống nhất như sau: Quyền phụ nữ là những quyền con người phản ánh đặc điểm giới tính vốn có của mọi phụ nữ, trong đó bao gồm các quyền con người đặc thù giới mà chỉ riêng phụ nữ mới có và các quyền con người dễ bị tổn thương do chủ thể của quyền là phụ nữ. Luận văn: Pháp luật bảo vệ quyền phụ nữ bằng hình sự Việt Nam.
- Khái niệm này chính nền tảng để xây dựng định nghĩa về bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự dưới đây.
“Bảo vệ” thông thường được hiểu là “giữ gìn, chống lại sự xâm phạm để khỏi bị hư hỏng, mất mát” hoặc “dùng lý lẽ để bênh vực” [110, tr.80]. Theo đó, bảo vệ quyền phụ nữ là việc giữ gìn, bênh vực, chống lại sự xâm hại để tránh tổn thương các quyền phụ nữ. Với cách hiểu chung như vậy, bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự là dùng các quy định pháp luật hình sự để giữ gìn, bênh vực, chống lại sự xâm hại làm tổn thương các quyền phụ nữ. Tuy nhiên, để hiểu chính xác và đầy đủ về khái niệm này cần phải lí giải những nội dung bên trong của khái niệm dựa trên cơ sở đặc trưng, cơ chế hoạt động của ngành luật hình sự.
Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, luật hình sự thường được hiểu là luật về tội phạm hoặc luật về hình phạt [97, tr.78]. Trong khoa học luật hình sự Việt Nam, luật hình sự được xác định là một ngành luật trong hệ thống pháp luật của Nhà nước gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội giữa Nhà nước và người phạm tội, xác định những hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm và quy định hình phạt đối với những tội phạm ấy [31, tr.7]. Theo đó, luật hình sự điều chỉnh mối quan hệ xã hội phát sinh giữa Nhà nước với người phạm tội bằng phương pháp sử dụng quyền lực áp đặt của Nhà nước để tội phạm hóa và trừng phạt những hành vi nguy hiểm cho xã hội. Với phạm vi và phương thức hoạt động như vậy, pháp luật hình sự bảo vệ quyền phụ nữ thông qua việc tội phạm hóa nhằm ngăn cấm, trừng phạt thích đáng những hành vi xâm hại nghiêm trọng các quyền này. Nhưng ngược lại, pháp luật hình sự cũng có khả năng làm tổn thương các quyền phụ nữ ở khía cạnh là sự ngăn cấm, trừng phạt – nếu không hợp lý – của pháp luật hình sự có thể cản trở, chà đạp quyền chính đáng nào đó của phụ nữ. Bởi vậy, đồng thời với việc tội phạm hóa hành xâm hại nghiêm trọng quyền phụ nữ, pháp luật hình sự phi tội phạm hóa những hành vi mà việc ngăn cấm thực hiện hành vi ấy chính là xâm hại quyền phụ nữ; loại bỏ việc áp dụng những hình phạt cản trở, chà đạp quyền phụ nữ. Như vậy, bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự phải giải quyết vấn đề quyền phụ nữ ở cả hai khía cạnh: một mặt quy định là tội phạm và trừng phạt những hành vi xâm hại nghiêm trọng quyền phụ nữ; mặt khác phải loại bỏ tất cả những quy định mà gây tổn hại đến quyền phụ nữ. Tức là việc bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự phải chống lại sự xâm hại quyền phụ nữ từ phía các hành vi có tính chất tội phạm cũng như từ phía hoạt động xây dựng pháp luật hình sự.
Cùng với khái niệm quyền phụ nữ đã được xác định, có thể hiểu một cách đầy đủ về khái niệm bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự như sau: Bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự là việc chống lại sự xâm hại đối với các quyền con người đặc thù của riêng nữ giới và các quyền con người dễ bị tổn thương do chủ thể là nữ giới từ phía những hành vi có tính chất tội phạm cũng như từ phía hoạt động xây dựng pháp luật hình sự.
Khái niệm bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự như trên chính là nền tảng cho mọi phân tích lý luận và thực tiễn về vấn đề này.
2.1.2. Sự cần thiết phải bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự Luận văn: Pháp luật bảo vệ quyền phụ nữ bằng hình sự Việt Nam.
Sự cần thiết phải bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự được xem xét trên hai khía cạnh: một là sự cần thiết phải bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự trong hệ thống pháp luật; hai là sự cần thiết phải đặt ra vấn đề bảo vệ quyền phụ nữ trên nền của việc bảo vệ quyền con người nói chung trong pháp luật hình sự.
- Sự cần thiết phải bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự trong hệ thống pháp luật
Quyền phụ nữ phải được bảo vệ bằng pháp luật hình sự cùng với sự bảo vệ của các ngành luật khác trong hệ thống pháp luật trước tiên bởi vì thuộc tính vốn có của các quyền phụ nữ và chức năng của pháp luật hình sự. Được pháp luật bảo vệ là một thuộc tính cấu tạo của các quyền phụ nữ (quyền con người nói chung) mà ngành luật có chức năng bảo vệ và sức mạnh bảo vệ tốt nhất trong hệ thống pháp luật là luật hình sự. Quyền phụ nữ chính là một phạm trù quyền con người mà “Quyền tự nhiên của con người được pháp luật ghi nhận, bắt buộc hoặc ngăn cấm thì mới trở thành các quyền của con người” [50, tr.59] và “Vấn đề nhân quyền luôn luôn đi kèm và không thể thiếu được vấn đề bảo vệ nhân quyền” [20, tr.122]. Chính bởi vậy, Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1984 đã khẳng định tính thiết yếu của việc bảo vệ quyền con người bằng pháp luật: “Nhân quyền phải được pháp luật bảo vệ để mỗi người không buộc phải nổi loạn như là biện pháp cuối cùng để chống lại chế độ cường quyền và áp bức” [38]. Không những thế, mức độ bảo vệ quyền phụ nữ của hệ thống pháp luật quốc gia còn thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội bởi nữ quyền vẫn là một trong những thước đo đánh giá thành tựu của mọi cuộc cách mạng chính trị như tuyên ngôn bất hủ của nhà tư tưởng Pháp Charles Fourie: “Trình độ giải phóng phụ nữ là tiêu chuẩn tự nhiên để đo sự giải phóng chung” [12, tr.295].
Do đó, sự ghi nhận, bảo vệ quyền con người, trong đó có các quyền phụ nữ, là một trong những nội dung quan trọng nhất của cả pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia. Tuy nhiên, pháp luật quốc tế chỉ ghi nhận nội dung các quyền phụ nữ và đề ra yêu cầu, chuẩn mực chung đối với việc bảo vệ các quyền ấy. Việc nội luật hóa những nội dung đó bởi các ngành luật phi hình sự trong hệ thống pháp luật quốc gia được thể hiện dưới những khía cạnh chủ yếu như: công nhận, tôn trọng, xây dựng các cơ chế triển khai hoặc thúc đẩy quyền phụ nữ. Các ngành luật phi hình sự cũng có bảo vệ quyền phụ nữ chống lại những hành vi tổn thương các quyền này nhưng việc bảo vệ được thực hiện bằng những phương tiện không có nhiều sức mạnh là các loại chế tài ít nghiêm khắc. Do đó, những lĩnh vực pháp luật ấy không đủ sức bảo vệ quyền phụ nữ trước nguy cơ bị tổn thương bởi những hành vi có tính nguy hiểm cao. Chính vì vậy, các ngành luật phi hình sự thường dựa vào, viện dẫn đến sự bảo vệ của pháp luật hình sự đối với những quyền phụ nữ mà mình đã ghi nhận. Bởi thế nên luật hình sự chính là “người bảo vệ” trong hệ thống pháp luật như tác giả Lê Văn Cảm đã khẳng định: “Chức năng bảo vệ là chức năng chủ yếu và quan trọng nhất của luật hình sự được thể hiện trong việc bảo vệ bằng những biện pháp và phương tiện riêng biệt các lợi ích của con người, của xã hội và của Nhà nước tránh khỏi những sự xâm hại có tính chất tội phạm” [13, tr.152-153]. Luận văn: Pháp luật bảo vệ quyền phụ nữ bằng hình sự Việt Nam.
Với chức năng chính là bảo vệ, luật hình sự sở hữu những “biện pháp và phương tiện riêng biệt” có sức mạnh bảo vệ vượt trội so với các ngành luật khác trong hệ thống pháp luật. Biện pháp bảo vệ đặc trưng của luật hình sự chính là tội phạm hóa và đe dọa trừng phạt hành vi xâm hại đối tượng được bảo vệ. Sự trừng phạt bằng pháp luật hình sự được thực hiện bởi công cụ đắc lực là hệ thống hình phạt – loại chế tài pháp luật nghiêm khắc nhất. Bằng phương thức tội phạm hóa và đe dọa trừng phạt một cách hà khắc những hành vi xâm hại nghiêm trọng quyền phụ nữ, luật hình sự trở thành ngành luật có sức mạnh nhất trong việc ngăn ngừa, xử lý những hành vi này để bảo vệ quyền phụ nữ.
Như vậy, được pháp luật bảo vệ là thuộc tính chung của quyền con người. Tuy nhiên, sự bảo vệ của các lĩnh vực pháp luật phi hình sự đối với những giá trị, lợi ích đặc biệt quan trọng này là chưa đầy đủ, mạnh mẽ như sự bảo vệ của ngành luật hình sự vốn mang bản chất “người bảo vệ” trong hệ thống pháp luật. Do đó, quyền con người nói chung, quyền phụ nữ nói riêng phải được bảo vệ ở một cấp độ chặt chẽ nhất là bảo vệ bằng pháp luật hình sự.
