Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng trách nhiệm của VKSND tỉnh Đắk Lắk hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng trách nhiệm của VKSND tỉnh Đắk Lắk trong bảo vệ QCN thông qua kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1 Khái quát chung về tình hình các vụ việc dân sự và giải quyết các vụ việc dân sự tại tỉnh Đắk Lắk
2.1.1 Khái quát chung về các vụ việc dân sự tại tỉnh Đắk Lắk
Tỉnh Đắk Lắk là một tỉnh toạ lạc tại trung tâm khu vực Tây Nguyên, nơi có hệ thống sông Sêrêpôk và sông Ba hợp lưu. Nền kinh tế chủ đạo của tỉnh Đắk Lắk là nhờ vào sản xuất và chế biến nông, lâm nghiệp. Tỉnh có tiềm năng về du lịch sinh thái. Tỉnh Đắk Lắk là nơi mà diện tích trồng cà phê và sản lượng xuất khẩu cà phê lớn nhất cả nước. Ngoài ra, tỉnh cũng là nơi mà bông, cacao, cao su, điều lớn của Việt Nam được trồng. Đồng thời, nơi đây cũng là địa điểm phát triển các loại cây ăn trái khác như sầu riêng, bơ, chôm chôm, xoài và vải… Đắk Lắk có diện tích 13.125,37 km2. Cộng đồng dân cư Đắk Lắk gồm 47 dân tộc. Trong đó, người Kinh chiếm hơn 70%; các dân tộc thiểu số như Ê Đê, Nùng, M’nông, Thái, Tày, … chiếm gần 30% dân số toàn tỉnh. Trên địa bàn tỉnh, không chỉ đồng bào dân tộc sinh sống ở vùng sâu vùng xa, mà còn có một bộ phận đáng kể dân nhập cư ở các tỉnh phía Bắc và miền Trung về đây tìm hiểu cơ hội sinh sống và lập nghiệp.
Trong những năm gần đây, dân số của tỉnh Đắk Lắk đã trải qua sự biến đổi do sự gia tăng tự nhiên, chủ yếu là do di dân tự do. Điều này đã đặt ra thách thức to lớn đối với địa phương trong việc xử lý vấn đề đất ở, nông nghiệp cùng các vấn đề môi trường, an ninh quốc phòng và giữ gìn cảnh quan. Nền kinh tế của tỉnh Đắk Lắk ngày một phát triển và các dự án cơ sở hạ tầng cũng ngày một hoàn thiện góp phần thúc đẩy phát triển mạnh mẽ tỉnh Đắk Lắk nói riêng cũng như vùng Tây Nguyên nói chung. Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển của nền kinh tế thì vẫn còn tồn đọng nhiều khó khăn do có sự khác biệt giữa các vùng miền và sự phân hóa giàu nghèo nên dẫn đến khả năng nhận thức và thực hiện pháp luật của người dân còn nhiều hạn chế.
Với đặc điểm địa bàn rộng, địa hình phức tạp, cộng đồng dân cư đa dạng, tình hình tranh chấp dân sự trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk diễn ra khá phổ biến, ngày càng tăng và phức tạp. Đặc biệt là các quan hệ tranh chấp về hợp đồng như vay tài sản, hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ – tài sản trên đất, hợp đồng đặt cọc, tranh chấp hợp đồng giao khoán; yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu; tranh chấp QSDĐ và yêu cầu hủy giấy chứng nhận QSDĐ; tranh chấp lối đi, kiện đòi đất lấn chiếm; tranh chấp chia di sản thừa kế; kiện đòi tài sản, yêu cầu bồi thường thiệt hại… Tranh chấp chia tài sản chung sau khi ly hôn, thay đổi người nuôi con, cấp dưỡng nuôi con, chia tài sản mà nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng, xác định cha cho con,… Luận văn: Thực trạng trách nhiệm của VKSND tỉnh Đắk Lắk.
2.1.2 Khái quát chung về giải quyết các vụ việc dân sự tại tỉnh Đắk Lắk
Trong thời gian qua, số lượng các loại vụ việc mà các Tòa án phải thụ lý, giải quyết vẫn tiếp tục tăng với tính chất, mức độ ngày càng phức tạp. Bên cạnh nhiệm vụ phải làm tốt công tác giải quyết, xét xử các loại vụ việc, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và các chỉ tiêu, yêu cầu theo Nghị quyết của Quốc hội; các cơ quan Tòa án còn phải tiếp tục tập trung thực hiện tốt Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; tổ chức thi hành Nghị quyết của Quốc hội về phiên tòa xét xử trực tuyến…
Theo số liệu thống kê 3 năm gần đây, số vụ việc dân sự tại tỉnh Đắk Lắk đã giải quyết là 29.639 vụ việc. Về cơ bản, đa số việc giải quyết các vụ việc dân sự đảm bảo đúng quy định pháp luật, vượt chỉ tiêu của ngành và Quốc hội đề ra kể cả số lượng và chất lượng đồng thời tạo niềm tin của nhân dân đối với ngành Tư pháp. Tuy nhiên còn tồn tại một số hạn chế như: việc giải quyết án tranh chấp dân sự liên quan đến đất đai có nhiều vụ kéo dài thời gian, nhiều vụ án phải tạm đình chỉ chờ Ủy ban nhân dân và các cơ quan chuyên môn trả lời, cung cấp tài liệu chứng cứ; án quá thời hạn chuẩn bị xét xử do lỗi của Thẩm phán vẫn còn; công tác phối hợp tổ chức thẩm định, định giá tài sản, còn chưa kịp thời, việc đo đạc xác định ranh giới, tứ cận còn có sai sót, không chính xác dẫn đến việc tuyên nội dung chưa chính xác, không đầy đủ; vẫn còn tình trạng Thẩm phán, Thư ký tinh thần trách nhiệm chưa cao, còn chủ quan trong việc giải quyết án, việc nắm bắt, vận dụng, áp dụng pháp luật chưa chính xác, không đầy đủ, dẫn đến bản án bị hủy, bị sửa do lỗi chủ quan chiếm tỷ lệ còn cao, thời gian giải quyết vụ việc còn kéo dài, chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra.
Phòng kiểm sát giải quyết các vụ, việc dân sự (viết tắt là Phòng 9), là phòng chuyên môn của VKSND tỉnh Đắk Lắk, có nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với việc giải quyết các vụ, việc dân sự theo thẩm quyền được quy định tại Luật tổ chức VKSND và BLTTDS. Trong những năm vừa qua Phòng 9 đã thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ cụ thể: Giúp Viện trưởng VKSND tỉnh Đắk Lắk tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với việc giải quyết các vụ, việc dân sự của Toà án cùng cấp đối với cấp dưới theo quy định của Luật tổ chức VKSND và BLTTDS; phát hiện vi phạm và tham mưu giúp lãnh đạo VKS tỉnh ra các quyết định kháng nghị, kiến nghị thi hành các bản án, quyết định có vi phạm pháp luật của Toà án nhân dân cùng cấp và cấp dưới. Quản lý tình hình hoạt động và chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ; theo dõi và đôn đốc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, các chỉ tiêu kế hoạch đối với VKSND các huyện, thị xã, thành phố về công tác kiểm sát giải quyết các vụ, việc dân sự; Kiểm tra thường xuyên hoặc định kỳ về chuyên môn nghiệp vụ và việc thực hiện chỉ tiêu kế hoạch công tác đối với các VKSND cấp dưới. Tập huấn nghiệp vụ, rút kinh nghiệm về công tác kiểm sát giải quyết các vụ, việc dân sự; trả lời thỉnh thị án và giải đáp các vướng mắc về nghiệp vụ của các đơn vị huyện, thị xã, thành phố. Xây dựng các chuyên đề nghiệp vụ theo sự phân công của Lãnh đạo Viện tỉnh và Vụ 9 VKSND tối cao. Trả lời đơn, thư khiếu nại liên quan đến những vụ, việc dân sự do Toà án giải quyết; kịp thời phát hiện vi phạm của các bản án, quyết định dân sự để kiến nghị và kháng nghị theo thẩm quyền.
2.2 Tình hình thực hiện trách nhiệm của VKSND tỉnh Đắk Lắk trong bảo vệ QCN thông qua hoạt động kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự Luận văn: Thực trạng trách nhiệm của VKSND tỉnh Đắk Lắk.
2.2.1 Thực trạng trách nhiệm bảo vệ QCN thông qua hoạt động kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu
BLTTDS 2015, có một quy định mới đối với việc phân công thẩm phán của Toà án thực hiện việc giải quyết tranh chấp và tổ chức phiên họp về giải quyết khiếu nại, kiến nghị liên quan đến việc hoàn trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu. Qua đó, cho biết Nhà nước rất quan tâm đến việc bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của người khởi kiện, người yêu cầu, cũng như giải quyết kiến nghị của VKSND. Theo đó, VKS có thêm nhiệm vụ tham gia phiên họp giải quyết khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu.
Nhằm bảo đảm việc kiểm sát chặt chẽ việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của Tòa án theo các quy định, VKSND tỉnh Đắk Lắk đã tiến hành kiểm sát 100% công việc này, phân công KSV tham gia đầy đủ các phiên họp để đảm bảo tính chính xác. Mọi kết quả kiểm sát được báo cáo cho VKS cấp trên trong trường hợp cần kiến nghị Chánh án Tòa án giải quyết.
Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu trong các trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 192, khoản 1 Điều 364 BLTTDS. Việc Tòa án trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu không đúng quy định pháp luật sẽ xâm phạm đến quyền khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền con người của đương sự. Những vi phạm của Tòa án trong việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu thường được phát hiện qua công tác kiểm sát của VKSND tỉnh Đắk Lắk như: Trả lại đơn khởi kiện trong trường hợp người khởi kiện có quyền khởi kiện và có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật; Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhưng Tòa trả lại đơn khởi kiện vì cho rằng không thuộc thẩm quyền giải quyết; Trả lại đơn trong trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú, trụ sở mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện… Vi phạm phổ biến nhất của Tòa án đó là không ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện trong văn bản thông báo trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu.
Như vậy sẽ gây khó khăn cho đương sự và VKSND khi nhận được thông báo trả lại đơn khởi kiện mà không biết rõ lý do để thực hiện quyền khiếu nại, quyền kiến nghị theo quy định của luật. Luận văn: Thực trạng trách nhiệm của VKSND tỉnh Đắk Lắk.
Qua thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, VKSND khi kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của Tòa án phát hiện những vi phạm trên sẽ yêu cầu, kiến nghị Tòa án sửa chữa, khắc phục kịp thời các vi phạm. Để kiểm sát chặt chẽ công tác này, hai cấp ngành KSND tỉnh Đắk Lắk đã thực hiện các công việc cụ thể: Lập sổ sách riêng để theo dõi việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của Tòa án. Trong đó, lập cụ thể các cột mục như ngày, tháng, năm Tòa án nhận đơn khởi kiện; Số, ngày, tháng, năm Tòa án ra quyết định trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu; Lý do trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu; ngày, tháng, năm Viện kiểm sát nhận được thông báo trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của Tòa án; Phân công Kiểm sát viên kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của Tòa án; khi phát hiện có vi phạm thì kịp thời báo cáo đề xuất lãnh đạo có công văn rút hồ sơ lưu tại Tòa án để nghiên cứu, xem xét việc kiến nghị theo thẩm quyền. Toàn bộ hoạt động này phải được lập thành hồ sơ, đưa vào lưu trữ đúng quy định và cập nhật kết quả cụ thể vào sổ theo dõi; Hàng tuần, hàng tháng tăng cường phối hợp với Tòa án trong việc đối chiếu sổ sách, chốt số liệu những vụ việc Tòa án trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu; khi phát hiện những trường hợp Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện nhưng chưa thông báo cho Viện kiểm sát phải yêu cầu Tòa án khắc phục kịp thời. Qua đó, quyền khởi kiện của đương sự được bảo vệ, đảm bảo thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, pháp luật quy định về kiểm sát trả đơn khởi kiện còn chưa rõ ràng, cụ thể dẫn đến hoạt động kiểm sát việc trả đơn khởi kiện của VKS còn gặp một số khó khăn vướng mắc và chưa thật sự có hiệu quả. Qua việc kiểm tra thực tế về hoạt động kiểm sát, nhận thấy rằng đã có những trường hợp mà các căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 192 của Bộ luật TTDS đã được áp dụng bởi Tòa án để trả lại đơn khởi kiện cho đương sự mà chưa chính xác. Đáng lẽ ra, khi trả lại đơn khởi kiện, Tòa án nên gửi kèm theo văn bản hoặc thông báo rõ ràng lý do trả lại đơn, nhưng có những trường hợp lại không thực hiện điều này. Sự thiếu minh bạch này gây ra khó khăn cho cả đương sự và VKS trong việc xác định xem lý do trả lại đơn có hợp lý hay không. Khoản 1 Điều 21 Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT- VKSNDTC-TANDTC ngày 31/8/2016 của VKSND tối cao, TAND tối cao quy định việc phối hợp giữa VKSND và TAND trong việc thi hành một số quy định của BLTTDS thì quy định “Trường hợp VKS cần xem xét kiến nghị việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu hoặc sau khi nhận được thông báo mở phiên họp giải quyết khiếu nại về việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu thì VKS gửi văn bản yêu cầu Tòa án cho sao chụp một số hoặc toàn bộ bản sao đơn khởi kiện, đơn yêu cầu và tài liệu, chứng cứ”. Theo quy định trên thì chỉ trừ trường hợp cần thiết để kiểm sát hoặc giải quyết tranh chấp thì VKS mới có quyền đề nghị Toà án sao chụp đơn khởi kiện cùng các tài liệu chứng cứ kèm theo nhưng không phải đối với tất cả trường hợp trả lại đơn khởi kiện của Toà án, VKS đều có quyền đề nghị sao chụp tài liệu, chứng cứ. Quy định trên gây khó khăn, trở ngại đối với công tác kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện và không phát hiện kịp thời sai phạm, khuyết điểm của Toà án cho nên công tác kiểm sát trả lại đơn khởi kiện hiệu quả không cao. BLTTDS ở khoản 1 Điều 194 chỉ quy định thời hạn kiến nghị của VKS là 10 ngày tính từ ngày nhận được thông báo trả lại đơn khởi kiện chứ không quy định cụ thể thời hạn bao nhiêu, tính từ ngày có quyết định trả lại đơn khởi kiện thì Toà án mới chuyển cho VKS hồ sơ kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện là chưa bảo đảm. Quy định dẫn có thể dẫn đến việc không thụ lý hoặc thậm chí “lãng quên” VKS sẽ không kiểm sát được ảnh hưởng đến hiệu quả công tác kiểm sát trả đơn khởi kiện.
