Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị qua thực tiễn tại tỉnh Thừa Thiên Huế dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Đất đai tuy là tài sản gắn bó với con người nhưng nó là tài nguyên hữu hạn và đang có nguy cơ bị thoái hóa do quá trình sản xuất, sinh sống của chính con người chúng ta. Quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa diễn ra mạnh mẽ kéo theo đô thị hóa ngày càng mở rộng, nhu cầu sử dụng đất nói chung và đất đô thị nói riêng ngày càng tăng. Trong khi đó, diện tích đất dành cho đô thị chiếm tỷ lệ nhỏ. Do đó, để việc sử dụng đất một cách tiết kiệm hợp lý, có hiệu quả, các đô thị phát triển bền vững thì vấn đề xác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị là hết sức quan trọng và cần thiết.
Pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nói chung và các quy định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị nói riêng thường xuyên được rà soát, sửa đổi, bổ sung nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý đô thị trong điều kiện kinh tế thị trường. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành lĩnh vực pháp luật này cho thấy bên cạnh những kết quả đạt được còn nhiều quy định chưa phù hợp với thực tiễn, còn quá chung chung; Một số quy định còn mâu thuẫn, chồng chéo; chế tài xử lý các vi phạm về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị chưa đủ sức răn đe và có tác dụng giáo dục…
Hiện nay tỉnh Thừa Thiên Huế đang phấn đấu xây dựng tỉnh trở thành thành phố trực thuộc trung ương theo tinh thần Nghị quyết số 54-NQ/TW của Bộ Chính trị, đồng thời đã và đang là một trong những trung tâm kinh tế của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, phát triển theo hướng xanh và bền vững. Đi cùng với đó, công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị đang được triển khai quyết liệt, đồng bộ…, góp phần tích cực cải thiện diện mạo đô thị của thành phố, cơ sở hạ tầng ở nông thôn theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa. Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế được quan tâm đầu tư xây dựng, tạo diện mạo mới cho tỉnh, nhất là hạ tầng giao thông, thủy lợi, năng lượng, đô thị, thông tin và truyền thông; giáo dục và đào tạo, khoa học, công nghệ, y tế, văn hoá, thể thao…Cụ thể như công trình cầu vượt biển dài nhất miền Trung nối liền xã Hải Dương và phường Thuận An đang trong quá trình thi công và dự kiến hoàn thành cuối năm 2025, qua đó sẽ tạo ra một bước đột phá mới về giao thông, tạo thuận lợi đi lại và thúc đẩy phát triển kinh tế vùng ven biển; Công trình cầu Nguyễn Hoàng bắc qua sông Hương cũng đang thi công gấp rút ngày đêm và dự kiến thông xe đầu năm 2025, là một công trình kết nối giao thông quan trọng tạo sự chuyển biến mạnh mẽ của thành phố Huế; Trung tâm thương mại AEON MALL Huế lớn nhất miền Trung nằm ở phường An Đông thành phố Huế chuẩn bị khánh thành và đưa vào sử dụng trong năm 2024, ngoài ra còn rất nhiều công trình của nhiều lĩnh vực khác nhau đã khởi công xây dựng trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế… Bên cạnh những kết quả đã đạt được thì công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị ở tỉnh Thừa Thiên Huế vẫn còn bộc lộ một số tồn tại. Công tác quy hoạch, xây dựng hạ tầng ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai còn hạn chế, chưa tạo được mối liên kết chặt chẽ trong phát triển các ngành, lĩnh vực để hình thành các khu vực ưu tiên, khuyến khích đầu tư. Một số chỉ tiêu quy hoạch, kế hoạch đất đã duyệt chưa được triển khai thực hiện gây thiệt hại về kinh tế cho cả Nhà nước lẫn nhân dân .
