Luận văn: Giải pháp trách nhiệm của VKSND tỉnh Đắk Lắk

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp trách nhiệm của VKSND tỉnh Đắk Lắk hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Quan điểm và giải pháp tăng cường trách nhiệm của VKSND tỉnh Đắk Lắk trong bảo vệ QCN thông qua kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1 Quan điểm về tăng cường đảm bảo QCN thông qua hoạt động kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự

Bảo vệ QCN thông qua hoạt động kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự của VKSND căn cứ trên cơ sở quan điểm, chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước đối với QCN: Đảng ta có quan điểm nhất quán đó là bảo vệ và phát triển QCN vừa là một nhiệm vụ lớn hiện nay vừa là lý tưởng phấn đấu của những người Cộng sản; là bản chất của chế độ XHCN; là cốt lõi của Chủ nghĩa Mác – Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Trên cơ sở ấy, Hiến pháp năm 2013 đã quy định rõ khái niệm QCN, QCD ở chương 2, thể chế hoá tư tưởng dân chủ tiến bộ của Đảng ta. Nhà nước Việt Nam đã cụ thể hoá quan điểm trên của Đảng cộng sản Việt Nam thành pháp luật để phân định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của công dân, pháp nhân cũng như trách nhiệm của Nhà nước đối với việc thực thi các quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ công dân. Pháp luật và quyền lực nhà nước mà trực tiếp là các chủ thể được giao nắm quyền lực nhà nước là những phương thức, công cụ quan trọng đảm bảo các nghị quyết, chủ trương về QCN của Đảng được hiện thực hoá vào cuộc sống xã hội. Trong các công cụ và phương thức trên thì VKS và hoạt động công tố giữ vai trò then chốt đối với việc bảo vệ và phát triển QCN. Bảo vệ QCN thông qua hoạt động TTDS là một trong những mục tiêu nhằm phát triển yếu tố con người được Đảng và Nhà nước ta đã đặt ra trong đường lối phát triển kinh tế – xã hội. Vì thế, kiểm sát có mối liên hệ chặt chẽ với các mục tiêu công tác bảo vệ QCN nói riêng và các mục tiêu khác của nền kinh tế, xã hội, văn hoá. .. nói chung.

Bảo vệ QCN thông qua hoạt động TTDS của VKSND đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Nhà nước pháp quyền XHCN là nhà nước mà nơi đó mọi hoạt động của nhà nước phải hướng đến sự thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm QCN được thi hành nghiêm chỉnh trong thực tiễn cuộc sống xã hội. Chính vì thế, trong các nghị quyết của Đảng về chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN đều khẳng định quan điểm: Đảm bảo QCN là mục tiêu cao nhất của việc thực thi quyền lực nhà nước. Tôn trọng và bảo đảm QCN, gắn QCN với quyền và lợi ích của nhân dân, đất nước và quyền làm chủ của công dân; và yêu cầu Nhà nước tôn trọng và bảo vệ quyền QCN, QCD; chăm sóc sức khoẻ, sự phát triển lành mạnh của từng người dân [19]. Pháp luật được xem như là phương tiện và công cụ cơ bản, được sử dụng để đảm bảo chủ trương và đường lối về QCN của Đảng được hiện thực vào đời sống xã hội thông qua hệ thống các cơ quan nhà nước. VKSND, trong vai trò của mình, sử dụng pháp luật như là công cụ chính để đảm bảo và bảo vệ QCN. Không chỉ trừng trị những hành vi xâm hại và hủy hoại QCN, mà còn khôi phục và giữ gìn một cách nguyên vẹn các quyền đó. Đồng thời, việc này cũng củng cố niềm tin vào sự công bằng của pháp luật và chế độ xã hội chủ nghĩa của nhà nước ta. Để thực hiện vai trò này, việc bảo đảm việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và cải cách tư pháp nói chung, đổi mới VKSND nói riêng phải được thực hiện sao cho phù hợp với chủ trương, đường lối và chính sách của Đảng về QCN trong hoạt động TTDS. Đồng thời, hoạt động kiểm sát tư pháp cũng phải hiện thực hóa được chủ trương và chính sách trên vào đời sống xã hội. Luận văn: Giải pháp trách nhiệm của VKSND tỉnh Đắk Lắk.

Trong công tác kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự của VKSND, công tác bảo vệ QCN được gắn kết với chiến lược cải cách tư pháp: Để nâng cao hiệu lực bảo vệ QCN đối với công tác kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự của VKSND và phù hợp với chiến lược cải cách tư pháp ở Việt Nam giai đoạn tiếp theo, phải quán triệt đầy đủ quan điểm, tư tưởng, lý luận về cải cách tư pháp đã được khẳng định tại các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, cụ thể là Nghị quyết số 49 – NQ/TW ngày 02-6-2005 Về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và Nghị quyết số 48 – NQ/TW ngày 24-5-2005 Về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống tư pháp Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020. Báo cáo sơ kết 8 năm triển khai Nghị quyết số 49 – NQ/TW và Kết luận số 92 – KL/TW ngày 12-3-2014 của Bộ Chính trị. Mục tiêu của Chiến lược cải cách tư pháp là xây dựng hệ thống tư pháp trong sạch, toàn diện, công bằng, kỷ cương, bảo vệ pháp luật, từng bước hiện đại hoá, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam XHCN. Nội dung mà chiến lược cải cách tư pháp hướng đến cũng chú ý điểm tương đồng nhất định với vai trò và nhiệm vụ của VKS. Nhiệm vụ bảo vệ QCN được thực hiện bởi VKS, tuân theo pháp luật và công lý, là trách nhiệm cần thiết của xã hội. Do đó, việc nâng cao vai trò của VKS trong bảo vệ QCN phải được liên kết chặt chẽ với việc xây dựng hệ thống VKS mạnh mẽ, dân chủ và minh bạch, để bảo vệ công lý và cao quý nhiệm vụ phục vụ nhân dân. Điều này đặt ra yêu cầu cao cho việc tăng cường vai trò của VKS trong bảo vệ QCN không chỉ thông qua việc tăng cường vai trò của VKS mà còn thông qua việc tăng cường vai trò của các cơ quan tư pháp khác trong công tác bảo vệ QCN.

Bảo vệ QCN thông qua hoạt động kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự của VKSND nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế: Bảo vệ QCN của cơ quan tư pháp nói chung và của VKSND nói riêng là một nhiệm vụ rất trọng tâm của công cuộc cải cách tư pháp và là yêu cầu cấp thiết đối với tiến trình hội nhập quốc tế và đất nước; nó là thước đo thực chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Bảo vệ QCN của VKSND là phải gắn với công lý và sự thật của cuộc sống cho nên nâng cao hiệu quả bảo vệ QCN thông qua hoạt động tố tụng của VKSND cần gắn kết chặt chẽ với việc xây dựng tổ chức VKSND trong sạch, vững mạnh, công bằng, liêm khiết, bảo vệ pháp luật và coi trọng nhiệm vụ phụng sự nhân dân. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế thì những hành động xâm hại, phá hoại QCN không những chỉ bó hẹp trong khuôn khổ biên giới quốc gia mà có thể đi quá phạm vi của một quốc gia và cần có sự phối, kết hợp giữa các quốc gia cũng như những nỗ lực chung của cả cộng đồng quốc tế để bảo vệ QCN. Pháp luật là một trong những nhân tố quan trọng nâng cao hiệu quả bảo vệ QCN thông qua hoạt động tố tụng của VKSND. Theo đó, luật pháp sẽ quy định chức trách, nhiệm vụ, thẩm quyền và quy trình thủ tục tiến hành bảo vệ QCN phải có sự phù hợp với xu thế phát triển của Ngành công tố các quốc gia trên thế giới cũng như yêu cầu của các công ước quốc tế về QCN. Các điều ước quốc tế về QCN do Nhà nước Việt Nam tham gia hoặc ký kết và các văn bản pháp luật của Nhà nước Việt Nam để thể chế hoá các Điều ước quốc tế là một cơ sở pháp lý cần thiết đối với hoạt động bảo vệ QCN. Việc hội nhập pháp luật quốc gia với pháp luật quốc tế về QCN thường tiến hành dưới ba dạng chính là tiếp tục ký kết hoặc tham gia các điều ước quốc tế về QCN, hợp tác quốc tế về bảo vệ QCN và nội luật hoá các điều ước quốc tế phù hợp với yêu cầu, điều kiện, thực tiễn của xã hội. Các nội dung cơ bản của hội nhập pháp luật quốc gia với pháp luật quốc tế về QCN sẽ có ảnh hưởng chi phối trực tiếp đối với tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn cùng nội dung của bảo vệ QCN ở VKSND, vì vậy việc nâng cao chất lượng bảo vệ QCN trong hoạt động tư pháp của VKSND phải gắn chặt chẽ với việc hội nhập pháp luật quốc gia với pháp luật quốc tế. Việc thực hiện tốt các điều ước quốc tế mà Nhà nước ta đã tham gia sẽ được tổ chức. Hiệp định tương trợ tư pháp sẽ tiếp tục được ký kết với các nước khác, đặc biệt là các nước láng giềng, các nước trong khu vực và các nước có quan hệ truyền thống.

