Luận văn: Thực trạng về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Thừa Thiên Huế dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Thực trạng pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị

2.1.1. Quy định về nguyên tắc, căn cứ, thời hạn, chi phí lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đô thị

2.1.1.1. Nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đô thị.

Nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai là những phương hướng chỉ đạo, là cơ sở chủ yếu để dựa vào đó mà pháp luật điều chỉnh những quy định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở đô thị.

Để hạn chế những bất cập của công tác quy hoạch, Luật Đất đai 2024 lần đầu tiên đã quy định rõ về 10 nguyên tắc trong hoạt động quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tại Điều 60. Theo đó việc lập quy hoạch, kế hoạch phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản đó là:

Thứ nhất, Việc lập quy hoạch sử dụng đất các cấp phải tuân thủ nguyên tắc và mối quan hệ giữa các loại quy hoạch theo quy định của Luật Quy hoạch 2017.

Quy hoạch sử dụng đất các cấp phải tổng hợp, cân đối nhu cầu sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực có sử dụng đất.

Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đô thị khi được xây dựng phải phù hợp với quy hoạch, chiến lược tổng thể bởi nó là một phần trong quy hoạch tổng thể đó. Ngoài ra, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đô thị còn phải phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội; quốc phòng, an ninh, có như vậy mới tạo được sự đồng bộ và nâng cao tính khả thi của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Luận văn: Thực trạng về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.

Thứ hai, Quy hoạch sử dụng đất quốc gia phải bảo đảm tính đặc thù, liên kết vùng; bảo đảm sự cân bằng giữa nhu cầu sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực, địa phương và phù hợp với tiềm năng đất đai của quốc gia nhằm sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả. Một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật đất đai là sử dụng đất hợp lý, tiết kiệm. Mục tiêu cuối cùng trong quản lý và sử dụng đất đặc biệt là đất đô thị cũng là sử dụng đất có hiệu quả vì đất đai là nguồn tài thiên nhiên vô vùng quý giá và có hạn, trong khi nhu cầu sử dụng đất của con người lại không ngừng tăng lên. Vì vậy, sử dụng đất đai tiết kiệm là một vấn đề có ý nghĩa hết sức to lớn và mang tính toàn cầu. Đất đô thị ở Việt Nam hiện tại quy mô diện tích đất thuộc loại trung bình so với các quốc gia trên thế giới, nhưng diện tích đất đô thị bình quân trên mỗi đầu người lại thuộc loại thấp, nhu cầu sử dụng đất tiết kiệm lại càng trở nên cấp thiết hơn. Trong khi đó đánh giá về hiện trạng sử dụng đất đô thị tại Việt Nam thì chúng ta thấy việc sử dụng đất chưa hợp lý và chưa có hiệu quả, cơ cấu sử dụng đất không hợp lý, diện tích đất bỏ trống còn quá nhiều. Nhiệm vụ đặt ra cho công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là tính toán các phương án sử dụng đất sao cho đất đai được sử dụng tiết kiệm nhưng có hiệu quả nhất. Phân bổ nhu cầu sử dụng đất hợp lý cho các vùng kinh tế – xã hội và cho các ngành, trong đó phải ưu tiên cho nhu cầu sử dụng đất vào các dự án mang lại hiệu quả cao và đảm bảo nguyên tắc cơ bản của luật đất đai.

Luật đất đai 2024 càng đề cập sâu hơn, cụ thể hơn nữa tại khoản 2 điều 60, cho thấy tính chất quan trọng của nguyên tắc này. Khi mà trên thực tế có tình trạng địa phương thường xuyên sử dụng không tiết kiệm, hiệu quả đối với đất đai, thường xuyên xảy ra tình trạng dự án treo, quy hoạch sai mục đích, không kiểm tra giám sát hiệu quả các công trình, dẫn đến tình trạng dự án chậm thi công, ảnh hưởng đến kế hoạch phát triển cảnh quan cũng như bộ mặt đô thị.

Như vậy so với Luật đất đai 2013, Luật đất đai 2024 đã quy định chi tiết hơn về nguyên tắc này, theo đó, Quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia phải bảo đảm tính đặc thù, liên kết của các vùng kinh tế – xã hội; quy định chi tiết cụ thể về trình tự, thẩm quyền lập đặc biệt công tác đền bù trong giải tỏa cũng như kế hoạch xây dựng các khu nhà ở xã hội, nhà ở cho công nhân để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Thứ ba, Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được lập ở cấp quốc gia, cấp tỉnh và cấp huyện phải đáp ứng yêu cầu thực hiện chiến lược phát triển kinh tế – xã hội nhanh, bền vững; bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Thứ tư, Bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ; quy hoạch sử dụng đất của cấp trên bảo đảm nhu cầu sử dụng đất của cấp dưới; quy hoạch sử dụng đất của cấp dưới phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất của cấp trên; quy hoạch sử dụng đất cấp huyện phải xác định được nội dung sử dụng đất đến cấp xã; kế hoạch sử dụng đất phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất cùng cấp đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định, phê duyệt. Luận văn: Thực trạng về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.

Thứ năm, Nội dung quy hoạch sử dụng đất phải kết hợp giữa chỉ tiêu sử dụng đất gắn với không gian, phân vùng sử dụng đất, hệ sinh thái tự nhiên trong quá trình thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, việc sử dụng, khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên là không thể tránh khỏi, nhất là các tài nguyên khoáng sản trong lòng đất, tài nguyên rừng… Việc khai thác các tài nguyên ấy gắn chặt với quá trình sử dụng đất, vì vậy nếu không biết điều tiết hợp lý các nhu cầu sẽ dẫn đến tình trạng khai thác cạn kiệt tài nguyên, hủy hoại môi trường sống của các loài sinh vật và của cả chính con người, dẫn đến suy thoái tài nguyên đất làm cho đất đai bị thoái hóa, bạc màu. Giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển, lợi ích kinh tế với nhu cầu bảo vệ môi trường đòi hỏi phải có giải pháp đồng bộ trong tất cả mọi lĩnh vực. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đô thị cũng mang trọng trách ấy.

Thứ sáu, Sử dụng đất tiết kiệm và có hiệu quả; khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường; thích ứng với biến đổi khí hậu; bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, độ che phủ rừng; bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị.

Thứ bảy, Bảo đảm tính liên tục, kế thừa, ổn định, đặc thù, liên kết của các vùng kinh tế – xã hội; cân đối hài hòa giữa các ngành, lĩnh vực, địa phương, giữa các thế hệ; phù hợp với điều kiện, tiềm năng đất đai. bảo đảm ưu tiên quỹ đất cho mục đích quốc phòng, an ninh, phục vụ lợi ích quốc gia, công cộng, an ninh lương thực và bảo vệ môi trường.

Đây là quy định mới về quy hoạch sử dụng đất được quy định trong Luật Đất đai năm 2013. Qũy đất cho mục đích an ninh, quốc phòng phục vụ lợi ích quốc gia, công cộng, an ninh lương thực và bảo vệ ̣môi trường là rất quan trọng. Như vậy, Luật Đất đai năm 2013 đã nhấn mạnh đến một số loại đất được ưu tiên hơn trên thực tế.

Điều này nhằm đảm bảo ổn định an ninh quốc phòng, an ninh lương thực và bảo vệ ̣môi trường.

Thứ tám, Việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp phải bảo đảm sự tham gia của tổ chức chính trị – xã hội, cộng đồng, cá nhân; bảo đảm công khai, minh bạch.

Đây là một nguyên tắc mới của Luật đất đai trong công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Trước đây hoạt động xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất không ghi nhận nguyên tắc công khai, dân chủ. Trong khi quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất lại gắn chặt với quyền lợi của tất cả các chủ thể sử dụng đất, quy hoạch hợp lý, tiến bộ sẽ góp phần bảo vệ những quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, nhưng nếu ngược lại nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của họ. Vì vậy, công tác xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch phải lấy ý kiến nhân dân, muốn làm được điều đó quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải được lập trên nguyên tắc dân chủ và công khai. Phương pháp quy hoạch truyền thống thường bị phê phán là là mang tính cứng nhắc, không dân chủ và thiếu sự tham gia của cộng đồng, nó chủ yếu dựa trên giả định về một vấn đề của một nhóm các chuyên gia quy hoạch, họ thu thập và phân tích các dữ liệu có liên quan để đề ra các mục tiêu, nhiệm vụ, xác định phương án và các giải pháp khác nhau rồi dự toán các chi phí, xác định khó khăn, thuận lợi của mỗi phương án và chọn ra phương án tốt nhất. Song thực tiễn có thể thấy rằng, một bản quy hoạch tốt nhất phải thể hiện được sự mong muốn của người dân – một bản quy hoạch đáp ứng được những nhu cầu mà người dân cho là cần thiết với họ. Cách tốt nhất để có được một quy hoạch như vậy là huy động sự tham gia của người dân vào quá trình xây dựng và thực hiện quy hoạch. Nếu chỉ có những nhà quy hoạch chuyên nghiệp tiến hành các khảo sát nghiên cứu và sử dụng kết quả nghiên cứu này thì chưa đủ. Để đảm bảo những gì mà người dân mong muốn được tích hợp vào trong quy hoạch, chỉ có một cách duy nhất là bảo đảm cho họ tham gia trực tiếp vào quá trình phân tích, lựa chọn phương án mà họ cho là có tính khả thi nhất. Nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải dân chủ và công khai là thể hiện, đảm bảo sự tham gia của các tầng lớp nhân dân.

Thứ chín, Quy hoạch sử dụng đất các cấp được lập đồng thời; quy hoạch sử dụng đất cấp cao hơn phải được quyết định, phê duyệt trước quy hoạch sử dụng đất cấp thấp hơn. Khi kết thúc thời kỳ quy hoạch sử dụng đất mà quy hoạch sử dụng đất thời kỳ tiếp theo chưa được cấp có thẩm quyền quyết định, phê duyệt thì các chi tiêu sử dụng đất chưa thực hiện hết được tiếp tục thực hiện đến khi quy hoạch sử dụng đất thời kỳ tiếp theo được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê duyệt.

Nguyên tắc này quy định nhằm đảm bảo tính liên tục trong qúa trình quản lý đất đai, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của mỗi kỳ phải được quyết định, xét duyệt trong năm cuối của kỳ trước đó. Luận văn: Thực trạng về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.

Thứ mười, Kế hoạch sử dụng đất được lập đồng thời với lập, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất cùng cấp. Kế hoạch sử dụng đất năm đầu của quy hoạch sử dụng đất cấp huyện được lập đồng thời với lập quy hoạch sử dụng đất cấp huyện.

2.1.1.2. Căn cứ lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị

Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là cơ sở khoa học của cả quá trình quản lý và sử dụng đất, vì vậy khi xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải thể hiện được đầy đủ các căn cứ có tính định hướng cho việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Một trong những đặc tính của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là mang tính kinh tế. Hiệu quả sử dụng đất đai phụ thuộc vào sự khoa học, hợp lý của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, trong khi chi phí để xây dựng một quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả nước, của vùng, của các cấp là rất lớn, vì vậy phải xác định trước những căn cứ để quy hoạch sử dụng đất mang lại hiệu quả thiết thực cho quá trình quản lý nhà nước về đất đai, thúc đẩy sự phát triển bền vững về kinh tế – xã hội của một quốc gia. Quy hoạch sử dụng đất khi xây dựng phải căn cứ vào chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh của cả nước, quy hoạch phát triển của các ngành và các địa phương để tạo ra sự đồng bộ thống nhất trong hệ thống quy hoạch của cả nước. Khi lập quy hoạch sử dụng đất, cơ quan nhà nước được giao trách nhiệm và các tổ chức chuyên môn về xây dựng quy hoạch còn phải căn cứ vào kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của Nhà nước, điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và nhu cầu thị trường, hiện trạng sử dụng đất và nhu cầu sử dụng đất của các cấp các ngành, của người sử dụng đất. Quy hoạch sử dụng đất được lập dựa vào định mức sử dụng đất cho các địa phương, các ngành vì nhu cầu sử dụng đất cho các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội luôn gia tăng, trong khi đất đai lại là nguồn tài nguyên có hạn, vì vậy muốn sử dụng đất hợp lý thì phải có định mức sử dụng đất trong khi xây dựng quy hoạch sử dụng đất. Căn cứ lập quy hoạch được pháp luật hiện hành quy định còn là những tiến bộ khoa học và công nghệ liên quan đến sử dụng đất và kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất của kỳ trước. Luận văn: Thực trạng về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.

