Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết về việc nghiên cứu đề án
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế như hiện nay, nhượng quyền thương mại đã được chứng minh là một phương thức kinh doanh phổ biến đem lại hiệu quả cho các doanh nghiệp trong việc gia nhập thị trường hay mở rộng phát triển hệ thống kinh doanh. Đặc biệt, với việc nhận nhượng quyền thương mại từ các doanh nghiệp nước ngoài, doanh nghiệp nội địa sẽ được tiếp cận những kinh nghiệm và phương thức quản lý tiến bộ của thế giới, từ đó tạo sự phát triển bền vững cho nền kinh tế.
Thực tế, nhượng quyền thương mại diễn ra sôi động tại nhiều quốc gia phát triển như Mỹ, Úc, Nhật Bản từ rất sớm. Trong khi đó, nhượng quyền thương mại Việt Nam mới “chớm nở” từ những năm 90 của thế kỷ XX, muôn hơn so với các quốc gia phát triển Tuy nhiên, theo Hiệp hội nhượng quyền thương mại quốc tế (IFA), Việt Nam được đánh giá là thị trường nhượng quyền hấp dẫn tại khu vực Đông Nam Á và là điểm đến của nhiều thương hiệu quốc tế nổi tiếng như: McDonald’s, KFC, Burger King, Pizza Hut. Đồng thời, đối với thị trường trong nước, nhiều doanh nghiệp Việt Nam cũng đã hình thành mô hình nhượng quyền thương mại để phát triển thị trường nâng cao giá trị thương hiệu trong nước và vươn ra thị trường thế giới, trong đó không thể không kể đến những thương hiệu như: Cà phê Trung Nguyên, Phở 24, cà phê Bobby Brewers, giày dép T&T. Tại Việt Nam, nhượng quyền đã và đang bao trùm lên nhiều lĩnh vực khác nhau, ví dụ dịch vụ ăn uống giáo dục, y tế và dinh dưỡng, khách sạn, thời trang làm đẹp và chăm sóc da, giải trí, dịch vụ trẻ em và cửa hàng tiện lợi. Trong đó, nhượng quyền trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống chiếm tỷ trọng lớn nhất (43,7%). Bởi vậy, có thể nói, nhượng quyền thương mại ở Việt Nam đang có xu hướng phát triển nhanh, nhu cầu hợp tác nhượng quyền trong và ngoài nước ngày càng gia tăng trong những năm gần đây, đặc biệt trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống. Luận văn: Pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại.
Đáp ứng cho nhu cầu đó, nhượng quyền thương mại đang thu hút sự chú ý của các thương nhân. Nó chính là căn cứ phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên, đồng thời là căn cứ để giải quyết tranh chấp trong quan hệ nhượng quyền. Để có cơ sở và hành lang pháp lý điều chỉnh nhượng quyền thương mại, Luật Thương mại 2005 và các văn bản hướng dẫn đã chính thức ghi nhận hoạt động thương mại cũng như loại hợp đồng này. Tuy nhiên giữa thực tiễn với quy định pháp luật Việt Nam về nhượng quyền thương mại đã bộc lộ những khoảng trống, còn thiếu vắng các cơ sở pháp lý để việc thực hiện hợp đồng có hiệu quả. Điều này dẫn đến sự lúng túng của các bên trong việc thực hiện hợp đồng cũng như xảy ra những mâu thuẫn, tranh chấp ảnh hưởng đến hệ thống nhượng quyền. Đặc biệt, hợp đồng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống cũng không là ngoại lệ.
Do vậy, việc phân tích, đánh giá quy định pháp luật nhượng quyền thương mại, đồng thời đánh giá thực tiễn thực hiện, từ đó đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật là một điều kiện vô cùng quan trọng cần thiết góp phần đảm bảo sự thành công và phát triển của phương thức kinh doanh này.
Từ đó học viên đã chọn đề tài: “Pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống ở Việt Nam” làm đề án thạc sĩ Luật Kinh tế tại Trường Đại học Luật, Đại học Huế.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề án
Nhượng quyền thương mại là vấn đề thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học pháp lý nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Trong những năm qua, đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này như:
- Thứ nhất, các luận văn/ kỷ yếu hội thảo khoa học
Luận văn thạc sĩ với chủ đề “Pháp luật về hoạt động nhượng quyền thương mại quốc tế: Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thế Hiển thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2020. Luận văn đã nghiên cứu pháp luật của Mỹ và Philippin về hoạt động nhượng quyền thương mại quốc tế; rút ra một số bài học cho Việt Nam. Trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề này.
Luận văn thạc sĩ với chủ đề “ Pháp luật về nhượng quyền thương mại trong xu thế hội nhập và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam” của tác giả Phạm Phương Thảo thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2019. Luận văn đã phân tích thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về nhượng quyền thương mại tại Việt Nam. Đưa ra định hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về vấn đề này. Luận văn: Pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại.
Kỷ yếu hội thảo khoa học với chủ đề “Pháp luật về nhượng quyền thương mại: Kinh nghiệm của một số quốc gia và bài học cho Việt Nam” do Trường Đại học Luật Hà Nội tổ chức năm 2021. Kỷ yếu hội thảo đã tập hợp các bài tham luận nghiên cứu pháp luật về nhượng quyền thương mại, gồm: tổng quan về nhượng quyền thương mại và pháp luật về nhượng quyền thương mại; khung pháp luật về nhượng quyền thương mại ở Mỹ, Úc, Malaysia, Trung Quốc; quan hệ giữa pháp luật về nhượng quyền thương mại và pháp luật cạnh tranh – kinh nghiệm của Úc và bài học cho Việt Nam;…
Luận văn thạc sĩ với chủ đề “Pháp luật về nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực kinh doanh nhà hàng” của tác giả Cao Tiến Lợi thực hiện tại Trường Đại học Luật, Đại học Huế năm 2023. Luận văn đã làm rõ một số vấn đề lý luận và đánh giá thực trạng pháp luật cũng như thực tiễn nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực kinh doanh nhà hàng. Trên cơ sở đó, đề xuất được giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp thực thi pháp luật về nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực kinh doanh nhà hàng ở Việt Nam
- Thứ hai, các bài viết
Bài viết khoa học với chủ đề “ Đề xuất sửa đổi một số quy định liên quan đến nhượng quyền thương mại “ của tác giả Ngô Quốc Chiến đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp. Số 5/2017, tr. 15 – 25. Bài viết đã phân tích các quy định pháp luật Việt Nam và một số nước trên thế giới về các nội dung của nhượng quyền thương mại: trợ giúp, kiểm soát và sự độc lập của các bên trong hợp đồng nhượng quyền thương mại; nghĩa vụ cung cấp thông tin của bên nhượng quyền,… Trên cơ sở làm rõ các bất cập của pháp luật Việt Nam về nhượng quyền thương mại; từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Bài viết khoa học với chủ đề “Hoàn thiện pháp luật về nhượng quyền thương mại tại Việt Nam” của tác giả Trần Nghĩa Hưng, Lê Thái Minh, Phạm Đức Minh đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số Tháng 2 (375), tr. 30-35, 47; dẫn nguồn tại. Bài viết đã tập trung nghiên cứu thực trạng pháp luật về nhượng quyền thương mại tại Việt Nam và một số quốc gia, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện Luật Thương mại năm 2005 và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động nhượng quyền tại Việt Nam.
Bài viết khoa học với chủ đề “Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Lê Hồng Phước đăng trên Tạp chí Kiểm sát. Số 14/2016, tr. 45 – 48, 55. Bài viết đã chỉ ra một số bất cập, thiếu sót trong quá trình thực thi pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại ở Việt Nam hiện nay; từ đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại, gồm: hoàn thiện khái niệm quyền thương mại; ban hành văn bản chi tiết hóa về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh; quy định về đơn phương chấm dứt hợp đồng.