3.2 Giải pháp đảm bảo QCN thông qua hoạt động kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự của VKSND tỉnh Đắk Lắk Luận văn: Giải pháp trách nhiệm của VKSND tỉnh Đắk Lắk.

3.2.1 Giải pháp chung

3.2.1.1 Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, nhận thức và quyền làm chủ của nhân dân

Vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và quyền làm chủ của nhân dân đối với bảo vệ QCN trong hoạt động TTDS của VKSND có sức tác động to lớn đối với kết quả thực hiện nhiệm vụ của VKSND. Để nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng và quyền làm chủ của nhân dân đối với bảo vệ QCN trong hoạt động TTDS của VKSND cần thực hiện các biện pháp sau:

Thứ nhất, Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong hoạt động tư pháp của VKSND cần được tập trung thực hiện thông qua việc áp dụng một số biện pháp cụ thể. Một là, việc lãnh đạo và chỉ đạo thực hiện chính xác các chủ trương đã được Đảng ban hành như Chỉ thị, Nghị quyết, Kết luận liên quan đến nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cũng như hoạt động tư pháp nói chung và hoạt động TTDS nói riêng. Trong giai đoạn mới, vai trò lãnh đạo của Đảng trong hoạt động tư pháp và hoạt động tố tụng của VKSND đã được thể hiện rõ ràng thông qua việc Bộ Chính trị ban hành các Nghị quyết, Kết luận. Những điều này là tiêu chuẩn mục tiêu cho công việc cải cách tư pháp hiện nay, nhằm mục tiêu là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong hoạt động tố tụng của VKSND. Hai là, cần quán triệt quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng nhằm tăng cường việc bảo vệ QCN đối với hoạt động TTDS của VKSND. Về vai trò lãnh đạo của Đảng cần được quán triệt quan điểm, Đảng không bao biện, làm thay, không tham gia trực tiếp vào hoạt động tư pháp mà là lãnh đạo thông qua đường lối, chủ trương, quan điểm của Đảng, trong công tác tổ chức cán bộ, công tác kiểm tra, giám sát trong hoạt động TTDS .. Mặt khác, việc lãnh đạo của Đảng không làm giảm bớt sự tự giác, chủ động mà làm cho việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng. Ba là, Đảng lãnh đạo có chiến lược, toàn diện đối với việc tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan VKSND về dài hạn cũng như đối với mỗi thời kỳ cụ thể; trong việc lãnh đạo toàn diện đối với bộ máy, tổ chức và hoạt động của VKSND; đối với việc đào tạo, bố trí, quy hoạch, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Kiểm sát; trong việc kiểm tra, giám sát các hoạt động tố tụng của VKSND và đối với việc kiểm tra tư cách của đảng viên thuộc hệ thống cơ quan VKSND. Luận văn: Giải pháp trách nhiệm của VKSND tỉnh Đắk Lắk.

Thứ hai, cần nâng cao ý thức và bảo đảm quyền làm chủ của người dân đối với việc bảo vệ QCN thông qua hoạt động TTDS của VKSND, nhất là thông qua thực hiện các quyền dân chủ trực tiếp, dân chủ hình thức, thông qua hoạt động đoàn thể quần chúng, cơ quan truyền thông, báo chí. Nhìn trên khía cạnh bảo vệ QCN cũng cần phải nâng cao nhận thức một cách sâu sắc, đầy đủ và đúng đắn đối với hoạt động của VKSND giúp người dân nhận thức đúng vị trí, quyền hạn, chức năng, trách nhiệm của VKSND, khi ấy quyền và lợi ích của người dân, QCN mới thật sự được bảo vệ. Mặt khác, cần vận động người dân chấp hành pháp luật và coi trọng hoạt động của VKSND trong bảo vệ QCN. Với vai trò là cơ quan bảo vệ pháp luật, VKSND thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan trực tiếp thực hiện hoạt động TTDS là Toà án. Việc thực hiện hiệu quả chức năng, nhiệm vụ kiểm sát sẽ bảo vệ quyền của pháp nhân, người dân tham gia hoạt động TTDS, hướng đến bảo đảm quyền làm chủ của người dân một cách hiệu quả. Để thực hiện mục tiêu trên, các cơ quan báo chí và truyền thông cần tăng cường việc tuyên truyền về vai trò của hoạt động kiểm sát đối với giao dịch dân sự, qua đó, tuyên truyền về trách nhiệm của VKSND trong công tác bảo vệ pháp luật, bảo vệ QCN.

Thứ ba, công tác bảo vệ QCN của VKSND có mối liên hệ chặt chẽ với trình độ hiểu biết và ý thức pháp luật của nhân dân. Thực trạng của hoạt động của từng ngành công tác cho thấy, một trong các nguyên nhân chủ yếu dẫn tới tình trạng xâm phạm QCN đối với hoạt động tư pháp là do trình độ hiểu biết pháp luật của một số tầng lớp nhân dân không đồng đều, ý thức pháp luật không cao. Do đó, cần thiết phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ QCN đối với đời sống nhân dân nói chung và đối với hoạt động TTDS nói riêng giúp nhân dân hiểu biết và tự giác chấp hành pháp luật. Một trong những hình thức phổ cập của công tác lưu động là tổ chức các phiên toà lưu động xét xử ở nơi dân cư sinh sống nhằm tuyên tuyền pháp luật đối với vi phạm QCN.

3.2.1.2 Hoàn thiện pháp luật tố tụng bảo vệ QCN trong hoạt động TTDS của VKSND

Để đảm bảo tính pháp lý trong hoạt động TTDS của VKSND, việc xây dựng hệ thống các quy định pháp luật hoàn chỉnh trong lĩnh vực này là điều hết sức cần thiết. Cụ thể, một số quy định của BLTTDS năm 2015 cần được sửa đổi, bổ sung:

Thứ nhất, về việc nguyên đơn rút đơn khởi kiện trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm. Để đảm bảo nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự, nhằm khuyến khích và đảm bảo quyền tự định đoạt của nguyên đơn dân sự trong TTDS, không nên qui định việc nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện ở cấp sơ thẩm khi được sự chấp thuận của bị đơn theo điểm a khoản 1 Điều 299 BLTTDS năm 2015. Bởi nếu làm như thế sẽ vi phạm nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự bởi vì đối với các vụ việc dân sự, đương sự ngoài quyền tự mình giải quyết yêu cầu hay không yêu cầu Toà án giải quyết, thì họ cũng có quyền sửa đổi, bổ sung, rút một phần hoặc tất cả các yêu cầu khởi kiện của đương sự tại từng giai đoạn tố tụng. Do vậy, để phù hợp và không vi phạm nguyên tắc trên chúng ta phải sửa đổi khoản 1 Điều 299 BLTTDS năm 2015 theo hướng cho phép đương sự được tốt nhất quyền tự định đoạt của đương sự trong TTDS. Nếu bị đơn cảm thấy dù nguyên đơn có khởi kiện hay rút đơn khởi kiện mà gây tổn hại cho họ đối với uy tín, nhân phẩm hoặc với tài sản thì họ có quyền yêu cầu nguyên đơn bồi thường thiệt hại. Theo đó, nên sửa Điều 299. Nguyên đơn rút đơn khởi kiện trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm: Trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, nếu nguyên đơn rút đơn khởi kiện thì Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án. Trong trường hợp này, các đương sự vẫn phải chịu án phí sơ thẩm theo quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và phải chịu một nửa án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho bị đơn nếu việc khởi kiện và rút đơn khởi kiện gây tổn hại về danh dự, uy tín hoặc tài sản của bị đơn.

