Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Định hướng, giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1. Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị
Việc hoàn thiện các quy định pháp luật về QH, KHSDĐ là nhiệm vụ quan trọng trong quá trình xây dựng và đổi mới pháp luật về đất đai hiện nay. Để đảm bảo các văn bản pháp luật về QH, KHSDĐ khi ban hành được phù hợp thống nhất với nhau, và có hiệu quả trên thực tiễn, thì các quy phạm pháp luật về QH, KHSDĐ cần đảm bảo các định hướng sau:
3.1.1. Hoàn thiện pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải góp phần ổn định tình hình chính trị, phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh; đảm bảo an sinh xã hội, ổn định đời sống nhân dân
Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, với nhiều kết quả tích cực đã đạt được trong việc khai thác và phát huy có hiệu quả nguồn lực đất đai phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội đảm bảo quốc phòng an ninh và hội nhập kinh tế. QH, KHSDĐ với vai trò là một trong những công cụ mà Nhà nước sử dụng để đạt được mục tiêu quản lý về đất đai, là chủ thể mang quyền lực công của xã hội, Nhà nước ban hành pháp luật và sử dụng bộ máy cưỡng chế của mình để đảm bảo trật tự trong mối quan hệ pháp luật về đất đai, định hướng việc khai thác và sử dụng đất cho phù hợp với yêu cầu chung của đời sống KT-XH. Quá trình tổ chức, lập và thực hiện QH, KHSDĐ là quá trình huy động mọi nguồn lực xã hội vào phát triển sản xuất và sự nghiệp công cộng theo phương thức dân chủ, nên đó cũng là quá trình xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân.
Dưới góc độ kinh tế, QH, KHSDĐ là bản tổng quát của quá trình phát triển và tái cơ cấu nền kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hóa, quyết định cho việc phát triển các ngành, vùng thông qua việc điều chỉnh mục đích sử dụng đất giữa thành thị với nông thôn, giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa đất dùng cho sản xuất với các loại đất khác,…
Dưới góc độ xã hội, QH, KHSDĐ hợp lý sẽ đảm bảo cân bằng nhu cầu đất đai cho các nhóm lợi ích, cân bằng giữa nhu cầu sản xuất với đời sống vật chất và tinh thần của các cộng đồng dân cư, thỏa mãn nhu cầu đa dạng đối với đất đai của toàn xã hội.
Vì vậy, với nhu cầu sử dụng đất của các ngành kinh tế ngày càng gia tăng nhiệm vụ của công tác QH, KHSDĐ là cân đối nhu cầu sử dụng đất của các ngành gia tăng tổng giá trị của đất đai trong một vùng quy hoạch. Đồng thời trong điều kiện hiện nay nước ta đang mở cửa để hội nhập nhu cầu sử dụng đất ngày càng lớn hơn nữa để đáp ứng cho các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện dự án tại Việt Nam. Vì vậy trong công tác QH, KHSDĐ Nhà nước cần làm tốt vai trò và trách nhiệm của mình để lập nên một quy hoạch tốt, không quá lạm dụng quyền lực, đảm bảo được mục tiêu thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển bền vững, bảo đảm được ổn định và an ninh quốc phòng hội nhập kinh tế quốc tế. Luận văn: Giải pháp về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.
3.1.2. Hoàn thiện pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với hoàn thiện tổng thể pháp luật đất đai và các lĩnh vực khác có liên quan
Một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật Đất đai là Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật. Vậy nên, QH, KHSDĐ phải thể hiện được nhu cầu sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực, các dự án đầu tư, từ đó làm căn cứ để Nhà nước tiến hành giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển đổi mục đích sử dụng đất, thu hồi đất, cấp GCN QSDĐ và xây dựng chính sách tài chính về đất đai. QH, KHSDĐ luôn có mối quan hệ chặt chẽ với quy hoạch phát triển, quy hoạch KT-XH, quy hoạch xây dựng và các quy hoạch của các ngành khác. Tính đồng bộ giữa các quy định pháp luật nhằm tạo nên một hành lang pháp lý để QH, KHSDĐ thống nhất từ quy hoạch tổng thể cả nước đến QH, KHSDĐ chi tiết của cấp thấp nhất, mang tính thống nhất và không tồn tại một cách biệt lập giữa các cấp quy hoạch.
Trên thực tế, đất đai luôn gắn liền với người dân, được xem là một loại tài sản đặc biệt, đất đai vừa là tư liệu sản xuất, vừa là nơi sinh sống của người dân, là tiền đề để hình thành các tài sản khác như nhà ở, công trình xây dựng,… Các giao dịch về chuyển nhượng sở hữu, quyền sử dụng Nhà ở, công trình xây dựng luôn gắn liền với việc chuyển nhượng QSDĐ. Trong điều kiện hiện nay, với việc đất nước ta đang đẩy mạnh việc mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, nhu cầu sử dụng đất để đáp ứng yêu cầu của các nhà đầu tư trong và ngoài nước là rất lớn, do đó nếu những quy định của pháp luật QH, KHSDĐ không tương thích, đồng nhất và đồng bộ với các ngành luật khác, đặc biệt là Luật Đất đai thì thực tiễn thi hành pháp Luật về QH, KHSDĐ có nhiều khó khăn, vướng mắc, bất cập gây trở ngại cho việc thu hút nguồn đầu tư.
3.1.3. Đảm bảo quỹ đất sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, bảo vệ môi trường sinh thái, cảnh quan thiên nhiên, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc
Đất đai là tư liệu sản xuất không thể thay thế được đối với lĩnh vực nông nghiệp. Việt Nam là một nước với hơn 70% dân số còn tập trung ở khu vực nông thôn, 80% dân số sống bằng nghề nông. Đồng thời mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta là các sản phẩm nông nghiệp. Với tốc độ đô thị hóa hiện nay, tỷ lệ quỹ đất giữa thành thị và nông thôn, giữa đất công nghiệp và nông nghiệp, lâm nghiệp đang có sự thay đổi nhanh chóng, đòi hỏi cần phải có sự quan tâm hơn nữa trong quá trình lập QH, KHSDĐ. Vì vậy để đảm bảo cho cuộc sống công ăn việc làm cho người nông dân đảm bảo kim ngạch xuất khẩu và an ninh lương thực thì vấn đề bảo vệ và phát triển quỹ đất nông nghiệp có vai trò vô cùng quan trọng đối với nước ta. Do đó hoạt động QH, KHSDĐ và pháp luật QH, KHSDĐ phải đặc biệt coi trọng và bảo vệ quỹ đất nông nghiệp hạn chế đến mức thấp nhất việc chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang mục đích khác, xác định rõ nhu cầu từng loại đất để tiến hành phân bổ một cách hợp lý, cân bằng giữa các mục đích sử dụng đất. Luận văn: Giải pháp về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.
Đất đai cũng là một thành phần của môi trường cùng với nước, không khí, rừng biển tạo ra môi trường sống cho con người. Trong khi môi trường hiện nay đang có những thay đổi theo hướng bất lợi thì việc phát triển kinh tế ổn định xã hội kết hợp với bảo vệ môi trường là một trong những xu thế được các quốc gia trên thế giới lựa chọn nhằm mục đích phát triển bền vững. Song các hoạt động phát triển đó đều gắn liền với nhu cầu sử dụng đất. Vì vậy, khi xây dựng QH, KHSDĐ cần phải tính toán đến các phương án sử dụng đất đáp ứng với nhu cầu của các dự án phục vụ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước nhưng hạn chế đến mức thấp nhất các dự án đó gây tác động xấu cho môi trường.
Ngoài việc bảo vệ quỹ đất nông nghiện và bảo vệ môi trường, QH, KHSDĐ còn phải đặc biệt quan tâm đến việc bảo tồn di tích lịch sử – văn hóa cảnh quan thiên nhiên, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc. QH, KHSDĐ phải luôn tính đến yếu tố đặc trưng lãnh thổ, bởi đất đai có đặc tính cố định, luôn gắn chặt với vị trí không gian nhất định, việc bảo tồn di tích, cảnh quan thiên nhiên giúp cho kinh tế – xã hội phát triển bền vững hơn.
