Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp cơ chế bảo vệ Hiến pháp bằng pháp luật hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Giải pháp hoàn thiện cơ chế bảo vệ Hiến pháp bằng pháp luật ở Việt Nam hiện nay dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1. Giải pháp chung nhằm hoàn thiện thể chế, thiết chế và phương thức vận hành của cơ chế bảo vệ Hiến pháp bằng pháp luật
- A) Hoàn thiện thể chế bảo hiến
Thể chế bảo vệ Hiến pháp cần khắc phục được tính chung chung, thiếu cụ thể và xác định rõ thẩm quyền của các chủ thể được trao quyền bảo hiến và việc bảo hiến phải đến với tất cả các nhánh quyền lực trong sự thống nhất ở nước ta. Thể chế cần bao quát và điều chỉnh tất cả các hành vi vi hiến và có thể được áp dụng hiện thực vào thực tế.Thể chế bảo vệ Hiến pháp bằng pháp luật phải thể hiện được đặc trưng quyền lực thống nhất và thuộc về nhân dân, các quy định của Hiến pháp cần được áp dụng trực tiếp khi chưa có các văn bản quy phạm pháp luật cụ thể. Quy định rõ trách nhiệm của của các cơ quan trong bộ máy quyền lực nhà nước, khẩn chương luật hóa các quy định của Hiến pháp làm cơ sở pháp lý để bảo hiến. Thể chế bảo vệ Hiến pháp phải mang tính hệ thống rõ ràng, tránh sự chồng chéo dễ phát sinh ỷ lại và thờ ơ từ cơ quan và người có trách nhiệm. Khẳng định vị thế tối thượng của Hiến pháp trong toàn bộ hệ thống pháp luật sẽ hướng tới mục tiêu bảo vệ Hiến pháp thực chất và hiệu quả. Điều 119 Hiến pháp 2013 đã quy định cơ chế bảo vệ Hiến pháp do Luật định nên cần sớm ban hành các luật chuyên biệt về bảo hiến như luật về Tòa án Hiến pháp hay Hội đồng bảo hiến hoặc các cơ quan tương tự; Quy định cụ thể chức năng nhiệm vụ quyền hạn bảo hiến của các chủ thể có trách nhiệm bảo hiến trong các luật về tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chính phủ, Tòa án…. để thể chế bảo hiến được luật hóa minh bạch và cụ thể.
- B) Hoàn thiện thiết chế bảo hiến
Cần xem xét lại một cách khoa học việc giao một cách mặc định chủ yếu nghĩa vụ bảo hiến cho Quốc hội. Bởi sự mặc định này là sự đồng nghĩa máy móc lý luận về cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất sẽ thực hiện tốt nhất nghĩa vụ bảo vệ Hiến pháp. Để bảo hiến có hiệu quả, các thiết chế hiện có như Quốc hội, Chủ tịch nước, Thủ tướng chính phủ hay Tòa án nhân dân tối cao…. cần có sự phối hợp và hỗ trợ lẫn nhau thực hiện bảo hiến thực chất bằng hành động cụ thể. Các thiết chế có quyền và phải thực hiện việc áp dụng các chế tài nghiêm khắc đối với các tổ chức và cá nhân có hành vi vi hiến(kể cả ở cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất). Tùy vào tình hình thực tế sẽ có lộ trình thích hợp để giải quyết tình trạng phi tập trung của của các thiết chế bảo hiến để chia sẻ ghánh nặng thực hiện quá nhiều chức năng của các thiết chế không chuyên trách. Thiết chế bảo hiến chuyên trách cần được nghiên cứu theo hướng có tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp và các đạo luật phù hợp với chủ chương, đường lối lãnh đạo của Đảng và mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
- C) Hoàn thiện phương thức vận hành của cơ chế bảo vệ Hiến pháp
Cần thống nhất phương thức vận hành của các thiết chế bảo hiến riêng rẽ, tránh tình trạng mỗi thiết chế lại có các quy trình thủ tục bảo hiến trùng lặp mang tính chồng chéo. Các quy định về thẩm quyền phải cụ thể tránh chỉ hình thức, đầy đủ và đặc biệt phải có hệ thống quy trình thủ tục để thực hiện thẩm quyền. Cần có quy định cụ thể để đưa ra phán quyết về sự vi phạm Hiến pháp, khắc phục những nhược điểm của hình thức đưa ra khuyến nghị với hiệu lực pháp lý chưa cao đang được áp dụng hiện nay. Các thiết chế có trách nhiệm bảo hiến cần xây dựng các kênh thông tin khách quan, nhiều chiều để thu nhận các phản ánh về việc vi hiến, sự khắc phục các hành vi vi hiến nhằm thực hiện đến cùng trách nhiệm bảo hiến. Việc xác định nhiệm vụ bảo hiến phải thực sự là mặt hoạt động quan trọng và cần được báo cáo với cử tri như những nhiệm vụ khác mà thiết chế đảm nhiệm.
3.2. Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ Hiến pháp bằng những cơ chế sẵn có Luận văn: Giải pháp cơ chế bảo vệ Hiến pháp bằng pháp luật.
3.2.1. Nâng cao ý thức bảo vệ Hiến pháp của công dân
Vấn đề bảo hiến hiện nay đang bị coi là từ trên “xuống” và có nhiều quan điểm trái ngược về việc lập một cơ quan bảo hiến độc lập.Vận dụng những quy định pháp luật sẵn có cũng có tác động bảo hiến nhất định. Nâng cao ý thức pháp luật của công dân nói chung và sự hiểu biết về hiến pháp và các văn bản pháp luật tạo cho công dân sự hiểu biết về các quyền hiến định và cách để hưởng các quyền đó.
Sự nâng cao ý thức pháp luật của người dân sẽ dẫn đến đòi hỏi tất yếu việc các cơ quan nhà nước, người có trách nhiệm phải tự thay đổi và có trách nhiệm hơn trong thi hành hiến pháp.