2.2.2 Thực trạng trách nhiệm bảo vệ QCN thông qua hoạt động kiểm sát việc thụ lý, giải quyết vụ việc dân sự Luận văn: Thực trạng trách nhiệm của VKSND tỉnh Đắk Lắk.
Tại VKSND tỉnh Đắk Lắk, công tác kiểm sát việc thụ lý, giải quyết vụ việc dân sự được thực hiện một cách chặt chẽ, đảm bảo kiểm sát 100% các vụ án ngay từ khi Tòa án thụ lý vụ án.
- Bảng 2.1: Số liệu kiểm sát thụ lý, giải quyết các vụ việc dân sự:
Giai đoạn sơ thẩm: Sau khi vụ việc dân sự được thụ lý, Tòa án phải gửi thông báo bằng văn bản cho VKS cùng cấp. Khi thông báo thụ lý được nhận, cán bộ, KSV được phân công để tiến hành vào sổ thụ lý, lập phiếu kiểm sát, kiểm tra nội dung và thời hạn ra thông báo theo quy định của Điều 196 và Điều 365 của BLTTDS năm 2015. KSV thực hiện: Kiểm sát thời hạn ra thông báo thụ lý và nội dung của thông báo thụ lý. Trong đó chú trọng làm rõ quan hệ pháp luật phát sinh yêu cầu, tranh chấp. Làm rõ tính hợp pháp của việc khởi kiện, việc yêu cầu. Xác định người khởi kiện, người yêu cầu có quyền khởi kiện, yêu cầu hay không. Cơ quan, tổ chức khởi kiện, yêu cầu phải thông qua người đại diện theo quy định của pháp luật. Việc ủy quyền khởi kiện hoặc ủy quyền yêu cầu phải làm thành văn bản, trong đó nêu cụ thể nội dung ủy quyền, phạm vi ủy quyền, thời gian ủy quyền theo quy định của pháp luật. Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự thực hiện quyền, nghĩa vụ của người khởi kiện hoặc yêu cầu thông qua người đại diện theo pháp luật.
Về quan hệ pháp luật mà phát sinh yêu cầu hoặc tranh chấp của đương sự, KSV xem xét những quan hệ pháp luật đó có thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định của BLTTDS hay không. Thẩm quyền thụ lý của vụ án được xác định bởi Tòa án. Việc xem xét vụ án đã được thụ lý, cũng như việc có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định của BLTTDS hay không, đều do KSV thực hiện.
Nếu sau khi thụ lý, xét thấy vụ, việc dân sự đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì Tòa án đã thụ lý ra quyết định chuyển hồ sơ cho Tòa án có thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 41 BLTTDS 2015, đồng thời cũng phải gửi ngay quyết định chuyển hồ sơ vụ, việc cho VKS cùng cấp biết. Khi nhận được quyết định chuyển giao hồ sơ cho Toà án có thẩm quyền hoặc quyết định tách (nhập) vụ án, cán bộ, KSV được giao nhiệm vụ vào sổ kiểm sát theo từng quyết định, lập phiếu kiểm sát để đánh giá tính chất có cơ sở và hợp pháp của quyết định, nếu có vi phạm phải đánh giá mức độ của vi phạm và tham mưu lãnh đạo VKS đề nghị Toà án xử lý theo từng quyết định hoặc tổng hợp kiến nghị chung theo thẩm quyền.
Về xác định thời hiệu khởi kiện hoặc yêu cầu: Điều 184 BLTTDS 2015 quy định “thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự được thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự”; bổ sung nguyên tắc áp dụng thời hiệu, đó là: Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc. Trường hợp pháp luật không có quy định về thời hiệu yêu cầu thì thời hiệu yêu cầu để Tòa án giải quyết việc dân sự là một năm, kể từ ngày phát sinh quyền yêu cầu, trừ các việc dân sự có liên quan đến quyền dân sự về nhân thân của cá nhân thì không áp dụng thời hiệu yêu cầu. Luận văn: Thực trạng trách nhiệm của VKSND tỉnh Đắk Lắk.
Giai đoạn phúc thẩm, việc thông báo thụ lý vụ án được tiến hành tương tự như ở giai đoạn sơ thẩm. Sau khi vụ án được thụ lý, thông báo bằng văn bản phải được gửi cho VKS cùng cấp. Khi nhận được thông báo thụ lý, cán bộ, KSV sẽ được phân công tiến hành vào sổ thụ lý, lập phiếu kiểm sát và kiểm tra nội dung theo Điều 285 BLTTDS 2015. Thời hạn ra thông báo thụ lý cũng đặc biệt quan trọng và KSV cần chú ý đến việc xử lý đơn kháng cáo theo quy định tại Điều 283 BLTTDS 2015, ngoài quy định tại Điều 285 BLTTDS 2015. Đối với đơn kháng cáo, Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi hồ sơ vụ án, đơn kháng cáo và tài liệu, chứng cứ bổ sung kèm theo cho Tòa án cấp phúc thẩm trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, người kháng cáo đã nộp cho Tòa án cấp sơ thẩm biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm. Việc kiểm tra các vấn đề về nội dung thông báo thụ lý cũng đã được tiến hành bởi KSV giống như ở giai đoạn sơ thẩm, bao gồm các nội dung và quy định về đơn kháng cáo theo Điều 272 BLTTDS 2015, cũng như việc xem xét quan hệ pháp luật phát sinh tranh chấp và thẩm quyền thụ lý của Tòa án.
Đối với thời hạn kháng cáo, Điều 273 BLTTDS 2015 quy định: Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, thời hạn kháng cáo đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là 07 ngày, kể từ ngày đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của BLTTDS 2015. Bộ luật cũng bổ sung trường hợp đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, còn nếu không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo vẫn được tính từ ngày tuyên án. Trong trường hợp phát hiện vụ án bị sai quy định mà Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án đó, VKS sẽ thực hiện quyền kháng nghị yêu cầu hủy bản án phúc thẩm. Đối với công tác phối hợp, VKS cấp trên sẽ yêu cầu VKS cấp dưới gửi ngay thông báo kháng cáo của Tòa án cùng cấp sau khi nhận được để thông tin về việc bản án sơ thẩm có kháng cáo được chuyển đến VKS cấp trên và theo dõi việc thụ lý và gửi thông báo thụ lý của Tòa án có kịp thời, đầy đủ và đúng quy định.
Quá trình kiểm sát thông báo thụ lý vụ, việc dân sự của Tòa án được VKSND hai cấp tỉnh Đắk Lắk thực hiện theo quy trình và đảm bảo tuân thủ quy định của pháp luật, cụ thể: Sau khi tiếp nhận các thông báo thụ lý của Tòa án cùng cấp chuyển đến, bộ phận văn thư vào sổ công văn đến, trình lãnh đạo Viện phê duyệt, sau đó chuyển cho chuyên viên của bộ phận ghi chép vào sổ thụ lý. Sau đó, chuyển giao cho KSV được phân công để nghiên cứu, lập hồ sơ, kiểm sát thông báo thụ lý. Do đó, 100% thông báo thụ lý của Tòa án cùng cấp được kiểm sát theo đúng Quy chế của Ngành. Qua đó phát hiện một số dạng vi phạm của Tòa án thường xảy ra trong việc thụ lý, giải quyết các vụ việc dân sự như:
Vi phạm trong việc xác định sai quan hệ tranh chấp: Trong vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn và bị đơn có xác lập hợp đồng vay tài sản không thời hạn và không có lãi. Đây là quan hệ tranh chấp vay tài sản nhưng Tòa án khi thụ lý giải quyết lại xác định quan hệ tranh chấp là kiện đòi tài sản là chưa chính xác.
Vi phạm trong việc giải quyết không hết, không đúng hoặc giải quyết ngoài phạm vi khởi kiện của đương sự, vượt quá thẩm quyền của Tòa án: Theo quy định tại Điều 5 BLTTDS, Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó. Có một số vụ án Tòa án thực hiện không đúng quy định này. Không thụ lý hết yêu cầu của đương sự; giải quyết không hết, không đúng hoặc giải quyết ngoài phạm vi khởi kiện của đương sự, vượt quá thẩm quyền của Tòa án; không đình chỉ giải quyết yêu cầu đương sự đã rút dẫn đến việc Tòa phúc thẩm phải hủy án sơ thẩm hoặc hủy một phần bản án, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa sơ thẩm giải quyết lại vụ án hoặc phải sửa bản án sơ thẩm. Luận văn: Thực trạng trách nhiệm của VKSND tỉnh Đắk Lắk.
Vi phạm trong việc không đưa đầy đủ những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng: BLTTDS đã quy định về người tham gia tố tụng, trong đó quy định rõ về nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan… quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng. Việc xác định đúng, đủ tư cách tham gia tố tụng của người người tham gia tố tụng có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết đúng đắn vụ án bởi mỗi người tham gia tố tụng có một tư cách tố tụng riêng biệt và tương ứng với đó là các quyền và nghĩa vụ mà BLTTDS đã quy định cho họ. Trường hợp xác định sai tư cách tham gia tố tụng hoặc đưa thiếu người tham gia tố tụng trong vụ án sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ của họ, làm họ không có điều kiện để thực hiện các quyền nghĩa vụ tụng của mình. Dẫn đến việc làm sai lệch bản chất vụ việc, đây được coi là một vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, Tòa án cấp phúc thẩm phải hủy bản án.
Những vi phạm của Tòa án trong thụ lý, giải quyết các vụ việc dân sự xâm phạm đến QCN của các đương sự tham gia vào quan hệ TTDS, cụ thể là quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự quy định tại Điều 5 BLTTDS, quyền bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong TTDS… Qua công tác kiểm sát, phát hiện Tòa án cùng cấp còn để xảy ra thiếu sót như trên, VKSND đã tập hợp để kiến nghị chung, yêu cầu Tòa án khắc phục và không để xảy ra vi phạm tương tự, từ đó đảm bảo được quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.
2.2.3 Thực trạng trách nhiệm bảo vệ QCN thông qua hoạt động nghiên cứu hồ sơ, yêu cầu xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ
- Bảng 2.2: Số liệu kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự
Theo số liệu thống kê bảng trên, trong 03 năm gần đây, hai cấp VKSND tỉnh Đắk Lắk đã thực hiện nghiên cứu 6.489 hồ sơ vụ việc trước khi Tòa án xét xử. Nghiên cứu hồ sơ vụ, việc dân sự là bước chuẩn bị có ý nghĩa quan trọng, giúp KSV chủ động khi tham gia phiên tòa, phiên họp cũng như xác định căn cứ để kiến nghị, kháng nghị, đảm bảo pháp luật được tuân thủ, góp phần đảm bảo QCN. Thông qua việc nghiên cứu hồ sơ trước khi tham gia xét xử, KSV đã đề xuất quan điểm, đường lối giải quyết các vụ án một cách khách quan, toàn diện, đúng theo quy định của pháp luật, từ đó quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự được đảm bảo một cách có hiệu quả nhất.
Sau khi ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án chuyển hồ sơ vụ, việc dân sự ngay cho VKS nghiên cứu. Tuy nhiên, vẫn còn xảy ra tình trạng chậm chuyển một số hồ sơ có nội dung phức tạp hoặc khi chuyển hồ sơ thiếu tài liệu sau đó xin bổ sung… làm ảnh hưởng đến việc nghiên cứu hồ sơ của KSV. Khi nhận được hồ sơ vụ án do Tòa án chuyển đến, KSV báo cáo Lãnh đạo Viện phụ trách và tiến hành nghiên cứu hồ sơ theo quy định tại Khoản 3 Điều 58 BLTTDS. Khi nghiên cứu hồ sơ, KSV nắm rõ nội dung vụ việc, lập hồ sơ kiểm sát, trích cứu đầy đủ, trung thực lời khai của đương sự, các tài liệu, chứng cứ khác… theo đúng hướng dẫn tại Quy chế công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự và văn bản Hướng dẫn nghiệp vụ do Viện KSND tối cao ban hành. Quá trình kiểm sát, khi phát hiện việc Tòa án thu thập chứng cứ giải quyết vụ án chưa đảm bảo, KSV báo cáo Lãnh đạo Viện để ban hành các yêu cầu thu thập, bổ sung chứng cứ. Việc thu thập tài liệu, chứng cứ của Tòa án không đảm bảo đúng theo quy định pháp luật sẽ xâm phạm đến quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; quyền đề nghị Tòa án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ của vụ việc mà tự mình không thể thực hiện được… Luận văn: Thực trạng trách nhiệm của VKSND tỉnh Đắk Lắk.