3.1.4. Đảm bảo tính công khai, minh bạch, dân chủ; tăng cường kiểm tra, giám sát trong việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Công khai, minh bạch là một tiêu chí cơ bản để đánh giá mức độ, xếp loại của nền quản trị đất đai, đồng thời còn là biểu hiện của sự liêm chính của nền hành chính công vụ.
Trong những năm qua, có thể thấy việc thiếu công khai minh bạch trong thực hiện các nội dung liên quan đến QH, KHSDĐ, lấy ý kiến người dân là mầm móng nảy sinh nhũng nhiễu, tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm và khiếu nại, khiếu kiện trong nhân dân. Pháp Luật QH, KHSDĐ cần có cơ chế tăng cường kiểm tra, giám sát các cơ quan nhà nước thực hiện QH, KHSDĐ với các biện pháp thích hợp để đảm bảo quy hoạch một cách nghiêm túc, có tính khả thi, không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của NSDĐ, đặc biệt, để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước, cần phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân và toàn dân trong thực hiện pháp luật quy hoạch sử dụng đất. Cần tăng cường kiểm tra, giám sát thống nhất từ Trung ương đến địa phương trong việc thực hiện QH, KHSDĐ và quản lý chặt chẽ việc chuyển mục đích sử dụng đất từ đất trồng lúa, đất có rừng phòng hộ, rừng đặc dụng sang các loại đất khác. Cần có chế tài xử lý nghiêm các hành vi vi phạm chính sách, pháp luật về quy hoạch đất đai. Để đảm bảo hiệu quả của QH, KHSDĐ, cần xây dựng được bộ máy quản lý Nhà nước về đất đai bao gồm các cơ quan chức năng có đủ năng lực và hoàn thiện các quy định của pháp luật. Cần tăng cường giám sát của cơ quan Nhà nước bằng các biện pháp thích hợp để đảm bảo quy hoạch được thực hiện mà không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất. Ngoài ra, cần phát huy tính dân chủ, công khai trong xây dựng và thực hiện pháp luật QH, KHSDĐ bằng cách sử dụng sự giám sát của cộng đồng nơi có quy hoạch đó.
Đây chính là những định hướng cơ bản, toàn diện cho việc hoàn thiện pháp luật QH, KHSDĐ mà khi xây dựng các đạo luật hay ban hành những văn bản hướng dẫn về QH, KHSDĐ chúng ta phải thống nhất, tuân thủ.
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị Luận văn: Giải pháp về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.
Luật Đất đai 2024 sẽ thay thế Luật đất đại 2013 kể từ ngày 01/08/2024. Vì vậy, việc đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng được thực hiện trên cơ sở rà soát những quy định bất hợp lí trong Luật Đất đai 2013 mà chưa được khắc phục và điều chỉnh trong Luật Đất đai 2024; hoặc những quy định đã được bổ sung, điều chỉnh hoặc kế thừa trong pháp luật đất đai trước đây nhưng mới chỉ dừng lại ở những quy định chung, mang tính nguyên tắc thì chúng rất cần được tiếp tục định chế cụ thể, rõ ràng trong các văn bản hướng dẫn thi hành để làm cơ sở cho việc tổ chức thực thi có hiệu quả trên thực tế. Cùng với đó là những giải pháp hoàn thiện các quy định của Luật Quy hoạch Đô thị, Luật Xây dựng…nhằm tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho công tác quản lý đô thị được hiệu quả hơn. Để góp phần hoàn thiện pháp luật về QH, KHSD, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật trong thời gian tới như sau:
3.2.1. Đồng bộ, thống nhất quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất với các hệ thống quy hoạch khác
Hiện nay có khá nhiều văn bản QPPL điều chỉnh về hoạt động quy hoạch. Tuy nhiên, hệ thống quy định về quy hoạch vẫn chưa đảm bảo tính đồng bộ, chất lượng lập quy hoạch vẫn chưa cao, chưa gắn với nhu cầu sử dụng cũng như nguồn lực thực hiện hoặc thiếu tính khả thi gây lãng phí nguồn lực. Quy hoạch chủ yếu đưa ra các chỉ tiêu phát triển một cách chung chung thiếu tổ chức không gian phát triển hợp lý, khoa học. Bên cạnh đó, giữa các loại quy hoạch thiếu sự gắn kết, không thống nhất và còn nhiều chồng chéo, mâu thuẫn làm giảm hiệu lực, hiệu quả.
Để đảm bảo tính đồng bộ giữa pháp luật về quy hoạch sử dụng các loại đất, cần thực hiện một số giải pháp sau:
Thứ nhất, rà soát, phân tích, đánh giá lại toàn bộ các quy định của pháp luật về các loại quy hoạch khác như pháp luật quy hoạch xây dựng, pháp luật quy hoạch môi trường, pháp luật về quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng, Luật Quy hoạch đô thị,… để tạo sự đồng bộ, thống nhất trong quy hoạch. Khi xây dựng QH, KHSDĐ trong khuôn khổ Luật đất đai cần phải chú ý đến các quy hoạch phát triển KT-XH, quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị, quy hoạch giao thông, đường bộ,… tránh chồng chéo trong quy hoạch giữa các ngành với nhau, gây nên vùng chồng lấn, vùng trắng
Thứ hai, đổi mới các quy định của Luật Đất đai về nguyên tắc lập QH, KHSDĐ, đảm bảo sự thống nhất giữa các cấp quy hoạch. Cần bổ sung thêm nguyên tắc đảm bảo an ninh lương thực, an ninh quốc phòng, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững trong căn cứ lập QH, KHSDĐ để đáp ứng được các yêu cầu thực tiễn. Bổ sung các hướng dẫn chi tiết về việc rà soát, tổ chức lập QH, KHSDĐ các cấp theo quy định của Luật Quy hoạch, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 37 Luật liên quan đến quy hoạch. Trong đó, cần có quy định cụ thể về đánh giá các dự án du lịch có yếu tố tín ngưỡng, tâm linh để đề xuất nhu cầu sử dụng đất trong quá trình triển khai lập quy hoạch tỉnh và lập, điều chỉnh QH, KHSDĐ cấp huyện theo nguyên tắc sử dụng đất tiết kiệm, tránh lãng phí. Luận văn: Giải pháp về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.
Thứ ba, cần có quy định về việc ưu tiên bố trí đủ quỹ đất cho các lĩnh vực phát triển kết cấu hạ tầng xã hội: văn hóa, y tế, giáo dục, thể thao,… nhằm nâng cao chất lượng đời sống của nhân dân. Chú ý cân đối quỹ đất để đáp ứng nhu cầu xây dựng các đô thị, khu công nghiệp, dịch vụ. Không bố trí các khu đô thị, khi dân cư nông thôn, khu công nghiệp bám sát các trục đường cao tốc, quốc lộ. Các QH, KHSDĐ làm mặt bằng cho sản xuất kinh doanh, công nghiệp, dịch vụ, hệ thống giao thông,… cần đẩy mạnh theo hướng tăng cường khai thác không gian bên trên và bên dưới mặt đất, nâng cao hệ số sử dụng đất không những trong công nghiệp và còn cả trong xây dựng.
Thứ tư, bổ sung thêm các hướng dẫn chi tiết về việc rà soát, tổ chức lập quy hoạch sử dụng đất quốc gia để thực hiện tốt các QH, KHSDĐ theo quy định của pháp luật về quy hoạch và pháp luật về đất đai.
3.2.2. Hoàn thiện các quy định pháp luật về lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Về hệ thống và trách nhiệm về tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất: Hiện nay, việc liên kết vùng rất phổ biến. đồng thời hệ thống quy hoạch kế hoạch của nhiều nước phát triển trên thế giới cũng quy định về cấp quy hoạch vùng. Quy hoạch vùng cụ thể hóa các chương trình và kế hoạch của quy hoạch lãnh thổ quốc gia, bổ sung và làm phong phú thêm các chương trình và kế hoạch đó.
Vì vậy để đất đai được sử dụng hợp lý, hệ thống QH, KHSDĐ phát huy được tính hiệu quả đối với những vùng kinh tế trọng điểm, những vùng kinh tế – xã hội đặc biệt thì cũng nên có các quy định cụ thể xây dựng QH, KHSDĐ vùng để có thể khai thác và sử dụng có hiệu quả các tiềm năng tiềm lực và điều kiện của vùng để đẩy mạnh sản xuất, đáp ứng sự phát triển.
