Luận văn: Pháp luật về bảo trợ xã hội tại tỉnh Đắk Lắk

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật về bảo trợ xã hội tại tỉnh Đắk Lắk hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Pháp luật về bảo trợ xã hội – Từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong một xã hội văn minh, hiện đại sự phát triển của một quốc gia không chỉ đơn thuần được đánh giá bởi nền kinh tế phát triển, mà còn dựa trên cách thức mà quốc gia đó quan tâm, chăm lo cho công dân nước mình. Nhà nước và nhân dân ta hiện đang chăm lo đời sống cho thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ, người và gia đình có công với cách mạng, người về hưu, mất sức lao động, tai nạn lao động gây ra thương tật, người già cả cô đơn, người tàn tật vì rủi ro và bẩm sinh không có khả năng tự lao động nuôi sống mình hoàn toàn, trẻ mồ côi, nhân dân bị khó khăn do thiên tai và dịch họa. số lượng này chiếm khoảng 10% dân số cả nước, đây là những nhóm xã hội khác những người bình thường.

Bảo trợ xã hội (BTXH) là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta, thể hiện tính nhân văn sâu sắc, tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, “lá lành đùm lá rách” vốn là truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc. Là một bộ phận của hệ thống chính sách an sinh xã hội, Bảo trợ xã hội là sự chăm lo về vật chất, y tế, giáo dục, đào tạo, dạy nghề và giới thiệu việc làm cho các đối tượng yếu thế cụ thể: người già neo đơn, người tàn tật, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, người nhiễm HIV/AIDS, người mắc bệnh tâm thần hoặc người gặp rủi ro do thiên tai,…nhằm giúp họ vượt qua khó khăn, ổn định cuộc sống, hòa nhập cộng đồng. Thời gian qua, chính sách Bảo trợ xã hội đã và đang phát huy tác dụng là tấm lưới an toàn cho các đối tượng bảo trợ xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu “Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với thúc đẩy tiến bộ xã hội và công bằng ở mỗi giai đoạn và trong suốt quá trình phát triển” [23]. Luận văn: Pháp luật về bảo trợ xã hội tại tỉnh Đắk Lắk.

Đắk Lắk là một tỉnh của khu vực Tây Nguyên, với khoảng trên 47 dân tộc từ các địa phương cùng đến sinh sống trên địa bàn, đời sống người dân còn gặp nhiều khó khăn, thường xuyên bị ảnh hưởng của thiên tai và một số yếu tố khác đã làm cho nhiều đối tượng bảo trợ xã hội cần được trợ giúp rất lớn. Với sự nỗ lực thực hiện chăm lo các đối tượng yếu thế, đẩy mạnh hoạt động thực hiện pháp luật về Bảo trợ xã hội trên địa bàn, nên hoạt động bảo trợ xã hội đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, việc chăm lo cho các đối tượng được quan tâm thực hiện. Hiện nay, tỉnh đã chăm lo cho 34.972 đối tượng yếu thế về tài chính, giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khỏe miễn phí, dạy nghề và giới thiệu việc làm… nhờ vậy các đối tượng yếu thế trên địa bàn phần nào giảm bớt những khó khăn trong cuộc sống, có điều kiện hòa nhập vào xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả đạt được công tác thực hiện pháp luật về Bảo trợ xã hội vẫn bộc lộ nhiều hạn chế cần khắc phục như: lực lượng thực hiện hoạt động Bảo trợ xã hội còn thiếu và yếu; công tác xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp quy về Bảo trợ xã hội chưa thật sự chủ động, còn trông chờ vào hướng dẫn của cấp trên; công tác tuyên truyền phổ biến còn hình thức, các chính sách chưa thật sự đến với người dân cũng như các đối tượng Bảo trợ xã hội quản lý đối tượng không thống nhất, kỹ thuật, nghiệp vụ quản lý chưa cao nên thường xảy ra trùng lắp, thực hiện sai đối tượng; hoạt động thanh tra, kiểm tra còn mang nặng tính hình thức, lỏng lẽo, chỉ khi có dư luận mới tiến hành kiểm tra…Những hạn chế trong pháp luật về Bảo trợ xã hội đã dẫn đến nhiều yếu kém trong hoạt động như: các đối tượng chưa được chăm lo kịp thời, chính sách tác động chưa cao đến đời sống cộng đồng của các đối tượng, chưa thể hiện được tính ưu việc của chính sách. Chính vì lý do đó, vấn đề “Pháp luật về bảo trợ xã hội – Từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk” được tác giả chọn làm đề tài nghiên cứu cho luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính. Công trình hy vọng sẽ góp phần nhỏ bé vào việc phát triển, hòa nhập đời sống cộng đồng xã hội và đảm bảo thực hiện các quyền của đối tượng bảo trợ xã hội.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Pháp luật là một trong các lĩnh vực pháp lý cụ thể nói chung và pháp luật về Bảo trợ xã hội đã và đang thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều cơ quan nghiên cứu khoa học, các nhà khoa học pháp lý. Một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài này có thể kể đến là:

  • Đề tài: “Hoàn thiện pháp luật về quyền của người khuyết tật ở Việt nam hiện nay”, Luận án Tiến sĩ Luật học của Nguyễn Thị Báo, Học viện Chính trị Hành chính Quốc
  • Đề tài: Thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách xã hội khác, Luận văn thạc sĩ luật học của Hoàng Thị Liên, Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội, 2015.
  • Đề tài “Quản lý nhà nước về hoạt động bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk” của tác giả Nguyễn Tiến Ngọc, Luận văn Thạc sĩ Quản lý công năm Luận văn: Pháp luật về bảo trợ xã hội tại tỉnh Đắk Lắk.
  • Đề tài “Quản lý nhà nước đối với hoạt động bảo trợ xã hội trên địa bàn huyện Bình Chánh – TP. Hồ Chí Minh” của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Thanh, Luận văn Thạc sĩ Hành chính công năm 2013.
  • Đề tài “Đẩy mạnh hoạt động bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi” của tác giả Trịnh Quang Nghĩa, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế năm 2011.

Các công trình nghiên cứu nói trên đều có những đóng góp nhất định về mặt lý luận và thực tiễn hoạt động nhân đạo, hoạt động bảo trợ xã hội. Tuy nhiên Bảo trợ xã hội còn khá mới mẽ ở Việt Nam, ít được quan tâm nghiên cứu, cơ sở lý luận thực sự chưa nhiều, cần phải kế thừa, vận dụng những kết quả nghiên cứu của các công trình nêu trên. Vì vậy, khi nghiên cứu đề tài này tác giả chỉ tập trung các vấn đề pháp luật về Bảo trợ xã hội và thực tiễn thực hiện pháp luật về Bảo trợ xã hội tỉnh Đắk Lắk, mong tìm ra những nguyên nhân để từ đó đề ra các phương hướng, giải pháp nhằm góp một phần nhỏ bé để hoàn thiện công tác này ở địa phương.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở hệ thống hoá những vấn đề lý luận chung về nhà nước và pháp luật, nghiên cứu và đánh giá chính xác thực trạng pháp luật về Bảo trợ xã hội và thực tiễn thực hiện pháp luật về Bảo trợ xã hội tỉnh Đắk Lắk, trên cơ sở đó đưa ra những phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về Bảo trợ xã hội, góp phần bảo đảm thực hiện các quyền của đối tượng Bảo trợ xã hội, tạo cơ hội cho đối tượng Bảo trợ xã hội bình đẳng và hòa nhập cộng đồng.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

  • Để thực hiện những mục tiêu đặt ra, luận văn tập trung hoàn thành những nhiệm vụ chủ yếu sau đây:

Một là, hệ thống hóa và khái lược hóa một số nội dung cả về lý luận và thực tiễn liên quan đến Bảo trợ xã hội. Trên cơ sở đó, hình thành lý luận những vấn đề của pháp luật về Bảo trợ xã hội tỉnh Đắk Lắk, phân tích các hình thức và vai trò pháp luật về Bảo trợ xã hội.

Hai là, phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật về Bảo trợ xã hội và thực tiễn thực hiện pháp luật về Bảo trợ xã hội tỉnh Đắk Lắk, những kết quả đạt được và hạn chế, thiếu sót, nguyên nhân từ đó rút ra những kinh nghiệm đúc kết pháp luật về Bảo trợ xã hội tỉnh Đắk Lắk.

Ba là, đưa ra phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về Bảo trợ xã hội tỉnh Đắk Lắk. Những giải pháp cần được xây dựng mang tính chất tổng thể phù hợp với hoạt động Quản lý Nhà nước cũng như hoạt động thực hiện pháp luật ở nước ta hiện nay.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Luận văn: Pháp luật về bảo trợ xã hội tại tỉnh Đắk Lắk.

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là pháp luật về Bảo trợ xã hội và thực tiễn thực hiện pháp luật về Bảo trợ xã hội tỉnh Đắk Lắk.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

  • Phạm vi nghiên cứu tác giả chỉ tập trung các vấn đề thực tiễn thực hiện pháp luật về Bảo trợ xã hội ở tỉnh Đắk Lắk.
  • Về mặt thời gian: từ năm 2011 đến năm
  • Địa bàn nghiên cứu: tỉnh Đắk Lắk.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và pháp luật Nhà nước ta về bảo trợ xã hội nhằm đảm bảo tính khoa học và tính thực tiễn của đề tài.

Luận văn sử dụng phương pháp thống kê, thu thập số liệu để phân tích, so sánh việc thực hiện chế độ chính sách cho đối tượng bảo trợ xã hội qua các năm. Đồng thời, luận văn sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp, tổng kết thực tiễn để tìm hiểu, đối chiếu tình hình thực tế. Khi thực hiện đề tài này, tác giả có tham khảo các công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu luật, hành chính, kinh tế học…và một số tài liệu mang tính chất kế thừa của các luận văn tốt nghiệp, các báo cáo về hoạt động bảo trợ xã hội của Trung ương, tỉnh và các tổ chức khác để làm tài liệu tham khảo.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1. Ý nghĩa lý luận Luận văn: Pháp luật về bảo trợ xã hội tại tỉnh Đắk Lắk.

Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu có hệ thống pháp luật về bảo trợ xã hội – Từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk và có những đóng góp mới sau đây:

  • Làm sáng tỏ lý luận những vấn đề của pháp luật về Bảo trợ xã hội.
  • Đánh giá có hệ thống và khái quát thực trạng pháp luật về Bảo trợ xã hội và thực tiễn thực hiện pháp luật về Bảo trợ xã hội tỉnh Đắk Lắk. Trong đó, có những đánh giá mang tính chất chuyên sâu thực hiện pháp luật về Bảo trợ xã hội.
  • Đưa ra những phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về Bảo trợ xã hội và từ đó nâng cao nhận thức cả xã hội, đề xuất việc giải quyết các chế độ chính sách trợ giúp cho đối tượng Bảo trợ xã hội có hiệu quả hơn.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn

Các khuyến nghị khoa học của luận văn có thể được vận dụng vào thực tế hoạt động thực hiện pháp luật về Bảo trợ xã hội ở tỉnh Đắk Lắk. Ngoài ra, luận văn còn là tài liệu tham khảo trong các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức, cơ sở đào tạo cán bộ làm công tác xã hội.

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn chia thành 3 chương:

  • Chương 1: Lý luận những vấn đề của pháp luật về bảo trợ xã hội.
  • Chương 2: Thực trạng pháp luật về bảo trợ xã hội và thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo trợ xã hội tỉnh Đắk Lắk.
  • Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo trợ xã hội.

Chương 1 LÝ LUẬN NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO TRỢ XÃ HỘI

1.1. Tổng quan về bảo trợ xã hội và pháp luật về bảo trợ xã hội

1.1.1. Bảo trợ xã hội

  • Quan niệm về bảo trợ xã hội

Thuật ngữ “bảo trợ xã hội” còn khá mới mẻ và chỉ xuất hiện gần đây qua những tài liệu nghiên cứu và các thảo luận chính sách trên thế giới. Phần lớn các tài liệu này chưa lý giải một cách toàn diện và đầy đủ khái niệm Bảo trợ xã hội mà chỉ phân tích những khía cạnh cơ bản của khái niệm Bảo trợ xã hội. Đặc biệt với các nước đang phát triển thuật ngữ này mới được nhắc đến rộng rãi gần đây. Khái niệm này vẫn còn khá mơ hồ, chủ yếu là do có nhiều cách định nghĩa và cách giải thích khác nhau.

Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO) “BTXH là quyền tiếp nhận lợi ích từ chính phủ của cá nhân, hộ gia đình nhằm bảo vệ họ trước tình trạng mức sống thấp hay đang bị suy giảm, đặc biệt khi phải hứng chịu những rủi ro, nhờ đó đáp ứng được các nhu cầu cơ bản” [32]. Tổ chức này muốn nhấn mạnh về khía cạnh bảo hiểm và mở rộng tạo việc làm cho những đối tượng ở khu vực kinh tế không chính thức. Định nghĩa này có xu hướng nghiên về mức sống và quyền con người. Cơ quan này thiên về những giả thuyết gắn với điều kiện lao động. Luận văn: Pháp luật về bảo trợ xã hội tại tỉnh Đắk Lắk.

Theo Quỹ nhi đồng của Liên hiệp quốc (UNICEF) định nghĩa “BTXH là một tập hợp các hành động và chính sách nhằm giúp đỡ các cá nhân hay hộ gia đình giảm bớt tác động của rủi ro hay các cú sốc, đặc biệt là để bảo vệ quyền của những đối tượng dễ gặp rủi ro, dễ bị tổn thương và nghèo đói kinh niên nhất”[32]. Cách hiểu này thể hiện hành động che chở, bảo vệ quyền của những người nghèo đói, dễ bị tổn thương, họ cần được giúp đỡ để giảm bớt các tác động của rủi ro.

Đối với Ngân hàng thế giới (WB) “BTXH là một tập hợp các biện pháp nhằm cải thiện và bảo vệ vốn con người, bao gồm sự can thiệp vào thị trường lao động, chương trình bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp bắt buộc. Sự can thiệp của bảo vệ xã hội giúp các cá nhân, hộ gia đình, hay cộng đồng quản lý một cách tốt hơn những rủi ro thu nhập khiến những đối tượng này bị tổn thương” [32]. Định nghĩa này nhấn mạnh sự kiềm chế nguy cơ là cơ sở của Bảo trợ xã hội; Bảo trợ xã hội vừa là mạng lưới an toàn, vừa là bàn đạp thông qua sự phát triển nguồn vốn con người. Tính dễ bị tổn thương được nhìn nhận theo những nguy cơ liên quan đến sự mất ổn định thu nhập và tiêu dùng.

Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) “BTXH là tập hợp các chính sách và các chương trình được thiết kế để giảm nghèo và sự tổn thương bằng cách thúc đẩy thị trường lao động hiệu quả, giảm sự phơi nhiễm của người dân trước các rủi ro, và nâng cao năng lực để họ có thể chống lại các mối nguy hiểm và sự gián đoạn/mất thu nhập [22]. Định nghĩa này nhấn mạnh tính dễ tổn thương nếu người dân không có Bảo trợ xã hội và tác hại của thiếu Bảo trợ xã hội đối với người khác, tập trung vào khía cạch cải thiện thu nhập; hoàn thiện thể chế thị trường lao động và nâng cao năng lực của người dân.