Trong kỳ thống kê, hai cấp VKSND tỉnh Đắk Lắk đã ban hành 127 yêu cầu xác minh, thu thập chứng cứ được Tòa án chấp nhận, góp phần đảm bảo căn cứ để giải quyết toàn diện nội dung vụ án, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của đương sự. Đa số các yêu cầu của VKS đều được Tòa án chấp nhận và thực hiện đầy đủ theo quy định. Tuy nhiên, thời gian nghiên cứu hồ sơ của VKS thường là 15 ngày cho nên việc thực hiện các bước tố tụng yêu cầu Toà án xác minh, thu thập chứng cứ vụ án sẽ bị hạn chế. Khi không nắm rõ việc thu thập chứng cứ, yêu cầu cung cấp chứng cứ, tài liệu của từng đương sự hoặc Toà án tự ý xác minh thu thập chứng cứ như vậy mà KSV yêu cầu Toà án xác minh, thu thập thêm chứng cứ vụ án thì sẽ khó khăn để Toà án chấp thuận thực hiện nên KSV cần tập hợp để đưa vào phương án hỏi đương sự, người tham gia tố tụng khác hoặc phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc thu thập chứng cứ, đánh giá chứng cứ của Thẩm phán tại phiên tòa.
2.2.4 Thực trạng trách nhiệm bảo vệ QCN thông qua hoạt động tham gia phiên tòa, phiên họp và phát biểu quan điểm của KSV về việc giải quyết các vụ việc dân sự
VKSND tỉnh Đắk Lắk thực hiện kiểm sát 100% các phiên tòa, phiên họp mà VKS phải tham gia theo quy định.
- Bảng 2.3: Số liệu VKS tham gia phiên tòa, phiên họp:
Theo số liệu thống kê 03 năm gần đây, tổng số phiên tòa có KSV tham gia của cả hai cấp VKSND tỉnh Đắk Lắk là 6.204 phiên tòa. Tương ứng với đó là số lượng Bản phát biểu tại phiên tòa mà KSV phải xây dựng. Nhìn chung, bản phát biểu ý kiến của KSV tại phiên tòa cơ bản được KSV dự thảo trước khi tham gia phiên tòa và được xây dựng theo mẫu ban hành kèm theo Quy chế của ngành. Nội dung dự thảo phát biểu của KSV tại phiên tòa cơ bản đã tổng hợp được quá trình hoạt động của Tòa án và đánh giá được việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, HĐXX, thư ký, các đương sự và những người tham gia tố tụng, từ khi Tòa án thụ lý vụ án, thời điểm Tòa án chuyển hồ sơ cho VKS nghiên cứu. KSV đã chú trọng nghiên cứu hồ sơ, theo dõi được diễn biến tại phiên tòa để bổ sung nội dung phát biểu.
VKSND tối cao đã ban hành nhiều văn bản trong đó đã hướng dẫn các hoạt động của KSV trước, trong và sau phiên tòa; Hướng dẫn hoạt động Phát biểu của KSV tại phiên tòa. Các quy định được triển khai đầy đủ để vận dụng trong toàn ngành nên nhiều bản phát biểu có chất lượng, đã phân tích được đầy đủ, cụ thể nội dung vụ án; đánh giá chứng cứ được khách quan, toàn diện, từ đó đề nghị với Hội đồng xét xử hướng xử lý tình huống tại phiên tòa và hướng giải quyết vụ án về nội dung có căn cứ, đúng quy định pháp luật, đảm bảo được quyền lợi ích hợp pháp của các đương sự. Nhiều bản phát biểu có chất lượng, thuyết phục được HĐXX chấp nhận quan điểm đề nghị của đại diện VKS tại phiên tòa. Trong thời gian gần đây, hoạt động này đã ngày càng được thực hiện theo quy định của pháp luật và được xem xét một cách nghiêm túc. Những phát biểu của KSV tại phiên tòa giải quyết vụ án dân sự đã có nhiều tiến bộ, và chất lượng của những phát biểu cũng đã được nâng cao,… Qua đó góp phần đảm bảo các quyền của đương sự như quyền giữ nguyên, thay đổi, bổ sung hoặc rút yêu cầu theo quy định; Tham gia phiên tòa, phiên họp theo quy định; Đưa ra câu hỏi với người khác về vấn đề liên quan đến vụ án hoặc đề xuất với Tòa án những vấn đề cần hỏi người khác; Tranh luận tại phiên tòa, đưa ra lập luận về đánh giá chứng cứ và pháp luật áp dụng… Luận văn: Thực trạng trách nhiệm của VKSND tỉnh Đắk Lắk.
Tuy nhiên, vẫn còn không ít trường hợp phát biểu của KSV còn chung chung, chưa đạt yêu cầu, chưa đầy đủ tình tiết, nội dung vụ án, thậm chí có trường hợp còn áp dụng không đúng quy định của pháp luật… Mặc dù các quy định, hướng dẫn liên quan đến hoạt động phát biểu của KSV tại phiên tòa đã được quy định cụ thể tại Hướng dẫn số 20/HD-VKSTC-V10 ngày 21/3/2021 của VKSND tối cao về Hoạt động Phát biểu của KSV khi tham gia phiên tòa xét xử vụ án dân sự, kinh doanh thương mại, lao động và được Phòng 9 – VKSND tỉnh Đắk Lắk triển khai thực hiện trong toàn ngành; tuy nhiên, qua gần 03 năm thực hiện, thấy rằng, vẫn có nhiều KSV chưa nắm được đầy đủ tinh thần của các quy định này, hoặc nắm được quy định nhưng thực hiện chưa tốt; Việc bổ sung nội dung bản phát biểu quan điểm trước khi phát biểu tại phiên tòa sơ thẩm có lúc chưa kịp thời, dẫn đến chất lượng nhiều Bản phát biểu của KSV tại phiên tòa chưa cao, chất lượng công tác kiểm sát giải quyết một số vụ án có lúc, có vụ chưa đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp. Điển hình là thông qua cuộc thi “Viết bản Phát biểu của KSV tại phiên tòa xét xử vụ án dân sự” do VKSND tỉnh Đắk Lắk tổ chức đã cho thấy những hạn chế lớn trong việc xây dựng bản phát biểu của KSV trong toàn ngành kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk. Điển hình như: về hình thức, một số bản phát biểu còn chưa tuân thủ đúng hình thức theo mẫu ban hành kèm theo quy chế của Ngành. Về nội dung: một số bản phát biểu thể hiện chưa đầy đủ diễn biến tại phiên tòa như: Đương sự vắng mặt nhưng KSV không nhận xét và đánh giá về việc xét xử vắng mặt của đương sự có đúng không, tại phiên tòa có đương sự vi phạm nội quy phiên tòa, thiếu thủ tục ủy quyền theo quy định pháp luật, việc xử lý tình huống của hội đồng xét xử đối với những nội dung, tình tiết mới phát sinh tại phiên tòa… nhưng KSV không bổ sung vào nội dung bản phát biểu. Phần tố tụng nêu vi phạm vì bỏ sót người tham gia tố tụng, hoặc chưa đủ căn cứ, cần thu thập thêm tài liệu chứng cứ để giải quyết vụ án, nhưng đến phần nội dung lại đưa ra quan điểm đề nghị hướng giải quyết nội dung vụ án và không kiến nghị gì; Một số bản phát biểu tại phiên tòa sơ thẩm không nêu ra được vi phạm của Tòa án như: vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử, gửi chậm hồ sơ cho VKS, vi phạm về tống đạt văn bản tố tụng…; Nhiều bản phát biểu còn dài dòng về nội dung; có bản phát biểu thể hiện: Không tóm tắt nội dung vụ án, chỉ trích lại toàn bộ nội dung lời trình bày của các đương sự: “Nguyên đơn trình bày:…”, “Bị đơn trình bày:…”, “Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:..” và nêu luôn quan điểm về việc chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của đương sự mà không phân tích, đánh giá gì. Hoặc có bản phát biểu nêu toàn bộ nội dung các đương sự trình bày sau đó lại tóm tắt nội dung vụ án nên nội dung phát biểu của KSV tại phiên tòa dài dòng, không tập trung, chưa chặt chẽ, cô đọng. Hướng đề nghị giải quyết vụ án với Hội đồng xét xử có vụ còn chung chung không đưa ra các phân tích, lập luận, đánh giá, căn cứ pháp luật để giải quyết vụ án hoặc nêu sơ sài, lan man nên quan điểm đề nghị chưa có sức thuyết phục với cả Hội đồng xét xử và các đương sự. Có những vụ đề nghị hướng giải quyết vụ án không đúng quy định của pháp luật như: xác định không đúng đối tượng khởi kiện dẫn đến phải hủy án, sửa án; đánh giá chứng cứ không đúng phải hủy án, sửa án; xác định thiếu người tham gia tố tụng; giải quyết vụ án không triệt để… Đó là một số hạn chế, thiếu sót cơ bản, thường gặp trong xây dựng bản phát biểu của KSV tại phiên tòa. Tuy nhiên, những thiếu sót này đã làm ảnh hưởng đến hoạt động phát biểu của KSV tại phiên tòa, ảnh hưởng đến chất lượng công tác kiểm sát của ngành Kiểm sát nhân dân trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk nói riêng và trong toàn ngành nói chung.
2.2.5 Thực trạng trách nhiệm bảo vệ QCN thông qua hoạt động kiểm sát bản án, quyết định giải quyết vụ việc dân sự Luận văn: Thực trạng trách nhiệm của VKSND tỉnh Đắk Lắk.
Theo số liệu thống kê, trong 03 năm gần đây Phòng 9 VKSND tỉnh Đắk Lắk đã kiểm sát 29.766 bản án, quyết định của Tòa án hai cấp chuyển đến. Qua công tác kiểm sát bản án, quyết định, VKS hai cấp tổng hợp các vi phạm thường xảy ra như:
Tranh chấp QSDĐ chưa được hòa giải theo thủ tục tại địa phương. Yêu cầu giải quyết của người lao động chưa được hòa giải cơ sở (đối với trường hợp phải qua hòa giải cơ sở). Không đưa đầy đủ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vào việc tham gia tố tụng.
Việc xét xử vắng mặt của các bên liên quan cũng không tuân theo quy trình; ví dụ như tòa án đã xét xử vắng mặt các bên trong khi triệu tập họ chưa theo trình tự pháp luật hoặc khi thông tin về nơi ở mới của các bên đã được thông báo nhưng tòa án vẫn gửi thông báo và các văn kiện liên quan theo điạ chỉ cũ. Bản án tuyên không tuân theo nguyên tắc công lý, chỉ dựa vào bản sao photocoppy mà thiếu đi tài liệu gốc; hoặc khi án phạt không phù hợp với các thông tin khách quan của vụ án hoặc khi việc thu thập chứng cứ chưa hoàn thiện. Cuối cùng là việc chưa giải quyết hết các yêu cầu khởi kiện, phản tố và yêu cầu của các bên liên quan.
Việc xác minh về nguồn gốc của đất không được tiến hành, tài liệu đăng ký kê khai đất qua các thời kỳ không được thu thập, hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đai cũng không được kiểm tra. Điều này dẫn đến việc không xác minh rõ ai là người sử dụng đất, không làm rõ việc thay đổi diện tích của lô đất (nếu có).
Giải quyết vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu: Trong diện tích 588m2 của thửa đất, việc tranh chấp tiền bồi thường chỉ liên quan đến phần đất bị thu hồi là 545m2, còn phần diện tích 43m2 không bị thu hồi không gây ra tranh chấp. Tuy nhiên, quyết định của Tòa án sơ thẩm về việc giải quyết toàn bộ diện tích 588m2 đã vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện theo Điều 5 của BLTTDS năm 2015. Luận văn: Thực trạng trách nhiệm của VKSND tỉnh Đắk Lắk.
Đối với những vụ án có liên quan đến tài sản tranh chấp, Tòa án không kết hợp các vụ án để giải quyết chung và cũng không giải thích rõ cho những người liên quan về việc yêu cầu giải quyết một cách độc lập để đảm bảo sự công bằng và thi hành án một cách toàn diện và triệt để. Ví dụ: Ông Y bị khởi kiện tranh chấp QSDĐ bởi ông X. Phần đất mà ông E và ông F, con ông Y sử dụng và xây nhà trên đó sau khi ông Y qua đời đang gây tranh cãi. Tòa án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của ông X, buộc những người thừa kế của ông Y phải trả lại đất cho ông X và cho phép ông X khởi kiện các tài sản trên đất bằng vụ án khác. Tuy nhiên, để giải quyết vụ án một cách triệt để và đảm bảo việc thi hành án, tòa án cần xem xét và giải quyết yêu cầu của ông X và ông Y liên quan đến các tài sản hiện có trên đất. Tòa án sơ thẩm đã không giải thích rõ ràng về quyền yêu cầu này cho các bên liên quan. Tại phiên tòa phúc thẩm, những người thừa kế của bị đơn đã yêu cầu buộc nguyên đơn phải chịu chi phí xây dựng các công trình trên đất. Đó yêu cầu mới và nó cần được giải quyết trong vụ án hiện tại để có thể thi hành án một cách hiệu quả. Tuy nhiên, do phần quyết định trong bản án không rõ ràng và không cụ thể nên không khả thi để thi hành.