Công dân có thể thực hiện bảo hiến thông qua Luật trưng cầu dân ý 2015, người dân có thể tích cực tham gia bảo hiến khi thực hiện quyền lập hiến theo Điều 6 Luật này khi sửa đổi hoặc ban hành Hiến pháp. Việc công dân có ý thức tham gia xây dựng Hiến pháp góp phần đẩy mạnh và tạo ý thức tôn trọng hiến pháp, bảo vệ Hiến pháp ở trong mỗi người, tạo cho họ sự quan tâm và sẵn sàng bảo hiến khi hiến pháp bị vi phạm. Để nhân dân thực sự là chủ thể bảo vệ Hiến pháp cần hiện thực hóa quyền nêu lên nguyện vọng để trưng cầu dân ý phải là ý chí trực tiếp của nhân dân. Luật Trưng cầu dân ý cần có sự sửa đổi để việc trưng cầu ý dân phải xuất phát trực tiếp từ ý chí nhân dân thông qua cách các tổ chức xã hội được phép thu thập ý kiến để đạt được số lượng tối thiểu cần thiết tiến hành trưng cầu dân ý, đặc biệt đối với việc xây dựng, sửa đổi và bổ xung hiến pháp mà không phải gián tiếp thông qua cơ quan quốc hội như luật hiện hành đang quy định. Đồng thời cần có sự kiểm tra giám sát độc lập để quá trình xác định ý chí nhân dân khi kiểm phiếu được khách quan và trung thực. Chỉ có dân chủ trực tiếp mới phát huy hết sức mạnh của nhân dân trong cuộc bảo vệ Hiến pháp.
3.2.2. Phát huy sức mạnh của đội ngũ Luật gia, Luật sư trong bảo vệ Hiến pháp Luận văn: Giải pháp cơ chế bảo vệ Hiến pháp bằng pháp luật.
Hiện nay, có một số cơ chế bảo vệ Hiến pháp một cách gián tiếp mà người dân có thể vận dụng trong đó vai trò của giới luật gia là quan trọng, đặc biệt là đội ngũ Luật sư. Đặc thù của Luật sư là những người không phải là công chức nên bản chất họ phục vụ cho lợi ích công dân là chính. Sự phục vụ đó đôi khi nhằm chống lại các hành vi vi hiến của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền đối với công dân. Ở nước ta hiện nay, nhiều hành vi vi hiến đơn lẻ hoặc khi văn bản quy phạm pháp luật có nội dung trái Hiến pháp đã được giới Luật sư chủ động phát hiện và có phản ánh đến cơ quan có quyền,họ đấu tranh để các quyền tự do dân chủ, các quyền Hiến định được tôn trọng và bảo vệ (Ví dụ nhờ sự đấu tranh quyết liệt của giới Luật sư mà quy định chứng nhận bào chữa bị bãi bỏ, quyền có Luật sư ngay khi công dân bị mời làm với cơ quan công an … được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2015). Điều 3 Luật Luật sư quy định chức năng bảo vệ công lý, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Luật sư, công lý và pháp quyền theo nghĩa rộng bao trùm cả hiến pháp. Khi công dân thực hiện quyền bào chữa và Luật sư thực hiện nhiệm vụ bào chữa cũng góp phần bảo vệ quyền hiến định của công dân và tạo các tiền đề, án lệ để cơ quan lập pháp hoặc cơ quan được giao nhiệm vụ bảo hiến xem xét, điều chỉnh, bãi bỏ các văn bản quy phạm bị phát hiện vi hiến. Với sự tăng nhanh của đội ngũ Luật sư tất yếu dẫn đến xu hướng công dân lựa chọn cho mình công cụ pháp luật chống lại các hành vi xâm phạm các quyền tự do dân chủ của mình và nhờ thế pháp chế và pháp quyền xã hội chủ nghĩa được đảm bảo hơn. Theo xu hướng phổ biến trên thế giới, Luật sư là những người sẽ tham gia ứng cử vào vị trí Công tố viên, Thẩm phán tòa án thông thường và Thẩm phán Tòa án Hiến pháp và nhờ đã thực hiện nhiệm vụ Luật sư họ sẽ góp phần bảo vệ Hiến pháp thực chất và hiệu quả.
3.2.3. Phát huy vai trò của phương tiện truyền thông và thông tin đại chúng trong bảo vệ Hiến pháp
Pháp luật Việt Nam có quy định về quyền tự do ngôn luận với hệ thống các cơ quan truyền thông. Do đặc thù của hệ thống chính chính trị nên việc cơ quan có thẩm quyền chủ động phát hiện vi hiến và vi phạm pháp luật còn nhiều hạn chế. Chủ yếu các vi phạm lại do các cơ quan truyền thông phát hiện và trên cơ sở các quy định pháp luật làm rõ bước dầu sau đó các cơ quan chức năng mới vào cuộc. Vì vậy, cần tận dung sức mạnh của truyền thông để thực hiện bảo hiến trên cơ sở pháp luật hiện hành. Tuy nhiên sự hạn chế hiện nay là ở Việt nam hình thức quản lý báo chí còn đơn điệu nên sự phản biện của truyền thông vẫn còn hạn chế, các vấn đề đặt ra và sức ép bảo vệ Hiến pháp trước các hành vi vi hiến còn có lúc thiếu vô tư và kịp thời hoặc không đủ sức mạnh. Luật báo chí hiện hành vẫn có sự phân biệt giữa nhà báo hợp pháp và không hợp pháp. Khái niệm này đã trở nên lạc hậu với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và khoa học kỹ thuật. Mỗi người vào một thời điểm thích hợp đều có thể phản ánh hiện thực tới tất cả mọi người và với thế giới và rõ ràng chỉ với một nền báo chí tự do hơn nữa thì mới có thể phơi bày những vi phạm pháp luật, vi hiến hay những điều sai sai trái của chính nhà nước để bảo vệ con người, bảo vệ công dân. Sự lo ngại về hoạt động báo chí tự do hoàn toàn không có cơ sở khi mỗi người làm báo phải tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc làm của họ mà không cần có sự cấp phép hành chính nào hết. Vì vậy cần thực hiện đúng tinh thần hiến pháp về tự do ngôn luận, cho phép đa dạng hóa hình thức quản lý và quản trị các cơ quan truyền thông, hình thức hoạt động nghề nghiệp báo chí để phát huy tối đa sức mạnh phản biện và bảo vệ xã hội của truyền thông. Luận văn: Giải pháp cơ chế bảo vệ Hiến pháp bằng pháp luật.