Bên cạnh lý do thuộc tính của quyền con người và chức năng của pháp luật hình sự, sự cần thiết phải bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự còn xuất phát từ đặc thù của ngành luật này. Quan hệ pháp luật hình sự phát sinh giữa Nhà nước với người phạm tội là một mối quan hệ bất bình đẳng với cán cân lợi thế nghiêng hẳn về phía Nhà nước. Trong mối quan hệ này, nhân danh công lý, Nhà nước có quyền tội phạm hóa bất kỳ hành vi nào được cho rằng nguy hiểm đối với xã hội và định ra hình thức trừng phạt đối với người thực hiện hành vi đó; đồng thời có quyền dùng sức mạnh cưỡng chế để buộc người phạm tội chịu trách nhiệm về tội phạm họ đã gây ra mà không phụ thuộc hay bị cản trở bởi cá nhân, tổ chức nào. Nếu quyền lực áp đảo đó được thực thi cùng với, dù là chỉ là một chút, bất cẩn và tùy tiện sẽ đem đến thiệt hại nghiêm trọng đối với nhân quyền. Mức độ thiệt hại nếu xảy ra ở đây sẽ lớn hơn trong bất kỳ lĩnh vực quan hệ pháp luật nào khác bởi các biện pháp trừng phạt của pháp luật hình sự khi thực thi có thể tước đoạt những quyền con người quan trọng nhất, bao gồm quyền sống. Do đó, bảo vệ quyền con người nói chung, quyền phụ nữ nói riêng nhất định phải được đặt ra trong pháp luật hình sự hơn bất cứ lĩnh vực pháp luật nào khác.
- Sự cần thiết phải đặt ra vấn đề bảo vệ quyền phụ nữ trên nền của việc bảo vệ quyền con người nói chung trong pháp luật hình sự Luận văn: Pháp luật bảo vệ quyền phụ nữ bằng hình sự Việt Nam.
Không những phải được bảo vệ bằng pháp luật hình sự, việc bảo vệ quyền phụ nữ còn phải được đặt ra một cách chuyên biệt trên nền của chế độ bảo vệ quyền con người nói chung trong pháp luật hình sự bởi những đặc thù của đối tượng được bảo vệ.
Thứ nhất là các quyền phụ nữ có tính gắn liền với đặc thù giới. Như đã chỉ ra, quyền phụ nữ cũng là những quyền con người nhưng gắn liền và phản ánh những đặc điểm giới tính của phụ nữ. Vì những đặc điểm giới tính đó nên một số khía cạnh trong các quyền con người của phụ nữ đòi hỏi được quan tâm đặc biệt mà những khía cạnh như vậy không cần quan tâm đặc biệt nếu là ở nam giới (ví dụ: khía cạnh sức khỏe sinh sản trong các quyền liên quan đến sức khỏe). Bởi vậy, việc bảo vệ quyền phụ nữ cần được thực hiện bằng những quy định chuyên biệt hoặc quy định chung cho bảo vệ quyền con người nhưng chú trọng tới yếu tố nữ tính trong các quyền đó.
Bên cạnh tính đặc thù giới, quyền phụ nữ còn có tính chất dễ bị tổn thương. Trong các văn kiện pháp lý, trong các hoạt động nghiên cứu cũng như thực tiễn về quyền con người trên thế giới, phụ nữ luôn được đề cập đến với tư cách là một trong “các nhóm xã hội dễ bị tổn thương” (vulnerable groups) – là khái niệm chỉ tới những nhóm người có nguy cơ cao bị tổn thương về quyền con người [19, tr.229]. Vì tính dễ tổn thương đó nên quyền phụ nữ cần được bảo vệ chặt chẽ hơn quyền con người nói chung bởi “hệ thống các quy phạm và cơ chế về quyền con người nói chung về cơ bản là không đủ, thậm chí đôi khi không phù hợp nếu áp dụng một cách máy móc với các nhóm người dễ bị tổn thương” [94, tr.24]. Hệ thống các quy định bảo vệ quyền con người nói chung trong pháp luật hình sự cũng vậy, sẽ là không đủ và không hoàn toàn thích hợp để bảo vệ các quyền phụ nữ vốn dễ tổn thương. Do đó, việc bảo vệ quyền phụ nữ phải được đặt ra một cách chuyên biệt trên nền của chế độ bảo vệ quyền con người nói chung trong pháp luật hình sự.
Đặc biệt hơn nữa, việc bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự cần tính chuyên biệt do chịu sự chi phối các đặc điểm về phương diện tội phạm học như: nạn nhân, nhân thân người phạm tội, nguyên nhân, điều kiện phạm tội. Do ảnh hưởng của yếu tố giới nên phụ nữ luôn luôn hoặc chủ yếu là nạn nhân của một số loại tội phạm, ví dụ như: các tội phạm tình dục, bạo lực gia đình, phân biệt đối xử về giới… Thiên chức tự nhiên và xã hội khác biệt của phụ nữ khiến cho tác động của các biện pháp cưỡng chế hình sự đối với phụ nữ khác với nam giới nên việc áp dụng các biện pháp này đối với phụ nữ cần có những cân nhắc đặc biệt hơn về nhân thân người phạm tội. Đặc điểm giới tính cũng có thể ảnh hưởng đến nguyên nhân, điều kiện phạm tội của phụ nữ…v.v. Những yếu tố khác biệt đó đòi hỏi việc bảo vệ quyền phụ nữ đòi hỏi một chế độ đặc thù trên nền tảng của việc bảo vệ nhân quyền bằng pháp luật hình sự.
2.2. Đặc điểm và các phương thức bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự Luận văn: Pháp luật bảo vệ quyền phụ nữ bằng hình sự Việt Nam.
2.2.1. Đặc điểm của việc bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự
Bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự là hoạt động bảo vệ nhân quyền hướng tới một nhóm đối tượng đặc thù bằng những quy định của ngành luật về tội phạm và hình phạt. Do đó, bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự có những đặc điểm khác biệt với việc bảo vệ quyền phụ nữ bằng những lĩnh vực pháp luật khác, đồng thời khác biệt với việc bảo vệ quyền con người của các nhóm xã hội khác hoặc quyền con người nói chung trong pháp luật hình sự.
- Những đặc điểm khác biệt giữa bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự với bảo vệ quyền phụ nữ bằng những lĩnh vực pháp luật khác
Một là về giới hạn bảo vệ: pháp luật hình sự chỉ bảo vệ quyền phụ nữ trước những khả năng bị xâm phạm một cách nghiêm trọng chứ không bảo vệ các quyền này trong mọi trường hợp. Bởi vì luật hình sự là ngành luật về tội phạm nên nó chống lại việc xâm phạm quyền phụ nữ từ phía những hành vi có tính chất tội phạm chứ không phải mọi hành vi xâm phạm quyền phụ nữ. Ví dụ: trong pháp luật thực định ở Việt Nam, chỉ khi quyền bình đẳng tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, khoa học, văn hoá, xã hội của phụ nữ bị tước đoạt bởi hành vi dùng vũ lực hoặc hành vi nghiêm trọng khác thì luật hình sự mới được viện dẫn để bảo vệ quyền này (Điều 130 BLHS năm 1999). Còn trường hợp phân biệt đối xử với phụ nữ bằng dạng hành vi ít nghiêm trọng hơn, chẳng hạn như: xúi giục, lôi kéo người khác không bỏ phiếu cho nữ giới khi thực hiện các thủ tục lấy ý kiến về ứng cử viên để bổ nhiệm vào cương vị quản lý, lãnh đạo vì định kiến giới thì luật hình sự không được viện dẫn để bảo vệ mà là pháp luật hành chính (cụ thể là quy định tại Điều 6 Nghị định số 55/2009/NĐ-CP quy định xử phạt về vi phạm hành chính về bình đẳng giới).
Hai là về phương tiện, biện pháp bảo vệ: Với đặc thù của ngành luật về tội phạm và hình phạt, biện pháp bảo vệ đặc trưng của pháp luật hình sự không phải là ghi nhận, thiết lập các cơ chế thực hiện quyền phụ nữ như các ngành luật khác mà là tội phạm hóa, đe dọa trừng phạt nghiêm khắc đối với các hành vi xâm hại quyền phụ nữ. Bởi vậy, bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự chính là việc sử dụng phương tiện, công cụ có sức cưỡng chế mạnh mẽ nhất trong hệ thống pháp luật để bảo vệ những quyền này. Những hành vi xâm phạm quyền phụ nữ bị pháp luật hình sự coi là tội phạm sẽ phải chịu hình phạt – loại chế tài có thể tước đoạt của người phạm tội những giá trị quan trọng nhất từ tài sản, tự do cho đến tính mạng. Hình phạt còn để lại án tích – vết đen trong lí lịch tư pháp, mang lại nhiều bất lợi trong đời sống chính trị, xã hội của người phạm tội. Bởi vậy, có thể liên tưởng rằng hệ thống pháp luật đã tạo ra nhiều hàng rào nhằm bảo vệ quyền phụ nữ, trong đó, pháp luật hình sự là lớp rào cuối cùng, cao nhất, sắc nhọn nhất mà chủ thể xâm phạm quyền phụ nữ phải vượt qua.
- Những đặc điểm khác biệt giữa bảo vệ quyền phụ nữ với bảo vệ quyền của các nhóm xã hội khác, quyền con người nói chung bằng pháp luật hình sự Luận văn: Pháp luật bảo vệ quyền phụ nữ bằng hình sự Việt Nam.
Đặc điểm đầu tiên để phân biệt bảo vệ quyền phụ nữ với bảo vệ quyền con người nói chung hay quyền của các nhóm xã hội khác rõ ràng là về đối tượng bảo vệ. Việc bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự hướng tới bảo vệ tất cả các cá nhân thuộc nữ giới, không phân biệt về bất cứ yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội nào, ở địa vị nạn nhân của tội phạm hay người phạm tội. Nói cách khác, yếu tố duy nhất để xác định đối tượng bảo vệ ở đây là giới tính nữ của họ. Những nhóm xã hội dễ bị tổn thương như phụ nữ cao tuổi, trẻ em gái thuộc đối tượng bảo vệ của hoạt động bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự cũng là vì đặc điểm giới tính của họ chứ không liên quan đến lứa tuổi, nhận thức hay yếu tố nào khác.