Theo khoản 36 Điều 3 Luật Đất đai 2024 thì quy hoạch sử dụng đất là việc phân bổ chỉ tiêu sử dụng đất và khoanh vùng đất đai cho các mục đích phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu trên cơ sở tiềm năng đất đai và nhu cầu sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực đối với từng đơn vị hành chính cho thời kỳ xác định.

Căn cứ lập quy hoạch sử dụng đất quốc gia theo khoản 1 Điều 64 Luật Đất đai 2024 bao gồm:

  • Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh; quy hoạch tổng thể quốc gia; chiến lược phát triển ngành, lĩnh vực;
  • Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội;
  • Hiện trạng sử dụng đất, biến động đất đai, chất lượng đất, tiềm năng đất đai và kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất quốc gia kỳ trước;
  • Nhu cầu, khả năng sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực, địa phương;
  • Tiến bộ khoa học và công nghệ có liên quan đến việc sử dụng đất.

Căn cứ lập quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh theo khoản 1 Điều 65 Luật Đất đai 2024 bao gồm:

  • Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc gia;
  • Các quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng; quy hoạch có tính chất kỹ thuật, chuyên ngành có sử dụng đất cấp quốc gia, liên tỉnh;
  • Quy hoạch tỉnh;
  • Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của đơn vị hành chính cấp tỉnh;
  • Hiện trạng sử dụng đất, biến động đất đai, chất lượng đất, tiềm năng đất đai và kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất kỳ trước của tỉnh;
  • Nhu cầu, khả năng sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực, địa phương; nguồn lực đầu tư công và các nguồn lực khác;
  • Tiến bộ khoa học và công nghệ có liên quan đến việc sử dụng đất.

Căn cứ lập quy hoạch sử dụng đất cấp huyện theo khoản 1 Điều 66 Luật Đất đai 2024 bao gồm:

  • Quy hoạch tỉnh, quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh; quy hoạch đô thị của thành phố trực thuộc trung ương đối với trường hợp không lập quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh;
  • Các quy hoạch có tính chất kỹ thuật, chuyên ngành;
  • Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội cấp huyện;
  • Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của đơn vị hành chính cấp huyện;
  • Hiện trạng sử dụng đất, biến động đất đai, tiềm năng đất đai và kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất thời kỳ trước của cấp huyện; Luận văn: Thực trạng về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.
  • Nhu cầu, khả năng sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực, Ủy ban nhân dân cấp xã; đối với việc xác định nhu cầu sử dụng đất ở, đất khu đô thị, đất khu dân cư nông thôn được xác định trên cơ sở dự báo dân số, điều kiện hạ tầng, cảnh quan, môi trường theo quy định của pháp luật về xây dựng;
  • Định mức sử dụng đất, tiến bộ khoa học và công nghệ có liên quan đến việc sử dụng đất.

Theo khoản 2 Điều 68 Luật Đất đai 2024 thì căn cứ lập quy hoạch sử dụng đất quốc phòng, quy hoạch sử dụng đất an ninh bao gồm các căn cứ theo quy định của pháp luật về quy hoạch và các căn cứ sau đây:

  • Quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch không gian biển quốc gia, quy hoạch sử dụng đất quốc gia;
  • Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của quốc gia;
  • Hiện trạng sử dụng đất và kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất quốc phòng, quy hoạch sử dụng đất an ninh thời kỳ trước;
  • Nhu cầu, khả năng sử dụng đất quốc phòng, an ninh.

Như vậy pháp luật đất đai hiện hành đã quy định rất cụ thể rõ ràng các căn cứ về lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nói chung và căn cứ lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị nằm trong quy định chung đó.

2.1.1.3 Thời hạn và chi phí lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị.

  • Thời hạn lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quản lý đô thị.

Lần đầu tiên Luật Đất đai 2003 quy định về thời gian cho một quy hoạch sử dụng đất với tên gọi “kỳ quy hoạch sử dụng đất”. Đó là lượng thời gian vật chất mà mỗi cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương xây dựng chiến lược từ tổng thể đến chi tiết để thực hiện các nội dung quy hoạch sử dụng đất đai. Theo Điều 24 Luật Đất đai 2003 thì kỳ quy hoạch sử dụng đất của cả nước, quy hoạch cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, quy hoạch cấp huyện 10 năm. Trước đây, ở Luật Đất đai 1993, Nghị định số 68/2001/NĐ-CP cũng quy định về thời gian cho một quy hoạch sử dụng đất thực hiện là 10 năm nhưng không gọi là kỳ quy hoạch mà gọi là “thời hạn quy hoạch”. Quy định về kỳ quy hoạch sử dụng đất là cần thiết xuất phát từ những đặc điểm, vai trò của quy hoạch đất đai như quy hoạch sử dụng đất mang tính dự báo, chiến lược, tính dài hạn đồng thời lại mang tính khả biến, tức bản thân quy hoạch đất vừa có yêu cầu ổn định nhưng vẫn có thể thay đổi cho phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế – xã hội quốc gia, hay từng vùng lãnh thổ. Ở một số nước kỳ quy hoạch sử dụng đất so với Việt Nam là dài hơn như ở Trung Quốc là 20 năm đối với quy hoạch quốc gia và quy hoạch cấp tỉnh. Nhưng cũng có nước quy định kỳ quy hoạch ngắn hơn hoặc không quy định về kỳ quy hoạch như Canada. Pháp luật Việt Nam quy định về kỳ quy hoạch là cần thiết song phải nghiên cứu để quy định thời gian quy hoạch khác nhau giữa các cấp quy hoạch, có như thế mới phát huy được vai trò của quy hoạch sử dụng đất, mới bảo đảm tính khả thi của pháp luật quy hoạch sử dụng đất. Theo quy định hiện hành kỳ QHSDĐ các cấp là 10 năm (điều 37 Luật Đất đai năm 2013). Quy định này khá phù hợp sự phát triển của đất nước, ứng với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội trong một chu kỳ 10 năm. Bởi các đặc điểm, vai trò của QHSDĐ mang tính dự báo, chiến lược, tính dài hạn nhưng vẫn đảm bảo tính khả biến, đó là có sự ổn định nhưng vẫn có thể thay đổi cho phù hợp với sự phát triển của nền KT-XH quốc gia, hay từng vùng, từng lãnh thô, đảm bảo chu kỳ không quá ngắn để có thể thực hiện đầy đủ các ý tưởng xây dựng quy hoạch và không quá dài để quy hoạch đảm bảo tính khả thi, không xa rời thực tế. Luận văn: Thực trạng về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.

  • Luật đất đai 2024, Điều 62. Thời kỳ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được quy định rõ ràng:

Thời kỳ quy hoạch sử dụng đất các cấp là 10 năm. Tầm nhìn của quy hoạch sử dụng đất quốc gia, tầm nhìn của quy hoạch sử dụng đất quốc phòng, tầm nhìn của quy hoạch sử dụng đất an ninh là từ 30 năm đến 50 năm; tầm nhìn của quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh; quy hoạch sử dụng đất cấp huyện là từ 20 năm đến 30 năm.

Thời kỳ kế hoạch sử dụng đất quốc gia, cấp tỉnh và thời kỳ kế hoạch sử dụng đất quốc phòng và kế hoạch sử dụng đất an ninh là 05 năm; kế hoạch sử dụng đất cấp huyện được lập hàng năm”. Như vậy pháp luật hiện hành đã quy định rất cụ thể để các bên liên quan có căn cứ thực thi.

  • Chi phí lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị.

Luật Đất đai năm 2013 thông qua ngày 29/11/2013 có hiệu lực từ ngày 01/7/2014 đã bắt đầu điều chỉnh về nội dung này: Khoản 5, Điều 44 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Kinh phí tổ chức thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được xác định thành một mục riêng trong kinh phí lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất”. Đây là một điểm tiến bộ trong quá trình xây dựng pháp luật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, tuy nhiên để đảm bảo thực hiện cần có văn bản hướng dẫn cụ thể và những giải pháp thực tiễn trong quá trình tổ chức thực hiện pháp luật. Chúng ta có thể tham khảo một số quốc gia về nội dung này, ví dụ như pháp luật Trung Quốc quan tâm đến việc tính toán chi phí thực hiện quy hoạch sử dụng đất với hiệu quả của quy hoạch bằng cách quy định bắt buộc những yêu cầu về hiệu quả phải thể hiện bằng văn bản và có sự kiểm nghiệm [19, tr.22-24]. Nhằm đảm bảo được việc sử dụng chi phí xây dựng quy hoạch hợp lý, tránh tình trạng “quy hoạch treo”, Điều 111 Luật Đất đai năm 2013 và Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai đã quy định về Quỹ phát triển đất: “Quỹ phát triển đất được sử dụng để ứng vốn cho Tổ chức phát triển quỹ đất và các tổ chức khác để thực hiện việc bồi thường, giải phóng mặt bằng và tạo quỹ đất theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt” cũng như quy định về việc lấy ý kiến nhân dân về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, trình tự thủ tục khi Nhà nước thu hồi đất…

Luật đất đai 2024 cũng phát huy trên tinh thần đó, cụ thể hóa những quy định còn hạn chế của Luật đất đai 2013, Luật đất đai 2024 tại Điều 67: Trách nhiệm tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã chỉ rõ cơ quan nào chịu trách nhiệm về tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và tại Điều 72: Tư vấn lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất:

  1. Trong quá trình lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, cơ quan chịu trách nhiệm chủ trì việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được thuê tư vấn lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
  2. Chính phủ quy định điều kiện của tổ chức, cá nhân hoạt động tư vấn lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.

Như vậy Luật đất đai 2024 đã phân quyền cụ thể cho cơ quan có thẩm quyền phụ trách.

  • 2. Quy định về trình tự, thẩm quyền xây dựng, tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị.

Quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất về cơ bản được thực hiện thông qua 6 bước cơ bản: Lập, thông qua, xét duyệt (quyết định), công bố, thực hiện và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.

Các bước đó đều được Luật Đất đai 2003, Luật Đất đai 2013, Luật đất đai 2024 quy định cụ thể chi tiết về trình tự, thủ tục, thẩm quyền (Điều 25 – 30 Luật Đất đai 2003; Điều 42 – 50 Luật Đất đai 2013: Điều 60 – 76 Luật Đất Đai 2024), nhằm bảo đảm tính công khai minh bạch và trên hết là đảm bảo tính hiệu quả về kinh tế, xã hội, môi trường của một đề án quy hoạch sử dụng đất. Quy trình lập quy hoạch sử dụng đất đã được hướng dẫn tại Quyết định số 04/2005/QĐ-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường ngày 30 tháng 6 năm 2005 về Ban hành Quy trình lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Theo quyết định này, quy định quy trình lập quy hoạch sử dụng đất cho các cấp quy hoạch là: Quy trình lập và điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất của cả nước và của vùng; quy trình lập và điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh; quy trình lập và điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất cấp huyện; quy trình lập và điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất chi tiết cấp xã.

Các quy định của pháp luật về thẩm quyền lập quy hoạch sẽ giúp cho công tác quy hoạch đạt hiệu quả, góp phần bảo đảm yêu cầu công khai, minh bạch, dân chủ của pháp luật, phân công phân nhiệm trong hoạt động quản lý quy hoạch. Tuy nhiên, quy định này của pháp luật lại đồng nhất quy hoạch với kế hoạch sử dụng đất, trong khi đó là 2 hoạt động khác nhau với nội dung, mục tiêu khác nhau. Luận văn: Thực trạng về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.