Bài viết khoa học với chủ đề “Một số vấn đề về chủ thể trong hợp đồng nhượng quyền thương mại” của tác giả Đặng Thị Hà đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Số 11 năm 2020.Bài viết đã làm rõ một số vấn đề pháp lí về chủ thể của hợp đồng nhượng quyền thương mại. Từ đó, đưa ra những quan điểm, cơ sở khoa học về việc hoàn thiện pháp luật điều chỉnh chủ thể hợp đồng nhượng quyền thương mại nói chung cũng như hoàn thiện pháp luật thương mại Việt Nam nói riêng.
Bài viết khoa học với chủ đề “Thoả thuận gây hạn chế cạnh tranh đối với hoạt động nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ ăn uống” của tác giả Trần Thăng Long, Nguyễn Trần Vũ Tuân đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Số 16 năm 2020. Bài viết đã phân tích một số thoả thuận gây hạn chế cạnh tranh trong hoạt động nhượng quyền thương mại phổ biến và đối chiếu với qui định của pháp luật về điều chỉnh hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh trong hoạt động nhượng quyền thương mại đối với kinh doanh dịch vụ ăn uống và rút ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về cạnh tranh.
Thông qua đánh giá các công trình nghiên cứu có liên quan tác giả đề án sẽ kế thừa các nội dung nghiên cứu sau đây:
Thứ nhất, kế thừa các vấn đề lý luận về hợp đồng NQTM trong các công trình Nguyễn Thế Hiển, Phạm Phương Thảo đã chỉ ra
Thứ hai, kế thừa các đánh giá về nội dung điều chỉnh của pháp luật về hợp đồng NQTM trong lĩnh vực ăn uống, nhà hàng và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật trong các công trình của Trần Thăng Long, Nguyễn Trần Vũ Tuân, Ngô Quốc Chiến đã chỉ ra Luận văn: Pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại.
Trên cơ sở đó, đề án tiếp tục nghiên cứu có hệ thống thực trạng pháp luật hiện hành về hợp đồng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống; từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề án
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề án nhằm đưa ra các giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống cơ sở lý luận pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống
- Phân tích, đánh giá pháp luật hiện hành về hợp đồng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống; từ đó chỉ ra những ưu điểm và hạn chế
- Đánh giá thực tiễn áp dụng về hợp đồng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống từ thực tiễn tại Việt Nam; từ đó chỉ ra những tồn tại, bất cập và nguyên nhân phát sinh
- Đề xuất được giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề án
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề án bao gồm:
- Nghiên cứu lý luận pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống
- Nghiên cứu pháp luật Việt Nam về hợp đồng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống
- Nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống tại Việt Nam Luận văn: Pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Đề án nghiên cứu trên lãnh thổ Việt Nam
- Phạm vi thời gian: Các số liệu, các vụ việc trong thực tiễn được nghiên cứu trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2024
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề án
5.1 Phương pháp luận
Đề án nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, đề án sử dụng các phương pháp chủ yếu sau đây:
- Thứ nhất, phương pháp phân tích và tổng hợp
Phương pháp này được sử dụng tại cả 3 Chương của đề án. Cụ thể, tại Chương 1 của Đề án, tác giả đã phân tích khái niệm, đặc điểm, và tổng hợp với các thông tin liên quan khác để đưa ra cái nhìn tổng quát về nhượng quyền thương mại và pháp luật về nhượng quyền thương mại. Bên cạnh đó, với phương pháp này, Chương 2 của Đề án đã phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật về nhượng quyền thương mại và thực tiễn thực hiện hợp đồng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống. Đề án đã tổng hợp các ưu điểm và hạn chế của các quy định pháp luật về nhượng quyền thương mại và việc thực hiện các quy định pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống tại Việt Nam. Từ đó, giúp tác giả định hướng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả thực hiện hợp đồng nhượng quyển thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống tại Chương 3. Bên cạnh đó, phương pháp được sử dụng khi tổng kết lại vấn đề mỗi chương và toàn đề án tại phần kết luận chương và kết luận.
- Thứ hai, phương pháp so sánh
Phương pháp này được sử dụng chủ yếu tại Chương 1 và Chương 2 của Đề án để so sánh các quan điểm về nhượng quyền thương mại và nhượng quyền thương mại của các quốc gia khác trên thế giới và tại Việt Nam, so sánh các quy định pháp luật hiện hành về chủ thể và một số nội dung của nhượng quyền thương mại với các quy định trước đây, so sánh các quy định pháp luật về nhượng quyền thương mại giữa Việt Nam và các quốc gia trên thế giới như Pháp, Trung Quốc.
6. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề án Luận văn: Pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại.
6.1 Ý nghĩa khoa học của đề án
Thứ nhất, đề án góp phần bổ sung và hoàn thiện cơ sở lý luận về hợp đồng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống
Thứ hai, các luận cứ khoa học và thực tiễn để đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống trong thời gian tới là tư liệu tham khảo có giá trị cho công tác lập pháp cũng như các doanh nghiệp trong quá trình thực hiện pháp luật về NQTM.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề án
Kết quả nghiên cứu của đề án có thể được dùng cho việc nghiên cứu, giảng dạy tại các viện, trường đào tạo chuyên ngành luật hoặc làm tài liệu nghiên cứu cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu tìm hiểu.
7. Kết cấu đề án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề án có 3 chương:
- Chương 1. Một số vấn đề lý luận pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống
- Chương 2. Thực trạng pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam
- Chương 3. Thực tiễn thực hiện pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống tại Việt Nam và giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI TRONG LĨNH VỰC DỊCH VỤ ĂN UỐNG
1.1. Khái quát pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống Luận văn: Pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại.
1.1.1. Khái niệm về hợp đồng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống
Hợp đồng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống là thỏa thuận giữa bên nhận quyền và bên nhượng quyền về các nghĩa vụ giữa các bên trong mối quan hệ này. Bên nhượng quyền cho phép bên nhận quyền được sử dụng “quyền thương mại” thuộc sở hữu của mình theo cùng một kế hoạch hệ thống tiếp thị của bên nhượng quyền và được nhận lại khoản phí hoặc % doanh thu của bên nhận quyền tùy theo thỏa thuận. Trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng, bên nhượng quyền có trách nhiệm giúp đỡ, hướng dẫn và đào tạo cũng như có quyền kiểm soát đối với việc sử dụng “quyền thương mại” đã được chuyển giao”
1.1.2. Khái niệm pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống
Theo nghĩa rộng pháp luật hợp đồng nhượng quyền thương mại bao gồm các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình giao kết, thực hiện, thay đổi, chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại. Với cách hiểu này, pháp luật điều chỉnh hợp đồng nhượng quyền thương mại không chỉ nằm trong hệ thống pháp luật thương mại, mà còn nằm rải rác trong các văn bản pháp luật khác nhau như dân sự, luật liên quan đến doanh nghiệp, tài chính, luật đầu tư, luật sở hữu trí tuệ, luật cạnh tranh và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Theo nghĩa hẹp, pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại có thể hiểu là hệ thống các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình xác lập, ký kết, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại, thông qua những nội dung liên quan đến chủ thể, hình thức và nội dung của hợp đồng nhượng quyền thương mại. Với cách hiểu này, pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại là quy định pháp luật liên quan đến hợp đồng nhượng quyền thương mại trong Luật Thương mại 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Từ các phân tích trên có thể hiểu: “Pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống là hệ thống các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình xác lập, ký kết, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống, thông qua những nội dung liên quan đến chủ thể, hình thức và nội dung của hợp đồng nhượng quyền thương mại”
1.1.3. Nội dung cơ bản của pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống
1.1.3.1. Nhóm quy định về đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống
Đối với vấn đề ghi nhận khái niệm quyền thương mại trong hệ thống pháp luật hiện nay có nhiều quan điểm không hoàn toàn thống nhất với nhau. Hầu như pháp luật của các quốc gia trên thế giới đều chưa ghi nhận quyền thương mại là một khái niệm pháp lý chính thức trong hệ thống pháp luật mỗi nước về hoạt động nhượng quyền. Tương tự như pháp luật Việt Nam, thông qua định nghĩa về hoạt động nhượng quyền, các bộ phận cấu thành của quyền thương mại đều được liệt kê trong pháp luật của một số quốc gia như Úc, Indonesia, Pháp, Anh, liên minh Châu Âu… Pháp luật các quốc gia khác nhau có thể dùng các tên gọi không giống nhau để chỉ cùng một yếu tố cấu tạo nên quyền thương mại. Đồng thời các yếu tố được liệt kê cũng không hoàn toàn đồng nhất với nhau nhưng tựu chung lại đều đề cập đến sự tham gia của các yếu tố sở hữu trí tuệ hoặc các yếu tố mang tính sáng tạo khác. Trong khi đó, rất nhiều chuyên gia pháp lý cho rằng nên xây dựng khái niệm quyền thương mại trong pháp luật thương mại của mỗi quốc gia với tư cách là đối tượng được các bên chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại.