Đặc điểm thứ hai là về phạm vi bảo vệ, việc bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự tập trung vào bảo vệ quyền con người đặc thù của phụ nữ và các quyền con người dễ bị tổn thương do chủ thể của quyền là phụ nữ chứ không bảo vệ tất cả mọi quyền con người ở phụ nữ. Tuy nhiên, với tư cách con người, mọi nhân quyền khác không gắn với đặc thù giới tính của phụ nữ vẫn được pháp luật hình sự bảo vệ như mọi cá nhân và việc bảo vệ các quyền đó thuộc phạm vi của hoạt động bảo vệ quyền con người nói chung trong pháp luật hình sự.
Đặc điểm thứ ba là về chế độ bảo vệ, việc bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự được thực hiện bởi những quy định chuyên biệt hoặc những quy định chung nhưng phản ánh, phù hợp với đặc thù giới tính của phụ nữ. Bản thân các quyền phụ nữ vốn là các quyền gắn liền với đặc thù giới tính nên việc áp đặt một chế độ bảo hộ chung không phản ánh các đặc thù đó sẽ không thích hợp và đầy đủ. Bởi vậy, trên nền của việc bảo vệ nhân quyền nói chung, pháp luật hình sự đặt ra những quy định chuyên biệt chỉ để bảo vệ quyền phụ nữ hoặc những quy định có sự chú trọng khía cạnh nữ tính khi bảo vệ các quyền con người phổ biến. Không cần bàn đến tính đặc thù giới được phản ánh trong những quy định chuyên biệt chỉ dành để bảo vệ quyền phụ nữ vì chúng hướng đến bảo vệ những quyền con người chỉ phụ nữ mới có hoặc quyền con người của mọi cá nhân nhưng trên thực tế chỉ phụ nữ mới cần được bảo vệ. Bên cạnh những quy định chuyên biệt ấy, các quy định bảo vệ quyền con người nói chung hướng tới bảo vệ quyền phụ nữ thông qua việc chú trọng khía cạnh nữ tính của quyền được bảo vệ. Ví dụ, khi bảo vệ sức khỏe của cá nhân nói chung, quy định pháp luật hình sự chủ yếu hướng tới ngăn chặn những tổn thương làm suy giảm sức lực, chức năng hoạt động của cơ thể. Bên cạnh đó, tổn thương làm mất thẩm mỹ tuy không làm suy giảm sức khỏe nhưng lại gây đau khổ cho nạn nhân, đặc biệt nạn nhân là nữ giới. Bởi vậy, coi tổn thương về mặt thẩm mỹ là hậu quả của hành vi xâm hại sức khỏe thể hiện sự chú trọng khía cạnh nữ tính trong quy định này. Tựu chung lại, việc bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự được thực hiện bởi những quy định chuyên biệt và những quy định chung nhưng phản ánh, phù hợp với đặc thù giới tính của phụ nữ. Đó không chỉ là đặc điểm mà còn là yêu cầu đối với việc bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự bởi vì bảo vệ nhân quyền không gì khác hơn là bảo vệ những nhu cầu, khát vọng tự nhiên, chính đáng của con người mà những nhu cầu, khát vọng của phụ nữ không thể tách khỏi đặc điểm giới của họ.
2.2.2. Các phương thức bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự Luận văn: Pháp luật bảo vệ quyền phụ nữ bằng hình sự Việt Nam.
Mặc dù phản ánh những đặc điểm riêng của giới nhưng quyền phụ nữ vốn dĩ là một phạm trù nhân quyền, là một bộ phận của các quyền con người nói chung [59, tr.58-59]. Bởi vậy, những phương thức, biện pháp thể hiện sự thừa nhận và bảo vệ của pháp luật đối với các quyền con người phổ biến trong hệ thống pháp luật như dưới đây cũng được áp dụng để bảo vệ quyền phụ nữ:
Một mặt phải chỉ ra, tức là ghi nhận cho rõ và đầy đủ tất cả các quyền con người có thể có, để con người cần phải biết mà có thể thụ hưởng và ngăn chặn ngay sự vi phạm chính những quy định quyền con người đã được ghi nhận ra từ bất kể chủ thể nào. Một mặt khác, phải ngăn chặn ngay từ trước sự có thể vi phạm đến quyền con người của một chủ thể quan trọng nhất đó là Nhà nước; một khi các quyền đó bị vi phạm cần phải có các biện pháp trừng trị những chủ thể vi phạm và cũng cần có những biện pháp khôi phục lại những quyền đó, đồng thời cũng nhấn mạnh nghĩa vụ, trách nhiệm phải bảo vệ nhân quyền từ phía Nhà nước… [20, tr. 122-123].
Theo đó, pháp luật nói chung bảo vệ quyền con người bằng các biện pháp sau: 1) Ghi nhận chính thức và đầy đủ các quyền con người; 2) Xây dựng cơ chế phòng ngừa hành vi vi phạm quyền con người từ mọi loại chủ thể; 3) Quy định hình thức chế tài áp dụng đối với chủ thể vi phạm quyền con người; 4) Dự kiến biện pháp bù đắp, khôi phục tổn thất do quyền con người bị vi phạm; 5) Ấn định trách nhiệm bảo vệ quyền con người của Nhà nước. Là một ngành luật trong hệ thống pháp luật, phương thức bảo vệ của luật hình sự đối với các quyền con người nói chung, quyền phụ nữ nói riêng cũng không nằm ngoài hệ thống những biện pháp này. Tuy nhiên, do đặc thù riêng nên ở pháp luật hình sự, biện pháp ngăn chặn và trừng trị hành vi xâm hại quyền phụ nữ nổi trội hơn các biện pháp khác.
- Trong một nghiên cứu chuyên khảo có tầm cỡ về quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự, các nhà khoa học đã khẳng định:
Thực chất của việc bảo đảm quyền con người bằng pháp luật hình sự là quá trình tội phạm hóa, phi tội phạm hóa; hình sự hóa, phi hình sự hóa… Với chính sách hình sự hướng tới việc bảo vệ quyền con người thì quá trình này đòi hỏi, một mặt phải xác định yêu cầu cần thiết phải hình sự hóa, tội phạm hóa những hành vi xâm hại đến quyền con người, mặt khác phải rà soát, loại bỏ những tội phạm mà cấu thành của nó hạn chế quyền con người, đồng thời thiết lập hệ thống hình phạt vừa đảm bảo mục đích trừng trị, răn đe người phạm tội nhưng lại mang tính giáo dục, nhân văn, phù hợp với các tiêu chí về quyền con người [14, tr.37-38]. Luận văn: Pháp luật bảo vệ quyền phụ nữ bằng hình sự Việt Nam.
Bảo vệ quyền phụ nữ là một nội dung của bảo vệ quyền con người bằng pháp luật hình sự nhưng gắn với yếu tố đặc thù giới tính của chủ thể được bảo vệ. Do vậy, bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự cũng được thực hiện trên những phương thức của việc bảo vệ quyền con người nói chung bằng pháp luật hình sự nhưng phản ánh và phù hợp với đặc thù giới của phụ nữ. Theo đó, pháp luật hình sự bảo vệ quyền phụ nữ bằng các phương thức là: 1) Tội phạm hóa và đe dọa trừng phạt những hành vi xâm hại quyền phụ nữ; 2) Phi tội phạm hóa những tội phạm mà cấu thành của nó hạn chế quyền phụ nữ; 3) Đảm bảo hệ thống hình phạt phù hợp với các tiêu chí về quyền phụ nữ.
Tội phạm hóa và đe dọa trừng phạt những hành vi xâm hại quyền phụ nữ là cơ chế bảo vệ đặc trưng của pháp luật hình sự đối với các quyền phụ nữ. Như đã nêu trên, bởi luật hình sự là ngành luật về tội phạm và hình phạt nên nó không ghi nhận, không xây dựng các cơ chế để triển khai, thúc đẩy quyền phụ nữ mà bảo vệ bằng cách chống lại những hành vi nguy hiểm xâm hại các quyền này. Trên cơ sở nội dung quyền phụ nữ đã được pháp luật ghi nhận, pháp luật hình sự xác định những hành vi xâm hại các quyền ấy đến mức độ nguy hiểm như thế bào thì bị coi là tội phạm. Có những hành vi xâm hại quyền phụ nữ chỉ cần thực hiện đã đủ nguy hiểm, có những hành vi xâm hại quyền phụ nữ phải để lại hậu quả hoặc thực hiện bằng thủ đoạn đặc biệt, hoặc thực hiện với đối tượng phụ nữ đặc biệt… mới thể hiện tính nguy hiểm đến mức phải coi là tội phạm. Bên cạnh tính nguy hiểm, hành vi xâm phạm quyền phụ nữ còn phải có tính phổ biến, phải có khả năng chứng minh được trên thực tế mới bị nhà làm luật ghi nhận là tội phạm. Tựu chung lại, sau khi xác định yêu cầu cần thiết phải tội phạm hóa hành vi xâm hại quyền phụ nữ, pháp luật hình sự quy định tội danh cụ thể đối với hành vi ấy. Khi một hành vi bị luật hình sự tuyên bố là tội phạm thì điều đó có nghĩa hành vi này bị cấm, bị Nhà nước đe dọa trừng phạt. Tùy theo tầm quan trọng cũng như mức độ bị xâm hại của khách thể được bảo vệ (quyền phụ nữ), pháp luật hình sự quy định những loại, khung hình phạt khác nhau sẽ áp dụng đối với người thực hiện các tội phạm này. Việc quy định hình phạt đối với người phạm tội xâm hại quyền phụ nữ trước tiên là nhằm mục đích răn đe, ngăn ngừa người có ý định phạm tội ấy để họ không dám phạm tội nữa; mục đích trừng phạt chỉ được hướng đến sau đó nhằm khôi phục công lý khi mà sự răn đe, ngăn ngừa không thành công, quyền phụ nữ vẫn bị xâm hại.