Theo đó, đối với công tác quy hoạch chung của từng địa phương cần xác định là quy hoạch nền. Quy hoạch cụ thể mục đích sử dụng đất của từng khu chức năng, từng vị trí lô đất, xác định trong từng vị trí cụ thể bao nhiêu có tầng, có tầng hầm hay không… là nhiệm vụ của quy hoạch đô thị, quy hoạch xây dựng. Còn đất sử dụng với mục đích gì là nhiệm vụ của quy hoạch sử dụng đất, không cần phải lập chi tiết QH, KHSDĐ ở cấp quốc gia và cấp tỉnh.
Nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất: Việc đồng nhất nguyên tắc lập QHSDĐ với nguyên tắc lập KHSDĐ là không hợp lý cứng nhắc mang tính hình thức, bởi vì hoạt động QHSDĐ là ý đồ, là chiến lược sử dụng đất trong tương lai còn KHSDĐ là việc xác định một cách cụ thể phương pháp gắn với từng thời gian để đạt được chiến lược sử dụng đất trong quy hoạch nên không thể gắn nguyên tắc chỉ đạo cho công tác lập quy hoạch với nguyên tắc chỉ đạo trong việc lập kế hoạch sử dụng đất được. Vì vậy, pháp luật cần quy định cụ thể hơn chi tết và rõ ràng hơn, cũng như, nên có sự phân định rạch ròi giữa nguyên tắc lập QHSDĐ và nguyên tắc lập KHSDĐ.
- Căn cứ lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
Ở cấp quốc gia: vì hệ thống quy hoạch trong Luật Quy hoạch không có quy hoạch tổng thể phát triển các vùng kinh tế – xã hội, quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực; do vậy, cần sửa điểm a khoản 1 như sau: “a) Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh của quốc gia; chiến lược phát triển ngành, lĩnh vực trong cùng giai đoạn phát triển”; quy định rõ tại điểm a, khoản 2 Điều 38 “Theo quy định tại Điều 24 Luật Quy hoạch” và điểm b “b. Xác định các chỉ tiêu sử dụng đất, bao gồm:
Nhóm đất nông nghiệp cấp quốc gia gồm: đất trồng lúa, đất chuyên trồng lúa nước, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đất rừng sản xuất là rừng tự nhiên, đất rừng sản xuất là rừng trồng, đất khu bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối. Luận văn: Giải pháp về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.
Nhóm đất phi nông nghiệp cấp quốc gia gồm: đất quốc phòng, đất an ninh, đất khu công nghiệp, đất khu chế xuất, đất khu công nghệ cao, đất phát triển hạ tầng, đất có di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh và đất bãi thải, xử lý chất thải; đất khu kinh tế, đất khu đô thị và đất khu du lịch.
- Nhóm đất chưa sử dụng”
Đối với cấp huyện: vì hệ thống quy hoạch trong Luật Quy hoạch không có Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội của cấp tỉnh, cấp huyện; quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh (thay vào đó chỉ có quy hoạch tỉnh), do đó, khoản 1 Điều 40 cần nghiên cứu bổ sung thêm “Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của cấp tỉnh, cấp huyện”
Kỳ quy hoạch sử dụng đất: hiện nay, pháp luật đất đai hiện hành vẫn quy định chung về kỳ QHSDĐ cho các cấp. QHSDĐ cấp quốc gia luôn mang tính tổng hợp nó mang đến những dự áo chiến lược mang tính khả biến song vẫn phải đảm bảo được sự ổn định so với QHSDĐ ở địa phương. Vì vậy để giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu định hướng chiến lược với nhu cầu biến đổi cho phù hợp với sự phát triển kinh tế – xã hội phát huy được vai trò của QHSDĐ ở từng cấp, chúng ta cần nghiên cứu kéo dài kỳ QHSDĐ của cả nước là 20 năm, kỳ QHSDĐ của cấp huyện là 10 năm.
- Chi phí lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Cần có quy định và hướng dẫn cụ thể về chi phí lập QH, KHSDĐ ở các cấp
Nội dung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất: Việc xác định diện tích sử dụng đất chỉ dừng lại ở việc khoanh định khu vực dự kiến chứ chưa chỉ rõ được ranh giới vị trí thửa đất quy hoạch. Mặt khác các tiêu chí để xây dựng định mức sử dụng đất chưa đồng bộ thống nhất nên việc dự kiến diện tích đất cho các nhu cầu sử dụng đất trong kỳ quy hoạch chưa mang tính khoa học cao dễ dẫn đến việc phải điều chỉnh lại nhiều lần. Vì vậy pháp luật về QHSDĐ cần quy định rõ hơn nữa nội dung QHSDĐ và chỉ tiêu quyết định xét duyệt QHSDĐ của từng cấp theo hướng càng cấp dưới thì nội dung và chỉ tiêu càng cụ thể chi tiết. Khi đó thì QHSDĐ mới có tính khả thi và triển khai thực hiện trên thực tế được.
3.2.3. Hoàn thiện các quy định của pháp luật về thẩm định, phê duyệt và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Luận văn: Giải pháp về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.
Thẩm quyền quyết định, phê duyệt quy hoạch sử dung đất: Cần có văn bản hướng dẫn cụ thể Luật Đất đai năm 2024 theo hướng quy định cụ thể thời hạn phân bổ chỉ tiêu sử dụng đất cấp quốc gia; thời hạn Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoàn thiện nội dung quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh và phân bổ đến từng đơn vị hành chính cấp huyện; thời hạn Bộ Quốc phòng, Bộ Công an phải hoàn thiện quy hoạch sử dụng đất quốc phòng, đất an ninh trình Thủ Tướng Chính phủ phê duyệt.
Việc lấy ý kiến về quy hoạch sử dụng đất: Pháp luật về QHSDĐ cần phải mở rộng phạm vi và cụ thể hóa hơn nữa các quy định về lấy ý kiến đóng góp của người dân. Tuy uật đất đai hiện hành đã bổ sung quy định việc lấy ý kiến của người dân được thực hiện ở tất cả các cấp quy hoạch từ cấp quốc gia cấp tỉnh đến cấp huyện nhưng Luật lại chỉ quy định việc lấy ý kiến của người dân trong quá trình lập và điều chỉnh QHSDĐ. Còn trong quá trình triển khai thực hiện – đây là giai đoạn QHSDĐ được triển khai trên thực tế có ý nghĩa thiết thực nhất luật lại không quy định việc kiểm tra giám sát của người dân tổ chức lấy ý kiến của họ về việc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tổ chức thực hiện QHSDĐ ra sao tiến độ thực hiện và mức độ thực hiện trên thực tế như thế nào. Vì vậy tương tự quá trình lập và điều chỉnh QHSDĐ, Luật cần mở rộng quy định về phạm vi lấy ý kiến của nhân dân trong quá trình thực hiện QHSDĐ. Điều này đảm bảo cho pháp luật QHSDĐ được thực thi trên thực tế một cách nghiêm túc tăng cường sự minh bạch công khai đảm bảo cho nhân dân thực hiện quyền dân chủ “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.
Đồng thời, pháp luật về QHSDĐ vẫn chưa quy định rõ trong trường hợp lấy ý kiến đóng góp của nhân dân vào dự thảo QHSDĐ mà đa số ý kiến nhân dân phản đối thì cơ quan tổ chức lập QHSDĐ có điều chỉnh, sửa đổi QHSDĐ hay không và với tỷ lệ bao nhiêu %.
Xét duyệt và điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất: Việc điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất theo đúng quy trình cũng tốn rất nhiều thời gian. Trong khi đó, có trường hợp chỉ điều chỉnh quy hoạch khi phát sinh dự án mới hoặc thay đổi địa điểm, quy mô dự án nhưng không làm thay đổi chỉ tiêu sử dụng đất cấp trên phân bổ, nếu thực hiện điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất theo đúng quy trình sẽ mất cơ hội đầu tư, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế xã hội. Chính vì vậy, cần quy định rõ trong Luật 2 cấp độ điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất như sau:
Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất theo đúng quy trình đối với các trường hợp được điều chỉnh theo quy định hiện hành, gồm: (a) Có sự điều chỉnh chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh của quốc gia; quy hoạch tổng thể phát triển các vùng kinh tế – xã hội mà sự điều chỉnh đó làm thay đổi cơ cấu sử dụng đất; (b) Do tác động của thiên tai, chiến tranh làm thay đổi mục đích, cơ cấu, vị trí, diện tích sử dụng đất; (c) Có sự điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất của cấp trên trực tiếp làm ảnh hưởng tới quy hoạch sử dụng đất; (d) Có sự điều chỉnh địa giới hành chính của địa phương.