1.1.3.2. Nhóm quy định về chủ thể của hợp đồng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống
Nhóm quy định về chủ thể của hợp đồng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống quy định về loại chủ thể tồn tại trong hợp đồng điều kiện về năng lực pháp lý được nhìn nhận dưới hình thức tồn tại của mỗi bên (là công ty, doanh nghiệp tư nhân hay cá nhân thương nhân) mà các bên chủ thể phải đáp ứng. Ngoài ra, các bên cũng phải đáp ứng được các yêu cầu về năng lực thương mại, kinh tế trên thị trường Như đối với Bên nhượng quyền, để có thể nhượng lại “quyền thương mại” Bên nhượng quyền phải xây dựng được một cơ sở nhượng quyền chất lượng một thương hiệu đã khẳng định được vị trí trên thị trường. Luận văn: Pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại.
Tương tự, Bên nhận quyền cũng phải đáp ứng được các điều kiện về năng lực tài chính để có thể “mua quyền thương mại” và tự phát triển được “quyền thương mại” theo thỏa thuận trong hợp đồng.
1.1.3.3 Nhóm quy định về nội dung của hợp đồng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống
Ngoài những ràng buộc trách nhiệm pháp lý giữa các bên trong một quan hệ giao dịch hợp đồng được quy định trong pháp luật dân sự, và pháp luật thương mại, các bên chủ thể hợp đồng còn phải tuân thủ những ràng buộc riêng tạo nên nét đặc thù của hoạt động nhượng quyền. Nhóm này cũng bao gồm các quy định về các trường hợp gia hạn, chấm dứt và giải quyết tranh chấp hợp đồng nhượng quyền thương mại. Trong nhóm quy định này chủ yếu pháp luật đề cập tới các vấn đề: các điều kiện cần và đủ để các bên có thể gia hạn, đơn phương chấm dứt hoặc thỏa thuận chấm dứt hợp đồng, hậu quả pháp lý và cách thức xử lý các mối quan hệ phát sinh sau đó, trách nhiệm pháp lý của mỗi bên trong từng trường hợp cụ thể.
Ngoài ra, nhóm quy định về nội dung của hợp đồng nhượng quyền thương mại cũng bao gồm các quy định về chế tài đối với các hành vi vi phạm hợp đồng nhượng quyền thương mại. Nhìn chung, các quy định này không khác biệt với chế tài đối với vi phạm các loại hợp đồng thương mại khác, nên pháp luật thương mại và dân sự không quy định riêng về chế tài vi phạm hợp đồng nhượng quyền thương mại. Do vậy, đề án sẽ không nghiên cứu quy định này.
1.2. Các yếu tố tác động đến thực hiện pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống
1.2.1. Yếu tố về mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật
Nhìn chung, khung pháp lý về nhượng quyền thương mại của Việt Nam khá hoàn chỉnh và phù hợp với kinh nghiệm quốc tế. Tuy nhiên, để có một cái nhìn kỹ hơn về tính hiệu quả và sự linh hoạt trong việc đưa các quy định như khung pháp lý đi vào thực tế thì vẫn còn tồn tại một số nhược điểm như sau:
Thứ nhất, Khung pháp lý vẫn chưa quy định tất cả các vấn đề về hoạt động nhượng quyền thương mại. Trong một số trường hợp, xử phạt hành chính đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực nhượng quyền thương mại chỉ được quy định tại một điều khoản của Nghị định về xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại và các quy định còn chung chung với những hình phạt mang tính biểu tượng, chưa phù hợp với tính chất và quy mô của nhượng quyền thương mại trên thực tế.
Thứ hai, Việc quản lý chưa đầy đủ đối với những hình thức khác nhau của hoạt động nhượng quyền thương mại: nhượng quyền thương mại được phân loại thành hai loại – nhượng quyền thương mại trong nước và nhượng quyền thương mại nước ngoài- tùy thuộc vào phạm vi lãnh thổ của nhượng quyền thương mại. Tuy nhiên, nhượng quyền thương mại từ Khu chế xuất, Khu phi thuế quan và Khu vực hải quan theo quy định của pháp luật của Việt Nam ra nước ngoài hoặc ngược lại cần phải được thực hiện dưới sự quản lý riêng. Văn bản pháp luật hiện hành của Việt Nam liên quan đến nhượng quyền thương mại không có quy định cụ thể và rõ ràng trong vấn đề này. Luận văn: Pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại.
Thứ ba, Bên nhận quyền không được bảo vệ đúng cách: Ví dụ, tại Điều 16.1 của Nghị định 35/2006/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định 120/2011/NĐ-CP quy định rằng bên nhận quyền có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại trong trường hợp bên nhượng quyền không thực hiện nghĩa vụ quy định tại Điều 287 Luật Thương mại. Đề cập đến nghĩa vụ của bên nhượng quyền tại Điều 287 và so sánh với các trường hợp bên nhượng quyền có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại tại Điều 16.2 của Nghị định 35/2006/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định 120/2011/NĐ-CP, các quyền của bên nhận quyền không được bảo đảm. Đặc biệt, nếu bên nhận quyền không có khả năng trả nợ khi phá sản, hợp đồng nhượng quyền thương mại phải được chấm dứt trước thời hạn. Tuy nhiên, trường hợp bên nhượng quyền trong tình huống này, không có giải pháp được đề ra theo quy định, có nghĩa là bên nhận quyền có quyền tiếp tục với các hợp đồng nhượng quyền cho đến ngày hết hạn hoặc bị buộc phải chấm dứt hợp đồng đó.
Thứ tư, Luật của Việt Nam về nhượng quyền thương mại không có bất kỳ quy định về quyền của bên nhận quyền từ chối mua hàng hóa hay tài liệu của bên nhượng quyền bàn giao và cũng không giới hạn quyền của bên nhượng quyền trong việc cung cấp hàng hoá, tài liệu cho bên nhận quyền. Do đó, bên nhượng quyền, trên thực tế, thường yêu cầu bên nhận quyền mua các hàng hóa, tài liệu từ bên nhượng quyền cung cấp nhất định với lý do là để đảm bảo thống nhất của hệ thống nhượng quyền. Đây là lý do ràng buộc bên nhận quyền quá chặt trong các nghĩa vụ và trong một số điểm thì điều này xâm phạm đến việc tự do trong kinh doanh của các đại lý, đồng thời, nó có thể tạo thành hành động cạnh tranh hạn chế đến các tổ chức ngoài hệ thống nhượng quyền thương mại.
Thứ năm, Các cơ quan quản lý nhà nước vẫn còn gặp khó khăn trong việc đảm bảo sự giám sát chặt chẽ và liên tục của họ về hoạt động nhượng quyền thương mại và triển khai thực thi pháp luật của Việt Nam do quy định không rõ ràng về nhượng quyền thương mại như yêu cầu chi tiết của báo cáo trong trường hợp không yêu cầu đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại đã được trình bày ở phần trên.