Đồng thời với việc tội phạm hóa, để bảo vệ quyền phụ nữ, pháp luật hình sự phi tội phạm hóa những loại tội phạm mà cấu thành của nó hạn chế quyền phụ nữ. Với chức năng bảo vệ quyền phụ nữ, pháp luật hình sự không thể để sự tồn tại của chính bản thân mình lại là một sự xâm hại đối với quyền phụ nữ. Bởi vậy, để bảo vệ quyền phụ nữ, những cấu thành tội phạm nào cản trở bất kỳ một quyền phụ nữ nào đã được pháp luật thừa nhận đều phải bị đưa ra khỏi luật hình sự và việc thực hiện hành vi cấu thành tội phạm trong quy định đã bỏ đi đó sẽ không còn bị coi là phạm tội, không bị trừng phạt bởi chế tài pháp luật hình sự.
Bên cạnh tội phạm, hình phạt cũng là vấn đề cốt lõi của pháp luật hình sự. Bởi vậy, việc bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự còn được thể hiện ở phương diện đảm bảo sự phù hợp của hệ thống hình phạt với các tiêu chí về quyền phụ nữ. Một trong những đặc thù về tính hà khắc của hình phạt là việc nó tước đoạt một hoặc một số quyền con người nào đó của người phạm tội. Bởi vậy, pháp luật hình sự không thể bảo vệ quyền con người nếu chính hệ thống hình phạt của nó tước đoạt các quyền con người một cách tùy tiện, không giới hạn. Đối mặt với hình phạt, người phạm tội vẫn phải được đảm bảo tư cách con người, những quyền tối thiểu để đảm bảo tư cách ấy vẫn phải được bảo vệ. Tương tự như vậy, đối với phụ nữ phạm tội, hình phạt dù tước đoạt quyền con người nào đó ở họ nhưng không thể được phép phủ nhận những quyền thể hiện tư cách là một người phụ nữ của họ. Do đó, đảm bảo sự phù hợp của hệ thống hình phạt với các tiêu chí chung (các tiêu chí được nhân loại thừa nhận rộng rãi) về quyền phụ nữ cũng là một phương thức bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.
Bằng sự phối hợp của những phương thức trên, pháp luật hình sự hướng đến việc bảo vệ cho các quyền phụ nữ một cách toàn diện để ngăn chặn sự xâm hại từ phía tội phạm cũng như từ phía hoạt động xây dựng pháp luật hình sự. Hiệu quả bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự sẽ đạt đến mức độ cao chỉ khi mà những phương thức này được thể hiện bởi các quy phạm pháp luật thiết kế một cách hoàn chỉnh, chặt chẽ, phù hợp với thực tế khách quan và được tôn trọng, thực thi nghiêm túc.
2.3. Các chuẩn mực và kinh nghiệm quốc tế đối với việc bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự Luận văn: Pháp luật bảo vệ quyền phụ nữ bằng hình sự Việt Nam.
Là một phạm trù quyền con người, các quyền phụ nữ có tính phổ quát và được thừa nhận chung bởi nhân loại. Do đó, đáp ứng các tiêu chí, chuẩn mực được xác lập bởi pháp luật quốc tế về quyền phụ nữ là một yêu cầu bắt buộc đối với việc bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật quốc gia (bao gồm pháp luật hình sự) như một trong các đạo luật quốc tế quan trọng nhất về nhân quyền đã nêu: “Nghĩa vụ của các quốc gia hội viên theo Hiến chương Liên Hợp Quốc là phát huy sự tôn trọng và thực thi trên toàn cầu những nhân quyền và những quyền tự do của con người” [44].
2.3.1. Các chuẩn mực quốc tế đối với việc bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự
Với tư cách con người, phụ nữ có mọi nhân quyền mà pháp luật quốc tế thừa nhận đối với cá nhân. Tuy nhiên, bên cạnh những ghi nhận, yêu cầu về việc bảo vệ các quyền con người nói chung, pháp luật quốc tế còn đặt ra những đòi hỏi riêng biệt để nhấn mạnh việc bảo vệ một số quyền con người có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và dễ bị tổn thương ở phụ nữ như: quyền con người đặc thù giới của phụ nữ (quyền thực hiện thiên chức làm mẹ và được bảo hộ đặc biệt về thiên chức này); quyền bình đẳng giới, quyền tự do và an toàn tình dục, quyền tự do và an ninh cá nhân, quyền tự do hôn nhân.
- Đối với việc bảo vệ quyền con người đặc thù giới của phụ nữ
Quyền con người đặc thù của phụ nữ là quyền được bảo hộ thiên chức làm mẹ. Với đặc điểm sinh học của giống cái, phụ nữ mang thai, sinh nở và là người đóng vai trò quan trọng nhất trong việc chăm sóc, giáo dục con cái để duy trì sự sống tiếp nối của nhân loại. Ý nghĩa thiêng liêng ấy vốn đã đòi hỏi sự bảo hộ đặc biệt cho thiên chức làm mẹ. Thêm vào đó, đặc điểm dễ bị tổn thương, xâm hại của người phụ nữ khi mang thai, sinh nở, nuôi con nhỏ càng đòi hỏi sự quan tâm, bảo vệ của xã hội. Vì vậy, đạo luật quốc tế về nhân quyền đầu tiên – Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948 – đã khẳng định: “Các bà mẹ và trẻ em có quyền được hưởng sự chăm sóc và giúp đỡ đặc biệt” (khoản 2 Điều 25) [38]. Tiếp theo đó, Điều 11 Công ước của Liên Hợp Quốc về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ năm 1979 (CEDAW) đòi hỏi các quốc gia thành viên phải: đảm bảo cho phụ nữ “quyền được bảo vệ chức năng sinh đẻ”; áp dụng các biện pháp bảo vệ đặc biệt trong lĩnh vực việc làm, an sinh xã hội và chăm sóc sức khỏe đối với phụ nữ mang thai và nuôi con nhỏ; cấm những hành động kỷ luật, sa thải phụ nữ với lý do có thai hay nghỉ đẻ [45]. Luận văn: Pháp luật bảo vệ quyền phụ nữ bằng hình sự Việt Nam.
Không chỉ đòi hỏi chế độ bảo hộ đặc biệt đối với thiên chức làm mẹ của phụ nữ, pháp luật quốc tế còn trực tiếp yêu cầu loại bỏ trong pháp luật hình sự quy định cho phép thi hành hình phạt tử hình đối với phụ nữ trong trường cần phải bảo hộ thiên chức làm mẹ của họ. Khoản 5 Điều 6 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 quy định: “Không được thi hành án tử hình đối với phụ nữ đang mang thai”; Điểm 3 trong Những đảm bảo nhằm bảo vệ quyền của những người đang phải đối mặt với án tử hình năm 1984 nhấn mạnh thêm: “Không được thi hành án tử hình đối với những phụ nữ có thai, các bà mẹ đang nuôi con nhỏ”.
- Đối với việc bảo vệ các quyền con người dễ tổn thương do chủ thể của quyền là phụ nữ
Nhân quyền là phẩm giá vốn có của mọi thành viên trong gia đình nhân loại, bất phân địa vị, giới tính, tôn giáo, dân tộc… Theo lẽ đó, phụ nữ và nam giới được pháp luật bảo hộ những quyền con người bình đẳng như nhau. Tuy nhiên, do sự chi phối của các yếu tố tự nhiên và xã hội liên quan đến giới tính nên một số nhân quyền ở phụ nữ có tính dễ tổn thương hơn chính những quyền ấy ở nam giới. Bởi vậy, pháp luật quốc tế nhấn mạnh yêu cầu về việc bảo vệ một số quyền con người ở phụ nữ như sau:
Quyền bình đẳng giới: “Bình đẳng giới là việc nam nữ có vị trí vai trò ngang nhau được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó” [65]. Với ý nghĩa như vậy, quyền bình đẳng giới được tất cả các văn kiện pháp luật quốc tế cơ bản về quyền con người thừa nhận là một trong những nền tảng của nhân quyền, là cơ sở để con người hưởng thụ các quyền con người khác. Hiến chương Liên Hợp Quốc ngay trong những lời đầu tiên đã khẳng định niềm tin vào các quyền con người cơ bản, nhân phẩm, giá trị của mỗi con người và các quyền bình đẳng giữa nam giới và phụ nữ [37]. Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người nhấn mạnh việc không thể chấp nhận sự phân biệt đối xử và tuyên bố ngay tại những Điều đầu tiên: “mọi người sinh ra đều tự do, bình đẳng về nhân phẩm và quyền lợi”, đều được hưởng mọi quyền và tự do ghi nhận trong văn kiện này mà không có sự phân biệt nào, kể cả phân biệt về giới tính [38]. Công ước về chống phân biệt đối xử trong giáo dục, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966… đều đòi hỏi các quốc gia thành viên nghĩa vụ bảo đảm quyền bình đẳng giữa nam giới và phụ nữ trong việc thụ hưởng tất cả các quyền lợi chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội, văn hoá. Tuy nhiên, nhận thức được cán cân bất bình đẳng rõ rệt nghiêng về phía phụ nữ nên pháp luật quốc tế còn có thêm những văn bản chuyên biệt để đảm bảo quyền bình đẳng cho phụ nữ như: Công ước về trả công bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ năm 1952, Công ước về các quyền chính trị của phụ nữ năm 1952, Tuyên bố về xóa bỏ sự phân biệt đối xử với phụ nữ năm 1967, Công ước về xóa bỏ mọi sự phân biệt chống lại phụ nữ (CEDAW) năm 1979. Trong đó, Công ước CEDAW đã đòi hỏi pháp luật quốc gia phải: Luận văn: Pháp luật bảo vệ quyền phụ nữ bằng hình sự Việt Nam.