3.3. Tạo môi trường thuận lợi và phát huy vai trò của Hiệp hội luật Hiến pháp
Quyền lập hội là quyền hiến định, việc thành lập một Hiệp hội luật Hiến pháp tạo một tổ chức để các học giả, người có quan tâm đến Hiến pháp trao đổi kiến thức thu thập những bất cập về xây dựng thực hiện, bảo vệ Hiến pháp từ đó kiến nghị với cấp có thẩm quyền tiến hành các nhiệm vụ cần thiết để đảm bảo có một Hiến pháp khoa học, hiện thực và có hiệu lực cao, các dạng vi hiến được loại bỏ kịp thời và bị xử lý nghiêm minh. Hiệp hội luật Hiến pháp là nơi truyền bá và giáo dục,duy trì sự nhiệt thành bảo vệ Hiến pháp của những nhà khoa học, nhân sĩ trí thức có tâm huyết đối với sự thiêng liêng của Hiến pháp và đặc biệt với quyền lực nhân dân. Hiệp hội là trung tâm khoa học, nơi tổ chức các hoạt động hợp tác quốc tế để trao đổi kinh nghiệm xây dựng, bảo hiến với các nước trên thế giới. Các khuyến nghị của hiệp hội phải được coi là nguồn thông tin quan trọng để xây dựng và bảo vệ Hiến pháp và cần tuyên truyền rộng khắp để lấy ý kiến quần chúng nhân dân nhằm chống lại mọi sự thao túng và không minh bạch, để Hiến pháp phải thực sự là do nhân dân làm ra. Trước xu hướng phát triển của các tổ chức xã hội và nhu cầu có Luật về hội để đáp ứng quyền lập hội đã được hiến định. Hiệp hội luật Hiến pháp nên là một tổ chức xã hội đặc thù nhằm cổ động và phát huy các giá trị dân chủ mà Hiến pháp là một mặt biểu hiện căn bản. Cũng như các tổ chức hội mang tính chất là nơi sinh hoạt chuyên môn đã và đang hoạt động ở Việt Nam đã chứng minh sự gắn kết và hiệu quả phát triển cộng đồng mà không gây ảnh hưởng đến cán cân quyền lực nhà nước, Hiệp hội luật Hiến pháp sẽ chứng minh giá trị xã hội khi nó không mang trong đó các yếu tố chi phối tiêu cực của công quyền để thể hiện vai trò bảo hiến. Việc sớm ban hành Luật về hội sẽ là căn cứ pháp lý quan trọng để Hiệp hội hoạt động đúng pháp luật và đảm bảo sự quản lý của nhà nước.
3.4. Xây dựng cơ quan bảo hiến chuyên trách ở Việt Nam – Tòa án Hiến pháp Luận văn: Giải pháp cơ chế bảo vệ Hiến pháp bằng pháp luật.
3.4.1. Cơ sở xây dựng cơ quan bảo vệ hiến pháp chuyên trách ở Việt Nam
Cơ quan bảo hiến chuyên trách ở nước ta được đề xuất xây dựng dựa trên những cơ sở sau đây:
- Tồn tại một bản Hiến pháp quy định tính pháp lý tối cao của cơ quan bảo hiến.
- Từng bước hoàn thiện và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
- Cơ chế phân quyền có sự phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước.
- Quyền con người, quyền công dân được từng bước ghi nhận.
3.4.2. Đánh giá sự phù hợp của một số mô hình bảo vệ Hiến pháp ở Việt Nam
Như đã phân tích, để bảo vệ Hiến pháp có hiệu quả cần có cơ chế phán quyết về những vi phạm hiến pháp. Việc không có cơ chế tài phán tạo lỗ hổng pháp lý dẫn đến các quy định pháp luật về bảo vệ Hiến pháp trở nên hình thức và khó đi vào cuộc sống. Phán quyết các vi phạm Hiến pháp có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa các vi phạm hiến pháp từ việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, chấp hành hiến pháp trong hành động và bất hành động của cơ quan nhà nước và người có trách nhiệm. Từ đó, các nguyên tắc cơ bản, các quyền tự do dân chủ, quyền con người, quyền công dân của nhân dân được bảo đảm và bảo vệ.
Hiện nay, tựu chung lại có một số đề xuất biện pháp bảo vệ hiến pháp bằng cơ quan chuyên trách như sau:
- Thành lập Ủy ban giám sát Hiến pháp của Quốc hội
Quốc hội cần thành lập Ủy ban giám sát Hiến pháp trực thuộc Quốc hội. Chức năng của cơ quan này là giúp việc cho Quốc hội thực hiện bảo hiến đối với các văn bản dưới luật do Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng, Tòa án nhân dân tối cao, Chính quyền địa phương hành. Ủy ban này có nhiệm vụ trình kết quả giám sát để Quốc hội xem xét quyết định.
Ưu điểm của phương án này là hiện nay về lý luận có nhiều điểm tranh cãi về vấn đề thành lập một cơ quan bảo hiến độc lập. Một số quan điểm cho rằng việc thành lập cơ quan độc lập có vai trò phán quyết Hiến pháp về văn bản quy phạm pháp luật và hành vi của tổ chức – cá nhân của tất cả các nhánh nhánh quyền lực sẽ ảnh hưởng tới vị trí lãnh đạo của Đảng, vị trí tối cao của cơ quan lập pháp – Quốc hội. Theo Hiến pháp Việt nam, Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước CHXHCN Việt Nam đại diện cho ý chí và quyền lực của nhân dân, do nhân dân bầu ra nên không thể có một cơ quan nào được đứng trên Quốc hội. Đồng thời với nguyên tắc Hiến định về sự lãnh đạo mọi mặt của Đảng, sự giám sát của một tổ chức với hoạt động của Đảng có tính phán quyết liệu có sự mâu thuẫn? Vì vậy, một Ủy ban thuộc Quốc hội chỉ có chức năng tham vấn và giám sát giải quyết được việc không phát sinh bộ máy mới cồng kềnh và sự mâu thuận về lý luận. Thành lập Ủy ban giám sát Hiến pháp cũng như việc lập các Ủy ban khác của Quốc hội (trước đây chúng ta đã tách Ủy ban Tư pháp và Ủy ban Tài chính – Ngân sách từ Ủy ban Pháp luật và Ủy ban kinh tế và Ngân sách của Quốc hội) là chức năng và quyền hạn của Quốc hội. Việc thành lập cơ quan này không cần bước sửa đổi Hiến pháp mà chỉ cần sửa đổi Luật tổ chức Quốc hội, Quốc hội vẫn giữ được vai trò là cơ quan quyền lực nhà nước thực hiện chức năng giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của nhà nước, trong đó có giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội. [5] Luận văn: Giải pháp cơ chế bảo vệ Hiến pháp bằng pháp luật.