Xác định về việc án phí không đúng. Ví dụ: cấp dưỡng nuôi con không buộc đương sự phải chịu án phí; người cao tuổi không được xem xét miễn án phí; phần yêu cầu không được chấp nhận không phải chịu án phí theo quy định; Pháp luật quy định án phí, lệ phí Tòa án năm 2009 không được áp dụng. Thay vào đó, Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội được sử dụng, điều này đã gây ra sự không chính xác trong việc tính toán số tiền án phí.
Khi nhận được các quyết định, bản án nói trên, KSV, KTV lập phiếu kiểm sát, kiểm sát chặt chẽ về thời hạn gửi, căn cứ, thẩm quyền ban hành, nội dung, hình thức của bản án, quyết định, yêu cầu Tòa án chuyển hồ sơ để nghiên cứu nếu thấy cần thiết. Khi phát hiện vi phạm, bản án, quyết định sẽ được xem xét kháng nghị hoặc kiến nghị theo thẩm quyền, tùy theo tính chất và mức độ của vi phạm. Trong trường hợp hết thời hạn kháng nghị tại cùng cấp VKS, báo cáo sẽ được trình lãnh đạo cấp trên để xem xét kháng nghị phúc thẩm theo thẩm quyền. Việc kiểm sát chặt chẽ các bản án, quyết định để phát hiện những vi phạm của Tòa án, từ đó thực hiện quyền kiến nghị, kháng nghị yêu cầu Tòa án khắc phục vi phạm góp phần đảm bảo QCN của các đương sự được quy định trong BLTTDS.
Tình hình công tác kiểm sát bản án và quyết định giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm gần đây đã cho thấy một số thiếu sót như phiếu kiểm sát ban hành không theo mẫu quy định của VKSND tối cao, thiếu các thông tin yêu cầu hoặc không có phần kiểm sát của VKS cấp phúc thẩm. Chất lượng kiểm sát bản án và quyết định còn kém, không phát hiện được vi phạm để yêu cầu kháng nghị hoặc kiến nghị, gây ra hạn chế trong chức năng của VKSND.
2.2.6 Thực trạng trách nhiệm bảo vệ QCN thông qua kiến nghị, kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật
- Kiến nghị: Luận văn: Thực trạng trách nhiệm của VKSND tỉnh Đắk Lắk.
Kết quả thực hiện công tác kiến nghị khi kiểm sát các vụ, việc dân sự: từ năm 2021 đến năm 2023, hai cấp kiểm sát ngành KSND tỉnh Đắk Lắk đã ban hành được 84 kiến nghị đối với TAND và các cơ quan hữu quan yêu cầu khắc phục và áp dụng các biện pháp phòng ngừa vi phạm pháp luật. Nội dung kiến nghị chủ yếu như:
- Vi phạm thời hạn: giải quyết vụ án, chuẩn bị xét xử, hoãn phiên tòa, gửi hồ sơ cho VKS cùng cấp chậm.
Vi phạm về việc chậm gửi các văn bản: Thông báo về việc thụ lý vụ án, Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, Quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án, Quyết định hoãn phiên tòa, Bản án cho VKS. Ngoài ra, có một số trường hợp Tòa án không gửi cho VKS. Điển hình, VKSND tỉnh đã ban hành kiến nghị đối với Chánh án TAND tỉnh Đắk Lắk về việc các TAND cấp huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk giải quyết các vụ án dân sự đã có 57 bản án, 31 quyết định vi phạm về việc Tòa án giao Quyết định công nhận thỏa thuận, Quyết định tạm đình chỉ, Quyết định đình chỉ, Bản án cho VKS cùng cấp không đúng quy định tại khoản 1 Điều 212, khoản 2 Điều 214, khoản 2 Điều 217, khoản 2 Điều 269 Bộ luật dân sự.
Vi phạm trong bản án sơ thẩm: áp dụng không đúng điều luật; không viện dẫn điểm, khoản của điều luật; áp dụng luật đã hết hiệu lực thi hành; chưa tuyên về nghĩa vụ nộp các chi phí tố tụng khác; Vi phạm về hình thức.
Vi phạm về án phí: tính sai án phí; không giải quyết tạm ứng án phí; không thỏa thuận về nghĩa vụ nộp án phí; giảm án phí không đúng, không miễn án phí; miễn giảm không đúng, khi các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án trước khi mở phiên tòa nhưng vẫn tuyên buộc chịu 100% án phí sơ thẩm; nhiều quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự không thể hiện đương sự đã thỏa thuận về nghĩa vụ nộp án phí; không buộc người có yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập phải chịu án phí sơ thẩm. Điển hình, VKSND tỉnh đã ban hành kiến nghị đối với Chánh án TAND tỉnh Đắk Lắk về việc các TAND cấp huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk giải quyết các vụ án dân sự đã có các vi phạm về án phí như:
Vi phạm trong việc thu tiền tạm ứng án phí: Vụ án thụ lý sau ngày 01/01/2017 nhưng thu tạm ứng án phí không đúng quy định tại Điều 7, khoản 2 Điều 47 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vi phạm trong việc hoàn trả tiền tạm ứng án phí: Có 19 quyết định, 01 bản án Tòa án không quyết định cho đương sự được nhận lại tiền tạm ứng án phí còn thừa hoặc hoàn trả không đầy đủ, không đúng số tiền tạm ứng án phí sau khi khấu trừ tiền án phí đương sự tự nguyện nộp. Luận văn: Thực trạng trách nhiệm của VKSND tỉnh Đắk Lắk.
Vi phạm về án phí dân sự sơ thẩm: Có 04 bản án, 14 quyết định đã tính không đúng, không đủ án phí đối với tài sản tranh chấp, giảm tiền án phí không đúng quy định. Có 12 bản án, quyết định của Tòa án quyết định giảm 50% tiền án phí cho đương sự và ghi rõ lý do: “có hoàn cảnh kinh tế khó khăn và có đơn xin giảm án phí được chính quyền địa phương xác nhận” (theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Pháp lệnh số 10/2009/PL-UBTVQH12 ngày 27/2/2009) là không đúng quy định vì từ ngày 01/01/2017 việc giảm án phí phải theo đúng quy định tại khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 13 Nghị quyết 326.
Không buộc đương sự chịu án phí cấp dưỡng nuôi con: Có 11 Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự, Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung, nhưng không buộc đương sự phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con là vi phạm điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vi phạm về việc Tòa án không miễn án phí cho đương sự theo quy định: Tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 quy định về việc miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí, tạm ứng lệ phí, lệ phí Tòa án đối với: “Trẻ em; cá nhân thuộc hộ nghèo, cận nghèo; người cao tuổi; người khuyết tật; người có công với cách mạng; đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; thân nhân liệt sĩ được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ“. Tuy nhiên, có 26 bản án, 32 quyết định của Tòa án không hướng dẫn cho đương sự thực hiện việc miễn nộp tạm ứng án phí, án phí cho các đối tượng được quy định trên, đặc biệt là người cao tuổi, người đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.
Không ghi nhận quyền khởi kiện lại trong các Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Tại biểu mẫu số 45-DS ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao có hướng dẫn: Tùy vào từng trường hợp đình chỉ vụ án cụ thể mà ghi hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 218 BLTTDS. Tuy nhiên có nhiều Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án Tòa án không ghi hoặc ghi đúng hậu quả của việc đình chỉ là vi phạm khoản 1 Điều 218 BLTTDS năm 2015. VKSND tỉnh đã ban hành kiến nghị đối với Chánh án TAND tỉnh Đắk Lắk về việc các TAND cấp huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk giải quyết các vụ án dân sự đã có vi phạm về việc không ghi nhận quyền khởi kiện lại hoặc ghi đúng hậu quả của việc đình chỉ trong 132 Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.
Vi phạm trong việc không giải thích, hướng dẫn cho đương sự biết về quyền được yêu cầu trợ giúp pháp lý: Chế định trợ giúp pháp lý đã được ghi nhận là một trong những nguyên tắc của TTDS. Tại khoản 3 Điều 9 BLTTDS năm 2015 ghi nhận nguyên tắc: “Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm trợ giúp pháp lý cho các đối tượng theo quy định của pháp luật để họ thực hiện quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trước Tòa”. Đồng thời tại khoản 6 Điều 48 BLTTDS năm 2015 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán: “Giải thích, hướng dẫn cho đương sự biết để họ thực hiền quyền được yêu cầu trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý”. Luật trợ giúp pháp lý có hiệu lực từ ngày 01/01/2018 và Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-TANDTC-VKSNDTC ngày 29/6/2018 đã quy định rất cụ thể về hoạt động trợ giúp pháp lý, những người thuộc diện được trợ giúp pháp lý, quy định về phối hợp thực hiện trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng. Theo đó Thẩm phán cần giải thích để đương sự được biết về quyền được yêu cầu trợ giúp pháp lý, bản thân đương sự có thuộc trường hợp được trợ giúp pháp lý hay không? Đương sự có quyền yêu cầu trợ giúp pháp lý hoặc từ chối. Thẩm phán có trách nhiệm thông báo cho Trung tâm trợ giúp pháp lý trong trường hợp họ có yêu cầu. Tuy nhiên thông qua công tác kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự nhận thấy hiện nay nhiều Thẩm phán khi giải quyết vụ án dân sự chưa giải thích về quyền được yêu cầu trợ giúp pháp lý nên không biết để thực hiện quyền được trợ giúp pháp lý. Quyền được trợ giúp pháp lý cho các đương sự nếu không được giải thích bởi Thẩm phán sẽ vi phạm nguyên tắc của TTDS đồng thời ảnh hưởng đến quyền bình đẳng trước pháp luật và quyền được tiếp cận công lý của người dân. VKSND tỉnh đã ban hành kiến nghị đối với Chánh án TAND tỉnh Đắk Lắk về việc các TAND cấp huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk giải quyết các vụ án dân sự đã có vi phạm nêu trên trong 29 bản án giải quyết vụ án dân sự.
Kiến nghị đối với các cơ quan, tổ chức liên quan trong việc phòng ngừa vi phạm pháp luật trong việc giải quyết các vụ, việc dân sự, hôn nhân và gia đình: Kiến nghị đối với Chủ tịch UBND huyện về việc xử lý vi phạm và áp dụng biện pháp phòng ngừa vi phạm pháp luật trong việc chuyển nhượng QSDĐ và cấp giấy chứng nhận QSDĐ; phòng ngừa vi phạm trong công tác chứng thực, đăng ký kết hôn; phòng ngừa tình trạng ly hôn trong các tranh chấp về hôn nhân và gia đình, hạn chế tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong đồng bào dân tộc thiểu số. Luận văn: Thực trạng trách nhiệm của VKSND tỉnh Đắk Lắk.
Điển hình: Trong công tác kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự sơ thẩm và phúc thẩm đối với các vụ án tranh chấp QSDĐ. VKSND các cấp xem xét kiến nghị khi phát hiện công tác quản lý, chấp hành pháp luật về đất đai trong các hoạt động: đăng ký, giao đất, cấp Giấy chứng nhận QSDĐ của cơ quan có thẩm quyền còn vi phạm, thiếu sót. Cụ thể: Thứ nhất, Cấp giấy chứng nhận QSDĐ, sơ đồ kèm theo không đúng với diện tích được cấp. Dẫn đến người được cấp giấy chứng nhận QSDĐ căn cứ vào sơ đồ để khởi kiện. Thứ hai, Thủ tục cấp giấy chứng nhận QSDĐ không theo trình tự quy định của pháp luật về đất đai. Các vụ án này là tranh chấp QSDĐ giữa bố, mẹ và các con. Uỷ ban nhân dân cấp xã chỉ căn cứ vào tờ kê khai của con đã xác nhận để làm thủ tục chuyển lên cấp trên, không cần có ý kiến của bố, mẹ là người đang có giấy chứng nhận QSDĐ. Ủy ban nhân dân huyện cấp giấy chứng nhận QSDĐ đã tiến hành các thủ tục thẩm định nhưng không phát hiện thiếu sót để khắc phục dẫn đến vi phạm. Từ những vi phạm này là nguyên nhân xảy ra tranh chấp trong nội bộ, gây nên bất hoà trong gia đình. Thứ ba, Việc lập hồ sơ cấp giấy chứng nhận, giao đất lâm nghiệp không cụ thể để xảy ra tranh chấp: Các hộ không được giao đất cụ thể nên làm không đúng lô, thửa, diện tích theo giấy chứng nhận. Khi lập hồ sơ, giao đất không có quyết định thu hồi các diện tích hộ khác đang canh tác hoặc ghi đất trống đồi núi trọc nhưng lại có cây rừng trồng. Các hộ này đã sử dụng đất ổn định nhiều năm, chỉ khi chuyển nhượng kiểm tra lại mới phát hiện ra là đất không đúng với giấy chứng nhận. Điều này gây khó khăn cho việc thu thập chứng cứ để giải quyết tranh chấp một cách đúng đắn. Gây nên những tranh chấp, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân. Ngoài ra việc các hộ dân sau khi được giao đất rừng không sử dụng đúng mục đích trồng rừng được giao, nhưng cơ quan có thẩm quyền không có biện pháp giải quyết xử lý. Thứ tư: Thông qua việc giải quyết các vụ án nêu trên thấy: Việc lưu trữ hồ sơ, các quyết định cấp giấy chứng nhận QSDĐ tại cơ quan nhà nước chưa đầy đủ. Người được cấp giấy chứng nhận QSDĐ trình bày chỉ được nhận giấy chứng nhận còn quyết định cấp giấy chứng nhận thì không được giao, xác minh tại UBND hai cấp thì không lưu trữ. Điều này gây khó khăn cho việc khi Toà án tuyên huỷ các quyết định cá biệt. Thứ năm: Trong đơn đăng ký cấp giấy chứng nhận QSDĐ yêu cầu cấp cho cá nhân. Tuy nhiên trong Giấy chứng nhận là QSDĐ lại thể hiện cấp cho hộ gia đình, dẫn đến gây khó khăn cho việc xác định QSDĐ là tài sản riêng hay chung của hộ gia đình. Thứ sáu: Tòa án có công văn yêu cầu cơ quan có thẩm quyền trong việc cấp Giấy chứng nhận QSDĐ và lưu trữ hồ sơ cung cấp tài liệu, chứng cứ để giải quyết vụ án. Tuy nhiên có những vụ án Tòa án đã ra Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án nhiều năm để chờ kết quả trả lời của cơ quan có thẩm quyền, nhưng vẫn chưa nhận được công văn phúc đáp theo yêu cầu.