Thứ hai, Về việc bảo đảm quyền của bị đơn thực hiện phản tố trước phiên tòa, cần phải có quy định bổ sung về thời điểm mà bị đơn thực hiện phản tố trước phiên tòa. Ngoài ra, cần phải quy định rõ ràng về quyền của nguyên đơn để thay đổi hoặc bổ sung yêu cầu khởi kiện, cũng như quyền của bị đơn để thay đổi hoặc bổ sung yêu cầu phản tố. Đồng thời, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cũng cần được phép yêu cầu điều chỉnh yêu cầu của họ trong mọi giai đoạn của tố tụng (Điều 227,243, 244). Mục tiêu của việc này là tránh trường hợp một trong hai bên lạm dụng việc thực hiện quyền này gây khó khăn cho bên kia và gây chậm trễ trong giải quyết việc dân sự. Do đó, việc thay đổi hoặc bổ sung yêu cầu của các bên tại phiên tòa chỉ được chấp nhận nếu không làm trì hoãn phiên tòa. Luận văn: Giải pháp trách nhiệm của VKSND tỉnh Đắk Lắk.

Thứ ba, sự hiện diện của KSV cần phải được bắt buộc khi tham dự phiên họp để xem xét và giải quyết khiếu nại, kiến nghị theo quy định tại Điều 194 BLTTDS năm 2015. Đồng thời, cũng cần phải quy định bắt buộc sự hiện diện của KSV tại các phiên họp, phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm mà không có kháng nghị từ VKS nhằm đảm bảo tuân thủ pháp luật tố tụng của những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng. Những biện pháp này được áp dụng để bảo vệ quyền lợi của người khởi kiện trong quá trình giải quyết vụ án dân sự. Các quy định này là hoàn toàn cần thiết và điều chỉnh khoảng trống trong việc thi hành luật. Theo Điều 21 BLTTDS năm 2015 về việc tham gia phiên tòa, phiên họp của VKS (KSV), đã có sẵn các điều lệ. Tuy nhiên, theo khoản 1 Điều 232 BLTTDS năm 2015 lại có điều lệ khác cho việc hiện diện của KSV: “KSV được Viện trưởng VKS cùng cấp phân công để tham gia phiên tòa; trường hợp vắng mặt, Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục triển khai xét xử”. Một mặt khác, theo khoản 1 Điều 296 BLTTDS năm 2015, không có điểm luật qui định cho việc vắng mặt KSV trong các trường hợp hoãn phiên tòa phúc thẩm. Do đó, những qui định này gây ra những bất tiện cho KSV và không cho phép họ kiểm tra diễn biến trong phiên tòa để có ý kiến và hiểu rõ vụ án. Bởi lẽ công việc của KSV rất nhiều và trong một số trường hợp một KSV có thể được giao hai hoặc nhiều vụ án vào cùng một thời điểm hoặc do yêu cầu từ các vụ án kéo dài khiến cho KSV không kịp xuất hiện hoặc vào ngày xét xử đã được chỉ định như là ốm hoặc gặp rủi ro khi di chuyển trên đường giao thông. Trong những trường hợp này, KSV sẽ không có khả năng đưa ra ý kiến trong các phiên toà hay phiên họp.

Thứ tư, về thời hạn nghiên cứu hồ sơ của VKS là 15 ngày (khoản 2 Điều 220 BLTTDS). Như vậy, trên thực tế trong hạn 15 ngày dĩ nhiên trong đó có 04 ngày nghỉ là thứ bảy và chủ nhật, chỉ có 11 ngày, nếu tính thời gian thực hiện việc nhận – trả – thụ lý vào sổ – phân công KSV nhanh nhất thì KSV chỉ được tiếp cận, nghiên cứu hồ sơ nhiều nhất là 10 ngày, nên không thể đủ để KSV có thể hoàn thành việc nghiên cứu hồ sơ vụ án một cách toàn diện và thận trọng. Do đó, về thời hạn nghiên cứu hồ sơ vụ án quy định tại Điều 220 BLTTDS năm 2015, cần sửa đổi theo hướng thêm hai chữ:“làm việc” sau cụm từ: “trong thời hạn 15 ngày”.

Thứ năm, bổ sung, sửa đổi các quy định về việc, yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ: BLTTDS năm 2015 quy định KSV có quyền “…Nghiên cứu hồ sơ vụ việc, yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này,…”. Tuy nhiên, trong quá trình kiểm sát khi KSV yêu cầu xác minh, thu thập chứng cứ nhưng Tòa án không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ thì phải chịu trách nhiệm như thế nào thì luật không quy định. Tại phiên tòa phúc thẩm khi cần phải xác minh, thu thập bổ sung tài liệu chứng cứ… Tòa án căn cứ Điều 259 BLTTDS để tạm ngưng phiên tòa, thời hạn tạm ngưng không quá 01 tháng. Tuy nhiên khi Tòa án thu thập được tài liệu, chứng cứ bổ sung thông thường gần đến ngày mở lại phiên tòa thì mới chuyển tài liệu, chứng cứ thu thập bổ sung cho VKS, dẫn đến việc KSV rất bị động không có thời gian để nghiên cứu báo cáo đề xuất lại kịp thời khi Tòa án mở lại phiên tòa xét xử. Luật chưa có quy định thời hạn Tòa án phải chuyển tài liệu chứng cứ thu thập bổ sung cho VKS. Đối với các chứng cứ Tòa án đã yêu cầu đương sự giao nộp nhưng không giao nộp được vì lý do khách quan ngay tại tòa mới xuất trình thì đương sự phải chứng minh lý do chính đáng. Việc luật quy định “lý do chính đáng” trong trường hợp này là còn chung chung, khó áp dụng và dễ tùy tiện.

Thứ sáu, sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 2 Điều 192 BLTTDS hoặc liên ngành trung ương cần sửa đổi, bổ sung về việc: khi Tòa án ra thông báo trả lại đơn khởi kiện phải gửi kèm theo đơn khởi kiện cùng các tài liệu chứng cứ kèm theo cho VKS. Bổ sung tại khoản 2, Điều 192 BLTTDS 2015 về thời hạn gửi văn bản thông báo trả lại đơn khởi kiện của Tòa án cho VKS trong một thời hạn cụ thể. Luận văn: Giải pháp trách nhiệm của VKSND tỉnh Đắk Lắk.