Viện nghiên cứu phát triển hải ngoại (ODI) “BTXH là những hành động công ích, nhằm giảm thiểu tính dễ tổn thương, nguy cơ gây sốc và sự bần cùng hóa, là những điều không thể chấp nhận được về mặt xã hội [22]. Định nghĩa này nhấn mạnh tính dễ tổn thương và bần cùng hóa, do vậy Bảo trợ xã hội hướng vào người nghèo hoặc những người khó khăn nhất thuộc tầng lớp không ai mong muốn nhất trong xã hội.

Ở Việt Nam, thuật ngữ này cũng mới chỉ được dùng trong những năm gần đây, đất nước ta vừa thoát ra khỏi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang một nền kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập với thế giới. Viện nghiên cứu phát triển xã hội định nghĩa Bảo trợ xã hội là (i) sự hỗ trợ trực tiếp cho các hộ gia đình nghèo và dễ tổn thương, (ii) bảo hiểm xã hội và (iii) các hoạt động khác nhằm giảm tính dễ bị tổn thương gây ra bởi những nguy cơ như thất nghiệp tuổi già và khuyết tật. Định nghĩa trên chú trọng vào các cá nhân, nhóm người nghèo và bị đẩy ra ngoài lề của xã hội, ủng hộ sự định hướng như một hình thức Bảo trợ xã hội thích hợp và không bao gồm những nhóm khá giả trong dân chúng; Định nghĩa này cần thiết cho việc đẩy mạnh hỗ trợ xã hội cho các cải cách kinh tế hiện nay, mục tiêu hướng đến là đảm bảo cuộc sống công bằng trong xã hội đối với mọi đối tượng Bảo trợ xã hội. Luận văn: Pháp luật về bảo trợ xã hội tại tỉnh Đắk Lắk.

Theo nghĩa hẹp, Bảo trợ xã hội là một chính sách xã hội của nhà nước nhằm cung cấp tài chính cho cuộc sống và sinh hoạt của những người hưu trí, mất sức lao động, ốm đau, những người không có khả năng lao động, thất nghiệp, cơ nhỡ và những người hoặc hộ gia đình có công đặc biệt đối với đất nước. Bảo trợ xã hội bao gồm bảo hiểm xã hội (hưu trí, mất sức, tai nạn lao động, thất nghiệp), trợ cấp xã hội (thương binh, gia đình thương binh liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng) và cứu trợ xã hội (cơ nhỡ, thiên tai, tệ nạn xã hội) trong đó bảo hiểm xã hội là bộ phận quan trọng nhất; Khái niệm trên chỉ nêu khía cạnh cung cấp tài chính cho một số đối tượng, nó thiên về bảo hiểm xã hội, đóng góp để được hưởng trợ cấp lúc khó khăn.

Nói chung, trong tất cả các định nghĩa về Bảo trợ xã hội, cho dù theo định nghĩa nào thì trong đó cũng thể hiện tính dễ bị tổn thương và bần cùng hóa. Tuy nhiên tính dễ bị tổn thương lại được diễn đạt theo nhiều cách khác nhau.

Xét về một khía cạnh nào đó, Bảo trợ xã hội tương đồng với trợ giúp xã hội hay cứu trợ xã hội, là một bộ phận của an sinh xã hội; Một số tài liệu nghiên cứu cũng cho rằng các thuật ngữ này tương tự nhau. Ở Việt Nam, trước đây một số văn bản pháp luật, nghiên cứu thường sử dụng thuật ngữ “cứu trợ xã hội”, nhưng những năm gần đây thay đổi sang thuật ngữ “bảo trợ xã hội”. Nhưng thực chất, nếu hiểu theo cách đơn giản Bảo trợ xã hội được ghép từ bảo hiểm xã hội và trợ giúp xã hội. Song, do đề tài chỉ giới hạn ở những người yếu thế thuộc đối tượng trong Nghị định 67/2007/NĐ-CP; Nghị định 13/2010/NĐ-CP của Chính phủ ngày 27/02/2010 về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 của Chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tượng Bảo trợ xã hội và Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội và các văn bản pháp luật có liên quan nên luận văn chỉ đề cập đến vấn đề trợ giúp mà không có bảo hiểm xã hội. Đề tài nghiên cứu này sẽ nhìn ở một góc độ tương đối hẹp là Bảo trợ xã hội đồng nghĩa với cứu trợ xã hội, hay trợ giúp xã hội. Qua nghiên cứu có thể đưa ra khái niệm về Bảo trợ xã hội như sau: Bảo trợ xã hội là hệ thống các chính sách, chế độ, những hành động chủ yếu của Nhà nước và cộng đồng xã hội bằng các hình thức khác nhau nhằm giúp các đối tượng yếu thế giảm nhẹ và kiềm chế nguy cơ dễ bị tổn thương, bần cùng hóa, hòa nhập với cộng đồng, có điều kiện tiếp cận các dịch vụ xã hội, thúc đẩy công bằng và góp phần thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển.

  • Đặc điểm bảo trợ xã hội

Từ những quan niệm về Bảo trợ xã hội có thể rút ra một số đặc điểm sau:

Về đối tượng: Tham gia vào quan hệ Bảo trợ xã hội bao gồm nhà nước, các đối tượng bảo trợ và các chủ thể khác như tổ chức, cá nhân khác trong hoạt động chung mang tính nhân đạo này. Trong đó:

Thứ nhất, đối tượng bảo trợ là mọi người dân trong xã hội không phân biệt vị thế và thành phần xã hội khi gặp phải khó khăn, thiếu thốn, lâm nạn, cơ nhỡ,…hoặc vì nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến cuộc sống thường ngày hoặc lâu dài của họ bị đe dọa. Dưới góc độ kinh tế thì đó là những thành viên có mức sống thấp hơn mức tối thiểu của xã hội hoặc gặp khó khăn, rủi ro cần có sự nâng đỡ về vật chất. Dưới góc độ xã hội thì họ thuộc nhóm người “yếu thế” trong xã hội, với những nguyên nhân khác nhau mà rơi vào vị thế bất lợi, thiệt thòi, có ít cơ may trong cuộc sống như người bình thường và không có khả năng tự lo liệu, đảm bảo cho cuộc sống của gia đình và bản thân. Ngoài ra dưới góc độ nhân đạo, đó có thể là những đối tượng nghiện hút, lang thang, xin ăn… Luận văn: Pháp luật về bảo trợ xã hội tại tỉnh Đắk Lắk.

Thứ hai, nhà nước với tư cách là một chủ thể trong quan hệ Bảo trợ xã hội, đã xác định được nghĩa vụ của mình và mối quan hệ hợp tác giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân,…trong hoạt động Bảo trợ xã hội. Hoạt động Bảo trợ xã hội, ngoài trách nhiệm của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội còn là trách nhiệm của các bộ, ban ngành khác như Bộ y tế, Bộ giáo dục,… và toàn thể các thành viên xã hội.

Về nội dung: Chế độ Bảo trợ xã hội được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau. Nếu căn cứ vào phạm vi đối tượng sẽ có chế độ bảo trợ đối với từng nhóm cụ thể như người già cô đơn không nơi nương tựa, người tàn tật, trẻ em mồ côi,…Nếu căn cứ vào tính ổn định hay nhất thời của trợ cấp thì sẽ có chế độ trợ cấp thường xuyên và chế độ trợ cấp đột xuất. Trong đó, chế độ trợ cấp thường xuyên có tính ổn định, lâu dài hơn, còn chế độ trợ cấp đột xuất thì có tính chất nhất thời, được thực hiện một lần với các hình thức đa dạng và linh hoạt. Còn nếu căn cứ vào hình thức của chế độ bảo trợ sẽ có Bảo trợ xã hội về vật chất với các khoản tiền trợ cấp, phương tiện sinh sống,…và Bảo trợ xã hội về tinh thần bằng các hoạt động tư vấn sức khỏe, tâm lý, giáo dục,…

Theo quy định của pháp luật hiện hành, chế độ Bảo trợ xã hội bao gồm hai nội dung chính là chế độ bảo trợ thường xuyên và chế độ bảo trợ đột xuất. Việc phân loại này chỉ có ý nghĩa đưa ra mức hưởng và hình thức bảo trợ cho phù hợp với từng nhóm đối tượng.

Về mục đích của Bảo trợ xã hội không nhằm bù đắp thu nhập thường xuyên bị giảm hoặc mất hay đảm bảo ổn định đời sống, suy tôn công trạng, đền ơn đáp nghĩa những người có công,…mà chỉ hỗ trợ, giúp đỡ cho những người lâm vào tình trạng thực sự khó khăn, túng quẫn, cần có sự giúp đỡ về vật chất mới có thể vượt qua được hoàn cảnh hiện tại. Do đó, mức hưởng thường là thấp và linh hoạt, phụ thuộc nhiều vào khả năng tài chính của Nhà nước, khả năng huy động nguồn lực và tình trạng thực tế của đối tượng…Ngoài hai chế độ bảo trợ thường xuyên và đột xuất, ở phạm vi rộng, hoạt động Bảo trợ xã hội còn được thực hiện với các chương trình xóa đói giảm nghèo, chăm sóc sức khỏe toàn dân, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, những người lầm lỡ mắc tệ nạn xã hội,…

  • Vai trò bảo trợ xã hội Luận văn: Pháp luật về bảo trợ xã hội tại tỉnh Đắk Lắk.

Mục tiêu hướng tới của mỗi quốc gia trên thế giới đều là đạt được sự tiến bộ xã hội. Nghĩa là vừa phải bảo đảm tăng trưởng kinh tế, vừa bảo đảm phát triển xã hội. Thước đo của sự phát triển xã hội là việc giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình phát triển kinh tế. Trong đó, có chăm sóc cho dân cư khó khăn, giải quyết các vấn đề bất bình đẳng trong xã hội. Bảo trợ xã hội là một trong những công cụ quản lý của Nhà nước và có vai trò chính sau [24]:

Thứ nhất, Bảo trợ xã hội thực hiện chức năng bảo đảm an sinh xã hội (ASXH) của Nhà nước: Thông qua luật pháp, chính sách, các chương trình Bảo trợ xã hội, Nhà nước can thiệp và tác động giữ ổn định xã hội, ổn định chính trị, phân hóa giàu nghèo và giảm phân tầng xã hội, tạo sự đồng thuận xã hội giữa các nhóm xã hội trong quá trình phát triển. Kinh tế thị trường càng phát triển thì xu hướng phân hóa giàu nghèo, phân tầng xã hội và bất bình đẳng càng gia tăng. Để tạo ra sự phát triển bền vững, đòi hỏi Nhà nước càng phải phát triển mạnh mẽ Bảo trợ xã hội để điều hòa các mâu thuẫn xã hội phát sinh trong quá trình phát triển. Bảo trợ xã hội sẽ giúp cho việc điều tiết, hạn chế nguyên nhân nẩy sinh mâu thuẫn xã hội, bất ổn của xã hội.

Thứ hai, Bảo trợ xã hội thực hiện chức năng tái phân phối lại của cải xã hội, với chức năng này Bảo trợ xã hội sẽ điều tiết phân phối thu nhập, cân đối, điều chỉnh nguồn lực để tăng cường cho các vùng nghèo, vùng chậm phát triển, tạo nên sự phát triển hài hòa giữa các vùng, giảm bớt sự chênh lệch giữa các vùng; giữa các nhóm dân cư.

Thứ ba, Bảo trợ xã hội có vai trò phòng ngừa rủi ro, giảm thiểu và khắc phục rủi ro và giải quyết một số vấn đề xã hội nẩy sinh, Bảo trợ xã hội trực tiếp giải quyết những vấn đề liên quan đến giảm thiểu rủi ro, hạn chế tính dễ bị tổn thương và khắc phục hậu quả của rủi ro thông qua các chính sách và chương trình cụ thể nhằm giúp cho các thành viên xã hội ổn định cuộc sống, tái hòa nhập cộng đồng, bảo đảm mức sống tối thiểu cho dân cư khó khăn.

Đồng thời, trong thế giới hiện đại do khai thác tài nguyên quá mức để phát triển kinh tế, chiến tranh, bệnh dịch, tác động khách quan của các quy luật kinh tế, ảnh hưởng chủ quan trong quá trình quyết định của các chủ thể quản lý…đã dẫn đến nẩy sinh các vấn đề xã hội và gia tăng người nghèo, NTT, Trẻ em mồ côi, Người cao tuổi cô đơn…Bộ phận dân cư này thường chịu nguy cơ tổn thương cao, không tự chủ quyết định cuộc sống và phụ thuộc vào sự hỗ trợ của xã hội, Nhà nước. Các chính sách trợ cấp xã hội, cấp thẻ bảo hiểm y tế, hỗ trợ giáo dục… đối với người tàn tật, người cao tuổi, trẻ em mồ côi, người nghèo, dân tộc thiểu số sẽ giúp cho bộ phận dân cư giảm bớt khó khăn, ổn định an ninh trật tự xã hội.

Trong bối cảnh hội phập quốc tế, bên cạch “cơ hội” cũng có nhiều “thách thức”, “rủi ro”, khi nói đến cơ hội, đến sự thuận lợi mang lại từ hội nhập quốc tế thường là cơ hội cho phát triển kinh tế, ngược lại sự thách thức, rủi ro lại là vấn đề xã hội như bất bình đẳng gia tăng, phân hóa giàu nghèo, phân tầng xã hội, nghèo đói, bần cùng hóa và ô nhiễm môi trường. Do vậy, kinh tế thị trường càng phát triển mạnh thì vai trò của Bảo trợ xã hội càng lớn, có như vậy mới bảo đảm sự hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội trong từng bước đi và giai đoạn phát triển của đất nước. Bảo trợ xã hội tốt sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững; vì ngay cả các nhà đầu tư không chỉ chú ý đến các yếu tố kinh tế mà còn chú ý đến các yếu tố của an toàn, ổn định xã hội. Một xã hội ổn định giúp các nhà đầu tư phát triển lâu dài, tạo cho kinh tế tăng trưởng nhanh và ổn định, ngược lại một xã hội không ổn định sẽ dẫn đến đầu tư ngắn hạn, làm ăn theo kiểu “chộp giật” làm cho kinh tế tăng trưởng không bền vững. Mặt khác bản thân sự phát triển Bảo trợ xã hội cũng là một lĩnh vực dịch vụ tạo ra nguồn tài chính cho phát triển kinh tế. Đồng thời tăng trưởng tạo ra nguồn lực để giải quyết các vấn đề xã hội, góp phần ổn định xã hội và tạo ra sự phát triển bền vững về kinh tế.

1.1.2. Pháp luật về bảo trợ xã hội Luận văn: Pháp luật về bảo trợ xã hội tại tỉnh Đắk Lắk.

  • Khái niệm pháp luật về bảo trợ xã hội

Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật về bảo trợ xã hội được thể chế hóa trong một số luật như: Luật người cao tuổi năm 2009; Luật người khuyết tật năm 2010; Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật phòng, chống HIV/AIDS, Luật phòng chống bạo lực gia đình, Luật phòng, chống buôn bán người v.v… và được cụ thể hóa trong các văn bản dưới luật, đặc biệt là Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 của Chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội; Nghị định số 13/2010/NĐ-CP ngày 27/02/2010 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2007/NĐ-CP; Thông tư liên tịch số 24/2010/TTLT-BLDTBXH-BTC ngày 18/8/2010 hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định 67 và Nghị định 13; Nghị định số 68/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 của Chính phủ quy định điều kiện, thủ tục thành lập, tổ chức, hoạt động và giải thể cơ sở bảo trợ xã hội; Nghị định số 06/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người cao tuổi; Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người khuyết tật; Nghị định 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội và các văn bản pháp luật khác có liên quan.