Mô hình này có nhược điểm là các đạo luật, nghị quyết của Quốc hội ban hành vẫn do chính Quốc hội tự giám sát tính hợp hiến của chúng. Trong trường hợp Quốc hội không bãi bỏ luật, nghị quyết của Quốc hội Hiến pháp thì không có biện pháp nào để xử lý. Cơ chế Quôc hội tự kiểm tra, giám sát chính mình là cần thiết, nhưng thực tế với sự tự kiểm tra giám sát nào cũng không thể hoàn toàn khách quan bởi đó là hoạt động kiểm tra giám sát do con người thực hiện. Bất kỳ quá trình ban hành luật cho dù quy định chặt chẽ đến đâu cũng có thể có sai sót thậm chí là vi hiến. Ví dụ quy trình làm luật ở Mỹ được coi là rất chặt chẽ và qua nhiều khâu kiểm soát của cả ba nhánh quyền lực nhưng vẫn có nhiều văn bản luật bị hủy bỏ hoặc đình chỉ hiệu lực thực tế, một dự luật muốn được thông qua cần đạt đa số biểu quyết tán thành ở cả hai viện Quốc hội và phải được Tổng thống kiểm tra xem xét lại để quyết định có phủ quyết hay không. Quy trình này đã tạo sự kiểm soát và kiềm chế vì lợi ích của chính nhà nước, công dân và tính toàn vẹn của hiến pháp Mỹ. Có những đạo luật đã bị nhiều lần đưa ra thảo luận hoặc tranh cãi về tính hợp hiến và tính thực tiễn của nó trước khi một nhánh quyền lực quyết định sự cần thiết phải ban hành như Đạo luật về y tế – Obama care. Trong lịch sử, các đạo luật được Quốc hội ban hành đã nhiều lần bị tòa án tối cao Mỹ phán quyết có một phần hoặc toàn bộ đạo luật là vi hiến (trong 19 năm có 122/35.000 đạo luật) và có gần 950 đạo luật của Quốc hội bang ban hành bị phán quyết tương tự.
Như vậy việc trao cho Ủy ban giám sát các đạo luật và nghị quyết của Quốc hội sẽ không tương xứng về thẩm quyền và không thể tạo sự khách quan vì đây chỉ là một cơ chế tham vấn, một cơ quan giúp việc cho Quốc hội. Thực chất, ưu điểm của phương án này cũng thể hiện nhược điểm chính yếu của nó. Đó chính là sự thỏa hiệp, nửa vời, không tạo đột phá, một cơ chế dược cho là an toàn dễ được chấp nhận do ngại sự thay đổi thì đồng thời cũng khó phát huy hiệu hiệu quả như mong muốn khi yêu cầu thực tiễn đa vô cùng bức bách đòi hỏi sự thay đổi toàn diện.
- Trao quyền bảo hiến cho Tòa án Nhân dân Tối cao
Thực tiễn bảo hiến ở Mỹ cho thấy đây là nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống tòa án nhưng thực chất do yếu tố thủ tục tố tụng, các vụ án thường được đẩy lên cấp xét xử cao nhất là tòa án tối cao. Vì vậy, chức năng bảo hiến ở Mỹ chủ yếu do tòa án tối cao tiến hành. Việc vận dụng kinh nghiệm bảo hiến của các nước có lịch sử tư pháp lâu đời là cần thiết khi giao quyền bảo hiến cho Tòa án tối cao tại nước ta. Luận văn: Giải pháp cơ chế bảo vệ Hiến pháp bằng pháp luật.
Mô hình này có ưu điểm dễ nhận thấy là tòa án với bộ máy cán bộ và các thẩm phán là những người có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, chuyên trong lĩnh vực tư pháp. Các vấn đề pháp lý nảy sinh không nơi nào giải quyết tốt hơn cơ quan tòa án và phán quyết của tòa án về hình thức và nội dung đều mang tính pháp lý cao,có giá trị bắt buộc phải thi hành. Tuy nhiên, nhược điểm của mô hình bảo hiến này cũng gần tương tự như mô hình bảo hiến bằng Ủy ban giám sát thuộc Quốc hội. Tòa án tối cao nếu giám sát và phán xét các tính hợp hiến của các đạo luật hay việc không hành động mà vi hiến của Quốc hội là sự mâu thuẫn với yếu tố Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất bởi Tòa án chỉ là một nhánh quyền lực. Chức năng nhiệm vụ xét xử các vụ án thông thường (hình sự, dân sự, lao động, hành chính) của Tòa án tối cao hiện nay tuy đã được giảm bớt sang Tòa cấp cao (tòa tối cao chỉ xem xét giám đốc thẩm và tái thẩm các vụ án theo quy định – Điều 20 luật Tổ chức tòa án nhân dân 2014) nhưng với các nhiệm vụ như Tổng kết thực tiễn xét xử của các Tòa án, bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử; đào tạo; bồi dưỡng Thẩm phán, Hội thẩm, các chức danh khác của Tòa án nhân dân; quản lý các Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự về tổ chức theo quy định của Luật này và các luật có liên quan, bảo đảm độc lập giữa các Tòa án; trình Quốc hội dự án luật, dự thảo nghị quyết; trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết theo quy định của luật đặc biệt trong đó hoạt động tổng hợp các án lệ làm nguồn luật đã chiếm thời gián rất lớn với trí tuệ của một tập thể có quy mô bị thu hẹp nên khó có thể chuyên tâm đảm nhiệm thêm nhiệm vụ giám sát Hiến pháp. Bên cạnh đó thủ tục bổ nhiệm, nhiệm kỳ thẩm phán, luật tố tụng có liên quan của tòa án thường có sự khác biệt và khó áp dụng khi giám sát hiến pháp nên việc giao nhiệm vụ này cho tòa án Tối cao là bất cập và có nhiều hạn chế về hiệu quả bảo hiến.
Trên thế giới, mô hình bảo hiến bằng tòa án chuyên trách, tòa án Hiến pháp, rất phổ biến và chứng minh hiệu quả thực tiễn việc thành lập Tòa án Hiến pháp chuyên thực hiện bảo hiến sẽ đảm bảo tính khách quan, hoạt động chuyên trách theo thủ tục tố tụng Hiến pháp. Chỉ cơ quan có tính chất độc lập này mới có quyền phán quyết về những vi phạm trong hoạt động của lập pháp, lành pháp và tư pháp và cả hoạt động của Đảng cầm quyền theo đúng phương châm của Đảng: Mọi tổ chức hoạt động của Đảng đều trong khuôn khổ pháp luật. Tuy nhiên phương án này đòi hỏi phải sửa đổi Hiến pháp theo hướng quy định rõ chức năng lập hiến thuộc về nhân dân thông qua Quốc hội lập hiến (Quôc hội lập pháp riêng) cụ thể hóa chức năng phúc quyết và trưng cầu dân ý về các sửa đổi hiến pháp theo hướng kế thừa các quy định của Hiến pháp 1946 về vấn đề bảo vệ hiến pháp.
Các biện pháp nêu trên thực tế chỉ mang tính chất tạm thời, thiếu triệt để và chưa phù hợp với thực tiễn ở Việt nam.Từ đó cần có những giải pháp pháp lý và xã hội phù hợp để thực hiện bảo hiến có hiệu quả.