3.2.1.3 Đổi mới về tổ chức và hoạt động của VKSND

Yêu cầu bức thiết về việc đổi mới tổ chức và hoạt động của VKSND hiện nay đã được đặt ra, cụ thể:

  • Đổi mới về tổ chức bộ máy của VKSND các cấp

Việc nghiên cứu và sắp xếp tổ chức bộ máy, xây dựng đội ngũ cán bộ các đơn vị trực thuộc VKSND tối cao phải được phối hợp một cách hài hòa với yêu cầu nhiệm vụ làm nơi công tác của mọi cá nhân. Điều này giúp đảm bảo sự lãnh đạo tập trung thống nhất của Viện trưởng VKSND tối cao. Thứ nhất, việc kiện toàn tổ chức bộ máy VKS phải phù hợp hoàn toàn với thực tế công việc, khả năng của các cán bộ và yêu cầu thực hiện nhiệm vụ đã được giao. Quá trình rà soát, quy hoạch, bổ nhiệm và lãnh đạo VKSND các cấp phải chú trọng vào việc tìm ra các cá nhân có năng lực và phẩm chất đạo đức tốt để bổ nhiệm vào các chức vụ lãnh đạo quản lý, điển hình là ưu tiên cho cán bộ trẻ và cán bộ nữ. Thứ hai, xây dựng một số cơ quan chuyên sâu trong hệ thống của VKSND, nhấn mạnh sự tập trung và chuyên nghiệp trong việc thực hiện các nhiệm vụ kiểm sát cụ thể. Thứ ba, hệ thống cơ quan VKS từ trung ương đến địa phương cũng cần được tạo ra và duy trì. Việc này giúp đảm bảo rằng việc chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ cho VKSND cấp dưới diễn ra thường xuyên và hiệu quả. Thứ tư, chúng ta cũng nên tăng cường phối hợp, trao đổi giữa các cơ quan VKS. Điều này giúp chia sẻ kinh nghiệm và hỗ trợ lẫn nhau trong công tác kiểm sát, qua đó nâng cao khả năng hoàn thành công việc theo pháp luật. Mục tiêu xây dựng đội ngũ KSV “Vững về chính trị, giỏi về nghiệp vụ, tinh thông về pháp luật, công tâm và bản lĩnh, kỷ cương và trách nhiệm” không thể thiếu vai trò của các hoạt động này. Thứ năm, VKSND tối cao phải tiếp tục tổ chức các buổi sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm để học hỏi từ thành công và thất bại của các VKS địa phương trong việc giải quyết các vụ việc dân sự và các hoạt động khác liên quan. Việc này giúp làm rõ những điểm mạnh và yếu để có những biện pháp khắc phục hiệu quả. Thứ sáu, tiếp tục tổ chức tập huấn chuyên đề, phổ biến rút kinh nghiệm những vụ án mà VKS kháng nghị có kết quả tốt, được Hội đồng xét xử chấp thuận kháng nghị huỷ án, sửa án để các cơ quan cấp dưới tiếp tục tham khảo, học hỏi, rút kinh nghiệm. Thứ bảy, VKSND tối cao cần tổ chức những buổi tập huấn theo từng chủ đề, vừa có tính khoa học, vừa có tính thực tế, thích hợp với từng đối tượng. Có thể tổ chức bằng việc mở các lớp tập huấn theo các Bộ luật, Pháp lệnh, theo Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao, Thông tư liên tịch hoặc các quy định pháp luật có liên quan.

  • Đổi mới phương thức quản lý, điều hành trong ngành Kiểm sát nhân dân Luận văn: Giải pháp trách nhiệm của VKSND tỉnh Đắk Lắk.

Việc đổi mới công tác quản lý, chỉ đạo điều hành đối với ngành Kiểm sát sẽ giúp bảo đảm việc thực thi tốt chức trách, nhiệm vụ của ngành kiểm sát đáp ứng yêu cầu bảo vệ QCN trong hoạt động TTDS. Vì vậy, công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành của thủ trưởng VKSND cùng cấp đối với ngành kiểm sát cũng phải đổi mới, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp như: Thứ nhất, cần tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành của Viện trưởng VKS cùng cấp, tăng cường hoạt động quản lý giám sát, đôn đốc và gắn kết hoạt động của mình với VKS địa phương. Các đơn vị của VKSND tối cao phải tập hợp được những sai phạm, vi phạm phổ biến, điển hình trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự để thông báo cho VKS địa phương nhận diện, rút kinh nghiệm và nâng cao kỹ năng kiểm sát các hoạt động tư pháp, đặc biệt là hoạt động TTDS. Tăng cường công tác hướng dẫn về nghiệp vụ, giải đáp khó khăn, vướng mắc đối với cơ sở trong việc thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao. Các Vụ nghiệp vụ của VKSND tối cao cần thường xuyên đến với cơ sở, nắm bắt kịp thời tình hình để chỉ đạo công tác nghiệp vụ, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với cơ sở. Thứ hai, thủ trưởng VKS cùng cấp phải nêu cao trách nhiệm thực hiện quyền kiến nghị, đề xuất và trách nhiệm chỉ đạo KSV kiểm sát chặt chẽ việc giải quyết vụ việc dân sự từ khi thụ lý và xét xử đến thời điểm chấm dứt việc giải quyết vụ án, đảm bảo KSV tham dự 100% số cuộc xét xử của Toà án. Hơn nữa, phải quan tâm bố trí đầy đủ KSV có trình độ để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ công tác kiểm sát các vụ án dân sự. Tóm lại, việc thay đổi cách thức quản lí, chỉ đạo công tác đối với ngành Kiểm sát sẽ góp phần bảo đảm việc thực hiện tốt hơn nhiệm vụ của cơ quan kiểm sát đối với công tác bảo vệ QCN, đương sự trong công tác giải quyết các tranh chấp dân sự có hiệu lực.

3.2.1.4 Hoàn thiện cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát giữa VKSND với Tòa án và các cơ quan hữu quan

Tăng cường bảo vệ QCN thông qua hoạt động kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự đòi hỏi phải hoàn thiện cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát giữa VKSND, Tòa án và các cơ quan hữu quan. Điều này nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người dân được bảo vệ một cách toàn diện, minh bạch và công bằng.

Hoàn thiện cơ chế phân công: Cần có sự phân định rõ ràng và cụ thể về trách nhiệm và quyền hạn giữa VKSND, Tòa án và các cơ quan hữu quan trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự. Điều này giúp tránh tình trạng chồng chéo, bỏ sót nhiệm vụ và nâng cao hiệu quả công việc. Hệ thống pháp luật cần quy định rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, đảm bảo không có lỗ hổng pháp lý và tạo điều kiện thuận lợi cho các bên liên quan thực hiện nhiệm vụ của mình. Luận văn: Giải pháp trách nhiệm của VKSND tỉnh Đắk Lắk.

Tăng cường phối hợp: Thiết lập các quy chế phối hợp giữa VKSND, Tòa án và các cơ quan hữu quan để đảm bảo sự phối hợp nhịp nhàng và hiệu quả trong việc giải quyết các vụ việc dân sự. Quy chế này cần bao gồm các quy định về chia sẻ thông tin, hỗ trợ kỹ thuật và cùng tham gia vào các hoạt động điều tra, xét xử và thi hành án. Tổ chức các hội nghị liên ngành định kỳ để trao đổi, đánh giá và rút kinh nghiệm trong việc giải quyết các vụ việc dân sự, qua đó kịp thời giải quyết các vướng mắc phát sinh và đề ra các giải pháp cải thiện.

Phối hợp trong việc đào tạo, bồi dưỡng: Tổ chức các chương trình đào tạo liên ngành, bồi dưỡng chung cho cán bộ của VKSND, Tòa án và các cơ quan hữu quan nhằm nâng cao nhận thức, kiến thức và kỹ năng về bảo vệ QCN trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự. Tạo điều kiện cho cán bộ các cơ quan liên ngành trao đổi kinh nghiệm và học hỏi các thực tiễn tốt từ nhau, qua đó nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ QCN.

Kiểm soát hiệu quả: Thiết lập cơ chế giám sát độc lập giữa các cơ quan để đảm bảo việc giải quyết các vụ việc dân sự được thực hiện đúng pháp luật, minh bạch và công bằng. Việc giám sát này cần được thực hiện bởi các cơ quan hoặc tổ chức có thẩm quyền và độc lập với các bên liên quan. Thực hiện báo cáo và đánh giá thường xuyên về hoạt động giải quyết các vụ việc dân sự, qua đó phát hiện và khắc phục kịp thời các sai phạm, vi phạm pháp luật. VKSND và Tòa án cần thực hiện kiểm tra nội bộ định kỳ để đảm bảo các quy trình, thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự được tuân thủ đúng pháp luật, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác. Khi phát hiện các sai phạm, vi phạm pháp luật trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự, cần xử lý nghiêm minh, công khai và minh bạch để đảm bảo tính răn đe và giữ vững niềm tin của nhân dân vào hệ thống tư pháp.