Điều chỉnh cục bộ quy hoạch sử dụng đất trong trường hợp chỉ thay đổi chỉ tiêu sử dụng đất do cấp đó được phép xác định theo thẩm quyền hoặc thay đổi về quy mô, địa điểm và số lượng dự án, công trình trong cùng một loại đất nhưng không làm thay đổi về chỉ tiêu và khu vực sử dụng đất theo chức năng sử dụng. Quy trình và hồ sơ điều chỉnh cục bộ quy hoạch sử dụng đất được quy định đơn giản, rút gọn. Luận văn: Giải pháp về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.
3.2.4. Hoàn thiện các quy định của pháp luật về công bố và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Công bố quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất: Có thể nói các quy định về công bố, công khai QH, KHSDĐ hiện hành tương đối phù hợp giúp cho người dân dễ dàng tiếp cận thông tin về QH, KHSDĐ để có định hướng sử dụng đất hợp lý. Pháp luật quy định khá đầy đủ và chi tiết. Tuy nhiên, việc công bố công khai thông tin vẫn đang sử dụng theo hình thức truyền thống, như đăng tải tại trang thông tin điện tử, niêm yết tại trụ sở cơ quan, các hình thức này hiệu quả mang lại vẫn chưa cao. Luật cần đưa ra các hình thức mới để người dân dể dàng tiếp cận, như: quy định rõ trách nhiệm truyền đạt của các đại biểu dân cử trong các cuộc tiếp xúc cử tri, tiếp công dân, trách nhiệm của các hội, đoàn thể ở cấp xã,…
Thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất: Pháp luật về QH, KHSDĐ cần quy định chặt chẽ, rõ ràng về: (1) chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và chế tài xử lý đối với các cơ quan, đơn vị thực hiện QH, KHSDĐ, nhất là các cơ quan chuyên môn về tài nguyên môi trường; (2) xác định trách nhiệm về mặt Đảng, chính quyền hoặc lấy phiếu tín nhiệm đối với người do Quốc hội, HĐND bầu hoặc phê chuẩn đối với người đứng đầu cơ quan, địa phương khi để xảy ra sai phạm trong công tác quản lý, SDĐ, để xảy ra tình trạng “quy hoạch treo” mà không can thiệp kịp thời để điều chỉnh, hủy bỏ hoặc cho phép thực hiện các công trình, dự án khi chưa có hoặc không đúng với QHSDĐ được phê duyệt; (3) quy định các chế tài xử phạt mang tính răn đe đối với các tổ chức, cá nhân SDĐ khi có các hành vi vi phạm nghiêm trọng, gây thiệt hại lớn đến tài sản cá nhân, cơ quan, tổ chức trong thực hiện QHSDĐ; (4) Kiên quyết thu hồi những dự án trái phép khi chưa đảm bảo về thủ tục đất đai, không có trong QHSDĐ hoặc thực hiện cơi nới, vượt quá chỉ tiêu cho phép, chủ dự án không đủ nguồn lực, năng lực, chậm tiến độ hoặc quá 03 năm mà không triển khai thực hiện dự án; (5) Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và chế tài xử lý trong hoạt động lập và thực hiện QHSDĐ; (6) Quy định cụ thể các chính sách hỗ trợ đối với người SDĐ có diện tích đất bị thu hồi trong vùng đã công bố QHSDĐ nhưng bị kéo dài, chưa thu hồi gây ra thiệt hại do hạn chế quyền SDĐ.
3.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị Luận văn: Giải pháp về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.
3.3.1. Giải pháp chung trong cả nước để nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị
Để phát huy kết quả, khắc phục hạn chế, vướng mắc của chính sách, pháp luật về QHQL và SDĐĐ tại đô thị ở nước ta từ khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực đến nay, trong thới gian tới, cần thực hiện quyết liệt những nhiệm vụ và giải pháp sau đây:
Một là, rà soát, sửa đổi, bổ sung các nghị định và thông tư quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai để tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành. Đề xuất sửa đổi Luật Nhà ở và các luật khác có liên quan đến quản lý, sử dụng đất đô thị theo chương trình xây dựng luật của Quốc hội, đồng thời rà soát, sửa đổi, bổ sung các nghị định, thông tư liên quan đến việc thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, mặt nước để bảo đảm thống nhất với pháp luật về đất đai và pháp luật về ngân sách nhà nước. Tiếp tục nghiên cứu, đề xuất nội dung chính sách về chế độ quản lý, sử dụng đất quốc phòng trong quá trình sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai. Trong đó, cần xây dựng nghị định của Chính phủ để tháo gỡ các vướng mắc, tồn đọng trong quản lý, sử dụng đất quốc phòng bảo đảm hoạt động sản xuất, xây dựng kinh tế của Quân đội; sớm giải quyết vấn đề đất quốc phòng ở các doanh nghiệp quân đội cổ phần hóa, thoái vốn, quản lý, sử dụng nguồn thu từ đất đai do Bộ Quốc phòng quản lý.
Hai là, tổ chức lập quy hoạch hệ thống đô thị và nông thôn thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050; hướng dẫn các địa phương tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về quy hoạch xây dựng, đô thị bảo đảm thực hiện đồng bộ, thống nhất theo quy định của Luật Quy hoạch phối hợp với các địa phương thường xuyên tổ chức thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật liên quan đến quy hoạch đô thị để kịp thời xử lý và chấn chỉnh. Cụ thể, cần triển khai lập đồng bộ các loại quy hoạch đô thị, khẩn trương lập các quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết theo quy định; lập kế hoạch đầu tư và đầu tư đồng bộ giữa hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội với phát triển nhà ở, công trình thương mại dịch vụ và công trình khác theo quy hoạch được duyệt; rà soát các quy hoạch, kế hoạch SDĐĐ đã quá thời hạn thực hiện, có biện pháp xử lý dứt điểm để bảo đảm quyền lợi của người sử dụng đất và hiệu quả sử dụng đất. Bên cạnh đó, cần tăng cường thông tin, bảo đảm tính công khai, minh bạch, dễ tiếp cận thông tin trong QHQL và SDĐĐ tại đô thị; đăng tải hồ sơ điều chỉnh quy hoạch đô thị trên trang thông tin điện tử của cơ quan có thẩm quyền thẩm định để xin ý kiến cộng đồng dân cư trước khi thẩm định hoặc phê duyệt. Cơ quan có trách nhiệm lập quy hoạch có trách nhiệm công bố, công khai ý kiến đóng góp và việc tiếp thu, giải trình các ý kiến đóng góp này. Khuyến khích và tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân, tổ chức xã hội – nghề nghiệp tham gia phản biện xã hội đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật về QHQL và SDĐĐ. Luận văn: Giải pháp về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.
Ba là, trong công tác thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất; bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Để triển khai thực có hiệu quả, cần tổ chức thực hiện việc giao đất, cho thuê đất công khai, minh bạch cho các đối tượng đáp ứng các điều kiện quy định trong pháp luật về đất đai. Thực hiện nghiêm việc giao đất, cho thuê đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế – xã hội thông qua phương thức đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất; có biện pháp ngăn chặn tình trạng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất trái phép. Kiểm soát chặt chẽ và công khai, minh bạch việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, bảo đảm quyền lợi hợp pháp, hoạt động sản xuất và đời sống của người có đất thu hồi.