- Thông qua các biện pháp pháp lý và các biện pháp thích hợp khác, kể cả việc trừng phạt trong những trường hợp cần thiết, nhằm ngăn cấm mọi sự phân biệt đối xử với phụ nữ;
- Huỷ bỏ tất cả quy định hình sự quốc gia mà tạo nên sự phân biệt đối xử với phụ nữ [45, Điều 2, khoản 2 và 7].
Theo đó, để bảo vệ quyền bình đẳng giới của phụ nữ, một mặt Công ước CEDAW yêu cầu quốc gia thành viên sử dụng pháp luật hình sự (bằng biện pháp ngăn cấm và trừng phạt) để chống lại mọi hành vi phân biệt đối xử với. Đồng thời cũng phải hủy bỏ tất cả những quy định trong pháp luật hình sự quốc gia mà tạo nên sự phân biệt đối xử với phụ nữ.
Quyền tự do và an toàn về tình dục: mặc dù chưa có một định nghĩa pháp lý chính thức về quyền này nhưng có thể hiểu đó là quyền đảm bảo cho cá nhân sự tự chủ trong việc thực hiện các vi tình dục nhằm đáp ứng nhu cầu sinh lý của bản thân trên cơ sở bảo toàn sức khỏe và nhân phẩm. Mặc dù mọi người đều có quyền tự do và an toàn về tình dục nhưng trên thực tế do đặc điểm sinh học nên nạn nhân của những hành vi xâm hại về tình dục thường là phụ nữ. Thậm chí, trong lịch sử, đối tượng bị xâm hại tình dục tuyệt đại đa số là nữ giới nên những văn kiện pháp lý quốc tế có liên quan đầu thế kỷ 20 chỉ đề cập đến việc bảo vệ quyền này cho nữ giới (Ví dụ: hai công ước quốc tế ngày 18/5/1904 và 04/5/1910 về trấn áp việc buôn bán phụ nữ để cưỡng bức mại dâm).
Trong sự biến đổi phức tạp của xã hội hiện đại, mặc dù hiện tượng nam giới là nạn nhân của xâm hại tình dục đã gia tăng nhưng thực tế cho thấy đối tượng bị tước đoạt quyền tự do và an toàn tình dục chủ yếu vẫn là phụ nữ và trẻ em gái. Chính vì vậy Công ước về trấn áp việc buôn bán người và bóc lột mại dâm người khác năm 1949 của Liên Hợp Quốc vẫn nhấn mạnh việc bảo vệ phụ nữ và trẻ em khỏi những hành vi mà Công ước lên án (Điều 16 và 20) [39]. Tuyên bố về xóa bỏ bạo lực với phụ nữ năm 1993 cũng khẳng định xâm hại tình dục là một trong những loại bạo lực chủ yếu đối với phụ nữ cần xóa bỏ tại Điều 2:
Bạo lực đối với phụ nữ sẽ được hiểu là bao gồm, và không chỉ giới hạn, ở những vấn đề dưới đây:
- Bạo lực về thể chất, tình dục và tâm lý diễn ra trong gia đình, kể cả đánh đập, hành hạ, xâm hại tình dục trẻ em gái trong gia đình, bạo lực liên quan đến của hồi môn, hiếp dâm vợ, cắt bỏ bộ phận sinh dục nữ, và các tập tục truyền thống khác có hại cho phụ nữ, bạo lực với người chưa phải là vợ, và bạo lực liên quan đến bóc lột;
- Bạo lực về thể chất, tình dục và tâm lý diễn ra trong cộng đồng nói chung; kể cả hiếp dâm, xâm hại tình dục, quấy rối và hăm dọa tình dục ở nơi làm việc trong các cơ sở giáo dục và những nơi khác, buôn bán phụ nữ và cưỡng bức mại dâm,… [47, Điều 2]. Luận văn: Pháp luật bảo vệ quyền phụ nữ bằng hình sự Việt Nam.
Để bảo vệ nhân phẩm, quyền tự do và an toàn về tình dục của phụ nữ, pháp luật quốc tế đòi hỏi các quốc gia phải: Tiến hành tất cả các biện pháp thích hợp, kể cả về lập pháp, để xóa bỏ tất cả các hình thức buôn bán và bóc lột mại dâm phụ nữ [45]; Lên án và xóa bỏ mọi hình thức bạo lực chống lại phụ nữ, bao gồm bạo lực tình dục [47]; Hình sự hóa hành vi buôn bán, bóc lột mại dâm, bóc lột tình dục phụ nữ [49]; Trừng phạt bất cứ người nào, để làm thoả mãn dục vọng của người khác, mà: 1) môi giới, dụ dỗ hoặc dẫn dắt một người khác nhằm mục đích mại dâm, thậm chí với sự đồng ý của người đó; 2) bóc lột mại dâm người khác, thậm chí với sự đồng ý của người đó [39].
Quyền tự do và an ninh cá nhân: Tự do và an ninh cá nhân “là quyền cơ bản của con người, phản ánh trạng thái tồn tại của con người trong đó mỗi cá nhân được bảo đảm về mặt pháp lý cho sự bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tự do thân thể” [108, tr.43]. Quyền này thuộc về mọi cá nhân như Điều 3 Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền ra đời đã khẳng định: “Mọi người đều có quyền sống, tự do và an toàn cá nhân” [38, Điều 3]. Theo đó, phụ nữ cũng như nam giới có quyền tự do và bất khả xâm phạm về thân thể, sức khỏe, nhân phẩm. Tuy nhiên, do nguy cơ tổn thương cao của quyền tự do và an ninh cá nhân ở phụ nữ nên ngay cả trước khi Hiến chương và các đạo luật quốc tế cơ bản về nhân quyền của Liên Hợp Quốc được ban hành, vấn đề bảo vệ quyền tự do của phụ nữ đã được pháp luật quốc tế coi trọng thông qua các văn kiện như: Công ước quốc tế ngày 30/9/1921 về trấn áp việc buôn bán phụ nữ và trẻ em; Công ước quốc tế ngày 11/10/1933 về trấn áp việc buôn bán phụ nữ ở mọi lứa tuổi. Sau khi có các đạo luật quốc tế về các nhân quyền cơ bản của con người, pháp luật quốc tế vẫn tiếp tục củng cố việc bảo vệ quyền này bằng Công ước về trấn áp việc buôn bán người và bóc lột mại dâm người khác năm 1949 và Nghị định thư về ngăn ngừa, phòng chống và trừng trị việc buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, bổ sung cho Công ước của Liên Hợp Quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia năm 2000. Để ngăn chặn các hành vi xâm phạm quyền tự do cá nhân của phụ nữ, Điều 3 và Điều 5 Nghị định thư này yêu cầu các quốc gia thành viên hình sự hóa tất cả các hành vi sau:
Mua bán, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp và nhận người nhằm mục đích bóc lột bằng cách sử dụng hoặc đe doạ sử dụng vũ lực hoặc bằng các hình thức ép buộc, bắt cóc, lừa gạt, man trá hay lạm dụng quyền lực hoặc vị thế dễ bị tổn thương hoặc bằng việc đưa, nhận tiền hay lợi nhuận để đạt được sự đồng ý của một người nhằm kiểm soát những người khác.
Bên cạnh tước đoạt tự do, những hành vi bạo lực như đánh đập, hành hạ, ngược đãi phụ nữ vốn đã và vẫn đang tồn tại phổ biến như Tuyên bố về xóa bỏ bạo lực với phụ nữ năm 1993 ghi nhận trong Lời nói đầu: “bạo lực với phụ nữ là một biểu hiện trong các quan hệ không cân bằng về quyền lực giữa nam và nữ mà vốn có trong lịch sử” và cảnh báo “những cơ hội cho phụ nữ để đạt được sự bình đẳng về pháp lý, xã hội, chính trị và kinh tế trong xã hội bị hạn chế, bởi bạo lực với họ vẫn đang tiếp diễn và chưa chấm dứt”. Do đó, tại Điều 4 Tuyên bố này đòi hỏi các quốc gia thành viên của Liên Hợp Quốc phải: …. Không ngừng ngăn chặn điều tra và, phù hợp với luật pháp quốc gia, trừng trị những hành vi bạo lực đối với phụ nữ cho dù những hành vi đó do cơ quan nhà nước hay cá nhân thực hiện; Luận văn: Pháp luật bảo vệ quyền phụ nữ bằng hình sự Việt Nam.
Ban hành những chế tài hình sự, dân sự lao động và hành chính trong luật pháp quốc gia nhằm trừng trị và xử lý những việc làm sai phạm với những phụ nữ là nạn nhân của bạo lực… [47].
Quyền tự do hôn nhân: Quyền tự do hôn nhân là quyền con người được kết hôn, lập gia đình (khi đáp ứng các điều kiện pháp lý) trên cơ sở ý nguyện của bản thân. Đó là nhân quyền có giá trị đảm bảo cho hạnh phúc của con người, nền tảng cho việc xây dựng những tế bào xã hội tốt đẹp. Quyền này lần đầu tiên được ghi nhận ở Điều 16 Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người: “Nam và nữ khi đủ tuổi đều có quyền kết hôn và xây dựng gia đình mà không có bất kỳ sự hạn chế nào về chủng tộc, quốc tịch hay tôn giáo… Việc kết hôn chỉ được tiến hành với sự đồng ý hoàn toàn và tự nguyện của cặp vợ chồng tương lai” [38].
Quy định này được nhấn mạnh một lần nữa ở Điều 1 Công ước về kết hôn tự nguyện, tuổi kết hôn tối thiểu và việc đăng ký kết hôn năm 1962: “Mọi cuộc hôn nhân sẽ được coi là tiến hành trái pháp luật nếu không có sự đồng ý hoàn toàn và tự nguyện của cả hai bên” [42]. Quyền này cũng được tái khẳng định trong Điều 23 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị; Điều 10 Công ước quốc tế về các quyền kinh tế xã hội và văn hóa năm 1966.