3.2.1.5 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát trong ngành Kiểm sát

Việc tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra được coi là một biện pháp quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của con người trong hoạt động TTDS của VKSND. Thông qua hoạt động thanh tra, kiểm tra, yếu kém và tồn tại trong công tác có thể được phát hiện kịp thời để đưa ra biện pháp khắc phục. Đồng thời, trường hợp vi phạm phẩm chất và đạo đức nghề nghiệp trong công tác sẽ được xử lý một cách kiên quyết. VKS cấp trên cần đẩy mạnh công tác kiểm tra việc ban hành và tổ chức thực hiện chương trình công tác của VKSND cấp dưới, kế hoạch công tác, chỉ thị công tác của từng phòng ban và của cơ quan VKSND cấp trên phù hợp với việc thực hiện các nhiệm vụ đã được quy định tại từng văn bản của ngành và của các địa phương. Đây là hoạt động giám sát bên trong của cơ quan VKSND đem lại hiệu quả cao. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh hoạt động giám sát ở bên ngoài của VKSND bao gồm: Hoạt động giám sát của cơ quan dân cử: Quốc hội, các Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn Đại biểu Quốc hội, Văn phòng Quốc hội, Hội đồng nhân dân cùng cấp; Hoạt động giám sát dân chủ trực tiếp của nhân dân thông qua các đoàn thể chính trị – xã hội: Mặt trận tổ quốc Việt Nam và Hội đồng nhân dân; Hoạt động giám sát của các cơ quan tư pháp theo cơ chế kiểm soát, chế ước tương tự như Toà án; Hoạt động giám sát nội bộ được bảo đảm thông qua chế độ thanh tra, kiểm tra của cấp trên trong ngành kiểm sát. Cơ chế thanh tra, kiểm tra, giám sát cần được thực hiện đồng bộ, phù hợp là một trong những điều kiện đảm bảo cho việc thực hiện nhiệm vụ KSHĐTP trong TTDS của VKSND có hiệu quả, đảm bảo, hạn chế được việc lạm quyền, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của đương sự trong TTDS. Qua hoạt động trên, khi phát hiện vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền QCN trong hoạt động TTDS, thì các cơ quan quản lý nhà nước, cá nhân có liên quan cần phải nghiêm khắc xử lý các cơ quan, tổ chức trực thuộc VKSND cùng cấp có hành vi vi phạm trên.

3.2.1.6 Nâng cao chất lượng đội ngũ KSV Luận văn: Giải pháp trách nhiệm của VKSND tỉnh Đắk Lắk.

Để bảo vệ QCN trong hoạt động TTDS của VKSND có hiệu quả, việc đổi mới tổ chức và hệ thống VKSND cần phải được thực hiện. Công tác quản lý, điều hành của lãnh đạo ngành kiểm sát cũng cần phải được tăng cường. Đặc biệt chú trọng vào việc nâng cao chất lượng đội ngũ KSV. Để nâng cao chất lượng đội ngũ KSV để thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ QCN trong hoạt động TTDS, thứ nhất, việc cần được thực hiện nhằm bảo đảm rằng ý thức, nhận thức và bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức của KSV khi thực hiện chức năng KSHĐTP trong hoạt động TTDS đã được nâng cao. Điều này cũng là một yêu cầu quan trọng và khách quan trong giai đoạn hiện nay. Vì vậy, nhận thức và tuân theo đường lối, chính sách của Đảng cần được nâng cao và áp dụng đúng quan điểm của Đảng trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ phải được quán triệt tới mỗi KSV. Trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự, KSV thường xuyên tiếp xúc với những mặt trái của xã hội và phải đương diện với nhiều cám dỗ vật chất và quyền lợi từ các đối tượng khác nhau. Nếu không được trau dồi phẩm chất đạo đức và rèn luyện ý thức chính trị, KSV rất dễ bị ảnh hưởng tiêu cực từ những cám dỗ này nên mỗi KSV phải tự mình rèn luyện ý thức và trách nhiệm. Thứ hai, Nâng cao trình độ, kỹ năng, nghiệp vụ, bảo đảm đủ số lượng KSV thực hiện chức trách, nhiệm vụ nhằm bảo đảm quyền tư pháp thông qua hoạt động kiểm sát của VKSND có hiệu quả. Đây là nội dung của công tác tổ chức cán bộ đối với ngành KSND, do vậy, cần sự quan tâm của lãnh đạo VKSND cùng cấp để tăng cường rà soát, kiểm tra, nắm bắt thực trạng đội ngũ KSV cơ quan, cấp trên trực tiếp kiểm sát nhằm xác định năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Trường hợp KSV nào để xảy ra tình trạng bản án phải huỷ, sửa vì thiếu tinh thần trách nhiệm, hoặc trình độ năng lực yếu, thì lãnh đạo cần cương quyết điều động qua thực hiện nhiệm vụ khác. Mặt khác, lãnh đạo VKSND các cấp cần quan tâm công tác đào tạo đội ngũ cán bộ, KSV nữ có năng lực, đội ngũ cán bộ, KSV có đủ điều kiện dự tuyển vào ngạch KSV theo luật định, nhằm bổ sung kịp thời đội ngũ KSV có năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đề ra. Bên cạnh đó, VKSND các cấp cần có kế hoạch bảo đảm chất lượng KSV, chuẩn hoá KSV phù hợp với yêu cầu, đặc điểm nhiệm vụ riêng của mỗi đơn vị. Trong đó, chú ý đào tạo đội ngũ KSV có thâm niên trong công tác kiểm sát kết hợp với tiếp tục quan tâm tuyển dụng, đào tạo đội ngũ KSV trẻ tuổi có năng lực, hướng đến xây dựng, thực hiện chuẩn hoá KSV. Thứ ba, nâng cao chất lượng công tác tuyển dụng, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển cán bộ, KSV đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, bảo vệ QCN trong hoạt động TTDS. Trước hết, cần phải triển khai có hiệu quả công tác tuyển dụng của ngành KSND phải đảm bảo theo quy chế tuyển dụng cán bộ, công chức, viên chức của Nhà nước và của Ngành kiểm sát, đặc biệt phải đảm bảo công bằng, minh bạch. Cần có cơ chế xét tuyển đang được thực hiện tại một vài địa phương miền núi, chính sách xét tuyển điểm chỉ nên áp dụng cho đối tượng là đồng bào dân tộc thiểu số tại các địa phương vùng sâu, vùng xa. Số lượng hồ sơ dự tuyển phải có ít nhất nhiều hơn số hồ sơ cần tuyển dụng để có sự lựa chọn. Đặc biệt chú ý tới công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ KSV cả về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và trình độ học tập, rèn luyện, bồi dưỡng chính trị, đạo đức nghề nghiệp. Trong công tác đào tạo, bồi dưỡng, bố trí đội ngũ KSV cần chú ý bố trí, sắp xếp sao cho tương xứng với trình độ của KSV, cũng như tính chất từng lĩnh vực công tác của VKSND. Hoàn thiện công tác đào tạo cán bộ, công tác kiểm sát hoạt động tư pháp đáp ứng yêu cầu công tác, bảo đảm các phương tiện phục vụ chuyên môn cho cán bộ, bảo đảm điều kiện để cán bộ công tác theo đúng chuyên ngành, lĩnh vực đào tạo; Rà soát, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đội ngũ KSV, KTV các cấp (sơ cấp, trung cấp, cao cấp, KSV VKSND tối cao) giải quyết án dân sự theo hướng chuyên môn hoá, có trình độ và năng lực đối với lĩnh vực kiểm sát giải quyết vụ án dân sự để nâng cao chất lượng công tác kiểm sát đối với lĩnh vực này. Cần chú trọng đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn về nghiệp vụ biên tập, soạn thảo hồ sơ án, kháng nghị đối với đội ngũ KSV, KTV, cán bộ thực hiện công tác kiểm sát giải quyết án dân sự.