Bốn là, định giá đất, khai thác nguồn lực đất đai cho phát triển kinh tế – xã hội. Cần tổ chức nghiên cứu, đề xuất việc đổi mới chính sách tài chính về đất đai và giá đất theo hướng hiệu quả, bền vững. Tổ chức kiện toàn và phát huy vai trò của Tổ chức phát triển quỹ đất và Quỹ Phát triển đất trong việc bồi thường, giải phóng mặt bằng, quản lý, khai thác và tạo quỹ đất; bố trí hợp lý ngân sách địa phương và huy động các nguồn vốn hợp pháp khác cho Quỹ Phát triển đất; bố trí quỹ đất xây dựng nhà ở xã hội, giải quyết nhu cầu nhà ở cho người có thu nhập thấp. Đồng thời, có biện pháp tháo gỡ vướng mắc, xác định nguồn lực để đẩy mạnh thực hiện lộ trình di dời trụ sở các bộ, ngành, cơ sở giáo dục đào tạo, bệnh viện, cơ sở công nghiệp, sản xuất,… ra ngoài trung tâm các đô thị theo phương án được phê duyệt. Triển khai cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước theo quy định. Việc xác định giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa phải tuân thủ theo quy định của pháp luật về đất đai, pháp luật về chuyển doanh nghiệp nhà nước và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do doanh nghiệp nhà nước đầu tư 100% vốn điều lệ thành công ty cổ phần và các văn bản pháp luật khác có liên quan. Việc chuyển mục đích sử dụng đất, thực hiện sắp xếp, xử lý nhà, đất của các doanh nghiệp cổ phần hóa phải tuân thủ quy hoạch, bảo đảm điều kiện, trình tự, thủ tục theo quy định.
Năm là, xác định địa giới hành chính, lập hồ sơ địa chính và xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai. Cần giải quyết theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền để giải quyết những vấn đề chưa thống nhất liên quan đến địa giới hành chính giữa các địa phương. Trường hợp không thỏa thuận được phương án giải quyết chung thì lập hồ sơ đề nghị Bộ Nội vụ báo cáo Chính phủ xem xét, quyết định. Bố trí dự toán ngân sách tối thiểu từ 10% nguồn thu ngân sách địa phương từ đất đai để đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu đất đai và phát triển đô thị, đặc biệt là cơ sở dữ liệu về quy hoạch, giá đất và hệ thống hồ sơ địa chính hiện đại. Phấn đấu hoàn thiện và vận hành cơ sở dữ liệu đất đai tại các đô thị trong cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia. Đối với các địa phương còn khó khăn về ngân sách, để hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu đất đai thì báo cáo Thủ tướng Chính phủ về phương án hỗ trợ thực hiện theo quy định.
Sáu là, về kiện toàn bộ máy, tổ chức. Tiếp tục rà soát và nâng cao trình độ, năng lực bộ máy làm công tác quản lý đất đai, đô thị; phát huy vai trò và trách nhiệm của người đứng đầu các cấp, các ngành trong quản lý tài nguyên đất, thanh tra việc quản lý, SDĐĐ tại đô thị. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai, gắn với chương trình xây dựng nền hành chính hiện đại, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đô thị.
Bảy là, tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác thanh tra, giám sát, xử lý vi phạm QHQL và SDĐĐ. Cụ thể, cần tiến hành thanh tra các dự án, công trình có dấu hiệu vi phạm pháp luật về QHQL và SDĐĐ tại đô thị và thanh tra việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại khu vực đô thị. Rà soát, đánh giá thực trạng người Việt Nam đứng tên thay cho người nước ngoài để mua nhà, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thuê đất trái pháp luật để có cơ sở đề xuất hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Đẩy nhanh công tác điều tra các vụ án về quản lý, SDĐĐ tại đô thị; chấn chỉnh các vi phạm trong quản lý, sử dụng đất quốc phòng theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt; kiên quyết thu hồi theo quy định của pháp luật đối với những dự án đất không đưa vào sử dụng, dự án triển khai chậm tiến độ, dự án đã bị chấm dứt chủ trương đầu tư, dự án sử dụng đất sai mục đích, vi phạm pháp luật về đất đai, quy hoạch đô thị, xây dựng và bảo vệ môi trường. Tổ chức thanh tra, kiểm tra, ngăn chặn, xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật về đất đai và quy hoạch đô thị; xử lý nghiêm trách nhiệm của người đứng đầu các cấp, các ngành để xảy ra sai phạm trong quản lý, SDĐĐ tại đô thị, làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất; khắc phục vi phạm trong lĩnh vực đất đai, quy hoạch đô thị, làm rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân để xảy ra vi phạm và có biện pháp xử lý cụ thể; kiểm soát chặt chẽ việc chuyển mục đích sử dụng đất để phát triển đô thị bảo đảm hiệu quả, tiết kiệm, đồng bộ giữa pháp luật về đất đai và pháp luật về đô thị, bảo đảm quyền lợi của người có đất thu hồi; kịp thời giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân trong lĩnh vực đất đai, quy hoạch đô thị để hạn chế các vụ việc khiếu kiện kéo dài, gây bức xúc trong dư luận xã hội.
3.3.2. Giải pháp đối với tỉnh Thừa Thiên Huế trong việc nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị
Để đảm bảo cho việc thực hiện pháp luật quy hoạch sử dụng đất, chúng ta luôn phải quan tâm đến những yếu tố đặc trưng của từng địa phương về các điều kiện tự nhiên, mức độ phát triển kinh tế – xã hội, những yếu tố văn hóa và phương hướng, mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội. Thực hiện pháp luật quy hoạch sử dụng đất phải dựa trên phương hướng, mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của Thừa Thiên Huế là:
Xây dựng Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, là trung tâm của khu vực miền Trung và một trong những trung tâm lớn, đặc sắc của cả nước về văn hóa, du lịch di sản, sinh thái, thành phố môi trường xanh, đồng thời phát triển khoa học – công nghệ, y tế chuyên sâu và giáo dục – đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao. Phấn đấu đến năm 2025, Thừa Thiên Huế xứng tầm là trung tâm đô thị cấp quốc gia, khu vực và quốc tế, một trong những trung tâm kinh tế, văn hoá, khoa học – công nghệ, y tế, đào tạo lớn của cả nước và khu vực Đông Nam – Châu Á; có quốc phòng, an ninh được tăng cường, chính trị – xã hội ổn định, vững chắc, có hệ thống chính sách trong sạch, vững mạnh, ngang tầm nhiệm vụ, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng được nâng cao rõ rệt, có đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện.
Việc thực hiện pháp luật quy hoạch sử dụng đất phải nhằm góp phần tạo chuyển biến cơ bản về văn hoá, y tế, giáo dục, đào tạo, nâng cao dân trí, giải quyết tốt các vấn đề bức xúc về xã hội, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, phát huy lợi thế so sánh để xây dựng thành công Khu kinh tế Chân Mây – Lăng Cô, một trung tâm kinh tế lớn ở phía Nam của tỉnh trên cơ sở mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại, thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách thu hút nguồn lực từ bên ngoài, đảm bảo phát triển bền vững về môi trường, đảm bảo cảnh quan cho phát triển du lịch.
Thực hiện pháp luật quy hoạch sử dụng đất tại Thừa Thiên Huế còn phải dựa trên quan điểm sử dụng đất đến năm 2030 của Thừa Thiên Huế đó là: Sử dụng đất phải ưu tiên cho phát triển sản xuất nông nghiệp, góp phần thực hiện chiến lược an ninh lương thực, cung ứng nông sản phẩm cho xã hội, nguyên liệu cho công nghiệp; Bố trí hợp lý cơ cấu đất nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá, gắn với thị trường và hiệu quả kinh tế cao. Ổn định diện tích gieo trồng lúa, mở rộng diện tích đất trồng cây công nghiệp, cây ăn quả, hoa – cây cảnh, cây thực phẩm. Ứng dụng các tiến bộ về công nghệ sinh học, từng bước xây dựng nền nông nghiệp sạch, bảo vệ, quản lý và sử dụng có hiệu quả tài nguyên rừng hiện có, giảm bớt sự ảnh hưởng của các yếu tố thiên tai: bão, lũ lụt, hạn hán…
Dành quỹ đất hợp lý cho sự phát triển dịch vụ, du lịch và công nghiệp nhất là những ngành công nghiệp có khả năng khai thác những tiềm năng sẵn có của địa phương như công nghiệp vật liệu xây dựng, công nghiệp chế biến nông, lâm, hải sản. Mở rộng, hình thành các khu công nghiệp tập trung nhằm sử dụng có hiệu quả cơ sở hạ tầng, tạo môi trường thu hút vốn đầu tư của các thành phần kinh tế. Gắn việc phát triển công nghiệp với quá trình đô thị hoá, phát triển mạng lưới đô thị rộng khắp trong phạm vi toàn tỉnh. Sử dụng đất phải đáp ứng được nhu cầu đất ở của nhân dân, đảm bảo chất lượng môi trường sống. Đất ở cần được bố trí tập trung trên cơ sở khu dân cư cũ hoặc hình thành khu mới với quy mô đủ lớn để tiết kiệm đất xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân. Việc sử dụng đất không chỉ đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, văn hoá xã hội mà còn phải đảm bảo an ninh, quốc phòng, quán triệt phương châm kinh tế kết hợp với an ninh, quốc phòng và an ninh, quốc phòng kết hợp với kinh tế. Luận văn: Giải pháp về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.