  • Về thông qua, xét duyệt, quyết định quy hoạch sử dụng đất đô thị

Quy hoạch sử dụng đất được lập, phương án sử dụng đất được lựa chọn nhưng vẫn chưa có giá trị pháp lý nếu nó chưa được thông qua, xét duyệt, quyết định bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Theo quy định của Luật Đất đai 2003, quy hoạch sử dụng đất của cả nước sau khi được lập sẽ được Quốc hội trực tiếp xem xét tính khoa học, tính hiệu quả, khả thi của quy hoạch để thông qua và quyết định. Quy hoạch sử dụng đất của cả nước sau khi được Quốc hội quyết định có giá trị pháp lý và trở thành một căn cứ pháp lý để cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý đất đai. Quy hoạch của các cấp tỉnh, huyện, xã thì sau khi được lập sẽ được gửi cho Hội đồng nhân dân, để Hội đồng nhân dân xem xét thông qua. Việc xét duyệt quy hoạch sử dụng đất thuộc thẩm quyền của cấp trên một cấp với cấp lập quy hoạch sử dụng đất. Việc xét duyệt, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất là cơ sở để quy hoạch có giá trị pháp lý. Theo đó: Quốc hội quyết định quy hoạch sử dụng đất của cả nước do Chính phủ trình; Chính phủ xét duyệt quy hoạch sử dụng đất của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, kế hoạch sử dụng đất 05 năm, kế hoạch điều chỉnh, bổ sung hàng năm của từng tỉnh, đồng thời xét duyệt kế hoạch sử dụng đất vào mục đích an ninh, quốc phòng của Bộ công an, Bộ quốc phòng; Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh xét duyệt quy hoạch sử dụng đất của đơn vị hành chính cấp dưới trực tiếp; Uỷ ban nhân dân cấp huyện xét duyệt quy hoạch sử dụng đất của xã không thuộc khu vực phát triển đô thị; cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định, xét duyệt quy hoạch sử dụng đất đai thì có thẩm quyền cho phép bổ sung, điều chỉnh quy hoạch đó. Luật Đất đai Trung Quốc quy định về thẩm quyền xây dựng quy hoạch sử dụng đất đó là: Bộ Đất đai và Tài nguyên quốc gia và Cơ quan quản lý đất đai thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đều có trách nhiệm chung là tổ chức lập và thực hiện quy hoạch đất quốc gia, quy hoạch tổng thể sử dụng đất và quy hoạch chuyên ngành khác; tham gia vào việc thẩm tra quy hoạch tổng thể đô thị trình Quốc vụ viện phê chuẩn. Nhìn chung, Bộ Đất đai và Tài nguyên quốc gia chỉ đạo và thẩm tra quy hoạch tổng thể sử dụng đất của địa phương; còn Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt, chỉ đạo và thẩm định quy hoạch tổng thể sử dụng đất của thành phố (thuộc tỉnh), huyện. Cơ quan quản lý đất đai thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện căn cứ vào quy hoạch tổng thể sử dụng đất của cấp trên, tổ chức lập và thực hiện quy hoạch tổng thể sử dụng đất và các quy hoạch chuyên ngành có liên quan cấp huyện. Phòng tài nguyên đất đai cấp xã lập và thực hiện quy hoạch tổng thể sử dụng đất cấp xã, hợp tác và hỗ trợ làm tốt công tác lấy ý kiến quần chúng đối với quy hoạch. Ở đây, chúng ta hoàn toàn có thể tham khảo pháp luật quy hoạch Trung Quốc, cũng như các quốc gia khác như Nhật Bản, Hàn Quốc về xây dựng quy hoạch, ví dụ như giao trách nhiệm cụ thể cho bộ chủ quản trong việc xây dựng quy hoạch cấp quốc gia và gắn với việc thẩm định hiệu quả của quy hoạch, nhất quán nguyên tắc lấy ý kiến đóng góp của nhân dân trong quá trình xây dựng quy hoạch sử dụng đất.

Tại Điều 68 Luật Đất đai 2024. Lấy ý kiến về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 1. Lấy ý kiến về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc gia Luận văn: Thực trạng về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.

  1. Cơ quan lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quy định tại khoản 1 Điều 67 của Luật này có trách nhiệm lấy ý kiến các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ quan, tổ chức, cộng đồng, cá nhân khác có liên quan về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và được thực hiện thông qua hình thức công khai thông tin về nội dung của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên trang thông tin điện tử của Cơ quan lập quy hoạch sử dụng đất quốc gia; nội dung lấy ý kiến gồm báo cáo thuyết minh, hệ thống bản đồ về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
  2. Việc tổng hợp, tiếp thu, giải trình ý kiến và hoàn thiện phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được thực hiện trước khi trình Hội đồng thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và phải công bố, công khai ý kiến đóng góp và việc tiếp thu, giải trình ý kiến đóng góp trên trang thông tin điện tử của Cơ quan lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc gia.
  3. Thời gian lấy ý kiến về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc gia là 30 ngày kể từ ngày công khai thông tin về nội dung lấy ý kiến.
  4. Lấy ý kiến về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh
  5. Cơ quan lập quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh có trách nhiệm lấy ý kiến các sở, ngành có liên quan, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện, cơ quan, tổ chức, cộng đồng, cá nhân khác có liên quan về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và được thực hiện thông qua hình thức công khai thông tin về nội dung của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên trang thông tin điện tử của Cơ quan lập quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh; nội dung lấy ý kiến gồm báo cáo thuyết minh, hệ thống bản đồ về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
  6. Việc tổng hợp, tiếp thu, giải trình ý kiến và hoàn thiện phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được thực hiện trước khi trình Hội đồng thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và phải công bố, công khai ý kiến đóng góp và việc tiếp thu, giải trình ý kiến đóng góp trên trang thông tin điện tử của Cơ quan lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh.
  7. Thời gian lấy ý kiến về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh là 30 ngày kể từ ngày công khai thông tin về nội dung lấy ý kiến.
  8. Lấy ý kiến về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện
  9. Cơ quan lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện lấy ý kiến các phòng, ban, ngành có liên quan, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan, tổ chức, cộng đồng, cá nhân khác có liên quan về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và được thực hiện thông qua hình thức công khai thông tin về nội dung của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên trang thông tin điện tử của Cơ quan lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã và niêm yết công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, điểm dân cư, niêm yết, trưng bày tại nơi công cộng, tổ chức hội nghị, hội thảo và phát phiếu lấy ý kiến các hộ gia đình, cá nhân đại diện cho các xã, phường, thị trấn; nội dung lấy ý kiến gồm báo cáo thuyết minh, hệ thống bản đồ về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
  10. Việc tổng hợp, tiếp thu, giải trình ý kiến và hoàn thiện phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được thực hiện trước khi trình Hội đồng thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và phải công bố, công khai ý kiến đóng góp và việc tiếp thu, giải trình ý kiến đóng góp trên trang thông tin điện tử của Cơ quan lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện.
  11. Thời gian lấy ý kiến về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện là 30 ngày kể từ ngày công khai thông tin về nội dung lấy ý kiến. Luận văn: Thực trạng về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.
  12. Đối với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng, đất an ninh, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an có trách nhiệm lấy ý kiến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong quá trình tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
  13. Chính phủ quy định chi tiết việc lấy ý kiến về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Như vậy Luật Đất đai 2024 đã quy định rất rõ ràng và chi tiết về việc lấy ý kiến của người dân về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, điều này tăng thêm tính dân chủ cũng như công khai và minh bạch trong quá trình lập và thực thiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.

Về công bố quy hoạch sử dụng đất: Công bố quy hoạch sử dụng đất là một trong những nội dung tiến bộ, khoa học của pháp luật đất đai nhằm đảm bảo tính công khai, dân chủ, minh bạch. Điều 28 Luật Đất đai năm 2003 quy định về công bố quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là trong thời hạn không quá 30 ngày làm việc, kể từ ngày được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định hoặc xét duyệt, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải được công bố công khai: “Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn có trách nhiệm công bố công khai quy hoạch sử dụng đất chi tiết, kế hoạch sử dụng đất chi tiết của địa phương tại trụ sở Uỷ ban nhân dân; cơ quan quản lý đất đai các cấp có trách nhiệm công bố công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương tại trụ sở cơ quan và trên các phương tiện thông tin đại chúng; việc công bố công khai tại trụ sở Uỷ ban nhân dân và cơ quan quản lý đất đai được thực hiện trong suốt thời gian của kỳ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có hiệu lực.

Thực tế chứng minh, trước khi Luật Đất đai 2003 có hiệu lực, các thông tin về quy hoạch , kế hoạch sử dụng đất không được công bố công khai đã ảnh hưởng rất nhiều đến thị trường bất động sản, nhiều người từ việc mua bán thông tin quy hoạch đã đầu cơ đất đai và giàu lên nhanh chóng, ngược lại đại đa số người lao động có thu nhập thấp, ít có cơ hội “săn tin quy hoạch” lại càng khó khăn hơn trong việc tìm kiếm một bất động sản phù hợp với khả năng tài chính để đảm bảo nhu cầu nhà ở, nơi cư trú. Luật Đất đai năm 2013 cũng tiếp tục quy định về công bố quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, điểm tiến bộ là lần này luật quy định việc công bố quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải được diễn ra trong suốt quá trình diễn ra quy hoạch (Điều 48, Luật Đất đai 2013).

Tại Điều 75 Luật đất đai 2024 về công bố công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã quy định rất cụ thể:

  1. Việc công bố công khai quy hoạch sử dụng đất quốc gia thực hiện theo quy định của pháp luật về quy hoạch.
  2. Kế hoạch sử dụng đất quốc gia; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh; quy hoạch sử dụng đất cấp huyện, kế hoạch sử dụng đất hằng năm cấp huyện sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê duyệt phải được công bố công khai. Luận văn: Thực trạng về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.
  3. Trách nhiệm công bố công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được quy định như sau:
  4. a) Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm công bố công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc gia tại trụ sở cơ quan và trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tài nguyên và Môi trường;
  5. b) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm công bố công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh tại trụ sở cơ quan và trên Cổng thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
  6. c) Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm công bố công khai quy hoạch sử dụng đất cấp huyện, kế hoạch sử dụng đất hằng năm cấp huyện tại trụ sở cơ quan, trên Cổng thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân cấp huyện và công bố công khai nội dung quy hoạch sử dụng đất cấp huyện, kế hoạch sử dụng đất hằng năm cấp huyện có liên quan đến xã, phường, thị trấn tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã; Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm công bố công khai đến người dân, người sử dụng đất tại địa bàn xã.
  7. Thời điểm, thời hạn phải công bố công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo quy định sau đây;
  8. a) Chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê duyệt thì quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải được công bố công khai;
  9. b) Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải được công khai trong suốt kỳ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
  10. Tài liệu công bố công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất bao gồm;
  11. Văn bản phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
  12. Báo cáo thuyết minh về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt;
  13. Bản đồ về quy hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt.

Đây là điểm rất đáng quan tâm của Luật đất đai hiện hành, trên cơ sở công khai, minh bạch, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các chủ thể liên quan, tránh tình trạng dấu quy hoạch để một bộ phận cán bộ hoặc doanh nghiệp trục lợi, còn phần đa số người dân phải chịu thiệt thòi.

Sự tiến bộ của pháp luật là ngày một thực thi đúng nguyên tắc dân chủ, công khai theo tinh thần của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Các quy định về thực hiện quy hoạch sử dụng đất và quản lý quy hoạch sử dụng đất được thể hiện tại Điều 29 Luật Đất đai năm 2003 và được hướng dẫn cụ thể trong Điều 28, Điều 29 Nghị định 181/2003/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai. Nhà nước nghiêm cấm mọi hoạt động tự ý xây dựng, đầu tư bất động sản trong khu vực đất phải thu hồi để thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Trường hợp có nhu cầu cải tạo, sửa chữa nhà ở, công trình gắn liền với đất phải thu hồi mà làm thay đổi quy mô, cấp công trình hiện có thì phải được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép.

Nghị định 181/2003/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai tại Điều 28, Điều 29 đã có những quy định có tính cụ thể hơn, có tính xác định hơn về trách nhiệm quản lý quy hoạch sử dụng đất. Quy hoạch sử dụng đất sau khi được xây dựng và có giá trị pháp lý thì phải tổ chức thực hiện. Hiệu quả của quy hoạch sử dụng đất chỉ được kiểm nghiệm sau khi nó được triển khai. Nhận thức được điều đó, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã ban hành nhiều quy phạm pháp luật để điều chỉnh về các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện quy hoạch sử dụng đất. Song tính hợp lý, khoa học, khả thi của các quy phạm pháp luật này ở mức độ nào chúng ta sẽ xem xét, phân tích, nhận định sau. Thực hiện và quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là nội dung quan trọng của pháp luật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Hoạt động thực hiện quy hoạch sử dụng đất sẽ đánh giá tính hiệu quả của công tác quy hoạch, đảm bảo tính khả thi cho quy hoạch, đạt được những mục tiêu của quy hoạch hay không? Luật Đất đai 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã quy định về thực hiện và quản lý quy hoạch với nội dung còn sơ sài, thiếu tính khả thi. Điều 50, Luật Đất đai năm 2013 đã bổ sung quy định về báo cáo việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nhằm bảo đảm cho quy hoạch được thi hành có hiệu quả.