Đặc biệt, VKSND tỉnh đã ban hành “Thông báo rút kinh nghiệm về việc ban hành kiến nghị”; trong đó tổng hợp 19 văn bản kiến nghị của 15 đơn vị VKS cấp huyện và của phòng nghiệp vụ; rút ra 28 dạng vi phạm để các đơn vị cấp huyện nghiên cứu vận dụng trong việc ban hành văn bản kiến nghị đối với Tòa án khi phát hiện có vi phạm.
Nhìn chung, ngoài những kiến nghị phát hiện kịp thời vi phạm của Tòa án thì còn một số kiến nghị của VKS cấp huyện chưa chú ý tổng hợp vi phạm để kiến nghị yêu cầu Tòa án khắc phục, nhất là vi phạm về thời hạn gửi bản án, quyết định, chuyển hồ sơ cho VKS theo quy định. Chất lượng văn bản kiến nghị nói chung tuy đã được chú ý nâng lên nhưng thực tế vẫn còn một số văn bản kiến nghị chất lượng chưa cao, chưa thật sự thuyết phục do nội dung văn bản dài dòng, lập luận thiếu chặt chẽ, không viện dẫn Điều luật. Tuy nhiên trong Luật Tổ chức VKSND năm 2014 lại không quy định cụ thể thời gian bao nhiêu ngày, các cơ quan, tổ chức cá nhân có trách nhiệm xem xét, giải quyết, trả lời kiến nghị cho VKSND. Trong các đạo luật về tư pháp, có một số đạo luật có quy định cụ thể, có đạo luật không quy định cụ thể hoặc quy định không thống nhất về thời gian mà các cơ quan, tổ chức, cá nhân được kiến nghị phải trả lời cho VKSND. Vì trên thực tế vẫn có trường hợp sau khi nhận được kiến nghị các cơ quan không trả lời kiến nghị của VKS, chậm trả lời kiến nghị nhưng luật vẫn chưa quy định biện pháp cụ thể để khắc phục tình trạng trên, nên việc thực hiện khắc phục vi phạm chỉ mang tính chất đối phó.
- Kháng nghị: Luận văn: Thực trạng trách nhiệm của VKSND tỉnh Đắk Lắk.
Trong những năm qua, VKSND tỉnh Đắk Lắk đã quán triệt thực hiện nghiêm túc các văn bản, quy định của VKSND tối cao về công tác kháng nghị phúc thẩm dân sự; hàng năm trong kế hoạch công tác luôn xác định nhiệm vụ thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm dân sự là nhiệm vụ trọng tâm, đột phá; đồng thời đề ra nhiều giải pháp cụ thể, phù hợp để nâng cao hiệu quả, hiệu lực thực hiện quyền kháng nghị của VKSND hai cấp qua từng năm; số lượng, chất lượng kháng nghị vượt chỉ tiêu của Ngành và Quốc hội giao. Đa số các kháng nghị đều được chấp nhận, đảm bảo các bản án của Tòa án được ban hành đúng pháp luật, góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và ổn định tình hình chính trị, xã hội ở địa phương.
Thực hiện Chỉ thị công tác hàng năm của ngành kiểm sát nhân dân và các Chỉ thị chuyên đề của Viện trưởng VKSND tối cao về tăng cường công tác kháng nghị phúc phẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ án hành chính, vụ việc dân sự; VKSND tỉnh Đắk Lắk trong kế hoạch công tác kiểm sát từ năm 2020 đến nay luôn chọn nhiệm vụ đột phá là:“Nâng cao số lượng, chất lượng kháng nghị phúc thẩm, tăng cường kháng nghị phúc thẩm ngang cấp”; VKS hai cấp đã thực hiện tốt chức năng kiểm sát việc thụ lý, giải quyết của Tòa án đối với các vụ án dân sự; chú trọng nghiên cứu, kiểm sát bản án, quyết định sơ thẩm, kịp thời phát hiện vi phạm để kháng nghị phúc thẩm; số lượng và chất lượng kháng nghị phúc thẩm từng bước được nâng lên, hạn chế mức thấp nhất tỷ lệ án hủy, sửa nhưng không có kháng nghị của VKS. Lãnh đạo VKS hai cấp đã quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo sát sao đối với việc thực hiện công tác kháng nghị; xác định được tầm quan trọng của công tác kháng nghị phúc thẩm; lựa chọn khâu đột phá để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo; bố trí, sắp xếp cán bộ phù hợp đáp ứng được yêu cầu công tác. Chú trọng nâng cao trách nhiệm của KSV trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành. Xác định việc phát hiện vi phạm để ban hành kháng nghị là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá kết quả công tác. Việc phối hợp giữa VKS hai cấp trong công tác kháng nghị phúc thẩm tiếp tục được tăng cường, một số đơn vị VKS cấp huyện đã chủ động, kịp thời báo cáo các vi phạm của Tòa án để VKS tỉnh xem xét kháng nghị, đồng thời Phòng nghiệp vụ cũng đã hướng dẫn VKS cấp dưới để đảm bảo thực hiện tốt chức năng, thẩm quyền.
Số lượng kháng nghị phúc thẩm: Từ 01/12/2020 đến 30/11/2023 hai cấp VKSND tỉnh Đắk Lắk đã ban hành 164 kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Số vụ VKS kháng nghị, Toà án đã giải quyết là 152 vụ, trong đó: VKS rút kháng nghị: 07 vụ do phát sinh tình tiết mới tại phiên toà hoặc Toà án cấp phúc thẩm đã thu thập bổ sung đầy đủ chứng cứ. Tòa án xét xử: 145 vụ. Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị: 131 vụ, đạt 90,3%; không chấp nhận kháng nghị 14 vụ = 9,7%. Nội dung kháng nghị chủ yếu là: Vi phạm trong việc nhận, giao nộp tài liệu, chứng cứ; xác định sai tư cách người tham gia tố tụng, thiếu người tham gia tố tụng; vi phạm về thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho đương sự vắng mặt; vi phạm về án phí dân sự sơ thẩm, tính sai án phí; xác định sai, thiếu quan hệ tranh chấp; giải quyết vụ án không triệt để; thu thập chứng cứ chưa đầy đủ; xác định lãi suất không đúng; giải quyết vượt quá phạm vi khởi kiện, không đúng phạm vi khởi kiện của nguyên đơn; xác định nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng không đúng; chưa giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu; án tuyên không rõ nên không đảm bảo cho công tác thi hành án; vi phạm về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời… Luận văn: Thực trạng trách nhiệm của VKSND tỉnh Đắk Lắk.
Điển hình 1: Tại Bản án sơ thẩm số 57/2021/DSST ngày 08/12/2021 của TAND thị xã Buôn Hồ đã có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, giải quyết vụ án chưa khách quan, triệt để, tuyên án không thể thi hành ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp của đương sự, cụ thể: Bị đơn có yêu cầu phản tố về việc hủy Giấy CNQSDĐ cấp cho ông Út. Tòa án đã thụ lý yêu cầu phản tố của bị đơn theo quy định. Tuy nhiên án sơ thẩm cho rằng ông Út là người đứng tên trên Giấy CNQSDĐ, đồng thời là nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế đối với thửa đất trên, di sản được phân chia sẽ biến động, không cần thiết xem xét yêu cầu hủy Giấy CNQSDĐ là giải quyết vụ án chưa đầy đủ, vi phạm Điều 5 BLTTDS năm 2015. Ngân hàng và ông Út bà Vân ký hợp đồng tín dụng ngày 04/3/2021 để vay 300.000.000đ, thời hạn vay 36 tháng, lãi suất 11,5%/năm. Đến thời điểm xét xử thì khoản vay trên chưa đến hạn. Như vậy ông Út bà Vân vay tiền chưa đến hạn, do ông Sáng có yêu cầu hủy hợp đồng thế chấp nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Út bà Vân trả khoản vay trên. Trong trường hợp này Ngân hàng chưa đủ điều kiện khởi kiện vì khoản vay chưa đến hạn trả theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 192 BLTTDS. Án sơ thẩm tuyên ông Hóa và ông Sáng có nghĩa vụ hoàn trả giá trị di sản thừa kế cho những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Liên là chồng ông Sơn và các con là chị Liêm và chị Hồng tổng số tiền 548.034.700đ. Đồng thời phải họ phải liên đới chịu án phí số tiền 25.921.000đ, nhưng không xác định cụ thể số tiền mỗi người được hưởng và nghĩa vụ chịu án phí của là tuyên án không rõ, gây khó khăn cho công tác thi hành án. Ngoài ra án sơ thẩm giao toàn bộ diện tích 313m2, thửa 109, trên đất có 03 căn nhà cho ông Sáng và ông Hóa, nhưng không tuyên diện tích tứ cận và tài sản cụ thể mỗi người được giao là không đảm bảo công tác thi hành án. VKSND tỉnh đã kháng nghị bản án nêu trên và được Tòa án chấp nhận.
Điển hình 2: Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 45/2021/DSST ngày 26/9/2021 TAND huyện Ea Kar xác định thiếu người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ chưa đầy đủ: Tại thời điểm các bên giao đất trên thực địa có nhờ ông Phùng Văn Hiếu (nguyên là cán bộ địa chính; hiện nay là Phó chủ tịch UBND xã Ea Ô) tiến hành đo đạc đất và làm thủ tục sang tên, cấp Giấy CNQSDĐ cho gia đình bà Mến. Năm 2009, UBND huyện Ea Kar căn cứ vào biên bản kiểm tra xác minh ranh giới, hiện trạng và nguồn gốc sử dụng đất của UBND xã Ea Ô và kết quả thẩm tra của Văn phòng đăng ký QSDĐ huyện Ea Kar để cấp Giấy CNQSDĐ đối với thửa đất số 504, tờ bản đồ số 6 cho ông Nguyên bà Mến nhưng Tòa án không đưa UBND xã Ea Ô và UBND huyện Ea Kar vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; không tiến hành lấy lời khai của ông Hiếu, UBND xã Ea Ô và UBND huyện Ea Kar để làm rõ tại thời điểm chuyển nhượng QSDĐ, ông Bình, bà Tâm và ông Nguyên, bà Mến thỏa thuận lấy điểm mốc ở vị trí nào để đo 20m mặt đường nhựa, kéo dài từ phần tiếp giáp ranh đất của nhà ông Tỉnh về phía Bắc thì đến vị trí nào của thửa đất số 423; Tòa án không tiến hành thu thập tài liệu và đo đạc để xác định cụ thể vị trí, tứ cận, độ dài các cạnh của thửa đất số 504 và thửa đất số 423 đã được cấp Giấy CNQSDĐ có đúng với sơ đồ giải thửa ban đầu hay không; không xác minh làm rõ phần diện tích 259,6m² mà các bên đang tranh chấp đã được cấp Giấy CNQSDĐ cho ai, thuộc thửa đất nào là thu thập chứng cứ chưa đầy đủ. Tại đơn khởi kiện, nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn trả lại diện tích đất lấn chiếm 700m2 bao gồm phần đất đã được cấp Giấy CNQSDĐ; phần đất trước và sau chưa được cấp Giấy CNQSDĐ, Tòa án đã thụ lý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn tuy nhiên tại phần quyết định của bản án sơ thẩm tuyên “Đối với phần tổng diện tích 352,5m2 thuộc đất suối, đất ủy ban quản lý, sử dụng không được cấp Giấy CNQSDĐ, không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, nên không có cơ sở xem xét, giải quyết” là không đúng quy định pháp luật, giải quyết không hết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không tuyên án về phần không chấp nhận để tính án phí là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. VKSND huyện Ea Kar ban hành kháng nghị đối với bản án trên và được Tòa án chấp nhận. Luận văn: Thực trạng trách nhiệm của VKSND tỉnh Đắk Lắk.