3.3.2.1. Giải pháp kinh tế – tài chính
Trong những năm qua nền kinh tế của tỉnh Thừa Thiên Huế phát triển tương đối toàn diện và liên tục tăng trưởng với nhịp độ cao đạt mục tiêu của tỉnh và cao hơn mức trung bình của cả nước, chất lượng tăng trưởng từng bước được cải thiện. Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch tích cực, tỷ trọng các ngành phi nông nghiệp tăng nhanh hơn so với mục tiêu quy hoạch đề ra, đặc biệt cơ cấu trong nội bộ các ngành cũng có bước thay đổi đáng kể theo hướng phát huy các lợi thế so sánh của tỉnh. Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế của toàn bộ nền kinh tế và từng ngành chưa ổn định, chất lượng tăng trưởng chưa cao; xuất phát điểm của nền kinh tế còn thấp, tích lũy từ nội bộ nền kinh tế còn thấp, còn mất cân đối lớn giữa nhu cầu và khả năng đầu tư phát triển. Nguồn thu ngân sách chưa ổn định, nguồn vốn ngân sách dành cho đầu tư phát triển còn hạn hẹp; các dự án ODA giải ngân chậm,… Do vậy để thực hiện quy hoạch sử dụng đất đến năm 2030 của tỉnh đạt kết quả tốt tỉnh sẽ thực hiện các giải pháp về kinh tế – tài chính như sau:
Kết hợp giữa các ngành, các lĩnh vực và các địa phương trong tỉnh để xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật đảm bảo tính liên thông; phát huy lợi thế so sánh của từng huyện, thị, thành phố trong phát triển kinh tế – xã hội.
Đa dạng hoá các hình thức huy động và tạo vốn trong tỉnh, đây là nguồn lực có ý nghĩa quyết định về lâu dài, đảm bảo có đủ năng lực nội tại để tiếp nhận đầu tư trong và ngoài nước một cách bình đẳng và đôi bên cùng có lợi.
Xây dựng chính sách ưu đãi đặc biệt để thu hút các nguồn vốn đầu tư như nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ Trung ương, vốn tín dụng ưu đãi, vốn vay nước ngoài trả chậm hoặc thuê tài chính, vốn đầu tư trực tiếp FDI, ODA,… để đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình, dự án. Tổ chức sử dụng có hiệu quả, xử lý đồng bộ các nguồn vốn trung hạn và dài hạn để đảm bảo sản xuất ổn định và phát triển kết cấu hạ tầng đảm bảo thực hiện các mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh đến năm 2030.
Tạo môi trường thuận lợi, chính sách đầu tư thông thoáng nhằm khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào tỉnh, nhất là đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật bằng cách tăng cường xúc tiến thương mại, đơn giản hoá các thủ tục hành chính, cấp phép đầu tư. Huy động tổng hợp các nguồn vốn để thực hiện quy hoạch thông qua vốn đầu tư cho từng ngành thực hiện quy hoạch của ngành đến năm 2030. Thực hiện lồng ghép các chương trình trên địa bàn để huy động vốn và sử dụng vốn tiết kiệm như xây dựng chương trình, dự án và chính sách cụ thể để phát triển ngành, sản phẩm, lĩnh vực quan trọng nhất là chính sách thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế; bảo vệ và phát triển vốn rừng; củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất, nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nước và các hợp tác xã.
3.3.2.2. Các giải pháp mang tính xã hội Luận văn: Giải pháp về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.
Ngoài các giải pháp mang tính kinh tế – tài chính, chúng ta có thể sử dụng các yếu tố xã hội để đảm bảo cho việc thực thi pháp luật tại Thừa Thiên Huế như:
Tập trung đào tạo nguồn nhân lực cho các cấp, các địa phương trong tỉnh nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong đó đặc biệt ưu tiên đào tạo cán bộ tại chỗ, cán bộ là người dân tộc thiểu số.
Xây dựng hệ thống chính trị các cấp, nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước, nhất là lĩnh vực quản lý đất đai; xây dựng chính quyền cơ sở trong sạch, vững mạnh gắn với phân cấp cho địa phương các cấp để nâng cao tính chủ động, sáng tạo trong quản lý, điều hành.
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục làm cho mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân trong tỉnh thống nhất nhận thức về yêu cầu quan trọng, cấp bách việc đẩy nhanh phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh.
Giải quyết tốt công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện các công trình, dự án. Có chính sách bồi thường hợp lý, thoả đáng đúng theo quy định của Nhà nước khi chuyển đất nông nghiệp sang sử dụng vào các mục đích khác bằng các biện pháp cụ thể như tiền bồi thường, hỗ trợ được chuyển sang góp vốn với các đơn vị sử dụng đất thực hiện các công trình dự án, đào tạo nghề, sử dụng lao động đối với những người có đất bị thu hồi. Duy trì và đảm bảo cho người dân có đất canh tác và đất ở ổn định để tổ chức thực hiện chính sách định canh, định cư, được giao đất, khoán rừng có điều kiện để sản xuất nâng cao thu nhập, ổn định cuộc sống.
Trong quá trình lập, thông qua, xét duyệt quy hoạch sử dụng đất tại Thừa Thiên Huế cần tăng cường sự giám sát của nhân dân để đảm bảo cho pháp luật được thực thi, cụ thể: Tổ chức công bố công khai quy hoạch, sử dụng đất để cho các tổ chức, cá nhân được biết; thực hiện quản lý đất đai theo quy hoạch sử dụng đất: bao gồm việc lập, thẩm định, xét duyệt dự án, giao đất phải theo đúng quy hoạch và quy định của pháp luật; giám sát, đôn đốc việc thực hiện quy hoạch, kiến nghị bổ sung và điều chỉnh quy hoạch cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế – xã hội của địa phương. Tiến hành xử lý triệt để các trường hợp người quản lý có quyết định giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trái với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt và trường hợp người sử dụng đất không sử dụng hoặc sử dụng đất sai mục đích; triển khai lập quy hoạch sử dụng đất cấp huyện trong khung chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh và đảm bảo được các mục tiêu quy hoạch phát triển của các ngành, các lĩnh vực, các chương trình dự án trên địa bàn tỉnh; cải cách triệt để thủ tục hành chính trong quản lý đất đai, tăng cường sự phối kết hợp giữa các cơ quản quản lý Nhà nước về đất đai tại địa phương.
3.3.2.3. Các giải pháp đảm bảo thực hiện quy định về bảo vệ môi trường trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Việc khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách bừa bãi qua nhiều thập niên cộng với sự tàn phá của chiến tranh đã dẫn đến hậu quả môi trường tự nhiên bị suy thoái tới mức báo động, các cân bằng sinh thái bị phá vỡ ở nhiều khâu. Rừng bị phá đã ảnh hưởng rõ rệt đến cường độ của lũ lụt, hạn hán, xói mòn đất, đến sự bồi lấp các dòng chảy và cửa sông; sự khắc nghiệt của khí hậu, sự suy giảm dòng chảy vào mùa khô, sự mai một các nguồn gen thực vật, động vật, nhất là các loài thủy sinh. Việc tập trung đánh bắt ở các vùng ven bờ và cửa sông đã ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của các nguồn thủy sản. Hiện tượng nước mặn xâm nhập sâu trên sông Hương đã được khắc phục nhờ được đầu tư đập Thảo Long.