Nhìn chung, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã cơ bản đảm bảo cơ sở pháp lý cho chính sách bảo trợ xã hội, đáp ứng được đòi hỏi tình hình thực tiễn trong quá trình triển khai chính sách. Việc xác định đối tượng, chế độ, chính sách, nguồn lực, cơ chế tổ chức, bộ máy triển khai thực hiện chính sách đã được quy định cụ thể, thủ tục và chi phí hành chính từng bước được cắt giảm, tạo điều kiện thuận lợi cho cơ sở cũng như đối tượng tiếp cận chính sách nhà nước.

Như vậy, pháp luật về bảo trợ xã hội là tổng thể các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành quy định các đối tượng, điều kiện, chế độ trợ cấp cụ thể và trách nhiệm của nhà nước cộng đồng trong việc góp phần đảm bảo và ổn định cuộc sống cho các thành viên trong xã hội gặp rủi ro, khó khăn, bất hạnh. Luận văn: Pháp luật về bảo trợ xã hội tại tỉnh Đắk Lắk.

  • Đặc trưng cơ bản của pháp luật về bảo trợ xã hội

Thứ nhất, đối tượng tham gia quan hệ xã hội bao gồm nhà nước, tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước. Không giống như chế độ bảo hiểm xã hội, những người tham gia hỗ trợ kinh phí vào việc đảm bảo cho quan hệ bảo trợ xã hội được thực hiện chủ yếu là sự đóng góp của nhà nước cùng với sự ủng hộ, quyên góp của cộng đồng.

Thứ hai, đối tượng hưởng chế độ Bảo trợ xã hội là mọi thành viên trong xã hội khi có các sự kiện pháp lý xảy ra do nguyên nhân khách quan, chủ quan khác nhau. Nếu như đối tượng hưởng bảo hiểm xã hội là những người lao động theo nghĩa rộng, tham gia bảo hiểm xã hội bao gồm người già cô đơn không nơi nương tựa, trẻ em mồ côi, người khuyết tật, người nhiễm HIV, người gặp khó khăn do hậu quả thiên tai hoặc những lý do bất khả kháng khác…

Thứ ba, mức hưởng trợ cấp Bảo trợ xã hội phụ thuộc vào hoàn cảnh thực tế của từng đối tượng, mức độ rủi ro mà không tính đến sự đóng góp của đối tượng được thụ hưởng. Có thể nói, Bảo trợ xã hội là hoạt động mang tính chất từ thiện giúp cho các đối tượng yếu thế trong xã hội lâm vào hoàn cảnh khó khăn hay gặp rủi ro, bất hạnh. Do đó, người được hưởng chế độ Bảo trợ xã hội trên cơ sở trách nhiệm của cộng đồng mà không có bất cứ sự đóng góp nào miễn là thỏa mãn các điều kiện để thụ hưởng.

Thứ tư, tính chất của chế độ Bảo trợ xã hội mang tính linh hoạt, đa dạng phụ thuộc vào ngân sách nhà nước, phụ thuộc vào sự ủng hộ, quyên góp của cá nhân, tổ chức và cộng đồng tại thời điểm trợ cấp. Do đó, tùy từng đối tượng khác nhau mà có chế độ trợ cấp khác nhau.

  • Các quy định của pháp luật về bảo trợ xã hội
  • Chế độ bảo trợ xã hội thường xuyên

Chế độ Bảo trợ xã hội thường xuyên là sự hỗ trợ, giúp đỡ về mặt vật chất và tinh thần mang tính lâu dài cho những người thuộc diện Bảo trợ xã hội nhằm giúp đỡ họ ổn định cuộc sống, hòa nhập vào cộng đồng. Tùy từng đối tượng Bảo trợ xã hội khác nhau mà pháp luật quy định chế độ trợ cấp cụ thể. Luận văn: Pháp luật về bảo trợ xã hội tại tỉnh Đắk Lắk.

  • Đối tượng hưởng chế độ bảo trợ xã hội thường xuyên

Không phải tất cả các đối tượng bất hạnh, rủi ro không thể tự lo liệu cuộc sống đều là đối tượng hưởng chế độ Bảo trợ xã hội thường xuyên, chỉ những đối tượng thỏa mãn các điều kiện thuộc diện Bảo trợ xã hội mới được hưởng chế độ trợ cấp này, đối tượng Bảo trợ xã hội thuộc diện trợ cấp hàng tháng do xã phường, thị trấn quản lý.

  • Mức trợ cấp bảo trợ xã hội thường xuyên

Quy định mức chuẩn để xác định mức trợ cấp xã hội hàng tháng là 270.000 đồng (hệ số 1); khi mức sống tối thiểu của người dân thay đổi thì mức chuẩn trợ cấp xã hội cũng được điều chỉnh theo cho phù hợp.

Nguồn kinh phí trợ giúp thường xuyên tại cộng đồng, kinh phí nuôi dưỡng, kinh phí hoạt động bộ máy, kinh phí đầu tư xây dựng cơ bản của các cơ sở BTXH, nhà xã hội tại cộng đồng thuộc cấp nào thì do ngân sách cấp đó đảm bảo theo phân cấp hiện hành của Luật Ngân sách Nhà nước và các văn bản hướng dẫn Luật Ngân sách nhà nước.

  • Chế độ bảo trợ xã hội đột xuất

Chế độ Bảo trợ xã hội đột xuất là sự hỗ trợ, giúp đỡ về vật chất, tinh thần cho những người gặp rủi ro do thiên tai và những lý do bất khả kháng khác nhằm giúp họ vượt qua hoàn cảnh hiểm nghèo, khắc phục hậu quả rủi ro để ổn định cuộc sống.

  • Đối tượng hưởng chế độ bảo trợ xã hội đột xuất

Chế độ Bảo trợ xã hội đột xuất thường gắn liền với những rủi ro, thiên tai hoặc những lý do bất khả kháng khác do đó đối tượng Bảo trợ xã hội đột xuất bao gồm: Đối tượng được trợ giúp đột xuất (một lần) là những người, hộ gia đình gặp khó khăn do hậu quả thiên tai hoặc lý do bất khả kháng khác gây ra; Ủy ban nhân dân cấp xã, bệnh viện, cơ quan đơn vị đứng ra tổ chức mai táng cho người gặp rủi ro ngoài vùng cư trú bị chết, gia đình không biết để mai táng.

  • Mức trợ cấp bảo trợ xã hội đột xuất

BTXH đột xuất là sự giúp đỡ mang tính chất tạm thời cho các đối tượng thuộc diện bảo trợ do đó các mức Bảo trợ xã hội đột xuất chủ yếu là một lần đối với hộ gia đình, cá nhân, đối với người gặp rủi ro ngoài vùng cư trú bị chết, gia đình không biết để mai táng… tùy vào từng đối tượng mà nhà nước quy định mức trợ cấp Bảo trợ xã hội đột xuất cụ thể.

Nguồn kinh phí thực hiện chế độ Bảo trợ xã hội đột xuất bao gồm: Ngân sách địa phương tự cân đối; trợ giúp của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước hỗ trợ trực tiếp cho địa phương hoặc thông qua Chính phủ, các đoàn thể xã hội; Trường hợp các nguồn kinh phí trên không đủ để thực hiện Bảo trợ xã hội đột xuất thì Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương báo cáo Bộ LĐTBXH và Bộ Tài chính để tổng hợp đề xuất trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định hỗ trợ từ ngân sách trung ương.

1.2. Khái quát về thực hiện pháp luật về bảo trợ xã hội Luận văn: Pháp luật về bảo trợ xã hội tại tỉnh Đắk Lắk.

1.2.1. Khái niệm thực hiện pháp luật về bảo trợ xã hội

Để tìm hiểu khái niệm thực hiện pháp luật về Bảo trợ xã hội, trước hết cần làm rõ khái niệm thực hiện pháp luật.

Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội. Hệ thống các quy phạm này tạo khuôn khổ cho hoạt động xã hội, chứa đựng các quy tắc cấm đoán hoặc bắt buộc chung và tác động, điều chỉnh tới các quan hệ xã hội. Vì vậy, hoạt động thực hiện pháp luật không chỉ là sự quan tâm của nhà nước mà còn là của mỗi cá nhân bởi kết quả của quá trình đó tác động mạnh mẽ tới mọi mặt của đời sống xã hội. Việc tự giác thực hiện các quy phạm pháp luật gắn chặt với yêu cầu của các cơ quan trong bộ máy nhà nước, là mục tiêu và là đòi hỏi các tổ chức, cá nhân trong xã hội tôn trọng, thực hiện chính xác, đầy đủ pháp luật. Như vậy, hoạt động thực hiện pháp luật là hành vi (hành động hoặc không hành động) của con người phù hợp với quy định của luật pháp [20].

Thực hiện pháp luật là bước tiếp theo sau khi văn bản pháp luật được ban hành để đưa các quy phạm pháp luật trở thành các quy tắc xử sự của các chủ thể pháp luật làm cho các yêu cầu, quy định của văn bản pháp luật trở thành hiện thực. Về pháp lý thì thực hiện pháp luật là hành vi hợp pháp, hành vi đó không trái, không vượt ra ngoài các quy định của pháp luật. Thực hiện pháp luật có thể là hành vi của mỗi cá nhân nhưng cũng có thể là hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội [21].

  • Nghiên cứu các tài liệu hiện hành cho thấy hiện nay có một số quan niệm về thực hiện pháp luật sau:

Theo tài liệu học tập và nghiên cứu môn học Lý luận chung về nhà nước và pháp luật của Viện Nhà nước và Pháp luật – Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh thì:”Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật trở thành hiện thực trong cuộc sống, tạo ra cơ sở pháp lý cho hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật” [19, tr.270].

Giáo trình của Khoa luật – Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng: “Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật” [19,tr.494]. Luận văn: Pháp luật về bảo trợ xã hội tại tỉnh Đắk Lắk.

Theo Giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật của Trường Đại học Luật Hà Nội thì: “Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế, hợp pháp của các chủ thể pháp luật” [31, tr.461].

Từ những quan niệm thực hiện pháp luật nêu trên cho thấy:

  • Các định nghĩa đều thống nhất về thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích nhằm thực hiện những yêu cầu của pháp luật.
  • Thực hiện pháp luật là các hoạt động thực tế, hợp pháp, làm cho những quy định của pháp luật trở thành hoạt động thực tế trong cuộc sống con người.
  • Thực hiện pháp luật là một quá trình của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật.

Như vậy, theo tác giả khái niệm thực hiện pháp luật được hiểu như sau: Thực hiện pháp luật là một quá trình của chủ thể pháp luật nhằm mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế, hợp pháp của các chủ thể pháp luật. Thực hiện pháp luật về Bảo trợ xã hội là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật về Bảo trợ xã hội đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế, hợp pháp trong mối quan hệ giữa quyền của đối tượng Bảo trợ xã hội với quyền của các chủ thể khác nhau khi tham gia quan hệ pháp luật.

Với tư cách chủ thể quản lý, nhà nước đã sử dụng pháp luật làm phương tiện quan trọng nhất để tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội. Khi ban hành các văn bản quy phạm pháp luật nhà nước mong muốn các văn bản đó phải được tôn trọng và thực thi có hiệu quả trong thực tế. Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích, định hướng nhằm hiện thực hoá nội dung các quy định của pháp luật bằng các hành vi thực tế của các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật.

Dưới góc độ pháp lý, chỉ những hành vi xử sự phù hợp với các quy định của pháp luật về Bảo trợ xã hội của các chủ thể có đầy đủ khả năng nhận thức được yêu cầu của quy phạm pháp luật, có khả năng tự chịu trách nhiệm và gánh chịu những hậu quả bất lợi do hành vi của họ gây ra thì được coi là quá trình thực hiện pháp luật về Bảo trợ xã hội.

Như vậy, thực hiện pháp luật về Bảo trợ xã hội là hoạt động có mục đích của các chủ thể mà các chủ thể đó có thể là cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, các cá nhân được nhà nước trao quyền nhằm làm cho các quy định của pháp luật về Bảo trợ xã hội trở thành những hành vi trong thực tế bảo vệ và bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp đối với đối tượng Bảo trợ xã hội.

1.2.2. Đặc điểm thực hiện pháp luật về bảo trợ xã hội Luận văn: Pháp luật về bảo trợ xã hội tại tỉnh Đắk Lắk.

Thực hiện pháp luật về Bảo trợ xã hội mang đầy đủ đặc điểm của quá trình thực hiện pháp luật nói chung. Với bản chất là hoạt động xã hội của con người, thực hiện pháp luật về Bảo trợ xã hội hàm chứa những đặc điểm chung của các hoạt động xã hội khác đồng thời với bản chất pháp lý của mình, thực hiện pháp luật về Bảo trợ xã hội đã tạo nên những đặc điểm nổi trội và đặc thù sau đây:

Thứ nhất, thực hiện pháp luật về Bảo trợ xã hội bao giờ cũng thông qua những hành vi cụ thể của con người. Đời sống xã hội của con người bao giờ cũng được bộc lộ thông qua các hành vi cụ thể trong các mối quan hệ xã hội. Hành vi cũng chính là các phương thức tồn tại của con người, chính vì lẽ đó, việc thực hiện pháp luật về Bảo trợ xã hội thường tồn tại là những dạng hành động tích cực là chủ yếu và phổ biến của các cá nhân hoặc cơ quan trong bộ máy nhà nước. Kết quả của việc thực hiện các hành vi đó trên thực tế không phải lúc nào cũng hợp pháp, cũng bảo vệ và mang lại lợi ích đối với đối tượng Bảo trợ xã hội mà có thể do nhiều nguyên nhân dẫn tới hoặc trái pháp luật hoặc mục đích bảo vệ và bảo đảm quyền lợi cho đối tượng Bảo trợ xã hội không thể đạt được.

Thứ hai, thực hiện pháp luật về Bảo trợ xã hội là hành vi phù hợp với pháp luật về Bảo trợ xã hội. Đó là những hành vi cụ thể của con người song thực hiện pháp luật về Bảo trợ xã hội có đặc điểm là phải phù hợp với các quy định hiện hành liên quan tới đối tượng Bảo trợ xã hội. Việc phù hợp ở đây được hiểu là pháp luật cấm điều gì làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của đối tượng Bảo trợ xã hội thì chủ thể không làm, pháp luật có những quy định bắt buộc gì nhằm tạo điều kiện và bảo vệ quyền lợi của đối tượng bảo trợ xã hội, quyền tiếp cận đời sống xã hội của đối tượng Bảo trợ xã hội thì chủ thể tích cực tham gia và pháp luật cho phép làm gì thì các chủ thể đưa ra quyết định để thực hiện hành vi hoặc không thực hiện hành vi phù hợp.

Nói đến việc thực hiện pháp luật về Bảo trợ xã hội bao giờ các chủ thể cũng quan tâm tới việc thực hiện cái gì? Nói cách khác là thực hiện nội dung gì liên quan tới đối tượng Bảo trợ xã hội và cách thức, hình thức thực hiện bằng hình thức nào? Như vậy, tính hợp pháp trong quá trình thực hiện pháp luật về Bảo trợ xã hội bao gồm thực hiện cả những quy phạm về nội dung và những quy phạm về hình thức, quy trình và thủ tục. Chỉ có sự đảm bảo và phù hợp cả về nội dung và hình thức thì quá trình thực hiện pháp luật về bảo trợ xã hội mới làm cho các hành vi và quan hệ pháp luật phát sinh trong thực tế hợp pháp và tích cực bảo vệ việc thực hiện pháp luật về Bảo trợ xã hội. Luận văn: Pháp luật về bảo trợ xã hội tại tỉnh Đắk Lắk.