Tóm lại, cùng với sự phát triển của nhượng quyền thương mại tại Việt Nam, khung pháp lý liên quan đã được cải thiện trong bối cảnh hội nhập. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đang giúp hoàn chỉnh khung pháp lý cho việc thực hiện và phát triển của nhượng quyền thương mại tại Việt Nam. Tuy nhiên, khung pháp lý vẫn cần được nghiên cứu và cải thiện để có thể quản lý hiệu quả hơn, đồng thời mở đường cho sự phát triển mạnh mẽ hơn của hình thức kinh doanh này, cụ thể là của doanh nghiệp, đặc biệt là liên quan đến các thủ tục đăng ký nhượng quyền thương mại của các nhà đầu tư nước ngoài. Hơn nữa, Việt Nam cần xây dựng một hành lang pháp lý rõ ràng và đầy đủ và có khả năng giải quyết những thiếu sót nêu trên.
1.2.2. Yếu tố về hoạt động quản lý của cơ quan có thẩm quyền
Do các doanh nghiệp chưa tuân thủ việc thông báo, báo cáo cho cơ quan Nhà nước; cộng với việc kiểm tra, kiểm soát hoạt động NQTM chưa được thực hiện thường xuyên (mặc dù hằng năm Bộ Công Thương và Sở Công Thương các địa phương đều xây dựng kế hoạch kiểm tra các doanh nghiệp hoạt động NQTM); chưa có cuộc điều tra, khảo sát chính thức nào được thực hiện bởi cơ quan quản lý nhà nước liên quan đến hoạt động NQTM nên chưa nắm bắt thông tin về các DN một cách kịp thời và đầy đủ, phục vụ công tác quản lý nhà nước trên địa bàn. Luận văn: Pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại.
Việc quản lý nhà nước đối với hoạt động NQTM tại địa phương liên quan đến nhiều Sở Ban ngành: Sở Công thương, Sở Y tế (quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm), Sở Khoa học và Công nghệ (quản lý đăng ký quyền sở hữu trí tuệ, nhãn hiệu), Sở Kế hoạch và Đầu tư (thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp), Cục Thuế, Cục Thống kê; tuy nhiên UBND các tỉnh/thành chưa xây dựng được cơ chế phối hợp hoạt động giữa các cơ quan này, khiến công tác quản lý hoạt động NQTM bị buông lỏng. Việc rà soát tình hình thực hiện nghĩa vụ thuế của các doanh nghiệp kinh doanh NQTM gặp khó khăn do thiếu thông tin, đồng thời cũng tạo sự không công bằng giữa các doanh nghiệp đã và chưa từng làm thủ tục liên quan tại các cơ quan Nhà nước.
Công tác kiểm tra, kiểm soát đối với hoạt động của bên nhận quyền cũng chưa được thực hiện đầy đủ, thường xuyên, đặc biệt liên quan đến các quy định về điều kiện thương nhân được phép nhận quyền thương mại, trách nhiệm cung cấp thông tin của bên dự kiến nhận quyền, vấn đề chuyển giao quyền thương mại của Bên nhận quyền cho bên dự kiến nhận quyền khác (trường hợp NQTM độc quyền – Master franchise, NQTM vùng – Regional franchise), sự tuân thủ các quy định liên quan đến việc kinh doanh theo phương thức NQTM…
Tiểu kết Chương 1.
Nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống là một trong các phương thức kinh doanh đã đạt được hiệu quả, thành công và được các thương nhân ưa chuộng hiện nay. Nó không chỉ đem lại lợi ích cho các bên tham gia vào hệ thống nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống và còn cho chính nền kinh tế. Bởi vậy, xu hướng giao kết hợp đồng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống ngày càng gia tăng.
Trong phạm vi nội dung nghiên cứu của Chương 1 đề án, tác giả đã tập trung phân tích để làm rõ những vấn đề lý luận về hợp đồng NQTM trong lĩnh vực ăn uống và pháp luật điều chỉnh vấn đề này; đồng thời đề án cũng chỉ ra các yếu tố ; từ đó chỉ ra những yếu tố tác động đến thực hiện pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống. Các kết quả nghiên cứu tại chương 1 là cơ sở lý thuyết quan trọng để tác giả tiến hành nghiên cứu thực trạng các quy định pháp luật về hợp đồng NQTM trong lĩnh vực ăn uống và thực tiễn thực hiện pháp luật ở Việt Nam trong thời gian vừa qua
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI TRONG LĨNH VỰC DỊCH VỤ ĂN UỐNG
2.1. Quy định pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống
2.1.1. Quy định về đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống
Về bản chất, quyền thương mại là yếu tố cốt lõi mà các bên hướng tới trong quan hệ nhượng quyền thương mại. Trong quan hệ này, bên nhượng quyền phải chuyển giao cho bên nhận quyền “quyền tiến hành hoạt động mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, bí mật kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền”.
2.1.2. Quy định về chủ thể của hợp đồng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống
2.1.2.1. Đối với Bên nhượng quyền Luận văn: Pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại.
Thứ nhất, Bên nhượng quyền phải là thương nhân (khoản 1 và 3 Điều 3 Nghị định 35/2006/NĐ-CP, sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 08/2018/NĐ-CP). Điều này có nghĩa là Bên nhượng quyền phải là tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, hoặc cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh và có quyền hoạt động thương mại trong các ngành nghề, tại các địa bàn, dưới các hình thức và theo các phương thức mà pháp luật không cấm. Tuy nhiên, pháp luật Trung Quốc có quy định khắt khe hơn, theo đó, Bên nhượng quyền bắt buộc phải tồn tại dưới dạng doanh nghiệp, điều đó có nghĩa là các tổ chức và cá nhân không phải doanh nghiệp không được phép hoạt động kinh doanh nhượng quyền.
Thứ hai, theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 35/2006/NĐ-CP, sửa đổi, bổ sung Nghị định 08/2018/NĐ-CP Sửa đổi một số Nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Công Thương.
2.1.2.2. Đối với Bên nhận quyền
Để đảm bảo cho sự phát triển bền vững của hoạt động nhượng quyền và sự ổn định của nền kinh tế, pháp luật thương mại của một số quốc gia đặt ra những yêu cầu khá khắt khe đối với Bên nhận quyền. Quy định này hạn chế sự tham gia của tổ chức, cá nhân không đủ điều kiện, năng lực vào việc kết hợp đồng nhượng quyền thương mại để thực hiện hoạt động này. Trong khi đó, theo pháp luật Việt Nam, tương tự như Bên nhượng quyền, Bên nhận quyền được quy định là thương nhân (khoản 2, 4, 5 Nghị định 35/2006/NĐ-CP, sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 08/2018/NĐ-CP). Dễ thấy, pháp luật Việt Nam không quy định về hình thức doanh nghiệp của Bên nhận quyền, tức là Bên nhận quyền hoàn toàn có thể là những cá nhân kinh doanh, hộ kinh doanh không có tư cách pháp nhân. Quy định “nói lòng” này nhằm tạo điều kiện cho hoạt động nhượng quyền phát triển, đồng thời cũng phù hợp với sự hiện diện của các cơ sở nhượng quyền với quy mô nhỏ lẻ ở thời điểm ban hành Luật Thương mại 2005 và Nghị định 35/2006/NĐ-CP. Tuy nhiên, trước sự phát triển đa dạng và phức tạp của hoạt động nhượng quyền thương mại trên nhiều lĩnh vực như dịch vụ ăn uống, giáo dục đào tạo, sức khỏe và làm đẹp với quy mô ngày càng lớn ở thời điểm hiện tại, quy định về điều kiện đối với Bên nhận quyền cần sửa đổi, bổ sung cho phù hợp và để đảm bảo hoạt động nhượng quyền thương mại diễn ra an toàn và hiệu quả.
2.1.3. Quy định về nội dung của hợp đồng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống
Nội dung của hợp đồng nhượng quyền thương mại là tổng hợp các điều khoản mà các bên đã thỏa thuận, qua đó xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ nhượng quyền.