Tình hình trên cho thấy việc bảo vệ tài nguyên, môi trường gắn liền với việc khai thác sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên phải được xem là một trong những nhiệm vụ cấp bách và quan trọng của tỉnh hiện nay. Để thực hiện công tác bảo vệ môi trường cần ban hành chính sách sử dụng đất với mục tiêu môi trường, đó là xây dựng một cơ cấu sử dụng đất hợp lý trong đó xác định cơ cấu diện tích che phủ bằng rừng. Trước mắt tỉnh sẽ tập trung vào các giải pháp sau:
- Bảo vệ nghiêm ngặt rừng đầu nguồn, ban hành chính sách khuyến khích khai hoang đất trống đề đầu tư trồng rừng, chính sách đầu tư bảo vệ vốn rừng hiện có. Tăng cường diện tích rừng phòng hộ đầu nguồn đặc biệt là cho các hồ thủy điện, thủy lợi ở các huyện Nam Đông, A Lưới, Phú Lộc,…
- Tăng cường giáo dục môi trường và nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho mọi tổ chức, cá nhân và cộng đồng dân cư trong tỉnh. Luận văn: Giải pháp về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.
- Kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng đất trong khai thác khoáng sản, trong các khu công nghiệp nhằm bảo vệ môi trường và nguồn nước.
3.3.2.4. Giải pháp khoa học – công nghệ
Ứng dụng những tiến bộ khoa học, công nghệ trong sử dụng đất nông nghiệp như thâm canh tăng vụ, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, bố trí mùa vụ thích hợp né tránh thiên tai nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất, bảo vệ môi trường cũng như ứng dụng công nghệ tiên tiến vào phát triển sản xuất công nghiệp, xây dựng, dịch vụ,… nhằm sản xuất ra hàng hoá tập trung, có sức cạnh tranh, phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu. Tập trung xây dựng tiềm lực khoa học và công nghệ, chú trọng phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ có trình độ cao ở các ngành mũi nhọn của tỉnh.
Thực hiện xã hội hoá hoạt động khoa học và công nghệ theo Luật Khoa học và Công nghệ. Tăng cường đổi mới cơ chế và hoàn thiện chính sách trong lĩnh vực khoa học công nghệ và môi trường phù hợp với địa phương, tạo môi trường cho hoạt động khoa học và công nghệ, trở thành động lực phát triển kinh tế – xã hội. Tăng cường đầu tư trong việc ứng dụng những tiến bộ kỹ thuật, công nghệ tiên tiến trong công tác quản lý đất đai như kỹ thuật công nghệ số trong thống kê, đo đạc lập bản đồ địa chính, quản lý hồ sơ địa chính.
3.3.2.5. Giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật quy hoạch sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa
Việc tổ chức thực hiện tốt quy hoạch nghĩa trang, nghĩa địa đến năm 2030 của tỉnh Thừa Thiên Huế là một nhiệm vụ hết sức quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, tạo đà vững chắc cho địa phương phát triển ổn định, bền vững. Trong những năm tiếp theo, cần nhanh chóng thực hiện một số giải pháp để tỉnh thực hiện công tác quy hoạch sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa như: Quy hoạch đất đai phải dung hòa với phong tục tập quán của người dân để quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch đất cho nghĩa trang, nghĩa địa có tính thực tiễn cao. Việc lập quy hoạch sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa phải lấy ý kiến đóng góp của người sử dụng đất; UBND tỉnh kết hợp với UBND các huyện thực hiện rà soát và thống kê các văn bản về quy hoạch sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa đang còn có hiệu lực, đồng thời bãi bỏ các văn bản đã hết hiệu lực; quy hoạch sử dụng đất nghĩa trang nghĩa địa cần thường xuyên được cập nhật, bổ sung cho phù hợp với thực tế, cụ thể hóa để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình thực hiện.
Cần phải tiến hành phân công trách nhiệm rõ ràng cho các cơ quan chuyên môn thực hiện quy hoạch, đẩy mạnh hơn nữa việc phối hợp giữa các cơ quan quan và ban ngành trong việc lập, tổ chức thực hiện và quản lý quy hoạch sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa. Quy định thời gian cụ thể kỳ quy hoạch cho đất nghĩa trang, nghĩa địa. Đề xuất quy định thời hạn 5 năm vì quy hoạch nghĩa trang, nghĩa địa thường xuyên có sự thay đổi; cần phải có kế hoạch và chương trình sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa một cách hợp lý nhất, các cơ quan chức năng phải tổ chức kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa để kịp thời phát hiện và giải quyết các vấn đề mới phát sinh làm sao cho quy hoạch phát huy hiệu quả trong thực tiễn; tiến hành thực hiện chủ trương áp dụng công nghệ an táng mới nhằm giảm thiếu tối đa các tác động xấu đến môi trường, bảo vệ quỹ đất nông nghiệp; áp dụng các giải pháp công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường, vệ sinh phòng dịch như: quy hoạch và thiết kế xây dựng từng nghĩa trang, nghĩa địa phải đảm bảo các nội dung về bố trí mặt bằng, diện tích phân bố cây xanh, hệ thống thoát nước, biện pháp xử lý ô nhiễm, bảo vệ môi trường. Luận văn: Giải pháp về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.
Xã hội hóa công tác tang lễ, có các đơn vị sự nghiệp chuyên ngành trực thuộc chính quyền đô thị thực hiện các công việc chủ đạo như quản lý, vận hành mạng lưới nghĩa trang, nhà tang lễ, nhà hỏa táng. Các thành phần khác đầu tư vào các hoạt động vận chuyển, hàng hóa phục vụ mai táng cũng cần có quy định về chính sách phù hợp. Các chính sách hỗ trợ tang lễ cần đổi mới các nội dung như quy định chế độ tiền lương mới cho công nhân phục vụ mai táng, cải táng, hỏa táng; quy định cụ thể về việc chứng nhận sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa cho người sử dụng đất thông qua hình thức như: quyết định giao đất hoặc giấy chứng nhận. Pháp luật quy hoạch sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa trên địa bàn tỉnh là một vấn đề rất quan trọng cần phải có sự quan tâm đúng mức.
3.3.2.6. Giải pháp bảo tồn di tích lịch sử trong thực hiện pháp luật quy hoạch sử dụng đất
Trong thời gian qua, việc thực hiện các quy định của Pháp luật về quy hoạch sử dụng đất trong việc bảo tồn di tích lịch sử ở tỉnh Thừa Thiên Huế đã có những bước tiến đáng ghi nhận. Nhiều phương án quy hoạch sử dụng đất trong việc bảo tồn di tích lịch sử được tiến hành hiệu quả, góp phần chỉnh trang đô thị, làm nổi bật những giá trị văn hóa lịch sử của Cố đô. Tuy nhiên, trước những yêu cầu của hoạt động bảo tồn di tích và phát triển kinh tế thì việc giải quyết thỏa đáng những mối quan hệ giữa mục tiêu phát triển kinh tế và bảo tồn di tích lịch sử trong công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đang là một bài toán khó tìm được lời giải. Qua phân tích thực tiễn thực hiện Pháp luật trong việc bảo tồn di tích lịch sử tại tỉnh Thừa Thiên Huế, dựa vào những kết quả đạt được, những hạn chế bất cập và những nguyên nhân của hạn chế đó tác giả mạnh dạn đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quy hoạch sử dụng đất để bảo tồn di tích lịch sử tại tỉnh Thừa Thiên Huế như sau:
Khi lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và quy định về bảo tồn di tích lịch sử. UBND tỉnh phải thật sự coi trọng công tác xây dựng và hoàn thiện các văn bản pháp luật về quy hoạch sử dụng đất trong việc bảo tồn di tích lịch sử, coi đó là nhiệm vụ trọng tâm của toàn tỉnh; Dung hòa mối quan hệ giữa dân cư và di sản; thống kê, phân loại các di tích; các quy định về chế độ thông tin, công bố quy hoạch sử dụng đất trong việc bảo tồn di tích lịch sử phải thực hiện theo đúng quy định của pháp luật; UBND tỉnh cần phối hợp chặt chẽ với Trung tâm bảo tồn di tích và chính quyền địa phương để giải phóng, đền bù mặt bằng đúng chính sách, đúng chế độ, không gây thất thoát tài sản, tiền vốn của Nhà nước, tạo sự đồng thuận trong nhân dân. Đối với các dự án “quy hoạch treo” do việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chưa chú ý đến vấn đề bảo tồn di tích lịch sử thì nên hủy bỏ và trả lại cảnh quan ban đầu cho các khu di tích; UBND tỉnh Thừa Thiên Huế cần tăng cường việc kiểm tra tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất trong việc bảo tồn di tích lịch sử của cấp dưới, kiểm tra chặt chẽ những quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở gần các khu vực có di tích hoặc vùng tiệm cận các khu di tích. Đồng thời cần có những biện pháp xử lý cụ thể đối với các trường hợp cố ý lấn chiếm đất thuộc các khu vực di tích, các trường hợp cố ý chậm triển khai thực hiện hoặc sử dụng đất đai sai mục đích của người dân. Xử lý kịp thời các cán bộ vi phạm công tác quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Trong quá trình thực hiện dự án quy hoạch, sử dụng đất, cần giám sát chặt chẽ khâu thi công, cho nhân dân tại các vùng có phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cử đại diện giám sát.