Luật đất đai 2024 đã có những quy định chi tiết cụ thể từ Điều 76 và Điều 77 về Tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, trách nhiệm báo cáo kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Trong 2 điều luật này đã quy định cụ thể các cơ quan liên quan có trách nhiệm tổ chức, giám sát và giải quyết các tranh chấp phát sinh.

Đứng trên quan điểm của người tìm hiểu và nghiên cứu pháp luật, bản thân cảm thấy hiện pháp luật đất đai đã có những quy định rất sát với thực tế nhằm giải quyết các vấn đề còn tồn động của pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị.

2.1.3. Đánh giá chung về thực trạng các quy định của pháp luật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị Luận văn: Thực trạng về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.

  • Ưu điểm:

Luật Đất đai năm 2013 cũng như sự ra đời Luật Quy hoạch năm 2017 và Luật Đất đai năm 2024. Đây là một trong những đạo luật thu hút được sự quan tâm của nhiều tầng lớp nhân dân. Với một hệ thống quy phạm khá hoàn chỉnh, chi tiết, cụ thể, rõ ràng, đặc biệt là đã thể hiện những quan điểm đổi mới phù hợp với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, pháp luật về đất đai đã tạo ra khung pháp lý mang tính khả thi, phát huy được nguồn lợi từ đất đai, được đông đảo nhân dân đồng tình.

Luật Đất đai 2024 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/08/2024, Riêng Điều 190 và Điều 248 của luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/04/2024.

Luật Đất đai 2024 là yếu tố quan trọng tháo gỡ những vướng mắc về pháp lý tại nhiều dự án bất động sản hiện nay đặc biệt liên quan đến quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tại các đô thị. Đồng thời còn là “đòn bẫy” cần thiết để đưa thị trường bất động sản thoát đáy, tăng trưởng bền vững, từ đó bảo vệ lợi ích tối đa cho người dân. Những thay đổi đúng đắn, tích cực sẽ cân bằng giữa lợi ích Nhà nước, doanh nghiệp với lợi ích của người dân. “Luật mới đã quy định rõ một số nguyên tắc cơ bản, tuy nhiên không thể chi tiết hơn do thực tiễn rất đa dạng, nên Chính phủ sẽ có quy định cụ thể, chi tiết trường hợp nào, thời điểm nào, hồ sơ, giấy tờ ra sao, điều kiện cấp ra sao” Đây là điều kiện cần thiết để tình hình thị trường đất đai dần đi vào ổn định. Luật Đất đai 2024, quy định chặt chẽ về công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người có đất bị thu hồi. Đáng chú ý, Điều 91 xác định việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và việc bố trí tái định cư phải được hoàn thành trước khi có quyết định thu hồi đất. Việc quy hoạch, kế hoạch đất trong quản lý đô thị trước đây xảy ra rất nhiều vướng mắc do công tác đền bù chưa thỏa đáng, dẫn đến tình trạng dự án treo, dự án chậm thi công, hiện tại Luật đất đai 2024 chuẩn bị áp dụng đã quy định những điều khoản rất rõ ràng để đảm bảo lợi ích của các bên. Đây là điểm mới, nổi bật cần hoan nghênh. Tiếp cận nhiều hơn với nguyên tắc thị trường, Luật Đất đai 2024 được đánh giá bảo đảm hài hòa lợi ích giữa doanh nghiệp và người dân. Luận văn: Thực trạng về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.

Đặc biệt, bằng chính sách đánh thuế cao với những người có nhiều thửa đất, nhiều nhà là giải pháp căn cơ để chống đầu cơ nhà đất, Luật Đất đai 2024 giúp hạn chế được đầu cơ, nhũng nhiễu thị trường. Từ đó, đưa giá nhà đất về mức hợp lý, phục vụ nhu cầu của người tiêu dùng thực sự, người phát triển dự án thực sự.

Đồng thời, tại Điểm b khoản 1 Điều 157 Luật Đất đai 2024 còn quy định việc xây nhà lưu trú cho công nhân khu công nghiệp được miễn, giảm tiền tiền thuê đất. Đây là một sự bổ sung hợp lý nhằm khuyến khích doanh nghiệp xây dựng nhà lưu trú, đảm bảo về chỗ ở cho người lao động và dự đoán trong tương lai nguồn bất động sản sẽ có xu hướng tăng cao. Điều này sẽ tác động làm hạ giá thuê nhà tại các khu tập trung đông công nhân lao động.

Có thể nói đây là điểm sáng của Luật đất đai 2024, tạo điều kiện thuận lợi trong công tác quản lý đất đai ở đô thị đi theo lộ trình mong muốn của các cơ quan có thẩm quyền.

Ngoài ra, Luật Đất đai sửa đổi còn góp phần hạn chế một số quy định chưa rõ ràng như phương thức xác định loại đất như dự án nào được giao đất, dự án nào phải thông qua đấu thầu, đấu giá, cơ chế xác định giá đất đấu thầu ra sao… từ đó giúp nguồn tiếp cận đất đai được mở ra.

Một điểm quan trọng khác của sửa đổi Luật Đất đai kỳ này là đã bỏ quy định về khung giá đất, xác định giá đất theo nguyên tắc thị trường và bảng giá đất được ban hành hàng năm thay vì 5 năm như luật cũ. Như vậy, về cơ bản những người sở hữu đất sẽ có lợi hơn, doanh nghiệp cũng sẽ dễ dàng hơn để giải phóng mặt bằng theo cơ chế thị trường.

Nhiều năm nay, dư luận không còn xa lạ gì với các vụ việc tranh chấp, người dân chịu thiệt vì xác định giá đất không được sát với giá trị của thị trường, hoặc là bồi thường tái định cư cũng không đảm bảo cho người dân có một chỗ ở tương xứng với nơi ở cũ. Giải quyết bất cập này, Luật Đất đai 2024 quy định hằng năm các địa phương sẽ ban hành bảng giá đất, đây là cơ sở để cả doanh nghiệp và người dân thỏa thuận, cân bằng lợi ích của cả người dân và doanh nghiệp.

Hơn nữa, tại Điều 81 Luật Đất đai 2024 còn quy định, không thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất sẽ bị thu hồi. Bởi vậy, doanh nghiệp phải nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đúng thời hạn quy định nếu không muốn bị thu hồi đất. Đây chính là cơ hội và lợi thế cho những doanh nghiệp có kinh nghiệm, năng lực, lịch sử sử dụng đất hiệu quả.

Hạn chế: Bên cạnh những nỗ lực xây dựng và hoàn thiện chế định pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, khẳng định được vai trò của pháp luật quy hoạch đất đai trong việc thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển, từ thực trạng pháp luật quy hoạch sử dụng đất như vừa phân tích, đối chiếu với những nội dung lý luận về pháp luật quy hoạch, tôi thấy pháp luật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị hiện nay về cơ bản vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu điều chỉnh đối với hoạt động quy hoạch, chưa thực sự đảm bảo được các nguyên tắc của pháp luật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị, cụ thể.

Thứ nhất, pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị chưa có tính đồng bộ thống nhất. Các quy định về quy hoạch sử dụng đất chưa có tính thống nhất với các quy định về quy hoạch khác như quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị và các quy hoạch ngành, chưa tạo ra một hệ thống quy hoạch hoàn chỉnh phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Pháp luật về quy hoạch sử dụng đất chưa thống nhất và đồng bộ với Luật Xây dựng, Luật Nhà ở, Luật Bảo vệ môi trường…. Ngoài ra pháp luật xây dựng còn đặt ra các yêu cầu chung trong quy hoạch xây dựng, theo đó quy hoạch xây dựng phải bảo đảm các yêu cầu sau đây: Luận văn: Thực trạng về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.

  1. Phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội, quy hoạch phát triển của các ngành khác, quy hoạch sử dụng đất; quy hoạch chi tiết xây dựng phải phù hợp với quy hoạch chung xây dựng; bảo đảm quốc phòng, an ninh, tạo ra động lực phát triển kinh tế – xã hội.
  2. Tổ chức, sắp xếp không gian lãnh thổ trên cơ sở khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, đất đai và các nguồn lực phù hợp với điều kiện tự nhiên, đặc điểm lịch sử, kinh tế – xã hội, tiến bộ khoa học và công nghệ của đất nước trong từng giai đoạn phát triển.
  3. Tạo lập được môi trường sống tiện nghi, an toàn và bền vững; thoả mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng cao của nhân dân; bảo vệ môi trường, di sản văn hoá, bảo tồn di tích lịch sử – văn hoá, cảnh quan thiên nhiên, giữ gìn và phát triển bản sắc văn hoá dân tộc.
  4. Xác lập được cơ sở cho công tác kế hoạch, quản lý đầu tư và thu hút đầu tư xây dựng; quản lý, khai thác và sử dụng các công trình xây dựng trong đô thị, điểm dân cư nông thôn.

Thứ hai, pháp luật về quy hoạch sử dụng đất một số nội dung còn thiếu tính khả thi. Pháp luật quy hoạch sử dụng đất quy định tất cả các nội dung cho cả quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, ví dụ như nguyên tắc lập quy hoạch sử dụng đất cũng chính là nguyên tắc lập kế hoạch sử dụng đất, nội dung lập quy hoạch sử dụng đất cũng là nội dung lập kế hoạch sử dụng đất, căn cứ lập quy hoạch sử dụng đất cũng là căn cứ lập kế hoạch sử dụng đất. Trong khi, quy hoạch đất đai là sự tính toán, phân bổ đất đai cụ thể về số lượng, chất lượng, vị trí, không gian cho các mục tiêu kinh tế – xã hội. Còn kế hoạch hóa đất đai chính là việc xác định các biện pháp, các thời gian để sử dụng đất theo quy hoạch. Quy hoạch sử dụng đất là ý tưởng sử dụng đất mang tính chiến lược, còn kế hoạch sử dụng đất sẽ giúp ý tưởng đó thành hiện thực thông qua những biện pháp, thời gian. Kế hoạch sử dụng đất chỉ được xây dựng khi quy hoạch sử dụng đất có hiệu lực. Kế hoạch sử dụng đất mang tính vi mô, triển khai, sắp xếp để đáp ứng các nhu cầu sử dụng đất. Luận văn: Thực trạng về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.

Thứ ba, pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chưa thể hiện đầy đủ tính dự báo và ổn định. Quy định về kỳ quy hoạch sử dụng đất chung cho các cấp quy hoạch là 10 năm, điều đó dẫn đến tình trạng quy hoạch thường xuyên bị điều chỉnh, chắp vá và không dự báo trước được tình hình biến động của các quan hệ xã hội. Việc quy định về điều chỉnh quy hoạch đã không được hướng dẫn cụ thể, chính xác, tạo khe hở cho các tiêu cực phát sinh, phá vỡ tính bền vững trong quy hoạch, không đảm bảo được tính dự báo và ổn định. Hiện tượng bẻ cong quy hoạch, điều chỉnh quy hoạch tùy tiện đã diễn ra khắp cả nước, diện tích lúa nước bị thu hẹp để chuyển sang các mục đích sử dụng khác, đe dọa đến an ninh lương thực quốc gia.

Thứ tư, pháp luật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hiện nay chưa đảm bảo được tính công khai, minh bạch và dân chủ, chưa bảo đảm được quyền và lợi ích của người sử dụng đất. Pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chưa xác định rõ trách nhiệm của các cấp, các bộ, các ngành trong việc đề xuất nhu cầu sử dụng đất. Các quy định về trách nhiệm của các cấp, các ngành trong việc xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất còn quy định chung chung, chưa gắn trách nhiệm đến từng cá nhân được giao thẩm quyền cũng như chưa quy định rõ trách nhiệm của cán bộ chuyên ngành trong việc thực hiện các quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất liên quan đến ngành mình như đất nông nghiệp, đất cho xây dựng giao thông, các quy định về công bố quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất mang tính hình thức. Trong những năm qua, việc mua bán thông tin về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất vẫn diễn ra, tác động xấu đến thị trường bất động sản. Khi có thông tin về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất một số người đã đầu cơ đất đai làm cho thị trường đất đai phát triển không lành mạnh, cơn sốt đất ảo diễn ra mạnh mẽ. Bên cạnh một số kẻ đầu cơ, thao túng thị trường bất động sản, đa số người dân lao động có thu nhập thấp lại mất đi cơ hội sở hữu bất động sản, mất đi cơ hội có nhà ở, nâng cao chất lượng đời sống. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất còn tác động trực tiếp đến thị trường bất động sản bằng việc tạo ra nhiều loại hàng hóa khác nhau (thay đổi mục đích sử dụng đất), làm tăng thêm giá trị của đất đai.