2.1.3.1. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng nhượng quyền thương mại
Là điểm nổi bật nhất trong nội dung của hợp đồng nhượng quyền thương mại, nhóm điều khoản về quyền và nghĩa vụ của các bên được quy định rõ ràng tại các Điều 286 đến 289 Luật Thương mại 2005 như một khung pháp lý nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên trong hợp đồng. Cụ thể:
- Về quyền của Bên nhượng quyền
- Về quyền của Bên nhận quyền
2.1.3.2. Giá cả phí nhượng quyền định kỳ và phương thức thanh toán
2.1.3.3. Thời hạn hiệu lực của hợp đồng nhượng quyền thương mại
2.1.3.4. Gia hạn chấm dứt hợp đồng và giải quyết tranh chấp
2.2. Đánh giá quy định của pháp luật hiện hành về hợp đồng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống Luận văn: Pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại.
2.2.1. Ưu điểm của pháp luật
Thứ nhất, hệ thống pháp luật về NQTM nói chung và hợp đồng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống nói riêng ngày càng được củng cố nhằm tạo lập khung pháp lý hoàn thiện, thúc đẩy hoạt động NQTM phát triển.
Dưới góc nhìn lịch sử lập pháp, lần đầu tiên trong pháp luật Việt Nam, mục 4.1.1 Thông tư số 1254/1999/TT-BKHCNMT ngày 12/7/1999 đã đề cập đến “hợp đồng cấp phép đặc quyền kinh doanh” – tiếng Anh gọi là franchise.
Tiếp đó, Nghị định số 11/2005/NĐ-CP ngày 02/02/2005 quy định chi tiết về chuyển giao công nghệ cũng đề cập đến hoạt động cấp phép đặc quyền kinh doanh với tư cách là một nội dung của hoạt động chuyển giao công nghệ. Theo Điều 4 Khoản 6 Nghị định này, cấp phép đặc quyền kinh doanh là hoạt động trong đó “bên nhận sử dụng tên thương mại, nhãn hiệu hàng hoá và bí quyết của bên giao để tiến hành hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ thương mại” (Thông tư số 1254/1999/TT-BKHCNMT và Nghị định số 11/2005/NĐ-CP đã hết hiệu lực).
Điều 755 Bộ luật Dân sự 2005 (đã hết hiệu lực) cũng quy định rằng cấp phép đặc quyền kinh doanh là một trong những đối tượng chuyển giao công nghệ. Đây chính là những sự ghi nhận đầu tiên về NQTM trong pháp luật Việt Nam.
Với sự ra đời của Luật Thương mại 2005 (có hiệu lực ngày 01/01/2006), NQTM chính thức được công nhận và luật hoá trong 8 điều, từ Điều 284 đến Điều 291 Ngày 31/03/2006, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 35/2006/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động NQTM. Ngày 25/05/2006, Bộ Thương mại ban hành Thông tư số 09/2006/TT-BTM hướng dẫn đăng ký hoạt động NQTM. Bên cạnh đó, các quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ đóng vai trò như một bộ phận có chức năng giúp xác định rõ ràng các yếu tố cấu thành quyền thương mại với tư cách là đối tượng của hợp đồng NQTM, cũng như là ranh giới, phạm vi của các yếu tố đó. Phù hợp với định hướng của cơ sở lý luận này, các nhà làm luật tại Việt Nam đã sử dụng các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ là nhãn hiệu, tên thương mại, bí mật kinh doanh và một số yếu tố khác thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật sở hữu trí tuệ để làm rõ khái niệm quyền thương mại trong quan hệ NQTM.
Kể từ khi ban hành các quy định NQTM, với tư cách là một phương thức kinh doanh riêng biệt thì hoạt động NQTM hiện nay đã phát triển ổn định, hệ thống NQTM đã tăng gấp năm lần trong suốt 7 năm sau khi ban hành luật điều chỉnh. Trong 10 năm đầu tiên sau sự xuất hiện của hoạt động NQTM, chỉ có 23 hệ NQTM, với một vài trường hợp ngoại lệ là sở hữu và điều hành các cửa hàng mà không phải là nhượng quyền thương mại, tính đến tháng 7 năm 2015, Việt Nam đã có 137 nhà đầu tư nước ngoài đã đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại với 148 thương hiệu nhượng quyền. Tính đến năm 2020, số lượng hệ thống nhượng NQTM trên toàn quốc khoảng 270 hệ thống, trong đó phần lớn là hệ thống NQTM của nhà đầu tư nước ngoài.
Thứ hai, khung pháp luật về NQTM nói chung và hợp đồng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống nói riêng đã từng bước tạo sự tương thích với các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Kể từ khi gia nhập WTO của Việt Nam vào năm 2007, hoạt động nhượng quyền thương mại đã ngày một phát triển vượt bậc. Trong những năm gần đây, một số thương hiệu lớn đã đăng ký để tiến hành các hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam, trong đó có thương hiệu về cửa hàng ăn uống, may mặc, giáo dục, cho thuê xe, bất động sản, thể dục, kính mắt và các lĩnh vực khác. Theo bảng phân loại (CPC) của WTO, nhượng quyền thương mại được xếp vào nhóm các dịch vụ phân phối. Theo đó, khi gia nhập WTO, Việt Nam có những cam kết chung dành cho nhóm dịch vụ này cũng như cam kết dành riêng cho dịch vụ nhượng quyền thương mại. Luận văn: Pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại.
Theo tác giả Nguyễn Bá Bình thì “Luật nhượng quyền” nói chung ở Việt Nam về cơ bản đã thiết lập cơ chế điều chỉnh thống nhất cho cả nhà nhượng quyền nước ngoài và nhà nhượng quyền nội địa – điều này là phù hợp, và cũng là yêu cầu bởi thông lệ quốc tế. Các hạn chế trước đây đối với loại hình doanh nghiệp và giới hạn vốn góp của bên nước ngoài trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài liên quan hoạt động NQTM đã được dỡ bỏ theo cam kết gia nhập WTO. Như nhận định của Giles Cooper thuộc hãng luật Baker and McKenzie, ‘Luật nhượng quyền’ “hiện đại, được soạn thảo tốt và cân bằng giữa tự do thương mại và bảo vệ bên nhận quyền”. Cooper cũng cho rằng “luật riêng về nhượng quyền trong nước cũng như các cam kết gia nhập WTO liên quan NQTM đã tạo nền tảng cho sự bùng nổ sắp tới ở lĩnh vực năng động này.
2.2.2. Hạn chế của pháp luật
Thứ nhất, pháp luật Việt Nam chưa đưa ra một định nghĩa chính thức nào về hợp đồng NQTM. Tuy nhiên, về cơ bản, định nghĩa hợp đồng NQTM đã được phản ánh thông qua khái niệm về hoạt động NQTM được quy định tại Điều 284 Luật Thương mại năm 2005.
Mặc dù vậy, hợp đồng NQTM là một loại hợp đồng có nhiều nét tương đồng, dễ gây nhầm lẫn với nhiều loại hợp đồng khác như li-xăng, chuyển giao công nghệ, đại lý… Việc không có một khái niệm chính thức, rõ ràng về hợp đồng NQTM theo pháp luật sẽ khiến cho việc áp dụng pháp luật trở nên khó khăn, thiếu minh bạch. Ví dụ, khi bị từ chối đăng ký NQTM, có tình trạng các doanh nghiệp lách luật bằng cách ký kết “hợp đồng đại lý” với đối tác, theo đó, trong hợp đồng sẽ có thỏa thuận cho phép đối tác sử dụng phương thức kinh doanh và thương hiệu của mình
- Thứ hai, đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại
Một là, về phương pháp xây dựng khái niệm “quyền thương mại” trong Luật Thương mại năm 2005 và Nghị định số 35/2006/NĐ-CP chưa thực sự hợp lý và mang tính khoa học. Cụ thể, trong Điều 284 Luật Thương mại năm 2005 và khoản 6 Điều 3 Nghị định số 35/2006/NĐ-CP đã sử dụng phương pháp liệt kê các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ để mô tả về khái niệm quyền thương mại. Do đó, không tránh khỏi việc không đầy đủ, không bao quát hết được các tình huống phát sinh trên thực tế. Trong bối cảnh hoạt động nhượng quyền là một hoạt động mang tính động và nội dung của quyền thương mại sẽ luôn thay đổi theo sự sáng tạo của bên nhượng quyền, do đó, việc xây dựng một khái niệm về quyền thương mại theo phương thức liệt kê mang tính tĩnh mà pháp luật Việt Nam sử dụng sẽ có thể không bảo hộ được sự sáng tạo trong việc xác định các yếu tố được chuyển giao (quyền thương mại) của bên nhượng quyền. Bên cạnh đó, quy định về khái niệm quyền thương mại bằng phương pháp liệt kê các yếu tố bao hàm trong đó chỉ thể hiện được “quyền thương mại” là một phép cộng đơn giản của quyền sở hữu trí tuệ với các đối tượng nhãn hiệu, tên thương mại, biểu tượng kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh… mà không thể hiện được mối liên hệ chặt chẽ, không thể tách rời của các yếu tố này – một đặc trưng mang tính bản chất của quan hệ nhượng quyền.