Bên cạnh đó, phải bồi dưỡng kiến thức chuyên môn về hoạt động bảo vệ di tích, kiến thức về những diện tích đất có di tích cần khoanh vùng bảo vệ chặt chẽ cho các cán bộ quản lý đất đai; hoàn thiện trang thiết bị cho công tác quy hoạch sử dụng đất và bảo tồn di tích lịch sử. Chúng ta có thể sử dụng sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, đưa các thông tin về quy hoạch sử dụng đất trong việc bảo tồn di tích lịch sử lên mạng Internet, lập trang Web riêng liên quan đến vấn đề quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và bảo tồn di tích lịch sử. Bên cạnh đó chúng ta có thể đưa thông tin về các dự án “Quy hoạch đỏ” cần được bảo vệ lên sàn giao dịch bất động sản nhằm ngăn chặn các hành vi giao dịch ở những vùng di tích cần được bảo vệ.
3.3.2.7. Giải pháp về thể chế Luận văn: Giải pháp về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.
Cụ thể hóa các quy định của Luật Đất đai 2014 và các Nghị định liên quan về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Nhằm đảm bảo thi hành các quy định về quy hoạch sử dụng đất được quy định tại Luật Đất đai 2013 và Nghị định 43/2014/NĐ-CP Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế cần chi tiết hóa hơn nữa các Quyết định hướng dẫn cụ thể tất cả các nội dung về quy hoạch sử dụng đất như trình tự, thủ tục, quy hoạch đất nông nghiệp, quy hoạch đất đô thị, quy hoạch đất nghĩa trang, nghĩa địa, nguyên tắc bảo tồn các di tích lịch sử trong quy hoạch sử dụng đất, trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan ban ngành trong xây dựng và thực hiện quy hoạch sử dụng đất, cách thức lấy ý kiến đóng góp của nhân dân trong công tác lập quy hoạch sử dụng đất, các hình thức công bố quy hoạch sử dụng đất của tỉnh Thừa Thiên Huế và các quy hoạch cấp huyện, các hình thức tổ chức kiểm tra giám sát trong quá trình lập và thực hiện quy hoạch sử dụng đất, cách thức tổ chức tuyên truyền về quy hoạch, về pháp luật quy hoạch sử dụng đất tại địa phương. Cụ thể các giải pháp về quản lý, giám sát quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị như sau:
Để đáp ứng cho nhu cầu quản lý sử dụng đất đai trong giai đoạn tới, phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội, cần thiết phải có hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về đất đai đủ mạnh về tổ chức bộ máy, năng lực chuyên môn và khoa học – công nghệ.
Tăng cường công tác giám sát của Hội đồng nhân dân các cấp và công tác thanh tra, kiểm tra của các Sở, ban, ngành, các địa phương trong công tác lập và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Thực hiện công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Tiếp tục nghiên cứu đổi mới phương pháp, nội dung công bố thông tin về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để người dân thuận tiện trong việc sử dụng và tham gia giám sát.
Để nâng cao hiệu quả sử dụng đất, mặc dù quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được xác định, nhưng cần thực hiện đến đâu thì triển khai thu hồi đất đến đó. Kiên quyết thu hồi các diện tích đất, mặt nước đã giao cho các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp nhưng chưa sử dụng hoặc sử dụng không hiệu quả.
Nâng cao chất lượng xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp, gắn quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất với quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh và quy hoạch các ngành, các lĩnh vực.
Tiểu kết Chương 3 Luận văn: Giải pháp về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.
Trên cơ sở các giải pháp thực tiễn tại Thừa Thiên Huế, nhằm mục tiêu ngày càng hoàn thiện hơn nữa pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị, phát huy được hiệu lực, hiệu quả, là công cụ pháp lý quan trọng thúc đẩy phát triển đô thị, tác giả đã đưa ra các giải pháp góp phần khắc phục những hạn chế trong các quy định của pháp luật về quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quy hoạch đô thị.
Các giải pháp mang tính đồng bộ, tác động đến cả quá trình hoàn thiện pháp luật về quản lý đất đai, quản lý đô thị cũng như việc tổ chức thực hiện pháp luật trong lĩnh vực này. Các giải pháp đều bám sát định hướng phát triển đô thị mà Đảng và Nhà nước đã đề ra, phù hợp với tình hình, định hướng phát triển của địa phương.
Mỗi giải pháp có tầm quan trọng khác nhau, tác động đến các khía cạnh khác nhau của quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quản lý đô thị cũng như có tính đến tiềm lực hoàn thiện trong từng khoảng thời gian nhất định phù hợp với tình hình của đất nước, bối cảnh của địa phương. Vì vậy trong quá trình hoàn thiện cần có những tính toàn hợp lý việc áp dụng các giải pháp để đem lại hiệu quả cao.
KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.
QH, KHSDĐ là một công cụ quan trọng để Nhà nước quản lý đất đai và đưa ra quyết định về việc sử dụng đất đai trên cơ sở khoa học. QHSDĐ của nước ta qua các thời kỳ đều đánh dấu sự phát triển từ thấp đến cao. Công tác QHSDĐ ngày càng được hoàn thiện nhằm đáp ứng những yêu cầu mới của xã hội, thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta trong công tác lập QHSDĐ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất và phát triển KT-XH. Tuy nhiên, QHSDĐ hiện nay vẫn còn nhiều vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện như: quy hoạch không khả thi, không minh bạch và thường bị treo diễn ra, nhằm tạo ra một môi trường pháp lý an toàn và minh bạch cho các chủ thể tham gia hoạt động lập và thực hiện quy hoạch. Trong phạm vi Luận văn thạc sĩ, tác giả đã khái quát hóa và phân tích một số vấn đề lý luận pháp luật về QHSDĐ. Đồng thời, đi nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháp luật về QHSDĐ, cũng như thực tiễn thực hiện pháp luật QHSDĐ tại tỉnh Thừa Thiên Huế trong những năm qua, để từ đó tác giả có thể đưa ra những nhận định về mặt đạt được, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế làm cơ sở cho việc đề xuất những định hướng, giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về QHSDĐ tại tỉnh Thừa Thiên Huế trong Chương 3.Việc đưa ra những giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế, vướng mắc nêu trên. Tuy nhiên trên thực tiễn, để thực hiện pháp luật về QHSDĐ có hiệu quả cần có sự phối hợp trong việc điều chỉnh quy định của pháp luật cũng như việc tích cực thực hiện của cơ quan Nhà nước phối kết hợp với người dân để đảm bảo việc quy hoạch được sát với thực tế, đồng thời để việc sử dụng đất thực sự có hiệu quả và mang lại lợi ích cho nhân dân và quốc gia.
Luận văn hy vọng sẽ đóng góp một phần vào việc hoàn thiện pháp luật, đặc biệt Luật Đất 2024 đã được Quốc Hội thông qua ngày 29/6/2024 và có hiệu lực kể từ ngày 01/08/2024 (sớm hơn 5 tháng so với dự kiến ban đầu là 01/01/2025) góp phần thúc đẩy quan hệ kinh tế – xã hội phát triển trên nguyên tắc “phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững”, góp phần bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất và các chủ thể tham gia QHSDĐ; đồng thời, tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật, bảo đảm thực hiện pháp luật QHSDĐ tại Thừa Thiên Huế, phấn đấu đưa tỉnh Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc trung ướng theo tinh thần Nghị quyết 54-NQ/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI. Luận văn: Giải pháp về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Pháp luật về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