Điển hình 3: Bản án dân sự sơ thẩm số 22/2021/DS-ST ngày 15/7/2021 của TAND huyện Krông Búk, vụ án:“Phân chia di sản thừa kế” giữa Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Liên, chị Trần Thị Hương, chị Trần Thị Hồng với Bị đơn: bà Trần Thị Hương đã có vi phạm về việc xác định và phân chia di sản thừa kế, cụ thể: Ông Bông chết không để lại di chúc. Án sơ thẩm xác định và phân chia di sản thừa kế chưa bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Cụ thể: Đối với Thửa đất số 151b: tại biên bản định giá tài sản ngày 21/02/2020 hội đồng định giá đã định giá theo giá thị trường là 2.268.000.000đ và giá trị tài sản trên đất là 356.654.443đ. Nhưng án sơ thẩm chỉ xem xét và chia giá trị QSDĐ mà không chia tài sản trên đất là giải quyết chưa hết yêu cầu của đương sự. Đối với Thửa đất số 43: Kết quả xác minh đất thuộc quản lý Công ty Sản xuất kinh doanh Lâm nông nghiệp Chư Né (Công ty) được UBND tỉnh thu hồi giao cho địa phương quản lý. Cấp sơ thẩm không đưa UBND huyện Krông Búk và Công ty Chư Né tham gia tố tụng để làm rõ quyền và nghĩa vụ giữa các bên liên quan đến các giao dịch từ hợp đồng giao khoán, việc thanh lý hợp đồng là thiếu người tham gia tố tụng. Xét thấy, nguồn gốc thửa đất, quyền và nghĩa vụ của các bên chưa được làm rõ nhưng cấp sơ thẩm đã xác định là di sản đồng thời phân chia di sản là không có khả năng thi hành án, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của UBND huyện Krông Búk và Công ty Chư Né. Đối với các tài sản tạo lập trên đất: chưa được cấp sơ thẩm làm rõ do ai tạo lập, đầu tư, chăm sóc và quản lý để xem xét, tính giá trị tài sản trên đất. Quá trình tố tụng người liên quan anh Thọ trình bày các tài sản trên thửa đất do anh tạo lập chăm sóc, quản lý nhưng cấp sơ thẩm không xác minh, thu thập mà đã xác định di sản là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng; ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của đương sự. Đối với các thửa đất số 46, 56 và 92: nằm ngoài diện tích đất hợp đồng với Công ty Chư Né. Kết quả xác minh thể hiện đất do hộ ông Bông khai hoang năm 1999, anh Thọ cho rằng diện tích đất anh Thọ quản lý canh tác 06ha. Tuy nhiên, trong đó chỉ có 03ha là đất do Lâm trường Cư Né cũ giao hợp đồng cho gia đình anh Thọ; còn lại là đất do anh khai hoang gồm 02ha đất và 01 ha đất hồ và rừng, việc khai hoang vào khoảng thời gian trước khi ông Bông chết khoảng 01 năm rưỡi. Xét thấy, tại đơn khởi kiện nguyên đơn yêu cầu chia 4,5ha, quá trình tố tụng thay đổi yêu cầu từ 4,5 ha lên 6,4ha, lời khai của anh Thọ và kết quả xác minh tại UBND xã Ea Sin về nguồn gốc đất có sự mâu thuẫn nhưng cấp sơ thẩm chưa thu thập tại chính quyền địa phương, các hộ có đất giáp ranh về quá trình khai hoang, quản lý, sử dụng và tạo lập tài sản trên 03 thửa đất trên mà xác định là di sản của ông Bông là chưa khách quan. Án sơ thẩm phân chia di sản nhưng không xem xét yêu cầu của nguyên đơn được chia bằng hiện vật mà chia giá trị bằng tiền, trong khi các thửa đất số 43, 46, 56, 92 có diện tích 6,4ha và liền kề nhau đảm bảo điều kiện về diện tích tối thiểu, công năng sử dụng; do đó, cần ưu tiên chia bằng hiện vật. VKSND huyện Krông Búk ban hành kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã chấp nhận kháng nghị. Luận văn: Thực trạng trách nhiệm của VKSND tỉnh Đắk Lắk.
Qua số liệu nêu trên cho thấy, một số đơn vị VKSND cấp huyện đã có sự chú trọng đúng mức đến công tác kháng nghị án dân sự ngang cấp cả về số lượng và chất lượng. Qua thực hiện công tác kháng nghị phúc thẩm đã khắc phục sai sót của án sơ thẩm về nhiều nội dung, qua đó đã khắc phục những vi phạm nghiêm trọng về thủ tục TTDS; Đồng thời, thông qua việc kháng nghị phúc thẩm, các đơn vị đã thể hiện rõ quan điểm của mình trong kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự; đảm bảo cho việc áp dụng pháp luật được nghiêm chỉnh và thống nhất; đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Thông qua công tác kiểm sát bản án, các KSV được phân công đã nghiên cứu kỹ bản án cả về nội dung và hình thức, sau đó đánh giá nhận xét trên phiếu kiểm sát bản án để trình Lãnh đạo đơn vị đề xuất kháng nghị hay không kháng nghị, nếu kháng nghị nêu rõ căn cứ pháp luật cần áp dụng. Trường hợp quá thời hạn kháng nghị phúc thẩm của cấp mình mới phát hiện vi phạm, đã kịp thời báo cáo qua Phòng 9 để kháng nghị theo đúng quy định của ngành. Khi phát hiện có vi phạm đến mức phải kháng nghị đã cương quyết kháng nghị và trước khi kháng nghị đã có sự trao đổi đối với các phòng nghiệp vụ của VKSND tỉnh nhằm đảm bảo việc kháng nghị là cần thiết, có căn cứ và đúng pháp luật. Nhiều kháng nghị đã phát hiện đúng, viện dẫn chính xác căn cứ pháp luật; tuân thủ đúng hướng dẫn và mẫu của ngành; lập luận rõ ràng, chặt chẽ, do vậy những thiếu sót, hạn chế về mặt hình thức, tính thiếu căn cứ trong các bản kháng nghị nên cấp trên bảo vệ kháng nghị đạt tỷ lệ cao. So với 12 tỉnh khu vực miền Trung – Tây nguyên thì ngành Kiểm sát nhân dân có số lượng kháng nghị nhiều nhất, chất lượng tương đối tốt. Điều đó thể hiện, ngoài việc nghiên cứu nắm vững chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như các quy định của pháp luật có liên quan, các đơn vị đã thể hiện đã chú trọng đến công tác kháng nghị, đảm bảo cho pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh và thống nhất; các quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự được bảo vệ, góp phần xây dựng hình ảnh, uy tín của ngành Kiểm sát nhân dân nói chung và ngành Kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk nói riêng. Ngoài ra, công tác phối hợp giữa các VKS cấp huyện và Phòng nghiệp vụ; giữa Phòng nghiệp vụ với VKSND cấp cao tại Đà nẵng được thường xuyên, chặt chẽ, kịp thời đạt hiệu quả tốt; các kháng nghị ngang cấp của VKS cấp tỉnh được bảo vệ đạt tỷ lệ 100%, các kháng nghị ngang cấp của VKS cấp huyện được bảo vệ đạt tỷ lệ trên 90% (vượt chỉ tiêu).
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì công tác kháng nghị phúc thẩm trong lĩnh vực dân sự giữa các đơn vị còn chưa đồng đều, về số lượng, chất lượng kháng nghị còn hạn chế; nhiều vụ việc Toà án cấp phúc thẩm tuyên huỷ, sửa bản án, quyết định có vi phạm của Tòa án cấp sơ thẩm nhưng VKS hai cấp không phát hiện vi phạm để ban hành kháng nghị; chất lượng một số kháng nghị chưa cao. Một số kháng nghị phần nội dung quá dài dòng, ngoài ghi lời khai nguyên đơn, bị đơn, tất cả những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và còn ghi cả lời khai nhân chứng, một số kháng nghị viết lặp đi lặp lại phần nội dung vụ án ở phần nhận thấy. Kháng nghị dài dòng vừa mất thời gian vừa gây khó khăn cho KSV nghiên cứu và bảo vệ kháng nghị, cũng như gây khó khăn cho Hội đồng xét xử khi nghiên cứu, đánh giá và quyết định giải quyết các yêu cầu của kháng nghị.
Một trong những nguyên tắc của BLTTDS là tôn trọng quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự, nên khi đương sự không kháng cáo thì VKS không kháng nghị, trừ những trường hợp vi phạm nghiêm trọng về tố tụng ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Khi Toà án cấp sơ thẩm tuyên bản án nếu đương sự đã thống nhất với bản án họ sẽ không kháng cáo hoặc nếu không thống nhất một phần trong bản án thì họ chỉ kháng cáo phần không thống nhất đó. Tuy nhiên một số VKS cấp huyện kháng nghị huỷ toàn bộ bản án, điều này làm ảnh hưởng chất lượng kháng nghị, giảm uy tín của Ngành, tạo tâm lý nghi ngờ, hoang mang cho đương sự, buộc họ phải làm đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm. Thực tế có một số VKS cấp huyện, thị xã, thành phố đưa ra lý do kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án sơ thẩm là không cần thiết, dẫn đến VKS tỉnh phải rút kháng nghị.
2.3 Đánh giá chung về trách nhiệm của VKSND tỉnh Đắk Lắk trong bảo vệ QCN thông qua hoạt động kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự Luận văn: Thực trạng trách nhiệm của VKSND tỉnh Đắk Lắk.
2.3.1 Thành tựu, ưu điểm và nguyên nhân
- Thành tựu, ưu điểm
Về công tác lãnh đạo của cấp ủy Đảng: Công tác kiểm sát giải quyết án dân sự tại VKSND tỉnh Đắk Lắk đã được cấp ủy Đảng quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo. Trong tổ chức và hoạt động của VKS luôn tuân thủ sự lãnh đạo của Đảng, coi đây là nguyên tắc, là yếu tố quyết định đến chất lượng công tác kiểm sát.
Về công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành của Lãnh đạo Viện: Lãnh đạo VKS chủ động đề ra các giải pháp đề cao trách nhiệm, tính chủ động, sáng tạo, sâu sát trong quản lý chỉ đạo điều hành, nắm tiến độ thực hiện nhiệm vụ của đơn vị nghiệp vụ, kịp thời chỉ đạo tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện công tác kiểm sát. Ngay sau khi dự Hội nghị triển khai công tác hàng năm do VKSND tối cao tổ chức, lãnh đạo VKS tỉnh đã chỉ đạo xây dựng kế hoạch, chương trình công tác của đơn vị trên cơ sở bám sát vào Chỉ thị công tác của Viện trưởng VKSND tối cao và tình hình chính trị địa phương. Hàng năm, Viện trưởng VKS tỉnh đều ban hành các kế hoạch về công tác kiểm tra, thanh tra, hội nghị, hội thảo, tập huấn, sơ kết, tổng kết các chuyên đề ngay từ đầu năm công tác. Theo đó, mỗi năm VKS tỉnh đã chủ trì tổ chức được từ 02 đến 03 hội nghị. Thành phần tham dự là toàn thể Lãnh đạo và cán bộ, KSV làm công tác kiểm sát giải quyết án dân sự. Tại các buổi hội nghị, Lãnh đạo Viện đã trực tiếp triển khai các quy định mới của pháp luật về chức năng, nhiệm vụ của VKS trong TTDS, các Chỉ thị của Viện trưởng VKSND tối cao đến cán bộ, KSV. Kết quả đã triển khai được những quy định mới của pháp luật, đánh giá lại thực tiễn công tác, những ưu điểm, hạn chế, khó khăn, vướng mắc trong thực hiện nhiệm vụ được giao. Lãnh đạo Viện cũng tăng cường công tác kiểm tra, theo dõi, đôn đốc việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của phòng nghiệp vụ, chỉ đạo cán bộ, KSV tăng cường kỷ cương, kỷ luật, đề cao tinh thần trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ.
Về xây dựng, củng cố đội ngũ cán bộ, KSV về số lượng, chất lượng: Trong những năm qua, VKSND tỉnh Đắk Lắk đã tập trung tăng cường cho Phòng Nghiệp vụ kiểm sát các vụ án dân sự 10 biên chế, trong đó có 05 KSV trung cấp, 03 KSV sơ cấp, 02 Chuyên viên để thực hiện nhiệm vụ, có 08/8 KSV đã qua đào tạo Lý luận chính trị ở các bậc trung cấp, cao cấp và 08/8 KSV đã qua đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về QLNN. Nhìn chung, đội ngũ cán bộ, KSV đều có tư tưởng chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, tận tụy với công việc sẵn sàng thực hiện và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Lãnh đạo VKSND tỉnh Đắk Lắk thường xuyên chỉ đạo tăng cường trách nhiệm của cán bộ, KSV trong việc kiểm sát các thông báo thụ lý, các bản án, quyết định của Toà án để kịp thời phát hiện vi phạm, thực hiện quyền kháng nghị, kiến nghị theo quy định pháp luật và tạo được sự chuyển biến tích cực trong công tác nghiệp vụ; trong đó kiểm sát các bản án, quyết định của Tòa án và chuyển bản án, quyết định sơ thẩm lên VKS cấp phúc thẩm đã được chú trọng hơn. Luận văn: Thực trạng trách nhiệm của VKSND tỉnh Đắk Lắk.