3.4.3. Thành lập Tòa án Hiến pháp
- Vị trí, vai trò của Tòa án Hiến pháp Luận văn: Giải pháp cơ chế bảo vệ Hiến pháp bằng pháp luật.
Cơ quan này có vị trí độc lập với quyền hạn thực hiện bảo hiến tất cả các nhánh quyền lực, bao gồm cả cơ quan lập pháp là Quốc hội. Người đứng đầu Tòa án Hiến pháp sẽ do Quốc hội bầu trong số các Đại biểu Quốc hội, thẩm phán của Tòa án Hiến pháp sẽ do Quốc hội phê chuẩn theo đề nghị của Chủ tịch nước. Đây là phương án khá phổ biến trong nhiều nhà nước pháp quyền tiến bộ trên thế giới mà ở đó tính độc lập của cơ quan bảo vệ Hiến pháp được đảm bảo bởi tính cân bằng quyền lực giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Vấn đề thành lập cơ quan bảo hiến độc lập tất yếu sẽ đặt ra vấn đề thay đổi các quan hệ tổ chức quyền lực nhà nước, trong đó vai trò Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cần phải xem xét lại.Xu hướng kiểm soát và chi phối lẫn nhau cả tích cực và tiêu cực diễn ra ở tất cả các nhánh quyền lực.Về bản chất các yếu tố hợp thành quyền lực nhà nước ở bất kỳ đâu đều là thống nhất để thực hiện quyền lực nhân dân và chúng có vị thế và nhiệm vụ khác nhau và có tầm quan trong tương đương. Giữa các nhánh quyền lực luôn có xu hướng muốn mở rộng quyền lực của mình để áp chế các nhánh khác (có sự kiểm soát giữa hành pháp với tư pháp, tư pháp với hành pháp..) bởi để vận hành và sử dụng quyền lực thì chỉ có một chủ thể đó là con người. Vì thế, sự cần bằng quyền lực sẽ tạo cơ hội và điều kiện để đảm bảo cho quyền lực nhà nước, quyền lực nhân nhân, thực sự vận hành, tổ chức có hiệu quả nhất. Vấn đề thành lập cơ quan bảo hiến độc lập – Tòa án Hiến pháp không đi ngược lại nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nguyên tắc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nguyên tắc đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng được Hiến pháp ghi nhận bởi suy cho cùng sự bảo vệ Hiến pháp của Tòa án Hiến pháp chính là để bảo vệ các nguyên tắc Hiến định đó. Tòa án Hiến pháp, không phải là tổ chức đứng trên tất cả mà chỉ là một cơ quan được lập ra với thẩm quyền theo hiến định và luật định nhằm đảm bảo sự cân bằng quyền lực nhà nước và đảm bảo tính tối cáo của Hiến pháp. Tòa án Hiến pháp ở các nước trên thế giới có những đặc điểm khác nhau về: thẩm quyền xét xử; các chủ thể có quyền khiếu kiện trước tòa án Hiến pháp; cách thực bổ nhiệm thẩm phán; nhiệm kỳ thẩm phán, hiệu lực của các phán quyết về tính vi hiến; thủ tục ban hành phán quyết của Tòa án Hiến pháp, v.v… Một số Tòa án Hiến pháp chỉ xem xét tính hợp hiến của các Đạo luật, của một số hoạt động lập pháp thì một số Tòa án Hiến pháp khác được trao quyền phán quyết về những lĩnh vực có liên quan, một số thực sự mang tính nhạy cảm về chính trị. Bên cạnh chức năng cơ bản của các Tòa án Hiến pháp là phán quyết về các vấn đề của Hiến pháp, nhiều tòa án ở Trung và Đông Âu và châu Á…. có thẩm quyền xét xử đối với một số các trường hợp liên quan đến bầu cử, trưng cầu dân ý, Luận tội Tổng thống và xác định tính tồn tại hợp pháp của các chính đảng. Thẩm quyền của cơ quan tài phán ở các nước không chỉ phụ thuộc vào việc chúng được tổ chức theo mô hình mỹ hay Châu âu lục địa mà còn phụ thuộc vào các yếu tố như Nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước; mối quan hệ giữa cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp; giữa chính quyền trung ương và chính quyền điạ phương; các đặc điểm về chính trị-xã hội, lịch sử văn hóa, pháp lý; nhận thức lãnh đạo, sự quan tâm với Hiến pháp của nhân dân…. của mỗi nước. Ở Việt Nam, thẩm quyền của Tòa án Hiến pháp khi được thành lập phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức đổi mới của chúng ta hay không, nhất là của Đảng về vị trí, vai trò của các cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương (Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án tối cao, Viện kiểm sát tối cao); vị trí, vai trò mối quan hệ của Tòa án Hiến pháp với các thiết chế quyền lực nhà nước nêu trên cũng như tiêu chuẩn, nhiệm kỳ, cách thức bổ nhiệm thẩm phán của tòa án Hiến pháp. Nếu được thành lập, xét về nhu cầu thực tiễn tòa án Hiến pháp ở Việt nam cần được trao những thẩm quyền như sau để đảm bảo bảo hiến có hiệu quả.
- Thẩm quyền của Tòa án Hiến pháp Luận văn: Giải pháp cơ chế bảo vệ Hiến pháp bằng pháp luật.
Xem xét tính hợp hiến của các luật, nghị quyết của Quốc hội; Nghị quyết, pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Các văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước, Chính phủ; Tòa án Nhân dân Tối cao; Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao; Các văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh. Việc xem xét tính hợp Hiến của các văn bản quy phạm trước hoặc sau khi ban hành cần được đặt ra để tránh trường hợp can thiệp vào công việc của các nhánh quyền lực nhưng cũng để hạn chế các các bản quy phạm pháp luật ban hành nhưng vi hiến gây tổn hại đến các lợi ích chung. Việc xem xét không chỉ ở nội dung văn bản mà bao gồm cả tính hợp hiến cả về quy trình, thủ tục ban hành. Khi kết luận là vi hiến, Tòa án Hiến pháp có quyền tuyên buộc đình chỉ hiệu lực và hủy bỏ các văn bản.
Giải quyết các tranh chấp về thẩm quyền giữa các cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ở trung ương; giữa chính quyền trung ương với chính quyền cấp tỉnh (nếu chính quyền địa phương tự quản).