3.2.1.7 Cải thiện cơ sở vật chất, phương tiện làm việc và tăng cường chế độ lương, phụ cấp ưu đãi cho đội ngũ cán bộ, KSV. Luận văn: Giải pháp trách nhiệm của VKSND tỉnh Đắk Lắk.

Nghị quyết 49 – NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về công tác tư pháp đã nêu rõ: Xây dựng và hoàn chỉnh chế độ phân cấp kinh phí đối với từng cơ quan và hoạt động tư pháp theo hướng kinh phí tư pháp được Quốc hội bố trí và phân cấp cho từng cơ quan tư pháp trực tiếp quản lí và sử dụng, từng bước xây dựng trụ sở làm việc hiện đại, đầy đủ tiện nghi, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ hoạt động của các cơ quan tư pháp. Vì vậy, việc tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện làm việc đối với ngành kiểm sát là yêu cầu rất quan trọng và cấp thiết đối với thời điểm hiện nay. Có cơ sở vật chất tốt, trang thiết bị và phương tiện tốt thì sẽ đảm bảo được hoạt động chuyên môn của ngành kiểm sát. Để có đầy đủ nguồn lực thực hiện được các chức năng, nhiệm vụ của ngành kiểm sát phải tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện làm việc cho VKSND các cấp, xây dựng hệ thống trụ sở làm việc của Ngành kiểm sát hiện đại. Tăng cường nguồn kinh phí đầu tư cho trang thiết bị, phương tiện phục vụ hoạt động của ngành kiểm sát. VKSND tối cao phải chủ trì xây dựng đề án tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị cho ngành kiểm sát trình các cơ quan có thẩm quyền phê chuẩn nhằm đảm bảo yêu cầu cơ sở vật chất phục vụ các hoạt động hành nghề của KSV nhằm đem lại hiệu suất làm việc cao và đảm bảo an toàn, góp phần thực hiện tốt tôn chỉ, mục đích của chiến lược cải cách tư pháp đã đặt ra. Chính vì thế, đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật đối với VKSND là sự đầu tư cần thiết cả về nguồn lực, qui mô cũng như chất lượng có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động của hệ thống các cơ quan tư pháp nói chung và VKSND nói riêng. Đó là đầu tư vào việc xây dựng hệ thống các trụ sở làm việc, trang cung cấp các phương tiện dụng cụ để phục vụ tốt hoạt động kiểm sát các hoạt động tư pháp của VKSND. Việc đảm bảo cơ sở vật chất kỹ thuật đối với VKSND cũng đòi hỏi sự bổ sung đầy đủ về trang thiết bị kỹ thuật tiên tiến để phục vụ các hoạt động của VKSND hoà nhập với hoạt động tư pháp quốc tế, phù hợp với sự hội nhập quốc tế của Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá.

3.2.2 Giải pháp riêng áp dụng đối với VKSND tỉnh Đắk Lắk Luận văn: Giải pháp trách nhiệm của VKSND tỉnh Đắk Lắk.

  • Nâng cao nhận thức của KSV về QCN và trách nhiệm bảo vệ QCN thông qua hoạt động kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự

Tiếp tục quán triệt và nâng cao nhận thức cho cán bộ, KSV làm công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự tại đơn vị, VKSND cấp mình về các quy định của Luật tổ chức VKSND năm 2014, BLTTDS năm 2015 và các văn bản pháp luật khác có liên quan như Chỉ thị số 04/CT- VKSTC ngày 22/3/2018 của Viện trưởng VKSND tối cao về tăng cường các biện pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, hành chính, kinh doanh thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật; Chỉ thị số 10/CT-VKSTC ngày 06/4/2016 của Viện trưởng VKSND tối cao “Về tăng cường công tác kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ việc dân sự, vụ án hành chính”; quán triệt, thực hiện đầy đủ: “Quy định về hướng dẫn hoạt động của KSV tham gia phiên tòa dân sự sơ thẩm” (Ban hành kèm theo Quyết định số 458/QĐ-VKSTC ngày 04/10/2019 của Viện trưởng VKSND tối cao); “Quy định về hướng dẫn hoạt động của KSV tham gia phiên tòa dân sự phúc thẩm” (Ban hành kèm theo Quyết định số 363/QĐ-VKSTC ngày 12/10/2020 của Viện trưởng VKSND tối cao); Hướng dẫn số 33/HD-VKSTC ngày 18/10/2019; “Hướng dẫn phát hiện vi phạm của bản án, quyết định dân sự, thực hiện thẩm quyền kháng nghị ngang cấp theo thủ tục phúc thẩm nhằm giảm tỷ lệ bản án, quyết định của Tòa án bị Tòa án cấp trên hủy có trách nhiệm của VKS ngang cấp, đông thời nâng cao tỷ lệ chất lượng kháng nghị phúc thẩm của VKS ngang cấp”; các quy định của pháp luật; các Chỉ thị, Hướng dẫn của ngành về Công tác kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự… Chú trọng đến các nội dung quy định mới về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND, các quy định, quy chế nghiệp vụ của ngành để các cán bộ, KSV trong đơn vị hiểu được ý nghĩa và tầm quan trọng trong việc bảo vệ QCN thông qua công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự. Việc thực hiện tốt và có hiệu quả công tác này, ngoài việc giúp cho chúng ta thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ chung của ngành, sẽ còn góp phần nâng cao hình ảnh, vị thế của ngành Kiểm sát nhân dân trong khối các cơ quan tố tụng nói riêng và trong toàn hệ thống chính trị của Nhà nước ta nói chung, bảo vệ quyền và lợi ích của công dân.

  • Nâng cao năng lực thực thi pháp luật trong hoạt động kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự

VKS hai cấp cần tiếp tục xác định nâng cao chất lượng công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự là nhiệm vụ trọng tâm, chú trọng nâng cao chất lượng kiến nghị, kháng nghị phúc thẩm. Cần tập trung nâng cao chất lượng kiểm sát án cấp huyện, cấp tỉnh, những vụ việc mà VKS không tham gia phiên tòa nhằm tăng cường hơn nữa việc phát hiện vi phạm để kháng nghị, kiến nghị. Tiếp tục thực hiện nghiêm chỉ đạo của Viện trưởng VKSND tối cao yêu cầu Viện trưởng VKS các cấp trực tiếp chịu trách nhiệm trong lĩnh vực công tác này; trực tiếp nghe báo cáo, quyết định việc kháng nghị, bổ sung, rút kháng nghị; tập trung hơn nữa trong công tác chỉ đạo, chủ động đề ra các giải pháp hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự phấn đấu đạt và vượt chỉ tiêu của Quốc hội và của Ngành giao.

Nâng cao hiệu quả phát hiện vi phạm để thực hiện quyền kháng nghị, kiến nghị, chủ động kiểm sát các hoạt động tố tụng từ khi Tòa án ra thông báo thụ lý vụ việc và trong suốt quá trình giải quyết vụ việc. Chủ động nghiên cứu, thực hiện các hướng dẫn, thông báo rút kinh nghiệm, các tài liệu tập huấn của các hội nghị chuyên đề về lĩnh vực công tác này. Quán triệt Nghị quyết liên tịch số 01-NQLT/BCS ngày 11/5/2023 của Ban cán sự đảng VKSND tối cao và TAND tối cao về công tác kháng nghị giám đốc thẩm và Thông báo số 197/TB-VKSTC ngày 06/10/2023 về ý kiến chỉ đạo của Viện trưởng VKSND tối cao tại Hội nghị giao ban công tác Quý IV năm 2023 của Cơ quan VKSND tối cao, theo đó cần nghiên cứu kỹ, lựa chọn kháng nghị những bản án, quyết định vi phạm nghiêm trọng, rõ ràng, việc kháng nghị có tính thuyết phục cao, kháng nghị cần lập luận sắc bén, qua đó góp phần nâng cao tỷ lệ kháng nghị được Hội đồng xét xử chấp nhận. Luận văn: Giải pháp trách nhiệm của VKSND tỉnh Đắk Lắk.