2.2. Thực tiễn thực hiện pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị tại tỉnh Thừa Thiên Huế Luận văn: Thực trạng về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.

2.2.1. Khái quát chung về tỉnh Thừa Thiên Huế

Tỉnh Thừa Thiên Huế nằm ở duyên hải miền Trung Việt Nam bao gồm phần đất liền và phần lãnh hải thuộc thềm lục địa biển Đông. Thừa Thiên Huế có chung ranh giới đất liền với tỉnh Quảng Trị, Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng, nước cộng hòa dân chủ nhân Lào (có 81km biên giới với Lào) và giáp biển Đông theo đường bờ biển dài 120km. Với diện tích hơn 5000km2, dân số 1.163.610 người (năm 2018). Do vậy Thừa Thiên Huế có những tiềm năng, lợi thế trong phát triển kinh tế – xã hội ảnh hưởng tích cực đến việc thực hiện pháp luật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, cụ thể đó là:

Thứ nhất, Thừa Thiên Huế là tỉnh trọng điểm nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền trung, nằm trên trục giao thông quan trọng Bắc – Nam, trục hành lang kinh tế Đông Tây, nối cảng Chân Mây với Nam Lào, Đông Bắc Campuchia, Đông Bắc Thái Lan, cửa ngõ chính thông ra biển Đông, có cảng hàng không Quốc tế Phú Bài. Bờ biển dài với 2 cảng nước sâu (Chân Mây, Thuận An) phục vụ giao thông và du lịch quốc tế đường biển.

Thứ hai, ngoài những lợi thế về vị trí địa lý, đa dạng địa hình (có cả sông, núi, gò đồi, đầm phá, biển) Thừa Thiên Huế còn là trung tâm văn hóa, du lịch và dịch vụ, thành phố Festival của Việt Nam. Quần thể di tích Cố đô Huế và Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là 2 di sản Văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể của thế giới, Lăng Cô là một trong những vịnh đẹp nhất thế giới.

Thứ ba, thành phố Huế là trung tâm giáo dục đào tạo lớn của cả nước. Người dân văn minh lịch thiệp, ham học, mang sắc thái đặc thù văn hóa Huế, nguồn lao động có nhiều tài năng, cần cù thông minh, chất lượng nguồn nhân lực khá cao.

  • Bên cạnh những thuận lợi kể trên, để làm tốt công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thì Thừa Thiên Huế không tránh khỏi những khó khăn như: Luận văn: Thực trạng về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.

Khí hậu khắc nghiệt: Khí hậu có 2 mùa rõ rệt là khô nóng và mưa ẩm lạnh, mưa kéo dài, có lượng mưa lớn, độ ẩm cao. Thừa Thiên Huế chịu 2 hướng gió chính (gió mùa Tây Nam, Đông Bắc) gây hạn hán và lũ lụt ở 2 mùa khác nhau, bão, lốc, tố, dông thường xuyên. Hệ thống sông suối đa dạng, phức tạp…

Địa hình phức tạp, manh mún (địa hình Thừa Thiên Huế là một dải đất với đầy đủ các dạng địa hình: rừng núi, gò đồi, đồng bằng, đầm phá và biển…trong đó đồi núi chiếm 70% diện tích. Địa hình này tạo ra những khó khăn trong việc xây dựng được một quy hoạch tốt đế phát triển kinh tế, xã hội đưa Thừa Thiên Huế đạt tiêu chuẩn là thành phố trực thuộc Trung ương).

Ngoài những khó khăn về khí hậu và địa hình, thì ở Thừa Thiên Huế tài nguyên rừng chưa được chú trọng bảo vệ, tài nguyên đất tuy đa dạng phong phú nhưng không nhiều diện tích đất tốt, địa hình phức tạp. Tăng trưởng kinh tế cũng chưa ổn định, cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển, người dân ở đây còn mang nặng tư tưởng phong kiến với nhiều phong tục, tập quán lạc hậu, ngại thay đổi, bảo thủ dẫn đến việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất còn gặp khó khăn. Hiện tượng tự phát những nghĩa trang, nghĩa địa làm phá vỡ quy hoạch đô thị văn hóa – văn minh.

Đứng trước những khó khăn, thuận lợi đó, công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy kinh tế, xã hội phát triển, chống biến đổi khí hậu và bảo đảm mục tiêu phát triển bền vững mà vẫn giữ gìn phát huy được nét độc đáo về văn hóa, di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, bảo đảm công bằng xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất.

2.2.2. Tình hình thực hiện pháp luật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị tại tỉnh Thừa Thiên Huế

Sau khi Luật Đất đai năm 2013 và các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai có hiệu lực, Uỷ ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế đã tổ chức các lớp tập huấn cho các cán bộ chủ chốt từ tỉnh đến cơ sở. Đồng thời tổ chức tuyên truyền, tìm hiểu về Luật Đất đai trên các phương tiện thông tin đại chúng và bằng nhiều hình thức phong phú nhằm giúp người dân hiểu và thực hiện Luật Đất đai. Việc ban hành các văn bản cụ thể hoá các nội dung quản lý Nhà nước về đất đai đồng thời tổ chức đôn đốc các cơ quan chức năng thực hiện các văn bản trên địa bàn theo thẩm quyền quy định của Luật Đất đai năm 2013 được Uỷ ban nhân dân tỉnh thực hiện khẩn trương.

Nhìn chung, để đảm bảo thực hiện pháp luật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn Thừa Thiên Huế, UBND Tỉnh đã ban hành nhiều văn bản để hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2013 nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất tại địa phương, thúc đẩy kinh tế – xã hội Thừa Thiên Huế phát triển nhanh, bền vững mà không làm mất đi những nét đặc trưng về văn hóa – xã hội như yếu tố tâm linh, phong tục tập quán, di sản văn hóa thế giới, lợi thế du lịch… Luật Đất đai năm 2013 được thông qua ngày 29/11/2013, có hiệu lực ngày 1/7/2014 trên cơ sở kế thừa những quan điểm của Luật Đất đai 2003 và luật hóa các nội dung được quy định ở văn bản dưới luật. Luận văn: Thực trạng về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.

Nhận thức được đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là nguồn lực để phát triển đất nước, cần tăng cường quản lý Nhà nước để sử dụng tiết kiệm và hiệu quả, ngay từ những năm đầu của thời kỳ đổi mới, Nhà nước đã ban hành và thực hiện nhiều chủ trương, chính sách và pháp luật về quản lý sử dụng đất nói chung và quy hoạch sử dụng đất nói riêng. Nghiên cứu, khảo sát tình hình thực hiện pháp luật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tại Thừa Thiên Huế cho thấy việc lập và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo Luật Đất đai đã có tiến bộ, đạt được một số kết quả, đồng thời cũng còn những tồn tại, yếu kém. Nhìn chung, từ khi Luật Đất đai năm 2013 chính thức có hiệu lực, Thừa Thiên Huế đã nhanh chóng triển khai thực hiện kịp thời và đầy đủ và đã ban hành các văn bản để hướng dẫn thực hiện Luật Đất đai 2013 tại địa phương. Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật tiến hành đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền và đúng tiến độ đã giúp việc quản lý đất đai nói chung, thực hiện công tác quy hoạch nói riêng được thuận tiện hơn. Sở TNMT luôn có sự tham mưu kịp thời cùng với các sở ban ngành liên quan giúp cho HĐND và UBND sớm hoàn thành các văn bản pháp luật trong lĩnh vực quy hoạch sử dụng đất. Trên cơ sở các văn bản của HĐND và UBND, Sở TNMT cũng đã kịp thời và nhanh chóng triển khai xây dựng công văn hướng dẫn cho các Phòng TNMT thực hiện các văn bản pháp luật quy hoạch sử dụng đất. Về công tác phổ biến, tuyên truyền và giáo dục pháp luật về đất đai, quy hoạch đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành đã được các Sở, ban, ngành và các huyện tích cực triển khai. UBND tỉnh đã chủ trì các hội nghị quán triệt, phổ biến Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Đồng thời coi nhiệm vụ thực hiện các quy định của pháp luật về quy hoạch sử dụng đất là nhiệm vụ quan trọng, đầu tiên.

2.2.2.1 Về nguyên tắc, căn cứ, thời hạn và chi phí lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được thực hiện nghiêm túc theo quy định của pháp luật. Quy hoạch tỉnh Thừa Thiên Huế đã phù hợp, thống nhất với các chỉ tiêu phát triển, chiến lược phát triển kinh tế – xã hội đã được thông qua trong Quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội Thừa Thiên Huế và quy hoạch sử dụng đất của cả nước. Quy hoạch sử dụng đất đã phản ánh đúng nhu cầu của thị trường, công tác quy hoạch sử dụng đất đã cung cấp cho thị trường bất động sản Thừa Thiên Huế nhiều loại hàng hóa, từ khu biệt thự liền kề cao cấp đến chung cư thu nhập thấp, đáp ứng nhu cầu nhà ở của nhiều tầng lớp nhân dân.

Quá trình lập quy hoạch cũng đã chú trọng đến việc tuân thủ nguyên tắc dân chủ, công khai thông qua việc lấy ý kiến đóng góp của nhân dân và niêm yết các bản đồ quy hoạch. Nguyên tắc bảo tồn di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, bảo vệ môi trường cũng đã được đưa vào như một yêu cầu cơ bản trong các thuyết minh quy hoạch sử dụng đất. Báo cáo thuyết minh tổng hợp quy hoạch sử dụng đất cho thấy việc lập quy hoạch các cấp tại Thừa Thiên Huế tuân thủ nguyên tắc chỉ đạo được quy định trong Luật Đất đai 2013 sửa đổi bổ sung năm 2018, Luật Quy hoạch và các văn bản khác có liên quan.

Trong quá trình lập quy hoạch của Tỉnh cũng như các cấp huyện, cấp xã luôn chú trọng đến nguyên tắc bảo vệ môi trường và quan tâm đến quy hoạch để bảo tồn di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, quy hoạch sử dụng đất thống nhất với quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng cũng như tiến hành “Đánh giá môi trường chiến lược”. Song bên cạnh những kết quả tuân thủ nghiêm túc, nguyên tắc lập quy hoạch sử dụng đất theo quy định của pháp luật vẫn còn một số nguyên tắc mang tính hình thức, thiếu tính khả thi như nguyên tắc dân chủ công khai trong khi lập quy hoạch. Tiến độ xây dựng quy hoạch sử dụng đất chậm chưa đảm bảo. Thời hạn quy hoạch đất (còn được gọi là kỳ quy hoạch, kế hoạch đất) được áp dụng triệt để trong công tác quy hoạch đất tại Thừa Thiên Huế. Luận văn: Thực trạng về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.

Thực hiện Luật Đất đai năm 2013; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 37 luật có liên quan đến quy hoạch; Công văn số 8493/UBND-ĐC ngày 21 tháng 9 năm 2020 của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế về việc đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thời kỳ 2011-2020, lập kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2021-2025 cấp tỉnh, lập quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2021 – 2030 và kế hoạch sử dụng đất năm 2021 cấp huyện, UBND các huyện, thị xã, thành phố Huế đã xây dựng Nhiệm vụ và dự toán lập Quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Trên cơ sở ý kiến thẩm định Nhiệm vụ lập Quy hoạch sử dụng đất thời ỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050 của Sở Tài nguyên và Môi trường, UBND các huyện, thị xã, thành phố Huế đã có báo cáo về tiếp thu ý kiến thẩm định và đã phê duyệt nhiệm vụ, dự toán dự án “Lập quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050” của các địa phương.