Mặc dù khẳng định quyền tự do hôn nhân như một quyền con người cơ bản – quyền của cả nam giới và phụ nữ – nhưng đi kèm với đó, pháp luật quốc tế vẫn luôn nhấn mạnh thêm khía cạnh bình đẳng trong việc hưởng thụ quyền này bởi thực tế là do những phong tục, tập quán lạc hậu, định kiến xã hội nên phụ nữ là đối tượng thường bị tước đoạt quyền tự do hôn nhân. Vậy nên, pháp luật quốc tế đã dành một số quy định riêng để bảo vệ quyền này cho phụ nữ. Tuyên bố về xóa bỏ sự phân biệt đối xử với phụ nữ năm 1967 đã khẳng định riêng và quyền tự do hôn nhân của phụ nữ: “Phụ nữ cần có các quyền tương tự như nam giới là được tự do lựa chọn vợ hoặc chồng, và tiến hành kết hôn chỉ khi có sự đồng ý hoàn toàn và tự nguyện” (khoản 2 Điều 6). Quy định trên cũng được Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ năm 1979 kế thừa tại Điều 16. Thậm chí, pháp luật quốc tế còn coi việc tước đoạt quyền tự do kết hôn của phụ nữ là một dạng tương tự chế độ nô lệ bởi Công ước bổ sung về xóa bỏ chế độ nô lệ, buôn bán nô lệ, các thể chế và tập tục tương tự chế độ nô lệ năm 1956 đã sớm đề cập vấn đề này khi yêu cầu các quốc gia bằng biện pháp lập pháp hay biện pháp khác, xóa bỏ:
Bất kì thể chế hay tập tục nào mà theo đó: Luận văn: Pháp luật bảo vệ quyền phụ nữ bằng hình sự Việt Nam.
- Một phụ nữ bị hứa gả hay bị gả để thanh toán một khoản tiền hay hiện vật cho cha mẹ, người giám hộ, gia đình họ hay bất cứ cá nhân, nhóm nào khác, mà người phụ nữ đó không có quyền từ chối; hoặc
- Chồng của một phụ nữ, gia đình hay dòng tộc của người đó có quyền nhượng người phụ nữ đó cho người khác để lấy tiền hoặc hàng hóa hoặc những thứ khác; hoặc
Một phụ nữ khi chồng chết có thể bị buộc phải làm vợ thừa kế của người khác [41].
Như vậy, trên nền tảng của việc bảo vệ nhân quyền nói chung, pháp luật quốc tế còn nhiều yêu cầu riêng đối với việc bảo vệ một số quyền con người có ý nghĩa quan trọng và dễ tổn thương ở phụ nữ. Để đảm bảo tôn trọng và thực thi các yêu cầu của pháp luật quốc tế trong việc bảo vệ quyền phụ nữ, những đòi hỏi trên nhất định phải được xem là một tiêu chí, chuẩn mực đối với việc xây dựng, hoàn thiện các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự Việt Nam.
2.3.2. Kinh nghiệm bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự ở một số quốc gia trên thế giới
Tuy đáp ứng các chuẩn mực quốc tế về quyền phụ nữ là một yêu cầu cơ bản đối với việc bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự quốc gia nhưng với những điều kiện, bối cảnh xã hội khác nhau, các quốc gia trên thế giới lại có những mức độ, cách thức khác nhau để đáp ứng các yêu cầu này. Do đó, bên cạnh nhu cầu nghiên cứu các chuẩn mực quốc tế đối với việc bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự thì nghiên cứu kinh nghiệm lập pháp hình sự của các quốc gia khác trên thế giới cũng rất cần thiết để làm cơ sở đánh giá, hoàn thiện các quy định liên quan trong pháp luật hình sự Việt Nam.
Phù hợp với nội dung cần tham chiếu và trong khuôn khổ giới hạn của công trình nghiên cứu này, các quốc gia được lựa chọn để tham khảo kinh nghiệm lập pháp hình sự nhằm bảo vệ quyền phụ nữ bao gồm: Liên bang Nga, Cộng hòa liên bang Đức và Nhật Bản. Liên bang Nga là quốc gia có hệ thống pháp luật khá tương đồng với pháp luật Việt Nam, đặc biệt là các quy định pháp luật hình sự Liên bang Nga rất được chú trọng tiếp thu trong quá trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật hình sự ở nước ta. Cộng hòa liên bang Đức là quốc gia có nền pháp luật tân tiến và điển hình cho họ pháp luật châu Âu lục địa. Việc nghiên cứu, tiếp thu kinh nghiệm lập pháp từ một quốc gia như vậy rất cần thiết đối với công tác lập pháp nói chung, lập pháp hình sự nói riêng ở đất nước theo truyền thống pháp luật thành văn như Việt Nam. Nhật Bản là một quốc gia châu Á, có truyền thống xã hội khá tương đồng với Việt Nam, đặc biệt cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng phụ quyền, trong nam khinh nữ. Do đó, những kinh nghiệm bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự trong một xã hội như vậy rất phù hợp để tham khảo cho Việt Nam.
- Pháp luật hình sự Liên bang Nga Luận văn: Pháp luật bảo vệ quyền phụ nữ bằng hình sự Việt Nam.
BLHS là nguồn chủ đạo, duy nhất của pháp luật hình sự ở Nga bởi nguyên tắc “Tính chất phạm tội của hành vi, mức độ xử phạt và các hậu quả pháp lý hình sự khác chỉ được xác định bởi Bộ luật hình sự này” tại Điều 3 BLHS Liên bang Nga năm 1996, sửa đổi năm 2010 [96, tr.18-19]. Các quyền phụ nữ với tư cách quyền con người, quyền công dân, được khẳng định một cách rõ ràng, dứt khoát là một loại khách thể được pháp luật hình sự Nga bảo vệ bởi nhiệm vụ hàng đầu của đạo luật ngay tại khoản 1 Điều 2: “Nhiệm vụ của BLHS này bao gồm: bảo vệ các quyền và tự do của con người và công dân…” [96, tr.18]. Quán triệt nhiệm vụ đã đặt ra, các quy định nhằm bảo vệ quyền phụ nữ được thể hiện xuyên suốt Bộ luật bởi những nội dung sau:
Bảo vệ thiên chức làm mẹ của người phụ nữ thông qua việc tội phạm hóa và trừng trị nghiêm khắc những hành vi phạm tội trực tiếp xâm hại hoặc tác động tiêu cực đến việc thực hiện thiên chức làm mẹ, đồng thời có rất nhiều quy định để đảm bảo vấn đề TNHS và hình phạt trong Bộ luật phù hợp với những tiêu chuẩn chung về quyền phụ nữ:
Thứ nhất, Bộ luật tội phạm hóa các hành vi gây tổn hại đến thiên chức làm mẹ như: tội nạo phá thai bất hợp pháp (Điều 123), tội từ chối tiếp nhận công tác hoặc sai thải phụ nữ đang có thai hoặc phụ nữ đang có con nhỏ đến ba tuổi thiếu căn cứ (Điều 145); làm người khác bị sảy thai cũng là một loại hành vi cấu thành tội cố ý gây tổn hại nghiêm trọng sức khỏe (Điều 111) [96, tr.164, 184 và 236].
Thứ hai, Bộ luật đe dọa trừng phạt nghiêm khắc hơn hẳn đối với những trường hợp phạm tội mà làm tổn hại đến thiên chức làm mẹ. Tình tiết “phạm tội đối với phụ nữ đang có thai mà người phạm tội biết rõ điều này” bị điểm h khoản 1 Điều 63 quy định là một tình tiết tăng nặng hình phạt áp dụng đối với mọi tội phạm.
Ngoài ra, tình tiết này còn là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tự do cá nhân như: giết người (điểm d khoản 2 Điều 105), nhục hình (điểm c khoản 2 Điều 117), bắt cóc (điểm e khoản 2 Điều 126), giam giữ người trái pháp luật (điểm e khoản 2 Điều 127), buôn người (điểm i khoản 2 Điều 127-1) [96, tr.84, 158, 176 và 192-196].
Thứ ba, tình tiết “người phạm tội là phụ nữ có thai” và “người phạm tội có con nhỏ ” được coi là các tình tiết giảm nhẹ hình phạt tại điểm c và d khoản 1 Điều 61 của Bộ luật [96, tr.78]. Luận văn: Pháp luật bảo vệ quyền phụ nữ bằng hình sự Việt Nam.
Thứ tư, một số hình phạt không được áp dụng đới với phụ nữ có thai hoặc có con nhỏ đến ba tuổi như: lao động bắt buộc (khoản 4 Điều 49), lao động cải tạo (khoản 5 Điều 50), giam giữ (khoản 2 Điều 54); ngoài ra, người phụ nữ mang thai hoặc nuôi con nhỏ đến mười bốn tuổi nếu không thuộc trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng thì được hoãn chấp hành hình phạt đến khi con đủ mười bốn tuổi (khoản 1 Điều 82) [96, tr.63-70, 118].
Thứ năm, hành vi của người mẹ giết con mới đẻ trong tình trạng có chấn thương về thần kinh hoặc rối loạn tâm thần (thường do ảnh hưởng của việc sinh nở) được quy định là một trường hợp giảm nhẹ TNHS so với tội giết người. Theo Điều 106 của Bộ luật, người mẹ phạm tội này chỉ phải chịu hình phạt hạn chế tự do đến 04 năm hoặc phạt tù đến 05 năm, so với trường hợp giết trẻ em bình thường có thể phải chịu hình phạt cao nhất là tử hình (Điều 105) [96, tr.158-162].