Hai là, khái niệm bí quyết kinh doanh chưa được sử dụng thống nhất trong các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại và chưa được giải thích trong bất kỳ văn bản nào, tác giả đề xuất bổ sung mới khái niệm bí quyết kinh doanh vào Điều 3 về giải thích từ ngữ trong Nghị định số 35/2006/NĐ-CP để thống nhất với khái niệm bí quyết kinh doanh được sử dụng trong quy định về hoạt động nhượng quyền thương mại tại Điều 284 Luật Thương mại năm 2005, cụ thể như sau: “Bí quyết kinh doanh là tập hợp những thông tin hành nghề có tính chất bí mật, quan trọng và xác thực, được đúc kết từ kinh nghiệm và sự thử nghiệm của bên nhượng quyền và không phải là đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ theo pháp luật về sở hữu trí tuệ. Bí quyết kinh doanh có thể được xác định theo thỏa thuận của các bên trong hợp đồng nhượng quyền thương mại”. Bên cạnh đó, cũng cần có những quy định cụ thể nhằm bảo đảm quyền lợi bên nhượng quyền trong việc bảo vệ bí quyết kinh doanh, tránh trường hợp bên nhận quyền có ý đồ chiếm đoạt bí quyết kinh doanh.
- Thứ ba, quy định căn cứ đơn phương chấm dứt hợp đồng của bên nhận quyền chưa hợp lý
Căn cứ đơn phương chấm dứt hợp đồng NQTM của bên nhận quyền theo quy định của pháp luật thương mại Việt Nam hiện nay không thể hiện sự bình đẳng giữa các chủ thể trong quan hệ nhượng quyền khi cho phép: “Bên nhận quyền có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng NQTM trong trường hợp Bên nhượng quyền vi phạm nghĩa vụ quy định tại Điều 287 của Luật Thương mại”. Rõ ràng, với quy định như vậy sẽ rất dễ để bên nhận quyền lạm dụng đơn phương chấm dứt hợp đồng NQTM bất cứ khi nào. Luận văn: Pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại.
Tiểu kết Chương 2
Pháp luật về nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống tại Việt Nam đã góp phần tạo khung pháp lý cơ bản là cơ sở pháp lý để các bên tham gia quan hệ nhượng quyền thương mại được tự do thỏa thuận và ký kết thông qua một loạt các quy định về chủ thể, hình thức và nội dung của nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống. Từ đó, giúp thúc đẩy hoạt động nhượng quyền phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, với việc ra đời cách đây hơn một thập kỷ và chưa được sửa đổi, đặc biệt tại quốc gia đang phát triển nhanh chóng như Việt Nam, pháp luật về vấn đề này dường như chưa theo kịp được thực tiễn phát triển của hoạt động nhượng quyền tại Việt Nam. Do đó, đã bộc lộ một số những điểm hạn chế, chưa rõ ràng trong các quy định mà theo đó cần hoàn thiện.
Trong phạm vi nội dung nghiên cứu của Chương 2 đề án, tác giả đã tập trung phân tích để làm rõ thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về đối tượng chuyển giao trong nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống; từ đó chỉ ra những ưu điểm và hạn chế của pháp luật. Đây là cơ sở khoa học quan trọng để tác giả đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật trong thời gian tới.
CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI TRONG LĨNH VỰC DỊCH VỤ ĂN UỐNG TẠI VIỆT NAM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT, NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
3.1. Thực tiễn thực hiện pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống tại Việt Nam
3.1.1. Kết quả đạt được trong thực hiện pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống
Việc đặt ra các quy định về hợp đồng nhượng quyền thương mại trong Luật Thương mại 2005 và các văn bản hướng dẫn liên quan được đánh giá là một sự tiến bộ của pháp luật thương mại. Những quy định này đã tạo nên một hành lang pháp lý, làm cơ sở để các hoạt động và quan hệ nhượng quyền đi đúng hướng bảo vệ quyền lợi chính đáng của các bên và tuân thủ pháp luật thông qua nội dung về chủ thể, đối tượng hình thức và nội dung của hợp đồng. Điều này giúp nội dung của hợp đồng sáng tỏ, thể hiện rõ sự ràng buộc, quyền lợi, trách nhiệm của các bên trong quan hệ nhượng quyền thương mại. Trong khi, các bên chủ thể có quyền tự do lựa chọn đối tác, tự do thỏa thuận các nội dung của hợp đồng. Từ đó, sự tham gia cởi mở của thương nhân nhượng quyền, nhận nhượng quyền trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống cũng gia tăng chứng minh hiệu quả cũng như vai trò của hệ thống pháp luật tác động đến hợp đồng nhượng quyền thương mại. Ngoài ra, nhờ hệ thống pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại định hướng, chỉ dẫn, Bên nhượng quyền và Bên nhận quyền xây dựng thiết lập các hợp đồng nhượng quyền tương đối chặt chẽ, quy định đầy đủ quyền và nghĩa vụ của các bên Điều này giúp hoạt động nhượng quyền thương mại được thực hiện đúng bản chất của nó trên thực tế. Luận văn: Pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại.
Bảng 3.1: Các hệ thống nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực ăn uống tại Việt Nam tại thời điểm 01/01/2022
3.1.2. Vướng mắc trong thực tiễn thực hiện pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống
Trong bối cảnh hiện nay, sự bùng phát của dịch Covid-19 là nỗi kinh hoàng với nhượng quyền thương mại, thị trường nhượng quyền thương mại gần như bị đóng băng kể từ lúc địch bắt đầu bùng phát. Việc giao kết, ký kết và thực hiện hợp đồng gặp nhiều khó khăn. Và khó khăn trong dịch bệnh như vậy đã khiến xung đột của các bên lên cao và bộc lộ những điểm yếu của pháp luật hợp đồng nhượng quyền thương mại. Đồng thời, trong một hệ thống nhượng quyền, không chỉ tồn tại mối quan hệ giữa Bên nhượng quyền, các Bên nhận quyền sơ cấp mà sẽ còn có các Bên nhận quyền thứ cấp, mỗi Bên nhận quyền hoạt động ở một thị trường khác nhau. Khi hệ thống của Bên nhượng quyền có nhiều Bên nhận quyền tham gia kinh doanh và xây dựng thương hiệu, rủi ro kinh doanh, đặc biệt trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống và khả năng xảy ra mâu thuẫn càng lớn. Việc thực hiện pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống cũng vì vậy mà bộc lộ những vướng mắc, hạn chế
3.1.3. Nguyên nhân phát sinh vướng mắc
Thứ nhất, do sự thiếu hoàn chỉnh của pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại. Pháp luật về nhượng quyền thương mại hiện nay của Việt Nam chủ yếu quy định vẫn để đăng ký, quản lý nhà nước với hoạt động này mà thiểu những hướng dẫn cần thiết cho các Bên nhượng quyền và các Bên nhận quyền trong hoạt động nhượng quyền thương mại, chưa quy định những vấn đề như mức độ, phạm vi kiểm soát của Bên nhượng quyền trách nhiệm pháp lý của Bên nhận quyền khi vi phạm vào các tiêu chuẩn và có hành vi xâm hại các quyền sở hữu trí tuệ của Bên nhượng quyền vẫn để chấm dứt, huỷ bỏ hợp đồng nhượng quyền do lỗi của một bên. Với những thiếu sót như vậy các Bên nhượng quyền Việt Nam đang phải tự mình tích lũy kinh nghiệm từ những thành công cũng như thất bại từ thực tiễn hoạt động nhượng quyền thương mại để xây dựng hệ thống nhượng quyền của mình và vẫn trông chờ vào sự thay đổi và hoàn thiện của các quy định pháp luật về vấn đề này. Mặt khác, thiểu nền tảng pháp lý để giải quyết những tranh chấp có thể xảy ra giữa Bên nhượng quyền và Bên nhận quyền và với bên thứ ba có liên quan tới hoạt động kiểm soát đã trình bày ở trên. Ví dụ khi một bên nhận quyền trốn tránh khỏi nghĩa vụ bị kiểm soát bởi Bên nhượng quyền thì Bên nhượng quyền có thể đơn phương hủy bỏ hợp đồng với bên nhận vi phạm nếu không may Bên nhượng không thiết lập vấn đề này trong hợp đồng nhượng quyền?; Hay khách hàng có thể kiện đòi bồi thường từ một Bên nhượng quyền với các thiệt hại xảy ra do các khiếm khuyết của hàng hóa cung cấp bởi Bên nhận quyền và Bên nhượng quyền có thể thỏa thuận trong hợp đồng nhượng quyền về việc tránh khỏi trách nhiệm đó hay không?… Trong thực tế hoạt động nhượng quyền phần nhiều các nhà làm luật chỉ chú trọng đến việc bảo vệ các quyền sở hữu trí tuệ dùng trong kinh doanh, dù các quy định trong vấn đề này cũng chưa hoàn toàn rõ ràng mà quên đi hoạt động kiểm soát của bên nhượng quyền và các vấn đề đi kèm với nó, trong khi đó bảo vệ các quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động nhượng quyền luôn gắn liền với hoạt động kiểm soát này. Bởi vậy sẽ là một trở ngại để giải quyết những tranh chấp phát sinh từ hoạt động nhượng quyền thương mại có liên quan tới việc thiết lập và thực thi cơ chế kiểm soát của bên nhượng quyền với công việc kinh doanh của bên nhận quyền. Luận văn: Pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại.