Trong công tác thực thi pháp luật đất đai nói chung và QH, KHSDĐ nói riêng, các cấp ủy đảng, chính quyền và các đơn vị liên quan của tỉnh Thừa Thiên Huế luôn có sự quan tâm định hướng, chỉ đạo xây dựng và tổ chức thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Trong quá trình tổ chức lập QH, KHSDĐ việc ban hành các văn bản chỉ đạo, phân công cụ thể đối với các cơ quan, đơn vị được đảm bảo theo đúng quy định. Bên cạnh đó, tỉnh Thừa Thiên Huế luôn chú trọng đến nguyên tắc tập trung dân chủ và công khai nhằm phát huy trí tuệ của tập thể, nâng cao tính hiệu quả; phương án quy hoạch về cơ bản đáp ứng được nhu cầu đất đai cho mục đích phát triển KT-XH, bảo vệ môi trường, đặc biệt, tỉnh cũng dành sự chỉ đạo, quan tâm đến bảo tồn di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh, ví dụ minh chứng rõ nhất đó là “Cuộc di dân lịch sử” – Dự án di dời dân cư Khu vực 1 Kinh thành Huế với 2 giai đoạn. Giai đoạn 1 (2019-2021) và giai đoạn 2 (2022-2025). Tỉnh đã có những QH, KH chi tiết đảm bảo cho việc di dời dân cư một cách thuận tiện, nhanh chóng nhất để triển khai dự án.

Xác định công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và việc quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một nội dung quan trọng trong QLNN về đất đai. HĐND tỉnh đã ban hành chương trình, kế hoạch và tổ chức giám sát chuyên đề về công tác lập QH, KHSDĐ và quản lý sử dụng đất trên địa bàn tỉnh, qua kiểm tra, giám sát đã đánh giá được những kết quả đạt được, hạn chế và khó khăn vướng mắc, để từ đó có các biện pháp khắc phục. Luận văn: Thực trạng về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.

Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế, bất cập như: một số nội dung được vận dụng cứng nhắc, thiếu linh hoạt, còn mang tính hình thức, nguyên tắc công khai ở một số nơi chưa được chú trọng thức hiện, còn qua loa, đại khái, đất đai chưa được sử dụng một cách tiết kiệm, hiệu quả do phương án phân bổ chưa sát với nhu cầu thực tế, tiến độ lập QH, KHSDĐ ở một số huyện còn chậm.

2.2.2.2 Về trình tự, thẩm quyền xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tại Thừa Thiên Huế

UBND tỉnh Thừa Thiên Huế đã chủ động triển khai, thực hiện công tác lập QH, KHSDĐ, lập danh mục thu hồi đất, chuyển mục đích SDĐ và tổ chức trình Chính phủ thẩm định, phê duyệt theo quy định. Ban hành quy trình lập, tổ chức thực hiện QH, KHSDĐ của tỉnh nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho UBND cấp huyện thực hiện. Nhìn chung công tác lập, xây dựng QH, KHSDĐ của tỉnh Thừa Thiên Huế về cơ bản được thực hiện nghiêm túc theo đúng trình tự, thẩm quyền quy định, bảo đảm đầy đủ về thủ tục pháp lý, nội dung và các chỉ tiêu có tính khả thi, phù hợp với điều kiện thực tế, dựa trên dự báo nhu cầu SDĐ của ngành, lĩnh vực, địa phương trên địa bàn tỉnh trong tương lai, gắn với tốc độ phát triển KT-XH, định hướng xây dựng tỉnh Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc trung ương; quy hoạch tổng thể KT-XH;…

Công tác thẩm định, quyết định, phê duyệt đối với QH, KHSDĐ của tỉnh vẫn được đảm bảo, sau khi điều chỉnh QHSDĐ đến năm 2020 và KHSDĐ kỳ cuối (2016 – 2020) tỉnh Thừa Thiên Huế9. UBND tỉnh đã ban hành Quyết định về phân bổ chỉ tiêu QHSDĐ đến năm 2020 và KHSDĐ cho các huyện, thị xã, thành phố. Trên cơ sở đề nghị của UBND cấp huyện và Nghị quyết thống nhất của HĐND cấp huyện, UBND tỉnh đã thực hiện xét duyệt QHSDĐ cho các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn.

Đồng thời, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế cũng đã ban hành Quyết định về việc phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Để thực hiện được việc này, căn cứ Luật Quy hoạch và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Quy hoạch, Uỷ ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế đã thành lập Ban chỉ đạo lập quy hoạch tỉnh do đồng chí Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh làm Trưởng ban chỉ đạo; Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư làm phó trưởng Ban chỉ đạo – Thường trực Ban chỉ đạo và 30 thành viên khác là Giám đốc các sở, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và Thủ trưởng các cơ quan đơn vị: Giám đốc Công an tỉnh, Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh, Chỉ huy trưởng Bộ đội Biên phòng tỉnh, Cục trưởng Cục Thống kê, Trưởng Ban quản lý các Khu công nghiệp, Viện nghiên cứu phát triển.

UBND tỉnh Thừa Thiên Huế đã có công văn số 4159/UBND-TTH ngày 13/6/2018 về việc lập Quy hoạch tỉnh Thừa Thiên Huế thời kỳ 2021-2030; Quyết định 3214 /QĐ-UBND ngày 12/12/2019 về việc phê duyệt đề cương và dự toán kinh phí Nhiệm vụ lập Quy hoạch tỉnh Thừa Thiên Huế thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, trong đó giao Sở Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan lập quy hoạch tỉnh. Luận văn: Thực trạng về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.

Việc lập Quy hoạch tỉnh Thừa Thiên Huế thời kỳ 2021- 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã được thực hiện tuân thủ quy trình lập quy hoạch tỉnh tại khoản 4 Điều 16 Luật Quy hoạch và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Sau khi Nhiệm vụ lập quy hoạch tỉnh được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 646/QĐ-TTg ngày 15/5/2020, Uỷ ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế đã ban hành các quyết định: Quyết định số 3100/QĐ-UBND về việc phê duyệt chi phí lập Quy hoạch tỉnh Thừa Thiên Huế thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; Phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu lập Quy hoạch tỉnh Thừa Thiên Huế thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 tại Quyết định số 3278/QĐ-UBND ngày 24/12/2020 và phê duyệt điều chỉnh kế hoạch lựa chọn nhà thầu lập Quy hoạch tỉnh Thừa Thiên Huế thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 tại Quyết định số 1037/QĐ-UBND ngày 11/5/2021. Trong quá trình lập hồ sơ mời thầu, với mong muốn tìm kiếm đơn vị tư vấn có năng lực, đáp ứng yêu cầu lập Quy hoạch tỉnh Thừa Thiên Huế thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, UBND tỉnh đã tổ chức cuộc họp tham vấn nội dung lập Quy hoạch tỉnh theo Giấy mời số 150/GM-UBND ngày 22/3/2021; bên cạnh đó gặp khó khăn trong việc xác định điều kiện về năng lực chuyên môn đối với tổ chức tư vấn lập quy hoạch và đã được Bộ Kế hoạch và Đầu tư quan tâm tháo gỡ tại văn bản số 3330/BKHĐT QLQH ngày 02/6/2021. Theo đó, Sở Kế hoạch và Đầu tư tổ chức 2 lần đấu thầu: Ngày 8/6/2021 Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh đã có thông báo mời thầu và đã phát hành hồ sơ mời thầu qua Hệ thống mạng đấu thầu Quốc gia vào ngày 12/6/2021. Tuy nhiên, do các nhà thầu tham dự thầu không đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật; ngày 20/10/2021, tiếp tục mời thầu (lần 2) và tiến hành mở thầu vào ngày 15/11/2021. Các gói thầu tư vấn đều được tổ chức đấu thầu rộng rãi, công khai, minh bạch theo quy định của pháp luật về đầu thầu. Đến ngày 27/12/2022, tỉnh đã phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu lập quy hoạch tỉnh là “Liên danh Công ty TNHH HaskoningDHV Việt Nam – Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế miền Nam- Công ty TNHH Đồng Tiến”.

Sau khi lựa chọn được đơn vị tư vấn, UBND tỉnh đã giao Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp đơn vị tư vấn và các Sở, ngành, địa phương khẩn trương lập, hoàn thiện Quy hoạch tỉnh trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Đã tổ chức các các cuộc họp, các hội thảo khởi động, đầu kỳ, chuyên đề và giữa kỳ về quy hoạch; Tổ chức Hội thảo Báo cáo cuối kỳ và phương án mô hình các đơn vị hành chính thành phố trực thuộc Trung ương về việc lấy ý kiến các chuyên gia, các tỉnh/thành, nhà khoa học, các đồng chí lãnh đạo Bộ, nguyên lãnh đạo tỉnh qua các thời kỳ, quản lý các cấp, các Sở, ban, ngành và địa phương, các hiệp hội, doanh nghiệp,… về nội dung lập Quy hoạch tỉnh vào ngày 29/12/2022. Theo đó, được UBND tỉnh chỉ đạo tại các Thông báo kết luận số 20/TB-UBND ngày 18/01/2022 về cuộc họp Ban chỉ đạo thực hiện dự án Quy hoạch, Thông báo số 97/TB-UBND ngày 18/03/2022 về báo cáo tiến độ lập Quy hoạch tỉnh, Thông báo số 154/TB-UBND ngày 28/04/2022 về báo cáo đầu kỳ Quy hoạch tỉnh, Thông báo số 388/TB-UBND ngày 04/11/2022 về báo cáo giữa kỳ Quy hoạch tỉnh, Thông báo số 24/TB-UBND ngày 16/01/2023 về Hội nghị Quy hoạch tỉnh Thừa Thiên Huế thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 và công văn 1016/UBND-QHXT ngày 10/2/2023 về việc đôn đốc thực hiện thông báo số 24/TB-UBND ngày 16/01/2023 hoàn thiện Báo cáo cuối kỳ quy hoạch tỉnh. Luận văn: Thực trạng về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.

Hoàn thiện hồ sơ Quy hoạch tỉnh và có văn bản số 13838/UBND-QHXT ngày 30/12/2022 gửi Bộ Quốc phòng, Bộ Công an về việc xin ý kiến đối với dự thảo hồ sơ Quy hoạch tỉnh Thừa Thiên Huế thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 và nhận được tham gia góp ý từ Bộ Quốc phòng tại Văn bản số 303/BQP-TM ngày 08/02/2023, Bộ Công an tại Văn bản số 468/BCA-ANKT ngày 27/2/2023. UBND tỉnh có văn bản số 1950/UBND-QHXT, 1946/UBND-QHXT, 1948/UBND-QHXT ngày 07/3/2023 đã tổ chức lấy ý kiến các bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan, UBND cấp tỉnh các địa phương trong vùng; Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, các sở ban, ngành địa phương, các thành viên Ban chỉ đạo lập Quy hoạch tỉnh, Hội đồng chuyên gia theo Quyết định số 1814/QĐ-UBND ngày 01/8/2022 do Chủ tịch UBND tỉnh thành lập. Đến nay, đã có ý kiến tham gia 20/25 các bộ, cơ quan ngang bộ, tổ chức có ý kiến tham gia và 05 cơ quan chưa tham gia ý kiến (gồm có: UB dân tộc; Văn phòng Chính phủ; Tập đoàn Điện Lực; Tổng công ty truyền tải điện QG và miền Trung). Về phía các địa phương trong vùng đã có 13/13 địa phương tham gia góp ý.

Đồng thời đã lấy ý kiến UBND cấp huyện, hoàn thành tổ chức công bố công khai lấy ý kiến cộng đồng dân cư tại Văn bản số 888/SKHĐT-THQH ngày 13/3/2023 đảm bảo thời gian tối thiểu 30 ngày theo quy định tại điểm a, khoản 5, điều 32 Nghị định số 37/2019/NĐ-CP ngày 07/5/2019 của Chính phủ. Đồng thời, Sở Kế hoạch và Đầu tư tiếp tục phối hợp Đơn vị tư vấn bổ sung, điều chỉnh và hoàn thiện các Báo cáo của 42 nội dung đề xuất đảm bảo yêu cầu tích hợp vào Báo cáo tổng hợp Quy hoạch tỉnh theo quy định tại Khoản 10 Điều 3 Luật Quy hoạch.

Tổ chức tiếp thu giải trình các ý kiến của các bộ ngành, cơ quan ngang bộ, UBND các tỉnh liền kề và địa phương trong Vùng; Sở ban ngành, địa phương; Hội đồng chuyên gia theo Quyết định số 1814/QĐ-UBND ngày 01/8/2022 của Chủ tịch UBND tỉnh về việc thành lập Hội đồng chuyên gia tư vấn, giám sát và phản biện Dự án Lập Quy hoạch tỉnh Thừa Thiên Huế thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050; chuyên gia, cộng đồng dân cư và khẩn trương hoàn thiện hồ sơ Báo cáo Quy hoạch tỉnh trình thẩm định theo tiến độ.