Lãnh đạo phòng 9-VKSND tỉnh đã phân công KSV, chuyên viên mở sổ ghi chép theo dõi việc thụ lý của Toà án, Kiểm sát chặt chẽ về hình thức và nội dung thông báo đối chiếu với quy định tại pháp luật tố tụng; lập phiếu kiểm sát để kiểm sát quá trình giải quyết vụ việc, đảm bảo tất cả các vụ việc đều được kiểm sát. Các vụ án tham gia xét xử đều lập hồ sơ kiểm sát đầy đủ. Cán bộ, KSV thường xuyên cập nhật, nghiên cứu những văn bản pháp luật để phục vụ tốt cho công việc chuyên môn. Hoạt động kiểm sát xét xử tại phiên tòa đã được các KSV chú trọng, thể hiện ở khâu lập hồ sơ kiểm sát đầy đủ, sắp xếp khoa học, nghiên cứu kỹ hồ sơ và có báo cáo đề xuất quan điểm giải quyết đối với vụ án, sau đó trình Lãnh đạo Viện. VKS đáp ứng yêu cầu tham gia các phiên tòa theo TTDS và đã tham gia xét xử đạt tỉ lệ 100%. Quan điểm của VKS phần lớn thống nhất với Tòa án. Đối với các vụ án bị cấp phúc thẩm sửa, hủy án sơ thẩm (kể cả những vụ có kháng nghị và những vụ không có kháng nghị) đều tổng hợp thông báo rút kinh nghiệm đối với cấp huyện, qua đó, giúp cho cán bộ, KSV các đơn vị tích lũy kinh nghiệm và kỹ năng kiểm sát phát hiện vi phạm. Kỹ năng và trách nhiệm của KSV tại phiên tòa đã được nâng cao đáng kể; nhận thức về vai trò và trách nhiệm của những người tham gia tố tụng trong quá trình kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự, hôn nhân và gia đình cũng đã được cán bộ và KSV nhận thức rõ ràng hơn. Qua đó đã góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ và KSV của Ngành ngày càng trưởng thành, đáp ứng tốt hơn yêu cầu và nhiệm vụ trong tình hình mới.
Về quan hệ phối hợp trong ngành: Trên cơ sở Quy chế nghiệp vụ của Ngành, trong chương trình, kế hoạch công tác hàng năm, sự phối hợp của VKS các cấp trong công tác kiểm sát việc giải quyết án dân sự được VKSND tỉnh Đắk Lắk đề cao, điển hình trong công tác báo cáo, trả lời thỉnh trị, báo cáo kết quả xét xử, việc gửi phiếu kiểm sát bản án và công tác hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ. Công tác phối hợp đã được VKS các cấp thực hiện tốt. Ngoài ra, nhiều công văn trao đổi nghiệp vụ và hướng dẫn áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự, BLTTDS đã được ban hành cho VKSND cấp huyện. Năm 2018, 2019 ngành đã phối hợp với Trường đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát tại TP. Hồ Chí Minh tổ chức 02 lớp tập huấn tại VKSND tỉnh Đắk Lắk về: “Kỹ năng kiểm sát bản án, quyết định dân sự của Tòa án; Kỹ năng thực hiện quyền kiến nghị, kháng nghị trong giải quyết các vụ việc dân sự” và “Kỹ năng kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự” cho toàn ngành. Khi có vướng mắc, phương tiện hỗ trợ mà đa số các cán bộ và KSV cấp huyện sử dụng là việc gọi điện thoại hoặc gặp trực tiếp KSV quản lý huyện để thuận tiện trong việc trao đổi. Phòng 9 đã xây dựng một số chuyên đề để tiếp tục tập huấn cho các VKSND cấp huyện nghiên cứu vận dụng trên thực tiễn (trước khi có hướng dẫn, quy định của VKSND tối cao);…
Về quan hệ phối hợp liên ngành: VKSND tỉnh Đắk Lắk giữ mối quan hệ phối hợp tốt với Tòa án và các cơ quan chính quyền ở địa phương. Sau khi BLTTDS năm 2015 có hiệu lực thi hành, giữa VKSND tỉnh Đắk Lắk và TAND tỉnh Đắk Lắk đã tiến hành xây dựng quy chế phối hợp trong việc giải quyết án dân sự để trên cơ sở nội dung của Quy chế, hai ngành sẽ phối hợp thực hiện tốt nhiệm vụ của mình. Hiện nay, Quy chế đã được ký kết ban hành và tiến hành quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc và chủ động trong toàn ngành nhằm tiếp tục tâng cường, nâng cao hiệu quả công tác phối hợp giữa VKSND và TAND trong công tác giải quyết các vụ việc dân sự. Với Ủy ban nhân dân tỉnh và các cơ quan chính quyền địa phương, VKS chưa xây dựng được quy chế phối hợp, tuy nhiên trong quá trình công tác cũng tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của các cơ quan này đề hoàn thành tốt nhiệm vụ của ngành, của địa phương giao cho. Luận văn: Thực trạng trách nhiệm của VKSND tỉnh Đắk Lắk.
Về kết quả công tác kiểm sát: Trong lĩnh vực TTDS, chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử vụ, việc dân sự của Tòa án được thực hiện bởi VKSND các cấp. Điều này góp phần vào việc bảo vệ QCN trong TTDS thông qua nhiệm vụ và quyền hạn của VKSND trong việc giải quyết các vụ, việc dân sự. Nhiều vi phạm đã được phát hiện thông qua việc kiểm sát việc giải quyết vụ, việc dân sự bởi VKS các cấp. Qua những hoạt động này, các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, công dân đã được bảo vệ một cách quan trọng mà không bị xâm hại. Qua hoạt động kiểm sát các bản án, quyết định dân sự, trong thời gian qua, VKS các cấp đã phát hiện, ban hành nhiều kháng nghị phúc thẩm. Đa số những kháng nghị này đã được chấp nhận bởi Tòa án (chiếm tỷ lệ cao), và được đưa ra xét xử với tỷ lệ cao, thường vượt qua chỉ tiêu theo Nghị quyết của Quốc hội. Bên cạnh đó, VKS các cấp còn phát hiện nhiều vi phạm của toà án để kịp thời ban hành kiến nghị yêu cầu Toà án khắc phục. Các thông báo về việc rút kinh nghiệm nghiệp vụ đã được ban hành đối với VKS cấp dưới nhằm mục đích kịp thời phát hiện và khắc phục vi phạm. Qua quá trình thực hiện công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự, đã được nhận thấy rằng việc phát hiện các vi phạm của Tòa án chủ yếu thông qua việc kiểm sát các bản án, quyết định, thông qua việc nghiên cứu hồ sơ vụ án, và thông qua việc tham gia phiên tòa, phiên họp. Do đó, nhiều vi phạm của Tòa án trong quá trình giải quyết các vụ, việc dân sự đã được phát hiện và từ đó đã ban hành nhiều kháng nghị, kiến nghị để Tòa án khắc phục bởi VKS, trên cơ sở đó, các quyền của người tham gia TTDS đã được bảo vệ. Nhiều kháng nghị phúc thẩm đã được ban hành bởi VKSND hai cấp và đạt rất cao tỷ lệ chấp nhận từ Tòa án, các vụ án được xét xử lại theo đúng quy định góp phần quan trọng để bảo vệ QCN.
- Nguyên nhân của những kết quả đạt được:
Nguyên nhân khách quan: Những kết quả được đạt được như trên là thành tựu của sự quan tâm đặc biệt đến công tác tư pháp từ Đảng và Nhà nước trong những năm qua, trong đó Nghị quyết 49 – NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 là điều đáng chú ý. Để thực hiện chủ trương của Đảng thì hệ thống văn bản pháp luật cũng được hoàn thiện hơn để đáp ứng yêu cầu đặt ra. Nhận thức được tầm quan trọng và để thực hiện Nghị quyết nêu trên của Đảng, VKS đã tích cực, chủ động trong việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, đổi mới cơ cấu, tổ chức, công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành cũng như tăng cường công tác phối hợp với các chủ thể liên quan để tạo tiền đề cho việc thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị mà Đảng và Nhà nước giao. Cấp ủy Đảng đã có nhiều đổi mới trong phương thức lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác kiểm sát giải quyết án dân sự. Không chỉ dừng lại ở việc lãnh đạo, chỉ đạo thông qua các Chỉ thị, Nghị quyết mà còn tăng cường công tác kiểm tra và chỉ đạo trực tiếp đối với những vụ án phức tạp, dư luận quan tâm.
Lãnh đạo Viện đã có sự quan tâm chỉ đạo, kịp thời triển khai các văn bản pháp luật mới đến toàn thể cán bộ – KSV làm công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc Dân sự – Hôn nhân gia đình. Tạo điều kiện cho cán bộ – KSV được tham gia tập huấn những quy định mới của BLTTDS, triển khai, phổ biến, rút kinh nghiệm theo chuyên đề nghiệp vụ, tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm nhằm nâng cao, kỹ năng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của KSV. Qua đó, chất lượng công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự ngày càng được nâng lên. Luận văn: Thực trạng trách nhiệm của VKSND tỉnh Đắk Lắk.
Về quan hệ công tác giữa VKS với Tòa án trong việc giải quyết án trên nguyên tắc phối hợp, tôn trọng, tạo điều kiện hỗ trợ nhau thực hiện tốt nhiệm vụ như việc gửi bản án, quyết định, chuyển và trả hồ sơ, trao đổi nghiệp vụ. Có sự sắp xếp, bố trí cán bộ, KSV phù hợp với năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ góp phần nâng cao hiệu quả trong quá trình làm việc.
Nguyên nhân chủ quan: Quá trình thực hiện công tác kiểm sát, đơn vị đã triển khai, vận dụng những quy định mới của BLTTDS năm 2015, Bộ luật Dân sự năm 2015, các Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán, Thông tư hướng dẫn và các văn bản pháp luật có liên quan để thực hiện việc kiểm sát tất cả các vụ, việc do Tòa án thụ lý và giải quyết, bắt đầu từ khi Tòa án có thông báo trả lại đơn khởi kiện, thụ lý, giải quyết vụ, việc cho đến khi Tòa án ra các quyết định và bản án. Bên cạnh đó, đơn vị cũng đã bám sát kế hoạch công tác năm và quy chế công tác kiểm sát của ngành và thực hiện các bước kiểm sát theo đúng trình tự, thủ tục và đảm bảo theo đúng chức năng, nhiệm vụ của ngành trong việc thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS. Các trường hợp VKS phải tham gia phiên tòa, phiên họp theo quy định tại Điều 21 BLTTDS năm 2015 đều được KSV nghiên cứu, lập hồ sơ và tham gia phiên tòa, phiên họp theo quy định, không để vụ nào Tòa án phải hoãn phiên tòa do lỗi của KSV. Việc xây dựng hồ sơ kiểm sát đảm bảo theo đúng quy định của Ngành. KSV tham gia phiên tòa đã sắp xếp các tài liệu có trong hồ sơ vụ án hợp lý, khoa học, có trích cứu và phô tô những tài liệu, chứng cứ quan trọng để phục vụ cho việc giải quyết vụ án. KSV đã đầu tư nghiên cứu kỹ và đã chọn lọc, đánh giá các chứng cứ dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án, quan điểm của VKS về đường lối giải quyết vụ án thống nhất với quan điểm giải quyết vụ án của Hội đồng xét xử. Tại phiên tòa, KSV đã tham gia xét hỏi và làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án. Bản phát biểu của KSV được chuẩn bị kỹ càng, việc nhận xét về việc tuân theo pháp luật TTDS của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án. Về nội dung đã phân tích được các vi phạm pháp luật trong việc thu thập chứng cứ, vi phạm về thời hạn tố tụng và việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của đương sự, những người tham gia tố tụng khác và đề xuất quan điểm giải quyết vụ án rõ ràng. Qua nghiên cứu hồ sơ và tham gia phiên tòa, phiên họp đã phát hiện nhiều vi phạm của Tòa án trong việc thụ lý và giải quyết án dân sự và thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định. Đặc biệt, đơn vị luôn chú trọng và thực hiện có hiệu quả Chỉ thị 10/CT-VKSTC ngày 06/4/2016 của Viện trưởng VKSND tối cao về tăng cường công tác kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm dân sự, hành chính. Có được kết quả đó là nhờ đội ngũ cán bộ, KSV luôn có tinh thần trách nhiệm, có tâm với nghề, cầu tiến trong chuyên môn để kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với các chủ thể hữu quan áp dụng pháp luật đúng quy định, góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức.
2.3.2 Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân Luận văn: Thực trạng trách nhiệm của VKSND tỉnh Đắk Lắk.
- Tồn tại, hạn chế
Bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình thực hiện nội dung của công tác kiểm sát giải quyết án dân sự vẫn còn những tồn tại, hạn chế đó là:
Trong công tác lãnh đạo, quản lý, chỉ đạo, điều hành của cấp ủy Đảng và Lãnh đạo VKS: Sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng đôi lúc chưa thường xuyên, kịp thời. Vì vậy, vẫn còn một số vụ án dân sự bị người dân khiếu nại gay gắt đến cấp ủy do các cơ quan tố tụng giải quyết chậm trễ so với thời hạn pháp luật quy định. Công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành tuy đã được sự quan tâm của Lãnh đạo VKS nhưng chưa sâu sát, toàn diện. Về cơ bản, công tác chỉ đạo, điều hành chủ yếu dựa trên báo cáo của KSV, việc trực tiếp nghiên cứu hồ sơ, sổ sách thụ lý giải quyết ít được thực hiện, công tác thanh tra, kiểm tra chưa được tiến hành thường xuyên.
