Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng Cơ chế bảo vệ hiến pháp bằng pháp luật hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện cơ chế bảo vệ Hiến pháp bằng pháp luật ở Việt Nam hiện nay dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1 SƠ LƯỢC CƠ CHẾ BẢO VỆ HIẾN PHÁP BẰNG PHÁP LUẬT QUA CÁC GIAI ĐOẠN
2.1.1. Cơ chế bảo vệ Hiến pháp theo Hiến pháp 1946
Hiến pháp 1946 quả thực có nhiều ưu điểm: ngắn gọn, súc tích; các điều khoản về dân quyền rõ ràng, không mập mờ bởi cụm từ “theo quy định của pháp luật”; phân định rõ quyền lập pháp, hành pháp, tòa án. Đặc biệt, hệ thống Tòa án tổ chức theo cấp xét xử, chứ không theo địa phận hành chính. Cách tổ chức hệ thống Tòa án theo địa phận hành chính như hiện nay khiến Tòa án thành “cấp dưới”, bị chi phối bởi các cơ quan hành pháp địa phương.
Bản Hiến pháp 1946 được thông qua bởi một Quốc hội lập hiến gồm các Đảng chính trị và đoàn thể Việt Minh như Đảng Dân chủ, Đảng Xã hội, nhóm Mác-xít. Các tổ chức đối lập có Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội, Việt Nam Quốc Dân Đảng. Ngoài ra còn nhiều đại biểu độc lập, tiêu biểu là như ông Nguyễn Sơn Hà doanh nhân Hải Phòng, người đã không bỏ phiếu thông qua Hiến pháp 1946 vì Hiến pháp không công nhận quyền tự do doanh thương; các đại biểu dân tộc thiểu số (ông Nguyễn Văn Chi, Nguyễn Khánh Kim, những người cổ vũ quyền quốc dân thiểu số); các đại biểu tôn giáo (Linh mục Tín, người đề xuất thêm quyền tự do giáo dục); các đại biểu phụ nữ, tích cực trong việc bảo vệ quyền lợi phụ nữ khi thảo luận điều 12 về bình đẳng giữa nam giới và nữ giới. Cơ chế quyền lực Nhà nước của Hiến pháp 1946 là cơ chế tập quyền, không phải phân quyền, quyền lực nhà nước tập trung trong tay Chủ tịch nước. Các điều khoản về dân quyền và nhân quyền cũng chưa đầy đủ, không đáp ứng được nhu cầu bảo vệ các quyền công dân trong mối quan hệ đa dạng và phức tạp giữa công dân và Nhà nước. Vấn đề bảo hiến trong Hiến pháp 1946 đã được đặt ra nhưng có tính chung chung và chưa cụ thể. Hiến pháp quy định cho dân dân có quyền phúc quyết Hiến pháp và những vấn đề liên quan đến vận mệnh quốc gia (căn cứ các Điều 21, 32, 70 Hiến pháp 1946) trong đó quy định vấn đề sửa đổi hiến pháp là sự bảo hiến. Hiến pháp ghi nhận một cơ chế để bảo vệ bản Hiến pháp khỏi bị sửa đổi tùy tiện: toàn dân phúc quyết Hiến pháp chính là để bảo vệ chủ quyền nhân dân. Tuy nhiên, kiểm soát quyền lực Nhà nước cần một cơ chế kiểm soát và đối trọng thực tiễn.Chế độ nào cũng tuyên bố “quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân” hay “ý chí quốc dân là trên hết”. Nhưng chỉ những tuyên bố chính trị chung chung không đủ để đảm bảo dân chủ, pháp trị hay dân quyền. [11][15] [30]
2.1.2. Cơ chế bảo vệ Hiến pháp theo Hiến pháp 1959 Luận văn: Thực trạng Cơ chế bảo vệ hiến pháp bằng pháp luật.
Sau kháng chiến chống Pháp, miền Bắc bước vào giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội và chuẩn bị thống nhất đất nước do tổng tuyển cử dự định vào năm 1956 đã không diễn ra theo kế hoạch (Hiệp định Geneve). Hiến pháp 1959 mang tư tưởng phải giám sát việc thi hành và tuân thủ Hiến pháp là rất quan trọng để bảo vệ Hiến pháp, bảo vệ chế độ chính trị kinh tế, xã hội của nhà nước, bảo vệ quyền làm chủ tập thể nước và tự do dân chủ của nhân dân. Hiến pháp 1959, chưa quy định cụ thể về cơ chế bảo hiến nhưng cũng như Hiến pháp 1946 nó chứa đựng một số điều khoản mang tính chất bảo hiến và tính tối cao của hiến pháp cũng được thể hiện.Điều 50 Hiến pháp 1959 quy định Quốc hội có những quyền hạn liên quan đến lập hiến và lập pháp; giám sát hoạt động, bầu một số chức danh….
Điều khoản này đã hạn chế quyền lực Quốc hội trong một khung và gián tiếp thể hiện tính tối cao của Hiến pháp. Trong khi đó chính Hiến pháp lại giao quyền và nghĩa vụ giám sát Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp cho Quốc hội (Điều 50, điều 112 Hiến pháp 1959); Ủy ban Thường vụ Quốc hội có quyền sửa đổi và bãi bỏ các nghị định, nghị quyết, chỉ thị của Hội đồng chính phủ trái với quy định của Hiến pháp (Điều 55). Thiết chế Viện kiểm sát nhân dân cũng tham gia vào việc bảo vệ Hiến pháp thông qua cơ chế kiểm sát tuân theo pháp luật của cơ quan, tổ chức và cá nhân (Điều 105). Hiến pháp không nêu vấn đề hủy bỏ các đạo luật vi hiến do sự lý giải đơn giản vì tính chất ưu việt của nhà nước do nhân dân lập ra nên không thể có các đạo luật vi hiến. Quốc hội là diện cho nhân dân nên có nhiệm vụ giữ gìn cho Hiến pháp được tôn trọng và bảo vệ và vì vị trí tối cao đó nên không thể tồn tại cơ quan nào giám sát Quốc hội điều này trái ngược quan điểm của các nước tư sản coi Quốc hội chỉ đại diện cho một nhánh quyền lực lập pháp và ngang bằng với hành pháp và Tư pháp. Tuy vẫn tồn tại tính chất chưa rõ ràng của cơ chế bảo hiến nhưng Hiến pháp 1959 đã đề cập đến vấn đề bảo hiến đầy đủ hơn so với Hiến pháp 1946 với nhiều chủ thể tham ra bảo hiến. Vai trò của công dân trong bảo hiến được tôn trọng với quyền được khiếu nại các hành vi trái với Hiến pháp của cơ quan nhà nước đồng thời các cơ quan cấp trên có trách nhiệm giám sát cơ quan cấp dưới trong tổ chức và hoạt động. [16][31]
2.1.3. Cơ chế bảo vệ Hiến pháp theo Hiến pháp 1980
Hiến pháp 1980 mang nội dung của một bản Hiến pháp với mong muốn tạo cơ sở pháp lý tốt nhất để phục vụ việc kiến thiết lại đất nước sau chiến tranh và tạo ra một đời sống xã hội – xã hội chủ nghĩa như mong muốn của các nhà lãnh đạo. Xét dưới góc độ bảo hiến trong bản Hiến pháp 1980 có thể nhận thấy: Luận văn: Thực trạng Cơ chế bảo vệ hiến pháp bằng pháp luật.