Thứ ba, thực hiện pháp luật về Bảo trợ xã hội là một quá trình có mục đích, nó bao gồm nhiều hoạt động kế tiếp nhau. Để biến những quyền và nghĩa vụ pháp lý bảo vệ đối tượng Bảo trợ xã hội thành những hành vi xử sự trong thực tế thì cần thiết phải thông qua hàng loạt các hoạt động cụ thể của con người mà các hoạt động đó phải có mục đích, mục tiêu cụ thể.

Các hoạt động cụ thể đó bao gồm: Chủ thể tìm hiểu các quy định của pháp luật có nội dung cụ thể như thế nào? Xem xét vị trí, chức năng vai trò của bản thân, ra các quyết định về cách thức, thời gian hoạt động cụ thể. Tất cả các hoạt động đó phải cần thiết xác định mục tiêu cụ thể là bảo vệ và bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đối tượng Bảo trợ xã hội thông qua việc thực hiện các quy phạm cụ thể. Tính mục đích có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong quá trình thực hiện pháp luật nói chung. Đối với quá trình thực hiện pháp luật về Bảo trợ xã hội có ý nghĩa vô cùng quan trọng bởi đối tượng Bảo trợ xã hội là đối tượng yếu thế trong xã hội. Như vậy, đòi hỏi tính mục tiêu, mục đích không chỉ có ý nghĩa trong việc thiết lập, xây dựng các quy phạm pháp luật cụ thể mà còn là đòi hỏi đối với các chủ thể trong quá trình thực hiện pháp luật về Bảo trợ xã hội.

Thứ tư, quá trình thực hiện pháp luật về Bảo trợ xã hội được bảo đảm bằng các biện pháp của nhà nước để pháp luật thật sự đi vào đời sống xã hội thì quá trình thực hiện pháp luật cần thiết phải được bảo đảm từ phía nhà nước chính đặc điểm này tạo ra sự khác biệt cơ bản giữa pháp luật với đạo đức. Đối với nước ta pháp luật về bảo trợ xã hội thể hiện ý chí của nhà nước nhằm bảo vệ và bảo đảm cho đối tượng Bảo trợ xã hội tiếp cận với đời sống xã hội, do vậy thực hiện pháp luật về bảo trợ xã hội không chỉ là mong muốn của quản lý hành chính nhà nước mà còn là nguyện vọng chung của đa số nhân dân lao động. Chính sự bảo đảm của nhà nước mới làm cho pháp luật về Bảo trợ xã hội được thực thi trong môi trường thực hiện bình đẳng bảo đảm cho việc việc thụ hưởng các lợi ích hợp pháp của đối tượng bảo trợ xã hội. Trong trường hợp các chủ thể tham gia các quan hệ pháp luật liên quan tới đối tượng Bảo trợ xã hội không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các yêu cầu thì nhà nước bằng quyền lực của mình sử dụng các biện pháp bắt buộc hoặc các biện pháp cưỡng chế nhằm yêu cầu các chủ thể thực hiện hành vi hợp pháp với đối tượng Bảo trợ xã hội. Nhà nước sử dụng các hình thức bảo đảm pháp lý, sử dụng các tổ chức xã hội hoặc các thiết chế khác nhau phù hợp với từng nhóm đối tượng Bảo trợ xã hội.

Thứ năm, thực hiện pháp luật về Bảo trợ xã hội vừa mang tính thực hiện quyền lực nhà nước, vừa mang tính xã hội rộng rãi. Thực hiện pháp luật về Bảo trợ xã hội thông qua các hình thức riêng có của mình làm cho những quy phạm pháp luật về bảo trợ xã hội đi vào cuộc sống. Những quy phạm này chính là hệ thống quy tắc xử sự chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực Bảo trợ xã hội. Đó chính là hệ thống các quy phạm quy định về các giải pháp bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đối tượng Bảo trợ xã hội trong việc tiếp cận các hoạt động về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, tổ chức, về các đảm bảo khác trong lĩnh vực quản lý nhà nước về Bảo trợ xã hội. Những quy phạm này có tính bắt buộc chung đối với mọi công dân, mọi chủ thể tham gia quan hệ pháp luật về Bảo trợ xã hội. Việc thực hiện nghiêm chỉnh hệ thống quy phạm này cũng chính là thực hiện quyền lực nhà nước trong lĩnh vực Bảo trợ xã hội. Mặt khác, đối tượng Bảo trợ xã hội là bộ phận dân cư quan trọng, là bộ phận không thể tách rời của đời sống xã hội. Việc tiếp cận với đời sống xã hội của bộ phận dân cư yếu thế này như thế nào có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống cộng đồng. Vì lẽ đó, để thực hiện pháp luật về Bảo trợ xã hội có hiệu quả cần phải phát huy sức mạnh tối đa của các chủ thể, các cá nhân, tổ chức và toàn xã hội trong chấp hành, tuân thủ, sử dụng và áp dụng pháp luật về bảo trợ xã hội. Do đó, thực hiện pháp luật có tính xã hội rộng lớn [27]. Luận văn: Pháp luật về bảo trợ xã hội tại tỉnh Đắk Lắk.

1.2.3. Nguyên tắc thực hiện pháp luật về bảo trợ xã hội

Các quy phạm pháp luật liên quan đến Bảo trợ xã hội được quy định trong rất nhiều văn bản pháp luật khác nhau. Việc thực hiện đầy đủ các văn bản pháp luật này đòi hỏi có sự thống nhất và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan trong hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước. Căn cứ vào tính chất và đặc điểm hoạt động thực hiện pháp luật về Bảo trợ xã hội có thể chia nguyên tắc thực hiện pháp luật về Bảo trợ xã hội bao gồm:

Tuân thủ hệ thống chính trị: Thực hiện pháp luật về Bảo trợ xã hội được xây dựng trên cơ sở quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế xã hội của từng thời kỳ.

Đảm bảo tính khoa học: Cơ sở khoa học của các chính sách ban hành và thực hiện phải được nghiên cứu một cách khác quan, tuân thủ cơ sở lý luận và thực tiễn, chính sách đưa ra phải khả thi và được cuộc sống chấp nhận.

Đảm bảo tính hiệu lực: Thực hiện nguyên tắc này là việc xem xét thiết lập mục tiêu chính sách pháp luật để đạt như mong muốn của Nhà nước. Cụ thể như xác định phạm vi ảnh hưởng của chính sách. Đồng thời tính toán cân đối, dự báo nguồn lực, điều kiện để thực hiện mục tiêu, bao gồm cả các yếu tố ảnh hưởng của quá trình thực thi chính sách pháp luật.

Bảo đảm tính hiệu quả: Tính hiệu quả đòi hỏi chính sách pháp luật phải được thực hiện đạt kết quả mong muốn với mức chi phí hợp lý nhất trong phạm vi có thể. Trong bối cảnh nhu cầu Bảo trợ xã hội lớn, đối tượng yếu thế đông và nguồn ngân sách có hạn đòi hỏi cần xác định được nhóm ưu tiên và mức hỗ trợ hợp lý nhất, để vừa hướng tới mục tiêu mở rộng đối tượng và nâng dần chất lượng chính sách pháp luật.

Đảm bảo tính công bằng: Đặc thù chính sách pháp luật về Bảo trợ xã hội có nhiều đối tượng, mỗi loại đối tượng lại có hoàn cảnh, mức độ khó khăn khác nhau. Vì vậy, ngay từ khi nghiên cứu, xây dựng chính sách pháp luật về Bảo trợ xã hội phải đảm bảo sự công bằng ngay trong các nhóm đối tượng hưởng lợi. Tránh sự cào bằng chính sách đối với tất cả các nhóm đối tượng. Đồng thời phải phù hợp với các chính sách pháp luật khác. Tránh không có sự chênh lệch quá lớn về các mức chính sách trong hệ thống chính sách xã hội.

Đảm bảo tính công khai, minh bạch: Đây vừa là yêu cầu của đối tượng hưởng lợi và cũng là đòi hỏi của cấp bách trong quá trình thực thi chính sách. Minh bạch, công khai ngay từ khi hoạch định chính sách, trình tự thủ tục hồ sơ xét duyệt chính sách, giám sát kết quả.

Bảo đảm sự ổn định bền vững: Thực hiện pháp luật về Bảo trợ xã hội là một tất yếu, khách quan do vậy chính sách pháp luật về Bảo trợ xã hội là chính sách lâu dài, đòi hỏi sự ổn định của chính sách pháp luật trong thời gian nhất định.

Bảo đảm sự chia sẻ trách nhiệm: Xác định vai trò của Nhà nước và vai trò của tư nhân, tách bạch giữa thương mại và không thương mại. Nhà nước quy định và thực hiện chính sách, tư nhân cung cấp dịch vụ, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa để giảm bớt gánh nặng ngân sách nhà nước [27].

1.2.4. Các yếu tố tác động đến thực hiện pháp luật về bảo trợ xã hội Luận văn: Pháp luật về bảo trợ xã hội tại tỉnh Đắk Lắk.

Việc phân tích các yếu tố tác động đến thực hiện pháp luật về Bảo trợ xã hội là cần thiết, để tìm ra những nguyên nhân, bài học cho thành công và thất bại của thực hiện pháp luật về Bảo trợ xã hội, để từ đó từng ra những phương hướng, giải pháp hoàn thiện phù hợp.

  • Yếu tố kinh tế

Yếu tố kinh tế bao gồm tổng thể các điều kiện, hoàn cảnh kinh tế – xã hội, hệ thống các chính sách kinh tế, chính sách xã hội và việc triển khai thực hiện, áp dụng chúng trong thực tế xã hội. Nền kinh tế – xã hội phát triển năng động, bền vững sẽ là điều kiện thuận lợi cho hoạt động thực hiện pháp luật về Bảo trợ xã hội, tác động tích cực đến việc nâng cao hiệu lực pháp luật, ý thức pháp luật của tầng lớp xã hội. Ngược lại, nền kinh tế xã hội chậm phát triển, kém năng động và hiệu quả sẽ có thể ảnh hưởng tiêu cực tới việc thực hiện pháp luật về Bảo trợ xã hội của các chủ thể pháp luật. Yếu tố kinh tế là nền tảng cho nhận thức, hiểu biết pháp luật và thực hiện pháp luật nên có tác động mạnh mẽ tới hoạt động thực hiện pháp luật về Bảo trợ xã hội của các chủ thể pháp luật.

Quá trình thực hiện pháp luật về Bảo trợ xã hội chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của sự phát triển kinh tế – xã hội. Nước ta là một nước đang phát triển, trình độ kinh tế – xã hội ở mỗi vùng miền là khác nhau, do đó nó ảnh hưởng nhất định đến việc thực hiện pháp luật về Bảo trợ xã hội ở nước ta. Kinh tế có phát triển, đời sống vật chất của các tầng lớp dân cư được cải thiện, lợi ích kinh tế được đảm bảo thì nhân dân sẽ phấn khởi, tin tưởng vào đường lối kinh tế, chính sách pháp luật, sự lãnh đạo của Đảng và hoạt động điều hành, quản lý của Nhà nước. Khi đó, niềm tin của các chủ thể đối với pháp luật được củng cố, hoạt động thực hiện pháp luật về Bảo trợ xã hội sẽ mang tính tích cực, thuận chiều, phù hợp với các giá trị, chuẩn mực pháp luật hiện hành.

Khi kinh tế phát triển, đời sống tinh thần, vật chất được cải thiện, các cán bộ, công chức Nhà nước, các tầng lớp nhân dân có điều kiện mua sắm các phương tiện nghe, nhìn, có điều kiện thỏa mãn các nhu cầu thông tin pháp luật đa dạng và cập nhật. Các chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật sẽ dễ dàng đến được với đông đảo cán bộ và nhân dân; nhu cầu tìm hiểu, trang bị thông tin, kiến thức pháp luật trở thành nhu cầu tự giác, thường trực trong suy nghĩ và hành động của họ. Điều đó giúp cho hoạt động thực hiện pháp luật của các chủ thể mang tính tự giác, tích cực. Còn khi kinh tế chậm phát triển, thu nhập thấp, tình trạng thất nghiệp gia tăng, lợi ích kinh tế không được đảm bảo, đời sống của cán bộ, nhân dân gặp nhiều khó khăn thì tư tưởng sẽ diễn biến phức tạp, cái xấu có cơ hội nảy sinh, tác động tiêu cực đến thực hiện pháp luật, đi ngược lại các giá trị, chuẩn mực pháp luật như tệ quan liêu, cửa quyền, nhũng nhiễu, tham nhũng trong cán bộ, buôn lậu, trốn thuế, trộm cắp, cướp giật…trong các thành phần xã hội bất hảo. Luận văn: Pháp luật về bảo trợ xã hội tại tỉnh Đắk Lắk.

Cơ chế kinh tế cũng có ảnh hưởng tới việc thực hiện pháp luật về Bảo trợ xã hội. Cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp trước đây đã tạo ra cơ chế thụ động, ỷ lại. Do đó, nhận thức pháp luật và hoạt động thực hiện pháp luật thường mang tính phiến diện, một chiều theo kiểu mệnh lệnh – phục tùng. Cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay với những mặt tích cực của nó sẽ tạo ra tư duy năng động, sáng tạo, coi trọng uy tín, chất lượng, hiệu quả của hoạt động kinh tế . Từ đó tác động tích cực hơn tới ý thức pháp luật và hành vi thực hiện pháp luật của các chủ thể trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt và tiêu dùng. Nhưng mặt trái của tâm lý thị trường sẽ tạo ra tâm lý sùng bái đồng tiền, coi tiền là tất cả, bất chấp các giá trị đạo đức, pháp luật đồng thời sẽ tạo ra những quan niệm, hành vi sai lệch trong thực hiện pháp luật, lấy đồng tiền làm thước đo đánh giá các quan hệ giữa người với người. Đây là nguyên nhân phát sinh các hành vi trái pháp luật, là môi trường cho các loại tội phạm nảy sinh và phát triển.

Việc thực hiện tốt pháp luật về Bảo trợ xã hội, đảm bảo các nguyên tắc của công bằng xã hội là điều kiện cần thiết cho sự ổn định chính trị, tăng cường pháp chế và đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội; củng cố ý thức của con người về cái chung trong các lợi ích, lý tưởng của họ, khơi dậy thái độ tích cực của quần chúng đối với việc tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội bằng pháp luật; nhờ đó ý thức tôn trọng, chấp hành pháp luật cũng được nâng lên một bước và việc thực hiện pháp luật của các chủ thể trở nên tự giác và chủ động hơn.