Nhìn chung việc thẩm định, quyết định, phê duyệt đối với QH, KHSDĐ trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế được diễn ra nghiêm túc, đầy đủ các bước, nội dung theo quy định. Qua thẩm định đã chỉ rõ được những tồn tại, bất cập trong việc lập KHSDĐ của cấp huyện, như vấn đề bảo vệ nghiêm ngặt đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, đánh giá rõ kết quả thực hiện KHSDĐ nằm trước; đề ra các giải pháp sát với tình hình thực tiễn của địa phương để thực hiện có hiệu quả,… Tuy nhiên, thời gian trình, thực hiện thẩm định còn chậm, chất lượng nội dung chi tiết lập vẫn chưa bao quát hết được các vấn đề, vẫn còn chung chung chưa cụ thể, nhiều dự án có SDĐ chưa xác định đầy đủ thông tin mà đăng ký quá nhiều danh mục nên tính khả thi không cao, một số dự án chưa xác định rõ sự phù hợp với QHSDĐ đã được phê duyệt, chưa có chủ trương đầu tư nhưng cũng được cấp huyện đề nghị đưa vào danh mục KHSDĐ.

2.2.2.3 Việc lấy ý kiến đóng góp của nhân dân vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Tỉnh Thừa Thiên Huế đặc biệt quan tâm đến việc lấy ý kiến đóng góp của người dân, tổ chức trong việc quy hoạch nói chung và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nói riêng. Trình tự, hình thức, nội dung và thời gian lấy ý kiến nhân dân về QH, KHSDĐ và tổng hợp các ý kiến tiếp thu, giải trình lại các ý kiến còn khác nhau được đảm bảo theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, việc lấy ý kiến nhân dân ở một số huyện còn khó khăn, do địa lý, cơ sở vật chất,… dẫn đến hiệu quả chưa cao, mang tính hình thức, chưa thực hiện đồng bộ được các giải pháp lấy ý kiến. Ngoài ra, một bộ phân người dân không có sự quan tâm đúng mực, chú trọng việc tiếp nhận thông tin hoặc tiếp cận qua loa nên không kịp thời nắm bắt các chủ trương, chính sách về đất đai.

Ngày 27/10/2022, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế đã tổ chức Hội thảo góp ý báo cáo Quy hoạch tỉnh Thừa Thiên Huế thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (lần 1), với sự tham dự của hơn 100 đồng chí là lãnh đạo các sở ban ngành, địa phương; các Hội liên quan đến Quy hoạch, Hiệp hội doanh nghiệp cùng một số các doanh nghiệp lớn của tỉnh,… và đơn vị tư vấn lập Quy hoạch tỉnh. Luận văn: Thực trạng về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.

2.2.2.4. Về công bố quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Sau khi có QHSDĐ đến năm 2020 và KHSDĐ kỳ cuối (2016-2020) tỉnh Thừa Thiên Huế; QH, KHSDĐ của các huyện, thị xã, thành phố thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. UBND tỉnh đã chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi trường, Đài phát thanh và truyền hình tỉnh, Cổng thông tin điện tử và UBND cấp huyện kịp thời công bố, công khai, chuyển tải thông tin về QH, KHSDĐ đã được phê duyệt để người dân đều biết, dưới nhiều hình thức khác nhau, tăng cường độ lặp lại nhiều lần, như: đăng trên trang thông tin điện tử; tuyên truyền qua đài phát thanh, truyền hình; niêm yếu công khai tại UBND các cấp; trong các buổi tiếp xúc cử tri, đây là kênh thông tin hữu hiệu để vừa cung cấp thông tin cho người dân, vừa giải đáp thắc mắc và tiếp thu các ý kiến, thắc mắc của cử tri, nhân dân; Đặc biệt, với việc Trung tâm Giám sát, điều hành đô thị thông minh (IOC) tỉnh Thừa Thiên Huế đi vào hoạt động và ra mắt dịch vụ “Tra cứu thông tin quy hoạch” trên ứng dụng Hue-s với nhiều tiện ích phong phú, thiết thực phục vụ người dân đã đảm bảo sự tiếp cận của người dân đối với QH, KHSDĐ trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, hướng đến việc chuyển đổi số trong QH, KHSDĐ.

Nhìn chung, việc công bố, công khai QH, KHSDĐ đã được các cấp, các ngành quan tâm chỉ đạo, song một số nơi vẫn chưa thực hiện tốt, vẫn còn tình trạng đối phó, việc niêm yết tại trụ sở UBND còn sơ sài, vị trí không thuận tiện, việc công bố trên các trang thông tin điện tử vẫn chưa phát huy hết hiệu quả, nhất là đối với các địa bàn vùng sâu, vùng xa, trình độ dân trí còn thấp.

2.2.2.5. Về các chỉ tiêu thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011 – 2015) tỉnh Thừa Thiên Huế đã được Chính phủ xét duyệt tại Nghị quyết số 53/NQ-CP ngày 17 tháng 4 năm 2013; Điều chỉnh Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối (2016-2020) tỉnh Thừa Thiên Huế được Chính phủ xét duyệt tại Nghị quyết số 72/NQ-CP ngày 06/6/2018; UBND tỉnh Thừa Thiên Huế đã ban hành Công văn số 4635/UBND-ĐC ngày 29/6/2018 về phân bổ chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 cấp huyện, triển khai việc thu hồi đất, giao đất và chuyển mục đích sử dụng đất theo điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đã được duyệt. Cũng như, phê duyệt bổ sung kế hoạch sử dụng đất năm 2023 của huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh.

Tuy nhiên do công tác kiểm kê đất đai năm 2014, 2019 có nhiều thay đổi (về cả chỉ tiêu sử dụng đất, cách thức tổ chức thực hiện); đồng thời các năm gần đây tỉnh tập trung đẩy mạnh công tác đo đạc địa chính quy mô nên cho kết quả chính xác hơn, kết quả giữa 2 kỳ kiểm kê đất đai có sự tăng, giảm diện tích tự nhiên và diện tích một số loại đất. Điều này cũng ảnh hưởng đến việc thực hiện chỉ tiêu thực hiện trong kỳ có mức chênh lệch lớn so với chỉ tiêu quy hoạch được duyệt.

Theo Quyết định số 326/QĐ-TTg ngày 09 tháng 3 năm 2022 về Phân bổ chỉ tiêu Quy hoạch sử dụng đất quốc gia thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050, Kế hoạch sử dụng đất quốc gia 5 năm 2021 – 2030 đã được Thủ tướng chính phủ phê duyệt, tỉnh Thừa Thiên Huế có các chỉ tiêu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến năm 2030 và đến năm 2025 phân bổ trên địa bàn theo bảng sau:

2.2.3. Đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị tại tỉnh Thừa Thiên Huế Luận văn: Thực trạng về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.

Sau khi đi vào phân tích, đánh giá những nội dung cụ thể về việc thực hiện pháp luật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tại tỉnh Thừa Thiên Huế, tôi có thể khái quát một số kết quả đạt được cũng như những hạn chế cần khắc phục, nguyên nhân tồn tại trong thực tiễn thực hiện pháp luật tại Thừa Thiên Huế.

2.2.3.1. Kết quả đạt được

Thứ nhất, trong những năm gần đây hoạt động quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã đi vào nề nếp, cán bộ quản lý Nhà nước về đất đai, cũng như cộng đồng đã nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của quy hoạch sử dụng đất, nhận thức được quyền lợi và nghĩa vụ của mình liên quan đến quy hoạch sử dụng đất, các hoạt động cần thiết để bảo đảm thi hành Luật Đất đai đều được ban hành kịp thời. Thừa Thiên Huế kịp thời xây dựng các văn bản hướng dẫn Luật Đất đai về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và nhanh chóng triển khai các văn bản đó.

Thứ hai, việc lập và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất từ chỗ có chỉ đạo nhưng còn hình thức, gần đây đã đi vào thực chất hơn, có nề nếp hơn, nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật. Các nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được thực hiện nghiêm túc trong quá trình triển khai, đặc biệt quan tâm chú trọng đến những đặc thù của Tỉnh về kinh tế – xã hội như vấn đề quan điểm tâm linh trong chôn cất, xây dựng lăng mộ hay vấn đề bảo vệ di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, chú trọng việc bảo vệ môi trường để phát triển bền vững trong quá trình lập quy hoạch.

Thứ ba, quy định về việc lấy ý kiến đóng góp của nhân dân trong xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo quy định của pháp luật đã được lưu ý đưa vào trong quá trình xây dựng quy hoạch chi tiết cấp xã.

Thứ tư, quy định của pháp luật về công bố quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được UBND Tỉnh chỉ đạo các cơ quan có thẩm quyền thực hiện, thậm chí có nhiều cơ quan ngoài các hình thức công bố quy hoạch bắt buộc theo luật định thì nhiều cơ quan còn sáng tạo thêm các hình thức công bố (công bố qua Hội nghị tiếp xúc cử tri hoặc thông qua đài truyền thanh phường, xã).

Thứ năm, thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về thực hiện quy hoạch, hạn chế tình trạng “quy hoạch treo”, mọi hoạt động quản lý Nhà nước về đất đai như cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất… đều căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.

Thứ sáu, thực hiện tốt các quy định của pháp luật đất đai về bảo vệ diện tích đất nông nghiệp, bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển rừng. Luận văn: Thực trạng về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.

Thứ bảy, thực hiện tốt các quy định của pháp luật về nội dung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, xác định được mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể của từng nhu cầu sử dụng đất, góp phần định hướng cho việc tổ chức triển khai thực hiện trong thực tế.

Qua việc thực hiện các quy định của pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, Thừa Thiên Huế đã dần đưa công tác quy hoạch đi vào nề nếp, góp phần thúc đẩy kinh tế – xã hội địa phương phát triển mà vẫn đảm bảo được nguyên tắc phát triển bền vững.

Tuy nhiên, đất đai là tài nguyên thiên nhiên đặc biệt, Thừa Thiên Huế lại có nhiều yếu tố mang tính đặc trưng về kinh tế – chính trị, văn hóa xã hội, chính sách pháp luật về đất đai nói chung, về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nói riêng chưa hoàn thiện, nhận thức của người dân về vai trò của quy hoạch sử dụng đất còn hạn chế dẫn đến việc thực hiện các quy định của pháp luật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tại Thừa Thiên Huế không tránh khỏi những hạn chế, bất cập. Bên cạnh những kết quả đạt được như đã nêu trên, việc thực hiện pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tại Thừa Thiên Huế còn nổi lên:

2.2.3.2. Một số hạn chế như sau:

Thứ nhất, tiến độ lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp còn chậm, thậm chí có nơi rất chậm, nhất là ở cấp xã; việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất không đúng quy định của pháp luật quy hoạch về quy trình, thủ tục, thẩm quyền, chưa lựa chọn được phương án sử dụng đất để phát huy hết lợi thế sẵn có của Thừa Thiên Huế.

Chậm hoàn thành quy hoạch đang là một trong những nguyên nhân quan trọng làm ảnh hưởng đến việc kêu gọi nhà đầu tư, cũng như chậm tiến độ triển khai nhiều dự án trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.

Vấn đề này cần được các sở, ngành của địa phương sớm vào cuộc chung tay tháo gỡ nhằm giải quyết rốt ráo “điểm nghẽn” . Việc kêu gọi các dự án đầu tư cũng như quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư, chấp thuận nhà đầu tư, đấu giá quyền sử dụng đất để lựa chọn nhà đầu tư phải phù hợp với nhiều loại quy hoạch khác nhau như quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh, quy hoạch ngành, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị, quy hoạch bảo tồn di tích, an ninh, quốc phòng…

Hiện nay, tỉnh Thừa Thiên Huế có 148/246 dự án đang kêu gọi đầu tư nhưng phải chờ quy hoạch để lập thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư. Ngoài ra, một số dự án đã được chấp thuận chủ trương đầu tư lại chưa có quy hoạch phân khu được duyệt theo quy định, ảnh hưởng đến việc triển khai dự án.

Đối với quy hoạch xây dựng và quy hoạch đô thị, đến nay tỷ lệ phủ kín quy hoạch chung xây dựng đô thị của tỉnh Thừa Thiên Huế đạt 100%; tỷ lệ phủ kín quy hoạch phân khu so với diện tích đất xây dựng đô thị đạt khoảng hơn 62%; quy hoạch chi tiết 1/500 toàn tỉnh đạt trên 15%… Luận văn: Thực trạng về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.