Hiến pháp ghi nhận quyền lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản Việt Nam với học thuyết Mác-Lênin và mọi hoạt động của các tổ chức Đảng phải trong khuôn khổ Hiến pháp và không được đứng trên Hiến pháp.
Hiến pháp quy định quyền giám sát tối cao của Quốc hội (Điều 82) thông qua hoạt động của các ủy ban thường trực thuộc Quốc hội; Qua công tác nghiên cứu thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh hoặc qua những kiến nghị về các vấn đề đưa ra trình Quốc hội. Các ủy ban thường trực, nhất là Ủy ban pháp luật có trách nhiệm xem xét kỹ các dự án luật, pháp lệnh đảm bảo chúng phù hợp với của Hiến pháp và đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Ở đây việc kiểm tra văn bản nhằm đảm bảo các văn bản luật luôn có tính hợp hiến và hợp pháp.
Hội đồng Nhà nước là tổ chức được Hiến pháp trao quyền giám sát việc thi hành Hiến pháp, các luật, pháp lệnh và nghị quyết của Quốc hội và hội đồng nhân dân, giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước (Điều 98). Hội đồng nhà nước có quyền giám sát công tác của Hội đồng Bộ trưởng, của Tòa án nhân dân tối cao; có quyền đình chỉ việc thi hành và sửa đổi hoặc bãi bỏ những nghị định nghị quyết của hội đồng bộ trưởng trái Hiến pháp; các văn bản thuộc thẩm quyền ban hành của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và tương đương (Đặc khu) không thích đáng. Thông qua công tác xem xét trước các dự án luật, thông qua các pháp lệnh và qua công tác giải thích pháp luật, hội đồng nhà nước đẩy mạnh hoạt động lập pháp của Quốc hội, để pháp luật được ban hành kịp thời, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện.
Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao kiểm sát tuân theo pháp luật hoạt động các bộ, cơ quan thuộc hội đồng bộ trưởng, chính quyền địa phương, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, cán bộ nhà nước và nhân dân; thực hành quyền công tố đảm bảo pháp luật được thực hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Viện kiểm sát nhân dân tối cao đóng vai trò quan trọng trong hoạt động giám sát nhà nước. Hoạt động giám sát chung có tác dụng loại bỏ các quy định pháp lý không hợp hiến, hợp pháp và kiến nghị áp dụng chế tài đối với các vi phạm pháp luật.
Hệ thống tòa án nhân dân là cơ quan xét xử, trong hoạt động xét xử không áp dụng những văn bản luật vi hiến do đó góp phần kiểm tra tính hợp hiến và hợp pháp của văn bản pháp luật. Luận văn: Thực trạng Cơ chế bảo vệ hiến pháp bằng pháp luật.
Hội đồng Bộ trưởng theo Điều 107 Hiến pháp 1980 có nhiệm vụ bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật. Để thực hiện nhiệm vụ này, Hội đồng Bộ trưởng phải có các tổ chức và thi hành các biện pháp cần thiết để đảm bảo Hiến pháp và các đạo luật, pháp lệnh được thi hành nghiêm chỉnh. Hội đồng Bộ trưởng có quyền đình chỉ, sửa đổi hoặc bãi bỏ các văn bản chỉ thị, thông tư, quyết định của các bộ cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng ban hành không thích đáng; đình chỉ việc thi hành những nghị quyết không thích đáng của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương đồng thời đề nghị Hội đồng Nhà nước sửa đổi hoặc bãi bỏ các nghị quyết đó; đình chỉ việc thi hành và sửa đổi hoặc bãi bỏ và chỉ thị không thích đáng của ủy ban nhân dân các cấp. Phát hiện những hành vi không thích đáng, những vi phạm pháp luật, áp dụng các chế tài cần thiết, tất cả nhằm đảm bảo tính hợp hiến và hợp pháp của mọi hoạt động do các cơ quan của Hội đồng Bộ trưởng tiến hành trong các lĩnh vực. Trong Hội đồng Bộ trưởng còn có Ủy ban Thanh tra nhà nước, các cơ quan kiểm tra, thanh tra ở các ngành để thực hiện tự kiểm tra thanh tra. Ủy ban thanh tra nhà nước có trách nhiệm xem xét trình Hội đồng Bộ trưởng giải quyết các khiếu nại, tố cáo về việc làm trái chính sách, pháp luật của Thủ trưởng các ngành ở trung ương hoặc của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Xem xét và kiến nghị giải quyết lại hoặc trình Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng giải quyết các khiếu nại tố cáo mà bộ trưởng, chủ nhiệm ủy ban nhà nước, thủ trưởng các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã giải quyết mà phát hiện có sai lầm.
Theo Hiến pháp 1980 cơ chế bảo hiến là sự phân tán đan xen vào chức năng nhiệm vụ của nhiều cơ quan nên sự tập trung làm nhiệm vụ bảo hiến không đạt kết quả như mong muốn. Tính quan liêu, thành tích chủ nghĩa lan tràn đã phủ mờ những yếu kém thậm chí là sự vi hiến của nhiều cơ quan, tổ chức và người có trách nhiệm. [17][32]
2.1.4. Cơ chế bảo vệ Hiến pháp theo Hiến pháp 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001
Những tồn tại về cơ chế bảo hiến tồn tại trong các bản hiến pháp trước (đặc biệt là hiến pháp 1959 và 1980) dường như chưa được khắc phục trong bản hiến pháp được coi là đổi mới này. Hiến pháp năm 1992 và cả lần sửa đổi năm 2001 cũng không đưa ra được mô hình cơ quan độc lập và chuyên trách để thực hiện chức năng bảo hiến và vẫn tồn tại cơ chế bảo hiến phân tán với nhiều cơ quan khác nhau. Mỗi cơ quan lại có một vài chức năng liên quan tới giám sát hiến pháp, bảo vệ hiến pháp. Theo Hiến pháp, Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội có quy định Ủy ban Thường vụ Quốc hội thể hiện vai trò bảo hiến rõ hơn các cơ quan khác. Cơ quan này có chức năng, nhiệm vụ bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật đối với các dự án luật, dự án pháp lệnh trước khi trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua. Tuy nhiên, trên thực tế cơ quan này cũng không phát huy được tác dụng trong việc thực hiện chức năng này. Việc theo dõi, xem xét đánh giá hoạt động của cơ quan tổ chức cá nhân chịu sự giám sát khi thi hành hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội lại thuộc chức năng giám tối cao của Quốc hội. Điều 1 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003 quy định: Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của nhà nước. Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao của mình tại kỳ họp Quốc hội trên cơ sở hoạt động giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban thuộc Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và Đại biểu Quốc hội.
Các cơ quan khi thực hiện giám sát lại bao gồm cả hoạt động bảo vệ hiến pháp thông qua việc xem xét tính hợp hiến, sự phù hợp với luật và nghị quyết, pháp lệnh….của các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan hay người có thẩm quyền thuộc các nhánh quyền lực lập pháp – hành pháp – tư pháp ban hành (Luật hoạt động giám sát của Quốc hội 2003). Với phương thức bảo hiến không chuyên trách, lồng ghép vào chức năng nhiệm vụ quyền hạn của nhiều cơ quan khác nhau nên việc thực hiện không hiệu quả và đặt ra thách thức cho việc xây dựng nhà nước pháp quyền, bảo vệ các quyền do dân chủ của công dân. [6][7] [18] [30] [32]
2.2 THỰC TRẠNG CƠ CHẾ BẢO VỆ HIẾN PHÁP BẰNG PHÁP LUẬT THEO HIẾN PHÁP 2013 Luận văn: Thực trạng Cơ chế bảo vệ hiến pháp bằng pháp luật.
2.2.1. Thực trạng thể chế bảo vệ Hiến pháp
Thể chế bảo vệ Hiến pháp tuy đã xác định được một số nguyên tắc chỉ đạo hoạt động bảo vệ Hiến pháp, đã quy định được về một số nội dung và thẩm quyền của một số chủ thể tham gia bảo vệ Hiến pháp. Tuy nhiên các nguyên tắc này chỉ mang tính chất chung chung, thiếu cụ thể và không bao quát hết các hành vi vi phạm hình thức gần như không được thực hiện một cách có trách nhiệm trên thực tế. Nội dung các nguyên tắc chỉ có thể hiện thực hóa trong các văn bản quy phạm pháp luật nhưng các văn bản này vì nhiều lý do không được ban hành đáp ứng nhu cầu bảo vệ Hiến pháp nói riêng và bảo vệ các quyền tự do dân chủ của nhân dân trước các hành vi vi hiến nói chung.
Hiến pháp quy định nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Tuy nhiên các đặc trưng của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam lại có những mức độ thể hiện khác và không đầy đủ đáp ứng nguyên tắc này một cách đủ mạnh (ví dụ đặc trưng thống nhất quyền lực, không phân quyền, không chế ước lẫn nhau dẫn đến thiếu độc lập trong xét xử). Nguyên tắc bảo đảm các quyền con người, quyền công dân rất khó trở thành hiện thực do sự quy định của pháp luật đối với nội dung này chưa cụ thể vì vậy người dân và cơ quan bảo vệ pháp luật khó viện dẫn quy định của Hiến pháp để bảo vệ một cách triệt để các quyền con người, quyền công dân. Nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước thống nhất, có sự phân công, kiểm soát (điểm mới trong Hiến pháp 2013) nhưng sự thống nhất đó lại chưa cụ thể hóa thành mối quan hệ pháp lý và chế độ trách nhiệm giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước. Hoạt động bảo vệ Hiến pháp ở nước ta chỉ bao gồm: Kiểm tra, giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật; giải thích Hiến pháp; giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền trong việc thi hành Hiến pháp. Với nội dung bảo hiến như vậy sẽ không đáp ứng đáp ứng các yêu cầu như: phán quyết và xử lý đối với các hành vi vi hiến; yêu cầu bảo vệ quyền con người, quyền công dân; giải quyết tình trạng không thực hiện các nghĩa vụ Hiến định, lạm quyền, tranh chấp trong cơ chế thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Luận văn: Thực trạng Cơ chế bảo vệ hiến pháp bằng pháp luật.
Có những nội dung bảo vệ Hiến pháp được xác định nhưng cơ sở pháp lý để thực hiện các nội dung đó chưa được “luật hóa” chưa cụ thể, có những quy định còn mâu thuẫn. Nội dung kiểm tra, giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật chưa bao gồm kiểm tra, giám sát đối với văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội ban hành; quy định về giải thích Hiến pháp còn sơ sài. Thể chế bảo vệ Hiến pháp xác định thẩm quyền xem xét tính hợp hiến của của văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ Tịch nước và Thủ tướng Chính phủ. Tuy nhiên chỉ có hoạt động xem xét tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội được quy định khá đầy đủ và chi tiết tại Luật giám sát hoạt động của Quốc hội 2003 và Luật giám sát hoạt động của Quốc hội và Hội đồng nhân dân 2015. Việc xem xét tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật và xử lý văn bản vi hiến do Thủ tướng tiến hành (đình chỉ thi hành, bãi bỏ văn bản của các bộ trưởng, chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh, v.v… bị cho là vi hiến, phạm luật) quy định trong Luật Tổ chức Chính phủ (mới nhất ở khoản 8 điều 28 Luật tổ chức Chính phủ 2015) cũng chỉ là sự ghi nhận lại nội dung của Hiến pháp về thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ. Do từ lâu Hiến pháp dường như là một điều thiêng liêng, trừu tượng không được thể hiện hàng ngày một cách chi tiết và cụ thể nên các cơ quan có trách nhiệm soạn thảo các dự án luật đã không thật sự đề cao vị trí, vai trò của Hiến pháp trong hệ thống pháp luật, chưa thể chế hóa một cách đầy đủ, toàn diện các nguyên tắc, yêu cầu của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nên thể chế bảo vệ Hiến pháp chưa có sự tách bạch giữa giám sát, kiểm tra tính hợp hiến và kiểm tra, giám sát tính hợp pháp của văn bản quy phạm và hành vi của các cơ quan và cá nhân được Hiến pháp trao quyền. Sự không tách bạch giữa hoạt động bảo vệ Hiến pháp và hoạt động kiểm tra giám sát văn bản quy phạm pháp luật đã làm giảm giá trị tối cao của hiến pháp, tạo sự né tránh, phớt lờ và thậm chí không cần biết tới vai trò và nhiệm vụ bảo vệ hiến pháp của cơ quan, tổ chức cá nhân có thẩm quyền.
Do chúng ta không có tiền lệ và quy định làm cơ sở áp dụng trực tiếp Hiến pháp nên đồng thời không có cơ sở cho việc xác định hành vi vi hiến ở dạng không hành động. Trong trường hợp có sự quy định khác nhau về một vấn đề thì văn bản quy phạm pháp luật cao hơn sẽ có giá trị áp dụng và ở đây là hiến pháp.Tuy nhiên thực tế áp dụng pháp luật lại chưa hẳn đã tuân thủ đúng nguyên tắc này từ phái các cơ quan tổ chức và cả cá nhân công dân. Gần như chưa từng có ai lên tiếng khi quyền hiến định bị vi phạm, sự lên tiếng trực tiếp và thể hiện thông qua việc kiện hoặc trực tiếp giám sát việc chấp hành Hiến pháp của công dân với cơ quan người có thẩm quyền cũng chưa diễn ra nhiều trên thực tế (vừa qua có một số trường hợp Luật sư, công dân khiếu nại về việc làm được cho là vi hiến của một số tổ bầu cử năm 2015 hoặc một số công dân tự phát tiến hành giám sát việc chấp hành Hiến pháp, luật của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội). Trong hoạt động xét xử, tòa án cũng chưa bao giờ viện dẫn các quy định của Hiến pháp làm căn cứ xét xử và sẵn sàng bỏ qua các quyền của công dân với lý do chưa có luật thể chế hóa các quyền đó. Thực tế nợ đọng các văn bản quy phạm pháp luật cụ thể hóa các quyền hiến định của công dân thì cần có quy định cụ thể việc áp dụng trực tiếp Hiến pháp ghi nhận ngay trong Hiến pháp để đảm bảo có căn cứ phán quyết các vấn đề vi hiến.
Theo Điều 7 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, chỉ quy định chung chung về trách nhiệm của người, cơ quan có trách nhiệm soạn thảo đệ trình các dự án luật khi chậm tiến độ, chất lượng không tốt hay phạm vi được giao…đó là sự chịu trách nhiệm trước pháp luật mang tính hành chính, không có các chế tài cụ thể về mặt chính trị được áp dụng (bãi miễn, cách chức). Các văn bản pháp luật khác cũng không có quy định trách nhiệm cụ thể nào đối với sự bất hành động, không ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo quy định của Hiến pháp.
Thể chế bảo vệ Hiến pháp thiếu hệ thống và dàn trải. Nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp được giao cho nhiều thiết chế khác nhau nên quy định pháp luật về bảo vệ Hiến pháp nằm rải rác ở nhiều văn bản luật và tựu chung đều có nội dung ý tưởng gần gần như nhau, ví dụ như nội dung bảo vệ Hiến pháp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Việc quy định như vậy đã phá vỡ tính hệ thống của thể chế bảo vệ Hiến pháp, gây khó khăn khi áp dụng và hơn nữa tạo ra sự thờ ơ, ỷ lại và làm mất đi tính hiện thực rất cần phải bảo vệ của Hiến pháp. Nhiều quy phạm điều chỉnh hoạt động bảo vệ Hiến pháp và hoạt động giám sát của các chủ thể khác nhau được quy định trong cùng một văn bản gây nhầm lẫn về nhận thức và tổ chức thực hiện.[27] [28]
2.2.2. Thực trạng thiết chế bảo vệ Hiến pháp Luận văn: Thực trạng Cơ chế bảo vệ hiến pháp bằng pháp luật.
Căn cứ nhiệm vụ quyền hạn của các thiết chế bảo vệ Hiến pháp thì Quốc hội có vai trò quan trọng nhất, được giao những thẩm quyền cao nhất bởi quan điểm cho rằng Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và đương nhiên không cơ quan nào cao hơn Quốc hội cho dù quyền lập pháp cũng chỉ là một trong ba nhánh quyền lực. Quốc hội được giao những thẩm quyền mà không nhánh quyền lực nào có được, là: Một số nhiệm vụ quyền hạn của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Thủ tướng chính phủ thực hiện để nhằm phục vụ hoạt động bảo vệ Hiến pháp của Quốc hội. Ví dụ, Quốc hội có quyền ra nghị quyết hủy bỏ văn bản của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, Nghị quyết của Quốc hội (khoản 10 Điều 70 Hiến) hoặc Thủ tướng chính phủ đề nghị Quốc hội phê chuẩn miễn nhiệm, cách chức thành viên chính phủ (khoản 7 điều 98 Hiến pháp 2013). Kết quả hoạt động bảo vệ Hiến pháp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Thủ tướng chính phủ tạo thành cơ sở, bằng chứng, dự liệu để Quốc hội thực hiện bảo vệ hiến pháp. Ví dụ như Ủy ban Thường vụ Quốc hội Giám sát việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; giám sát hoạt động của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước và cơ quan khác do Quốc hội thành lập; đình chỉ việc thi hành văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và trình Quốc hội quyết định việc bãi bỏ văn bản đó tại kỳ họp gần nhất; bãi bỏ văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội (khoản 3,4 Điều 74 Hiến pháp 2013). Các cơ quan thuộc nhánh hành pháp và tư pháp thi hành Hiến pháp và có hoạt động thường xuyên liên tục khác với việc quôc hội họp hai kỳ một năm nên không thể thực hiện giám sát kịp thời và với tư cách là cơ quan thường trực, Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ có đủ điều kiện để giám sát việc thi hành hiến pháp và hoạt động của các cơ quan hành pháp và tư pháp thường xuyên,liên tục và từ báo cáo giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ cung cấp các số liệu xác thực để Quốc hội xem xét báo cáo hoạt động của các cơ quan đó. Quốc hội tạo hành lang pháp lý để Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Thủ tướng chính phủ thực hiện hoạt động bảo hiến. Ví dụ khoản 7 điều 70 Hiến pháp 2013, Quốc hội có quyền ra nghị quyết bãi nhiệm Phó Thủ tướng theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ theo quy định tại khoản 3 Điều 98 Hiến pháp 2015. Nghị quyết của Quốc hội chính là cơ sở pháp lý cho thiết chế Thủ tướng Chính phủ tiến hành thủ tục bãi nhiệm, miễn nhiệm các thành viên Chính phủ. Luận văn: Thực trạng Cơ chế bảo vệ hiến pháp bằng pháp luật.
Theo quy định của Hiến pháp và luật, các thiết chế có sự phân công nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp theo thứ bậc, trong hoạt động này về nguyên tắc các thiết chế có sự phối hợp và hỗ trợ lẫn nhau. Cơ quan ở vị trí cao hơn có nhiệm vụ và quyền hạn lớn hơn, có quyền quyết định những vấn đề có hậu quả pháp lý lớn hơn và có những chế tài nghiêm khắc hơn đối với những đối tượng chịu tác động của hoạt động bảo hiến. Đứng đầu các thiết chế có nhiệm vụ và chức năng giám sát tối cao việc tuân theo hiến pháp là Quốc hội. Các đối tượng chịu sự giám sát tối cao nhằm bảo vệ hiến pháp của Quốc hội là những cơ quan có vị trí pháp lý cao đứng đầu các nhánh quyền lực và cá nhân đứng đầu bộ máy nhà nước (Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án tối cao, Thủ tướng….). Thực hiện nhiệm vụ bảo hiến, Quốc hội có quyền áp dụng nhưng chế tài nghiêm khắc nhất đối với các chức vụ cao nhất nếu vi hiến như bãi nhiệm, cách chức; bãi bỏ các văn bản trái Hiến pháp do các cơ quan có địa vị pháp lý cao nhất ban hành trừ Quốc hội, đây cũng chính là nhược điểm của việc bảo hiến ở nước ta hiện nay khi Quốc hội cũng có thể có hành vi vi hiến. Các quy định của pháp luật cho thấy thiết chế bảo vệ Hiến pháp mang tính phi tập trung và không có thiết chế bảo Hiến chuyên trách, thẩm quyền bảo vệ Hiến pháp được giao cho nhiều cơ quan, cá nhân khác nhau nhưng nhiệm vụ giao cho họ vẫn chỉ mang tính chung chung, không cụ thể, thiếu sự giải thích rõ ràng và quy trình thực hiện nhiệm vụ với các phương thức và chế tài cụ thể không được đặt ra. Hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội thực chất là sự phụ thuộc vào hoạt động giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội trong khi hoạt động của các tổ chức và cá nhân này chỉ mang tính chuẩn bị giúp Quốc hội xem xét nội dung liên quan tại các kỳ họp nay lại được coi là hoạt động giám sát độc lập. Khi được coi là một hình thức giám sát độc lập thì mỗi cơ cấu (đặc biệt trong Quốc hội) được quy định những thẩm quyền nhất định và cũng độc lập theo nghĩa đó. Việc không tập trung các thẩm quyền phán xét về cho kỳ họp quôc hội để từ đó có kết luận đủ sức mạnh uy quyền cao nhất buộc phải chấp hành mà mỗi cơ cấu chỉ đưa ra các kiến nghị (có cả kiến nghị đối với hoạt động do Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội thực hiện) mà việc thực hiện các kiến nghị đó hay không lại không có cơ chế bắt buộc cho thấy tính phân tán và không hiệu quả của các kết luận giám sát. Việc hành pháp hay tư pháp “nợ” câu trả lời về các vấn đề cần thay đổi luôn diễn ra ở mỗi kỳ họp Quốc hội. Với các thiết chế Hiến pháp, việc giám sát, kiểm tra tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật, giám sát việc thi hành Hiến pháp, giải thích Hiến pháp…đều không phải là hoạt động chuyên trách. Các thiết chế chỉ tập trung thực hiện các hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp được phân công mà việc bảo hiến dường như chỉ là quyền lực được trao cho họ để nâng cao vị thế oai nghiêm mà thôi. Chính vì sự thờ ơ, không rõ ràng về chức năng nhiệm vụ bảo hiến như vậy mà việc bảo hiến không được thực hiện có hiệu quả.[27] [33]
2.2.3. Thực trạng phương thức, sự vận hành cơ chế bảo vệ Hiến pháp
Các thiết chế bảo vệ Hiến pháp ở Việt nam (Quốc hội, Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ) đều có những phương thức vận hành nhất định để tiến hành các hoạt động bảo vệ Hiến pháp. Những phương thức đó biểu hiện thông qua các hình thức, quy trình thủ tục và các biện pháp mà các thiết chế bảo vệ hiến pháp sử dụng để thực hiện thẩm quyền của mình. Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội có vai trò chủ đạo trong hoạt động bảo vệ Hiến pháp nên phương thức hoạt động của các thiết chế này được các nhà làm luật thiết kế đa dạng, quy định tương đối cụ thể và rõ ràng hơn các thiết chế khác, thiết chế này có một “khoảng” tương đối để thể hiện chức năng bảo hiến. Còn các thiết chế khác cũng có một số quy định thẩm quyền, phương thức vận hành cơ chế bảo hiến nhưng chỉ mang tính hình thức, thiếu cụ thể, không có đầy đủ hoặc không có quy trình thủ tục thực hiện thẩm quyền. Tổng thể các phương thức của cơ chế bảo hiến hiện nay chỉ mang tính khuyến nghị là chủ yếu và hiệu lực pháp lý thấp. Luận văn: Thực trạng Cơ chế bảo vệ hiến pháp bằng pháp luật.
Sự vận hành của cơ chế bảo hiến hiện nay bao gồm hoạt động kiểm tra giám sát tính hợp Hiến của văn bản quy phạm pháp luật. Đây là hoạt động chủ yếu do Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội thực hiện. Tuy nhiên, công tác này trên thực tế chưa được chính Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội quan tâm đúng mức. Báo cáo công tác nhiệm kỳ 5 năm Quốc hội khóa 13 vào tháng 3 năm 2016 không nói đến vấn đề giám sát văn bản quy phạm pháp luật có vi hiến hay không mà chỉ nêu khái quát một số vấn đề hạn chế về chất lượng các dự luật. Như vậy, chính bản thân Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội chỉ tập trung vào hoạt động lập pháp mà lãng quên trách nhiệm giám sát các văn bản quy phạm pháp luật ở góc độ tuân thủ và phù hợp với Hiến pháp. Trong khi đó báo cáo công tác nhiệm kỳ 2003-2008 đã đánh giá rằng: hoạt động giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội tuy tiến hành thường xuyên nhưng kết quả chưa rõ nét. Phải chăng các văn bản quy phạm pháp luật đã được nâng cao tối đa về tính hợp Hiến hoặc công tác trong giám sát văn bản quy phạm pháp luật nhiệm kỳ này bị coi nhẹ? Năm 2005 tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa 11 đã có chuyên đề riêng về giám sát ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các hệ thống cơ quan nhà nước. Việc giám sát cho thấy các văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái Hiến pháp, luật, Nghị quyết của Quốc hội ít xảy ra mà chủ yếu nằm ở các văn bản dưới luật có quy định chưa thống nhất với luật, hoặc chồng chéo thì chưa được quan tâm thích đáng để rà soát theo dõi, phát hiện xử lý kịp thời. Đến năm 2011 Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 07/01/2011 ra Nghị quyết số 1015/NQ-UBTVQH12 thành lập các đoàn giám sát để thực hiện giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân giai đoạn 2005-2010. Như vậy thực tế hiện nay cho thấy, Quốc hội chưa quan tâm đứng mức đến hoạt động giám sát tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật các báo cáo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thường chỉ ra được rất ít cá trường hợp văn bản quy phạm pháp luật vi hiến, sự giám sát đều thực hiện cho một giai đoạn kéo dài nên tính kịp thời khắc phục vi phạm ngay chưa thực hiện được, hành vi vi hiến dưới dạng không hành động chưa được phát hiện hoặc có phát hiện nhưng không có biện pháp xử lý triệt để, kịp thời. Bên cạnh Quốc hội, các thiết chế Chủ Tịch nước và Thủ tướng Chính phủ cũng có những thẩm quyền nhất định xem xét tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật nhưng hai thiết chế này gần như không thực hiện thẩm quyền của mình. Chủ tịch nước chưa bao giờ đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét lại pháp lệnh theo quy định tại khoản 1 điều 88 Hiến pháp 2013 hay Thủ tướng chưa ký quyết định đình chỉ bãi bỏ văn bản của các bộ trưởng, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái hiến pháp theo quy định của khoản 4 điều 98 Hiến pháp 2013. Luận văn: Thực trạng Cơ chế bảo vệ hiến pháp bằng pháp luật.
Hoạt động giám sát thi hành Hiến pháp của các cơ quan, cá nhân mà hiến pháp trao quyền thể hiện một số yếu tố tích cực nhưng bên cạnh đó còn nhiều hạn chế. Theo báo cáo công tác nhiệm kỳ Quốc hội khóa 13 hoạt động giám sát đạt được một số kết quả như tiếp tục có nhiều cải tiến, đổi mới hoạt động giám sát. Việc “tái” giám sát được tiến hành thường xuyên, trước hết là xem xét kết quả thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về chất vấn và trả lời chất vấn. Theo đó, kỳ họp sau phải báo cáo kết quả thực hiện những điều đã hứa, những giải pháp đã đưa ra trong lần chất vấn trước. Đặc biệt, tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa 11, Quốc hội đã tiến hành “chất vấn toàn khóa” đối với những người đứng đầu các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các nghị quyết của Quốc hội về giám sát chuyên đề, về chất vấn và trả lời chất vấn từ đầu nhiệm kỳ. Như vậy, có thể nói Quốc hội đã theo dõi, giám sát “đến cùng” về hình thức việc thực hiện nghị quyết Quốc hội, rút ra những bài học cần thiết để tiếp tục hoàn thiện chức năng quan trọng này. Hoạt động giải trình tại Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội được quan tâm, tiến hành thường xuyên hơn, đạt kết quả thiết thực, góp phần nâng cao trách nhiệm của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, các bộ, ngành trong giám sát và tổ chức thực thi pháp luật; nâng cao tính minh bạch, công khai trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Tuy nhiên sự “đến cùng” trong báo cáo cũng chưa thể hiện bằng kết quả trong thực tế, ví dụ: việc tiếp tục không trình dự án luật như tiến độ nghị quyết Quốc hội yêu cầu. Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động giám sát việc thi hành Hiến pháp của các cơ quan, cá nhân được Hiến pháp trao quyền còn tồn tại nhiều hạn chế: thời gian dành cho việc thẩm tra, xem xét còn ngắn dẫn đến chất lượng công tác thẩm tra bị hạn chế; thiếu nguồn thông tin độc lập, khách quan đầy đủ từ cơ quan thanh tra, kiểm tra, kiểm toán. Sau thảo luận chưa có hình thức văn bản được quy định cụ thể để thể hiện thái độ của Quốc hội đối với kết quả hoạt động của cơ quan trình báo cáo; Quốc hội chưa sử dụng triệt để có hiệu quả các hình thức và biện pháp pháp lý mà hiến pháp trao cho; việc giám sát thi hành Hiến pháp chưa đồng đều đối với các đối tượng chịu sự giám sát. Các thiết chế Chủ tịch nước và Thủ tướng chính phủ có những thẩm quyền bảo đảm thi hành hiến pháp nhưng hai thiết chế này đều chưa thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ, quyền hạn Hiến pháp đã quy định, việc bảo hiến của hai thiết chế này còn nhiều hạn chế.
Hoạt động giải thích Hiến pháp cũng là một cách để thực hiện bảo Hiến khi các quy định của Hiến pháp có sự trừu tượng và trong thực tế sự áp dụng vào cuộc sống còn có những khoảng cách.Tuy nhiên hoạt động giải thích Hiến pháp ở nước ta chưa được coi trọng. Chức năng giải thích luật giao cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội thực hiện nhưng cũng không được vận hành trong thực tế (mới giải thích luật hai lần và chưa lần nào giải thích Hiến pháp) trong khi thực tiễn cho thấy người dân nóng lòng được vẫn dụng các quyền tự do dân chủ theo quy định của Hiến pháp trong khi cơ quan nhà nước lại cố tình hiểu sai các quy định của Hiến pháp dẫn đến các hành vi hạn chế các quyền tự do dân chủ của nhân dân… Không giải thích Hiến pháp xuất phát từ sự nhận thức không đầy đủ về vai trò của Hiến pháp và thiếu cơ sở pháp lý cụ thể, rõ ràng về giải thích Hiến pháp mà còn do việc giao giải thích Hiến pháp cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội là không phù hợp. Việc giải thích luật nhiều khi lại do Hộ đồng thẩm phán tòa án tối cao tiến hành dưới hình thức các Nghị quyết vô hình chung chính là sự vi hiến phổ biến của nhánh quyền lực tư pháp. Kết quả hoạt động giải thích Hiến pháp cho thấy sự vận hành của cơ chế bảo vệ Hiến pháp hiện hành còn có nhiều bất cập và hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi của thực tiễn, chính là đòi hỏi để bảo vệ các quyền tự do dân chủ của công dân. Các thiết chế bảo vệ Hiến pháp thực thi bảo Hiến như một sự ôm đồm thêm chức năng phụ bên cạnh nhiệm vụ được coi là chính nên chức năng bảo hiến của họ vận hành kém nhiệt tình, thiếu đồng bộ, phân tán, không hiệu quả. Các thiết chế Chủ tịch nước và Thủ tướng chính phủ được giao quyền về bảo hiến bằng việc tạm dừng hoặc hủy bỏ khi phát hiện ra pháp lệnh hoặc văn bản của người có trách nhiệm ban hành vi hiến hoặc xử lý cá nhân có hành vi vi phạm Hiến pháp. Tuy nhiên, trên thực tế hoạt động này gần như không được thực hiện.
2.2.4. Đánh giá chung Luận văn: Thực trạng Cơ chế bảo vệ hiến pháp bằng pháp luật.
Về cơ bản Hiến pháp 2013 không đưa ra được mô hình bảo hiến với các cơ chế và thiết chế bảo hiến cụ thể. Tuy nhiên, một điểm cần lưu ý trong Hiến pháp 2013 đã quy định ở khoản 2 Điều 119 về vấn đề cơ chế bảo vệ hiến pháp do luật định. Trên thực tế sau khi ban hành Hiến pháp 2013, các luật được ban hành nhằm cụ thể hóa hiến pháp trong việc tổ chức bộ máy nhà nước như: Luật Tổ chức Quốc hội 2014, Luật Tổ chức tòa án nhân dân 2014, Luật Tổ chức Chính phủ 2015, Luật Tổ chức Chính quyền địa phương 2015, không có điều khoản nào để cụ thể hóa khoản 2 Điều 119 Hiến pháp. Việc không luật định cơ chế bảo vệ Hiến pháp trong các văn bản đó có thể dẫn tới việc phải ban hành một đạo luật riêng về thiết lập cơ chế bảo vệ Hiến pháp. Như vậy, vấn đề bảo hiến theo Hiến pháp 2013 vẫn không có nhiều chuyển biến so với các bản hiến pháp trước. Cơ chế bảo hiến phân tán, phi tập trung và kém hiệu quả nhưng đã xuất hiện tiền đề để xuất hiện cơ chế bảo hiến khi thừa nhận nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lập hiến và khi Hiến pháp là của nhân dân thì vấn đề bảo hiến phải được đặt ra. Bên cạnh những hạn chế trong vấn đề bảo hiến Hiến pháp 2013 cũng có những điểm tích cực nhằm phục vụ kiểm soát quyền lực nhà nước trong đó có cơ chế bảo hiến, hạn chế phần nào yếu tố lộng quyền trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp được giao cho ba cơ quan một cách minh định và Quốc hội không phải là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến.Các cơ quan quyền lực phối hợp nhưng có sự kiểm soát.Trong Hiến pháp, vị trí của quyền con người, quyền công dân được đề cao và bảo vệ. Các quyền này chỉ bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do an ninh, quốc phòng, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng. Khi nhận thức về quyền con người và quyền công dân thay đổi theo hướng tích cực thì việc ra đời cơ chế bảo hiến thiết thực và hiệu quả sẽ là tất yếu.
2.3 QUAN ĐIỂM HOÀN THIỆN CƠ CHẾ BẢO VỆ HIẾN PHÁP BẰNG PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM Luận văn: Thực trạng Cơ chế bảo vệ hiến pháp bằng pháp luật.
2.3.1. Quán triệt chủ chương của Đảng về xây dựng và hoàn thiện cơ chế bảo vệ Hiến pháp trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Trước thực trạng đáng lo ngại về vi phạm hiến pháp cũng như cơ chế bảo hiến ở nước ta hiện nay. Điều cần phải tiến hành là xây dựng cơ chế bảo hiến thực sự có hiệu quả và thực chất. Để thực hiện bảo vệ Hiến pháp có hiệu quả cần xác định khác phục được tình trạng phân tán, thiếu hiệu quả, thiếu cơ sở pháp lý và sự thờ ơ của các cá nhân, tổ chức được trao quyền bảo vệ Hiến pháp, khơi dậy trách nhiệm công dân trong hoạt động bảo vệ Hiến pháp. Để đạt được mục tiêu bảo vệ tính tối cao của Hiến pháp không thể chỉ đặt ra cơ chế bảo Hiến một cách hình thức, thiếu cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các chế tài làm cho Hiến pháp chỉ như một đạo luật mang tính biểu tượng thì cần đặt ra vấn đề bảo vệ Hiến pháp phải đi liền với phán quyết Hiến pháp, đảm bảo có chế tài đủ mạnh để bảo vệ Hiến pháp trước mọi sự xâm hại bằng bất hành động hoặc bất hành động.
Thực hiện đúng các chủ chương của Đảng về xây dựng và hoàn thiện cơ chế bảo vệ Hiến pháp trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Xác định sự cấp thiết của hoạt động bảo hiến, trong Nghị quyết số 48 của Bộ chính trị năm 2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt nam đến năm 2020 xác định cơ chế bảo vệ Hiến pháp, định rõ cơ chế, cách thức đảm bảo tính tối cao của Hiến pháp. Tại văn kiện Đại hội X cũng xác định cơ chế bảo vệ Hiến pháp, định rõ cơ chế, cách thức bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp, luật; nghiên cứu xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền. Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì trong đó việc xây dựng và hoàn thiện cơ chế bảo vệ Hiến pháp là một trong những yêu cầu và nhiệm vụ quan trong được Đảng xác định.Chủ trương xuyên suốt được Đảng ưu tiên là nguyên tắc đề cao pháp luật trong mọi tổ chức và hoạt động của cá nhân tổ chức và toàn xã hội. Trong quá trình hoàn thiện cơ chế bảo vệ Hiến pháp, định hướng chỉ đạo của Đảng cần có cả cơ chế kiểm tra và cơ chế giám sát đối với hoạt động và quyết định của cơ quan công quyền. Sự kiểm tra giám sát được thực hiện bởi cả các cơ quan nhà nước và tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội và công dân… Sự cần thiết tiến tới cơ chế tài phán Hiến pháp là một trong những định hướng lớn của Đảng trong cải cách tư pháp. Xây dựng cơ chế phán quyết về những vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp. Như vậy, trái với nhiều quan điểm và cả hoạt động thực tiễn cho thấy sự trì hoãn cải cách cơ chế bảo vệ Hiến pháp. Từ lâu trong các văn kiện của Đảng đã thể hiện rõ chủ chương cần hoàn thiện cơ chế bảo vệ Hiến pháp và là nội dung cơ bản để bảo đảm các đặc trưng của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Nội dung thể chế, phương thức bảo vệ Hiến pháp khi được thể phải được thể hiện đầy đủ và chính xác định hướng chỉ đạo của Đảng. Việc tiếp tục củng cố các điểm hợp lý của cơ chế của cơ chế bảo vệ Hiến pháp hiện hành tiến tới thành lập thiết chế bảo hiến chuyên trách đòi hỏi phải quán triệt quan điểm của Đảng về tổ chức và hoạt động của nhà nước.
2.3.2. Cơ chế bảo vệ Hiến pháp bằng pháp luật phải tuân thủ các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Luận văn: Thực trạng Cơ chế bảo vệ hiến pháp bằng pháp luật.
Cơ chế bảo vệ Hiến pháp phải tuân thủ các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, tổ chức và hoạt động của nó phải tuân thủ những nguyên tắc để nó tồn tại và phát triển theo đúng định hướng, mục tiêu của nhà nước XHCN đồng thời phải đảm bảo đặc trưng của nhà nước pháp quyền. Những nguyên tắc tổ chức và hoạt động của nhà nước pháp quyền XHCN phải được các cơ quan, tổ chức tuân thủ trong tổ chức và hoạt động.Vì thế, cơ chế bảo vệ Hiến pháp cũng phải tuân thủ đủ những nguyên tắc của nhà nước pháp quyền XHCN và đặt các nguyên tắc đó trong một tổng thể quan hệ chặt chẽ với nhau. Nguyên tắc đặc thù của nhà nước pháp quyền XHCN là quyền lực thống nhất có sự phân công phối hợp và kiểm soát giữa các nhánh quyền lực, việc xây dựng và hoàn thiện cơ chế bảo hiến phải tuân thủ nghiêm chỉnh nguyên tắc này. Vì đây là nguyên tắc Hiến định nên việc bảo Hiến cũng nhằm bảo vệ nguyên tắc đó trong việc xây dựng cơ chế bảo vệ Hiến pháp (thể chế, thiết chế và phương thức bảo hiến) nhằm đảm bảo nguyên tắc thống nhất quyền lực có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp mà Hiến pháp ghi nhận. Đồng thời khẳng định vị trí tối cao của Hiến pháp, Đảng đã xác định mọi tổ chức và hoạt động của Đảng cũng phải theo Hiến pháp, các quy định khác của pháp luật.
2.3.3. Cơ chế bảo vệ Hiến pháp bằng pháp luật phải góp phần bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân một cách hữu hiệu
Cơ chế bảo vệ Hiến pháp trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt nam phải góp phần bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân một cách hữu hiệu. Quyền con người và quyền công dân được ghi nhận trong Hiến pháp. Nhà nước có trách nhiệm tạo cơ chế bảo đảm toàn diện về tất cả các mặt để hiện thực hóa các quyền đó.Khi các quyền đó bị xâm phạm thì phải có cơ chế kịp thời và hữu hiệu để bảo vệ. Ở đây, công dân có nghĩa vụ tôn trọng Hiến pháp và nhà nước có trách nhiệm tôn trọng và bảo đảm thực hiện các quyền tự do dân chủ của công dân. Các quy định của pháp luật về bảo vệ Hiến pháp phải thể hiện sự tôn trọng các quyền tự do dân chủ của công dân, loại bỏ kịp thời những văn bản quy phạm pháp luật vi phạm các quyền công dân, quyền con người quy định trong Hiến pháp. Hành vi trì hoãn ban hành các văn bản quy phạm pháp luật cụ thể hóa các quyền của công dân cần phải xử lý nghiêm minh. Các thiết chế bảo vệ hiến pháp phải có đủ thẩm quyền và khả năng giải quyết các vụ việc vi phạm các quyền tự do dân chủ Hiến định của công dân. Các thiết chế bảo hiến độc lập ra đời góp phần bảo vệ quyền con người, quyền công dân một cách triệt để hơn thông qua tài phán những vi phạm Hiến pháp. Phương thức bảo vệ Hiến pháp phải xác định trình tự, thủ tục giải quyết và có cơ chế pháp lý đủ mạnh để phán quyết những vi phạm quyền tự do hiến định của công dân. Cơ chế bảo vệ Hiến pháp trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đòi hỏi sự tác động tương hỗ giữa ba yếu tố thể chế, thiết chế và phương thức vận hành để hướng tới mục tiêu tôn trọng, bảo đảm thực hiện quyền và tự do của con người, của công dân. Luận văn: Thực trạng Cơ chế bảo vệ hiến pháp bằng pháp luật.
2.3.4. Bảo đảm tính đồng bộ, rõ ràng, minh bạch và hiệu lực của cơ chế bảo vệ Hiến pháp, mọi vi phạm Hiến pháp phải được phán quyết và xử lý
Bảo đảm tính đồng bộ, rõ ràng, minh bạch và hiệu lực của cơ chế bảo vệ Hiến pháp, mọi vi phạm Hiến pháp phải được phán quyết và xử lý. Khẳng định những nguyên tắc chỉ đạo hoạt động bảo vệ hiến pháp một cách mạnh mẽ và rõ ràng đồng thời phải bảo đảm tính nhất quán giữa các tắc với nhau và thống nhất giữa những nguyên tắc đó với các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của nhà nước pháp quyền XHCN. Cần có nguyên tắc chỉ đạo rõ ràng, nhất quán thì mới có thể thiết lập các yếu tố của cơ chế bảo vệ hiến pháp phù hợp với nhau và vận hành cơ chế đó một cách hiệu quả. Bảo đảm thể chế bảo vệ Hiến pháp đầy đủ, đồng bộ, khả thi và mang tính hệ thống, cơ chế bảo vệ hiến pháp cần được thể chế hóa thành các quy định pháp luật cụ thể. Những quy định về bảo vệ hiến pháp cần bao quát đầy đủ các nội dung bảo vệ hiến pháp cần thiết theo yêu cầu bảo đảm một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; bảo đảm xác định cơ sở pháp lý rõ ràng và chặt chẽ cho việc tiến hành các hoạt động bảo vệ hiến pháp; khắc phục tình trạng mâu thuẫn, chồng chéo và hình thức của các quy định điều chỉnh hoạt động bảo vệ hiến pháp. Để bảo hiến hiệu quả, các thiết chế bảo hiến cần có đủ sức mạnh về thẩm quyền, có tính độc lập cao. Cần khắc phục tình trạng nhiệm vụ bảo hiến quy định rộng khắp cho nhiều tổ chức, cá nhân trên lý thuyết nhưng trên thực tế lại thiếu hành động hoạt động bảo hiến do sự thờ ơ và không có cơ chế buộc phải thực hiện. Phương thức bảo hiến cần có những hình thức thể hiện thích hợp, có các biện pháp pháp lý cao. Việc phát hiện và xử lý một cách công khai, triệt để, minh bạch mọi vi phạm ở tất cả các hoạt động của các nhánh quyền lực, bảo vệ hữu hiệu các quyền con người, quyền công dân chỉ có thể thực hiện trên thực tế nếu có hệ thống các luật quy định quy trình tố tụng chặt chẽ, cơ quan bảo hiến có quyền ra phán quyết và áp dụng chế tài đủ mạnh.
Việc hoàn thiện, đổi mới, cải cách cơ chế bảo hiến trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa cần tiến hành mạnh mẽ với những đột phá trên nhiều mặt nhưng có sự tập trung và cần đảm bảo không tạo lỗ hổng, gián đoạn về pháp lý pháp lý đối với sự bảo vệ Hiến pháp. Mong muốn xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN là mục tiêu kết hợp những tiến bộ của nhân loại về nhà nước pháp quyền đã có để kết hợp với chủ nghĩa xã hội.Việc tiến hành xây dựng, hoàn thiện cơ chế bảo hiến cần đẩy nhanh và đột phá để khắc phục yếu kém và tính hình thức, không hiệu quả trong bảo hiến hiện tại. Tuy nhiên cũng phải tránh nóng vội, cần chuẩn bị đầy đủ các điều kiện kinh tế, chính trị, nhận thức của xã hội… để tạo các điều kiện vật chất và ủng hộ xã hội cần thiết để thay đổi từ nhận thức và hành động trong nội bộ để tạo đồng thuận. Học tập tiếp thu những bài học kinh nghiệm của các nước trên thế giới để hoàn thiện, chỉnh lý và thay đổi cơ chế bảo hiến theo hướng phù hợp với định hướng phát triển đất nước và các điều kiện kinh tế xã hội. Luận văn: Thực trạng Cơ chế bảo vệ hiến pháp bằng pháp luật.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp cơ chế bảo vệ Hiến pháp bằng pháp luật

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