Thứ hai, do việc nhận thức chưa đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của mình trong hợp đồng nhượng quyền thương mại và thiếu trình độ quản lý, kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống. Pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại còn khá xa lạ và mới mẻ đối với các thương nhân Việt Nam. Hơn nữa, đây cũng là măng pháp luật khá phức tạp vì nó liên quan chặt chẽ đến các lĩnh vực luật khác như Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Cạnh tranh. Vì vậy, các chủ thể trong quan hệ nhượng quyền đôi lúc không thể ý thức được hết quyền và nghĩa vụ của họ để tuân thủ và thực hiện. Chưa kể, vì sự thiếu hiểu biết của các bên chủ thể nên các điều khoản trong hợp đồng đôi khi còn chung chung sơ sài, đặc biệt là Bên nhận quyền vội vàng ký hợp đồng trong khi chưa đọc kỹ và hiểu nội dung của hợp đồng dẫn đến khả năng cao xảy ra tranh chấp trong quá trình thực hiện hợp đồng. Bên cạnh đó, doanh nghiệp Việt Nam chưa chuẩn hóa được quy trình và thương hiệu chưa hoạch định chiến lược và mô hình kinh doanh phù hợp nên hầu như chưa thực hiện được mô hình nhượng quyền toàn diện, ít quan tâm đến bảo hộ thương hiệu.
Như vậy, nhượng quyền thương mại không phải là mô hình toàn màu hồng mà thực tiễn thực hiện hoạt động này cũng như hợp đồng giữa Bên nhượng quyền và Bên nhận quyền đòi hỏi nhiều yêu cầu nghiêm ngặt, từ đó cũng cho thấy những khó khăn, vướng mắc. Nhìn chung nguyên nhân của những khó khăn trong quá trình thực tiễn thực hiện hợp đồng nhượng quyền thương mại nói chung và trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống nói riêng bao gồm những nguyên nhân chủ quan đến từ phía các chủ thể của hợp đồng và nguyên nhân khách quan từ phía hệ thống pháp luật về hệ thống nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống.
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống
3.2.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống
3.2.1.1. Hoàn thiện quy định về đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống
- Thứ nhất, về khái niệm hợp đồng NQTM
- Thứ hai, về định nghĩa đối tượng của hợp đồng NQTM
3.2.1.2. Hoàn thiện quy định về chủ thể của hợp đồng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống
Với điều kiện Việt Nam, việc cho các thương nhân là cá nhân kinh doanh, hộ kinh doanh tham gia nhượng quyền thương mại là phù hợp ở điều kiện hiện tại khi kinh doanh quy mô nhỏ chiếm đa số, tạo điều kiện nhanh chóng mở rộng hoạt động nhượng quyền thương mại. Tuy nhiên, trong quá trình hội nhập quốc tế như hiện tại, việc chuẩn hóa hoạt động nhượng quyền thương mại theo thông lệ quốc tế rất cần thiết. Vì vậy, có thể xem xét học tập kinh nghiệm của Trung Quốc và Úc. Theo kinh nghiệm của Trung Quốc, Bên nhượng quyền phải là doanh nghiệp được thành lập hợp pháp, vận hành hai đơn vị thuộc sở hữu của mình hơn một năm trước khi nhượng quyền cho bên khác. Trong khi đó, với kinh nghiệm của Úc, khi thực hiện hoạt động kinh doanh hoạt động nhượng quyền thương mại, Bên nhượng quyền phải thành lập hoặc sở hữu một thực thể kinh doanh.
Ngoài ra, đối với Bên nhận quyền với sự phát triển nhanh chóng với quy mô lớn của các hệ thống nhượng quyền, bao gồm lĩnh vực dịch vụ ăn uống pháp luật cần đảm bảo việc tham gia của các Bên nhận quyền là phù hợp với hệ thống nhượng quyền và có khả năng hoạt động kinh doanh dưới hệ thống nhượng quyền cũng như tự chịu trách nhiệm nếu có rủi ro xảy ra. Với quy định hiện tại, các cá nhân kinh doanh, cũng có thể trở thành Bên nhận quyền điều này đang tạo ra rủi ro trong quá trình vận hành với những cơ sở nhượng quyền quy mô lớn. Luận văn: Pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại.
Vì vậy, điều kiện về chủ thể nhận nhượng quyền nên được thắt chặt hơn theo hướng quy định Bên nhận quyền phải tồn tại dưới các loại hình doanh nghiệp. Tuy nhiên, đối với lĩnh vực dịch vụ ăn uống. Bên nhận nhượng quyền có thể vận hành kinh doanh dưới hình thức nhà hàng, hoặc các quán ăn vỉa hè như chuỗi bánh mì Doner Kebab với điều kiện đảm bảo các yêu cầu theo hợp đồng nhượng quyền thương mại.
3.2.1.3. Hoàn thiện quy định về nội dung của hợp đồng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống
Thứ nhất, sửa đổi, bổ sung về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng nhượng quyền thương mại
- Một là, về nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng phát triển quyền thương mại
- Hai là, về quyền kiểm soát của Bên nhượng quyền
- Ba là, về nghĩa vụ “trợ giúp kỹ thuật” của Bên nhượng quyền
- Bốn là, về nghĩa vụ “cung cấp thông tin của các bên
Thứ hai, sửa đổi, bổ sung về thời hạn hợp đồng nhượng quyền thương mại Thứ ba, sửa đổi, bổ sung về việc chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại
3.2.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống
3.2.2.1. Giải pháp chung
- Thứ nhất, nâng cao hiệu quả hoạt động phổ biến pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống
- Thứ hai, thành lập Hiệp hội về nhượng quyền thương mại Việt Nam
3.2.2.2. Giải pháp cụ thể
- Thứ nhất, về phía Nhà nước Luận văn: Pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại.