  • Yếu tố chính trị – hành chính

Yếu tố chính trị là toàn bộ yếu tố tạo nên đời sống chính trị của xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, bao gồm môi trường chính trị, hệ thống các chuẩn mực chính trị, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và quá trình tổ chức, thực hiện chúng; các quan hệ chính trị và ý thức chính trị, hoạt động của hệ thống chính trị. Cùng với đó là nền dân chủ xã hội và bầu không khí chính trị – xã hội. Yếu tố chính trị có ảnh hưởng mạnh mẽ tới hiệu quả của hoạt động thực hiện pháp luật về Bảo trợ xã hội của các chủ thể pháp luật, đặc biệt là các cá nhân, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng pháp luật. Một đất nước có môi trường chính trị ổn định là điều kiện thuận lợi đối với hoạt động thực hiện pháp luật về Bảo trợ xã hội, bởi nó củng cố niềm tin của người dân, để họ tin và đi theo Đảng. Một đất nước bất ổn về chính trị sẽ luôn khiến người dân hoang mang, lo lắng, dao động…và dẫn đến việc thực hiện pháp luật không tốt. Nhận thấy đây là một trong những yếu tố quan trọng cho việc thực hiện pháp luật hiệu quả, chính xác. Hiện nay Đảng ta luôn quan tâm chỉ đạo sâu sát đối với việc tuyên truyền và phổ biến kiến thức nhằm nâng cao ý thức chính trị cũng như hiểu biết pháp luật cho các Đảng viên và đã đạt được kết quả tốt đẹp, để các Đảng viên luôn là những người đi trước, gương mẫu thực hiện pháp luật, từ đó tăng được lòng tin của quần chúng nhân dân.

Môi trường chính trị – xã hội của đất nước ta trong những năm qua luôn ổn định, phát triển bền vững chính là điều kiện thuận lợi đối với hoạt động thực hiện pháp luật, vì nó củng cố ý thức và niềm tin chính trị của cán bộ, Đảng viên và quần chúng nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, gia tăng lập trường chính trị – tư tưởng của các cá nhân có thẩm quyền áp dụng pháp luật. Thực tiễn lịch sử chứng minh rằng, trong thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX, khi mà Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu suy thoái, tan rã, một bộ phận không nhỏ cán bộ, Đảng viên, nhân dân có sự hoang mang, dao động về tư tưởng, tâm lý; nhưng nhờ môi trường chính trị ổn định dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam nên chúng ta đã vượt qua thử thách một cách thành công. Luận văn: Pháp luật về bảo trợ xã hội tại tỉnh Đắk Lắk.

Cương lĩnh chính trị, đường lối lãnh đạo của Đảng có ảnh hưởng rất quan trọng tới hoạt động thực hiện pháp luật. Ở nước ta, sự vận hành của hệ thống pháp luật trên các phương diện xây dựng, thực hiện và áp dụng pháp luật luôn được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng ta nhận thức sâu sắc rằng muốn xây dựng được một bộ máy Nhà nước trong sạch, vững mạnh vận hành trên các cơ sở nguyên tắc, quy định của pháp luật thì vấn đề thực hiện pháp luật một cách nhất quán, nghiêm chỉnh từ phía cán bộ, Đảng viên và nhân dân phải được đặt lên trên vị trí hàng đầu. Muốn cho pháp luật được tôn trọng và thực hiện nghiêm túc thì cán bộ, Đảng viên phải là những người đi trước, gương mẫu thực hiện và có “năng lực tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng , pháp luật của Nhà nước, công tâm, thạo việc, tận tụy với nhân dân, biết phát huy sức dân”. Chính vì vậy, Đảng ta luôn quan tâm và chỉ đạo sâu sắc đối với các hoat động pháp luật, trong đó có thực hiện pháp luật.

Ý thức chính trị cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động thực hiện pháp luật. Nó phản ánh các quan hệ chính trị, kinh tế, xã hội giữa các giai cấp, các dân tộc và các quốc gia cũng như thái độ của các giai cấp đối với quyền lực Nhà nước, thể hiện trực tiếp và tập trung nhất lợi ích giai cấp. Ở nước ta, hệ thống chính trị được thể hiện trong cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng cũng như trong các chính sách, pháp luật của Nhà nước dựa trên nền tảng của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội, thể hiện và vì lợi ích của đông đảo các giai cấp, tầng lớp nhân dân lao động. Trong hoạt động thực hiện pháp luật, ý thức chính trị thể hiện trước hết ở việc các chủ thể có chức năng áp dụng pháp luật quán triệt, thấm nhuần nhiệm vụ chính trị của mình, lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên, sâu sát quá trình thực hiện, áp dụng pháp luật, giữ nghiêm kỷ cương, phép nước. Điều đó sẽ giúp cho hoạt động thực hiện pháp luật thực sự đạt được chất lượng, hiệu quả cao, khơi dậy ý thức, trách nhiệm chính trị của các chủ thể khác trong thực hiện pháp luật.

Tính chất, mức độ của nền dân chủ xã hội cũng có ảnh hưởng tới hoạt động thực hiện pháp luật. Trong điều kiện xã hội có nền dân chủ rộng rãi, thông tin đa dạng, phong phú, nhiều chiều, các tầng lớp xã hội có thể thẳng thắn, công khai, cởi mở, bày tỏ chính kiến, quan điểm, nguyện vọng của mình đối với các vấn đề pháp luật và các cơ quan thực hiện pháp luật hoặc yêu cầu các cơ quan pháp luật trợ giúp, bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của mình. Ngược lại, trong điều kiện xã hội thiếu dân chủ, thông tin nghèo nàn, thậm chí bị bưng bít thì bầu không khí chính trị – xã hội bị ngột ngạt, gò bó, các công dân không dám nói thật suy nghĩ của lòng mình, không dám đòi hỏi công lý vì e ngại ý kiến, yêu cầu mà họ đưa ra có thể “phạm húy” hoặc không “hợp khẩu vị” của ai đó.

  • Yếu tố pháp luật

Yếu tố pháp luật là tổng thể các yếu tố tạo nên đời sống pháp luật của xã hội ở từng giai đoạn nhất định bao gồm hệ thống pháp luật, các quan hệ pháp luật… Bản thân pháp luật được sinh ra là để điều chỉnh các quan hệ xã hội là cơ sở để các chủ thể thực hiện pháp luật. Song chính các mặt, khía cạnh khác nhau của các chuẩn mực pháp luật cũng có ảnh hưởng nhất định đến hoạt động thực hiện pháp luật về Bảo trợ xã hội. Luận văn: Pháp luật về bảo trợ xã hội tại tỉnh Đắk Lắk.

Văn hóa pháp luật được hình thành từ tổng thể các hoạt động xã hội – pháp luật trên cả phương diện lý luận và thực tiễn, văn hóa pháp luật là hệ thống các giá trị, chuẩn mực pháp luật được kết tinh từ trí thức pháp luật, tình cảm, niềm tin đối với pháp luật và hành vi pháp luật; có ảnh hưởng sâu rộng tới các hình thức pháp luật từ tuân thủ chấp hành sử dụng cho tới áp dụng pháp luật. Văn hóa pháp luật được thể hiện ra trong đời sống pháp luật thông qua quá trình thực hiện pháp luật. Giữa văn hóa pháp luật và hoạt động thực hiện pháp luật có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Văn hóa pháp luật là cơ sở, nền tảng, khuôn mẫu tư duy và chuẩn mực hành vi của hoạt động thực hiện pháp luật, có định hướng đúng đắn. Ngược lại, hoạt động thực hiện pháp luật có tác dụng bổ sung làm phong phú thêm cho các giá trị chuẩn mực của văn hóa pháp luật.

Các yếu tố truyền thống cũng có ảnh hưởng không nhỏ đối với hoạt động thực hiện pháp luật trong giai đoạn hiện tại. Sự quản lý Nhà nước bằng pháp luật là nhằm khắc phục tính thiển cận, cục bộ trong quá trình phát triển, sản xuất, xây dựng làng xã trên các lĩnh vực kinh tế – xã hội. Thông qua pháp luật, Nhà nước nhắc nhở, duy trì mọi nghĩa vụ của người dân và làng xã đối với Nhà nước và xã hội. Trong quá trình phát triển Nhà nước thừa nhận làng có lệ riêng của mình sao cho không trái với nguyên tắc quy định của pháp luật. Hệ thống tự quản chủ yếu dựa vào dư luận xã hội, uy tín của các vị chức sắc và đặc biệt vai trò của lệ làng. Cần kết hợp cả hai hình thức quản lý này trong hoạt động thực hiện pháp luật.

Sự tồn tại dai dẳng của pháp luật do các chế độ cũ để lại có ảnh hưởng nhất định tới hoạt động thực hiện pháp luật. Một số người có quan niệm sai lầm cho rằng pháp luật chỉ chủ yếu là công cụ trừng phạt, do thiếu hiểu biết họ có tâm lý sợ hãi pháp luật. Tâm lý lo sợ đó khiến cho hành vi của con người thiếu ổn định do đó khó có thể dẫn đến hành vi xử sự tích cực trước pháp luật và đối với pháp luật.

Tình trạng thờ ơ trước pháp luật hoặc coi thường pháp luật ở một số người tác động tiêu cực đến việc thực hiện pháp luật của những người khác. Vẫn còn tồn tại tình trạng không tuân thủ pháp luật, thờ ơ coi thường pháp luật. Điều này không chỉ ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện pháp luật mà còn có tác động không nhỏ tới xã hội cộng đồng.

Ý thức, niềm tin đối với pháp luật của con người có ảnh hưởng quan trọng tới việc thực hiện pháp luật. Bởi lẽ, nếu thiếu sự tin tưởng vào pháp luật, không có niềm tin vững chắc vào tính công bằng và nghiêm minh của pháp luật…thì việc thực hiện pháp luật không thể tốt và chặt chẽ được.

Sự hoạt động của các cơ quan chức năng trong việc thực hiện pháp luật có tác động quan trọng đến việc hoạt động thực hiện pháp luật. Sự can thiệp của các cơ quan chức năng nhằm đảm bảo cho pháp luật được tôn trọng và thực hiện mỗi khi xảy ra vi phạm pháp luật, tranh chấp là cần thiết, đúng đắn. Luận văn: Pháp luật về bảo trợ xã hội tại tỉnh Đắk Lắk.

  • Yếu tố truyền thống, lịch sử, văn hóa, xã hội

Các yếu tố văn hóa – đời sống bao giờ cũng thuộc về một môi trường văn hóa xã hội nhất định gắn liền vói một phạm vi không gian xã hội nhất định, nơi các cá nhân và cộng đồng người tổ chức các hoạt động sống, sinh hoạt, cùng nhau tạo dựng, thừa nhận và chia sẻ các giá trị văn hóa, lối sống, phong tục tập quán, lễ nghi…Với những mặt, những khía cạnh biểu hiện của mình, các yếu tố văn hóa có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động thực hiện pháp luật, thể hiện trên các điểm sau:

Các phong tục tập quán trong cộng đồng xã hội có ảnh hưởng nhất định tới hoạt động thực hiện pháp luật của các tầng lớp nhân dân, thể hiện đặc biệt rõ nét ở khu vực nông thôn. Bên cạnh những ưu điểm rất căn bản, các phong tục tập quán ở nông thôn cũng đang bộc lộ những nhược điểm nhất định như việc tổ chức hội hè, đình đám, ma chay, giỗ chạp nhiều lúc nhiều nơi còn cồng kềnh, tốn kém và lãng phí; những hủ tục lạc hậu, lỗi thời còn tồn tại; trình độ dân trí còn thấp; thói hư tật xấu và tệ nạn xã hội phát sinh; tính tích cực chính trị – xã hội của người dân còn hạn chế…Tại một số làng xã, chính quyền và người dân đứng ra tổ chức lễ hội ồn ào, kéo dài, ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt, bán vé và thu phí sai nguyên tắc tài chính, sự chỉ đạo thiếu sâu sát, để cho một số người lợi dụng lễ hội để hành nghề mê tín dị đoan. Trong khi một số thói hư tật xấu và tệ nạn xã hội như nạ cờ bạc, số đề, mê tín dị đoan, mại dâm…đang xâm nhập vào nông thôn, thì có những người, thay vì tích cực đấu tranh, ngăn chặn, phòng ngừa lại tiếp tay hoặc trực tiếp tham gia vào những thói xấu đó. Những hiện tượng trên đây gây khó khăn cho việc thực hiện đúng đắn pháp luật, đồng thời là những hành vi vi phạm pháp luật, coi thường kỷ cương, phép nước, cần phải có biện pháp xử lý nghiêm minh, thích đáng. Lối sống đô thị và lối sống nông thôn có ảnh hưởng khác nhau tới hoạt động thực hiện pháp luật. Đặc trưng nổi bật của lối sống đô thị là tích cực chính trị – xã hội ở đô thị cao. Cư dân đô thị có nhiều điều kiện tiếp xúc với các thông tin chính trị – xã hội và tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội lớn mà phần nhiều được tổ chức tại các đô thị. Các phong trào có sức huy động quần chúng ở các đô thị thường diễn ra nhanh hơn so với ở nông thôn. Đây cũng là điều dễ hiểu vì đô thị thường là nơi tập trung nhiều thành phần xã hội có trình độ học vấn tương đối cao. Tại các thành phố, phạm vi giao tiếp về xã hội cơ bản tương đối rộng, cường độ giao tiếp cao và mang tính ẩn danh trong giao tiếp. Đây là điều kiện thuận lợi cho sự hình thành và phát triển ý thức pháp luật và các hình thức thực hiện pháp luật. Mặt khác, đô thị là nơi tập trung phần lớn bộ phận không thể thiếu trong dân cư đô thị thường được gọi dưới cái tên “những phần tử ngoài lề xã hội”. Về phương diện xã hội, đây là môi trường phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội và tội phạm nhiều tới mức đáng báo động, gây khó khăn cho công tác quản lý xã hội và hoạt động thực thi, bảo vệ pháp luât. Luận văn: Pháp luật về bảo trợ xã hội tại tỉnh Đắk Lắk.

Lối sống nông thôn là lối sống mang tính cộng đồng rất cao và rất chặt chẽ, liên kết cả thành viên trong làng xã lại với nhau, mỗi người đều hướng tới những người khác . Điều đó thể hiện ở mối quan hệ gắn bó, sự quan tâm giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình, dòng họ, lối xóm ở nông thôn. Người dân nông thôn thường sống đoàn kết gắn bó với quê hương làng xóm, rất coi trọng tình làng nghĩa xóm. Đây là một biểu hiện rất riêng, rất đặc thù của lối sống nông thôn Việt.

Tính cộng đồng được coi là điều kiện thuận lợi đối với hoạt động thực hiện pháp luật. Bằng ý thức cộng đồng, nó giúp cho các cán bộ pháp luật dễ dàng hơn trong việc phổ biến, tuyên truyền và thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với đông đảo người dân nông thôn. Sức mạnh của tinh thần đoàn kết giúp cho các cơ quan hành chính, tư pháp hoàn thành tốt các nhiệm vụ thực thi và bảo vệ pháp luật. Khi truyền thống làng xã được phát huy, người dân cởi mở, thẳng thắn tham gia ý kiến về những cái được và cái chưa được trong hoạt động thực hiện pháp luật.

Sự đề cao tính cộng đồng và chủ nghĩa tập thể dễ dẫn cán bộ làm công tác thực thi và bảo vệ pháp luật đến việc đánh mất ý thức về con người cá nhân, cái tôi bị triệt tiêu, ý thức cá nhân và hành vi cá nhân cũng bị đặt vào lối xử thế hòa cả làng. Tình trạng này khiến cho cán bộ cả nước khi phải đối mặt với những việc làm sai trái, khuyết điểm, thậm chí vi phạm pháp luật, thì họ thường tìm cách né tránh trách nhiệm cá nhân và muốn đó là trách nhiệm tập thể. Bên cạnh đó tính cộng đồng thường là cái cớ được cán bộ làm công tác thực thi và bảo vệ pháp luật dùng để biện minh cho thói quen ỷ lại vào tập thể và tâm lý an phận thủ thường. Chính điều này làm hạn chế năng lực sáng tạo, sự chủ động và quyết đoán của họ trong điều hành, giải quyết các công việc chung từ đó ảnh hưởng đến hoạt động thực hiện pháp luật.