Kiểm tra tính hợp hiến của các đạo luật đã được áp dụng hoặc đang được áp dụng liên quan đến các khiếu kiện về vi phạm các quyền và tự do cơ bản của công dân đã được hiến pháp quy định hoặc theo yêu cầu của các Tòa án. Ví dụ, kỳ bầu cử năm 2016 vừa qua có một số hiếu nại cho rằng hoạt động giới thiệu đại biểu và hiệp thương để đưa đại biểu ra ứng cử vào Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp theo Luật bầu cử 2015 đã hạn chế quyền tự ứng cử và bầu cử của công dân trong Hiến pháp 2013 khi dùng một thiểu số để quyết định tư cách ứng cử mà không phải là sự quyết định bằng tín nhiệm của đa số trong cộng đồng.
Giải quyết các khiếu kiện vi hiến, đối tượng của hoạt động này chủ yếu là hành vi vi hiến trong hoạt động hành pháp, tư pháp và đôi khi cả lập pháp cũng được thể hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động. Vi hiến dưới dạng hành động thể hiện ở mặt biểu hiện là các văn bản áp dụng pháp luật hoặc bản án, quyết định của tòa án. Vi hiến dưới dạng không hành động là việc tổ chức, cá nhân có thẩm quyền không ban hành các văn bản, quyết định đúng hạn định hoặc không có hành động thích đáng đối với các hành vi vi hiến của cá nhân hoặc tổ chức thuộc thẩm quyền quản lý mà người không hành động có khả năng áp dụng các chế tài cần thiết. Tòa án Hiến pháp có quyền phán quyết về các hành vi vi hiến bao gồm cả việc không hành động (vi phạm Hiến pháp thụ động) để thực hiện nghĩa vụ Hiến định. Ví dụ, khi các nhà lập pháp Việt nam hiện nay không thực hiện nghĩa vụ cụ thể quyền biểu tình của người dân bằng luật thì Tòa án Hiến pháp có quyền tuyên sự không hành động đó là vi hiến và buộc lập pháp phải thực hiện nghĩa vụ. Chủ thể yêu cầu tuyên bố hành vi của các cơ quan quyền lực và người có quyền được Hiến pháp trao quyền là vi hiến là công dân khi các quyền tự do dân chủ bị xâm phạm. Đối với việc không không ban hành kịp thời các văn bản quy phạm pháp luật thì chỉ có chủ thể nhất định đặc thù mới có quyền yêu cầu Tòa án Hiến pháp xem xét, phán quyết về tính hợp hiến khi có đề nghị của Chủ tịch nước, Thủ tướng chính phủ….Ở giai đoạn đầu, nên giao Tòa án Hiến pháp giải quyết các vụ việc liên quan đến các quyền và tự do cơ bản về chính trị và dân sự và sau đó tòa án thực hiện bảo hiến đối với tất cả các chế định của Hiến pháp. Luận văn: Giải pháp cơ chế bảo vệ Hiến pháp bằng pháp luật.
Xác nhận kết quả bầu cử Quốc hội và, kết quả trưng cầu dân ý để khắc phục tình trạng Hội đồng bầu cử quốc gia có nhiệm vụ xác nhận kết quả bầu cử lại là thành viên thuộc nhánh lập pháp và hành pháp bên cạnh thành viên một số tổ chức chính trị xã hội nên có thể không đảm bảo khách quan. Việc xác nhận kết quả bầu cử đòi hỏi Tòa án Hiến pháp phải tham gia kiểm tra việc tuân thủ Hiến pháp từ quá trình bầu cử đến khi có kết quả được công bố. Sự xác nhận của Tòa án Hiến pháp đảm bảo tính tuân thủ Hiến pháp của toàn bộ quá trình bầu cử, đảm bảo quyền công dân được tôn trọng. Thẩm quyền này sẽ khẳng định quyền phổ thông đầu phiếu thực sự được coi trọng, tạo ra một cơ chế thiết thực đảm bảo quyền công dân, đảm bảo hoạt động bầu cử mang tính thực chất, tạo lòng tin cho nhân dân vào lá phiếu.
Với trình độ pháp lý cao, Tòa án Hiến pháp thực hiện việc giải thích Hiến pháp để đảm bảo hiệu quả, kịp thời, tránh việc giải thích theo hướng có lợi cho nhánh quyền lực bất kỳ kể cả của lập pháp. Đồng thời tạo thẩm quyền riêng sẽ đảm bảo sự chuyên tâm, không trốn tránh và phân tán trách nhiệm như hiện nay khi giao quyền cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhưng thực hiện không hiệu quả (Điều 74 Hiến pháp 2013). Việc giải thích Hiến pháp đảm bảo cho các nguyên tắc, quy phạm của Hiến pháp được hiểu thống nhất trong lý luận cũng như trong thực tiễn pháp lý. Việc giải thích Hiến pháp có thể được tiến hành khi có chủ thể yêu cầu (Đại biểu Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Thủ tướng …..)
Thẩm quyền giải quyết tranh chấp địa giới hành chính giữa các tỉnh. Việc không giao giải quyết tranh chấp về địa giới cho các nhánh quyền lực sẽ tránh tình trạng mất cân bằng quyền lực, cơ chế giải quyết các vấn đề lớn của quốc gia sẽ mang tính pháp lý chính xác và đảm bảo hiệu lực cao nhất khi được quy định trong một bản án của tòa án. Tòa án sẽ phán quyết để đảm bảo tất cả các bên tham gia tranh chấp phải tôn trọng và thực hiện bởi vấn đề địa giới lãnh thổ hành chính chưa đựng trong nó nhiều yếu tố quan trọng mang tính đặc thù về kinh tế, văn hóa, tập quán…. rất dễ gây ra sự rạn nứt mang tính chất quốc gia và đoàn kết dân tộc.
Các thẩm quyền liên quan đến tổ chức và hoạt động nội bộ của Tòa án Hiến pháp. Tòa án Hiến pháp bản thân nó có hoạt động quản lý mang tính chất hành chính phục vụ sự tồn tại của tổ chức. Cần trao cho Tòa án Hiến pháp sự độc lập về nhân sự, tài chính và các quyền điều hành bộ máy phù hợp với quy định của Hiến pháp và pháp luật. Đảm bảo nguồn tài chính từ ngân sách quốc gia phù hợp và không phụ thuộc vào ý chí của bất kỳ nhánh quyền lực nào. Nhờ đó Tòa án Hiến pháp mới có thể tuân thủ các nguyên tắc luật định chung quy định cho tổ chức, hoạt động, đặc biệt là hoạt động xét xử các hành vi được cho là vi hiến.
Tổ chức, phương thức hoạt động và hiệu lực phán quyết của Tòa án Hiến pháp
- Tổ chức Luận văn: Giải pháp cơ chế bảo vệ Hiến pháp bằng pháp luật.