Vì vậy, việc nghiên cứu và đánh giá một cách khách quan các quy định hiện hành và thực tiễn áp dụng pháp luật về quy hoạch, kế hoạch trong quản lý đô thị là việc làm hết sức cần thiết về mặt lý luận và thực tiễn. Với lý do đó, tác giả chọn đề tài “Pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị qua thực tiễn tại tỉnh Thừa Thiên Huế” làm đề tài cho Luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Ở nước ta, trong những năm qua việc nghiên cứu về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch đô thị và quản lý đô thị là những vấn đề được nhiều ngành quan tâm như xây dựng, tài nguyên môi trường, luật học, kiến trúc… các nghiên cứu này có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp nghiên cứu về vấn đề này, như: Luận văn: Pháp luật về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.
- Thứ nhất, sách tham khảo, chuyên khảo, kỷ yếu hội thảo khoa học:
Sách chuyên khảo: Phương Vũ (2019), “Sổ tay pháp luật Đất đai – những quy định mới được sửa đổi, bổ sung về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất áp dụng từ ngày 01-01-2019”, Nxb Thế giới. Nội dung cuốn sách bao gồm các phần chính như sau: Phần thứ nhất: Luật Đất đai; Phần thứ hai: Các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai; Phần thứ ba: Các Thông tư hướng dẫn thi hành Luật Đất đai; Phần thứ tư: Những quy định mới được sửa đổi, bổ sung về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất áp dụng từ ngày 01-01-2019. Giúp cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực đất đai và người đọc quan tâm đến những quy định mới liên quan đến Luật đất đai.
Sách chuyên khảo: Vũ Tươi (2022), “Luật đất đai & văn bản hướng dẫn thi hành – quy định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai – quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất từ năm 2021-2025”, Nxb. Lao động. Nội dung cuốn sách bao gồm các phần chính: phần thứ nhất: Luật Đất đai; Phần thứ hai: Quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai; Phần thứ ba: Quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Phần thứ tư: Quy định về thu tiền sử dụng đất và miễn, giảm thuế sử dụng đất; Phần thứ năm: Quy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất; Phần thứ sáu: Các hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức phạt và biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực đất đai; Phần thứ bảy: Tăng cường chấn chỉnh công tác quản lý nhà nước về giá đất, tiền thuê đất; Phần thứ tám: Sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Đất đai; Phần thứ chín: Quy hoạch sử dụng đất quốc gia và phí thẩm định hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Phần thứ mười: Quy định mới sửa đổi, bổ sung về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. Giúp các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực đất đai và bạn đọc quan tâm đến những quy định mới liên quan đến lĩnh vực đất đai.
- Thứ hai, các bài nghiên cứu liên quan trong các tạp chí:
Nguyễn Tiến Thân (2019), “Mối quan hệ giữa quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất với quy hoạch xây dựng và quy hoạch ngành, lĩnh vực”, bài viết trên Tạp chí Khoa học Tài nguyên và Môi trường.
Nguyễn Minh Thông, Phan Trung Hiền (2021), “Xác định yếu tố ảnh hưởng đến quy hoạch sử dụng đất đai trên địa bàn thành phố Cần Thơ theo góc nhìn người sử dụng đất”, bài viết trên tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, tập 57, số 3A (2021), tr.23-30. Trong bài viết, các tác giả đã sử dụng mô hình phân tích nhân tố khám phá (exploratory factor analysis – EFA) và mô hình hồi quy tuyến tính đa biến để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quy hoạch sử dụng đất đai trên địa bàn thành phố Cần Thơ. Và kết quả nghiên cứu cho thấy, có 5 yếu tố có ảnh hưởng tích cực đến quy hoạch sử dụng đất tại thành phố Cần Thơ theo góc nhìn người sử dụng đất, gồm: nhóm yếu tố kinh tế; nhóm yếu tố môi trường; nhóm yếu tố xã hội; nhóm yếu tố thể chế, pháp lý và nhóm các yếu tố khác. Luận văn: Pháp luật về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.