Tăng cường công tác sơ kết, tổng kết, hướng dẫn, giải đáp vướng mắc về nghiệp vụ và pháp luật cho VKS cấp dưới; tăng cường sự phối hợp giữa VKS cấp trên và cấp dưới; VKSND cấp trên thực hiện tốt công tác hướng dẫn nghiệp vụ và trả lời thỉnh thị; rút kinh nghiệm, ban hành thông báo rút kinh nghiệm đối với các vụ án có thiếu sót vi phạm, phổ biến những cách làm hay, sáng tạo; tăng cường tập huấn, đào tạo, bồi dưỡng, kiểm tra nghiệp vụ. Các VKS cấp huyện phải phối hợp, kịp thời trao đổi thông tin với Phòng 9 và Lãnh đạo Viện phụ trách để thống nhất quan điểm, nội dung trước khi kháng nghị ngang cấp. Nếu VKSND cấp huyện thấy không chắc chắn hoặc đã hết thời hạn kháng nghị ngang cấp thì có văn bản báo cáo để Phòng 9 kịp thời tham mưu Lãnh đạo VKSND tỉnh có quan điểm chỉ đạo. Khi phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến việc giải quyết đúng, khách quan vụ án, thì phải cương quyết kháng nghị, tránh tình trạng nể nang. Trường hợp còn có vướng mắc hoặc có nhiều ý kiến đánh giá khác nhau, thì báo cáo ngay lên các phòng nghiệp vụ và lãnh đạo VKSND tỉnh để xin ý kiến trước khi thực hiện việc kháng nghị hoặc không kháng nghị. Sau kháng nghị, KSV cần tiếp tục theo dõi việc giải quyết kháng nghị của cấp phúc thẩm. Nếu có tài liệu, chứng cứ mới phát sinh làm ảnh hưởng đến nội dung kháng nghị thì phải báo cáo và sao gửi ngay các tài liệu mới đó cho Phòng 9 VKSND tỉnh để làm căn cứ thay đổi, bổ sung hoặc rút kháng nghị cho phù hợp.

Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra trong những lĩnh vực công tác còn hạn chế; giảm việc thanh tra, kiểm tra theo kế hoạch; tăng cường công tác tự kiểm tra, thanh tra nội bộ, đột xuất. Lãnh đạo Viện cần tăng cường công tác kiểm tra đối với cán bộ, KSV về việc xây dựng hồ sơ kiểm sát, chất lượng nghiên cứu, báo cáo đề xuất quan điểm giải quyết; rút kinh nghiệm kịp thời đối với những tồn tại, thiếu sót.

Thực hiện công tác cán bộ theo tinh thần Nghị quyết số 40-NQ/BCSĐ ngày 30/3/2022 của Ban Cán sự đảng VKSND tối cao và Chỉ thị số 05/CT-VKSTC ngày 18/10/2022 của Viện trưởng VKSND tối cao, đó là: Lựa chọn, bố trí, đào tạo, tự đào tạo đội ngũ KSV có bản lĩnh, giỏi chuyên môn, nghiệp vụ đảm nhiệm khâu công tác này. Có kế hoạch xây dựng đội ngũ công chức bảo đảm đáp ứng được yêu cầu công việc, ổn định, có tính kế thừa. Chỉ luân chuyển, điều động KSV giỏi của khâu công tác này khi đã có nhân sự có năng lực tương đương thay thế; KSV giỏi có nguyện vọng được gắn bó lâu dài với công tác này thì xem xét chưa luân chuyển, điều động. Trường hợp điều kiện, tiêu chuẩn tương đương thì ưu tiên chọn KSV, công chức làm công tác kiểm sát án dân sự để quy hoạch, bổ nhiệm. Từng bước xây dựng đội ngũ chuyên gia giỏi trong công tác này ở VKS các cấp. VKS huyện cần bố trí KSV chuyên trách để ổn định, có kinh nghiệm công tác này. Luận văn: Giải pháp trách nhiệm của VKSND tỉnh Đắk Lắk.

Nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ, KSV, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ, KSV. Cán bộ, KSV là những người được giao nhiệm vụ thay mặt VKS thực hiện chức năng KSHĐTP. Việc xây dựng đội ngũ cán bộ, KSV trong sạch, có phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực và trách nhiệm nhằm bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của hoạt động kiểm sát là nội dung quan trọng và cấp thiết, là yếu tố cốt lõi để nâng cao chất lượng công tác kiểm sát. Do đó, phải xác định công tác đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ, KSV là nhiệm vụ thường xuyên, liêc tục. Để nâng cao ý thức chính trị và phẩm chất đạo đức cho đội ngũ cán bộ, KSV thì trước hết phải tổ chức các lớp học tập nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho cán bộ, KSV; Quán triệt nghiêm túc và sâu rộng các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; Hưởng ứng và tham gia tích cực cuộc vận động “Học tập và làm theo đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Bên cạnh đó, cần chủ động phối hợp với tỉnh ủy có kế hoạch chọn và cử cán bộ, KSV đi đào tạo về trình độ lý luận chính trị, kiến thức quản lý Nhà nước để có đầy đủ trí tuệ, năng lực nắm bắt những quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, tự mình lý giải được những vấn đề trong công tác hàng ngày và những vấn đề thực tiễn đặt ra, có niềm tin vững chắc và tin tưởng tuyệt đối vào đường lối của Đảng, chấp hành đúng pháp luật của Nhà nước. Lãnh đạo Viện cũng cần chăm lo quản lý, giáo dục, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, đấu tranh mạnh mẽ với những hành vi vi phạm pháp luật như tham nhũng, lãng phí, lối sống thực dụng… Về nâng cao trình độ năng lực chuyên môn, để tạo sự chuyển biến đột phá trong công tác đào tạo cán bộ cần kết hợp nhiều hình thức đào tạo đa dạng, phong phú. Ngoài việc được cử đi để đào tạo, bồi dưỡng và tập huấn theo kế hoạch của Ngành, công tác đào tạo tại chỗ cũng được coi là vô cùng quan trọng. Lãnh đạo Viện cần bám sát kế hoạch đào tạo của đơn vị, thực hiện đào tạo tại chỗ với với hình thức cầm tay chỉ việc, chủ động cử KSV có kinh nghiệm để hướng dẫn cán bộ mới tuyển dụng, KSV mới bổ nhiệm. Ngoài ra, có thể tự đào tạo tại chỗ thông qua việc tăng cường trao đổi kinh nghiệm giữa các địa phương, đơn vị; giữa các KSV có kinh nghiệm với các KSV trẻ để các KSV mới bổ nhiệm tích lũy kinh nghiệm và rèn luyện kỹ năng nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát giải quyết án dân sự.

  • Tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu trong hoạt động kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự

Tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với hoạt động của VKSND một cách thường xuyên và toàn diện để công tác kiểm sát việc giải quyết án dân sự đạt hiệu quả. Cơ chế phối hợp làm việc giữa các tổ chức Đảng với các cơ quan tư pháp cần được xây dựng và hoàn thiện theo hướng: báo cáo định kỳ và ý kiến định hướng về công tác tư pháp được cho bởi cấp uỷ; trách nhiệm tập thể và cá nhân cấp ủy trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác tư pháp, đặc biệt là công tác kiểm sát việc giải quyết án dân sự cần được xác định rõ. Việc cung cấp tài liệu, chứng cứ để giúp quá trình thụ lý, giải quyết vụ án dân sự có thể được kịp thời, chính xác khi được chỉ đạo phối hợp bởi các ngành chức năng liên quan.