- Thứ hai, đối với các chủ thể của kinh doanh là các bên trong hợp đồng nhượng quyền thương mại
Tiểu kết Chương 3
Nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống vẫn luôn là một “miếng bánh hấp dẫn” với nhà đầu tư trong và ngoài nước. Do vậy, pháp luật về nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống được các chủ thể hợp đồng chú trọng thực hiện. Trong thực tiễn, nhờ hệ thống pháp luật nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống, các nhà đầu tư đã mạnh dạn hơn trong việc ký kết, thực hiện các hợp đồng nhượng quyền thương mại và đã đạt được những thành tựu nhất định. Tuy nhiên, quá trình thực hiện vẫn bộc lộ những khó khăn, hạn chế xuất phát từ sự thiếu sót của các quy định pháp luật về nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống cũng như nhận thức của các chủ thể tham gia hợp đồng nhượng quyền thương mại.
Từ những đánh giá về những mặt tồn tại của hệ thống pháp luật nhượng quyền thương mại, cùng với đòi hỏi của nền kinh tế thị trường Việt Nam cũng như định hướng phát triển pháp luật của Đảng và Nhà nước, việc hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống được đặt ra như một yêu cầu tất yếu. Có thể nói, việc hoàn thiện các quy định pháp luật điều chỉnh hợp đồng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống sẽ góp phần không nhỏ vào việc xây dựng một hệ thống pháp luật đồng bộ ở Việt Nam, phù hợp với các tiêu chí của tự do hoá thương mại và hội nhập khu vực cũng như toàn cầu, mặt khác lại đáp ứng được hầu hết các nhu cầu của việc xây dựng pháp luật của Đảng và Nhà nước Việt Nam cũng như nhu cầu về một hệ thống pháp luật minh bạch, rõ ràng của các thương nhân trong hoạt động thương mại. Trong phạm vi nội dung Chương 3 đề án đã đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật hiện hành về hợp đồng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về vấn đề này trên thực tế,
KẾT LUẬN Luận văn: Pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại.
Việc phát triển, mở rộng quy mô kinh doanh theo phương thức nhượng quyền thương mại đã đem lại lợi ích cho các chủ thể tham gia và nền kinh tế. Cụ thể, nhượng quyền thương mại giúp Bên nhượng quyền tận dụng được nguồn vốn, nhân lực từ đối tác, tức là Bên nhận quyền gia tăng doanh số, lợi nhuận, nguồn thu nhập và nâng cao giá trị thương hiệu của hệ thống một cách nhanh chóng. Đồng thời, phương thức kinh doanh này được Bên nhận quyền ưa chuộng bởi nó hạn chế các rủi ro mà Bên nhận quyền phải đối mặt tới mức thấp nhất, và cũng tiết kiệm được chi phí quảng bá thương hiệu do tận dụng danh tiếng và uy tín được thiết lập từ trước của Bên nhượng quyền. Việt Nam được đánh giá là thị trường tiềm năng để phát triển phương thức kinh doanh nhượng quyền, với thời gian tồn tại chưa lâu nhưng hoạt động nhượng quyền thương mại ở Việt Nam cũng đã có những “cú bật nhảy” trong thời gian vừa qua với sự gia tăng đáng kể trong số lượng thương hiệu nhượng quyền thương mại trong và ngoài nước, trong đó nổi bật nhất phải kể đến lĩnh vực dịch vụ ăn uống. Vì vậy, với bản chất là hình thức thể hiện, ghi nhận mối quan hệ nhượng quyền thương mại giữa các bên chủ thể và vai trò như là căn cứ để các bên giải quyết tranh chấp, pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại đang là vấn để được các thương nhân nhượng quyền cũng như nhận quyền quan tâm.
Về cơ bản, pháp luật Việt Nam hiện nay đã thừa nhận hoạt động nhượng quyền thương mại như một hoạt động thương mại độc lập và tạo khung pháp lý để điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại cũng như hợp đồng nhượng quyền thương mại. Các quy định được đề cập trong luật chuyên ngành – Luật Thương mại, các văn bản hướng dẫn thi hành, gồm Nghị định 35/2006/NĐ-CP hướng dẫn Luật Thương mại về hoạt động nhượng quyền thương mại, Nghị định 120/2011/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung thủ tục hành chính tại một số Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết tại Luật Thương mại (trong đó bao gồm Nghị định 35/2006/NĐ-CP), Nghị định 08/2018/NĐ-CP sửa đổi một số Nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước của Bộ công thương, Thông tư 09/2006/TT-BTM hướng dẫn đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại, và các văn bản liên quan khác. Việc thiết lập các cơ sở pháp lý để điều chỉnh hợp đồng nhượng quyền thương mại như trên được coi là một “bước nhảy vọt” trong quá trình phát triển của nước ta lúc bấy giờ, thừa nhận để quản lý hoạt động này tốt hơn, tạo niềm tin pháp lý cho các nhà đầu tư nước ngoài. Với các quy định này, các chủ thể hợp đồng khi đáp ứng các điều kiện nhất định thì được tự do lựa chọn đối tác, thỏa thuận và ký kết hợp đồng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống từ đó, thúc đẩy hoạt động nhượng quyền thương mại phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, hiện nay với nhu cầu nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống ngày càng gia tăng với quy mô ngày càng lớn, sự tham gia đa dạng của các nhà đầu tư trong và ngoài nước đã bộc lộ nhiều khuyết điểm trong quá trình thực hiện pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại trên thực hiện. Một trong những nguyên nhân xuất phát từ hành lang pháp lý về hợp đồng nhượng quyền thương mại còn chưa thực sự hoàn thiện, chưa đáp ứng được yêu cầu và giải quyết các vấn đề trong thực tiễn thực hiện, gây ra nhiều vướng mắc trong quá trình thực hiện pháp luật hợp đồng nhượng quyền thương mại. Bên cạnh đó, do sự thiếu hiểu biết và nhận thức của chủ thể hợp đồng trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống cũng dẫn đến sự lúng túng trong quá trình thỏa thuận và thực hiện hợp đồng.
Do vậy, để tạo điều kiện thuận lợi đẩy nhanh quá trình phát triển hoạt động nhượng quyền thương mại nói chung và nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống nói riêng trước tiên Nhà nước cần phải xây dựng và hoàn thiện môi trường pháp lý đảm bảo tính toàn diện, thể hóa, hợp lý, minh bạch thống nhất và khả thi. Mặt khác, khi đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, cần phải quán triệt đường lối phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước, vạch ra định hướng trong việc hoàn thiện pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại từ những hạn chế, bất cập trên thực tiễn đến việc đồng bộ các quy định pháp luật và chú trọng đến vấn đề toàn cầu hóa. Ngoài việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, để hạn chế các vướng mắc, tranh chấp trong quá trình thực hiện, thì việc nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật hợp đồng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống cũng cần chú trọng. Trong đó, tập trung hỗ trợ pháp lý cho các thương nhân thông qua công tác tuyên truyền và phổ biến pháp luật, đầu tư và xây dựng các chương trình bồi dưỡng pháp luật cơ bản về hợp đồng nhượng quyền thương mại. Bên cạnh đó, các chủ thể hợp đồng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực này cũng cần chủ động nâng cao nhận thức, hiểu biết để soạn thảo hợp đồng chặt chẽ, chi tiết, đầy đủ làm cơ sở cho việc thực hiện các cam kết trong hợp đồng. Đặc biệt là các bên cần quan tâm chặt chẽ đến quyền lợi của mình được thể hiện trên hợp đồng nhượng quyền thương mại. Để có thể thiết lập một hợp đồng chặt chẽ, thỏa mãn lợi ích của các bên, hai bên chủ thể cần lưu ý một số điểm trước khi ký kết hợp đồng. Tuy nhiên, hợp đồng dù có được soạn thảo chi tiết, đầy đủ đến đâu cũng không mang lại lợi ích gì cho các bên nếu không được thực hiện hiệu quả, vì thế các bên chủ thể cần hợp tác với nhau để có thể khai thác triệt để lợi thế mà mô hình kinh doanh này mang lại. Luận văn: Pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: PL về tranh chấp hợp đồng mua bán nhà ở thương mại

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