Thẩm phán của Tòa án Hiến pháp phải là công dân Việt nam có độ tuổi đạt độ chín về chuyên môn nghiệp vụ, có kinh nghiệm thực tế. Thẩm phán Tòa án Hiến pháp phải có trình độ pháp lý cao và xuất phát từ nhiều nguồn không nhất thiết phải lấy duy nhất từ độ ngũ thẩm phán (luật sư, công tố viên, các giáo sư luật làm công tác giảng dạy, nghiên cứu…). Thẩm phán Tòa Hiến pháp không hoạt động kiêm nhiệm và nếu đang có chức vụ khác thì khi được bổ nhiệm thì cần phải từ bỏ chức vụ, vị trí công tác cũ trừ việc giảng dạy vẫn được phép duy trì.Việc không kiêm nhiệm sẽ đảm bảo yếu tố độc lập của các Thẩm phán trong thi hành công vụ nhằm mục tiêu duy nhất là bảo vệ Hiến pháp. Đặc biệt, cần duy trì số lượng đa số thành viên Tòa án Hiến pháp là các học giả, chuyên gia soạn thảo Hiến pháp để có thể có tính độc lập, trong sạch và nhiệt tình cố hiến vô tư, sự phục vụ Hiến pháp không điều kiện. Từ đó mới có thể duy trì tính độc lập, tránh sự can thiệp tiêu cực của các nhánh quyền lực vào hoạt động của Tòa án Hiến pháp. Số lượng thẩm phán tòa án hiến pháp luôn duy trì số lẻ để biểu quyết theo đa số và bổ sung khi bị khuyết. Để duy trì tính ổn định nên duy trì nhiệm kỳ suốt đời và có bầu bổ sung khi cần thiết (khuyết thiếu hoặc khi có thẩm phán mất – hạn chế năng lực hành vi).
Thẩm phán Tòa án Hiến pháp được chọn trên cơ sở bầu cử hoặc bổ nhiệm và do Quốc hội thực hiện. Việc bãi nhiệm, miễn nhiệm, tạm đình chỉ chức vụ thẩm phán do Quốc hội thực hiện theo đề nghị của người có trách nhiệm. Việc bãi nhiệm, đình chỉ chức vụ Thẩm phán Tòa án Hiến pháp phải dựa vào căn cứ kết quả xét xử, đạo đức khi thi hành công vụ để phán xét. Các tiêu chuẩn để cách chức hay bãi nhiệm cần được quy định cụ thể, rõ ràng, tránh cảm tính. Quy trình thực hiện cần nghiêm ngặt theo cơ chế bỏ phiếu bất tín nhiệm và đó là hình thức thủ tục duy nhất để kỷ luật thẩm phán Tòa án Hiến pháp, nếu hành vi phạm tội được giải quyết theo luật sau khi đã bãi miễn chức vụ.
Tòa án Hiến pháp có cơ cấu tổ chức gần như Tòa án tối cao với Hội đồng thẩm phán có nhiệm vụ phán quyết về tính hợp hiến – bất hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật; giải thích hiến pháp; giải quyết khiếu kiện hiến pháp; quyết định các vấn đề nhân sự của Tòa án…..những vấn đề quan trọng nhất trong thẩm quyền bảo hiến. Chánh án, các phó chánh án, Tổng thư ký hoạt động theo nhiệm vụ, quyền hạn được quy định theo Luật. Thẩm phán của Tòa án Hiến pháp cần được hưởng quy chế miễn trừ hoặc bất khả xâm phạm khi thực hiện nhiệm kỳ công tác để đảm bảo tính đặc biệt trong hoạt động xét xử, sự bảo vệ tối đa để các Thẩm phán yên tâm cống hiến, vô tư và không bị chi phối.
- Phương thức hoạt động, hiệu lực phán quyết của Tòa án Hiến pháp
Tòa án Hiến pháp cần có trình tự tố tụng để giải quyết vụ việc bao gồm thủ tục Thụ lý yêu cầu, thủ tục chuẩn bị xét xử, thủ tục xét xử. Nguyên tắc tố tụng Hiến pháp cũng phải tuân thủ đầy đủ các yêu cầu: nguyên tắc pháp chế, nguyên tắc độc lập tuân theo pháp luật, nguyên tắc bình đẳng, nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa, nguyên tắc tranh tụng…như các hoạt động tố tụng khác. Đối với các vụ việc xem xét tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật thì Tòa án xem xét trên cơ sở hồ sơ. Hoạt động kiểm tra tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật được tiến hành theo hình thức giám sát sau và do chủ thể có thẩm quyền đề nghị. Đây chính là yếu tố đảm bảo Tòa án Hiến pháp luôn đứng sau quyền lực lập pháp và nó chỉ đảm bảo vị trí tối cao của hiến pháp mà thôi. Luận văn: Giải pháp cơ chế bảo vệ Hiến pháp bằng pháp luật.
Tòa án Hiến pháp có thể ra một trong các quyết định về tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội ban hành với nội dung tuyên bố văn bản đó là hợp hiến hay vi hiến và sẽ vô hiệu hóa văn bản đó nếu nó vi hiến. Đối với văn bản áp dụng luật do cơ quan và người có thẩm quyền khác ban hành thì Tòa án Hiến pháp có quyền phán quyết nó vi hiến và áp dụng chế tài hủy bỏ. Trong trường hợp đạo luật thông qua do trưng cầu dân ý Tòa án không được tuyên bố đạo luật đó vi hiến. Tuy nhiên nếu đạo luật đó trái Hiến pháp thì cần sửa đổi hiến pháp đồng thời với việc thông qua đạo luật ấy.
Đối với các hành vi bị Tòa án Hiến pháp tuyên bố là vi hiến thì mọi tổ chức cá nhân có trách nhiệm thi hành quyết định của tòa án, chấm dứt, khắc phục hậu quả hoặc buộc phải thực hiện các nội dung chế tài mà bản án của Tòa án Hiến pháp đã tuyên và có hiệu lực pháp luật. Có cơ chế và quy định chặt chẽ đảm bảo hoạt động thi hành án phải được thực hiện và tự nguyện thực hiện. Tòa án Hiến pháp có quyền đưa khởi tố hành vi không thực hiện bản án quyết định của tòa và giao cho cơ quan có thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử theo đúng các quy định của pháp luật
Khi giải thích Hiến pháp, tòa án xem xét các quy định của Hiến pháp và đưa ra sự giảng giải rõ ràng về nội dung và tinh thần của quy phạm và xác định thế nào là vi hiến. Sự giảng giải và làm rõ này có giá trị bắt buộc với mọi chủ thể thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiến pháp. Quyết định giải thích Hiến pháp được coi là có hiệu lực thi hành ngay và buộc các tổ chức và cá nhân phải tuân thủ, người có quyền được phép hành động theo các nội dung Hiến pháp và Tòa án đã giải thích.