Thứ sáu, Bộ luật hạn chế những tác động đặc biệt hà khắc của hình phạt đối với phụ nữ thông qua việc quy định: không áp dụng hình phạt tù chung thân, hình phạt tử hình đối với phụ nữ (Điều 57 và Điều 59), áp dụng hình phạt tù trong trại cải tạo đối với phụ nữ phạm tội ít nghiêm khắc hơn đối với nam giới (Điều 58). Theo quy định của Bộ luật, phụ nữ chỉ bị áp dụng hình phạt tù trong các trại cải tạo theo chế độ chung còn nam giới có thể bị áp dụng hình phạt này trong các trại cải tạo theo chế độ chung hoặc chế độ cải tạo nghiêm ngặt, đặc biệt nghiêm ngặt. Phụ nữ chỉ bị áp dụng hình phạt tù trong các trại cải tạo khi phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng với tình tiết tái phạm còn nam giới bị áp dụng hình phạt này cả khi không có tình tiết tái phạm (Điều 58) [96, tr.72-76].
Bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ bằng việc quy định nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật hình sự và tội phạm hóa hành vi xâm phạm quyền bình đẳng giới. Điều 4 của Bộ luật quy định: “Mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật và chịu trách nhiệm hình sự không phân biệt giới tính, chủng tộc, dân tộc, ngôn ngữ, xuất thân…” [96, tr.20]. Nguyên tắc này đã loại bỏ mọi sự phân biệt đối xử với phụ nữ trong các quy định của BLHS, theo đó không quy định nào của Bộ luật được thể hiện sự kỳ thị, phân biệt đối xử vì những lý do, định kiến giới. Bên cạnh đó, hành vi xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ cũng được xác định là hành vi thuộc mặt khách quan của tội xâm phạm sự bình đẳng về quyền và tự do của con người và công dân. Khoản 1 Điều 136 của BLHS Liên bang Nga mô tả mặt khách quan của tội này như sau: “Phân biệt đối xử nghĩa là xâm phạm các quyền, tự do và lợi ích hợp pháp của con người và công dân phụ thuộc vào giới tính, chủng tộc, dân tộc, ngôn ngữ, nguồn gốc, tình trạng tài sản….” [96, tr.212-214]. Tuy hình phạt đối với tội này không quá nghiêm khắc (chủ yếu là lao động bắt buộc, lao động cải tạo, trường hợp lợi dụng chức vụ phạm tội mới có mức hình phạt cao nhất là phạt tù đến 05 năm) nhưng Bộ luật đã tội phạm hóa tất cả những hành vi xâm phạm đến quyền, tự do và lợi ích của con người vì lý do phân biệt đối xử về giới bằng bất cứ thủ đoạn nào chứ không phải chỉ hành vi được thực hiện với thủ đoạn dùng vũ lực như ở BLHS của Việt Nam.
Bảo vệ quyền tự do cá nhân, quyền tự do và an toàn về tình dục của phụ nữ thông qua việc tội phạm hóa các hành vi xâm hại những quyền này. Điều đó thể hiện ở các quy định về: tội buôn người ở Điều 127-1, tội hiếp dâm ở Điều 131, tội cưỡng dâm ở Điều 132, tội ép buộc người khác hoạt động tình dục ở Điều 133, tội giao cấu và thực hiện các hoạt động tình dục khác với người chưa đủ 16 tuổi ở Điều 134, tội lôi kéo, dụ dỗ người khác hành nghề mại dâm ở Điều 240, tội tổ chức hành nghề mại dâm ở Điều 241. Về mặt dấu hiệu pháp lý các tội này không yêu cầu người bị hại là phụ nữ.
Ngoài những quy định đặc biệt để bảo vệ quyền con người đặc thù của phụ nữ và quyền con người dễ bị tổn thương ở phụ nữ như trên thì các quyền, tự do cơ bản của phụ nữ vẫn được pháp luật hình sự Liên bang Nga bảo vệ như của mọi cá nhân, công dân khác theo đúng nhiệm vụ đã đặt ra đối với BLHS này. Luận văn: Pháp luật bảo vệ quyền phụ nữ bằng hình sự Việt Nam.
- Pháp luật hình sự Nhật Bản
Là một nước có truyền thống pháp luật theo hệ thống Luật dân sự (Civil law) nên BLHS là nguồn chủ yếu của pháp luật hình sự Nhật Bản [61, tr.72-76]. BLHS Nhật Bản hiện hành được thông qua năm 1907, sửa đổi lần gần nhất vào năm 2011 không đề cập đến vấn đề bảo vệ quyền phụ nữ trong phần Các quy định chung [30]. Theo đó, Bộ luật không có ngoại lệ trong việc áp dụng, thi hành hình phạt tử hình đối với phụ nữ mang thai, nuôi con nhỏ. Tuy nhiên, do nghĩa vụ tuân thủ quy định của pháp luật quốc tế nên bản án tử hình tất nhiên cũng không được phép thi hành đối với phụ nữ có thai ở Nhật Bản. Nếu người phụ nữ có thai bị kết án tử hình thì theo Bộ luật tố tụng hình sự Nhật Bản năm 1948 (sửa đổi, bổ sung mới nhất năm 2007) việc thi hành sẽ bị trì hoãn, hình phạt chỉ được thực thi khi có quyết định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp (khoản 2 và 3 Điều 479) [102].
Do không được đề cập trong Phần chung nên nội dung bảo vệ quyền phụ nữ trong BLHS Nhật Bản được thể hiện tập trung qua việc tội phạm hóa các hành vi xâm hại quyền phụ nữ như sau:
Các hành vi xâm phạm quyền tự do và an toàn về tình dục bị tội phạm hóa bao gồm: cưỡng dâm (Điều 176), hiếp dâm (Điều 177), coi như tội cưỡng dâm và coi như tội hiếp dâm (Điều 178), hiếp dâm tập thể (Điều 178-2), cưỡng dâm, hiếp dâm gây ra thương tích hoặc dẫn đến chết người (Điều 181), dụ dỗ mại dâm (Điều 182). Tội cưỡng dâm và coi như tội cưỡng dâm không đòi hỏi phải có sự giao cấu mà chỉ cần dâm ô hay quấy rối tình dục người khác đã cấu thành tội này. Riêng đối với các tội hiếp dâm, Bộ luật xác định rõ đối tượng bị xâm hại là phụ nữ và trẻ em gái và tội phạm hoàn thành khi có hành vi giao cấu, tuy nhiên trường hợp phạm tội chưa đạt (chưa hoàn tất việc giao cấu) vẫn bị truy cứu về tội hiếp dâm theo quy định ở Điều 179. Tội dụ dỗ mại dâm ở Điều 182 cũng quy định rõ đối tượng bị dụ dỗ phải là phụ nữ vốn không hành nghề mại dâm mới cấu thành tội phạm. Hình phạt đối với các tội phạm không được quy định một cách cố định. Chỉ có hành vi cưỡng dâm được giới hạn tối đa hình phạt là đến 10 năm tù, hành vi dụ dỗ mại dâm đến 03 năm tù còn đối với cưỡng dâm gây ra thương tích hoặc chết người và các hành vi hiếp dâm đều chỉ có giới hạn tối thiểu (thấp nhất 04 năm tù) mà không có giới hạn tối đa về hình phạt [30, tr.143-147].
Các hành vi làm tổn hại sức khỏe sinh sản, thiên chức làm mẹ của phụ nữ bị tội phạm hóa gồm: đồng ý phá thai và làm việc đó dẫn đến thương tích hoặc chết người (Điều 213), phá thai trong công việc và việc đó dẫn tới thương tích hoặc chết người (Điều 214), phá thai không có sự đồng ý (Điều 215), phá thai không có sự đồng ý dẫn tới thương tích hoặc chết người (Điều 216). Ở đây bản thân hành vi phá thai đã bị ngăn cấm và trừng trị ở khung hình phạt cơ bản; những trường hợp phá thai dẫn đến tổn thương thân thể hoặc tính mạng của người phụ nữ có thai được coi là trường hợp định khung tăng nặng hình phạt. Ngoài ra, Bộ luật còn trừng phạt ngay cả trường hợp chính người phụ nữ có thai thực việc phá thai (Điều 212). Tuy nhiên, điều này không hướng tới việc bảo vệ sức khỏe thai sản mà nhằm bảo vệ quyền sống của thai nhi [30, tr.164-166].
Các hành vi xâm hại tự do cá nhân chủ yếu hướng tới nạn nhân là phụ nữ bị tội phạm hóa bao gồm: bắt cóc, cưỡng đoạt với mục đích kiếm lời (Điều 225), cưỡng đoạt và bắt cóc với mục đích đem ra nước ngoài (Điều 226), buôn bán người (Điều 226-2), đưa người bị cưỡng đoạt ra nước ngoài (Điều 226-3), chuyển giao người bị cưỡng đoạt (Điều 227). Các tội phạm này không yêu cầu về dấu hiệu nạn nhân của tội phạm nhưng rõ ràng chúng có nạn nhân chủ yếu là phụ nữ và trẻ em. Chính vì vậy BLHS Nhật bản ngầm hướng tới việc bảo vệ phụ nữ thông qua quy định là trường hợp tăng nặng hình phạt đối với các hành vi như: bắt cóc, cưỡng đoạt với mục đích dâm đãng, hoặc để kết hôn (Điều 225); mua người với mục đích dâm ô, kết hôn (khoản 3 Điều 226-2) [30, tr.171-174].
- Pháp luật hình sự Cộng hòa Liên bang Đức Luận văn: Pháp luật bảo vệ quyền phụ nữ bằng hình sự Việt Nam.
Ở Đức, ngoài BLHS, một số văn bản khác cũng quy định về tội phạm như luật về vũ khí, luật về giám sát chiến tranh, luật về chất gây nghiện… Tuy nhiên, BLHS vẫn là nguồn chủ yếu quy định về tội phạm và hình phạt. Cũng giống như Nhật Bản, BLHS của nước Cộng hòa Liên bang Đức năm 1994, sửa đổi năm 2009 không đặt ra quy định nhằm bảo vệ quyền phụ nữ trong Phần chung. Vấn đề loại trừ hình phạt tử hình đối với phụ nữ nhằm đáp ứng chuẩn mực quốc tế về quyền phụ nữ cũng không cần phải đặt ra vì hình phạt này không có trong hệ thống hình phạt của luật hình sự Đức. Do đó, các quy định nhằm bảo vệ quyền phụ nữ trong BLHS hiện hành của nước này chủ yếu là quy định về tội phạm [95].