Các phương tiện thông tin đại chúng thường xuyên đăng tải các thông tin về các sự kiện pháp luật hiện tượng xảy ra trong xã hội, hoạt động thực hiện pháp luật của các tầng lớp xã hội và của các cơ quan chức năng, nêu lên những tấm gương điển hình người tốt việc tốt trong việc thực hiện pháp luật… Những thông tin đó ở chừng mực khác nhau tác động đến suy nghĩ, nhận thức và hành vi của mỗi con người, khiến cho họ thực hiện pháp luật tốt hơn. Dư luận xã hội có tác động mạnh mẽ đến hoạt động thực hiện pháp luật. Dư luận xã hội gắn liền với ý chí cộng đồng của nhóm xã hội mà nó tác động mạnh mẽ đến suy nghĩ và hành động của các cá nhân. Trong một chừng mực nhất định người ta có thể không sợ sự trừng phạt của pháp luật khi thực hiện những hành vi sai trái, phạm pháp nhưng chúng lại sợ sự phê phán lên án của dư luận xã hội – một thứ bất thành văn. Trong điều kiện xã hội có nền dân chủ rộng rãi, dư luận xã hội được coi là phương tiện kiểm tra xã hội đối với ý thức pháp luật và hành vi pháp luật của mỗi người. Dưới áp lực của dư luận xã hội, mỗi người luôn phải xem xét, suy nghĩ, kiểm định trước khi thực hiện một hành vi pháp luật nào đó. Những câu hỏi phải được đặt ra về cái đúng, cái sai, nên hay không nên… Nhờ đó, ý thức tôn trọng, tuân thủ pháp luật trong mỗi chủ thể cũng được nâng lên một bước.

1.3. Nội dung thực hiện pháp luật về bảo trợ xã hội Luận văn: Pháp luật về bảo trợ xã hội tại tỉnh Đắk Lắk.

1.3.1. Thực hiện quy định về đối tượng và điều kiện bảo trợ xã hội

Đối tượng và điều kiện của Bảo trợ xã hội là những cá nhân, hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn, cần có sự hỗ trợ, trợ giúp nhằm giảm nhẹ tính dễ bị tổn thương và kiềm chế nguy cơ bần cùng hóa. Mỗi đối tượng sẽ có chế độ bảo trợ khác nhau, được quy định cụ thể tại Nghị định 67/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 13/4/2007 về chính sách trợ giúp các đối tượng Bảo trợ xã hội; Nghị định 13/2010/NĐ – CP ngày 27/02/2010 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 của Chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tượng Bảo trợ xã hội và Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội. Qua phân tích tìm hiểu, tác giả phân loại nhóm các đối tượng bảo trợ xã hội theo 05 nhóm sau [10]:

  • Một là, nhóm trẻ em bao gồm:

Trẻ em dưới 16 tuổi không có nguồn nuôi dưỡng thuộc một trong các trường hợp sau đây: Bị bỏ rơi chưa có người nhận làm con nuôi; mồ côi cả cha lẫn mẹ; mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại mất tích theo quy định của pháp luật hoặc người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở Bảo trợ xã hội, nhà xã hội….

Người từ 16 tuổi đến 22 tuổi thuộc một trong các trường hợp quy định tại Khoản 1, Điều 5, Nghị định 136/NĐ-CP ngày 21/10/2013 mà đang học phổ thông, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học văn bằng thứ nhất.

Hai là, nhóm cao tuổi (NCT) gồm: Người cao tuổi thuộc hộ nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng nhưng người này đang hưởng chế độ trợ cấp xã hội hàng tháng; Người từ đủ 80 tuổi trở lên không thuộc diện quy định tại Điểm a, Khoản 5, Điều 5, Nghị định 136/NĐ-CP ngày 21/10/2013 mà không có lương hưu, trợ cấp BHXH hàng tháng, trợ cấp xã hội hàng tháng; Người cao tuổi thuộc hộ nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, đủ điều kiện tiếp nhận vào cơ sở Bảo trợ xã hội, nhà xã hội nhưng có người nhận chăm sóc tại cộng đồng.

Ba là, người khuyết tật (NKT): Trẻ em khuyết tật, người khuyết tật thuộc diện hưởng trợ cấp xã hội theo quy định của pháp luật về người khuyết tật. Luận văn: Pháp luật về bảo trợ xã hội tại tỉnh Đắk Lắk.

Bốn là, nhóm người đơn thân thuộc diện hộ nghèo không có chồng hoặc không có vợ; có chồng hoặc vợ đã chết; có chồng hoặc vợ mất tích theo quy định của pháp luật và đang nuôi con nhỏ dưới 16 tuổi; hoặc đang nuôi con từ 16 tuổi đến 22 tuổi nhưng người đó đang học phổ thông, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học văn bằng thứ nhất.

Năm là, nhóm bị nhiễm HIV: Trẻ em bị nhiễm HIV thuộc hộ nghèo, người bị nhiễm HIV thuộc hộ nghèo không có khả năng lao động mà không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng, trợ cấp ưu đãi người có công hàng tháng, trợ cấp hàng tháng khác.

Các đối tượng trên được chăm lo, hỗ trợ từ vật chất đến sức khỏe cơ bản, thể hiện tính nhân đạo sâu sắc giữa con người và con người, con người và xã hội. Từ khi ra đời, hoạt động này được xem là một sự đảm bảo cho cuộc sống và đặc biệt có ý nghĩa đối với các đối tượng, bộ phận “người yếu thế”. Là sự bảo vệ quyền con người và đồng nhất đối với mọi thành viên xã hội trên cơ sở sự tương trợ cộng đồng, giảm rủi ro. Bảo trợ xã hội là hoạt động mang đậm tính nhân đạo, có ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội pháp luật và nhân văn sâu sắc.

  • Đối tượng được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội

Đối tượng Bảo trợ xã hội có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn bao gồm: Đối tượng quy định tại Khoản 1, Khoản 3, Điều 5, Nghị định 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 thuộc diện khó khăn không tự lo được cuộc sống và không có người nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng; Người cao tuổi thuộc diện được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở Bảo trợ xã hội, nhà xã hội theo quy định của pháp luật về người cao tuổi; Trẻ em khuyết tật, người khuyết tật thuộc diện được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở Bảo trợ xã hội, nhà xã hội theo quy định của pháp luật về người khuyết tật [10].

  • Đối tượng cần bảo vệ khẩn cấp bao gồm:

Nạn nhân của bạo lực gia đình; nạn nhân bị xâm hại tình dục; nạn nhân bị buôn bán; nạn nhân bị cưỡng bức lao động;Trẻ em, người lang thang xin ăn trong thời gian chờ đưa về nơi cư trú; Đối tượng cần bảo vệ khẩn cấp khác theo quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh [10].

  • Thời gian chăm sóc, nuôi dưỡng đối tượng quy định tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội tối đa không quá 03 tháng [10].
  • Đối tượng tự nguyện sống tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội bao gồm:

NCT thực hiện theo hợp đồng ủy nhiệm chăm sóc; Người không thuộc diện đối tượng Bảo trợ xã hội có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; đối tượng cần bảo vệ khẩn cấp không có điều kiện sống tại gia đình, có nhu cầu vào sống tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội [10]. Luận văn: Pháp luật về bảo trợ xã hội tại tỉnh Đắk Lắk.

1.3.2. Thực hiện quy trình tiếp nhận, thẩm định hồ sơ đề nghị trợ cấp xã hội

  • Hồ sơ đề nghị trợ cấp xã hội hàng tháng đối tượng bảo trợ xã hội:

Tờ khai của đối tượng theo mẫu do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội quy định; Bản sao sổ hộ khẩu của đối tượng hoặc văn bản xác nhận của công an xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là công an cấp xã); Bản sao giấy khai sinh đối với trường hợp trẻ em; Giấy tờ xác nhận bị nhiễm HIV của cơ quan y tế có thẩm quyền đối với trường hợp bị nhiễm HIV; Bản sao giấy khai sinh của con của người đơn thân đối với trường hợp người đơn thân nghèo đang nuôi con; Sơ yếu lý lịch của người nhận chăm sóc người cao tuổi có xác nhận của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã) và đơn của người nhận chăm sóc, nuôi dưỡng theo mẫu do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội quy định đối với đối tượng Người cao tuổi thuộc hộ nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, đủ điều kiện tiếp nhận vào cơ sở Bảo trợ xã hội, nhà xã hội nhưng có người nhận chăm sóc tại cộng đồng [10].

  • Thủ tục thực hiện trợ hàng tháng đối tượng bảo trợ xã hội theo quy định sau đây:

Đối tượng hoặc người giám hộ của đối tượng làm hồ sơ theo quy định gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã; Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, Hội đồng xét duyệt trợ giúp xã hội (sau đây gọi chung là Hội đồng xét duyệt) thực hiện xét duyệt và niêm yết công khai kết quả xét duyệt tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã trong thời gian 07 ngày, trừ những thông tin liên quan đến HIV của đối tượng.

Khi hết thời gian niêm yết, nếu không có khiếu nại thì Hội đồng xét duyệt bổ sung biên bản họp kết luận của Hội đồng xét duyệt vào hồ sơ của đối tượng, trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã. Trường hợp có khiếu nại, trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được khiếu nại, Hội đồng xét duyệt kết luận và công khai về vấn đề khiếu nại, trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã; Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được biên bản kết luận của Hội đồng xét duyệt, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có văn bản (kèm theo hồ sơ của đối tượng) gửi Phòng Lao động Thương binh và Xã hội; Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ của đối tượng và văn bản đề nghị của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội có trách nhiệm thẩm định, trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp huyện) quyết định trợ cấp xã hội cho đối tượng. Trường hợp đối tượng không đủ điều kiện hưởng, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do; Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản trình của Phòng Lao động Thương binh và Xã hội, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện xem xét, quyết định trợ cấp xã hội hàng tháng cho đối tượng. Luận văn: Pháp luật về bảo trợ xã hội tại tỉnh Đắk Lắk.

Thời gian hưởng trợ cấp xã hội đối với người cao tuổi quy định tại Điểm b, Khoản 5, Điều 5, Nghị định 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 kể từ thời điểm người đó đủ 80 tuổi. Thời gian hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng của đối tượng khác, kể từ tháng Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ký quyết định trợ cấp xã hội hàng tháng [10].

  • Thủ tục điều chỉnh, thôi hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng đối tượng bảo trợ xã hội thực hiện theo quy định sau đây:

Đối tượng, người giám hộ của đối tượng hoặc tổ chức, cá nhân liên quan có kiến nghị về việc đối tượng không còn đủ điều kiện hưởng hoặc thay đổi điều kiện hưởng gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã; Trình tự thẩm định, quyết định điều chỉnh, thôi hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng thực hiện theo quy định; Thời gian điều chỉnh, thôi hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng kể từ tháng ngay sau tháng Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ký quyết định.

Trường hợp đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng bị chết, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã đề nghị Phòng Lao động Thương binh và Xã hội báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thôi hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng. Thời gian thôi hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng kể từ tháng ngay sau tháng đối tượng đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng chết [10].

Thủ tục chi trả trợ cấp xã hội hàng tháng khi đối tượng thay đổi nơi cư trú trong cùng địa bàn quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thực hiện theo quy định sau đây:

Đối tượng hoặc người giám hộ của đối tượng có đơn đề nghị gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú mới; Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn đề nghị, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có văn bản gửi Phòng Lao động Thương binh và Xã hội; Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội có trách nhiệm thẩm định và thực hiện chi trả trợ cấp xã hội hàng tháng cho đối tượng theo địa chỉ nơi cư trú mới.

  • Thủ tục quyết định trợ cấp xã hội hàng tháng khi đối tượng thay đổi nơi cư trú giữa các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thực hiện theo quy định sau đây:

Đối tượng thay đổi nơi cư trú có đơn đề nghị gửi Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp xã nơi đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng.

Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp xã có văn bản gửi Phòng Lao động Thương binh và Xã hội; Phòng Lao động Thương binh và Xã hội trình Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp huyện quyết định thôi chi trả trợ cấp xã hội hàng tháng tại nơi cư trú cũ và gửi văn bản kèm theo hồ sơ của đối tượng đến Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp xã nơi cư trú mới của đối tượng. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ của đối tượng, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp xã xác nhận và chuyển hồ sơ của đối tượng đến Phòng Lao động Thương binh và Xã hội; Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ của đối tượng, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thẩm định, trình Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp huyện quyết định trợ cấp xã hội hàng tháng cho đối tượng kể từ tháng ngay sau tháng ghi trong quyết định thôi hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi cư trú cũ của đối tượng [10]. Luận văn: Pháp luật về bảo trợ xã hội tại tỉnh Đắk Lắk.

  • Hồ sơ tiếp nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội:
  • Hồ sơ tiếp nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội đối với đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, bao gồm:

Đơn của đối tượng hoặc người giám hộ theo mẫu do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội quy định; Sơ yếu lý lịch của đối tượng theo mẫu do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội quy định có xác nhận của Ủy ban Nhân dân cấp xã; Tờ khai đề nghị trợ giúp xã hội theo mẫu do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội quy định; Bản sao giấy khai sinh đối với trẻ em, trường hợp trẻ em bị bỏ rơi phải làm thủ tục đăng ký khai sinh theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ tịch; Xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền đối với trường hợp bị nhiễm HIV; Biên bản kết luận của Hội đồng xét duyệt; Quyết định tiếp nhận của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp xã đối với trường hợp nhà xã hội thuộc cấp xã quản lý; Quyết định tiếp nhận của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp huyện đối với trường hợp tiếp nhận vào cơ sở Bảo trợ xã hội, nhà xã hội thuộc cấp huyện quản lý; Quyết định tiếp nhận của Giám đốc Sở Lao động Thương binh và Xã hội đối với trường hợp tiếp nhận vào cơ sở Bảo trợ xã hội, nhà xã hội thuộc cấp tỉnh quản lý; Giấy tờ liên quan khác (nếu có) [10].

  • Hồ sơ đề nghị tiếp nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội đối với đối tượng cần bảo vệ khẩn cấp, bao gồm:

Đơn của đối tượng hoặc người giám hộ theo mẫu do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội quy định; Tờ khai đề nghị trợ giúp xã hội theo mẫu do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội quy định; Bản sao chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ tùy thân của đối tượng (nếu có); Biên bản đối với trường hợp khẩn cấp có nguy cơ đe dọa đến tính mạng của đối tượng; Văn bản đề nghị của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp xã, nơi đối tượng đang ở hoặc nơi phát hiện thấy cần sự bảo vệ khẩn cấp; Quyết định tiếp nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

  • Hồ sơ tiếp nhận đối tượng tự nguyện sống tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội bao gồm:

Đơn của đối tượng hoặc người giám hộ theo mẫu do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội quy định; Sơ yếu lý lịch của đối tượng theo mẫu do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội quy định có xác nhận của Ủy ban Nhân dân cấp xã; Tờ khai đề nghị trợ giúp xã hội theo mẫu do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội quy định; Bản sao giấy khai sinh đối với trẻ em, trường hợp trẻ em bị bỏ rơi phải làm thủ tục đăng ký khai sinh theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ tịch; Hợp đồng dịch vụ chăm sóc; Các giấy tờ liên quan khác [10]. Luận văn: Pháp luật về bảo trợ xã hội tại tỉnh Đắk Lắk.