Tóm lại, với cơ chế tài phán Hiến pháp bên cạnh những thẩm quyền khác Toà án Hiến pháp với tư cách là một thiết chế bảo hiến độc lập sẽ nâng cao hiệu quả bảo vệ hiến pháp trên cơ sở giải quyết triệt để các vi phạm hiến pháp và là thiết chế hiện thực đủ thẩm quyền tố tụng cần thiết để cơ quan, tổ chức và cá nhân khi có yêu cầu bảo vệ các quyền hiến định tìm tới để có hành lang pháp lý phù hợp bảo vệ các quyền và nghĩa vụ hợp pháp của mình.
Tiểu kết Chương 3 Luận văn: Giải pháp cơ chế bảo vệ Hiến pháp bằng pháp luật.
Xét toàn bộ quá trình lịch sử lập hiến và bảo hiến của nước ta cho thấy, ngoài Hiến pháp 1946 có những yếu tố bảo hiến tương đối tích cực thì các Hiến pháp ra đời sau này đã đưa ra cơ chế bảo hiến nặng về hình thức và thiếu thực chất khi đưa vào thực tế. Việc thiếu cơ chế bảo hiến hiệu quả và thực chất đã biến các Hiến pháp nước ta trở nên xa vời và không đi vào cuộc sống. Cơ chế bảo hiến mang tính hình thức, không cụ thể dẫn tới sự tuỳ tiện trong áp dụng pháp luật, thậm chí là trong lập pháp và cả lập hiến. Việc không áp dụng trực tiếp Hiến pháp và sự trì hoãn ban hành luật cụ thể hóa các quyền con người, quyền công dân đã tạo ra một môi trường pháp lý không công bằng giữa các chủ thể. Lý do không có luật đã có lúc đã đẩy công dân thành vi phạm pháp luật khi thực hiện các quyền hiến định của của mình. Nghiên cứu về bảo hiến qua các Hiến pháp là sự đúc rút kinh nghiệm và đấu tranh không ngừng để tiếp thu các giá trị lập hiến tiên tiến trên thế giới đã được khẳng định là chân giá trị và trong đó có cả kỹ thuật bảo hiến. Sự học hỏi về kinh nghiệm bảo hiến và áp dụng trong thực tiễn Việt Nam sẽ đảm bảo quyền lực nhà nước ở nước ta thực sự thuộc về nhân dân.
Để Hiến pháp được tôn trọng và bảo vệ thì cơ chế bảo vệ hiến pháp phải có thể chế bảo vệ Hiến pháp minh bạch, thống nhất, thực tế.Thiết chế bảo vệ Hiến pháp phải có tính độc lập. Sự độc lập ấy không thể hiểu theo nghĩa đứng trên, khuynh loát các thiết chế quyền lực khác mà chỉ thuần túy là biện pháp bảo vệ, bảo đảm cho hiến pháp được toàn vẹn và tôn trọng. Các quy phạm pháp luật để bảo vệ Hiến pháp cần được xây dựng rõ ràng và thể hiện ở cả tầm hiến định. Hoạt động quan trọng và cơ bản nhất của bảo hiến là kiểm tra tính hợp hiến của các văn bản luật và hành vi công quyền. Vì thế, cần có cơ chế phán quyết Hiến pháp để mọi văn bản pháp luật, mọi hành vi vi hiến đều phải được xử lý triệt để. Hiến pháp cần được áp dụng trực tiếp để các quyền hiến định đi vào cuộc sống, chống lại các hành vi công quyền tiêu cực. Đồng thời hoạt động giải thích Hiến pháp phải được đẩy mạnh và thực hiện có hiệu quả bởi một cơ quan chuyên trách, tránh mọi xung đột mang tính thẩm quyền, giải thích Hiến pháp một chiều và tùy tiện ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, những cá thể chịu sự tác động mạnh mẽ nhất và thậm chí là tiêu cực nhất của quyền lực nhà nước.
KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp cơ chế bảo vệ Hiến pháp bằng pháp luật.
Trước những thử thách trong thực tế mà Hiến pháp nước ta đang gặp phải thì việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn về bảo hiến bằng pháp luật là vô cùng cần thiết. Học tập và tiếp thu kinh nghiệm bảo hiến đã có lịch sử thực tiễn của các mô hình phổ biến trên thế giới kết hợp với đường lối chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền và xây dựng pháp luật của Đảng và nhà nước ta để đảm bảo các định hướng và quyền con người là việc làm cần thiết. Điểm xuất phát đầu tiên có thể là các cơ chế mang tính thử nghiệm, tham vấn để đưa ra các vấn đề cần bảo vệ trong hoạt động quản lý xã hội trong đó kết hợp với đội ngũ Luật sư và truyền thông để nhận được sự phản biện và giám sát khách quan cần thiết. Cơ chế có tính tài phán sẽ được hoàn thiện dần sau khi đã có kinh nghiệm hoạt động tham vấn để nâng cao hiệu lực hiệu quả của cơ chế bảo hiến. Vấn đề này cần được sớm đưa ra thảo luận, lấy ý kiến nhân dân và các nhà khoa học để thực hiện một cách thận trọng nhưng đạt hiệu quả trong thực tế đáp ứng xu thế phát triển của đất nước khi dân trí trong ngày một cao, các đòi hỏi về quyền công dân – quyền con người ngày càng cấp bách và trong bối cảnh Việt nam đang tích cực hòa nhập quốc tế theo cả chiều rộng lẫn chiều sâu, cả song phương và đa phương.
Xây dựng cơ chế bảo hiến hiệu lực và hiệu quả trên phải cơ sở làm rõ các yếu tố cấu thành của cơ chế bảo vệ Hiến pháp bằng pháp luật, đưa ra được nền tảng lý luận để dựa vào đó tạo dựng cơ chế bảo hiến được tổ chức khoa học, có sự liên kết với các thiết chế khác và không ảnh hưởng hay đứng trên quyền lực nhân dân. Đồng thời phải tuân thủ nguyên tắc Đảng lãnh đạo tránh xu hướng lợi dụng hoạt động bảo Hiến làm chệch hướng chính trị gây mất ổn định xã hội và thực sự phải xuất phát từ mục tiêu đảm bảo mọi quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Như vậy, cơ chế bảo hiến bằng pháp luật mới phát huy được hết giá trị vốn có của nó trong công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn ở Việt Nam. Luận văn: Giải pháp cơ chế bảo vệ Hiến pháp bằng pháp luật.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Cơ chế bảo vệ hiến pháp bằng pháp luật ở Việt Nam

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