Theo Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thừa Thiên Huế, việc lập Quy hoạch tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch vào tháng 5/2020. Nhìn chung, tiến độ lập quy hoạch chung của tỉnh cũng như các quy hoạch khác ở Thừa Thiên Huế còn chậm so với kế hoạch đề ra.

Việc quy hoạch sử dụng đất chưa chuẩn bị tốt cho các mũi nhọn phát triển Thừa Thiên Huế như phát triển du lịch văn hóa tâm linh, di sản, chưa xây dựng được khu hành chính – dịch vụ chuẩn bị cho việc thành lập thành phố Trung ương…

Thứ hai, chất lượng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất còn thấp. Quy hoạch sử dụng đất ở một số huyện, thị còn có nội dung chưa phù hợp với thực tiễn, tính khả thi thấp, độ chênh lệch giữa dự báo trong quy hoạch thực hiện trong thực tế còn lớn. Do đó, tính định hướng, tính ổn định của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất còn hạn chế, nhiều quy hoạch vẫn trong tình trạng “treo” nhiều năm mà không được công bố hủy bỏ, điều chỉnh như quy hoạch đường Hoàng Thị Loan, quy hoạch đường bao quanh Đàn Nam Giao… Hiệu lực của quy hoạch sử dụng đất còn thấp, ý thức chấp hành quy hoạch sử dụng đất chưa tốt, công tác quản lý, triển khai, xử lý vi phạm về quy hoạch sử dụng đất còn nhiều bất cập.

Việc công khai quy hoạch sử dụng đất đã được thực hiện tuy nhiên không đồng đều, tại một số địa phương còn chậm và mang tính hình thức nhất là quy hoạch sử dụng đất chi tiết của các huyện miền núi Nam Đông, A Lưới. Đơn thư khiếu nại tố cáo phát sinh nhiều nhất hiện nay là có nội dung liên quan đến lĩnh vực đất đai, có nhiều vụ khiếu kiện đông người, tính chất gay gắt, vượt cấp.

Thứ ba, công tác quản lý quy hoạch sử dụng đất còn mang tính hình thức. Việc quản lý chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp còn yếu kém, để xảy ra tình trạng tăng diện tích sản xuất một cách tự phát không theo quy hoạch đã xét duyệt. Diện tích đất dành cho khu công nghiệp, khu dân cư mới, sân golf chủ yếu lấy từ đất đang sản xuất nông nghiệp, trong đó có nhiều diện tích có khả năng thâm canh cao (Phú Lộc, Hương Thủy). Tại một số địa phương, việc kiểm tra thực hiện quy hoạch sử dụng đất còn buông lỏng, chưa phát hiện và xử lý kịp thời các vi phạm. Việc kiểm tra của UBND và giám sát của HĐND các cấp đối với việc lập và triển khai thực hiện quy hoạch sử dụng đất chưa được coi trọng và chưa được thực hiện thường xuyên.

Thứ tư, quá trình thực hiện pháp luật quy hoạch sử dụng đất chưa giải quyết được mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế với bảo tồn những giá trị văn hóa. Các cơ quan chức năng tại địa phương thiếu sự phối, kết hợp và phân công trách nhiệm quyền hạn rõ ràng trong việc quản lý sau quy hoạch. Công tác quy hoạch còn chắp vá, chưa đồng bộ. Trong quá trình lập kế hoạch sử dụng đất chưa có sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa các ngành với địa phương dẫn đến sự chồng chéo trong quy hoạch của các ngành với các địa phương. Chất lượng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất còn hạn chế, đặc biệt chưa có dự báo chính xác về nhu cầu quỹ đất. Luận văn: Thực trạng về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.

Thứ năm, thiếu sự giám sát của nhân dân trong quá trình xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, hiện tượng tiêu cực trong quy hoạch như mua bán thông tin quy hoạch, quy hoạch vì lợi ích cục bộ, bẻ cong quy hoạch vẫn còn diễn ra tại Thừa Thiên Huế. Một số địa phương, tổ chức, cá nhân chưa thật sự coi trọng hiệu quả sử dụng đất dẫn đến sử dụng đất còn lãng phí, bỏ hoang hoá, vi phạm quy hoạch được duyệt.

2.2.3.3 Nguyên nhân của hạn chế như sau:

Việc thực hiện QHSDĐ đến năm 2023 của tỉnh Thừa Thiên Huế nhìn chung đã đạt được kết quả nhất định, đáp ứng kịp thời nhu cầu sử dụng đất cho các mục đích sử dụng; đã khai thác được tiềm năng về đất đai tạo nguồn thu cho ngân sách để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng và là nguồn lực quan trọng trong quá trình xây dựng đô thị, nông thôn ở tỉnh Thừa Thiên Huế trong những năm qua. Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế trong việc lập và thực hiện QHSDĐ xuất phát từ một số nguyên nhân sau:

  • a) Nguyên nhân khách quan

Hệ thống pháp luật về QHSDĐ của chúng ta chưa đầy đủ, bất cập và yếu kém dẫn đến việc thực hiện các quy định này ở Thừa Thiên Huế còn hạn chế, vai trò của QHSDĐ chưa phát huy được.

Do điều kiện tự nhiên của tỉnh Thừa Thiên Huế với nhiều địa hình phức tạp, khí hậu khắc nghiệt, tài nguyên cạn kiệt, môi trường bị ô nhiễm gây khó khăn cho việc cân đối nhu cầu sử dụng đất và lựa chọn phương án sử dụng đất hiệu quả, ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện pháp luật về QHSDĐ. Vị trí địa lý không thuận lợi cho công tác quy hoạch tổng thể, QHSDĐ, thu hút đầu tư, phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất, khu đô thị và triển khai các công trình hạ tầng kỹ thuật.

Tình hình phát triển kinh tế của cả nước nói chung và của tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng gặp nhiều khó khăn nên đã tác động đến kết quả thực hiện chỉ tiêu sử dụng đất trên địa bàn tỉnh. Đặc biệt, sự xuất hiện của Đại dịch Covid-19, năm 2019 đã khiến chó các hoạt động phát triển KT-XH của tỉnh bị ảnh hưởng

Quy định về thời điểm triển khai lập quy hoạch, kế hoạch chưa ph hợp với thời điểm công bố chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của từng địa phương, trong khi nguyên tắc lập quy hoạch sử dụng đất lại căn cứ vào chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội đã dẫn đến tình trạng không có cơ sở pháp lý khi triển khai lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.

Hiện trạng QHSDĐ ở nước ta nói chung, đặc biệt là ở Thừa Thiên Huế, còn chịu tác động của các yếu tố lịch sử trong quá khứ và là kết quả của việc phát triển không theo quy hoạch hoặc thực hiện không đúng quy hoạch của giai đoạn trước ngày càng gia tăng. Vì vậy, việc khắc phục sẽ mất nhiều thời gian. Một số loại đất trong nhóm đất phi nông nghiệp thay đổi chỉ tiêu thống kê theo Thông tư số 28/2014/TT-BTNMT như: đất xây dựng trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp tách thành đất xây dựng trụ sở cơ quan và đất xây dựng công trình sự nghiệp; đất cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng tách ra thành đất xây dựng cơ sở tôn giáo, đất xây dựng cơ sở tín ngưỡng; đất văn hóa tách thành đất xây 13 dựng cơ sở văn hóa, đất sinh hoạt cộng đồng và đất khu vui chơi, giải trí công cộng; diện tích vườn tạp trong khu dân cư được bóc tách và chuyển sang đất trồng cây lâu năm,… Ngoài ra cập nhật kết quả đạc địa chính chính quy, kết quả đo đạc đất nông lâm trường trên địa bàn tỉnh.

  • b) Nguyên nhân chủ quan Luận văn: Thực trạng về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.

Sự lãnh đạo của cấp trên đối với lập và thực hiện QHSDĐ còn thiếu chặt chẽ, sự phối hợp giữa các bộ ngành với địa phương, giữa các đơn vị hành chính trong tỉnh chưa chặt chẽ nên có trường hợp chưa thể hiện đúng nguyện vọng, nhu cầu sử dụng đất.

Nhận thức về Luật đất đai, vai trò, tầm quan trọng của QHSDĐ tỉnh Thừa Thiên Huế còn hạn chế. QHSDĐ chưa thực sự được coi là cơ sở pháp lý quan trọng để tuân theo trong quá trình thực hiện. Thậm chí, một số cơ quan, tổ chức hiểu chưa đúng, chưa đầy đủ một số quy định liên quan đến quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Nhận thức pháp luật chưa cao dẫn đến việc chỉ đạo, thực hiện quy hoạch, tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất còn chậm, thiếu đồng bộ. Công tác quản lý, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm thiếu đồng bộ.

Việc quản lý, sử dụng đất đai theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chưa thực sự được quan tâm đúng mức dẫn đến vẫn còn tình trạng các dự án thực hiện không theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; lấn chiếm đất đai; chuyển mục đích sử dụng đất không xin phép cấp có thẩm quyền. Sự thiếu cụ thể và sự không nhất quán trong việc tổ chức và thực hiện QHSDĐ tại Thừa Thiên Huế cho thấy sự thiếu sáng tạo và quản lý không hiệu quả.

Cán bộ làm công tác lập QHSDĐ các cấp, nhất là cấp huyện, cấp xã vừa thiếu chuyên môn, vừa chưa nắm bắt hết nhu cầu sử dụng đất của các tổ chức, cá nhân tại các khu vực cần kết hợp quy hoạch ngành, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội, kế hoạch sử dụng đất, nghĩa là QHSDĐ chưa sát với thực tế.

Sự thiếu chủ động trong việc đầu tư nguồn vốn để thực hiện các dự án đã đăng ký trong phương án QHSDĐ đã được duyệt đã dẫn đến nhiều dự án không thể tiếp tục triển khai.

Công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chưa thực sự nghiêm túc, đặc biệt là việc quản lý, sử dụng đất theo các chỉ tiêu quy hoạch đã được phê duyệt. Công tác giám sát mới chỉ chủ yếu thông qua báo cáo của các cơ quan chuyên môn, thiếu tính thực tiễn; các phương tiện kỹ thuật, công cụ phục vụ cho công tác giám sát còn lạc hậu,… Việc ứng dụng công nghệ cao trong việc giám sát quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp nhằm đảm bảo tính khách quan chưa làm được.

Tiểu kết Chương 2 Luận văn: Thực trạng về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.

Pháp luật về quy hoach, kế hoạch sử dụng đất quản lý đô thị đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng đất, là công cụ hữu ích và chủ đạo trong việc thực hiện chiến lược sử dụng tài nguyên đất một cách hiệu quả, thích ứng và giảm nhẹ tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu, thúc đẩy nền kinh tế quốc gia phát triển. Với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta trong việc xây dựng và hướng đến hoàn thiện các quy định của pháp luật về quy hoach, kế hoạch sử dụng đất quản lý đô thị đã tạo ra một khung pháp lý đồng bộ. Chương 2 của luận văn, tác giả đã đánh giá, phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quản lý đô thị theo quy định của Luâṭ đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Bên cạnh đó, một nội dung quan trọng của chương 2 là việc tác giả đã phân tích, đánh giá về thực trạng thực hiện pháp luật về quy hoạch, kế hoạch, sử dụng đất đai đô thị tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Với đặc điểm là một tỉnh với nền văn hóa, di sản lâu đời, với những đặc trưng văn hóa vùng miền cùng với nhiệm vụ bảo tồn và phát huy văn hóa di sản Cố Đô, do đó vấn đề đất đai của tỉnh Thừa Thiên Huế rất phức tạp, việc thực thi vấn đề quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất rất quan trọng và nằm trong chiến lược bảo tồn và phát triển của quốc gia. Trong những giai đoạn vừa qua, Thừa Thiên Huế đã thực thi đầy đủ các quy định của Luật đất đai và các văn bản chỉ đạo của Trung ương về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Ngoài ra chương 2 luận văn còn phân tích về hạn chế bất cập và nguyên nhân của những hạn chế trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quản lý đô thị trong giai đoạn hiện nay của tỉnh nhà. Luận văn: Thực trạng về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.

Các nghiên cứu tại Chương 2 sẽ là luận cứ khoa học để tác giả đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về pháp luật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quản lý đô thị tại Chương 3.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Giải pháp về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế

2 thoughts on “Luận văn: Thực trạng về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế

  1. Luận văn: Thực trạng về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế says:

    Luận văn: Thực trạng về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế

  2. Pingback: Luận văn: Pháp luật về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464