Trong cơ cấu tổ chức, bộ máy: Cơ cấu tổ chức bộ máy đã được đổi mới nhưng chưa thật sự hợp lý, chưa đảm bảo tính chuyên sâu. Phòng nghiệp vụ phụ trách công tác kiểm sát giải quyết án dân sự nhưng hiện nay còn phải kiêm nhiệm cả công tác kiểm sát giải quyết án Hôn nhân gia đình, kiểm sát giải quyết đơn và kiểm sát bản án, quyết định của cấp huyện (trong khi Tòa án tương ứng là 03 phòng ban riêng biệt nên thuận tiện hơn trong việc phát hiện vi phạm). Mặc dù kiểm sát nhiều lĩnh vực khác nhau nhưng về biên chế đơn vị chỉ có 05 KSV trung cấp (kể cả Lãnh đạo phòng) vừa nghiên cứu, phô tô hồ sơ và thực hiện các hoạt động tố tụng; 03 KSV sơ cấp và 02 Chuyên viên chính vừa kiêm nhiệm công tác văn phòng vừa nghiên cứu, phô tô hồ sơ (KSV sơ cấp không được thực hiện các hoạt động tố tụng đối với án thuộc thẩm quyền của cấp tỉnh). Đối với đội ngũ cán bộ, KSV cấp huyện phải kiêm nhiệm nhiều bộ phận công tác cả hình sự lẫn dân sự, thậm chí làm cả mảng đơn, mảng báo cáo thống kê chứ không như cán bộ, KSV cấp tỉnh làm ở phòng nào thì chỉ nghiên cứu án của phòng đó. Do đó, cũng gây khó khăn cho quá trình thực hiện việc kiểm sát giải quyết các vụ án dân sự.
Năng lực của đội ngũ cán bộ, KSV: Một số cán bộ, KSV năng lực còn hạn chế, việc thực hiện các kỹ năng nghiệp vụ cũng như công tác tham mưu cho Lãnh đạo Viện chưa đảm bảo yêu cầu. Các vụ án có vi phạm nhưng không được phát hiện dẫn đến bị cấp phúc thẩm tuyên sửa, hủy án đều có liên quan đến trách nhiệm của KSV do chưa làm tốt công tác kiểm sát. Kết quả thực hiện công tác kiểm sát mặc dù đã được nâng cao qua từng năm nhưng nhìn chung còn thấp: Công tác kháng nghị đã được quan tâm chú trọng nhưng vẫn còn kháng nghị chưa đảm bảo chất lượng không được cấp phúc thẩm chấp nhận; Việc thực hiện các quyền yêu cầu còn hạn chế, KSV vẫn chưa tự thực hiện các biện pháp thu thập chứng cứ mà chỉ yêu cầu Tòa thu thập chứng cứ. Về phía người bị kiện nhiều trường hợp không cung cấp chứng cứ cho Tòa án để làm căn cứ giải quyết vụ án nhưng VKS không kiến nghị dẫn đến tình trạng vụ án thiếu chứng cứ không có cơ sở để giải quyết phải để kéo dài.
Đối với cán bộ, KSV, bên cạnh công tác kiểm sát việc giải quyết án dân sự theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm do TAND tỉnh giải quyết thì còn phải hướng dẫn nghiệp vụ cho VKS cấp huyện và kiểm sát bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án cấp huyện. Các bản án, quyết định của Tòa án cấp huyện có vi phạm, sai sót mà không được kháng nghị phúc thẩm thì có trách nhiệm của tập thể cán bộ, KSV của phòng. Do đó, nếu làm tốt công tác hướng dẫn nghiệp vụ và kiểm sát các bản án, quyết định của cấp huyện thì chất lượng công tác kiểm sát phúc thẩm sẽ được nâng cao. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà thời gian qua việc kiểm sát bản án, quyết định Tòa án cấp huyện còn hạn chế.
Trong quan hệ phối hợp trong công tác của các chủ thể liên quan: Công tác phối hợp trong ngành và liên ngành trong những năm qua đã được đề cao nhưng việc phối hợp đôi lúc còn chưa tốt làm hạn chế hiệu quả công tác kiểm sát. Chưa xây dựng được quy chế phối hợp với Ủy ban nhân dân địa phương trong việc giải quyết án dân sự nên chưa tạo được sự hợp tác tích cực của Ủy ban nhân dân cũng như các cơ quan chuyên môn ở địa phương trong việc tham gia quá trình giải quyết vụ án cũng như việc cung cấp tài liệu, chứng cứ làm căn cứ giải quyết vụ án.
- Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế: Luận văn: Thực trạng trách nhiệm của VKSND tỉnh Đắk Lắk.
Nguyên nhân khách quan: Trong suốt những năm qua, đã có nhiều thay đổi về chính sách và văn bản pháp luật liên quan đến đất đai, nhà ở, hôn nhân và gia đình, dân sự. Một số văn bản pháp luật đã gây ra mâu thuẫn và chưa được các cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn kịp thời, gây khó khăn cho việc tiến hành tố tụng trong việc nhận thức và áp dụng pháp luật. Mặc dù công tác xây dựng hoàn hiện pháp luật thời gian qua đã được quan tâm, chú trọng nhưng thực tế áp dụng các quy định pháp luật thấy còn nhiều bất cập nhất là những quy định của BLTTDS, quy định về chức năng, nhiệm vụ của VKS trong TTDS được mở rộng nhưng nhiều nội dung còn bất cập, không có tính khả thi. Một mặt khác, việc hướng dẫn và giải thích pháp luật của cơ quan có thẩm quyền chưa được thực hiện đều đặn và đồng bộ, dẫn đến sự không nhất quán trong việc nhận thức, đánh giá và áp dụng, gây khó khăn trong việc giải quyết nhiều vụ án. Các vụ án bị huỷ hoặc sửa đổi chủ yếu là những vụ án có nội dung phức tạp, điều chỉnh theo nhiều quy phạm pháp luật và trải rộng ở nhiều giai đoạn trong lĩnh vực đất đai và nhà ở. Ngoài ra, tình hình biến động về đất đai và tăng giá trị QSDĐ diễn ra thường xuyên ở một số địa phương; công tác quản lý và cấp giấy chứng nhận QSDĐ của một số nơi còn nhiều sai sót trong việc điều chỉnh diện tích thực tế sử dụng. Điều này gây ra tranh chấp ngày càng gay gắt và phức tạp về QSDĐ. Hòa giải tại cơ sở cho tranh chấp về đất đai chỉ mang tính hình thức và chưa được coi trọng theo mức cần thiết. Tại một số nơi, việc hòa giải không được tiến hành theo quy trình hoặc không có sự tham gia toàn diện của các bên liên quan. Các cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai không hợp tác và thiếu thông tin cho Tòa án hoặc không tuân theo yêu cầu xác minh của Tòa án theo qui định của pháp luật trong khi giải quyết tranh chấp về đất đai, từ dó làm cho việc thu thập và xác minh thông tin ở cấp sơ thẩm gặp rất nhiều khó khăn. Do tính chất phức tạp, rất khó để phát hiện các vi phạm qua kiểm tra bản án và quyết định của Tòa án. Trong lĩnh vực dân sự, VKSND không tham gia vào việc giải quyết tranh chấp và không xem xét lại hồ sơ từ ban đầu. Việc như công nhận sự thỏa thuận của các bên liên quan hoặc việc quyết định công nhận sự thỏa thuận, tạm hoãn… yêu cầu có hồ sơ vụ, việc hoặc trực tiếp tham gia kiểm tra, hoặc có khiếu nại, yêu cầu từ các bên liên quan mới có thể nghiên cứu để phát hiện vi phạm, thiếu sót của Tòa án. Như vậy, điều này làm hạn chế công tác kiểm sát bản án và quyết dịnh này, nhất là ở VKS cấp phúc thẩm chỉ kiểm sát trên cơ sở bản án và phiếu kiểm sát của VKS cấp huyện gửi lên mà không trực tiếp nghiên cứu hồ sơ hay tham gia phiên toà như ở VKS cấp sơ thẩm.
Nguyên nhân chủ quan: Năng lực và trình độ của đội ngũ KSV không đồng đều, chủ yếu là những KSV mới bổ nhiệm hoặc mới được luân chuyển từ khâu công tác kiểm sát này qua khâu công tác kiểm sát khác chưa được đào tạo kĩ, do đó chưa thể thực hiện tốt công tác kiểm sát bản án, quyết định của Toà án theo tinh thần các Chỉ thị về nâng cao chất lượng kiểm sát giải quyết các vụ án dân sự. Hầu hết đội ngũ cán bộ, KSV đều đang đảm nhiệm nhiều công việc khác nhau, vì vậy chủ yếu là các KSV mới không có nhiều kinh nghiệm, không được bồi dưỡng các kiến thức chuyên môn. Do đó, kỹ năng phát hiện vi phạm còn hạn chế, và một số vi phạm của Tòa án vẫn chưa được phát hiện. Công tác tham mưu cho Lãnh đạo cũng không đáp ứng yêu cầu do vẫn có trường hợp báo cáo không được Lãnh đạo Viện ký duyệt do thiếu căn cứ… Về trình độ chuyên môn và nghiệp vụ, có những trường hợp không đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ và khối lượng công việc cũng như tính dạng, tính phức tạp của án dân sự trong điều kiện hiện tại. Tâm lý thiếu sự tự tin và coi nhẹ dẫn đến việc thiếu sự chủ động và chậm tiến triển trong việc tích lũy kinh nghiệm và kỹ năng. Họ cũng ít rèn luyện kỹ thuật ngành và ít tiếp tục học hỏi để cải thiện trình độ. Cùng với việc ít tiếp tục theo dõi thông tin từ các người có thẩm quyền cao hơn hay các sự thay đổi trong luật pháp đã khiến cho trình độ của họ không cao, gây ra hiệu suất làm việc không cao. Nghiên cứu hồ sơ, kiểm sát giải quyết vụ án không kỹ, bỏ sót hoặc không tuân thủ đầy đủ quy trình nghiệp vụ, dẫn đến không phát hiện được vi phạm hoặc còn chủ quan khi nhận định về tính chất, mức độ của vi phạm không chính xác nên không tham mưu thực hiện được quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị phù hợp. Công tác kiểm sát giải quyết vụ việc dân sự chưa thật sự được coi trọng và đầu tư các nguồn lực để bảo đảm thực hiện tốt, nhất là đối với các đơn vị cấp huyện. Tình trạng cấp dưới không gửi, gửi chậm bản án, quyết định lên VKS cấp trên dẫn đến không còn thời hạn để kháng nghị phúc thẩm. Công tác tổng kết, rút kinh nghiệm chưa được thực hiện thường xuyên, việc triển khai thực hiện các chuyên đề nghiệp vụ, thông báo rút kinh nghiệm còn mang tính hình thức, chưa thực sự hiệu quả.
Những nguyên nhân này đã gây tác động, ảnh hưởng nhất định đến chất lượng kiểm sát của VKSND tỉnh Đắk Lắk trong thời gian qua, đòi hỏi phải có những giải pháp kịp thời để khắc phục những tồn tại hạn chế, phát huy những mặt thuận lợi nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với các vụ án dân sự của VKSND tỉnh Đắk Lắk trong thời gian tới.
Tiểu kết chương 2 Luận văn: Thực trạng trách nhiệm của VKSND tỉnh Đắk Lắk.
Qua việc nghiên cứu thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành bảo vệ QCN trong hoạt động TTDS của VKSND ở Việt Nam hiện nay, chúng ta đã có được cái nhìn tổng quan, khái quát về những quy định của pháp luật TTDS liên quan đến việc bảo vệ QCN trong hoạt động TTDS tại VKSND tỉnh Đắk Lắk vào thời điểm hiện tại. Trong nội dung của chương 3, đã làm nội bật được một số vấn đề sau: Thứ nhất, khái quát được về tình hình các vụ việc dân sự và giải quyết các vụ việc dân sự tại tỉnh Đắk Lắk. Thứ hai, phân tích tình hình thực hiện trách nhiệm của VKSND tỉnh Đắk Lắk trong bảo vệ QCN thông qua hoạt động kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự. Phần nội dung trên đã trình bày rõ về thực trạng trách nhiệm bảo vệ QCN thông qua hoạt động kiểm sát kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự của VKSND tỉnh Đắk Lắk. Thứ ba, đánh giá thực tiễn những ưu điểm, hạn chế, khó khăn, vướng mắc trong thực hiện bảo vệ QCN trong hoạt động TTDS tại VKSND tỉnh Đắk Lắk hiện nay. Trên cơ sở những quy định của pháp luật hiện hành, việc thực thi nhiệm vụ bảo vệ QCN trong hoạt động TTDS tại VKSND tỉnh Đắk Lắk đã thu được những thành tựu nhất định, góp phần tích cực thực hiện nhiệm vụ bảo vệ QCN của VKSND nói riêng và của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam nói chung. Tuy nhiên, bên cạnh thành tựu, hoạt động này cũng tồn tại nhiều hạn chế, vướng mắc làm ảnh hưởng tiêu cực, thậm chí xâm hại đến việc bảo vệ QCN. Trong hoạt động TTDS của VKSND, việc bảo vệ tốt hơn QCN đòi hỏi phải tập trung làm rõ nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc đã được nêu trên nhằm đề ra những biện pháp khắc phục trong giai đoạn tiếp theo. Luận văn: Thực trạng trách nhiệm của VKSND tỉnh Đắk Lắk.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp trách nhiệm của VKSND tỉnh Đắk Lắk

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