Nhóm tội phạm gây tổn hại đến sức khỏe sinh sản, thiên chức làm mẹ của người phụ nữ bao gồm: vi phạm nghĩa vụ cấp dưỡng cho một người mang thai (khoản 2 Điều 170), phá thai không có xác định của bác sĩ, xác định của bác sĩ sai (Điều 218b), vi phạm nghĩa vụ bác sĩ trong việc phá thai (Điều 218c), quảng cáo cho việc phá thai (Điều 219a), đưa vào lưu thông các phương tiện phá thai (Điều 219b). Các tội kể trên trước tiên hướng tới việc bảo vệ sinh mạng của thai nhi vì được đặt ở Chương thứ mười sáu về Các tội xâm phạm tính mạng, tuy nhiên thông qua đó thiên chức làm mẹ cũng được đặt dưới chế độ bảo hộ chặt chẽ. Vì vậy, BLHS Đức trừng trị cả người mang thai có hành vi phá thai (Điều 218) nhưng loại trừ trường hợp việc phá thai đáp ứng đồng thời các điều kiện chặt chẽ như: 1) Diễn ra trong thời gian không quá 12 tuần kể từ khi thụ thai; 2) Có sự đồng ý của thai phụ sau khi được tư vấn đầy đủ và có giấy chứng nhận về việc tư vấn theo quy định; 3) Việc thụ thai được chứng minh là do bị cưỡng dâm, hiếp dâm, lạm dụng tình dục hoặc việc phá thai là để ngăn chặn nguy cơ gây hại nghiêm trọng mà không thể khắc phục đối với tính mạng, sức khỏe (cả thể chất và tinh thần) của thai phụ [95, 290, 352-360].
Tuy mục đích trước tiên của các quy định này là bảo vệ tính mạng thai nhi nhưng thông qua đó nó cũng đảm bảo việc phá thai phải được tiến hành với những tư vấn, chỉ dẫn, quy trình y tế chặt chẽ. Điều đó có ý nghĩa rất quan trọng đối với sức khỏe thai sản của người phụ nữ. Và mặc dù cấm phá thai nhưng Bộ luật vẫn cho phép tiến hành điều này nếu nó ảnh hưởng bất lợi đối với tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người phụ nữ. Ngoài ra, hành vi làm mất khả năng sinh sản của người khác được coi là phạm tội xâm phạm thân thể nghiêm trọng tại Điều 226; hành vi cưỡng ép thai phụ phá thai được coi là trường hợp đặc biệt nghiêm trọng của tội cưỡng ép ở Điều 240 [95, tr.366, 388].
Nhóm tội xâm phạm tự do và an toàn về tình dục trong BLHS Đức gồm: lạm dụng tình dục (Điều 174), lạm dụng tình dục trẻ em (Điều 176), cưỡng dâm, hiếp dâm (Điều 177), cưỡng dâm và hiếp dâm với hậu quả chết người (Điều 178), lạm dụng tình dục người không có khả năng phản kháng (Điều 179), bóc lột người hành nghề mại dâm (Điều 180a), bảo kê mại dâm (Điều 181a). Hành vi cấu thành tội cưỡng dâm, hiếp dâm ở đây không nhất thiết phải là giao cấu mà có thể là hành vi tình dục tương tự. Trường hợp có giao cấu hoặc hành vi thâm nhập cơ thể khác được coi là trường hợp tăng nặng TNHS. Cưỡng dâm, hiếp dâm gây ra chết người hoặc nạn nhân là trẻ em thì hình phạt có thể là tước đoạt tự do vĩnh viễn – hình phạt cao nhất trong luật hình sự Đức [95, tr.292-310].
Nhóm tội xâm phạm tự do cá nhân chủ yếu nhằm vào phụ nữ gồm: buôn bán người nhằm mục đích bóc lột tình dục (Điều 232) và hỗ trợ buôn người (Điều 233a). Buôn bán người nhằm mục đích bóc lột tình dục vốn có nạn nhân chủ yếu là nữ giới được quy định phân biệt với buôn bán người nhằm mục đích bóc lột sức lao động (Điều 233). Hành vi này có thể bị trừng phạt với hình phạt cao nhất là tước tự do đến 10 năm. BLHS Đức còn coi là phạm tội hỗ trợ buôn người đối với tất cả các hành vi: tuyển mộ, chuyển giao, chứa chấp hoặc tiếp nhận người nhằm phục vụ việc mua bán người [95, tr.372-376]. Đó là tất cả những dạng hành vi đã được mô tả ở Điều 3 (a) của Nghị định thư về ngăn ngừa, trấn áp và trừng trị hành vi buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em bổ sung cho Công ước của Liên Hợp Quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia năm 2000.
Kết luận Chương 2 Luận văn: Pháp luật bảo vệ quyền phụ nữ bằng hình sự Việt Nam.
Những nghiên cứu lý luận về bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự ở Chương 2 của Luận án cho phép rút ra một số kết luận quan trọng dưới đây:
- Bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự là việc chống lại sự xâm hại đối với các quyền con người đặc thù của riêng nữ giới và các quyền con người dễ bị tổn thương do chủ thể là nữ giới từ phía những hành vi có tính chất tội phạm cũng như từ phía hoạt động xây dựng pháp luật hình sự.
- Sự cần thiết phải bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự thể hiện ở hai khía cạnh. Một là: Quyền phụ nữ phải được bảo vệ bằng pháp luật hình sự bởi vì được pháp luật bảo vệ là một thuộc tính của các quyền phụ nữ mà ngành luật có chức năng bảo vệ trong hệ thống pháp luật là luật hình sự và việc bảo vệ chỉ bằng các ngành luật khác là chưa đủ đối với các quyền phụ nữ. Hai là: việc bảo vệ quyền phụ nữ phải được đặt ra một cách chuyên biệt trên nền của chế độ bảo vệ quyền con người nói chung trong pháp luật hình sự bởi tính gắn liền với đặc thù giới và dễ bị tổn thương của các quyền phụ nữ.
- Bảo vệ quyền phụ nữ có các đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất: Bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự khác biệt với bảo vệ quyền phụ nữ bằng những lĩnh vực pháp luật khác về giới hạn bảo vệ và phương tiện, biện pháp bảo vệ. Về giới hạn bảo vệ: pháp luật hình sự chỉ bảo vệ quyền phụ nữ trước những khả năng bị xâm phạm một cách nghiêm trọng (bởi các hành vi có tính chất tội phạm) chứ không bảo vệ các quyền này trong mọi trường hợp. Về phương tiện, biện pháp bảo vệ: pháp luật hình sự bảo vệ quyền phụ nữ bằng phương pháp chủ yếu là tội phạm hóa, đe dọa trừng phạt nghiêm khắc đối với các hành vi xâm hại quyền phụ nữ.
Thứ hai: Bảo vệ quyền phụ nữ khác với bảo vệ quyền của các nhóm xã hội khác, quyền con người nói chung trong pháp luật hình sự về đối tượng bảo vệ, phạm vi bảo vệ và tính chuyên biệt của chế độ bảo vệ. Về đối tượng bảo vệ, việc bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự hướng tới bảo vệ tất cả các cá nhân thuộc nữ giới, không phân biệt về bất cứ yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội nào. Về phạm vi bảo vệ, việc bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự tập trung vào bảo vệ quyền con người đặc thù của phụ nữ và các quyền con người dễ bị tổn thương do chủ thể của quyền là phụ nữ chứ không bảo vệ tất cả mọi quyền con người ở phụ nữ. Và việc bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự được thực hiện bởi những quy định chuyên biệt hoặc những quy định chung nhưng phản ánh, phù hợp với đặc thù giới tính của phụ nữ.
Pháp luật hình sự bảo vệ quyền phụ nữ bằng các phương thức đặc trưng là: 1) Tội phạm hóa và đe dọa trừng phạt những hành vi xâm hại quyền phụ nữ; 2) Phi tội phạm hóa những tội phạm mà cấu thành của nó hạn chế quyền phụ nữ; 3) Đảm bảo hệ thống hình phạt phù hợp với các tiêu chí về quyền phụ nữ.
Việc bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự phải đảm bảo đáp ứng các tiêu chí về quyền phụ nữ trong pháp luật quốc tế bởi vì tính phổ quát và sự thừa nhận chung của nhân loại là một thuộc tính chung của quyền con người. Trên nền tảng của việc bảo vệ nhân quyền nói chung, pháp luật quốc tế còn đặt ra nhiều yêu cầu riêng đối với việc bảo vệ một số quyền con người có ý nghĩa quan trọng và dễ tổn thương ở phụ nữ như: quyền con người đặc thù giới của phụ nữ; quyền bình đẳng giới, quyền tự do và an toàn tình dục, quyền tự do và an ninh cá nhân, quyền tự do hôn nhân. Các yêu cầu kể trên của pháp luật quốc tế nhất định phải được xem là một tiêu chí, chuẩn mực đối với việc xây dựng, hoàn thiện các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự Việt Nam.
Bên cạnh nhu cầu nghiên cứu các chuẩn mực quốc tế đối với việc bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự thì nghiên cứu kinh nghiệm lập pháp hình sự của các quốc gia khác trên thế giới cũng rất cần thiết để làm cơ sở đánh giá, hoàn thiện các quy định liên quan trong pháp luật hình sự Việt Nam. Phù hợp với nội dung cần tham chiếu và trong khuôn khổ giới hạn của công trình nghiên cứu này, các quốc gia được lựa chọn để tham khảo kinh nghiệm lập pháp hình sự nhằm bảo vệ quyền phụ nữ bao gồm: Liên bang Nga, Cộng hòa liên bang Đức và Nhật Bản. Luận văn: Pháp luật bảo vệ quyền phụ nữ bằng hình sự Việt Nam.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực trạng bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Giải pháp bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự