Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật về các chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ theo pháp luật Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1 Khái lược lịch sử các quy định về chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ ở Việt Nam
Sau khi nước Việt Nam được khai sinh độc lập, chính quyền non trẻ và nhất trong thời kháng chiến chưa thể xây dựng ngay được hệ thống pháp luật nhưng không thể tồn tại nếu không có luật. Ngày 10/10/1945, Chính phủ lâm thời đã ra Sắc lệnh số Không số về việc tạm thời sử dụng một số luật lệ của chế độ cũ, gồm một số luật lệ về dân sự, thương mại, hình sự và thủ tục tố tụng. Tuy nhiên, những luật lệ này đều được xem xét, chọn lọc để không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và Chính thể dân chủ cộng hòa. Từ năm 1945 trong thời gian dài kháng chiến bảo vệ đất nước đến năm 1975, do điều kiện hoàn cảnh mà lý do lịch sử khác mà chưa có các văn bản đáng kể quy định về chế định hợp đồng nói chung và các chế tài đối với vi phạm hợp đồng nói riêng.
Tiếp đến giai đoạn 1975 – 1986, dưới chế độ tập trung bao cấp và nền kinh tế chỉ quy kế hoạch, các quan hệ giao dịch dân sự trong đời sống xã hội rất hạn chế. Bởi vậy, nhà nước cũng chưa ban hành các quy định đáng kể nào về hợp đồng. Đáng chú ý chỉ có Nghị định 54-CP do Hội đồng Bộ trưởng ban hành ngày 10/3/1975 quy định Điều lệ về chế độ hợp đồng kinh tế và Thông tư số 525/HĐ của Hội đồng trọng tài kinh tế nhà nước ban hành ngày 23/6/1975 hướng dẫn thi hành Nghị định 54-CP. Nghị định 54-CP và Thông tư số 525/HĐ có ghi nhận các quy định về hợp đồng kinh tế, song còn chung chung, mang tính hành chính và chưa rõ ràng. Nghị định 54-CP có đề cập vấn đề phạt hợp đồng và bồi thường thiệt hại (Điều 21) nhưng không nêu rõ cơ sở, nội dung áp dụng mà do sự quyết định của cơ quan trọng tài kinh tế khi xét xử.
Đến giai đoạn kế tiếp bước vào thời kỳ đổi mới đất nước, với việc từ bỏ chế độ tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường, thừa nhận và tạo điều kiện cho thành phần kinh tế tư nhân và đầu tư nước ngoài, các giao dịch dân sự, thương mại mới được ch trọng và xây dựng hành lang pháp lý. Phải kể đến các văn bản đầu tiên quy định về hợp đồng gồm: Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989 và Pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1991. Luận văn: Thực trạng chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
Trong Pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1991, mặc dù chưa có quy định định nghĩa về các chế tài đối vi phạm hợp đồng, trong các Điều từ Điều 43 đến Điều 55 khi quy định về trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng, Pháp lệnh cũng đã có quy định năm chế tài gồm: (1) buộc thực hiện đúng hợp đồng; (2) đình chỉ hợp đồng; (3) hủy bỏ hợp đồng; (4) yêu cầu bồi thường thiệt hại; (5) phạt vi phạm hợp đồng. Điều chỉnh về quan hệ hợp đồng kinh tế, Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989 lại chỉ quy định có hai chế tài được áp dụng là phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại. Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989 quy định khung phạt vi phạm là từ 2% đến 12%, mức tiền phạt chi tiết theo loại vi phạm đối với từng loại hợp đồng kinh tế thực hiện theo quy định của Hội đồng Bộ trưởng. Với các chế tài mà Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989 đưa ra, tác giả nhận định: (1) quá hạn hẹp và không đủ để giải quyết thấu tình đạt lý các vi phạm hợp đồng, nhất là lĩnh vực kinh tế rất phức tạp; (2) quá đề cao chế tài vi phạm, coi chế tài vi phạm là sức ép để buộc các bên phải nghiêm túc và nghiêm chỉnh thực hiện hợp đồng như một quan hệ hành chính bị can thiệp quá sâu bởi Nhà nước. So với Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989, Pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1991 đã thể hiện sự tiến bộ hơn khi đưa nhiều loại chế tài để áp dụng hợp lý và linh hoạt khi xử lý vi phạm hợp đồng.
Năm 1995, một sự kiện mang tính bước ngoặt trong lịch sử pháp luật dân sự Việt Nam là việc BLDS đầu tiên của Việt Nam được ban hành. BLDS 1995 đã điều chỉnh cơ bản đầy đủ và toàn diện các vấn đề trong quan hệ dân sự, đặc biệt là chế định hợp đồng nói chung và chế tài đối với vi phạm hợp đồng nói riêng. Có thể tìm thấy các quy định về chế tài đối với vi phạm hợp đồng trong phần quy định về trách nhiệm dân sự, thực hiện hợp đồng, sửa đổi, chấm dứt hợp đồng dân sự và trong các quy định về các hợp đồng thông dụng. Cũng lần đầu tiên trong pháp luật Việt Nam, nhà làm luật đã đưa ra được một loạt các chế tài cần thiết, khả thi và hợp lý mà pháp luật hiện hành vẫn đang kế thừa. Các chế tài đối với vi phạm hợp đồng trong BLDS 1995 gồm: (1) chế tài phạt vi phạm hợp đồng; (2) chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại; (3) chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng; (4) chế tài đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng; (5) chế tài hủy bỏ hợp đồng. Đặc biệt cần chú ý, BLDS 1995 đã quy định sử dụng nguyên tắc lỗi tại Điều 309 khi xác định trách nhiệm dân sự nói chung và áp dụng các chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ nói riêng. Theo đó, bên vi phạm hợp đồng song vụ phải chịu trách nhiệm dân sự khi có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. BLDS 1995 còn quy định định nghĩa lỗi cố ý gây thiệt hại và lỗi vô ý gây thiệt hại. BLDS 1995 quy định rõ việc chứng minh không có lỗi thuộc nghĩa vụ của người vi phạm nghĩa vụ dân sự. Dựa vào nguyên tắc lỗi, nhà làm luật còn đưa ra các trường hợp miễn trách nhiệm khi vi phạm hợp đồng gồm; (1) do sự kiện bất khả kháng, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác (theo khoản 2 Điều 308); và (2) hoàn toàn do lỗi của người có quyền. Đánh giá riêng vấn đề quy định về các chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ, lần đầu tiên trong lịch sử pháp luật Việt Nam, BLDS 1995 đã quy định tương đối rõ nét về các chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ, đưa ra được quy định khá rõ về 05 chế tài, nguyên tắc lỗi và các trường hợp miễn trách nhiệm. BLDS 1995 tạo cơ sở tiền đề cho việc kế thừa, phát triển và hoàn thiện các quy định pháp luật Việt Nam về các chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
Đến năm 1997, LTM đầu tiên của Việt Nam được ban hành. So với BLDS 1995 quy định về các chế tài đ với vi phạm hợp đồng còn rải rác ở nhiều chương phần nội dung khác nhau, LTM 1997 đã có nhiều quy định về các chế tài đổi với vi phạm hợp đồng tập trung thành một mục riêng (Mục 1 thuộc Chương IV) từ Điều 222 đến Điều 237. Ngoài ra, LTM 1997 còn đề cập về chế tài trong một số điều khoản liên quan khác. Theo Điều 222 của LTM 1997, nhà làm luật quy định chỉ có bốn chế tài được áp dụng đối với vi phạm hợp đồng song vụ gồm: (1) buộc thực hiện đúng hợp đồng; (2) phạt vi phạm; (3) bồi thường thiệt hại; và (4) hủy hợp đồng. So với BLDS 1995, LTM 1997 quy định có ít hơn một chế tài được áp dụng đối với vi phạm hợp đồng, cụ thể là chế tài đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng. Mặc dù quy định có sự tập trung hơn so với BLDS 1995, tuy nhiên các quy định của LTM 1997 về các chế tài đ với vi phạm hợp đồng còn ở mức sơ sài và chưa rõ ràng, có nhiều điểm mâu thuẫn với BLDS 1995. Sự bất cập của LTM 1997 thể hiện rõ khi chưa đáp ứng được nhu cầu điều chỉnh quan hệ thương mại ngày càng phức tạp trong tiến trình đẩy mạnh xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng x hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
Khắc phục các hạn chế của BLDS 1995 sau mười năm áp dụng, cũng như đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế và khu vực, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thống nhất và minh bạch hóa hành lang pháp lý, Quốc hội đã ban hành BLDS 2005 để thay thế BLDS 1995, cũng như ban hành LTM 2005 – luật chuyên ngành điều chỉnh riêng về quan hệ thương mại. BLDS 2005 dưới góc độ là luật chung, nền tảng cho pháp luật tư, tiếp tục đưa ra các quy định chung về quan hệ dân sự theo nghĩa rộng, kế thừa các quy định tiến bộ của BLDS 1995. Về các chế tài đối với vi phạm hợp đồng, BLDS 2005 có kế thừa và quy định rõ hơn về 05 chế tài, nguyên tắc lỗi và các trường hợp miễn trách nhiệm đối với vi phạm hợp đồng đã quy định tại BLDS 1995. Ngoài ra, BLDS 2005 còn bổ sung chế tài “hoãn thực hiện nghĩa vụ” tại khoản 2 Điều 415 như sau “Bên phải thực hiện nghĩa vụ sau có quyền hoãn thực hiện nghĩa vụ đến hạn nếu bên thực hiện nghĩa vụ trước chưa thực hiện nghĩa vụ của mình khi đến hạn”. Chế tài mới này của BLDS 2005 có thể hiểu thuộc dạng chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng khi bên có nghĩa vụ vi phạm hợp đồng do chưa thực hiện nghĩa vụ khi đến hạn (tức đã vi phạm hợp đồng). Được đánh giá tiến bộ hơn BLDS 2005, LTM 2005 đã có một chương riêng quy định về các chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ trong thương mại. Theo đó, Luật LTM quy định liệt kê rõ bảy chế tài được áp dụng, các trường hợp miễn trách nhiệm, cơ sở, nội dung và hậu quả pháp lý khi áp dụng mỗi chế tài (đã được nêu tại 1.1.2 của Luận văn này).
Ngày 24/11/2015, Quốc hội đã ban hành BLDS 2015, có hiệu lực thay thế BLDS 2005 từ ngày 01/01/2017. BLDS 2015 kế thừa và khắc phục các hạn chế của BLDS 2005 còn tồn tại, đáp ứng nhu cầu và sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội, hội nhập quốc tế và khu vực sâu rộng hiện nay. Các quy định về các chế tài đối với vi phạm hợp đồng nói chung và hợp đồng song vụ nói riêng ở BLDS 2015 kế thừa BLDS 2005, có nhiều sự điều chỉnh hoàn thiện hơn. Các điểm mới của BLDS 2015 được làm rõ trong mục 2.2 tiếp theo của Luận văn này.
2.2 Các chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ theo pháp luật Việt Nam hiện hành Luận văn: Thực trạng chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
Tại mục này, các vấn đề được trình bày bao gồm: (1) các chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ; (2) mối quan hệ giữa các chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ; và (3) các trường hợp miễn trách nhiệm đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
2.2.1 Các chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ
- Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng
Buộc thực hiện đúng hợp đồng được đề cập đầu tiên bởi việc hợp đồng được thực hiện là mong muốn, mục tiêu của các bên khi ký kết hợp đồng, nhằm đạt được một kết quả nhất định, trừ trường hợp vi phạm hợp đồng làm cho hợp đồng trở lên “vô nghĩa” hoặc không thể thực hiện được. Dưới góc độ mục đích áp dụng, buộc thực hiện đúng hợp đồng, hay gọi cách khác là yêu cầu thực hiện đúng hợp đồng, là việc bên có quyền yêu cầu bên vi phạm hợp đồng phải thực hiện đúng nội dung nghĩa vụ của hợp đồng. Nhiều học giả nhận định hợp đồng được lập ra không phải để đình chỉ hay hủy, mà cần được thực hiện để đạt được mục đích giao kết hợp đồng. Tác giả đồng tình với quan điểm này, bởi việc buộc thực hiện hợp đồng cần được ưu tiên áp dụng trước khi áp dụng các chế tài khác; chỉ áp dụng các chế tài khác khi bên vị phạm vẫn tiếp tục vi phạm hợp đồng hoặc hợp đồng không thể thực hiện được vì lý do pháp luật hoặc thực tế.
Dưới góc độ luật so sánh, buộc thực hiện đúng hợp đồng là một trong các chế tài điển hình được thừa nhận và áp dụng ở hầu hết các quốc gia theo các hệ thống pháp luật khác nhau. Luận văn: Thực trạng chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
Các nước theo hệ thống pháp luật Civil Law có quy định áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng. Theo quy định tại Điều 1146 của BLDS Pháp, nếu hợp đồng bị vi phạm do một bên không thực hiện nghĩa vụ của hợp đồng, bên bị vi phạm có thể yêu cầu bên vi phạm phải thực hiện nghĩa vụ; nếu đã được yêu cầu thực hiện nghĩa vụ mà bên vi phạm không thực hiện thì bên có quyền có thể áp dụng chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp nghĩa vụ chuyển giao vật hoặc thực hiện một công việc chỉ có thể thực hiện trong một thời hạn nhất định nhưng thời hạn đó đã hết (tức có thể hiểu là nghĩa vụ không thể thực hiện được nữa hoặc việc thực hiện nghĩa vụ không còn đem lại ý nghĩa cho bên có quyền). Có thể thấy sự ưu tiên áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng trước chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại trong Điều 1146 của BLDS Pháp. Có điểm tương đồng với BLDS Pháp, theo quy định tại Điều 280 và 281 BLDS Đức: (1) yêu cầu bồi thường thiệt hại được áp dụng khi việc áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng không thể đạt được kết quả/mục đích giao kết hợp đồng hoặc trong trường hợp bên có nghĩa vụ đã thực hiện một phần nghĩa vụ nhưng việc thực hiện phần nghĩa vụ còn lại không đem lại lợi ích cho bên có quyền; (2) Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng không được áp dụng nếu bên có nghĩa vụ thể hiện chắc chắn và rõ ràng sẽ từ chối thực hiện nghĩa vụ của hợp đồng hoặc trong thường hợp đặc biệt sau khi xem xét lợi ích của hai bên thì việc yêu cầu bồi thường thiệt hại sẽ đảm bảo lợi ích cho cả hai bên.
Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng cũng được ghi nhận và áp dụng ở Anh và Hoa Kỳ – các nước theo hệ thống pháp luật Common Law. Ở Hoa Kỳ, chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng được gọi là “Specific Performance”, được hiểu là chế tài mà bên bị vi phạm yêu cầu tòa án buộc bên có nghĩa vụ phải thực hiện đúng nghĩa vụ của hợp đồng. Chế tài “Specific Performance” thường được áp dụng đối với giao dịch có đối tượng là vật đặc định (Unique thing), bất động sản hoặc công việc nghệ thuật cụ thể chỉ những người nhất định mới làm được; theo đó khi áp dụng chế tài khác như bồi thường thiệt hại sẽ không đảm bảo cho một sự đền bù đầy đủ (inadequate compensation). Theo luật án lệ của Anh, chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng (Specific Performance) được tòa án áp dụng nếu việc bồi thường thiệt hại không thể đảm bảo cho một sự đề bù thỏa đáng (where damages are an inadequate remedy). Có thể thấy trong pháp luật Anh và Hoa Kỳ, tòa án cũng có sự ưu tiên áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng đối với một số trường hợp cần đảm bảo cho hợp đồng được thực hiện để bảo đảm lợi ích của bên có quyền, đồng thời, việc áp dụng chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại sẽ không thỏa đáng.
Trong Công ước viên 1980, chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng quy định khá rõ đối với cả bên mua và bên bán. Theo quy định tại Điều 46, nếu hàng hóa không phù hợp với hợp đồng thì người mua có thể đòi người bán phải giao hàng thay thế nếu sự không phù hợp đó tạo thành một sự vi phạm cơ bản hợp đồng và yêu cầu về việc thay thế hàng phải được đặt ra cùng một lúc với việc thông báo vi phạm hoặc trong một thời hạn hợp lý sau đó; nếu hàng hóa không phù hợp với hợp đồng, người mua có quyền đòi người bán phải loại trừ sự không phù hợp ấy, trừ những trường hợp khi điều này không hợp lý xét theo tất cả các tình tiết. Trong quy định này, nếu bên bán giao hàng không phù hợp với hợp đồng thì bên mua có quyền áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng qua việc yêu cầu phải giao hàng thay thế nếu sự không phù hợp đó tạo thành một sự vi phạm cơ bản hợp đồng hoặc loại trừ sự không phù hợp nếu hàng hóa không phù hợp với hợp đồng.
- Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng theo quy định trong BLDS 2005 và LTM 2005
Theo nội dung các quy định về nguyên tắc cơ bản và quy định điều chỉnh cụ thể của BLDS 2005, có thể thấy sự tồn tại của nguyên tắc về việc áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng trong bốn điểm sau đây:
Thứ nhất, “chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng chỉ là hệ quả áp dụng nguyên tắc nêu tại Điều 4 của Bộ luật dân sự” [07, tr146]. BLDS 2005 trao cho mỗi chủ thể có quyền “tự do cam kết, thỏa thuận” và bảo đảm “cam kết, thỏa thuận hợp pháp có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các bên”. Do hợp đồng có “hiệu lực bắt buộc” nên bên có nghĩa vụ phải có trách nhiệm thực hiện đúng nghĩa vụ. Đồng thời, bên có quyền được yêu cầu buộc bên có nghĩa vụ thực hiện đúng nghĩa vụ của hợp đồng trong quá trình thực hiện hợp đồng cũng như khi hợp đồng bị vi phạm, trừ các trường hợp ngoại lệ không thể hoặc không cần áp dụng.
Thứ hai, việc áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng sẽ giúp việc giao kết hợp đồng đạt được mục đích theo quy định tại Điều 123 BLDS. Luận văn: Thực trạng chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
Thứ ba, bên có quyền được áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng khi bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ giao vật đặc định theo quy định tại Điều 303 BLDS 2005 hoặc không thực hiện một công việc mà mình phải thực hiện theo quy định tại Điều 304 BLDS 2005.
Theo quy định khoản 2 Điều 179 BLDS 2005, vật đặc định là vật phân biệt được với các vật khác bằng những đặc điểm riêng về ký hiệu, hình dáng, màu sắc, chất liệu, đặc tính, vị trí; khi thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật đặc định thì phải giao đúng vật đó. Tại khoản 1 Điều 303 BLDS 2005 quy định “Khi bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ giao vật đặc định thì người có quyền được quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải giao đúng vật đó; nếu vật không còn hoặc bị hư hỏng thì phải thanh toán giá trị của vật”. Theo quy định này, nếu hợp đồng có đối tượng là vật đặc định thì khi nghĩa vụ bàn giao bị vi phạm, bên có quyền có thể áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, tức buộc bên có nghĩa vụ phải giao vật đặc định. Điều khoản này cũng nêu ra trường hợp ngoại lệ không áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng là “nếu vật không còn hoặc bị hư hỏng”, tức khi nghĩa vụ không thể thực hiện được nghĩa vụ giao vật hoặc việc thực hiện nghĩa vụ không đem lại lợi ích cho bên có quyền.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 304, trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện một công việc mà mình phải thực hiện theo quy định của hợp đồng thì bên có quyền có thể lựa chọn áp dụng chế tài buộc bên có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện. Nếu không áp dụng chế tài này, bên có quyền có thể dùng cách khác là “tự mình thực hiện hoặc giao cho người khác thực hiện công việc đó và yêu cầu bên có nghĩa vụ thanh toán chi phí hợp lý và bồi thường thiệt hại”, tức làm phát sinh nghĩa vụ bồi hoàn và nghĩa vụ bồi thường thiệt hại nếu có thiệt hại xảy ra. Trong trường hợp bên có nghĩa vụ không được thực hiện một công việc mà lại thực hiện công việc đó thì bên có quyền được quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải chấm dứt việc thực hiện, khôi phục tình trạng ban đầu và bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều 304 BLDS 2005.
Như vậy, theo quy định tại Điều 303 và 304 BLDS 2005, bên bị vi phạm có thể áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng trong 03 trường hợp sau: vi phạm nghĩa vụ giao vật đặc định; (2) vi phạm nghĩa vụ phải thực hiện công; (3) vi phạm nghĩa vụ không được thực hiện công việc. Đối với vi phạm nghĩa vụ giao vật cùng loại, nhà làm luật lại đưa ra giải pháp khác bằng việc quy định bên vi phạm có trách nhiệm thanh toán giá trị của vật và bên có quyền có quyền yêu cầu bên vi phạm thanh toán.
Tác giả đánh giá giải pháp xử lý vi phạm của nhà làm luật đưa ra có tính hợp lý và khả thi. Cụ thể, với hợp đồng có đối tượng là vật đặc định thì bên có quyền chỉ đạt được lợi ích và mong muốn khi xác lập hợp đồng là được nhận vật đặc định từ bên có nghĩa vụ; với hợp đồng có đối tượng là công việc phải thực hiện hoặc công việc không được thực hiện thì bên có quyền chỉ được thỏa mãn nhu cầu khi bên có nghĩa vụ thực hiện đúng nghĩa vụ. Nếu các trường hợp nghĩa vụ đã nêu không được thực hiện thì sẽ “hủy hoại” mục đích giao kết hợp đồng, tức làm cho hợp đồng trở lên vô nghĩa và không bảo đảm lợi ích của bên có quyền.
Thứ tư, chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng còn được ghi nhận trong quy định riêng về hợp đồng mua bán, hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng dịch vụ trong BLDS 2005. Luận văn: Thực trạng chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
Đối với LTM 2005, trong bảy chế tài được liệt kê trong Điều 292, chế tài đầu tiên là buộc thực hiện đúng hợp đồng. Nếu xét về thứ tự sắp xếp, có thể thấy chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng được đưa lên đầu đã phản ánh tầm quan trọng và tính ưu tiên khi áp dụng các chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng. Trong khi BLDS 2005 không có quy định định nghĩa về chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, ở LTM 2005 đã có quy định khá chi tiết về định nghĩa, nội dung áp dụng tại Điều 297 LTM 2005. Theo đó, buộc thực hiện đúng hợp đồng là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm (1) thực hiện đúng hợp đồng hoặc (2) dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện và bên vi phạm phải chịu chi phí phát sinh. Theo định nghĩa này thì khi có vi phạm hợp đồng xảy ra, tùy vào trường hợp cụ thể mà bên có quyền có thể buộc bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng theo một trong hai phương án sau:
- Phương án 01: buộc bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng, tức thực hiện đúng và đủ các nghĩa vụ được quy định trong hợp đồng để đạt kết quả theo quy định trong hợp đồng, là mục đích giao kết hợp đồng.
- Phương án 02: nếu bên vi phạm không thể thực hiện đúng hợp đồng thì phải thực hiện các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện. Điều này có thể hiểu nhà làm luật buộc bên vi phạm phải có trách nhiệm bằng năng lực trí tuệ và tài chính để tìm ra giải pháp để đạt được mục đích giao kết hợp đồng. Ví dụ: Bên bán có nghĩa vụ giao hàng cho bên mua theo hợp đồng mua bán xi măng, trong hợp đồng thỏa thuận việc bên bán phải vận chuyển bằng đường bộ giao hàng tận kho của bên mua; nhưng vì lý do không bố trí được phương tiện vận tải đường bộ, bên bán không giao hàng kịp khi đến hạn. Bên mua đã ra thông báo yêu cầu bên bán thực hiện đúng hợp đồng và gia hạn cho 10 ngày để thực hiện nghĩa vụ giao hàng. Bên mua với trách nhiệm thực hiện hợp đồng, đã cân nhắc tìm ra phương án vận chuyển bằng đường thủy nội địa tới kho của bên mua vì kho của bên mua cũng gần sông và bên bán có thể thuê ngay được phà chuyên trở trên sông. Bên mua tự phải chi trả chi phí phát sinh do việc chuyển phương tiện vận chuyển để giao đúng hạn đã được gia hạn.
Tại khoản 2 Điều 297 LTM 2005, nhà làm luật có quy định 02 trường hợp vi phạm cụ thể và trách nhiệm của bên vi phạm khi bị bên có quyền buộc thực hiện đúng hợp đồng, cụ thể gồm:
- Trường hợp một: bên vi phạm giao thiếu hàng hoặc cung ứng dịch vụ không đúng hợp đồng. Đối với trường hợp này, bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên vi phạm phải giao đủ hàng hoặc cung ứng dịch vụ theo đúng thoả thuận trong hợp đồng.
- Trường hợp hai: bên vi phạm giao hàng hoá, cung ứng dịch vụ kém chất lượng. Đối với trường hợp này, bên vị vi phạm có quyền yêu cầu bên vi phạm phải loại trừ khuyết tật của hàng hoá, thiếu sót của dịch vụ hoặc giao hàng khác thay thế, cung ứng dịch vụ theo đúng hợp đồng. Luận văn: Thực trạng chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
Nhận thấy, trường hợp một nêu trên được đề cập dưới góc độ định lượng (thiếu hay đủ), trường hợp hai được đề cập dưới góc độ định tính (kém chất lượng hay đủ chất lượng). Nếu đánh giá về định lượng, dựa vào các số liệu, chỉ tiêu được ghi nhận trong hợp đồng, bên có quyền cơ bản có thể xác định và chứng minh. Nhưng ngược lại, ở tiêu chí định tính, việc đánh giá là khá khó khăn bởi để đánh giá chính xác được là kém chất lượng hay đủ chất lượng rất khó thực hiện, đặc biệt đối tượng của hợp đồng là thực hiện công việc trong hợp đồng dịch vụ hoặc các chỉ tiêu đánh giá hoàn thành nghĩa vụ phải được giám định hoặc kết luận của cơ quan có thẩm quyền. Ví dụ: tỷ lệ tạp chất trong gạo, thành phần của sữa,…. Cũng cần nhấn mạnh, nhà làm luật cũng chỉ mới đưa ra hai trường hợp điểm hình, còn những trường hợp khác, đơn cử “vi phạm hay không thực hiện đúng hợp đồng khác về hàng hóa như hàng hóa không được đóng gói theo hợp đồng, thì luật lại chưa quy định” [07, tr142-143]. Khi có những vi phạm này, buộc bên bị vi phạm, các luật sư, thẩm phán cần bám sát vào quy định định nghĩa tại khoản 1 Điều 297 LTM 2005.
Tác giả cho rằng, việc đưa ra một số trường hợp vi phạm tại khoản 2 Điều 297 LTM 2005 còn rất trừu tượng và không đảm bảo tính khái quát. Để xác định chính xác có vi phạm hay không, cần căn cứ vào quy định cụ thể trong hợp đồng hoặc các quy định của pháp luật nếu hợp đồng không quy định rõ.
Do hợp đồng được xác lập với nghĩa vụ cụ thể nhằm đạt được mục đích nhất định, vì vậy, bên vi phạm không được tự ý đơn phương thay thế nghĩa vụ của hợp đồng bằng một nghĩa vụ khác mà không được sự đồng ý của bên có quyền. Điều này là hợp lý và tất yếu với thỏa thuận hợp pháp và mục đích giao kết hợp đồng cần được các bên tôn trọng thực hiện và pháp luật bảo vệ. Về vấn đề này, theo quy định tại khoản 2 Điều 297 LTM 2005, bên vi phạm không được dùng tiền hoặc hàng khác chủng loại, loại dịch vụ khác để thay thế nếu không được sự chấp thuận của bên bị vi phạm. Ngoài ra, cũng cần phải có giải pháp nếu bên bị vi phạm yêu cầu mà bên vi phạm không chịu thực hiện đúng hợp đồng.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 297 LTM 2005, nhà làm luật đưa ra giải pháp “Trong trường hợp bên vi phạm không thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều này thì bên bị vi phạm có quyền mua hàng, nhận cung ứng dịch vụ của người khác để thay thế theo đúng loại hàng hoá, dịch vụ ghi trong hợp đồng và bên vi phạm phải trả khoản tiền chênh lệch và các chi phí liên quan nếu có; có quyền tự sửa chữa khuyết tật của hàng hoá, thiếu sót của dịch vụ và bên vi phạm phải trả các chi phí thực tế hợp lý”.
Bản chất của giải pháp trên là việc bên bị vi phạm tự bố trí thực hiện hợp đồng và phát sinh nghĩa vụ hoàn trả chi phí phát sinh thực thế. Giải pháp này mang tính thực tế cao và bảo đảm quyền lợi cho bên bị vi phạm, đặc biệt khi bên vi phạm cần có kết quả của hợp đồng để làm cơ sở thực hiện nghĩa vụ cho một hay nhiều hợp đồng khác mà mình là bên có nghĩa vụ. Tuy nhiên, nếu theo giải pháp này, bên bị vi phạm phải chịu gánh nặng chứng minh chi phí phát sinh thực tế. Việc chứng minh chi phí này không dễ dàng, nhất là khi bên vi phạm thiếu thiện chí, năng lực tài chính kém hoặc các khoản chi phát sinh “nhạy cảm” không chứng minh được bằng giấy tờ. Luận văn: Thực trạng chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
Để có thời gian thực hiện nghĩa vụ, bên bị vi phạm cần gia hạn một khoản thời gian hợp lý để bên vi phạm bố trí và thực hiện các nghĩa vụ bị vi phạm. Việc gia hạn này được LTM quy định tại Điều 298. Khi bên vi phạm đã thực hiện nghĩa vụ được yêu cầu trong thời hạn được gia hạn, bên bị vi phạm “phải nhận hàng, nhận dịch vụ và thanh toán tiền hàng, thù lao dịch vụ” theo quy định tại khoản 4 Điều 297 LTM 2005. Đối với hợp đồng mua bán hàng hóa, nếu bên vi phạm là bên mua thì bên bán có quyền yêu cầu bên mua trả tiền, nhận hàng hoặc thực hiện các nghĩa vụ khác của bên mua được quy định trong hợp đồng và trong LTM (khoản 5 Điều 297 LTM 2005).
Qua đánh giá dưới góc độ luật so sánh, phân tích quy định tại BLDS 2005 và LTM 2005, cần xác định rõ và đảm bảo các yêu cầu sau đây khi áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng:
- Căn cứ áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng
Để yêu cầu áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, bên bị vi phạm cần đưa ra các căn cứ cần và đủ để áp dụng chế tài này gồm:
- Có hành vi vi phạm: không thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ của hợp đồng song vụ.
- Đối tượng của nghĩa vụ: (1) vật đặc định, (2) thực hiện công việc, (3) không thực hiện công việc (thường chỉ có trong hợp đồng dân sự).
- Nghĩa vụ của hợp đồng có thể thực hiện được theo thực tế hoặc theo quy định của pháp luật. Tức việc buộc thực hiện đúng hợp đồng phải đảm bảo tính khả thi. Căn cứ vào điều kiện thực tế và quy định của pháp luật, bên vi phạm bằng sự thiện chí và trách nhiệm hoàn toàn có thể thực hiện nghĩa vụ bị vi phạm được yêu cầu thực hiện. Nếu nghĩa vụ không thể thực hiện được do lý do thực tế hoặc thay đổi pháp luật, bên bị vi phạm cần và phải áp dụng các chế tài khác để bảo vệ quyền và lợi ích của mình.
- Việc áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng sẽ đảm bảo có lợi nhất cho bên bị vi phạm. Tức bên bị vi phạm cần tính toán các chi phí cơ hội dưới góc độ kinh tế để áp dụng chế tài này mà không áp dụng chế tài khác được quyền áp dụng theo quy định của hợp đồng và pháp luật hiện hành như đình chỉ (đơn phương chấm dứt) hợp đồng, hủy bỏ hợp đồng. Đặc biệt, trong một số hợp đồng thương mại, các bên thường thỏa thuận “không hủy ngang”, tức không được hủy bỏ hay đình chỉ hợp đồng bởi tính chất và nội dung đặc trưng hợp đồng hủy ngang gây thiệt hại lớn, chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng sẽ là giải pháp số một để đảm bảo quyền lợi của bên bị vi phạm.
- Trường hợp việc thực hiện hợp đồng bị cản trở bởi bên thứ ba
Theo quy định tại Điều 4 của BLDS 2005, hợp đồng song vụ có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các bên và phải được cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác tôn trọng. Nếu việc thực hiện hợp đồng song vụ hoặc áp dụng chế tài thực hiện hợp đồng song vụ bị bên thứ ba cản trở, nếu thu thập và đưa ra các căn cứ chứng minh cần và đủ, các bên của hợp đồng hoàn toàn có thể yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền can thiệp giải quyết để loại trừ sự cản trở của bên thứ ba.
2.2.2 Các điểm mới về chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng theo quy định trong BLDS 2015 Luận văn: Thực trạng chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
BLDS 2015 có kế thừa cách tiếp cận và các quy định về chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng của BLDS 2005, tuy nhiên có những điểm mới hợp lý được sửa đổi bổ sung. Các điểm mới về chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng được quy định trong BLDS 2015 như sau:
BLDS 2015 chính thức dành một điều khoản riêng quy định về quyền áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng tại Điều 352. Theo quy định này, khi bên có nghĩa vụ của hợp đồng vi phạm nghĩa vụ thì bên có quyền được yêu cầu bên có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của hợp đồng. Việc bổ sung ghi nhận chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng ở phần chung về trách nhiệm dân sự có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo ra nguyên tắc áp dụng chung để áp dụng cho các nội dung của chế tài trong phần quy định chung về hợp đồng, các hợp đồng thông dụng cũng như các hợp đồng không thông dụng chưa được thể hiện trong BLDS.
Đối với trường hợp nghĩa vụ giao vật cùng loại không được thực hiện, BLDS 2005 quy định bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên vi phạm phải thanh toán giá trị của vật. Giải pháp bất hợp lý “làm triệt tiêu mục đích giao kết hợp đồng” này của BLDS 2005 đã được BLDS 2015 khắc phục bằng quy định việc thanh toán giá trị của vật chỉ được thực hiện khi bên vi phạm hợp đồng có chủ ý không hoặc không thể giao vật cùng loại khác sau khi bên bị vi phạm yêu cầu giao vật cùng loại khác (theo khoản 2 Điều 356 BLDS 2015).
- Chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại
Việc vi phạm hợp đồng có thể làm phát sinh trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại, theo đó bên bị vi phạm có thể yêu cầu áp dụng chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với bên vi phạm. Bên vi phạm có trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi bên bị vi phạm đưa ra được các căn cứ cần và đủ để áp dụng chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại. Chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại được áp dụng sẽ khôi phục lại tình trạng ban đầu như trước khi bị vi phạm hoặc bù đắp t thất, các lợi ích bị mất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra. Chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại được xem có tính phức tạp cao nhất trong các loại chế tài đối với vi phạm hợp đồng. Ở góc độ chung nhất, tác giả đưa ra nội dung mục đích áp dụng chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại gồm:
- Tạo cơ chế ràng buộc trách nhiệm để bảo vệ các lợi ích vật chất phát sinh từ việc thực hiện hợp đồng
- Răn đe, ngăn ngừa các hành vi vi phạm hợp đồng làm phát sinh thiệt hại, gây tổn hại tới lợi ích vật chất của bên có quyền
- Bù đắp các tổn thất mà bên bị vi phạm phải gánh chịu hoặc các lợi ích vật chất bị mất mà bên bị vi phạm đáng lẽ phải được hưởng. Luận văn: Thực trạng chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
- Do sự ràng buộc trách nhiệm nên đã góp phần tạo ra sự an tâm, khích lệ các bên thiện trí tham gia các giao dịch để thỏa mãn các nhu cầu về vật chất cũng như tinh thần ngày càng phong phú trong đời sống xã hội
Trong pháp luật hầu hết các quốc gia trên thế giới theo các hệ thống pháp luật khác nhau, chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại thường được dành nhiều quy định cụ thể nhất. Mặc dù đều thừa nhận và coi trọng chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại nhưng tồn lại một số điểm khác biệt về quan điểm áp dụng, căn cứ và nội dung áp dụng.
Theo hệ thống pháp luật Civil Law, BLDS Pháp có nhiều quy định cụ thể về chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại, tập trung ở các Điều luật từ Điều 1146 đến Điều 1155 thuộc Mục IV, chương III, thiên II của Bộ luật. Theo Điều 1146, chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại chỉ được áp dụng khi áp dụng chế tài yêu cầu buộc thực hiện đúng hợp đồng nhưng bên vi phạm vẫn không thực hiện nghĩa vụ; tuy nhiên có ngoại lệ khi nghĩa vụ cần thực hiện chỉ có thể thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định nhưng thời gian đó đã qua, tức nghĩa vụ không thể thực hiện được nữa. Phạm vi bồi thường được quy định tại Điều 1149 của Bộ luật này gồm: (1) thiệt hại thực tế; (2) phần lợi nhuận lẽ ra người có quyền được hưởng, tức phần lợi nhuận chính đáng và hợp pháp bị mất đi do không được hưởng quyền. Phạm vi bồi thường có thể khác trong một số trường hợp ngoại lệ gồm: (1) nếu có thỏa thuận bồi thường được ấn định trước thì bên có nghĩa vụ phải trả đúng khoản bồi thường bị ấn định khi có vi phạm và bên có quyền không cần phải chứng minh thiệt hại (Điều 1152 và Điều 1153); (2) Tòa án ra quyết định tăng giảm phạm vi bồi thường nếu phạm vi bồi thường theo thỏa thuận trong hợp đồng bị xem xét vô lý, tức quá cao hoặc quá thấp (Điều 1152, theo Luật số 85-1097 ngày 11/10/1975). Với một số điều khoản được nêu, BLDS Pháp đã tạo ra các nguyên tắc chung khi áp dụng chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại, làm cơ sở để tòa án vận dụng linh hoạt và sáng tạo căn cứ vào tình hình thức tế.
Trong pháp luật Hoa Kỳ, cả trong luật thực định cũng như trong thực tiễn xét xử, chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại được xem có vai trò quan trọng nhất. “Đây là chế tài chủ yếu ở Hoa Kỳ đối với hành vi vi phạm hợp đồng” [03]. Mục đích áp dụng chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại ở Hoa Kỳ là việc đặt bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm vào vị thế như là hợp đồng đã được thực hiện đúng và đầy đủ, chứ không chỉ khôi phục lại tình trạng như là trước khi giao kết hợp đồng.
Có điểm tương đồng với BLDS Pháp, Công ước viên 1980 có các quy định mang tính nguyên tắc chung gồm: (1) nguyên tắc về phạm vi thiệt hại (gồm thiệt hại thực tế và thiệt hại bị bỏ lỡ do bị vi phạm) được quy định tại Điều 74; (2) nguyên tắc nghĩa vụ hạn chế thiệt hại của bên bị vi phạm được quy định tại Điều 77. Theo nguyên tắc nghĩa vụ hạn chế thiệt hại, bên bị vi phạm hợp đồng phải thực hiện các biện pháp hợp lý và cần thiết để ngăn chặn hoặc hạn chế thiệt hại. Nguyên tắc này được đánh giá góp phần đảm bảo sự công bằng, tránh việc lạm dụng hoặc thiếu trách nhiệm của bên bị vi phạm.
2.2.3 Chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định trong BLDS 2005 và LTM 2005
Được đánh giá cao về mục đích, vai trò và ý nghĩa áp dụng, chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại là chế tài được BLDS 2005 và LTM 2005 dành nhiều điều khoản quy định cụ thể nhất. Tuy nhiên, hiện nội dung quy định về chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại trong BLDS 2005 và LTM 2005 còn tồn tại nhiều điểm chưa thống nhất, ngay trong nhận thức và quan điểm của các chuyên gia, cơ sở đào tạo luật ở Việt Nam còn có nhiều điểm khác biệt. Luận văn: Thực trạng chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
- Về khái niệm, phạm vi, giới hạn thiệt hại do vi phạm hợp đồng song vụ
Theo BLDS 2005, trách nhiệm bồi thường thiệt hại được chia thành hai loại gồm: (1) trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (không tồn tại quan hệ hợp đồng; phát sinh do hành vi trái pháp luật); (2) trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng (phát sinh từ hành vi vi phạm hợp đồng). Chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với vi phạm hợp đồng được quy định trong phần trách nhiệm bồi thường thiệt hại “trong hợp đồng” và trong các quy định cụ thể về quan hệ hợp đồng, các hợp đồng thông dụng. Theo quy định tại Điều 307 BLDS 2005, thiệt hại do vi phạm hợp đồng song vụ là các thiệt hại về vật chất thực tế tính được thành tiền do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra, có phạm vi gồm:
- Tổn thất về tài sản: chỉ các tổn thất tài sản thực tế có thể dễ nhận biết như sự mất mát, hư hỏng, giảm sút,… giá trị của tài sản do hành vi vi phạm hợp đồng trực tiếp gây ra.
- Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại: chỉ các khoản chi bằng tiền mà bên bị vi phạm chi một cách cần thiết và hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra. Để chứng minh được các chi phí hợp lý, bên bị vi phạm có nghĩa vụ chứng minh bằng việc cung cấp được các hóa đơn chứng từ hợp pháp để chứng minh cho khoản chi.
- Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút: được hiểu là các khoản th nhập thực tế đã và đang có trước khi hợp đồng bị vi phạm nhưng do hành vi vi phạm hợp đồng mà khoản thu nhập này bị mất hoặc bị giảm sút.
Như vậy, quy định tại Điều 307 BLDS 2005 đã thể hiện căn cứ xác định phạm vi, giới hạn thiệt hại. Căn cứ được quy định chưa đảm bảo sự công bằng và thỏa đáng, bởi “Nhà làm luật dường như chỉ muốn các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu như trước khi giao kết hợp đồng thay vì đặt họ vào vị trí như là hợp đồng đã được thực hiện đúng và đầy đủ” [16, tr465]. Đây là hạn chế đáng chú ý khi so sánh với BLDS Pháp – đại diện cho hệ thống pháp luật Civil Law, pháp luật Hoa Kỳ đại diện cho hệ thống pháp luật Common Law, Công ước Viên 1980 đại diện cho pháp luật hợp đồng quốc tế. Dưới góc độ kinh tế, các bên giao kết hợp đồng đều hướng tới các lợi ích vật chất nhất định khi hợp đồng được thực hiện đầy đủ. Về giới hạn thiệt hại được bồi thường theo BLDS 2005, bên có nghĩa vụ dường như có lợi hơn, bởi nếu có vi phạm thì cũng chỉ phải khôi phục lại tình trạng ban đầu, không phải có trách nhiệm với các lợi ích vật chất bị mất mà đ lẽ bên có quyền được hưởng khi nghĩa vụ được thực hiện đúng hợp đồng. Điều này dẫn đến hệ lụy, chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại không đảm bảo được lợi ích chính đ cho bên có quyền trong hợp đồng song vụ, chưa đảm bảo hành lang pháp lý an toàn và yên tâm để các bên giao dịch phục vụ cuộc sống, nhất là các giao dịch trong kinh doanh thương mại. Luận văn: Thực trạng chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
LTM 2005 được đánh giá tiến bộ hơn, khi đã tiếp nhận được các điểm tiến bộ như đã nêu theo quy định trong BLDS Pháp, Pháp luật Hoa kỳ và Công ước Viên 1980. Theo quy định tại khoản 1 Điều 302 LTM 2005, bồi thường thiệt hại được định nghĩa là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm. Định nghĩa này là góp phần là nền tảng tiếp cận thống nhất về chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng song vụ trong thương mại. Theo quy định tại khoản 2 Điều 302 LTM 2005, phạm vi, giới hạn thiệt hại do vi phạm hợp đồng gây ra gồm: (1) giá trị tổn thất thực tế, thực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra; và (2) khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm. LTM 2005 được soạn thảo trong bối cảnh chuẩn bị cơ chế pháp lý để gia nhập WTO, hội nhập quốc tế và khu vực, nhà làm luật LTM 2005 đã làm tốt việc đảm bảo sự hài hòa giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế về điểm này.
- Về căn cứ áp dụng chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại
Quy định về căn cứ áp dụng chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại trong BLDS 2005 và LTM 2005 chưa đảm bảo sự rõ ràng và thống nhất. Là luật chung, BLDS 2005 hiện vẫn chưa có quy định cụ thể về căn cứ áp dụng chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại, mới chỉ được rút ra từ các quy định chung về trách nhiệm dân sự, quy đ về định nghĩa, phạm vi bồi thường thiệt hại. Ở điểm này, được đánh giá tiến bộ hơn, LTM 2005 có quy định về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại tại Điều 303 gồm đủ các yếu tố sau: (1) Có hành vi vi phạm hợp đồng; (2) Có thiệt hại thực tế; (3) Hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại.
Về nhận thức và quan điểm áp dụng, so sánh các tài liệu đào tạo chính thống của các cơ cở đào tạo luật trong nước, cũng như với quan điểm trong các bài viết, sách chuyên khảo của nhiều học giả, đến nay vẫn chưa có một kết luận thống nhất về căn cứ phát sinh và áp dụng chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại. Giáo trình luật dân sự Việt Nam (tập 2) của Trường Đại học Luật Hà Nội được viết về các căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại gồm 04 cơ sở sau: (1) Có hành vi vi phạm nghĩa vụ; (2) Có thiệt hại xảy ra trong thực tế; (3) mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại xảy ra; (4) lỗi của người vi phạm nghĩa vụ [31, tr57-61]. Với quan điểm hoàn toàn khác, ngay cả khác với pháp luật Việt Nam hiện hành, một số luật gia viết trong một số công trình nghiên cứu về các căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại gồm: (1) có hành vi vi phạm nghĩa vụ; (2) Người vi phạm nghĩa vụ có lỗi”. Trong cuốn sách chuyên khảo “Chế định hợp đồng trong BLDS Việt Nam”, Ts. Nguyễn Ngọc Khánh lại đưa ra ba căn cứ sau: (1) sự vi phạm nghĩa vụ hợp đồng; (2) lỗi của người vi phạm nghĩa vụ; (3) mối quan hệ nhân quả giữa vi phạm nghĩa vụ hợp đồng và thiệt hại xảy ra [16, tr355]. Luận văn: Thực trạng chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
Để làm rõ các căn cứ cần và đủ để áp dụng chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng song vụ, tác giả làm rõ các vấn đề pháp lý sau: (1) Sự vi phạm hợp đồng song vụ; (2) Sự thiệt hại; (3) Mối quan hệ nhân quả giữa vi phạm và thiệt hại; (4) Lỗi.
2.2.4 Sự vi phạm hợp đồng song vụ
Về vi phạm hợp đồng song vụ, tác giả cũng đã phân tích làm rõ tại tiểu mục 1.1.1.2 – Vi phạm hợp đồng song vụ của Luận văn này. Trong phạm vi Luận văn này, tác giả nêu lại khái niệm vi phạm hợp đồng song vụ như sau: Vi phạm hợp đồng song vụ là việc một hoặc các bên của hợp đồng song vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đối với nhau được xác lập trên cơ sở hợp đồng song vụ. Vi phạm hợp đồng song vụ có các đặc điểm cơ bản gồm: (1) vi phạm phát sinh từ việc thực hiện hợp đồng song vụ; (2) vi phạm của một bên hoặc vi phạm của các bên đối với nhau, tức có thể xảy ra trường hợp mỗi bên đều có thể vi phạm; (3) bên vi phạm hợp đồng song vụ có thể vi phạm nhiều nghĩa vụ của hợp đồng; (4) hành vi vi phạm hợp đồng của người này có thể là dẫn đến việc bên kia tạm ngừng thực hiện nghĩa vụ hoặc không thực hiện nghĩa vụ đối với người vi phạm theo nội dung hợp đồng; (5) có thể dẫn đến hệ quả phải gánh chịu các chế tài theo hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật hoặc cả hai. Việc vi phạm hợp đồng song vụ có thể làm phát sinh thiệt hại, hệ quả là bên vi phạm có thể phải gánh chịu chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu bên bị vi phạm chứng minh được các căn cứ cần và đủ. Trong đó, vi phạm hợp đồng song vụ được được xếp ở vị trí đầu tiên, khởi nguồn cho việc phát sinh ra trách nhiệm bồi thường thiệt hại cũng như việc áp dụng chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại. Ngoài ra, như đã đề cập tại tiểu mục 1.4.2 của Luận văn này, cũng cần chú ý, việc áp dụng chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với vi phạm hợp đồng nói chung và hợp đồng song vụ nói riêng không làm chấm dứt nghĩa vụ bị vi phạm, khác với hệ quả làm chấm chấm dứt nghĩa vụ do hành vi trái pháp luật thuộc trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng.
2.2.5 Sự thiệt hại Luận văn: Thực trạng chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
Yếu tố thiệt hại được xác định trên cơ sở khái niệm, giới hạn, phạm vi thiệt hại, có tính đến áp dụng nguyên tắc nghĩa vụ hạn chế, khắc phục thiệt hại của bên bị vi phạm. Về khái niệm, giới hạn, phạm vi thiệt hại, tác giả đã phân tích làm rõ trong phần nội dung trước của Luận văn này. Tuy nhiên, một số vấn đề pháp lý liên quan quan trọng cần làm rõ như sau:
- Vấn đề quy đổi thiệt hại thành tiền
Vấn đề quy đổi thiệt hại thành tiền được Ts. Đỗ Văn Đại đưa ra như sau “Bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực hợp đồng là một khoản tiền. Như vậy, xác định thiệt hại được bồi thường chưa đủ. Chúng ta còn phải quy thiệt hại thành tiền”[07, tr183]. Tác giả đồng tình với quan điểm này bởi nếu không quy đổi thiệt hại thành tiền được một cách hợp pháp và hợp lý, vấn đề áp dụng chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại không đạt được mục đích trên thực tế, không đảm bảo sự công bằng và lợi ích của các bên. Đối với bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Hội đồng thẩm phán Tóa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết 03/2006/NĐ-HĐTP ngày 8/7/2006, đưa ra được khá chi tiết các nguyên tắc chung và quy định cụ thể khi áp dụng chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, tức có thể làm rõ vẫn đề “quy đổi thiệt hại thành tiền”. Trong khi đó, đối với thiệt hại phát sinh do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, nhà làm luật vẫn đang bỏ ngỏ. Hệ quả việc sử dụng và thực thi trên thực tế không tránh khỏi sự không thống nhất, nhiều khi thẩm phán cũng như luật sư phải “lúng túng”.
- Nguyên tắc ngăn chặn, hạn chế thiệt hại của bên bị vi phạm
Thiệt hại xảy ra do vi phạm hợp đồng nằm ngoài ý muốn của bên bị vi phạm. Tuy nhiên, trong cuộc sống, có nhiều trường hợp bên bị vi phạm để mặc cho thiệt hại xảy ra mà không thực hiện các biện pháp cần thiết để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại, bởi họ tin rằng sẽ đẩy hết lỗi và trách nhiệm bồi thường về bên vi phạm. Với tư duy và hiểu biết thông thường, nếu có thể dùng các biện pháp cần thiết để ngăn nắp, hạn chế thiệt hại thì trách nhiệm thực hiện ngăn ngăn, hạn chế thiệt hại của bên bị vi phạm là cần thiết và hợp lý. Nếu bên vi phạm chứng minh được bên bị vi phạm trong khả năng cho phép nhưng cố tình không thực hiện các biện pháp cần thiết để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại thì bên vi phạm có quyền chính đáng được hưởng giảm mức bồi thường thiệt hại xuống mức hợp lý như có áp dụng các biện pháp ngăn chặn, hạn chế thiệt hại. Áp dụng nguyên tắc này, hậu quả vi phạm được hạn chế ở mức tối đa trong khả năng cho phép của mỗi bên, đồng thời bảo vệ và cân bằng lợi ích cho mỗi bên của hợp đồng. Luận văn: Thực trạng chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
Trong phần chung về nghĩa vụ cũng như hợp đồng của BLDS 2005 chưa có quy định cụ thể về nguyên tắc này. Hiện tại nguyên tắc ngăn chặn, hạn chế thiệt hại mới chỉ được nhà làm luật đề cập tại khoản 2 Điều 448 BLDS 2005 khi quy định về bồi thường thiệt hại trong thời hạn bảo hành; tại khoản 1 Điều 575 BLDS 2005 khi quy định về bồi thường thiệt hại trong quan hệ hợp đồng bảo hiểm. Nguyên tắc ngăn chặn, hại chế thiệt hại thực sự có ý nghĩa quan trọng trong quan hệ hợp đồng mua bán có bảo hành và bảo hiểm. Bởi lẽ, bên được bảo hành, bảo hiểm có thể sẽ cố tình để mặc cho thiệt hại xảy ra, vì dù có thiệt hại thì vấn được bảo hành, bảo hiểm. Tư duy này sẽ gây thiệt hại không đáng có cho bên bảo hành, bảo hiểm.
Nhận thức được tầm quan trọng của nguyên tắc, tiến bộ hơn BLDS 2005, trong LTM 2005 đã có quy định về nghĩa vụ hạn chế tổn thất quy định tại Điều 305. Theo đó, bên yêu cầu bồi thường thiệt hại phải áp dụng các biện pháp hợp lý để hạn chế tổn thất kể cả tổn thất đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra; nếu bên yêu cầu bồi thường thiệt hại không áp dụng các biện pháp đó, bên vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu giảm bớt giá trị bồi thường thiệt hại bằng mức tổn thất đáng lẽ có thể hạn chế được.
- Vấn đề thiệt hại trong thời hạn thực hiện nghĩa vụ ban đầu và trong thời hạn được gia hạn
Đối với vi phạm hợp đồng đã được bên bị vi phạm áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng trong một khoảng thời gian gia hạn, song bên vi phạm vẫn tiếp tục vi phạm khi thời gian gia hạn đã hết, việc xác định thiệt hại sẽ tương đối phức tạ. Tác giả cho rằng, thiệt hại trong tình huống vừa nêu cần xác định gồm: (1) thiệt hại phát sinh trong thời hạn thực hiện nghĩa vụ ban đầu của hợp đồng; và gồm cả (2) thiệt hại phát sinh trong thời gian gia hạn thực hiện nghĩa vụ bị vi phạm. Tổng của hai phần thiệt hại này là thiệt hại phát sinh do hành vi vi phạm chung đối với hợp đồng, có như vậy mới bảo đảm quyền lợi cho bên bị vi phạm, cũng như tạo thêm sự ràng buộc nghĩa vụ của hợp đồng, răn đe hành vi vi phạm hợp đồng. Yêu cầu xác định thiệt hại trong thời hạn thực hiện nghĩa vụ ban đầu và trong thời hạn được gia hạn chưa được nhà làm luật BLDS 2005, LTM 2005 quy định, là một lỗ hổng cần được quan tâm khắc phục.
- Vấn đề tổn thất về tinh thần
Một vấn đề đáng kể khác cần đưa ra, liệu thiệt hại do vi phạm hợp đồng nói chung và hợp đồng song vụ nói riêng có bao gồm cả thiệt hại về tinh thần hay không? Có nhiều tình huống xảy ra trong thực tế, việc vi phạm hợp đồng có thể gây ra tổn thất về tinh thần, như gây ra ảnh hưởng xấu về nhân phẩm, danh dự uy tín của bên bị vi phạm. Ví dụ, anh A thuê Công ty B dịch vụ tổ chức lễ cưới. Khi lễ cưới diễn ra, Công ty B được xác định vi phạm các yêu cầu về chế biến món ăn (món ăn bị đánh giá quá tệ, không đúng với tiêu chuẩn quy định trong hợp đồng), dịch vụ âm thanh, ánh sáng thường xuyên bị trục trặc, dẫn đến buổi lễ cưới không được diễn ra tốt đẹp, gia đình anh A bị quan khách chê cười. Ở tình huống này, liệu tổn thất về tinh thần có được xem xét khi xác định thiệt hại do vi phạm hợp đồng. Tác giả thiết nghĩ nhà làm luật cần cân nhắc để bổ sung các quy định về xác định tổn thất về tinh thần đối với những trường hợp nhất định có thể thuộc thiệt hại thực tế do vi phạm hợp đồng và cần phải được bồi thường hợp lý.
- Vấn đề tổn thất do chi phí thuê tư vấn, đại diện bảo vệ quyền lợi
Để bảo vệ được quyền lợi của mình khi có tranh chấp xảy ra phát sinh từ vi phạm hợp đồng, bên bị vi phạm thường khởi kiện yêu cầu cơ quan trọng tài, tòa án có thẩm quyền giải quyết. Với hiện trạng pháp luật của Việt Nam được đánh giá như một “rừng luật”, bên bị vi phạm cần phải nhờ sự hỗ trợ tư vấn, đại diện bảo vệ quyền lợi từ các luật sư, chuyên gia pháp lý. Nhiều khi chi phí để thuê tư vấn, bảo vệ quyền lợi là rất lớn so với khoản bồi thường thiệt hại được hưởng theo bản án, dẫn đến thiệt hại lớn cho bên bị vi phạm, trong khi không ai muốn “chi quá nhiều để đòi một khoản không đáng”. Bởi vậy, nhiều người đòi công nợ với số tiền không quá lớn nhiều khi phải bỏ cuộc bởi bài to chi phí. Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 có quy định về nghĩa vụ chi trả chi phí hợp lý để thuê luật sư khi bên bị vi phạm thắng kiện tranh chấp về sở hữu trí tuệ (theo khoản 3 Điều 205 LSHTT 2005). Tác giả cho rằng nhà làm luật BLDS và LTM cần đầu tư nghiên cứu và bổ sung chi phí hợp lý để thuê luật s thuộc chi phí thực tế cần phải bồi thường do vi phạm hợp đồng.
2.2.6 Mỗi quan hệ nhân quả giữa vi phạm và thiệt hại Luận văn: Thực trạng chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
Nguyên nhân và kết quả là cặp phạm trù trong các cặp phạm trù triết học. Mối quan hệ nhân quả cũng đã được làm rõ trong các giáo trình, công trình khoa học về triết học. Dựa trên nguyên tắc lỗi, bên vi phạm chỉ phải bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm hợp đồng của mình (trực tiếp hoặc gián tiếp) gây ra. PGS.TS Đỗ Văn Đại từng viết “Không phải cứ có thiệt hại là phát sinh trách nhiệm bồi thường và cũng không phải cứ có việc không thực hiện đúng hợp đồng là trách nhiệm này phát sinh”[07, tr185]. Nếu thiệt hại phát sinh do chính lỗi của bên có quyền, bên có quyền sẽ không có cơ sở hợp lý để buộc bên vi phạm phải bồi thường. Theo nội dung của mỗi quan hệ nhân quả, hành vi vi phạm có trước, thiệt hại có sau, hành vi vi phạm là nguyên nhân gây ra thiệt hại, thiệt hại xảy ra do hành vi vi phạm. Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại tồn tại khách quan. Việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại có ý nghĩa quan trọng, quyết định phạm vi, giới hạn thiệt hại. Đối với những thiệt hại không có quan hệ nhân quả với hành vi vi phạm, thiệt hại đó sẽ không thuộc trách nhiệm bồi thường của bên vi phạm. BLDS 2005 còn hạn chế khi chưa có quy định cụ thể về quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại. Trong khi đó, LTM 2005 đã có quy định tại Điều 304” “đặt gánh nặng chứng minh lên nguyên đơn”[04, tr604], buộc bên bị vi phạm phải chứng minh được tính xác thực, khách quan, hợp pháp, hợp lý về mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại.
- Lỗi
Như đã được nêu ra tại tiểu mục 1.2 thuộc Chương I của Luận văn này, ở các nước theo hệ thống pháp luật Civil Law, pháp luật Liên bang Nga và pháp luật Việt Nam, nguyên tắc lỗi có vai trò quan trọng khi xác định trách nhiệm dân sự nói chung và áp dụng chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại nói riêng. Gần giống với nguyên tắc lỗi, phân loại lỗi trong pháp luật hình sự – tố tụng hình sự, BLDS 2005 đưa ra nguyên tắc lỗi như sau “Người không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự thì phải chịu trách nhiệm dân sự khi có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác” (theo khoản 1 Điều 308 BLDS 2005). Lỗi cũng được phân loại thành lỗi vô ý và lỗi cố ý tại khoản 2 Điều 308 BLDS 2005 như sau:
Cố ý gây thiệt hại: là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc tuy không mong muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra.
Vô ý gây thiệt hại: là trường hợp một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được. Luận văn: Thực trạng chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
Với nguyên tắc lỗi được quy định trong BLDS 2005, việc áp dụng chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với vi phạm hợp đồng cần xác định cả lỗi của bên vi phạm. Lỗi của bên vi phạm hợp đồng được bên bị vi phạm chứng minh qua việc chứng minh mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại, dưới dạng lỗi suy đoán. Ngược lại, bên vi phạm muốn chứng minh được mình không có lỗi phải chứng minh được hành vi xảy ra thuộc loại hành vi vi phạm hợp đồng không có lỗi theo quy định của BLDS. Theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 302 BLDS 2005, bên vi phạm có thể chứng minh mình không có lỗi nếu thuộc một trong hai trường hợp sau: (1) do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác; (2) hoàn toàn do lỗi của bên có quyền.
Áp dụng nguyên tắc lỗi suy đoán, LTM 2005 đã được quy định các trường hợp bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, tức suy đoán không có lỗi trong các trường hợp sau: (1) Xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thoả thuận; (2) Xảy ra sự kiện bất khả kháng; (3) Hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia; (4) Hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng. Nếu bên vi phạm không chứng minh được hành vi vi phạm thuộc một trong bốn trường hợp được viện dẫn, bên bị vi phạm bị mặc nhiên suy đoán có lỗi và phải trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng theo quy định tại Điều 303 LTM 2005. Nếu BLDS 2005 có quy định rõ ràng và cụ thể như LTM, cách hiểu và áp dụng sẽ dễ dàng hơn, thống nhất hơn. Một điều đáng chú ý về lỗi, hiện BLDS 2005 và LTM 2005 mới chỉ đề cập đến lỗi của một bên, chưa đề cập đến vấn đề giải pháp xử lý trường hợp hai bên đều có lỗi, mức độ lỗi có thể tương đương hoặc khác nhau. Nếu trọng tài, thẩm phán chỉ căn cứ vào mức độ lỗi và lẽ công bằng để phân chia trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với nhau thì thực sự chưa đảm bảo tính hợp lý, hợp pháp và thống nhất.
Qua phân tích, tác giả nhận định cần xác định 04 yếu tố sau khi áp dụng chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng nói chung và hợp đồng song vụ nói riêng: (1) Hành vi vi phạm hợp đồng; (2) Thiệt hại; (3) Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại; (4) Nguyên tắc lỗi và các trường hợp miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng.
2.3 Các điểm mới về chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại trong BLDS 2015 Luận văn: Thực trạng chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
- BLDS 2015 với nhiều điểm mới khắc phục được đáng kể các hạn chế của BLDS 2005, cụ thể như sau:
Điểm mới thứ nhất, bổ sung quy định riêng về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ và nguyên tắc bồi thường toàn bộ. Điều 13 được bổ sung quy định cá nhân, pháp nhân có quyền dân sự bị xâm phạm được bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Cụ thể, theo quy định tại Điều 360 BLDS 2015, trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên vi phạm nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Thiệt hại được bồi thường do vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng nói chung và hợp đồng song vụ nói riêng cũng được xác định theo quy định Điều 13 và Điều 360 được viện dẫn (theo khoản 1 Điều 419 BLDS 2015). Các quy định này đã tạo cơ sở pháp lý xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng, tức trách nhiệm bồi thường do vi phạm hợp đồng. Nguyên tắc bồi thường toàn bộ cũng được bổ sung ghi nhận kịp thời. Với nguyên tắc bồi thường toàn bộ, bên bị vi phạm có thể được bảo đảm được bồi thường toàn bộ các thiệt hại phát sinh do vi phạm hợp đồng gây ra, bảo vệ quyền và lợi ích tối đa cho bên bị vi phạm.
Điểm mới thứ hai, bổ sung quy định về phạm vi thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng bao gồm cả thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần. Theo quy định tại Điều 361 và Điều 419 BLDS 2015, thiệt hại do vi phạm hợp đồng song vụ gồm hai loại:
Loại thứ nhất là thiệt hại về vật chất. Việc xác định tổn thất cần đảm bảo tiêu chí “thực tế xác định được”, tức phải có căn cứ xác thực để xác định phạm vi và số lượng thiệt hại. Phạm vi bồi thường vật chất do vi phạm hợp đồng đã được mở rộng hơn so với BLDS 2005, có sự phù hợp với quy định tiến bộ trong LTM 2005. Cụ thể, ngoài các thiệt hại vật chất được xác định theo Điều 360 BLDS 2015 (giống với phạm vi bồi thường đã quy định tại BLDS 2005), người có quyền còn có thể: (1) yêu cầu bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà lẽ ra mình sẽ được hưởng do hợp đồng mang lại; (2) yêu cầu người có nghĩa vụ chi trả chi phí phát sinh do không hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng mà không trùng lặp với mức bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà hợp đồng mang lại. Điểm mới này của BLDS 2015 đã tạo ra sự phù hợp với LTM 2005 cũng như quy định của pháp luật quốc tế, đồng thời bảo vệ tối đa lợi ích cho lợi ích của bên bị vi phạm, bổ sung thêm giá trị lợi ích và mục đích áp dụng của chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại. Luận văn: Thực trạng chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
Loại thứ hai là thiệt hại về tinh thần. Xác định thiệt hại về tinh thần bị bỏ ngỏ trong BLDS 2005, nay đã được bổ sung hợp lý trong BLDS 2015. Đối với phạm vi thiệt hại về tinh thần, so với BLDS 2005, tại Điều 360 BLDS 2015 có được bổ sung thêm “các lợi ích nhân thân khác”, tạo ra quy định mở và hợp lý về xác định loại này, bởi các lợi ích nhân thân của một chủ thể không chỉ bao gồm “tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín”., ví dụ như bí mật đời tư cá nhân. Đối với vi phạm hợp đồng, BLDS 2015 có bổ sung quy định theo yêu cầu của người có quyền, tòa án có thể buộc người có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về tinh thần cho người có quyền; mức bồi thường do tòa án quyết định căn cứ vào nội dung vụ việc (theo khoản 3 Điều 419 BLDS 2015). Việc ghi nhận rõ thiệt hại đối với vi phạm hợp đồng bao gồm cả thiệt hại về tinh thần, thay đổi căn bản nhận thức về thiệt hại phát sinh do vi phạm hợp đồng. Ngoài ra, tòa án được quy định có thẩm quyền quyết định việc bồi thường, mức bồi thường thiệt hại về tinh thần là hợp lý, bởi việc xác định thiệt hại về tinh thần trừu tượng và phức tạ, cần giao cho tòa án là cơ quan xét xử xác định căn cứ vào n dung và mức độ vi phạm.
Điểm mới thứ ba, bổ sung quy định về nghĩa vụ ngăn chặn, hạn chế thiệt hại ở phần chung về nghĩa vụ tại Điều 362 BLDS 2015. So với BLDS 2005 chưa có quy định về nghĩa vụ ngăn chặn, hạn chế thiệt hại, việc BLDS 2015 bổ sung nghĩa vụ này đã: (1) thể hiện đúng đắn tầm quan trọng của nguyên tắc hạn chế, khắc phục thiệt hại; (2) tạo ra nguyên tắc chung có thể áp dụng đối với các hợp đồng song vụ thông dụng trong BLDS 2015 cũng như các hợp đồng không thông dụng chưa được BLDS quy định.
Điểm mới thứ tư, bổ sung quy định xử lý trường hợp thiệt hại do vi phạm hợp đồng do cả hai bên có lỗi. Theo quy định tại Điều 363 BLDS, trường hợp vi phạm nghĩa vụ và có thiệt hại là do một phần lỗi của bên bị vi phạm thì bên vi phạm chỉ phải bồi thường thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình. Quy định này bổ khuyết kịp thời lỗ hổng ph lý của BLDS 2005 như đã được phân tích.
- Chế tài phạt vi phạm hợp đồng
Bên cạnh chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại, chế tài phạt vi phạm có ý nghĩa, vai trò quan trọng trong việc ngăn ngừa và xử lý trách nhiệm vi phạm hợp đồng. Chế tài phạt vi phạm được hiểu là việc bên vi phạm phải trả một khoản tiền được ấn định trước cho bên bị vi phạm do có hành vi vi phạm hợp đồng. Nếu xét đến mục đích áp dụng, chế tài phạt vi phạm có phạm vi mục đích rộng hơn so với chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại. Mục đích trọng tâm của chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại là đảm bảo cho bên bị vi phạm được đền bù thỏa đáng khi có vi phạm xảy ra. Trong khi đó, việc áp dụng chế tài phạt vi phạm hợp đồng được nhiều học giả đánh giá có mục đích, ý nghĩa gồm:
(1) Tạo cơ chế bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của hợp đồng. Theo nguyên tắc tự do thỏa thuận, các bên của hợp đồng, nhất là hợp đồng song vụ khi các bên đều có nghĩa vụ đối với nhau, thỏa thuận hậu quả bất lợi là việc trả một khoản tiền phạt khi có vi phạm hợp đồng xảy ra. Nếu có vi phạm xảy ra, mặc dù có thể chưa xảy ra thiệt hại, bên bị vi phạm phải trả cho bên bị vi phạm một khoản tiền, thường là không ít so với giá trị của hợp đồng. Vì vậy, chế tài phạt vi phạm là biện pháp răn đe, tác động nhằm mục đích nâng cao trách nhiệm thực hiện đúng hợp đồng của các bên.
(2) Đề bù cho bên bị vi phạm một khoản tiền nhất định do đã tin tưởng ký kết hợp đồng, mặc dù có thể thiệt hại chưa xảy ra. Khi có vi phạm hợp đồng xảy ra, bên bị vi phạm có thể viện dẫn căn cứ yêu cầu bên vi phạm phải trả một khoản tiền phạt, không bao gồm nghĩa vụ chứng minh thiệt hại. Việc được nhận một khoản tiền sẽ có giá trị bù đắp cho việc bên có quyền bị vi phạm hợp đồng, ít nhất có thể bù đắp được đáng kể thiệt hại khi có thiệt hại xảy ra. Luận văn: Thực trạng chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
- Cần phân biệt chế tài phạt vi phạm với chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại ở những điểm cở bản sau:
Về cơ sở pháp lý viện dẫn, chế tài phạt vi phạm cần phải thỏa thuận trước trong hợp đồng. Trong khi đó, chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại có thể mặc nhiên áp dụng khi có thiệt hại xảy ra do vi phạm hợp đồng mà không cần phải có thỏa thuận trước.
Về căn cứ phát sinh, chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại chỉ được áp dụng nếu có thiệt hại xảy ra. Khác với điều này, bên bị vi phạm chỉ cần chứng minh được có cơ sở pháp lý, có hành vi vi phạm thực tế và không thuộc trường hợp miễn trách nhiệm, bên bị vi phạm sẽ có thể yêu cầu bên vi phạm có trách nhiệm nộp phạt cho bên bị vi phạm.
Về nội dung áp dụng, bên bị vi phạm áp dụng chế tài phạt vi phạm bằng việc yêu cầu bên vi phạm phải nộp cho mình một khoản tiền được xác định trước theo thỏa thuận của hợp đồng. Đối với chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại, phạm vi, giới hạn bồi thường được xác định trên cơ sở thiệt hại thực tế, theo nguyên tắc toàn bộ kết hợp với nguyên tắc lỗi.
Ở các nước theo hệ thống pháp luật Civil Law, phạt vi phạm có được ghi nhận áp dụng như một loại chế tài đối với vi phạm hợp đồng. BLDS Pháp đã dành riêng một mục gồm 8 Điều từ Điều 1226 đến điều 1233 quy định về nghĩa vụ kèm theo phạt vi phạm. Theo quy định định nghĩa tại Điều 1226 và Điều 1229 BLDS Pháp, chế tài phạt vi phạm được áp dụng khi có thỏa thuận kèm theo nghĩa vụ, để: (1) bảo đảm thực hiện hợp đồng; và (2) đền bù các thiệt hại do việc không thực hiện nghĩa vụ chính gây ra cho bên có quyền. BLDS Đức cũng dành nhiều điều khoản quy định về phạt hợp đồng (contractual penalty), có sự phân biệt giữa phạt vi phạm do không thực hiện hợp đồng (Điều 340) và do không thực hiện đúng hợp đồng (Điều 341). Theo Điều 340 BLDS Đức, đối với vi phạm hợp đồng do không thực hiện nghĩa vụ, bên bị vi phạm chỉ có thể đòi tiền phạt thay cho việc hoàn thành nghĩa vụ, không được cùng áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng. Trong khi đó, theo Điều 341, nếu nghĩa vụ được quy định thực hiện trong một thời hạn nhất định, nhưng bên vi phạm chậm trễ thực hiện nghĩa vụ thì bên có quyền có thể đồng thời áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng và chế tài phạt vi phạm. Việc phân biệt loại vi phạm khi áp dụng chế tài phạt vi phạm ở BLDS Đức tương tự với quy định trong BLDS Pháp (Điều 1228 và Điều 1229) và BLDS Liên bang Nga năm 1994 (Điều 396). Một điểm đáng chú ý, cả BLDS Pháp (Điều 1231), BLDS Đức (Điều 343) và BLDS Liên bang Nga (Điều 333) đều có quy định nguyên tắc tòa án được can thiệt vào việc áp dụng chế tài phạt vi phạm qua việc quyết định giảm bớt mức phạt vi phạm trong trường hợp mức phạt vi phạm “rõ ràng không tương ứng với hậu quả từ việc vi phạm nghĩa vụ hợp đồng”[16, tr479], tức mức phạt vi phạm cao hơn quá nhiều so với hậu quả từ việc vi phạm nghĩa vụ hợp đồng. Việc BLDS quy định cho phép tòa án được quyền quyết định giảm mức phạt vi phạm có ý nghĩa quan trọng trong việc “bảo vệ nguyên tắc công bằng, thiện chí trong giao lưu dân sự”[16, tr479], nhất là bên yếu thế trong quan hệ hợp đồng.
Khác với các nước theo hệ thống pháp luật Civil Law với những quy định chi tiết và cụ thể về chế tài phạt vi phạm, pháp luật các nước theo hệ thống pháp luật Common Law không quy định áp dụng chế tài này. Để đảm bảo đề bù thỏa đáng cho bên bị vi phạm hợp đồng, pháp luật chỉ quy định cụ thể từng loại thiệt hại, tương ứng với loại trách nhiệm bồi thường cụ thể. Gần giống với chế tài phạt vi phạm, pháp luật thực định và án lệ Hoa Kỳ có quy định về bồi thường thiệt hại ấn định trước Incidentail Damages, cụ thể bên vi phạm phải trả cho bên bị vi phạm một khoản bồi thường thiệt hại đã dự tính trước. Tuy nhiên, không thể coi bồi thường thiệt hại ấn định trước tương tự, đồng nhất với chế tài phạt vi phạm, bởi việc bồi thường thiệt hại ấn định trước dự trên căn cứ có thiệt hại thực tế, song do khó xác định nên hai bên lựa chọn giải pháp ước lượng ấn định trước để dễ xác định và áp d. Trong khi đó, chế tài phạt vi phạm không dựa vào căn cứ thiệt hại, mà dựa v căn cứ chính là có xảy ra vi phạm hợp đồng và có thỏa thuận phạt vi phạm tương ứng.
Công ước viên 1980 hiện chưa có quy định điều chỉnh về phạt vi phạm. Do chưa có quy định, việc thỏa thuận phạt vi phạm cần phải căn cứ vào pháp luật của các bên tham gia, pháp luật các bên lựa chọn áp dụng khi giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Giống với bản chất của phạt vi phạm hợp đồng, Bộ nguyên tắc của Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế có quy định về tiền bồi thường ấn định trước trong hợp đồng tại Điều 7.4.13. Cụ thể, việc trả khoản tiền bồi thường thiệt hại ấn định trước này độc lập với trách nhiệm bồi thường thiệt hại thực tế do vi phạm hợp đồng. Ngoài ra, theo Điều 7.4.13 được viện dẫn, tòa án được quyền xem xét quyết định giảm mức bồi thường ấn định trước giống như quy định về giảm mức phạt vi phạm theo quy định trong BLDS Đức, BLDS Pháp và BLDS Liên Bang Nga.
2.4 Chế tài phạt vi phạm theo quy định trong BLDS 2005 và LTM 2005 Luận văn: Thực trạng chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
- Về khái niệm và căn cứ viện dẫn
Khác với việc quy định chế tài phạt vi phạm như một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được áp dụng theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật, với mức phạt tối đa 5% như quy định tại BLDS 1995 (đã nên tại Mục 2.1.2 của Luận văn này), BLDS 2005 quy định chế tài này như một nội dung thỏa thuận được thừa nhận trong hợp đồng, đảm bảo tối đa nguyên tắc tự do thỏa thuận. Cụ thể, chế tài phạt vi phạm được chuyển tới phần quy định trong mục “Hợp đồng dân sự”, tại khoản 7 Điều 402 và Điều 422, được áp dụng với danh nghĩa là một nội dung thỏa thuận trong hợp đồng được pháp luật thừa nhận, được ràng buộc pháp lý và được viện dẫn áp dụng khi có căn cứ phát sinh. BLDS 2005 có quy định định nghĩa về chế tài phạt vi phạm tại khoản 1 Điều 422 như sau “Phạt vi phạm là sự thoả thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm”. Dựa trên định nghĩa này, có thể rút ra 02 nội dung sau:
- Căn cứ viện dẫn: là sự thoả thuận giữa các bên trong hợp đồng, tức nếu không thỏa thuận thì không được quyền viện dẫn áp dụng.
- Nội dung áp dụng: bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm.
LTM 2005 quy định phạt vi phạm là một trong bảy chế tài được áp dụng tại khoản 2 Điều 292, ngay sau chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng tại khoản 1. Được liệu kê ở vị trí thứ hai trong danh sách bảy chế tài, nhà làm luật đã thể hiện ý nghĩa và vai trò quan trọng nhất định của chế tài phạt vi phạm. Theo đó, chế tài phạt vi phạm thường xuất hiện trong các hợp đồng song vụ trong thương mại. Theo quy định tại LTM 2005, phạt vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thoả thuận. Có thể thấy, định nghĩa phạt vi phạm trong LTM 2005 được tiếp cận ngược với quy định trong BLDS 2005, cụ thể LTM 2005 quy định qua quyền yêu cầu trả tiền vi phạm, trong khi đó, BLDS 2005 quy định trách nhiệm trả tiền phạt của bên phạt vi phạm. Về điểm này, tác giả cho rằng nên quy định định nghĩa theo cách tiếp cận của BLDS 2005, thể hiện rõ và nhấn mạnh được hậu quả pháp lý bất lợi mà bên vi phạm phải gánh chịu khi vi phạm hợp đồng và bị phạt vi phạm. Mặc dù có điểm khác về cách tiếp cận nội dung, cả BLDS 2005 và LTM 2005 đều quy định giống nhau về căn cứ viện dẫn, đó là phải có thỏa thuận trong hợp đồng. Như vậy, dù là hợp đồng song vụ trong dân sự hay trong thương mại, nếu các bên không thỏa thuận về phạt vi phạm thì bên bị vi phạm hợp đồng không được quyền viện dẫn và yêu cầu áp dụng chế tài phạt vi phạm hợp đồng. Luận văn: Thực trạng chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
- Về căn cứ áp dụng
Ngoài các điều kiện chung khi áp dụng các chế tài do vi phạm hợp đồng song vụ được trình bày trong Mục 1.2 của Luận văn này, bên bị vi phạm khi yêu cầu áp dụng chế tài phạt vi phạm phải đưa ra các căn cứ cần và đủ. Dựa trên nguyên tắc lỗi, nguyên tắc tự do thỏa thuận, định nghĩa chế tài phạt vi phạm và các trường hợp miễn trách nhiệm đối với vi phạm hợp đồng, việc áp dụng chế tài phạt vi phạm theo BLDS 2005 cũng như LTM 2005 cần chứng minh được các căn cứ sau đây:
Căn cứ thứ nhất, có thỏa thuận phạt vi phạm hợp đồng trong hợp đồng. Thỏa thuận phạt vi phạm có thể tồn tại trong hợp đồng ban đầu, trong hợp đồng được sửa đổi bổ sung, trong phụ lục hoặc trong các văn bản được hai bên thỏa thuận là một phần nội dung của hợp đồng.
Căn cứ thứ hai, có hành vi vi phạm hợp đồng là căn cứ phát sinh quyền yêu cầu áp dụng chế tài. Trong hợp đồng song vụ, mỗi bên có thể có nhiều nghĩa vụ đối với nhau. Các bên có thể thỏa thuận việc vi phạm một, một số hoặc bất kỳ nghĩa vụ nào của hợp đồng là đã có cơ sở để phát sinh quyền yêu cầu áp dụng chế tài phạt vi phạm. Trong trường hợp, các bên thỏa thuận chỉ được áp dụng chế tài phạt vi phạm khi bên có nghĩa vụ vi phạm một, một số nghĩa vụ cụ thể thì bên có quyền chỉ được yêu cầu áp dụng chế tài phạt vi phạm khi một hoặc một số nghĩa vụ bị vi phạm xảy ra. Đối với trường hợp các bên thỏa thuận chế tài phạt vi phạm được áp dụng khi có bất kỳ nghĩa vụ nào bị vi phạm, bên có quyền được quyền áp dụng chế tài khi có bất kỳ nghĩa vụ nào bị vi phạm. Ngoài ra, các bên hoàn toàn có thể thể thỏa thuận nội dung phạt vi phạm khác nhau đối với từng nghĩa vụ cụ thể của hợp đồng khi bị vi phạm. Do vậy, các bên cần chú ý thỏa thuận rõ ràng và cụ thể phạm vi nghĩa vụ bị vi phạm là cơ sở phát sinh quyền yêu cầu áp dụng chế tài phạt vi phạm hợp đồng.
Căn cứ thứ ba, việc vi phạm hợp đồng không thuộc các trường hợp được miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng. Nếu bên vi phạm chứng minh được nghĩa vụ bị vi phạm thuộc trường hợp được pháp luật quy định hay do các bên thỏa thuận, việc vi phạm hợp đồng sẽ được miễn trừ trách nhiệm, đồng nghĩa bên bị vi phạm không thể đưa ra yêu cầu áp dụng chế tài phạt vi phạm.
- Về mức phạt vi phạm
Khi áp dụng chế tài phạt vi phạm, bên vi phạt phải trả một khoản tiền cho bên bị vi phạm. Do chế tài phạt vi phạm được viện dẫn trên có sở có thỏa thuận nên mức phạt cũng dựa trên thỏa thuận nhưng không vượt quá giới hạn tối đa luật định. BLDS 1995 đưa ra mức giới hạn tối đa phạt vi phạm là 5% (Điều 378). Nhiều học giả đánh giá việc hạn chế mức phạt tối đã 5% đã không đảm bảo tối đa nguyên tắc tự do thỏa thuận, cũng chưa có cơ sở nào đưa ra mức 5%. BLDS 2005 đã khắc phục được hạn chế này, khẳng định rõ tại khoản 2 Điều 422 “Mức phạt vi phạm do các bên thoả thuận”. BLDS 2005 đã không đưa ra bất kỳ giới hạn nào về mức phạt vi phạm, đảm bảo tối đa nguyên tắc tự do thỏa thuận của các bên, tạo thêm cơ chế để các bên ràng buộc trách nhiệm với nhau, tăng hiệu lực pháp lý của hợp đồng. Tuy nhiên, có một số học giả lại có quan điểm cho rằng, nếu không có giới hạn hợp lý, nhiều trường hợp lợi dụng chế tài phạt vi phạm để sát phạt nhau, đặc biệt bên có thế mạnh kinh thế sẽ lợi dụng chế tài phạt vi phạm để sát phạt, “bóc lột” bên yếu thế. Luận văn: Thực trạng chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
Với mong muốn đưa ra một giới hạn hợp lý, LTM 2005 có được quy định giới hạn mức phạt vi phạm tại Điều 301 như sau “Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thoả thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ trường hợp quy định tại Điều 266 của Luật này”. Trường hợp ngoại lệ đối với giới hạn phạt vi phạm theo quy định tại khoản 1 Điều 266 áp dụng trong trường hợp kết quả giám định sai như sau: “Trường hợp thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định cấp chứng thư giám định có kết quả sai do lỗi vô ý của mình thì phải trả tiền phạt cho khách hàng. Mức phạt do các bên thỏa thuận, nhưng không vượt quá mười lần thù lao dịch vụ giám định”. Xem xét giới hạn phạt vi phạm theo LTM 2005, có hai vấn đề pháp lý cần làm rõ sau:
Thứ nhất, mức giới hạn tỷ lệ 8% hay không vượt quá mười lần thù lao dịch vụ giám định được xác định trên cơ sở nào? Hiện khó có thể viện dẫn cơ sở lý luận và thực tiễn tại sao lại xác định được mức giới hạn này. Bên cạnh việc hạn chế quyền tự do thỏa thuận như đối với BLDS 2005, tác giả đồng tình với nhiều học giả cho rằng nhà làm luật LTM 2005 đang đưa quan điểm chủ quan vào luật khi áp đặt một mức phạt vi phạm chưa có cơ sở rõ ràng. Bảo vệ cho quan điểm hợp lý của mức phạt vi phạm trong LTM 2005, lý lẽ được đưa ra là ngăn ngừa tình trạng sát phạt, lợi dụng thái quá chế tài phạt vi phạm trong hoạt động kinh doanh thương mại. Song tác giả cho rằng, lý lẽ này khó có thể kiểm chứng bằng cơ sở thuyết phục về lý luận cũng như trên thực tế. Do trong kinh doanh thương mại, nếu có vi phạm thì thiệt hại có thể xảy ra rất lớn, cần có thêm chế tài mạnh như phạt vi phạm không có giới hạn mức phạt để bảo đảm quyền lợi chính đáng của các bên.
Thứ hai, mức giới hạn phạt 8% được tính trên “giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm”. Cần phân biệt được “giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm” với “giá trị của hợp đồng”. Cần tránh các hiểu sai, đánh đồng giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm với giá trị của hợp đồng. Tùy từng trường hợp, giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm có thể nhỏ hơn hoặc bằng với giá trị của hợp đồng. Trong thực tiễn áp dụng, việc xác định “giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm” không phải là vấn đề đơn giản, đặc biệt đối với hợp đồng dịch vụ, bên có nghĩa vụ phải thực hiện một công việc nhất định.
2.5 Các điểm mới về chế tài phạt vi phạm hợp đồng theo quy định của BLDS 2015
Bên cạnh tiếp tục kế thừa các quy định về chế tài phạt vi phạm đối với vi phạm hợp đồng song vụ trong BLDS 2005, BLDS 2015 đã bổ sung điểm mới mới về mức phạt vi phạm, đảm bảo sự hài hòa với quy định của LTM 2005, khắc phục được các hạn chế đã được phân tích trong BLDS 2005. Theo quy định tại Điều 418 BLDS 2015, mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác. Với yếu tố bổ sung “trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác”, BLDS 2015 vẫn tôn trọng nguyên tắc tự do thỏa thuận và cam kết của các bên về phạt vi phạm, đồng thời tạo ra quy định mở tránh mâu thuẫn với các quy định trong các luật chuyên ngành, điển hình là LTM. Với điểm mới này, không còn cơ sở để bình luận rằng mức phạt vi phạm trong BLDS bị mâu thuẫn với các luật chuyên ngành nói chung và LTM 2005 nói riêng.
- Tạm ngừng (hoãn) thực hiện hợp đồng Luận văn: Thực trạng chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
Quyền hoãn thực hiện hợp đồng song vụ theo cách gọi của BLDS 2005 hay quyền tạm ngừng thực hiện theo cách gọi của LTM 2005 là một chế tài điển hình chỉ áp dụng đối với vi phạm hợp đồng song vụ. Do nội dung của hợp đồng song vụ, mỗi bên có thể có một hoặc nhiều nghĩa vụ đối với nhau. Các nghĩa vụ đối với nhau của mỗi bên có thể được thực hiện theo một trình tự nhất định, bên này thực hiện nghĩa vụ nhất định thì bên kia mới phải thực hiện nghĩa vụ nhất định. Ví dụ, trong hợp đồng mua bán tài sản, các bên thỏa thuận bên bán giao tài sản trước, bên mua thanh toán tiền sau khi được giao tài sản. Trường hợp này, nghĩa vụ giao tài sản của bên bán phải thực hiện trước, bên mua sẽ phải thanh toán sau khi nhận được tài sản. Việc áp dụng chế tài hoãn thực hiện hợp đồng hay tạm ngừng thực hiện hợp đồng sẽ bảo đảm quyền lợi cho bên có quyền đối với một nghĩa vụ của bên kia cần thực hiện trước. Việc áp dụng chế tài này sẽ không khiến bên áp dụng phải gánh chịu trách nhiệm dân sự, không bị áp dụng chế tài do đơn phương tạm ngừng, hoãn thực hiện nghĩa vụ của hợp đồng. Việc tạm ngừng, hoãn thực hiện nghĩa vụ không làm chấm dứt hiệu lực hợp đồng, bởi ngay ở tên gọi, chế tài này chỉ làm tạm ngừng việc thực hiện hợp đồng của bên bị vi phạm hợp đồng, tạo áp lực ràng buộc để thôi thúc bên vi phạm phải thực hiện đúng nghĩa vụ của mình.
Pháp luật ở các nước theo hệ thống pháp luật Civil Law có quy định về chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng. Trong BLDS Pháp, chế tài này không được quy định trong phần chung hợp đồng nhưng có được ghi nhận trong một số hợp đồng song vụ gồm hợp đồng mua bán, hợp đồng trao đổi. Theo khoản 1 Điều 320 BLDS Đức, nếu không phải thực hiện trước, một bên có quyền từ chối thực hiện nghĩa vụ của mình cho tới khi nghĩa vụ của bên kia được thực hiện. Ngoài ra, chế tài này còn được quy định trong pháp luật của nhiều nước như Ý, Thụy Sĩ,… Bộ nguyên tắc của Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế cũng có điều khoản riêng về tạm ngừng thực hiện nghĩa vụ hợp đồng tại điểm 2 Điều 7.1.4 như sau “Khi một bên phải thực hiện nghĩa vụ sau bên kia thì có quyền tạm ngừng thực hiện nghĩa vụ của mình khi bên kia chưa thực hiện nghĩa vụ của của họ”[24, tr311]. Khác với điều này, chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng không tồn tại trong các chế tài đối với vi phạm hợp đồng ở các nước theo hệ thống pháp luật Common Law. Ở Việt Nam, chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng được ghi nhận trong cả BLDS 2005 và LTM 2005.
2.5.1 Về căn cứ, nội dung áp dụng
Theo quy định Điều 415 BLDS 2005, nhà làm luật dùng thuật ngữ “Quyền hoãn thực hiện nghĩa vụ dân sự trong hợp đồng song vụ”. Theo đó, bên có nghĩa vụ phải thực hiện có thể hoãn thực hiện nghĩa vụ khi có một trong hai trường hợp sau xảy ra:
- Trường hợp thứ nhất, bên phải thực hiện nghĩa vụ trước có quyền hoãn thực hiện nghĩa vụ, nếu tài sản của bên kia đã bị giảm sút nghiêm trọng đến mức không thể thực hiện được nghĩa vụ như đã cam kết cho đến khi bên kia có khả năng thực hiện được nghĩa vụ hoặc có người bảo lãnh. Luận văn: Thực trạng chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
- Trường hợp thứ hai, bên phải thực hiện nghĩa vụ sau có quyền hoãn thực hiện nghĩa vụ đến hạn nếu bên thực hiện nghĩa vụ trước chưa thực hiện nghĩa vụ của mình khi đến hạn.
Theo trường hợp thứ nhất, một bên của hợp đồng song vụ có thể hoãn thực hiện nghĩa vụ ngay cả khi chưa có vi phạm hợp đồng xảy ra, bởi thời điểm căn cứ áp dụng là khi bên áp dụng xác định được “tài sản của bên kia đã bị giảm sút nghiêm trọng đến mức không thể thực hiện được nghĩa vụ như đã cam kết”, tức việc vi phạm hợp đồng mới ở dạng “nguy cơ”. Do vậy, việc hoãn thực hiện nghĩa vụ trong trường hợp thứ nhất chưa thỏa mãn đủ các yếu tố để xác định là chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ. Ở trường hợp thứ hai, việc hoãn thực hiện nghĩa vụ được áp dụng khi đã có vi phạm nghĩa vụ đến hạn xảy ra, đủ điều kiện để coi như một chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ. Tuy nhiên, có quan điểm cho rằng căn cứ “bên thực hiện nghĩa vụ trước chưa thực hiện nghĩa vụ của mình khi đến hạn” là thiếu chính xác. Bởi theo quy định này, việc “chưa thực hiện” không thể xác định thỏa đáng khi thực tế có tình trạng “chưa thực hiện một phần” hay “chưa thực hiện đầy đủ” hay “đã thực hiện nghĩa vụ như không đúng nghĩa vụ”. Thiết nghĩ, nhà làm luật nên sửa đổi căn cứ thành “bên thực hiện nghĩa vụ trước vi phạm nghĩa vụ của mình khi đến hạn”, sẽ đảm bảo tính bao quát và chính xác.
Qua phân tích nội dung chế tài hoãn thực hiện hợp đồng tại khoản 2 Điều 415 BLDS 2005, các căn cứ áp dụng có thể được xác định gồm: (1) hợp đồng thuộc loại hợp đồng song vụ; (2) có tồn tại nghĩa vụ của bên này phải thực hiện trước khi nghĩa vụ của bên kia; (3) bên phải thực hiện nghĩa vụ trước đã vi phạm nghĩa vụ khi đến hạn; (4) việc vi phạm nghĩa vụ không thuộc trường hợp miễn trách nhiệm đối với vi phạm hợp đồng. Về nội dung áp dụng, bên bị vi phạm được quyền hoãn thực hiện nghĩa vụ, tức tạm thời không thực hiện nghĩa vụ cho đến khi bên kia thực hiện nghĩa vụ đã vi phạm khi đến hạn; nếu bên kia vẫn tiếp tục vi phạm, bên bị vi phạm phải áp dụng các chế tài khác theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.
LTM 2005 dùng thuật ngữ khác đối với chế tài có nội dung gần giống với chế tài hoãn thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại BLDS 2005, đó là chế tài “tạm ngừng thực hiện hợp đồng”. Theo quy định tại khoản 1 Điều 308 LTM 2005, tạm ngừng thực hiện hợp đồng là việc một bên tạm thời không thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng, khi có đủ ba căn cứ sau đây:
- Căn cứ thứ nhất, không thuộc trường hợp miễn trách nhiệm theo quy định tại Điều 294 của LTM 2005 (được trình bày tại Tiểu mục 2.2.3 của Luận văn này).
- Căn cứ thứ hai, xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thoả thuận là điều kiện để tạm ngừng thực hiện hợp đồng; hoặc một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng. Luận văn: Thực trạng chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
Căn cứ thứ hai được xác định là một trong hai trường hợp gồm:
Trường hợp thứ nhất: xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thoả thuận là điều kiện để tạm ngừng thực hiện hợp đồng. Trường hợp thứ nhất này giống với điều kiện áp dụng chế tài phạt vi phạm hợp đồng, đó là tính buộc thỏa thuận, nếu không có thỏa thuận thì không có quyền viện dẫn áp dụng. Các bên của hợp đồng có thể thỏa thuận việc vi phạm một hoặc một số nghĩa vụ nhất định có thể là căn cứ để được áp dụng chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng.. Bên áp dụng chế tài chỉ được viện dẫn áp dụng khi có điều khoản thuộc Hợp đồng quy định rõ việc vi phạm nghĩa vụ cụ thể là căn cứ cho bên kia được quyền áp dụng chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng.
Trường hợp thứ hai: một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng. Khác với trường hợp thứ nhất, các bên có thể xác định một cách rõ ràng căn cứ áp dụng, ở trường hợp thứ hai, để xác định vi phạm hợp đồng có là “vi phạm cơ bản không” là một điều không dễ dàng, nhất là khi có tranh chấp xảy ra. Theo quy định tại khoản 13 Điều 3 LTM 2005, vi phạm cơ bản được định nghĩa là sự vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại cho bên kia đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng. Theo căn cứ này, bên muốn áp dụng sẽ gặp khó khăn khi phải chứng minh cần và đủ điều kiện vi phạm hợp đồng “gây thiệt hại cho bên kia đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng”. Nhà làm luật mới dừng lại ở việc ghi nhận tiêu chí “đến mức” mà chưa đưa ra được một cách thức xác định cụ thể, hệ quả bên yêu cầu áp dụng dễ bị bên kia bác bỏ, làm giảm tính khả thi và hiệu lực của chế tài này. Ở trường hợp thứ hai, nhà làm luật quá nhấn mạnh vào mục đính ngăn ngừa thiệt hại, chưa làm rõ được tại thời điểm nào bên bị vi phạm được quyền áp dụng. Có quan điểm ủng hộ nội dung trường hợp này cho rằng, chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng, ngoại trừ đã thỏa thuận trước, chỉ được áp dụng đối với vi phạm cơ bản, không áp đụng đối với vi phạm thông thường. Tác giả cho rằng quan điểm này mang tính áp đặt, trong khi bên bị vi phạm cần được tôn trọng quyền tự xem xét xem có cần thiết áp dụng c tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng để bảo vệ lợi ích của mình, ngăn ngừa thiệt hại và thúc giục bên kia thực hiện đúng nghĩa vụ bị vi phạm. Thiết nghĩ, đối với trường hợp thứ hai, nhà làm luật LTM nên quy định hoặc viện dẫn áp dụng theo tinh thần chế tài hoãn thực hiện nghĩa vụ được quy định tại khoản 2 của Điều 415 BLDS 2005.
2.5.2 Về hậu quả pháp lý Luận văn: Thực trạng chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
Về hậu quả pháp lý, chế tài hoãn thực hiện hợp đồng theo quy định tại BLDS 2005 và tạm ngừng thực hiện hợp đồng theo quy định tại LTM 2005 đều có hậu quả pháp lý giống nhau, gồm:
- Thứ nhất, không làm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng. Nội dung chế tài hoãn thực hiện hợp đồng và tạm ngừng thực hiện hợp đồng thể hiện bên áp dụng chỉ tạm thời không thực hiện nghĩa vụ của hợp đồng, nếu căn cứ áp dụng không còn tồn tại và việc tiếp tục thực hiện nghĩa vụ vẫn có ý nghĩa vì mục đích giao kết hợp đồng thì mỗi bên đều có thể tiếp tục thực hiện nghĩa vụ cho đến khi mọi nghĩa vụ được hoàn thành. Khi chế tài được áp dụng, về mặt pháp lý, mỗi bên vẫn còn tồn tại quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của hợp đồng và pháp luật.
- Thứ hai, việc áp dụng chế tài hoãn thực hiện hợp đồng theo quy định của BLDS 2005 và chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng theo quy định của LTM 2005 không gây ra vi phạm hợp đồng, tức bên áp dụng không phải gánh chịu trách nhiệm dân sự như đối với vi phạm hợp đồng do không thực hiện nghĩa vụ. Bên áp dụng chỉ nên áp dụng khi có đủ căn cứ chứng minh, bởi khi chứng minh không đủ các căn cứ theo luật định, bên bị áp dụng hoàn toàn có thể bác bỏ căn cứ áp dụng, yêu cầu bên áp dụng phải gánh chịu trách nhiệm dân sự do áp dụng sai chế tài này đồng nghĩa gây ra vi phạm hợp đồng.
Về chế tài hoãn thực hiện nghĩa vụ đối với vi phạm hợp đồng song vụ, BLDS 2015 có quy định tại khoản 2 Điều 411 có nội dung kế thừa và tương tự với quy định trong khoản 2 Điều 415 BLDS 2005.
- Chế tài đình chỉ (đơn phương chấm dứt) thực hiện hợp đồng
Đình chỉ thực hiện hợp đồng, hay còn được gọi là đơn phương chấm dứt hợp đồng, là việc bên bị vi phạm nghĩa vụ thông báo với bên vi phạm về việc chấm dứt hiệu lực của hợp đồng tại thời điểm nhận được thông báo. Chế tài này thường được áp dụng khi thiệt hại do hợp đồng bị vi phạm đã xảy ra hoặc có nguy cơ xảy ra quá lớn so với lợi ích mà bên bị vi phạm có thể có được từ việc tiếp tục thực hiện hợp đồng, đồng nghĩa với việc hợp đồng không còn có ý nghĩa cho bên bị vi phạm. Khi tình huống hợp đồng do bị vi phạm trở lên vô nghĩa xảy ra, giải pháp chấm dứt ngay hiệu lực của hợp đồng qua việc đưa ra thông báo đơn phương, là lựa chọn tối ưu mà bên bị vi phạm có thể lựa chọn. Khi chế tài đình chỉ hợp đồng được áp dụng, bên vi phạm sẽ không còn được hưởng quyền yêu cầu bên bị vi phạm thực hiện nghĩa vụ đối với mình, đồng thời bên vi phạm hợp đồng phải gánh chịu các hậu quả pháp lý bất lợi khác khi bị bên bị vi phạm áp dụng các chế tài khác kèm theo. Chế tài đình chỉ thực hiện hợp đồng thể hiện ý chí đơn phương của bên bị vi phạm về việc chấm dứt của hợp đồng khi có đủ cơ ở pháp lý và thực tế. Do vậy, chế tài này còn có thể được gọi với tên khác là chế tài đơn phương chấm dứt hợp đồng.
Ở các nước theo hệ thống pháp luật pháp luật Civil như Đức và Pháp, pháp luật chưa có quy định cụ thể về việc áp dụng chế tài đình chỉ thực hiện hợp đồng. Chế tài này cũng không được đề cập trong pháp luật Anh – Hoa Kỳ, Công ước viên 1980, Bộ nguyên tắc của Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế. Trong khi đó, ở Việt Nam, nhà làm luật đã thiết kế ra chế tài đình chỉ hợp đồng trong BLDS 2005 và LTM 2005, tồn tại độc lập với chế tài hủy bỏ hợp đồng. Việc có thêm chế tài này được đánh giá đã và sẽ cung cấp cho các bên của hợp đồng có thêm một giải pháp pháp lý để xử lý vi phạm hợp đồng trong khi chế tài hủy bỏ hợp đồng chưa đảm bảo sự thỏa đáng và bảo về quyền lợi chính đáng của bên bị vi phạm, đặc biệt áp dụng đối với những hợp đồng có tính chất đặc thù. Đơn cử, đối với những hợp đồng, các bên đã thực hiện phần nghĩa vụ nhất định đối với nhau, có bên đã được hưởng những quyền lợi hợp pháp nhất định từ hợp đồng. Khi có vi phạm hợp đồng xảy ra, giải pháp đình chỉ hợp đồng (làm chấm dứt hợp đồng từ thời điểm bên vi phạm nhận được thông báo chấm dứt từ bên bị vi phạm) sẽ hợp lý và thỏa đáng hơn so với áp dụng chế tài hủy bỏ hợp đồng (làm chấm dứt hiệu hợp đồng từ thời điểm giao kết).
2.6 Chế tài đình chỉ thực hiện hợp đồng trong BLDS 2005 và LTM 2005
Với cùng bản chất của chế tài đình chỉ thực hiện hợp đồng, BLDS 2005 sử dụng tên gọi khác của chế tài là “đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng” (Điều 426). BLDS 2005 đã có một số điều khoản quy định về chế tài đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng tại phần chung của hợp đồng cũng như trong nhiều quy định về các hợp đồng thông dụng. Tại phần quy định chung về hợp đồng, theo quy định tại Điều 426 BLDS 2006, một bên có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng như sau:
- Cơ sở viện dẫn quyền áp dụng: nếu các bên có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định
- Quy trình thực hiện: Bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc chấm dứt hợp đồng, nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.
- Hậu quả pháp lý: Khi hợp đồng bị đơn phương chấm dứt thực hiện thì hợp đồng chấm dứt từ thời điểm bên kia nhận được thông báo chấm dứt; các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ; bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán; bên có lỗi trong việc làm cho hợp đồng bị đơn phương chấm dứt phải bồi thường thiệt hại.
Căn cứ vào nội dung Điều 426 BLDS 2006, có thể xác định việc một bên thực hiện quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng trong hai trường hợp sau: Luận văn: Thực trạng chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
- Trường hợp một: Không có vi phạm hợp đồng xảy ra, tức hai bên đồng thuận cùng thỏa thuận một bên được quyền chấm dứt thực hiện hợp đồng khi có đủ điều kiện nhất định. Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng không được coi là chế tài đối với vi phạm hợp đồng.
- Trường hợp hai: Khi có vi phạm hợp đồng xảy ra, bên bị vi phạm dùng quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng để làm chấm dứt hiệu lực hợp đồng, kèm theo có thể yêu cầu bên vi phạm thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của hợp đồng hoặc quy định của pháp luật. Việc một bên của hợp đồng thực hiện quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng trong trường hợp thứ hai nêu trên được coi là một hình thức chế tài đối với vi phạm hợp đồng, được gọi là chế tài đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng.
Nội dung giải pháp xử lý tình huống vi phạm hợp đồng trong phần quy đ về các hợp đồng thông dụng thể hiện khá rõ căn cứ, nội dung, ý nghĩa, hậu quả pháp lý của chế tài đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, được minh chứng qua một số quy định điển hình sau:
- Đối với hợp đồng thuê tài sản, theo quy định tại Điều 486, Điều 488 BLDS 2005, khi bên cho thuê vi phạm nghĩa vụ bảo đảm quyền sử dụng tài sản cho bên thuê, bên thuê có thể áp dụng chế tài đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng kèm theo chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại; nếu bên thuê vi phạm nghĩa vụ sử dụng tài sản thuê đúng công dụng, mục đích, bên cho thuê cũng có thể áp dụng chế tài đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng kèm theo chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại. Điều 498 BLDS 2005 còn quy định khá rõ các hành vi vi phạm của mỗi bên của hợp đồng thuê nhà mà bên bị vi phạm có thể áp dụng chế tài đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng.
- Đối với hợp đồng dịch vụ, theo quy định tại khoản 2 Điều 521, trong trường hợp bên cung ứng dịch vụ vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ thì bên thuê dịch vụ có quyền áp dụng chế tài đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại.
- Đối với hợp đồng vận chuyển hành khách, theo quy định tại khoản 2 Điều 534 BLDS 2005, hành khách có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng trong trường hợp bên vận chuyển vi phạm nghĩa vụ của mình quy định tại các khoản 1, 3 và 4 Điều 529 BLDS 2005.
Nhận định chung về chế tài đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng trong BLDS 2005, hiện một số hạn chế cần khắc phục sau đây: Luận văn: Thực trạng chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
Thứ nhất, nhà làm luật mới chỉ thể hiện được chế tài này qua một số quy định rời rạc, rải rác trong phần quy định về các hợp đồng thông dụng. Trong khi đó, còn nhiều loại hợp đồng được xếp vào loại “không thông dụng”, việc có được áp dụng chế tài đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng có được áp dụng không còn là vấn đề bỏ ngỏ.
Thứ hai, BLDS cần điều chỉnh căn cứ đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng theo hướng chỉ những vi phạm nghiệm trọng, vi phạm nghĩa vụ chính của hợp đồng khiến mục đích của hợp đồng không đạt được mới áp dụng chế tài này. Hợp đồng được giao kết để thực hiện trên cớ sở thiện trí của các bên vì mục đích nhất định, tránh vì những vi phạm nhỏ mà dẫn đến việc lạm dụng chế tài đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng làm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng.
Thứ ba, BLDS không quy định rõ việc áp dụng chế tài đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng có hay không dẫn tới làm chấm dứt hiệu lực của các điều khoản quy định về thỏa thuận phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và thỏa thuận về giải quyết tranh chấp. Các nội dung thỏa thuận này nếu không trái luật vẫn cần được thừa nhận, thực hiện và áp dụng. Việc quy định tại khoản 3 Điều 426 “hợp đồng chấm dứt từ thời điểm bên kia nhận được thông báo chấm dứt” là bất hợp lý, nếu hiểu theo nghĩa chung thì đã làm chấm dứt cả hiệu lực của các thỏa thuận hợp pháp về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và giải quyết tranh chấp.
Thứ tư, quy định “bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán” không đảm bảo tính bao quát và hợp lý khi cần phân biệt “ đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ” và thực hiện “ đã thực hiện một phần nghĩa vụ”. Quy định chung chung này có thể dẫn đến cách hiểu một bên chưa thực hiện hết và đẩy đủ nghĩa vụ đã yêu cầu bên kia thanh toán. Đồng thời, BLDS cũng không quy định rõ phải thanh toán khoản gì. Theo lẽ công bằng, chỉ được thanh toán căn cứ vào mức thực hiện nghĩa vụ thực tế, tức thực hiện đến đâu thì bên thực hiện được thanh toán đến đó. Do đó, khoản thanh toán được xác định là “giá trị phần nghĩa vụ đã thực hiện”.
Thứ năm, BLDS chưa quy định trách nhiệm của bên áp dụng chế tài đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng nhưng không đủ căn cứ pháp lý và thực tế, đồng thời có thể gây thiệt hại cho bên bị áp dụng chế tài.
Trong khi BLDS còn rất hạn chế khi quy định về chế tài đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, với cùng bản chất như đã nêu, LTM 2005 tiến bộ hơn khi dành riêng hai điều luật (Điều 310 và Điều 311) quy định về định nghĩa, căn cứ áp dụng và hậu quả pháp lý về chế tài này, song sử dụng với tên gọi khác là chế tài “đình chỉ thực hiện hợp đồng”. Theo quy định tại Điều 310, chế tài đình chỉ thực hiện hợp đồng là việc một bên chấm dứt thực hiện nghĩa vụ hợp đồng khi có đủ các căn cứ sau:
- Căn cứ thứ nhất: việc vi phạm hợp đồng không thuộc các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của LTM 2005; Luận văn: Thực trạng chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
- Căn cứ thứ hai: Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thoả thuận là điều kiện để đình chỉ hợp đồng; hoặc một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng.
Giống với cách tiếp c khi quy định về định nghĩa, căn cứ áp dụng chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng tại Điều 308 LTM 2005, căn cứ thứ hai để áp dụng chế tài đình chỉ thực hiện hợp đồng do vi phạm hợp đồng là một trong hai trường hợp sau:
- Trường hợp thứ nhất: xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thoả thuận là điều kiện để đình chỉ hợp đồng. Ở trường hợp này, các bên đã dự liệu trước các vi phạm hợp đồng có thể xảy ra và thỏa thuận ấn định trước khi xảy ra những hành vi vi phạm hợp đồng cụ thể sẽ phát sinh quyền của bên bị vi phạm được áp dụng chế tài đình chỉ thực hiện hợp đồng.
- Trường hợp thứ hai: một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng. Nội dung về vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng đã được phân tích tại tiểu mục 2.2.4 về chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng.
Theo quy định tại Điều 311 LTM 2005, hậu quả pháp lý của chế tài đình chỉ thực hiện hợp đồng bao gồm các nội dung sau:
Khi hợp đồng bị đình chỉ thực hiện thì hợp đồng chấm dứt từ thời điểm một bên nhận được thông báo đình chỉ. Thời điểm chấm dứt hiêu lực hợp đồng theo quy định tại Điều này của LTM 2005 tương tự với nội dung quy định tại khoản 3 Điều 426 BLDS 2005. Về điểm này, tác giả cho rằng cả LTM 2005 và BLDS 2005 đã đảm bảo sự thống nhất, xác định được một thời điểm hợp lý và thỏa đáng nhất. Tuy nhiên, cả hai luật chưa có quy định rõ hơn về phương thức thông báo, phương thức xác định khi nào được coi bên vi phạm đã nhận được thông báo, dẫn đến hệ quả việc xác định thời điểm có thể bị hiểu theo nhiều cách khác nhau, mang nặng tính quan điểm của mỗi bên, dẫn đến tiềm ẩn tranh chấp.
Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ hợp đồng. Do hợp đồng bị chấm dứt hiệu lực nên đồng nghĩa các nghĩa vụ của hợp đồng dù đã hay chưa thực hiện cũng đề bị chấm dứt.
Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán hoặc thực hiện nghĩa vụ đối ứng. Tại điểm này, nhà làm luật lại bỏ ngỏ việc xác định phải thanh toán khoản tiền nào, vì lý do gì, nghĩa vụ đối ứng là gì. Theo bản chất của chế tài đình chỉ thực hiện hợp đồng và đặc trưng của các hợp đồng được áp dụng chế tài này, tác giả cho rằng việc thanh toán được hiểu là việc bên bị vi phạm hợp đồng yêu cầu bên vi phạm thanh toán giá trị phần quyền đã được hưởng trên cơ sở bên bị vi phạm hợp đồng đã thực hiện các nghĩa vụ nhất định đối với bên vi phạm hợp đồng. Việc thực hiện nghĩa vụ đối ứng để bù trừ nghĩa vụ với giá trị phần quyền mà bên vi phạm hợp đồng đã được hưởng trên cơ sở bên bị vi phạm hợp đồng đã thực hiện các nghĩa vụ nhất định đối với bên vi phạm hợp đồng.
- Bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của LTM 2005.
2.7 Các điểm mới về chế tài đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng theo quy định trong BLDS 2015 Luận văn: Thực trạng chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
BLDS 2015 có điều chỉnh quy định về đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng tại Điều 428 với nhiều điểm mới khắc phục cơ bản được các hạn chế, bất cập của BLDS 2005 về chế tài đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng. Các điểm mới của BLDS 2015 bao gồm:
Thứ nhất, việc áp dụng chế tài đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng sẽ “không phải bồi thường thiệt hại” (theo khoản 1 Điều 428). Việc quy định rõ việc loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại đã góp phần giúp bên bị vi phạm hợp đồng có thể “yên tâm hơn và mạnh dạn” áp dụng chế tài này để bảo về quyền lợi hợp pháp của mình, không sợ bị phản bác phải bồi thường thiệt hại do làm hợp đồng bị chấm dứt hiệu lực. Tuy nhiên, BLDS 2015 có bổ sung quy định trách nhiệm của bên áp dụng sai chế tài đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng. Cụ thể, trường hợp việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng không có căn cứ thì bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng được xác định “là bên vi phạm nghĩa vụ” và phải thực hiện trách nhiệm dân sự theo quy định của BLDS 2015 và luật khác có liên quan do không thực hiện đúng nghĩa vụ trong hợp đồng (theo khoản 5 Điều 428 BLDS 2015).
Thứ hai, bổ sung căn cứ áp dụng chế tài đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng gồm: (1) bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trong hợp đồng; hoặc (2) các bên có thỏa thuận; hoặc (3) pháp luật có quy định. Trong trường hợp hợp đồng cũng như pháp luật không có quy định về căn cứ áp dụng chế tài đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, một bên có quyền áp dụng chế tài khi bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trong hợp đồng là đã tạo thêm sự hợp lý để bảo vệ quyền lợi cho bên bị vi phạm đối với các vi phạm được coi là “vi phạm nghiêm trọng” – là việc không thực hiện đúng nghĩa vụ của một bên đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng (Khoản 2 Điều 423 BLDS 2015). Ngoài ra, đối với các hợp đồng “không thông dụng” không được BLDS 2015 quy định, căn cứ áp dụng dựa trên “vi phạm nghiêm trọng” đã tạo ra nguyên t chung để áp dụng khi cần thiết đối với các hợp đồng này. Luận văn: Thực trạng chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
Thứ ba, quy định rõ ràng và hợp lý về hậu quả pháp lý ở hai điểm sau: (1) Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ, trừ thỏa thuận về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và thỏa thuận về giải quyết tranh chấp; và (2) Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán phần nghĩa vụ đã thực hiện. Việc loại trừ làm chấm dứt các điều khoản “thỏa thuận về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và thỏa thuận về giải quyết tranh chấp” đã bổ khuyết cho lỗ hổng của BLDS 2005. BLDS 2015 cũng quy định rõ được bên đã thực hiện nghĩa vụ chỉ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán đối với phần nghĩa vụ “đã thực hiện”.
Thứ tư, bổ sung quy định bên bị thiệt hại do vi phạm hợp đồng được quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại. Theo điểm mới này, bên bị vi phạm có thể áp dụng chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại kèm theo chế tài đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng khi có thiệt hại xảy ra.
- Chế tài hủy bỏ hợp đồng
Khi các bên thương thảo tiến tới giao kết hợp đồng, các bên đều mong muốn hợp đồng được thực hiện đầy đủ nhằm đạt được mục đích giao kết. TS. Nguyễn Ngọc Khánh đã từng viết “Xét thuần túy về mặt lý thuyết, các bên không bao giờ mong muốn tự ràng buộc với hợp đồng nếu như ngay tại thời điểm giao kết họ nhìn thấy khả năng hợp đồng đã có hiệu sẽ bị hủy bỏ trong tương lai”[16, tr399]. Nhận định này hoàn toàn hợp lý, bởi hợp đồng được lập ra để thực hiện, không phải để hủy bỏ hay đình chỉ. Tuy nhiên, đối với trường hợp hợp đồng bị vi phạm nghiêm trọng theo thỏa thuận hợp đồng hoặc theo luật định, có thiệt hại hoặc nguy cơ thiệt hại lớn, việc tiếp tục thực hiện hợp đồng không còn ý nghĩa cho các bên, hủy bỏ hợp đồng là giải pháp hữu hiệu để giải thoát các bên khỏi quan hệ pháp lý hợp đồng, bên có lỗi khiến hợp đồng bị hủy bỏ phải bồi thường thiệt hại. Việc yêu cầu hủy bỏ hợp đồng là quyền của bên bị vi phạm khi có vi phạm hợp đồng là căn cứ để hủy b theo thỏa thuận hoặc theo luật định. Do vậy, hủy bỏ hợp đồng được quy định là một trong các chế tài được áp dụng đối với vi phạm hợp đồng nói chung và hợp đồng song vụ nói riêng.
Cần phân biệt giữa chế tài hủy bỏ hợp đồng với chế tài đình chỉ thực hiện hợp đồng (hay đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng). Tiêu chí cơ bản để ph biệt là hậu quả pháp lý của mỗi chế tài. Đối với chế tài hủy bỏ hợp đồng, hợp đồng bị chấm dứt và hợp đồng được coi không có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết, các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, bên có lỗi làm cho hợp đồng bị hủy phải bồi thường thiệt hại nếu có. Trong khi đó, nếu áp dụng chế tài đình chỉ thực hiện hợp đồng, hiệu lực của hợp đồng bị chấm dứt kể từ thời điểm bên vi phạm nhận được thông báo chấm dứt từ bên bị vi phạm theo đúng căn cứ thỏa thuận và luật định, các bên không phải tiếp tục thực hiện hợp đồng, bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu thanh toán giá trị nghĩa vụ đã thực hiện, bên vi phạm phải bồi thường thiệt hại nếu có. Do làm cho hợp đồng bị chấm dứt từ thời điểm giao kết nên chế tài hủy bỏ hợp đồng không thường dùng cho các hợp đồng mà mỗi bên có nghĩa vụ thực hiện liên tục hoặc theo định kỳ với nhau. Bởi lẽ, mỗi bên đã được hưởng những lợi ích nhất định khi hợp đồng được thực hiện. Nếu hợp đồng bị hủy, vấn đề “hoàn trả cho nhau những gì đã nhận” là không cần thiết cũng như khó thực hiện. Ví dụ, hợp đồng thuê nhà đã được thực hiện một thời gian, nếu áp dụng chế tài hủy bỏ hợp đồng khi có vi phạm xảy ra thì việc hoàn trả cho nhau những gì đã nhận sẽ rất khó thực hiện cũng không đảm bảo lợi ích cho mỗi bên. Trên cơ sở so sánh và phân biệt rõ giữa chế tài hủy bỏ hợp đồng với chế tài đình chỉ hợp đồng, các bên có thể cân nhắc lựa chọn, dự liệu giải pháp tối ưu là hủy bỏ hay đình chỉ khi có vi phạm xảy ra.
Việc hợp đồng bị hủy bỏ cũng cần phân biệt với hợp đồng bị vô hiệu. Do hậu quả pháp lý của hủy bỏ hợp đồng và hợp đồng bị vô hiệu tương tự nhau nên nhiều người bị nhầm lẫn khi sử dụng, áp dụng pháp luật. Hủy bỏ hợp đồng là một chế tài áp dụng đối với vi phạm hợp đồng trong quá trình thực hiện hợp đồng đã có hiệu lực pháp luật. Trong khi đó, hợp đồng bị vô hiệu là trường hợp hợp đồng không có đủ các yếu tố cần và đủ để làm phát sinh hiệu lực pháp lý. Việc phân biệt được hủy bỏ hợp đồng và hợp đồng bị vô hiệu cũng sẽ góp phần xác định đúng các căn cứ pháp lý và thực tế để áp dụng chế tài hủy bỏ hợp đồng khi có vi phạm hợp đồng xảy ra. Luận văn: Thực trạng chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
Có điểm giống với chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại ở tính phổ bi, chế tài hủy bỏ hợp đồng cũng đã và đang được ghi nhận trong pháp luật của nhiều nước trên thế giới. Theo quy định tại Điều 450 BLDS Liên bang Nga, nếu có vi phạm nghiêm trọng hợp đồng xảy ra thì bên bị vi phạm có thể yêu cầu tòa án quyết định hủy bỏ hợp đồng. Theo quy định tại Điều 541 BLDS Nhật Bản, khi một bên vi phạm hợp đồng do không thực hiện nghĩa vụ, mặc dù đã áp dụng chế tài buộc thực hiện hợp đồng kèm theo gia hạn thực hiện nhưng bên vi phạm vẫn không thực hiện, bên bị vi phạm có thể áp dụng chế tài hủy bỏ hợp đồng. Ở Anh và Hoa Kỳ, luật và án lệ có ghi nhận hủy bỏ hợp đồng là một trong ba chế tài được áp dụng đối với vi phạm hợp đồng như đã nêu tại tiểu mục 1.1.2 của Luận văn này. Bộ nguyên tắc của UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế và Công ước viên năm 1980 cũng quy định về chế tài hủy bỏ hợp đồng cùng với các chế tài khác là yêu cầu bồi thường thiệt hại và buộc thực hiện đúng hợp đồng.
2.9 Chế tài hủy bỏ hợp đồng theo quy định trong BLDS 2005 và LTM 2005
BLDS 1995 cũng như BLDS 2005 đều có nhiều điều khoản quy định về chế tài hủy bỏ hợp đồng. BLDS 2005 có dành riêng Điều 2005 quy định về hủy bỏ hợp đồng dân sự tại Điều 425, có đưa ra căn cứ áp dụng và hậu quả pháp lý. Giống với việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng tại Điều 426 BLDS 2005, việc hủy bỏ hợp đồng cũng được viện dẫn áp dụng khi các bên đã thoả thuận hoặc pháp luật có quy định (khoản 1 Điều 425 BLDS 2005). Theo quy định tại Điều 425, căn cứ áp dụng hủy bỏ hợp đồng gồm:
Thứ nhất, có vi phạm hợp đồng xảy ra. BLDS 2005 không có quy định chung về đối với những vi phạm nào sẽ được hủy bỏ hợp đồng. Chỉ cần có vi phạm hợp đồng và thỏa mãn các căn cứ khác thì bên bị vi phạm có thể áp dụng được chế tài hủy bỏ hợp đồng. Đối với hợp đồng mua bán tài sản, theo quy định tại Điều 435, Điều 436, Điều 437 Điều 442 và Điều 443 BLDS 2005, nếu bên bán vi phạm hợp đồng do vi phạm nghĩa vụ giao vật đúng số lượng, đồng bộ, chủng loại, cung cấp thông tin và hướng dẫn cách sử dụng, bảo đảm quyền sở hữu của bên mua đối với tài sản mua bán, bên mua có thể hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại. Đối với hợp đồng gia công, theo quy định tại Điều 550 BLDS 2005, nếu bên gia công vi phạm nghĩa vụ về chất lượng sản phẩm gia công, bên thuê gia công có thể áp dụng chế tài hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại. Qua các quy định viện dẫn, bên bị vi phạm được áp dụng chế tài hủy bỏ hợp đồng đố với các vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ, trừ trường hợp quy định tại điể c khoản 2 Điều 435 BLDS 2005 (bên mua được hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu bên bán giao ít hơn số lượng đã thoả thuận) được coi là không đáng quan trọng. Với quy định chưa rõ tại phần chung về hợp đồng và chưa thống nhất trong một số quy định rải rác về hợp đồng thông dụng, BLDS 2005 được đánh giá chưa thể hiện rõ được nội dung và mức độ vi phạm hợp đồng như nào thì được áp dụng chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại, đặc biệt còn bỏ ngỏ đối với các hợp đồng “không thông dụng”. Luận văn: Thực trạng chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
Thứ hai, các bên có thỏa thuận việc vi phạm nghĩa vụ cụ thể của hợp đồng là căn cứ viện dẫn áp dụng chế tài hủy bỏ hợp đồng; hoặc mặc dù không có thỏa thuận nhưng pháp luật có quy định được áp dụng chế tài này. Dựa trên nguyên tắc tự do thỏa thuận, theo tinh thần quy định tại BLDS 2005, các bên có thể thỏa thuận việc vi phạm một hoặc một số nghĩa vụ nhất định của hợp đồng hoặc vi phạm bất cứ nghĩa vụ nào của hợp đồng là căn cứ viện dẫn áp dụng chế tài hủy bỏ hợp đồng. Ngoài ra, rải rác trong phần quy định về các hợp đồng thông dụng, BLDS 2015 có quy định việc áp dụng chế tài hủy bỏ hợp đồng cùng với chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Thứ ba, vi phạm hợp đồng không thuộc trường hợp được miễn trách nhiệm.
Thứ tư, hợp đồng bị vi phạm không thuộc trường hợp: hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba và bên thứ ba không đồng ý cho hủy bỏ hợp đồng (Điều 421 BLDS).
Theo quy định tại khoản 2 Điều 425 BLDS 2005, khi áp dụng chế tài hủy bỏ hợp đồng, bên bị vi phạm hợp đồng cần phải thông báo ngay cho bên vi phạm hợp đồng về việc hủy bỏ hợp đồng, nếu không thông báo dẫn đến gây thiệt hại, bên hủy bỏ hợp đồng phải bồi thường thiệt hại. Quy định của BLDS 2005 không làm rõ được thời điểm hủy hợp đồng có hiệu lực là thời điểm bên vi phạm hợp đồng ra thông báo hủy hợp đồng hay thời điểm bên vi phạm hợp đồng nhận được thông báo. Việc xác định thời điểm có hiệu lực của việc hủy bỏ hợp đồng có ý nghĩa pháp lý rất quan trọng, đặc biệt đối với hợp đồng có giá trị lớn hoặc các bên có khoảng cách địa lý xa nhau. Mặc dù, BLDS 2005 có quy định việc bên áp dụng chế tài không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường nhưng không đảm bảo tính khả thi, bởi nếu không ra thông báo, bên bị vi phạm nghĩa vụ không thể thể hiện được ý chí về việc hủy bỏ hợp đồng đối với bên kia và ngược lại bên kia cũng không có căn cứ chính thức để biết hợp đồng bị hủy bỏ.
Về hậu quả pháp lý của chế tài hủy bỏ hợp đồng, theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 425 BLDS 2005, khi hợp đồng bị hủy bỏ thì hậu quả pháp lý bao gồm:
Hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết. Hậu quả pháp lý này giống với trường hợp hợp đồng bị vô hiệu.
Các bên phải hoàn trả cho nhau tài sản đã nhận, nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải trả bằng tiền. Theo hậu quả pháp lý này, dường như nhà làm luật định hướng: (i) chỉ áp dụng chế tài hủy bỏ hợp đồng đối với các hợp đồng có nghĩa vụ bàn giao tài sản, tức các giao dịch liên quan đến tài sản dẫn đến tài sản phải bàn giao; (ii) không áp dụng đối với các hợp đồng không có nghĩa vụ bàn giao tài sản, điển hình là hợp đồng dịch vụ thực hiện một công việc nào đó. Có quan điểm khác lại cho rằng, nhà làm luật BLDS 2005 bỏ ngỏ quy định về hậu quả pháp lý đối với hợp đồng không có nghĩa vụ bàn giao tài sản; hệ lụy sẽ khó trả lời nếu hợp đồng không có nghĩa vụ bàn giao tài sản khi bị vi phạm thì có được áp dụng chế tài hủy bỏ hợp đồng không và hậu quả pháp lý sẽ như thế nào. Tác giả cho rằng, dưới góc độ thực tế, chế tài hủy bỏ hợp đồng được thiết kế dùng cho những hợp đồng có nghĩa vụ bàn giao tài sản; đối với hợp đồng không có nghĩa vụ bàn giao tài sản, thường có đối tượng là công việc phải thực hiện, sẽ áp dụng chế tài đình chỉ hợp đồng sẽ hợp lý và khả thi hơn.
Bên có lỗi trong việc hợp đồng bị hủy bỏ phải bồi thường thiệt hại. Hậu quả pháp lý này được hiểu bên vi phạm hợp đồng phải bồi thường thiệt hại xảy ra và bên bị vi phạm có quyền áp dụng chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại kèm theo chế tài hủy bỏ hợp đồng. Luận văn: Thực trạng chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
So sánh với BLDS 2005 với các quy định còn hạn chế, LTM 2005 có nhiều quy định cụ thể chi tiết hơn về phân loại, căn cứ áp dụng, hậu quả pháp lý và nghĩa vụ thông báo, cụ thể như sau:
- Thứ nhất, về phân loại chế tài hủy bỏ hợp đồng.
Căn cứ vào phạm vi hủy bỏ nội dung hợp đồng, trong khi BLDS 2005 chỉ có một loại là hủy bỏ toàn bộ hợp đồng thì LTM 2005 quy định rõ hai loại hủy bỏ hợp đồng gồm: (1) hủy bỏ toàn bộ hợp đồng; và (2) hủy bỏ một phần hợp đồng (Điều 312 LTM 2005). Hủy bỏ toàn bộ hợp đồng là việc bãi bỏ hoàn toàn việc thực hiện tất cả các nghĩa vụ hợp đồng đối với toàn bộ hợp đồng. Hủy bỏ một phần hợp đồng là việc bãi bỏ thực hiện một phần nghĩa vụ hợp đồng, các phần còn lại trong hợp đồng vẫn còn hiệu lực. Cách tiếp cận và phân loại phạm vi hủy bỏ hợp đồng trong LTM 2005 so với BLDS 2005 được đánh giá có tính tiến bộ hơn, sáng tạo hơn, đã tạo ra cho bên bị vi phạm hợp đồng có thể chọn ra giải pháp hợp lý nhất để xử lý vi phạm hợp đồng. Họ có thể thỏa thuận và áp dụng việc hủy bỏ hợp đồng khi nào cần thiết phải toàn bộ và khi nào cần thiết chỉ cần hủy bỏ một phần. Đối với các hợp đồng trong thương mại khi bị vi phạm chỉ cần thiết hủy bỏ một phần sẽ bảo đảm quyền lợi hơn cho các bên so với BLDS 2005 chỉ cho hủy bỏ toàn bộ, điển hình là các hợp đồng có đối tượng nghĩa vụ phân chia được và thực hiện thành nhiều lần.
Theo quy định tại Điều 313 LTM 2005, nhà làm luật quy định rõ việc áp dụng chế tài hủy bỏ hợp đồng trong trường hợp giao hàng, cung ứng dịch vụ từng phần như sau: (1) trường hợp có thoả thuận về giao hàng, cung ứng dịch vụ từng phần, nếu một bên không thực hiện nghĩa vụ của mình trong việc giao hàng, cung ứng dịch vụ và việc này cấu thành một vi phạm cơ bản đối với lần giao hàng, cung ứng dịch vụ đó thì bên kia có quyền tuyên bố huỷ bỏ hợp đồng đối với lần giao hàng, cung ứng dịch vụ; (2) trường hợp một bên không thực hiện nghĩa vụ đối với một lần giao hàng, cung ứng dịch vụ là cơ sở để bên kia kết luận rằng vi phạm cơ bản sẽ xảy ra đối với những lần giao hàng, cung ứng dịch vụ sau đó thì bên bị vi phạm có quyền tuyên bố huỷ bỏ hợp đồng đối với những lần giao hàng, cung ứng dịch vụ sau đó, với điều kiện là bên đó phải thực hiện quyền này trong thời gian hợp lý; (3) trường hợp một bên đã tuyên bố huỷ bỏ hợp đồng đối với một lần giao hàng, cung ứng dịch vụ thì bên đó vẫn có quyền tuyên bố huỷ bỏ hợp đồng đối với những lần giao hàng, cung ứng dịch vụ đã thực hiện hoặc sẽ thực hiện sau đó nếu mối quan hệ qua lại giữa các lần giao hàng dẫn đến việc hàng hoá đã giao, dịch vụ đã cung ứng không thể được sử dụng theo đúng mục đích mà các bên đã dự kiến vào thời điểm giao kết hợp đồng.
Thứ hai, theo quy định tại khoản 4 Điều 312 LTM 2005, căn cứ áp dụng chế tài hủy bỏ hợp đồng gồm:
- Vi phạm hợp đồng không thuộc trường hợp miễn trách nhiệm theo quy định tại Điều 294 LTM.
- Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thoả thuận là điều kiện để hủy bỏ hợp đồng; hoặc một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng. Luận văn: Thực trạng chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
Các tiếp cận và quy định các căn cứ áp dụng chế tài hủy bỏ hợp đồng có điểm giống với chế tài đình chỉ thực hiện hợp đồng đuộc quy định tại Điều 310 LTM 2005. Theo quy định này, chế tài hủy bỏ hợp đồng chỉ áp dụng đối với hai loại vi phạm sau: (1) vi phạm hơp đồng đối với các nghĩa vụ được các bên thỏa thuận rõ là căn cứ hủy bỏ hợp đồng (nguyên tắc có thỏa thuận); và các vi phạm cơ bản của hợp đồng.
Trừ nội dung về hủy bỏ hợp đồng trong trường hợp giao hàng, cung ứng dịch vụ từng phần đã được nêu theo quy định tại Điều 313 LTM 2005, theo quy định tại Điều 314, hậu quả pháp lý của việc áp dụng chế tài hủy bỏ hợp đồng song vụ trong thương mại bao gồm:
Thứ nhất, sau khi huỷ bỏ hợp đồng, hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết, các bên không phải tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ đã thoả thuận trong hợp đồng, trừ thỏa thuận về các quyền và nghĩa vụ sau khi huỷ bỏ hợp đồng và về giải quyết tranh chấp. Ở điểm này, quy định của LTM 2005 đã chi tiết hơn, cụ thể hơn, thừa nhận rõ căn cứ pháp lý để các bên tự do thỏa thuận “các quyền và nghĩa vụ sau khi huỷ bỏ hợp đồng và về giải quyết tranh chấp”, so với BLDS 2005 còn thiếu vắng quy định này, rất sơ sài khi chỉ dừng lại ở nội dung “hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết”.
Thứ hai, các bên có quyền đòi lại lợi ích do việc đã thực hiện phần nghĩa vụ của mình theo hợp đồng; nếu các bên đều có nghĩa vụ hoàn trả thì nghĩa vụ của họ phải được thực hiện đồng thời; trường hợp không thể hoàn trả bằng chính lợi ích đã nhận thì bên có nghĩa vụ phải hoàn trả bằng tiền. Khác với quy định bó hẹp “hoàn trả cho nhau tài sản đã nhận” tại khoản 3 Điều 425 BLDS 2005, LTM 2005 đã quy định xử lý các quyền, nghĩa vụ của các bên do hợp đồng hủy bỏ ở mức độ bao quát hơn, chi tiết hơn. Cụ thể, theo quy định tại khoản 2 Điều 314 LTM 2005, đối tượng hoàn trả là “các lợi ích” do được thực hiện nghĩa vụ. Các lợi ích ở đây được hiểu bao gồm cả các lợi ích về vật chất và lợi ích về tinh thần, khác với quan điểm chỉ là tài sản thuộc lợi ích vật chất của BLDS 2005. Theo quy định này, nếu có phần nghĩa vụ, nghĩa vụ nhất định đã được thực hiện dẫn đến bên kia được hưởng lợi ích thì bên thực hiện nghĩa vụ có quyền đòi lại các “lợi ích” mà bên kia đã được hưởng. Nếu các bên đều có nghĩa vụ hoàn trả thì thời điểm thực hiện là “đồng thời”, tức phải cùng thực hiện nghĩa vụ hoàn trả đối với nhau, “sự đồng thời” nên hiểu ở mức tương đối, tức bên này thực hiện hoàn trả thì bên kia cũng thực hiện nghĩa vụ hoàn trả ngay, không được chậm trễ. Trong trường hợp “lợi ích đã nhận” không thể hoàn trả, đặc biệt các lợi ích về tinh thần, ví dụ như được phục vụ một dịch vụ chăm sóc sức khỏe, làm đẹp, giải trí, …thì bên có nghĩa vụ hoàn trả có thể quy đổi thành tiền để hoàn trả. Tuy nhiên, ở điểm này, ở cả khoản 3 Điều 425 BLDS 2005 và khoản 2 Điều 314 BLDS chưa nêu ra được nguyên tắc quy đổi thành tiền, bởi vậy khi sử dụng, áp dụng dễ gây mâu thuẫn các hiểu dẫn đến tranh chấp, nếu đưa ra xét xử phải phụ thuộc vào quan điểm của thẩm phán.
Thứ ba, bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của LTM 2005.
2.10 Các điểm mới về chế tài hủy bỏ hợp đồng theo quy định trong BLDS 2015
So với các chế tài khác, chế tài hủy bỏ hợp đồng được đánh giá là chế tài có nhiều điểm mới nhất trong BLDS 2015. Các điểm mới đã đưa ra cách tiếp cận sâu, cụ thể, phản ánh được đúng yêu cầu của thực tế và bảo đảm quyền lợi tối đa cho bên bị vi phạm. Các điểm mới được phân tích gồm: Luận văn: Thực trạng chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
Thứ nhất, về căn cứ áp dụng, theo quy định tại Điều 423, bên bị vi phạm hợp đồng có quyền hủy bỏ hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi thuộc một trong ba trường hợp sau đây: (1) vi phạm hợp đồng là điều kiện hủy bỏ mà các bên đã thỏa thuận; (2) vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng; (3) trường hợp khác do luật quy định. Việc bổ sung căn cứ vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng của chế tài này giống với điểm mới trong chế tài đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng tại khoản 1 Điều 428 BLDS 2015. Với cùng cách lý giải, khi có vi phạm nghiêm trọng hợp đồng xảy ra (là việc không thực hiện đúng nghĩa vụ của một bên đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng), bên bị vi phạm có đủ cơ sở để yêu cầu hủy bỏ hợp đồng, làm chấm dứt sự tiếp tục vi phạm để bảo vệ quyền lợi của mình. Về căn cứ “trường hợp khác do luật quy định”, có thể được viện dẫn ngay các trường hợp gồm:
Áp dụng chế tài hủy bỏ hợp đồng đối với vi phạm hợp đồng do chậm thực hiện nghĩa vụ. Theo quy định tại Điều 424, (1) trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ mà bên có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trong một thời hạn hợp lý nhưng bên có nghĩa vụ không thực hiện thì bên có quyền có thể hủy bỏ hợp đồng, tức sau khi đã áp dụng chế tài yêu cầu thực hiện đúng hợp đồng nhưng không có hiệu quả; (2) trường hợp do tính chất của hợp đồng hoặc do ý chí của các bên, hợp đồng sẽ không đạt được mục đích nếu không được thực hiện trong thời hạn nhất định mà hết thời hạn đó bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ thì bên kia có quyền hủy bỏ hợp đồng, tức việc tiếp tục hợp đồng là vô nghĩa.
Áp dụng chế tài hủy bỏ hợp đồng đối với vi phạm hợp đồng do bên vi phạm không còn khả năng thực hiện hợp đồng. Theo quy định tại Điều 425, trường hợp bên có nghĩa vụ không thể thực hiện được một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình làm cho mục đích của bên có quyền không thể đạt được thì bên có quyền có thể hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại. Với trường hợp này, khi bên vi phạm hợp đồng “không còn khả năng thực hiện hợp đồng” thì việc tiếp tục duy trì hợp đồng chỉ gây ra thêm thiệt hại cho cả hai bên, cần giải tỏa các bên khỏi việc thưc hiện hợp đồng qua chế tài hủy bỏ. Tuy nhiên, khi bị hủy bỏ, bên vi phạm hợp đồng vẫn phải gánh chịu trách nhiệm theo yêu cầu áp dụng chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại của bên bị vi phạm nếu có thiệt hại do vi phạm hợp đồng xảy ra.
Áp dụng chế tài hủy bỏ hợp đồng đối với vi phạm hợp đồng do một bên làm mất, làm hư hỏng tài sản là đối tượng của hợp đồng. Theo quy định tại Điều 426, trường hợp một bên làm mất, làm hư hỏng tài sản là đối tượng của hợp đồng mà không thể hoàn trả, đền bù bằng tài sản khác hoặc không thể sửa chữa, thay thế bằng tài sản cùng loại thì bên kia có quyền hủy bỏ hợp đồng. Đối với trường hợp này, khi bên có nghĩa vụ bàn giao tài sản vi phạm nghĩa vụ bàn giao tài sản do đã làm mất, làm hư hỏng tài sản là đối tượng của hợp đồng mà không thể hoàn trả, đền bù bằng tài sản khác hoặc không thể sửa chữa, thay thế bằng tài sản cùng loại thì việc buộc thực hiện đúng hợp đồng là vô nghĩa, mục đích giao kết của hợp đồng không thể đạt được. Vì vậy, nhà làm luật quy định rõ đây là căn cứ áp dụng chế tài hủy bỏ hợp đồng đảm bảo tính hợp lý và cần thiết. Hậu quả pháp lý khi áp dụng trong trường hợp này là phát sinh nghĩa vụ bồi thường sau: Bên vi phạm phải bồi thường bằng tiền ngang với giá trị của tài sản bị mất, bị hư hỏng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc theo quy định về miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng (tại khoản 2, khoản 3 Điều 351) hoặc theo quy định về trường hợp bên bị vi phạm cũng có lỗi (tại Điều 363). Nghĩa vụ bồi thường này được thực hiện sẽ đảm bảo quyền lợi cho bên bị vi phạm hợp đồng.
- Thứ hai, về hậu quả pháp lý, các điểm mới gồm: Luận văn: Thực trạng chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
Giống với điểm mới trong quy định về chế tài đơn phương chấm dứt hợp đồng, nhà làm luật cũng bổ sung việc hủy bỏ hợp đồng không làm chấm dứt các điều khoản thỏa thuận về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và thỏa thuận về giải quyết tranh chấp.
Khi hợp đồng bị hủy bỏ, các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận sau khi trừ chi phí hợp lý trong thực hiện hợp đồng và chi phí bảo quản, phát triển tài sản; việc hoàn trả được thực hiện bằng hiện vật, trường hợp không hoàn trả được bằng hiện vật thì được trị giá thành tiền để hoàn trả; việc hoàn trả phải được thực hiện cùng một thời điểm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
BLDS 2005 đã có sự bất hợp lý và thiếu sót khi không đề cập đến “chi phí hợp lý trong thực hiện hợp đồng và chi phí bảo quản, phát triển tài sản”. Khi thực hiện hợp đồng, các khoản chi phí này hoàn toàn có thể phát sinh và có thể không nhỏ. Để thực hiện hợp đồng, cá bên có thể đã phải tiêu tố chi phí để thực hiện, chi phí để bảo quản và phát triển tài sản là đối tượng của hợp đồng. Nếu không trừ các chi phí này, nguyên tắc công bằng và tính khả tinh khi áp dụng sẽ không được đảm bảo. BLDS 2015 đã bổ sung có điểm mới này đã phản ánh được đúng tình hình thực tế, khắc phục được thiết sót của BLDS 2005.
Nhà làm luật cũng quy định về việc bên bị vi phạm được áp dụng chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng kèm theo chế tài hủy bỏ hợp đồng, giống với điểm mới trong hậu quả pháp lý áp dụng chế tài đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng.
Ngoài ra, nếu việc giải quyết hậu quả của việc hủy bỏ hợp đồng có liên quan đến quyền nhân thân thì phải áp dụng các quy định về quyền nhân thân trong BLDS 2015 và luật khác có liên quan. Trong thực tế, có nhiều trường hợp hợp đồng bị hủy bỏ có liên quan đến quyền nhân thân, ví dụ bí mật cá nhân, quyền đối với hình ảnh, … cần được giải quyết quyền lợi cho các bên theo quy định của pháp luật. BLDS 2015 đã bổ khuyết cho lỗ hổng của BLDS 2005 về hậu quả pháp lý của chế tài hủy bỏ hợp đồng về quyền nhân thân (nếu có).
Thứ ba, về trách nhiệm của bên áp dụng chế tài hủy bỏ hợp đồng khi không có căn cứ cần và đủ. Giống với các lý giải điểm mới về áp dụng chế tài đơn phương châm dứt thực hiện hợp đồng khi không có đủ căn cứ, hậu quả của việc áp dụng chế tài hủy bỏ hợp đồng khi không có căn cứ cần và đủ có thể xảy ra nghiêm trọng, ảnh hưởng đến quyền lợi của bên kia. Theo quy định tại khoản 5 Điều 427 BLDS 2015, trách nhiệm phải gánh chịu khi hủy bỏ hợp đồng không có căn cứ là: (1) bên hủy bỏ hợp đồng được xác định là bên vi phạm nghĩa vụ và (2) phải thực hiện trách nhiệm dân sự do không thực hiện đúng nghĩa vụ theo quy định của BLDS 2015, luật khác có liên quan. Luận văn: Thực trạng chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
- Các chế tài do các bên thỏa thuận
Với nguyên tắc tự do thỏa thuận, pháp luật luôn tôn trọng các thỏa thuận hợp pháp của các bên, trong đó có thỏa thuận về các chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ. Bên cạnh các chế tài, là các giải pháp pháp lý mà pháp luật đã quy định sẵn để các bên sử dụng hay thỏa thuận sử dụng khi có vi phạm hợp đồng nói chung và hợp đồng song vụ nói riêng xảy ra, các bên có thể thỏa thuận các chế tài khác nếu không vượt quá các giới hạn mà pháp luật quy định. BLDS 2005 cũng như BLDS 2015 không có quy định mở cụ thể về việc cho phép các bên được áp dụng các chế tài khác với các chế tài được BLDS quy định sẵn đối với vi phạm hợp đồng. Nhưng căn cứ vào nguyên tắc tự do, tự nguyên cam kết, thỏa thuận, dưới góc độ là một nội dung của hợp đồng, các chế tài được các bên thỏa thuận khác sẽ được thừa nhận nếu nằm trong giới hạn không trái với những quy định trong Bộ luật này, pháp luật liên quan và không trái đạo đức xã hội (theo Điều 4 BLDS 2005).
LTM 2005 có đưa ra quy định mở về “các biện pháp khác do các bên thỏa thuận” được áp dụng đối với vi phạm hợp đồng song vụ trong thương mại tại khoản 7 Điều 292. Theo quy định này, ngoài sáu chế tài đã được liệt kê từ khoản 1 đến khoản 6 của Điều 292 LTM 2005, các bên có thể thỏa thuận các chế tài khác trong hợp đồng để áp dụng khi có vi phạm hợp đồng xảy ra. Do có điều chỉnh cả các quan hệ thương mại có yếu tố quốc tế nên giới hạn của LTM được thể hiện cả các giới hạn về pháp luật quốc tế, cụ thể thỏa thuận của các bên không trái với: (1) các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam; (2) điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; và (3) tập quán thương mại quốc tế. Theo tinh thần của khoản 7 Điều 292 LTM 2005 thì cả ba giới hạn được thỏa mãn thì “các biện pháp khác” mới được thừa nhận áp dụng đối với vi phạm hợp đồng song vụ trong thương mại. Ở điểm này, PGS. TS Ngô Huy Cương nhận xét “Giá như sự ngăn cản chế tài bởi lý do trật tự công cộng và thuần phong Hoa Kỳ tục, chứ không phải bởi lý do trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật, điều ước quốc tế hay tập quán, thì có lẽ Điều 292, khoản 7 của LTM 2005 sẽ trở nên hoàn hảo”[04, tr412]. Việc đưa ra quy định mở là một trong các điểm rất tiến bộ của LTM 2005, tạo điều kiện để các bên phát huy sự sáng tạo, phù hợp mới sự năng động, linh hoạt của hoạt động thương mại mang tính quốc tế, đảm bảo tối đa nguyên tắc tự do ý chí và thiện chí giao kết.
2.11 Mối quan hệ giữa các các chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ Luận văn: Thực trạng chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
Với sự tồn tại của nhiều loại chế tài, theo nội dung của hợp đồng hay theo quy định của pháp luật, khi có vi phạm hợp đồng xảy ra, bên bị vi phạm có thể áp dụng một hoặc nhiều chế tài cùng lúc để bảo vệ quyền lợi của mình. Tuy nhiên, có những chế tài có tính chất loại trừ nhau, hạn chế nhau, dẫn đến không thể hoặc bị hạn chế khi cùng áp dụng. Việc làm rõ mối quan hệ giữa các chế tài có ý nghĩa quan trọng về mặt nhận thức cũng như sử dụng, áp dụng các chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ. Trong Luận văn này, các mối quan hệ cơ bản và chính yếu được phân tích sau đây.
- Quan hệ giữa chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng và các chế tài khác
Đối chiếu căn cứ áp dụng của chế tài buộc thực hiện đúng với các chế tài khác, có thể chia thành 02 nhóm quan hệ sau:
- Thứ nhất, mối quan hệ giữa chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng với chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại và chế tài phạt vi phạm.
Căn cứ áp dụng và nội dung áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng hoàn toàn độc lập với chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại và chế tài phạt vi phạm. Do đó, chế tài buộc thược hiện đúng hợp đồng có thể áp dụng độc lập, không loại trừ và không làm ảnh hưởng tới việc áp dụng chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại và chế tài phạt vi phạm. Có thể viện dẫn theo quy định tại các Điều 303, 304 và 305 BLDS 2005, tại các Điều 356 và Điều 358 BLDS 2015, ngoài việc áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, bên bị vi phạm có thể áp dụng thêm chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với các vi phạm hợp đồng. Nhà làm luật LTM 2005 đã dành nguyên một điều khoản quy định về quan hệ giữa chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng và các loại chế tài khác tại Điều 299. Theo quy định tại khoản 1 Điều 299 LTM 2005, trong thời gian áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, bên bị vi phạm có thể áp dụng chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại và chế tài phạt vi phạm.
- Thứ hai, mối quan hệ giữa chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng với các chế tài khác không bao gồm chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại và chế tài phạt vi phạm. Luận văn: Thực trạng chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
Theo khoản 1 Diều 299 LTM 2005, ngoài chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại và chế tài phạt vi phạm, bên bị vi phạm không được áp dụng cùng lúc chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng với các chế tài khác, cụ thể là các chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng, hủy bỏ hợp đồng. Cũng là điều dễ hiểu do mục đích của chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng là duy trì hiệu lực của hợp đồng, buộc các bên phải tiếp tục thực hiện hợp đồng cho đến khi đạt mục đích giao kết. Trái ngược với điều này, chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng, hủy bỏ hợp đồng lại nhằm mục đích làm cho việc thực hiện hợp đồng bị ngừng lại hay bị chấm dứt. Việc áp dụng các chế tài ngược nhau là điều vô lý về cả mặt pháp lý cũng như thực tế, nên việc nhà làm luật ghi nhận rõ giới hạn áp dụng về mối quan hệ vừa nêu là điều cần thiết, góp phần giúp các bên định hướng đúng và hợp pháp khi áp dụng. Tuy nhiên, theo tại khoản 1 Điều 299, việc quy định bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm “nhưng không được áp dụng các chế tài khác” là chưa chuẩn xác. Bởi lẽ, các chế tài khác không chỉ gồm chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng, hủy bỏ hợp đồng mà còn cả các biện pháp khác do các bên thỏa thuận (khoản 7 Điều 292). Có thể việc áp dụng các chế tài khác do các bên thỏa thuận theo quy định tại khoản 7 Điều 292 không bị mâu thuẫn với chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, nên nếu bị hạn chế sẽ gây ra sự bất hợp lý, trái với tinh thần của Điều 292 LTM 2005.
Mặc dù BLDS 2005 cũng như BLDS 2015 không có quy định rõ về điểm này, nhưng theo tinh thần của cả hai Bộ luật, khi áp dụng chế tài buộc thực hiện hợp đồng, bên bị vi phạm vẫn có thể áp dụng chế tài phạt hợp đồng và chế tài hoãn thực hiện hợp đồng (theo khoản 2 Điều 415 BLDS 2005 và khoản 2 Điều 411 BLDS 2015); tuy nhiên không được cùng áp dụng đồng thời với chế tài đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và chế tài hủy bỏ hợp đồng do mâu thuẫn về mục đích áp dụng và hậu quả pháp lý như được phân tích.
- Quan hệ giữa chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại với các chế tài phạt vi phạm và các chế tài khác
Dựa vào căn cứ và nội dung áp dụng, mối quan hệ giữa chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại với các chế tài khác cũng được chia thành hai nhóm sau:
- Thứ nhất, mối quan hệ giữa chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại với các chế tài phạt vi phạm.
Với bản chất, phạt vi phạm là một khoản bồi thường thiệt hại ấn định trước, kèm theo mục đích răn đe vi phạm. Dưới góc độ lý luận, pháp lý và thực tiễn, giữa chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại với các chế tài phạt vi phạm có mối quan hệ mật thiết, có thể dẫn đến loại trừ nhau. Theo quy định tại khoản 3 Điều 422 BLDS 2005 về thực hiện hợp đồng có thỏa thuận phạt vi phạm, áp dụng chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại với các chế tài phạt vi phạm có thể xảy ra một trong 03 trường hợp sau:
- Trường hợp thứ nhất, các bên có thỏa thuận về việc bên vi phạm hợp đồng chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại. Luận văn: Thực trạng chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
- Trường hợp thứ hai, các bên có thỏa thuận về việc bên vi phạm hợp đồng vừa phải nộp tiền phạt vi phạm vừa phải phải bồi thường thiệt hại.
- Trường hợp thứ ba, các bên không có thoả thuận về bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm hợp đồng chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm
Tác giả cho rằng, nhà làm luật quy định trường hợp thứ nhất và thường hợp thứ hai đã hợp lý, song trường hợp thứ ba không đảm bảo sự thỏa đáng. Bởi lẽ, việc dựa vào căn cứ “không có thoả thuận về bồi thường thiệt hại” để tước quyền áp dụng chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng sẽ không đảm bảo quyền lợi cho bên bị vi phạm, đặc biệt trong các tình huống sau: (1) thiệt hại thực tế lớn, lớn hơn nhiều so với khoản tiền phạt vi phạm; (2) bên bị vi phạm, nhất là bên yếu thế đã sơ xuất hoặc do hạn chế hiểu biết pháp luật đã quên, hoặc không biết việc đề nghị bổ sung quyền áp dụng chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại khi thương thỏa thảo hợp đồng, đến khi có vi phạm phải chịu thiệt hại nặng nề. Thiết nghĩ, trường hợp thứ ba nên sửa thành “nếu các bên không có thảo thuận về bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp tiền phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại cho phần thiệt hại vượt quá giá trị khoản tiền nộp phạt nếu có”. Tuy nhiên, nhà làm luật BLDS 2015 vẫn giữ nguyên quan điểm, chỉ quy định rõ thêm trường hợp các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm.
Nhà làm luật LTM 2005 có quan điểm khác như sau: “Một bên không bị mất quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với tổn thất do vi phạm hợp đồng của bên kia khi đã áp dụng các chế tài khác” (Điều 316 LTM 2005). Theo quy định này, không có bất kỳ giới hạn nào trong mối quan hệ áp dụng giữa chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại với các chế tài khác nói chung và chế tài phạt vi phạm nói riêng. Đối chiếu với BLDS 2005, có thể thấy giữa luật chung (BLDS 2005) và luật chuyên ngành (2005) có sự mâu thuẫn ở điểm này, gây ra không ít lúng túng và khó hiểu khi sử dụng, áp dụng các chế tài. Một bên hoàn toàn có thể “bám vào luật chung”, còn bên khác “khơi ra luật chuyên ngành” để bảo vệ quyền lợi của mình, dẫn đến phán quyết phụ thuộc vào quan điểm thiếu chắc chắc, thống nhất của cơ quan xét xử.
Thứ hai, mối quan hệ giữa chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại với các chế tài khác không bao gồm chế tài phạt vi phạm. Theo các quy định hiện tại của BLDS 2005, LTM 2005, ngoài chế tài phạt vi phạm, bên bị vi phạm có thể áp dụng chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại độc lập, không bị loại trừ khi áp dụng cùng với các chế tài khác. BLDS 2015 cũng đã bổ sung nhiều quy định cụ thể hơn, thể hiện rõ tính độc lập và không loại trừ nhau khi áp dụng chế tài yêu cầu bồi thường thiệt hại đồng thời với các chế tài khác, trừ quy định riêng về mối quan hệ với chế tài phạt vi phạm hợp đồng.
2.12 Các trường hợp miễn trách nhiệm đối với vi phạm hợp đồng song vụ
Nội dung cơ sở lý luận cũng như thực trạng quy định theo pháp luật ở các nước trên thế giới về các trường hợp miễn trách nhiệm đối với vi phạm hợp đồng song vụ đã được làm rõ tại Tiểu mục 1.3.1 của Luận văn này. Tại phần này, tác giả chỉ tập trung làm rõ tình trạng quy định pháp luật Việt Nam về các trường hợp miễn trách nhiệm đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
2.12.1 Các trường hợp miễn trách nhiệm đối với vi phạm hợp đồng song vụ theo quy định trong BLDS Luận văn: Thực trạng chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
Kế thừa cách tiếp cận và quy định trong BLDS 1995, BLDS 2005 có quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 308 về các trường hợp miễn trách nhiệm đối với vi phạm hợp đồng song vụ gồm 02 trường hợp sau:
Trường hợp thứ nhất: bên có nghĩa vụ không thể thực hiện được nghĩa vụ dân sự do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Ở trường hợp này, nguyên nhân “do sự kiện bất khả kháng” là cơ sở để miễn trừ trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng. Theo nguyên tắc lỗi của pháp luật dân sự Việt Nam, viện dẫn “do sự kiện bất khả kháng” đồng nghĩa chứng minh bên vi phạm hợp đồng hoàn toàn không có lỗi, lỗi suy đoán thuộc về khách quan, do vậy “không có lỗi sẽ không phải chịu trách nhiệm”. Tuy nhiên, BLDS 2005 được cho là hạn chế khi không quy định ngay định nghĩa về sự kiện bất khả kháng tại Điều 308 hay phần nào khác của Phần thứ ba – Nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự. Định nghĩa sự kiện bất khả kháng lại được tìm ra ở Chương IX quy định về Thời hiệu, theo đó được quy định tại khoản 1 Điều 161 BLDS 2005, sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép. Theo định nghĩa được BLDS 2005, sự kiện bất khả kháng được xác định gồm ba yếu tố: (1) phải là sự kiện xảy ra một cách khách quan (tức không phục thuộc vào ý chí của các bên tham gia hợp đồng); (2) sự kiện này gây ra hậu quả không thể lường trước được (các bên không nhận thức được khi giao kết hợp đồng về khả năng xảy ra sự kiện); và (3) không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép (tức mỗi bên đã thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm loại bỏ nguyên nhân gây ra sự kiện cũng như hạn chế thiệt hại do sự kiện gây ra. Tuy nhiên, trường hợp xảy ra “ sự kiện bất khả kháng” sẽ không có giá trị viện dẫn áp dụng nếu các bên “có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”. Cụ thể, nếu các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định việc xảy ra sự kiện bất khả kháng không làm giải trừ trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng thì mặc dù có sự kiện bất khả kháng xảy ra, bên bị vi phạm không được hưởng trường hợp miễn trách nhiệm do sự kiện bất khả kháng.
Trường hợp thứ hai: bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự nếu chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện được hoàn toàn do lỗi của bên có quyền. Luận văn: Thực trạng chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
Tình huống này đặt ra khi bên có nghĩa vụ thiện chí thực hiện nghĩa vụ theo cam kết, nhưng vì lý do nào đó, bên có quyền cản trở hoặc không tạo các điều kiện cần thiết để nghĩa vụ được thực hiện hay tiếp nhận nghĩa vụ. Nếu bên có quyền được xác định hoàn toàn có lỗi làm cho nghĩa vụ của hợp đồng không thể thực hiện được thì không có nguyên cớ nào để buộc bên có nghĩa vụ chịu trách nhiệm, đồng thời, bên có quyền phải tự mình chịu trách nhiệm về hậu quả do hành vi có lỗi của mình gây ra. Tuy nhiên, BLDS 2005 có lỗ hổng khi chưa có tối thiểu một quy định mang tính nguyên tắc về xác định trách nhiệm của mỗi bên khi có vi phạm hợp đồng do lỗi của cả hai bên. Theo lẽ công bằng, nếu hai bên cùng có lỗi thì đều phải chịu trách nhiệm tương ứng với phần lỗi của mình khi gây ra vi phạm hợp đồng. Đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, theo quy định Điều 617 BLDS 2005, khi người bị thiệt hại cũng có lỗi trong việc gây thiệt hại thì người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường phần thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình. Theo tinh thần phân chia trách nhiệm theo mức độ lỗi giống như Điều 617 BLDS 2005 được viện dẫn, BLDS 2005 cần bổ sung quy định phân chia trách nhiệm khi các bên cùng có lỗi gây ra vi phạm hợp đồng.
Hiện hai trường hợp miễn trách nhiệm đối với vi phạm hợp đồng song vụ theo quy đinh tại BLDS 2005 chưa bao quát được hết các tình huống thực tế cần áp dụng việc miễn trách nhiệm. Do được tự do thỏa thuận và cam kết, các bên hoàn toàn có thể thỏa thuận các trường hợp cụ thể khác được miễn trách nhiệm đối với vi phạm hợp đồng. Nếu căn cứ vào quy định hiện hành, nếu không trái với các nguyên tắc cơ bản của BLDS 2005 thì thỏa thuận ngoài hai trường hợp luật định về miễn trách nhiệm đối với vi phạm hợp đồng vẫn được thừa nhận như một nội dung hợp pháp của hợp đồng, tuy nhiên cần được luật hóa để đảm bảo cơ sở pháp lý vững chắc hơn. Ngoài ra, nhà làm luật chưa dự liệu tình huống bên vi phạm hợp đồng thực hiện hành vi vi phạm do chấp hành quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà các bên không biết trước được vào thời điểm giao kết hợp đồng. Tình huống này hoàn toàn có thể xảy ra trong môi trường pháp lý của Việt Nam còn thiếu tính ổn định và hay thay đổi chính sách, pháp luật. Thiết nghĩ, BLDS cần bổ sung thêm hai trường hợp được phân tích trên vào các trường hợp được miễn trách nhiệm đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
BLDS 2005 không quy định cụ thể nhưng theo tinh thần của Bộ luật và pháp luật về tố tụng dân sự và tố tụng trọng tài, khi đưa ra yêu cầu phản bác với bên yêu cầu áp dụng chế tài đối với vi phạm hợp đồng do thuộc trường hợp miễn trách nhiệm đối với vi phạm hợp đồng song vụ, bên bị yêu cầu áp dụng chế tài cũng có nghĩa vụ và trách nhiệm chứng minh căn cứ để áp dụng. Bên yêu cầu áp dụng trường hợp miễn trách nhiệm đối với vi phạm hợp đồng song vụ cần xác định rõ trường hợp miễn trách nhiệm thuộc trường hợp nào trong hai trường hợp được quy định trong hợp đồng và Điều 308 BLDS 2005. Trên cơ sở làm rõ trường hợp được miễn trách nhiệm cụ thể, bên yêu cầu áp dụng có thể xác định được phạm vi chứng minh, thu thập các chứng cứ cần thiết để chứng minh các căn cứ áp dụng trường hợp miễn trách nhiệm mong muốn.
LTM 2005 có điều khoản riêng quy định về miễn trách nhiệm đối với vi phạm hợp đồng. Ngoài hai trường hợp giống quy định trong BLDS 2005, LTM 2005 đã quy định thêm hai trường hợp mà tác giả đã nêu ra cần bổ sung vào BLDS. Theo quy định tại Điều 294 LTM 2005, các trường hợp được miễn trách nhiệm đối với vi phạm hợp đồng song vụ bao gồm:
Xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thoả thuận. Nội dung thỏa thuận của các bên về các trường hợp miễn trách nhiệm trong hợp đồng là một phần nội dung hợp pháp của hợp đồng, cần được tôn trọng và bảo đảm thực hiện. Tuy nhiên, khi thỏa thuận, các bên cần chú ý nội dung thỏa thuận miễn trách nhiệm không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và tập quán thương mại quốc tế theo tinh thần quy định tại khoản 7 Điều 202 LTM 2005. Luận văn: Thực trạng chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
Xảy ra sự kiện bất khả kháng. Do LTM 2005 không quy định rõ về “sự kiện bất khả kháng” nên cần áp dụng quy định chung về miễn trách nhiệm trong trường hợp xảy ra sự kiện bất khả kháng theo quy định trong BLDS 2005.
Hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia. Trường hợp này áp dụng theo quy định chung liên quan của BLDS 2005. LTM 2005 cũng giống với BLDS 2005 khi chưa quy định xem xét trách nhiệm khi cả hai bên đều có lỗi gây ra vi phạm hợp đồng.
Hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng. Ở Việt Nam, qua mỗi thời kỳ, các chính sách và pháp luật có sự điều chỉnh, thay đổi. Tính ổn định của pháp luật Việt Nam không cao, đặc biệt các thông tư hướng dẫn thi hành Nghị định, Luật thường hai đến ba năm ban hành thay thế, sửa đổi một lần, có Thông tư mới ra bị sửa đổi, thay thế khi thi hành dưới một năm. Bên cạnh pháp luật thiếu ổn đ, mỗi địa phương có các chính sách, quy hoạch ngắn, trung và dài h có thể được ban hành mới, sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế. Lĩnh vực kinh doanh thương mại thường chịu ảnh hưởng lớn khi có chính sách và pháp luật thay đổi. Do vậy, nhà làm luật quy định căn cứ “do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng” đảm bảo tính hợp lý và cần thiết, bảo đảm quyền và lợi ích cho các bên khi tham gia và thực hiện hợp đồng trong thương mại.
LTM 2005 còn quy định rõ nghĩa vụ chứng minh trường hợp miễn trách nhiệm thuộc về bên vi phạm hợp đồng (khoản 1 Điều 294 và khoản 3 Điều 295 LTM 2005). Việc quy định rõ trách nhiệm chứng minh của bên vi phạm hợp đồng là cần thiết bởi việc được miễn trách nhiệm giúp bên vi phạm hợp đồng được giải trù hậu quả pháp lý bất lợi về vật chất. Về việc thông báo và xác nhận, theo quy định tại Điều 295 LTM 2005, khi có hành vi vi phạm hợp đồng, bên vi phạm hợp đồng phải thông báo ngay bằng văn bản cho bên kia về trường hợp được miễn trách nhiệm và những hậu quả có thể xảy ra. Khi trường hợp miễn trách nhiệm chấm dứt, bên vi phạm hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết; nếu bên vi phạm không thông báo hoặc thông báo không kịp thời cho bên kia thì phải bồi thường thiệt hại. Các quy định chi tiết và cần thiết này nên sớm được bổ sung vào BLDS.
Các trường hợp miễn trách nhiệm đối với vi phạm hợp đồng song vụ theo quy định trong BLDS 2005 tiếp tục được kế thừa và quy định tương tự trong BLDS 2015. Theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 351 BLDS 2015, vi phạm nghĩa vụ hợp đồng thuộc các trường hợp sau vẫn được xác định thuộc diện miễn trách nhiệm: (1) không thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng; (2) không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền.
2.12.2 Một số vấn đề về thực trạng áp dụng các chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ theo pháp luật Việt Nam hiện hành
Việc quy định các chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ trong BLDS 2005 và LTM 2005 đã tạo cơ sở pháp lý có ý nghĩa quan trọng bảo đảm tính ràng buộc và hiệu lực của hợp đồng, ngăn ngừa các vi phạm hợp đồng, bảo vệ, bảo đảm quyền lợi của các bên khi có vi phạm hợp đồng. Trên cở sở quyền tự do, thiện chí thỏa thuận và cam kết, các bên có thể thỏa thuận việc áp dụng các chế tài đối với vi phạm hợp đồng trong hợp đồng, giúp các bên dự liệu tối đa được các tình huống xấu nhất để tìm ra hướng đi chung nhằm giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp nếu có, đặc biệt phát sinh do vi phạm hợp đồng. Nếu không có thỏa thuận, các bên hoàn toàn có thể viện dẫn các quy định của luật để áp dụng các chế tài cần thiết để bảo vệ quyền lợi của mình. Thông thường, khi có tranh chấp xảy ra do có vi phạm hợp đồng, các bên khó đạt được sự thống nhất giải quyết bằng thương lượng, họ thường tìm đến các cơ quan tài phán như tòa án, trọng tài để yêu cầu giải quyết. Trong phạm vi thẩm quyền, tòa án, trọng tài căn cứ vào thỏa thuận tr hợp đồng và luật thực định để phán quyết áp dụng các chế tài cần thiết để bảo vệ quyền lợi cho bên bị vi phạm. Việc sử dụng, áp dụng các chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ đã mang lại nhiều kết quả tích cực trong đời sống xã hội, đặc biệt trong hoạt động kinh tế. Trên cơ sở hành lang pháp lý rõ ràng, cụ thể và tiến bộ về các chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ, các bên có thể an tâm tham gia giao dịch đáp ứng nhu cầu ngày càng phong phú và đa dạng của cuộc sống, làm giàu cho cá nhân, gia đình và xã hội. Luận văn: Thực trạng chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
Bên cạnh những giá trị tích cực đem tới đời sống xã hội, cần nhìn nhận các điểm hạn chế còn tồn tại, phát sinh do chính sự hạn chế của luật thực định, trong công tác phổ biến thi hành, công tác áp dụng và thi hành pháp luật. Đề tài của Luận văn tập chung vào cơ sở lý luận và luật thực định nên tác giả sau đây đề cập đến các vấn đề pháp lý phát sinh trong quá trình sử dụng, áp dụng và thi hành luật thực định. Trong Mục 2.2 của Luận văn này, khi phân tích về các chế tài, mối quan hệ giữa các chế tài và các trường hợp miễn trách nhiệm, bên cạnh làm rõ luật thực địch, tác giả có phân tích làm rõ các hạn chế về nội dung quy định cũng như thực tế thi hành ở cả BLDS 2005 và LTM 2005, đến nay vẫn còn tồn tại trong BLDS 2015. Với số lượng hạn chế không ít, nên trong quá trình sử dụng, áp dụng và thi hành, không tránh khỏi tình trạng lúng túng, cách hiểu không thống nhất. Ngoài các hạn chế, khó khăn và vướng mắc phát sinh do hạn chế của luật thực định đã phân tích trong mỗi nội dung của Mục 2.2 Luận văn này, tác giả đưa ra thêm một số vấn đề thực tế sau đây:
2.12.3 Vấn đề mức phạt vi phạm của chế tài phạt vi phạm
Vấn đề sự khác biệt trong quy định mức phạt vi phạm hợp đồng giữa BLDS 2005 và LTM 2005 dành được nhiều sự quan tâm của các học giả cũng như những người áp dụng, thi hành pháp luật. Khi có vi phạm hợp đồng xảy ra cần áp dụng chế tài phạt vi phạm, việc xác định hợp đồng bị vi phạm là hợp đồng dân sự để áp dụng BLDS hay hợp đồng thương mại để áp dụng LTM có ý nghĩa rất quan trọng. Bởi lẽ, nếu là hợp đồng dân sự, áp dụng BLDS 2005, mức phạt vi phạm không bị giới hạn, dù mức phát cao cũng vẫn được áp dụng nếu viện dẫn các căn cứ cần và đủ. Trong khi đó, nếu xác định là hợp đồng thương mại, mức phạt bị hạn chế ở mức không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm (riêng giới hạn mức phạt vi phạm đối với hợp đồng dịch vụ giám định là không vượt quá mười lần thù lao dịch vụ giám định) theo quy định tại 301 LTM 2005. Đối với những hợp đồng trong thực tế khó được phân biệt là hợp đồng dân sự hay hợp đồng thương mại thì hậu quả pháp lý khi xác định được loại hợp đồng đối với riêng vấn đề giới hạn mức phạt vi phạm có sự khác biệt rất lớn, đặc biệt trong thực tế mức thỏa thuận phạt vi phạm thường cao. Có quan điểm cho rằng BLDS cần có quy định giới hạn giống giới hạn mức phạt trong LTM 2005 để tạo ra sự thống nhất cũng như tránh các trường hợp “sát phạt” nhau do vi phạm hợp đồng. Có quan điểm ngược lại cho rằng LTM 2005 cần sửa đổi thống nhất theo như mức phạt quy định tại BLDS 2005, theo đó để mức phạt không có giới hạn tối đa mà trao cho quyền tự do thỏa thuận của các bên. Như đã trình bày tại Tiểu mục 2.2.1.3 về chế tài phạt vi phạm, tác giả đồng tình với quan điểm thứ hai, cụ thể cần quy định thống nhất mức phạt không giới hạn như BLDS 2005 để đảm bảo tối đa quyền tự do thỏa thuận và cam kết của các bên.
Bên cạnh sự thiếu thống nhất về mức phạt giữa BLDS 2005 và LTM 2005, LTM chưa quy đinh hướng xử lý khi áp dụng chế tài phạt vi phạm trong trường hợp các bên thỏa thuận mức phạt vi phạm trên 8% giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm. Giải quyết tình huống này, theo ý kiến của các chuyên gia cũng như trong hoạt động xét xử thực tiễn, hiện có hai quan điểm xử lý trái ngược nhau. Quan điểm thứ nhất cho rằng do nội dung thỏa thuận phạt vi phạm trái với quy định tại Điều 301 LTM 2005 nên bị vô hiệu, đồng nghĩa bên bị vi phạm hợp đồng không được áp dụng chế tài này. Quan điểm thứ hai cho rằng, nếu thỏa thuận vượt quá, tòa án sẽ quyết định cho bên bị vi phạm được hưởng mức phạt vi phạm tối đa là 8% giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm. Tác giả đồng tình với quan điểm thứ hai, bởi sẽ đảm bảo sự công bằng và quyền lợi cho bên bị vi phạm, đồng thời đảm bảo cơ sở pháp lý để chế tài phạt vi phạm được áp dụng, mang lại hiệu quả răn đe và ngăn ngừa vi phạm.
2.12.4 Vấn đề áp dụng chế tài đình chỉ, hủy bỏ hợp đồng đối với vi phạm nghiệm trọng hay vi phạm nghĩa vụ cơ bản của hợp đồng Luận văn: Thực trạng chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
Theo quy định của BLDS hiện hành cũng như BLDS 2015, một bên áp dụng chế tài đơn phương chấm dứt hợp đồng và chế tài hủy bỏ hợp đồng được áp dụng đối với bên kia vi phạm hợp đồng là điều kiện hủy bỏ, đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật. Trong thực tế, có tình trạng thỏa thuận của các bên về điều kiện hủy bỏ, đơn phương chấm dứt hợp đồng là các vi phạm hợp đồng nhỏ, không gây thiệt hại đáng kể cho bên kia đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng. Điều này là bất hợp lý, bởi hợp đồng được lập ra để thực hiện nhằm đạt tới mục đích nhất định, tránh để bị chấm dứt hiệu lực vì các vi phạm không nghiêm trọng. Thiết nghĩ, BLDS cần có quy định giới hạn phạm vi các điều kiện áp dụng các chế tài làm chấm dứt hiệu lực hợp đồng (hủy bỏ hợp đồng và đơn phương chấm dứt hợp đồng) giống với quy định trong LTM 2005. Theo đó, bên bị vi phạm hợp đồng chỉ được hủy hợp đồng hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng khi bên vi phạm có hành vi vi phạm nghĩa vụ chính của hợp đồng, là vi phạm nghiêm trọng hợp đồng, dẫn đến mục đích giao kết không thể đạt được.
Hiện theo quy định tại khoản 13 Điều 3 LTM 2005, Vi phạm cơ bản là sự vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại cho bên kia đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng. Quy định này của LTM cũng chưa đảm báo tính khái quát cần thiết, bởi có thể phát sinh trường hợp vi phạm nghiêm trọng hợp đồng nhưng chưa gây thiệt hại, song đã khiến mục đích của việc giao kết hợp đồng không thể đạt được. Do đó, không nên chỉ căn cứ xảy ra thiệt hại để xác định căn cứ để hủy bỏ hay đơn phương chấm dứt (đình chỉ) thực hiện hợp đồng. Cả BLDS và LTM cần thống nhất sửa đổi theo hướng chế tài hủy bỏ hợp đồng và đơn phương chấm dứt (đình chỉ) thực hiện hợp đồng chỉ áp dụng đối với các vi phạm nghiệm trọng theo thỏa thuận hoặc theo luật định; vi phạm nghiêm trọng được hiểu là vi phạm nghĩa vụ chính của hợp đồng gây thiệt hại hoặc sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho bên kia và dẫn đến mục đích giao kết hợp đồng không thể đạt được.
2.12.5 Vấn đề áp dụng án lệ về các chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ
Với số lượng hạn chế của luật thực định không ít, các quy định còn ở mức chung chung, chưa đảm bảo sự khái quát cao, việc sử dụng, áp dụng và thi hành trong thực tiễn gặp nhiều trở ngại. Khi áp dụng vào thực tế, không tránh khỏi các cách hiểu khác nhau. Khi tranh chấp xảy ra, vì bảo vệ lợi ích của mình, mỗi bên đưa ra các cách hiểu có lợi cho mình, tìm đủ các căn cứ biện minh ngay cả khi thực tế có vi phạm. Tòa án địa phương hay trọng tài có thẩm quyền là người ở giữa cầm cân nảy mực còn nhiều khi gặp phải lúng túng buộc phải xin ý kiến cấp trên hay tự xử theo quan điểm riêng. Hệ quả, kết quả giải quyết việc áp dụng chế tài đối với vi phạm hợp đồng nói riêng và tranh chấp do vi phạm hợp đồng nói chung bị lệ thuộc vào quan điểm của thẩm phán, chưa kể đến “các cám dỗ từ mặt trái của đồng tiền”. Các lỗ hổng, hạn chế của luật cần được bổ khuyết bằng các án lệ, là các hình mẫu xét xử để tăng cường cách hiểu và xét xử thống nhất. Chủ trương sử dụng án lệ của Nhà nước ta đã kịp thời đáp ứng nhu cầu của thực tế. Trong nửa đầu năm 2016, trên cơ sở thi hành Nghị quyết 03/2015/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành ngày 28/10/2015 về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ, đã có 06 án lệ được công bố áp dụng, thể hiện nỗ lực không ngừng của ngành tư pháp. Trong thời gian tới, nhà nước cần đề cao hơn vai trò của án lệ, đầu tư thêm kinh phí, thời gian và công sức để ban hành thêm nhiều án lệ, nhằm tăng thêm tính thực tế vào pháp luật, góp phần bổ khuyến cho các lỗ hổng, hạn chế của pháp luật thực định hiện nay. Luận văn: Thực trạng chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Chế tài đối với vi phạm hợp đồng song vụ