  • Thủ tục tiếp nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội:

Thủ tục tiếp nhận chăm sóc, nuôi dưỡng đối với đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn thực hiện theo quy định sau đây:

Đối tượng hoặc người giám hộ có giấy tờ theo quy định tại các điểm a, b, c, d và đ Khoản 1, Điều 30, Nghị định 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 gửi Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp xã. Trong thời hạn 15 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ của đối tượng, Hội đồng xét duyệt có trách nhiệm xét duyệt và niêm yết công khai kết quả xét duyệt tại trụ sở Ủy ban Nhân dân cấp xã trong thời gian 07 ngày làm việc, trừ những thông tin về HIV của đối tượng.

Hết thời gian niêm yết công khai, nếu không có khiếu nại thì Hội đồng xét duyệt bổ sung biên bản kết luận của Hội đồng xét duyệt và trình Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp xã quyết định tiếp nhận đối tượng vào chăm sóc, nuôi dưỡng tại nhà xã hội thuộc cấp xã quản lý hoặc văn bản gửi Phòng Lao động Thương binh và Xã hội. Trường hợp có khiếu nại trong thời gian niêm yết thì trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được khiếu nại, Hội đồng xét duyệt có trách nhiệm xác minh, thẩm tra, kết luận cụ thể và công khai trước nhân dân, trình Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp xã quyết định tiếp nhận đối tượng vào chăm sóc, nuôi dưỡng tại nhà xã hội thuộc cấp xã quản lý hoặc có văn bản gửi Phòng Lao động Thương binh và Xã hội;

Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ của đối tượng và văn bản đề nghị của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp xã, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thẩm định, trình Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp huyện quyết định; Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản trình của Phòng Lao động Thương binh và Xã hội, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp huyện quyết định tiếp nhận đối tượng vào chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở Bảo trợ xã hội, nhà xã hội thuộc thẩm quyền quản lý hoặc có văn bản đề nghị Giám đốc Sở Lao động Thương binh và Xã hội; Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ khi nhận được hồ sơ của đối tượng và văn bản đề nghị của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, Giám đốc Sở Lao động Thương binh và Xã hội quyết định tiếp nhận đối tượng vào chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở Bảo trợ xã hội, nhà xã hội thuộc thẩm quyền quản lý;

Trường hợp đối tượng không được tiếp nhận vào chăm sóc, nuôi dưỡng thì cơ quan tiếp nhận hồ sơ của đối tượng phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Thủ tục tiếp nhận vào cơ sở Bảo trợ xã hội, nhà xã hội đối với đối tượng cần bảo vệ khẩn cấp thực hiện theo quy định sau đây:

Khi phát hiện thấy có đối tượng cần bảo vệ khẩn cấp, công chức cấp xã phụ trách công tác lao động, thương binh và xã hội lập biên bản, nếu thấy cần thiết phải đưa đối tượng vào chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở Bảo trợ xã hội, nhà xã hội thì hướng dẫn đối tượng, gia đình làm hồ sơ theo quy định; Căn cứ hồ sơ của đối tượng, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp xã quyết định tiếp nhận đối tượng vào chăm sóc, nuôi dưỡng tại nhà xã hội thuộc thẩm quyền quản lý hoặc có văn bản đề nghị Phòng Lao động Thương binh và Xã hội trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định; Khi nhận được hồ sơ của đối tượng và văn bản đề nghị của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp xã, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội có trách nhiệm thẩm định, trình Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp huyện quyết định tiếp nhận đối tượng vào chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở Bảo trợ xã hội, nhà xã hội thuộc thẩm quyền quản lý hoặc có văn bản đề nghị Sở LĐTBXH; Khi nhận được hồ sơ của đối tượng và văn bản đề nghị của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, Giám đốc Sở Lao động Thương binh và Xã hội quyết định tiếp nhận đối tượng vào chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở Bảo trợ xã hội, nhà xã hội thuộc thẩm quyền quản lý; Trường hợp đối tượng không được tiếp nhận vào chăm sóc, nuôi dưỡng thì cơ quan tiếp nhận hồ sơ của đối tượng phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức đưa và bàn giao đối tượng cho cơ sở Bảo trợ xã hội, nhà xã hội [10].

  • Thủ tục quyết định tiếp nhận đối tượng tự nguyện sống tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội đối với thực hiện theo quy định sau đây: Luận văn: Pháp luật về bảo trợ xã hội tại tỉnh Đắk Lắk.

Đối tượng hoặc người giám hộ làm hồ sơ theo quy định tại Khoản 3 Điều 30 Nghị định 136/2013/NĐ-CP gửi cơ sở Bảo trợ xã hội, nhà xã hội; Khi nhận được hồ sơ của đối tượng, người đứng đầu cơ sở Bảo trợ xã hội, nhà xã hội quyết định tiếp nhận và ký hợp đồng dịch vụ chăm sóc theo quy định [10].

1.3.3. Thực hiện quy định về thành lập, tổ chức, hoạt động và giải thể cơ sở bảo trợ xã hội

Điều kiện, thủ tục thành lập, tổ chức, hoạt động và giải thể cơ sở bảo trợ xã hội chăm sóc, nuôi dưỡng từ 10 đối tượng trở lên [8].

Cơ sở bảo trợ xã hội bao gồm: cơ sở Bảo trợ xã hội công lập và cơ sở Bảo trợ xã hội ngoài công lập.

  1. Cơ sở bảo trợ xã hội công lập do cơ quan nhà nước quản lý, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, bảo đảm kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên của cơ sở bảo trợ xã hội.
  2. Điều kiện về môi trường, cơ sở vật chất, cán bộ nhân viên và tiêu chuẩn chăm sóc đối tượng:

Điều kiện về môi trường: Cơ sở Bảo trợ xã hội phải đặt tại địa điểm thuận tiện về tiếp cận giao thông, trường học, bệnh viện, không khí trong lành có lợi cho sức khoẻ của đối tượng; có điện, nước sạch phục vụ cho sinh hoạt.

  • Điều kiện về cơ sở vật chất:

Diện tích đất tự nhiên: Bình quân 30 m2/đối tượng ở khu vực nông thôn, 10 m2/đối tượng ở khu vực thành thị.

Diện tích phòng ở của đối tượng bình quân 6 m2/đối tượng. Đối với đối tượng phải chăm sóc 24/24 giờ một ngày, diện tích phòng ở bình quân 8 m2/đối tượng. Phòng ở phải được trang bị đồ dùng cần thiết phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày của đối tượng.

Đối với cơ sở Bảo trợ xã hội chăm sóc, nuôi dưỡng từ 25 đối tượng trở lên phải có khu nhà ở, khu nhà bếp, khu làm việc của cán bộ nhân viên, khu vui chơi giải trí, hệ thống cấp, thoát nước, điện, đường đi nội bộ; khu sản xuất và lao động trị liệu (nếu có điều kiện). Đối với cơ sở Bảo trợ xã hội chăm sóc, nuôi dưỡng từ 10 đến dưới 25 đối tượng phải đảm bảo điều kiện cơ bản về nhà ở, nhà bếp, nhà làm việc của cán bộ nhân viên, điện, nước phục vụ sinh hoạt hàng ngày.

Các công trình, các trang thiết bị phải bảo đảm cho người tàn tật, người cao tuổi và trẻ em tiếp cận và sử dụng thuận tiện.

  • Điều kiện về chăm sóc, nuôi dưỡng: Luận văn: Pháp luật về bảo trợ xã hội tại tỉnh Đắk Lắk.

Đối tượng được bảo đảm mức sống, được chăm sóc sức khỏe; được học văn hoá (đối với người có khả năng học tập); được học nghề (đối với trẻ em từ 13 tuổi trở lên và những người có khả năng lao động và có nhu cầu học nghề); được cung cấp thông tin; được vui chơi giải trí và được giao lưu với cộng đồng và tái hòa nhập gia đình, cộng đồng.

Hồ sơ, thủ tục thành lập và giải thể cơ sở bảo trợ xã hội công lập:

  • Hồ sơ, thủ tục thành lập.

Hồ sơ thành lập: Tờ trình thành lập (Sự cần thiết thành lập cơ sở Bảo trợ xã hội; Quá trình xây dựng đề án; Nội dung cơ bản của đề án; Những vấn đề còn có ý kiến khác nhau); Đề án thành lập (Mục tiêu và nhiệm vụ của cơ sở bảo trợ xã hội; Phương án thành lập và kế hoạch hoạt động của cơ sở Bảo trợ xã hội; Đối tượng tiếp nhận; Tổ chức bộ máy; nhân sự, biên chế; Trụ sở làm việc (địa điểm, thiết kế) và trang thiết bị, phương tiện cần thiết; Kế hoạch kinh phí; Dự kiến hiệu quả; Kiến nghị của cơ quan, đơn vị trình); Quy chế hoạt động của cơ sở bảo trợ xã hội (Trách nhiệm của Giám đốc và các Phòng chuyên môn nghiệp vụ; Trách nhiệm của cán bộ, nhân viên; Trách nhiệm, quyền lợi của đối tượng nuôi dưỡng; Cơ chế quản lý tài sản, tài chính; Những quy định có tính chất hành chính và những vấn đề liên quan khác, phù hợp với đặc điểm của loại hình cơ sở Bảo trợ xã hội).

Thủ tục thành lập: Đơn vị xây dựng đề án gửi hồ sơ trình cấp có thẩm quyền thành lập qua cơ quan thẩm định.

Cơ quan thẩm định: Đối với cơ sở Bảo trợ xã hội thuộc thẩm quyền quyết định thành lập của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ thì cơ quan thẩm định là Vụ Tổ chức cán bộ hoặc Ban Tổ chức cán bộ; Đối với cơ sở Bảo trợ xã hội thuộc thẩm quyền quyết định thành lập của Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh thì cơ quan thẩm định là Sở Lao động Thương binh và Xã hội; Đối với cơ sở Bảo trợ xã hội thuộc thẩm quyền quyết định thành lập của Ủy ban Nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì cơ quan thẩm định là Phòng Nội vụ – Lao động Thương binh và Xã hội hoặc Phòng Lao động Thương binh và Xã hội.

Trách nhiệm thẩm định: Cơ quan thẩm định có trách nhiệm tiếp nhận và cấp giấy biên nhận cho bên nộp hồ sơ; trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ thì phải tiến hành thẩm định, trình cấp có thẩm quyền quyết định thành lập cơ sở Bảo trợ xã hội; Trường hợp không đủ điều kiện thành lập cơ sở Bảo trợ xã hội thì cấp có thẩm quyền thành lập phải trả lời bằng văn bản, nêu rõ lý do không đủ điều kiện thành lập cơ sở Bảo trợ xã hội.

Nội dung thẩm định: Sự cần thiết, cơ sở pháp lý và điều kiện thành lập cơ sở Bảo trợ xã hội; các yếu tố bảo đảm cho hoạt động và tính khả thi của đề án; tác động và hiệu quả của cơ sở Bảo trợ xã hội; Từng nội dung thẩm định phải có kết luận rõ ràng, bảo đảm tính khách quan, trung thực. Luận văn: Pháp luật về bảo trợ xã hội tại tỉnh Đắk Lắk.

Thẩm quyền cho phép thành lập, hoạt động của cơ sở Bảo trợ xã hội quy định như sau: Bộ trưởng các Bộ,Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ quyết định đối với cơ sở Bảo trợ xã hội thuộc quyền quản lý; Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định hoặc phân cấp quyết định thành lập cơ sở Bảo trợ xã hội hoạt động trên phạm vi tỉnh, thành phố và cơ sở Bảo trợ xã hội công lập hoạt động trên phạm vi cấp huyện; Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh quyết định thành lập cơ sở Bảo trợ xã hội ngoài công lập hoạt động trên phạm vi cấp huyện. Trong thời hạn 20 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của cơ quan thẩm định, người có thẩm quyền thành lập cơ sở Bảo trợ xã hội phải ra quyết định thành lập cơ sở Bảo trợ xã hội.

  • Giải thể cơ sở bảo trợ xã hội.

Cơ sở Bảo trợ xã hội không đảm bảo các điều kiện qui định về môi trường và vị trí, cơ sở vật chất, chăm sóc và nuôi dưỡng, định mức cán bộ và nhân viên. Người có thẩm quyền giải thể cơ sở Bảo trợ xã hội là người có thẩm quyền ra quyết định thành lập cơ sở Bảo trợ xã hội.

Hồ sơ xin giải thể cơ sở bảo trợ xã hội gồm có: Đơn xin giải thể cơ sở Bảo trợ xã hội nêu rõ lý do xin giải thể; Bản kê khai tài sản, tài chính và phương án xử lý; Danh sách đối tượng và phương án giải quyết khi cơ sở giải thể. Trong thời hạn 20 ngày sau khi nhận được hồ sơ xin giải thể, người có thẩm quyền giải thể phải ra quyết định giải thể cơ sở Bảo trợ xã hội. Cơ sở Bảo trợ xã hội không được tự động giải thể khi chưa nhận được quyết định giải thể của người có thẩm quyền. Trường hợp người có thẩm quyền ra quyết định giải thể cơ sở Bảo trợ xã hội do cơ sở vi phạm pháp luật hoặc hoạt động kém hiệu quả thì cơ sở Bảo trợ xã hội phải thực hiện phương án giải thể trong thời hạn 90 ngày.

Cơ sở bảo trợ xã hội ngoài công lập do các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên của cơ sở bảo trợ xã hội.

Hồ sơ thành lập bao gồm: Đơn xin thành lập cơ sở Bảo trợ xã hội; Đề án thành lập cơ sở Bảo trợ xã hội; Giấy tờ hợp pháp về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở hoặc tài sản gắn liền với đất phục vụ cho hoạt động của cơ sở Bảo trợ xã hội; Dự thảo quy chế hoạt động; Sơ yếu lý lịch của Giám đốc cơ sở Bảo trợ xã hội, có xác nhận của Ủy ban Nhân dân xã nơi cư trú hoặc tổ chức thành lập cơ sở Bảo trợ xã hội; Có ý kiến bằng văn bản của Ủy ban Nhân dân cấp xã trong đó nêu rõ đồng ý hay không đồng ý nơi cơ sở Bảo trợ xã hội đặt trụ sở hoạt động; Văn bản thẩm định và đề nghị của tổ chức, đoàn thể, tôn giáo cấp tỉnh nếu là cơ sở Bảo trợ xã hội của tổ chức, đoàn thể, tôn giáo thuộc thẩm quyền quyết định của Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh.

Thủ tục thành lập, giải thể, thay đổi tên gọi, trụ sở, giám đốc, quy chế thực hiện theo quy định đối với cơ sở Bảo trợ xã hội công lập (Cơ quan thẩm định và trách nhiệm thẩm định hồ sơ; Thẩm quyền thành lập; Giải thể; Thay đổi tên cơ sở, trụ sở, Giám đốc, quy chế). Luận văn: Pháp luật về bảo trợ xã hội tại tỉnh Đắk Lắk.

1.3.4. Thực hiện quy định về trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước trong việc quản lý hoạt động bảo trợ xã hội

Uỷ ban nhân dân cấp xã [7]: Thành lập Hội đồng xét duyệt trợ giúp xã hội; Quản lý đối tượng Bảo trợ xã hội trên địa bàn; Cập nhật danh sách đối tượng trợ giúp hàng tháng (nếu có biến động, bổ sung đối tượng mới hoặc giảm đối tượng do chết hoặc không còn đủ điều kiện hưởng) gửi Phòng Lao động Thương binh và Xã hội để trình Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp huyện ra quyết định.

Tổng hợp, báo cáo định kỳ kết quả thực hiện chính sách trợ giúp xã hội trên địa bàn và gửi kèm theo bảng tổng hợp số liệu theo các mẫu 11a, 11b, 11c và 11d ban hành kèm theo Thông tư liên tịch số 29/2014/TTLT-BLĐTBXH-BTC về Phòng Lao động Thương binh và Xã hội và Uỷ ban nhân dân cấp huyện trước ngày 15 tháng 6 và 15 tháng 12 hàng năm. Quản lý hoạt động cơ sở Bảo trợ xã hội, nhà xã hội và phối hợp hoạt động với các cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội trên địa bàn. Đối với chính sách trợ giúp đột xuất: Lập danh sách và tổ chức cứu trợ kịp thời, đúng đối tượng và hỗ trợ các đối tượng sớm khắc phục hậu quả thiên tai, ổn định sản xuất và cuộc sống.

Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội [7]: Quản lý đối tượng Bảo trợ xã hội trên địa bàn bằng hồ sơ, sổ hoặc phần mềm vi tính; Hướng dẫn, tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát cấp xã trong việc xác định và quản lý đối tượng; tổ chức thực hiện chính sách trợ giúp xã hội trên địa bàn; Hàng năm, lập dự toán kinh phí chi trả trợ cấp hàng tháng; trợ giúp đột xuất; kinh phí chi cho công tác quản lý gửi Phòng Tài chính tổng hợp trình Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp huyện và quyết toán kinh phí trợ cấp thường xuyên và đột xuất theo quy định hiện hành. Đối với những địa phương thực hiện chi trả chính sách trợ giúp xã hội thông qua tổ chức dịch vụ chi trả, hàng tháng gửi danh sách chi trả cho tổ chức dịch vụ chi trả; hướng dẫn, kiểm tra và giám sát tổ chức dịch vụ chi trả trong việc triển khai công tác chi trả cho đối tượng;

Tổng hợp, báo cáo định kỳ kết quả thực hiện chính sách trợ giúp xã hội trên địa bàn và gửi kèm theo bảng tổng hợp số liệu theo các mẫu 11a, 11b, 11c và 11d ban hành kèm theo Thông tư liên tịch số 29/2014/TTLT-BLĐTBXH-BTC về Sở Lao động Thương binh và Xã hội và Uỷ ban nhân dân cấp huyện trước ngày 30 tháng 6 và ngày 31 tháng 12 hàng năm; Quản lý cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội do cấp huyện thành lập. Luận văn: Pháp luật về bảo trợ xã hội tại tỉnh Đắk Lắk.

Sở Lao động – Thương binh và Xã hội [7]: Chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính, căn cứ vào điều kiện cụ thể của địa phương về đối tượng hưởng chính sách trợ giúp xã hội và khả năng cân đối của ngân sách địa phương, xây dựng mức trợ cấp xã hội, mức trợ cấp nuôi dưỡng, mức hỗ trợ kinh phí chăm sóc, nuôi dưỡng và các mức trợ giúp xã hội khác cao hơn các mức tương ứng quy định tại Nghị định số 136/2013/NĐ-CP trình Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh quy định; Hướng dẫn, tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách trợ giúp xã hội trên địa bàn. Hàng năm, vào thời điểm lập dự toán, tổng hợp số đối tượng hưởng chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên của các huyện, kinh phí trợ giúp đột xuất và dự kiến nhu cầu kinh phí thực hiện cùng với dự toán chi thường xuyên gửi Sở Tài chính xem xét, tổng hợp vào dự toán ngân sách địa phương, trình cấp có thẩm quyền quyết định theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn thực hiện.

Trường hợp thiên tai, hỏa hoạn xảy ra trên diện rộng gây thiệt hại nặng và các nguồn kinh phí quy định tại Khoản 1, Điều 35 Nghị định số136/2013/NĐ-CP không đủ để thực hiện trợ giúp đột xuất, Sở Lao động Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tổng hợp trình Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh để báo cáo Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính tổng hợp trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định hỗ trợ lương thực, kinh phí từ nguồn ngân sách Trung ương. Tổng hợp, báo cáo định kỳ về kết quả thực hiện chính sách trên địa bàn và gửi kèm theo bảng tổng hợp số liệu theo các mẫu 11a, 11b, 11c và 11d ban hành kèm theo Thông tư liên tịch số 29/2014/TTLT-BLĐTBXH-BTC về Bộ Lao động Thương binh và Xã hội và Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh trước ngày 15/01 và 15/7 hàng năm; Quản lý cơ sở Bảo trợ xã hội, nhà xã hội do cấp tỉnh thành lập. Triển khai việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý đối tượng Bảo trợ xã hội ở cấp tỉnh và cấp huyện; xây dựng cơ sở dữ liệu, tổng hợp và gửi thông tin của đối tượng đã được định dạng theo chuẩn XML về Bộ Lao động Thương binh và Xã hội định kỳ, đột xuất theo quy định.

Sở Tài chính [7]: Phối hợp với Sở Lao động Thương binh và Xã hội, căn cứ vào điều kiện cụ thể của địa phương về đối tượng hưởng chính sách trợ giúp xã hội và khả năng cân đối của ngân sách địa phương, xây dựng mức trợ cấp xã hội, mức trợ cấp nuôi dưỡng, mức hỗ trợ kinh phí chăm sóc, nuôi dưỡng và các mức trợ giúp xã hội khác cao hơn các mức tương ứng quy định tại Nghị định số 136/2013/NĐ-CP trình Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định. Tổng hợp dự toán kinh phí thực hiện chính sách trợ giúp xã hội đối với các đối tượng Bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh vào dự toán ngân sách địa phương, trình cấp có thẩm quyền quyết định theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn thực hiện.

Tổ chức dịch vụ chi trả: Có trách nhiệm thực hiện theo quy định tại Điều 9, Thông tư liên tịch số 29/2014/TTLT-BLĐTBXH-BTC. Trường hợp xảy ra mất tiền trong quá trình tổ chức thực hiện chi trả hoặc chi trả không đúng, thì tổ chức dịch vụ chi trả có trách nhiệm thu hồi, bồi hoàn cho đối tượng hoặc cho cơ quan đã ký hợp đồng và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Thực hiện Đề án phát triển nghề công tác xã hội (Đề án 32): Công tác triển khai thực hiện Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg ngày 25/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010-2020.

Thực hiện Đề án trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng (Đề án 1215): Công tác triển khai thực hiện Quyết định số 1215/QĐ-TTg ngày 22/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho tâm thần, người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng giai đoạn 2011-2020.

1.3.5. Thực hiện quy định về các nguồn lực bảo đảm thực hiện chế độ bảo trợ xã hội Luận văn: Pháp luật về bảo trợ xã hội tại tỉnh Đắk Lắk.

Kinh phí thực hiện chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên [10]: Kinh phí thực hiện chi trả trợ cấp xã hội hàng tháng đối với đối tượng Bảo trợ xã hội thuộc diện hưởng trợ cấp hàng tháng, kinh phí hỗ trợ hộ gia đình, cá nhân nhận chăm sóc nuôi dưỡng đối tượng tại cộng đồng được bố trí trong dự toán chi đảm bảo xã hội theo phân cấp ngân sách của địa phương.

Kinh phí thực hiện chăm sóc, nuôi dưỡng các đối tượng tại cơ sở Bảo trợ xã hội, nhà xã hội: Đối với cơ sở Bảo trợ xã hội, nhà xã hội công lập thuộc cấp nào thì do ngân sách cấp đó bảo đảm trong dự toán chi đảm bảo xã hội; Đối với cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội ngoài công lập được bố trí trong dự toán chi đảm bảo xã hội của ngân sách cấp tỉnh.

Kinh phí tuyên truyền, phổ biến chính sách, xét duyệt đối tượng, ứng dụng công nghệ thông tin, quản lý đối tượng, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cán bộ, tập huấn gia đình, cá nhân nhận chăm sóc, nuôi dưỡng đối tượng bảo trợ xã hội tại cộng đồng và kiểm tra, giám sát của các cơ quan thuộc cấp nào thì do ngân sách cấp đó bảo đảm trong dự toán chi đảm bảo xã hội theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật.

Kinh phí thực hiện chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên được lập, phân bổ, sử dụng, quản lý và quyết toán theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước, Luật Kế toán, các văn bản hướng dẫn Luật và quy định cụ thể tại Thông tư liên tịch này. Riêng năm 2015, ngân sách trung ương hỗ trợ kinh phí tăng thêm cho ngân sách địa phương như sau: 100% cho các địa phương chưa tự cân đối được ngân sách và tỉnh Quảng Ngãi; 50% cho các địa phương có tỷ lệ điều tiết các khoản thu phân chia về ngân sách trung ương dưới 50%; Đối với các địa phương sử dụng ngân sách địa phương để thực hiện một phần hoặc toàn bộ chính sách, nếu hụt thu do nguyên nhân khách quan hoặc tăng thu thấp: sau khi đã sử dụng 50% số tăng thu ngân sách địa phương (nếu có) và 50% dự phòng ngân sách địa phương theo dự toán được Thủ tướng Chính phủ giao mà vẫn còn thiếu thì ngân sách trung ương sẽ hỗ trợ phần chênh lệch thiếu; Các địa phương còn lại, ngân sách địa phương tự bảo đảm.

Sở Lao động Thương binh và Xã hội lập dự toán kinh phí tăng thêm năm 2015 do thực hiện điều chỉnh mức chuẩn trợ cấp xã hội theo Nghị định số 136/2013/NĐ-CP cho đối tượng quy định tại Khoản 1 và Khoản 3, Điều 11, Thông tư liên tịch số 29/2014/TTLT-BLĐTBXH-BTC, gửi Sở Tài chính xem xét, tổng hợp trình Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh phê duyệt gửi về Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính để tổng hợp trình cấp có thẩm quyền quyết định bổ sung dự toán theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước [7].

Kinh phí thực hiện trợ giúp đột xuất [10] gồm: Ngân sách địa phương tự cân đối theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước; Trợ giúp của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước hỗ trợ trực tiếp cho địa phương hoặc thông qua cơ quan, tổ chức. Trường hợp thiên tai, hỏa hoạn xảy ra trên diện rộng gây thiệt hại nặng và các nguồn kinh phí quy định không đủ để thực hiện trợ giúp đột xuất thì Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh báo cáo Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính để tổng hợp, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định hỗ trợ lương thực, kinh phí từ nguồn ngân sách trung ương.

Bộ máy và nhân lực thực hiện pháp luật về bảo trợ xã hội: Khi đề cập đến thực hiện pháp luật về Bảo trợ xã hội, một trong những nhân tố quan trọng có tính chất quyết định là vấn đề tổ chức bộ máy quản lý Bảo trợ xã hội, đó là một chỉnh thể gồm các bộ phận có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn khác nhau được bố trí thành từng cấp, từng khâu để thực hiện chức năng quản lý theo mục tiêu đã xác định. Bộ máy thực hiện pháp luật về Bảo trợ xã hội thực hiện Quản lý Nhà nước đối với hoạt động Bảo trợ xã hội tập trung thống nhất trên phạm vi cả nước nhờ vào sự đan xen giữa quản lý ngành, lĩnh vực (các cơ quan chuyên môn) và quản lý địa phương. Đây là nội dung quan trọng bởi bộ máy Quản lý Nhà nước được kiện toàn thì các công tác định hướng, tổ chức hoạt động hỗ trợ, thanh tra, kiểm tra và giám sát mới được thực hiện tốt.

Ở Trung ương: Chính phủ là cơ quan quản lý thống nhất về mọi mặt; dưới Chính phủ có các Bộ, ngành, cụ thể đối với lĩnh vực Bảo trợ xã hội thì Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội trong đó Cục Bảo trợ xã hội là đơn vị trực tiếp tham mưu cho Bộ trong nội dung Bảo trợ xã hội. Luận văn: Pháp luật về bảo trợ xã hội tại tỉnh Đắk Lắk.

Ở địa phương: Ủy ban Nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình tổ chức đội ngũ Quản lý Nhà nước, chịu trách nhiệm Quản lý Nhà nước về Bảo trợ xã hội; ban hành hướng dẫn chính sách Bảo trợ xã hội tại địa phương.

1.3.6. Thực hiện quy định về công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm

Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về Bảo trợ xã hội là theo dõi, xem xét, đánh giá tình trạng tốt, xấu của việc thực thi đó đúng hoặc sai so với quy định của pháp luật, hoạt động đó có kịp thời, hiệu quả, đúng đối tượng hay không. Xây dựng khung đề cương thanh tra, kiểm tra đánh giá chung kết quả pháp luật về Bảo trợ xã hội như việc thực hiện các quy trình trợ cấp tiền mặt, trợ giúp khẩn cấp và cung cấp các dịch vụ chăm sóc xã hội, đặc biệt trong việc giám sát chất lượng các dịch vụ được cung cấp đảm bảo các quyền đối với đối tượng Bảo trợ xã hội không bị vi phạm. Thực hiện xử lý kỷ luật, xử lý vi phạm hành chính và nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm các quy định về Bảo trợ xã hội, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của các đối tượng Bảo trợ xã hội thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm.

Đây là nội dung cần được thực hiện thường xuyên và nghiêm túc vì pháp luật về Bảo trợ xã hội không phải lúc nào cũng diễn ra bình thường và đưa lại kết quả như mong muốn. Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm để phát hiện những mặt tích cực và tiêu cực của việc thực hiện pháp luật về Bảo trợ xã hội có đạt hiệu quả hay không hiệu quả, đúng hướng hay chệch hướng, có tuân thủ pháp luật hay không…Trên cơ sở các cuộc thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm nhà nước rút ra những kết luận, nguyên nhân, kinh nghiệm, biện pháp xử lý kịp thời và đề ra những phương hướng, giải pháp phát huy những mặt tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực đồng thời phát hiện ra những cơ hội mới cho phát triển pháp luật về Bảo trợ xã hội.

Việc thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về bảo trợ xã hội cần tiến hành theo nội dung:

  • Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách, kế hoạch và pháp luật của Nhà nước về bảo trợ xã hội.
  • Thanh tra, kiểm tra việc sử dụng các nguồn lực của Nhà nước.
  • Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các chức năng và việc tuân thủ pháp luật về Bảo trợ xã hội của các cơ quan Nhà nước.
  • Thanh tra, kiểm tra trong việc xác định và quản lý đối tượng và cơ sở BTXH, nhà xã hội.
  • Thanh tra, kiểm tra để phát hiện ra các sai phạm trong việc thực hiện pháp luật về Bảo trợ xã hội, để từ đó có những xử lý vi phạm kịp thời. Luận văn: Pháp luật về bảo trợ xã hội tại tỉnh Đắk Lắk.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo trợ xã hội tỉnh Đắk Lắk

One thought on “Luận văn: Pháp luật về bảo trợ xã hội tại tỉnh Đắk Lắk

  1. Pingback: Luận văn: Giải pháp pháp luật về bảo trợ xã hội tỉnh Đắk Lắk

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464