Vai trò, trách nhiệm, hiệu quả quản lý, chỉ đạo, điều hành hoạt động nghiệp vụ của Lãnh đạo VKS có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát việc giải quyết án dân sự. Việc nâng cao chất lượng quản lý, chỉ đạo, điều hành và tăng cường trách nhiệm của Lãnh đạo đối với cán bộ, KSV trong hoạt động kiểm sát việc giải quyết án dân sự được xem là yếu tố quan trọng nâng cao chất lượng công tác kiểm sát giải quyết án dân sự, cụ thể: Lãnh đạo Viện phải chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra các hoạt động nghiệp vụ của KSV, nhằm đảm bảo kiểm sát chặt chẽ việc giải quyết vụ án dân sự từ khi thụ lý đến khi kết thúc vụ án; thực hiện đầy đủ, đảm bảo chất lượng các quyền yêu cầu, kiến nghị theo quy định của pháp luật. Lãnh đạo các đơn vị phải chỉ đạo xử lý kịp thời các vướng mắc của KSV, thực sự thể hiện vai trò, trách nhiệm của mình đối với công việc. Lãnh đạo cần phát huy trí tuệ tập thể thông qua việc họp Ủy ban kiểm sát để đánh giá chứng cứ và bàn biện pháp tháo gỡ hoặc thỉnh thị cấp trên. Khi phê duyệt đường lối xét xử, Lãnh đạo phải yêu cầu KSV báo cáo cụ thể các căn cứ và chứng cứ chứng minh, những vướng mắc khi xử lý vụ án; phải thận trọng, khách quan, làm đúng vai trò, trách nhiệm khi phê duyệt đường lối giải quyết án. Khi xảy ra vụ án bị Tòa án cấp phúc thẩm tuyên sửa, hủy do lỗi của Tòa sơ thẩm mà VKS cấp sơ thẩm không phát hiện vi phạm để kháng nghị thì Lãnh đạo Viện phải họp rút kinh nghiệm nghiêm túc và bàn biện pháp khắc phục. Thông qua công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành, Lãnh đạo VKS cũng cần quan tâm, chỉ đạo thực hiện thường xuyên công tác tổng kết thực tiễn, rút kinh nghiệm trong quá trình kiểm sát giải quyết án dân sự. Trên cơ sở những vi phạm, thiếu sót trong công tác kiểm sát giải quyết án dân sự, cần tổng kết, phân tích để rút ra những vấn đề cần khắc phục trong hoạt động nghiệp vụ và công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành để rút kinh nghiệm không để xảy ra các vi phạm tương tự. Xem xét trách nhiệm của Lãnh đạo VKS cấp dưới khi để xảy ra sai sót, vi phạm nhưng VKS không phát hiện để thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị; trường hợp VKS cấp dưới xin ý kiến và VKS cấp trên cho ý kiến thì khi xảy ra sai sót phải kiểm điểm trách nhiệm của VKS cấp trên, nhằm nâng cao trách nhiệm và chất lượng hoạt động của VKS các cấp. Thực hiện nghiêm túc việc kiểm điểm trách nhiệm, tránh tình trạng KSV chịu trách nhiệm nặng hơn Lãnh đạo hoặc VKS cấp dưới bị kiểm điểm trách nhiệm trong khi VKS cấp trên hướng dẫn nghiệp vụ sai thì không bị kiểm điểm. Bên cạnh đó, thông qua công tác thực tiễn cũng cần xem xét, đánh giá, đề cao những kết quả tích cực đã đạt được qua công tác kiểm sát giải quyết án Dân sự để từ đó tiếp tục phát huy. Đồng thời có chế độ khen thưởng, biểu dương kịp thời đối với những cá nhân có thành tích để tạo động lực phấn đấu hơn nữa của mỗi cán bộ, KSV.

Tiểu kết chương 3 Luận văn: Giải pháp trách nhiệm của VKSND tỉnh Đắk Lắk.

Chương 3 đã tập trung vào việc phân tích và làm rõ quan điểm về việc tăng cường đảm bảo QCN thông qua hoạt động kiểm sát để giải quyết các vụ việc dân sự và hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của công dân trong hoạt động tố tụng. Phân tích này xuất phát từ nhận thức về hạn chế và vướng mắc của hệ thống pháp luật hiện hành cũng như nguyên nhân gây ra những hạn chế, vướng mắc đó.

Trong nội dung của giải pháp hoàn thiện pháp luật, chú trọng vào việc hoàn thiện BLTTDS, đây được coi là cơ sở pháp lý quan trọng để tổ chức thực hiện nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích của công dân trong hoạt động TTDS của VKSND. Ngoài ra, đã được tiến hành phân tích và chỉ rõ kết quả đã đạt được cũng như các hạn chế, bất cập, thiếu sót của VKSND tỉnh Đắk Lắk trong việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ QCN trong hoạt động TTDS.

Các giải pháp để đảm bảo thực hiện việc bảo vệ quyền và lợi ích của công dân trong hoạt động TTDS đã được nêu ra. Để đảm bảo rằng các vụ án được giải quyết theo đúng pháp luật, vai trò của VKS cần được đẩy mạnh và nâng cao trong công tác kiểm sát giải quyết án dân sự. VKS có vai trò then chốt trong việc duy trì an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và góp phần vào sự phát triển kinh tế – xã hội, cũng như đảm bảo cho hệ thống pháp luật Xã hội chủ nghĩa được thực thi. Các giải pháp hoàn thiện thể chế và nhóm giải pháp trên đã bám sát chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước về bảo vệ QCN trong nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam giai đoạn ngày nay. Nội dung cốt lõi trong nhóm giải pháp trên đã khẳng định rõ ràng quan điểm Nhà nước thừa nhận, trân trọng, bảo vệ, thúc đẩy QCN; đồng thời, xác định địa vị, nhiệm vụ của VKSND trong cơ quan nhà nước với chức năng hiến định – bảo vệ QCN.

KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp trách nhiệm của VKSND tỉnh Đắk Lắk.

Việc bảo vệ QCN trong công tác kiểm sát giải quyết các tranh chấp dân sự của VKNSD là một việc làm có tính chất cấp bách, và có vai trò hết sức quan trọng đối với giai đoạn hiện nay. Thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng và Pháp luật về bảo vệ QCN đã thể hiện qua nhiều Văn kiện, Nghị quyết, Chỉ Thị. … của Đảng và những chính sách, pháp luật hiện hành. Vai trò của VKSND đối với bảo vệ QCN là vô cùng to lớn, quan trọng và không có lực lượng nào có thể thay thế được. Luận văn đã nghiên cứu sâu những vấn đề lý luận về QCN, trách nhiệm của VKSND trong việc bảo vệ QCN thông qua hoạt động kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự. Qua thực tiễn nghiên cứu, đã đánh giá được thực trạng trách nhiệm của VKSND tỉnh Đắk Lắk trong bảo vệ QCN, từ đó đưa ra được những quan điểm và giải pháp về tăng cường trách nhiệm của VKSND tỉnh Đắk Lắk trong bảo vệ QCN thông qua kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự hiện nay. Cần tiếp tục nâng cao trách nhiệm của VKSND đối với hoạt động TTDS nhằm phục vụ yêu cầu cải cách tư pháp đối với công tác bảo vệ QCN. Một điểm mấu chốt của vấn đề trên là cần nâng cao năng lực, trình độ, phẩm chất và đạo đức công tác đối với lực lượng KSV nhằm đáp ứng với yêu cầu từ thực tế giai đoạn hiện nay. Để đáp ứng được yêu cầu hiến định bảo vệ QCN của VKSND đối với hoạt động tư pháp, cần nghiên cứu, ban hành chính sách pháp luật đồng bộ và xem chính sách này là kim chỉ nam đối với mọi hoạt động của cơ quan VKSND. Từ các bước tiến này, mỗi cán bộ và KSV sẽ nhận thức rõ hơn để đi vào hành động trong thực tiễn công tác. Ngoài ra, cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện hệ thống pháp luật liên ngành và xuyên ngành về bảo vệ QCN để VKSND có thể ứng xử linh hoạt hơn trước yêu cầu mới từ cải cách tư pháp. Đồng thời, việc hoàn thiện lý luận nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là một ưu tiên hàng đầu trong tương lai gần. Luận văn: Giải pháp trách nhiệm của VKSND tỉnh Đắk Lắk.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân tại VKSND

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464