TS. Lê Văn Chiến (2021), “ Sự tham gia của người dân trong lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ”, Lý luận chính trị số 2-2021. Trên cơ sở đánh giá thực trạng sự tham gia của người dân vào một lĩnh vực cụ thể, đặc biệt là công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thể hiện qua số liệu điều tra của Chương trình phát triển Liên Hợp quốc tại Việt Nam (UNDP) trong bộ Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam từ năm 2011 đến nay, bài viết đề xuất một số kiến nghị góp phần phát huy hơn nữa sự tham gia của người dân vào quá trình hoạch định và thực thi chính sách.
Lê Thị Phúc (2021), “Yêu cầu phát triển bền vững trong việc thực hiện pháp luật quy hoạch sử dụng đất để xây dựng Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương”, Tạp chí Pháp luật và thực tiễn số 47 năm 2021.
- Thứ ba, các luận văn hoặc luận án có chủ đề về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất:
Tạ Thị Thu Hà (2018), “ Pháp luật quy hoạch sử dụng đất ở, qua thực tiễn tại tỉnh Quảng Trị ”, luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học Luật, Đại học Huế. Luận văn trên cơ sở hệ thống hóa lý luận, và thực tiễn quy hoạch sử dụng đất ở hiện nay, đã phân tích, đánh giá thực trạng quy hoạch sử dụng đất qua thực tiễn ở Quảng Trị. Trên cơ sở đó, luận văn đã đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về quy hoạch sử dụng đất và bảo đảm thực hiện pháp luật quy hoạch sử dụng đất ở tại tỉnh Quảng Trị.
Vũ Văn Quý (2018), “Thực hiện pháp luật về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Lai Châu”, luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội. Luận văn đã khái quát hóa một số vấn đề về quy hoạch sử dụng đất và pháp luật về quy hoạch sử dụng đất. Cùng với đó, luận văn đã phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp. Từ đó đề xuất một số giải pháp phù hợp để thực hiện có hiệu quả pháp luật về quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Lai Châu.
Nguyễn Ninh Thuận (2020), “Pháp luật về quy hoạch sử dụng đất ở, qua thực tiễn tại tỉnh Ninh Thuận”, luận văn Thạc sĩ Luật Kinh tế, Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh. Trong luận văn thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật cùng với các phương pháp thống kê; tổng hợp… luận văn đã làm sáng tỏ những điểm chưa hoàn thiện của pháp luật về Quy hoạch sử dụng đất ở. Từ việc nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn, luận văn đã đưa ra một số định hướng, giải pháp khả thi đóng góp một phần vào việc hoàn thiện pháp luật, bảo đảm thực hiện pháp luật quy hoạch sử dụng đất ở tại Ninh Thuận nói riêng, cả nước nói chung để phát triển. Luận văn: Pháp luật về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.
Nguyễn Thị Phương Thảo (2021), “Pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất từ thực tiễn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An”, luận văn Thạc sĩ Luật học, Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. Luận văn đã nêu lên lý luận và thực trạng pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Từ việc phân tích và đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, luận văn đã đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và các giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
Nhìn chung hiện nay các nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực đất đai nói chung và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nói riêng được nghiên cứu khá nhiều, với những góc nhìn khác nhau và cách tiếp cận nhiều chiều, các công trình nghiên cứu bước đầu đã đưa ra hệ thống hoá một số khía cạnh lý luận cơ bản về pháp luật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Trên tinh thần kế thừa, khái quát hóa một số vấn đề lý luận liên quan đến pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của các công trình nghiên cứu trên tác giả sẽ đi nghiên cứu sâu sắc hơn về một số vấn đề lý luận pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị và đối chiếu các quy định đó với quá trình thực thi pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị qua thực tiễn tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Việc tác giả nghiên cứu đề tài trên đảm bảo tính mới, không có trùng lắp với các công trình nghiên cứu khác.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị. Từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật và bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, đề tài phải thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau đây:
- Khái quát hóa, phân tích có hệ thống một số vấn đề lý luận pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị;
- Phân tích thực trạng quy định của pháp luật hiện hành về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị, trên cơ sở đó tìm ra những hạn chế, bất cập của pháp luật hiện hành về xây dựng, thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị.
- Đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị tỉnh Thừa Thiên Huế, chỉ ra được những kết quả, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế đó.
- Đề xuất được giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật trên thực tế.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu Luận văn: Pháp luật về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.
Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị và thực tiễn các quy định pháp luật theo Luật Đất đai năm 2013, Luật Đất đai năm 2024 (có hiệu lực kể từ ngày 01/08/2024), Luật Quy hoạch năm 2017, Luật Quy hoạch đô thị năm 2009 và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, cùng với đó, luận văn sẽ nghiên cứu thực trạng áp dụng pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị thông qua thực tiễn tại tỉnh Thừa Thiên Huế.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung: Luận văn nghiên cứu vấn đề lý luận về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở Việt Nam, tập trung vào các quy định của Luật Đất đai 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai 2013. Luật Đất đai 2024 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 8 năm 2024 nên tác giả luận văn chưa thể nghiên cứu tình hình thực tiễn thực hiện Luật Đất đai 2024. Tuy nhiên trong quá trình phân tích các quy phạm pháp luật, luận văn luôn so sánh đối chiếu Luật đất đai 2013 với các quy định của Luật Đất đai 2024 về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Nghiên cứu thực tiễn thực hiện pháp luật quy hoạch hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Thừa Thiên Huế từ năm 2013 đến năm 2023.
Phạm vi không gian: Luận văn nghiên cứu trên lãnh thổ Việt Nam, thực tiễn thực hiện tại tỉnh Thừa Thiên Huế.
Phạm vi thời gian: Các số liệu tại vụ việc trong thực tiễn được nghiên cứu trong giai đoạn từ năm 2018 – 2024.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Để thực hiện đề tài này, luận văn dựa cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
5.2 Phương pháp nghiên cứu Luận văn: Pháp luật về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.
Luận văn được thực hiện dựa trên việc áp dụng các phương pháp nghiên cứu như phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn giải, các quy định của pháp luật, phỏng vấn chuyên gia trong lĩnh vực này.
- Phương pháp phân tích: được sử dụng trong tất cả các chương để phân tích, đánh giá các tài liệu, số liệu phục vụ cho việc nghiên cứu;
- Phương pháp thống kê: được sử dụng để tập hợp, xử lý các tài liệu, số liệu để phục vụ cho công tác nghiên cứu của luận văn được thể hiện chủ yếu tại Chương 2;
- Phương pháp so sánh luật học được áp dụng trong quá trình nghiên cứu để so sánh, đối chiếu, đánh giá các quy định pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị của Việt Nam và một số nước trên thế giới, để từ đó rút ra bài học kinh nghiệm làm luận cứ cho các đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Việt Nam được sử dụng trong Chương 1 và một phần Chương 2;
- Phương pháp chứng minh: được dùng để chứng minh cho các luận điểm đưa ra trong toàn bộ luận văn;
- Phương pháp tổng hợp: được sử dụng để tổng hợp các luận điểm, căn cứ lý luận được đưa ra trong luận văn để đưa ra các kết luận cho từng chương và kết luận chung của luận văn.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa khoa học: Luận văn góp phần bổ sung, hoàn thiện thêm cơ sở lý luận về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị ở Việt Nam. Các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị có giá trị khoa học trong hoàn thiện Luật Đất đai hiện hành.
6.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Luận văn là tài liệu tham khảo cho các các cấp, các ngành tỉnh Thừa Thiên Huế trong việc thực hiện công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị đồng thời có thể được sử dụng làm học liệu về học phần pháp luật Đất đai tại các cơ sở giáo dục đại học, đào tạo chuyên ngành luật ở cấp độ cử nhân, thạc sĩ.
7. Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung của luận văn được chia thành ba chương:
- Chương 1. Một số vấn đề lý luận về pháp luật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị
- Chương 2. Thực trạng pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Thừa Thiên Huế
- Chương 3. Định hướng, giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị Luận văn: Pháp luật về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT QUY HOẠCH, KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT TRONG QUẢN LÝ ĐÔ THỊ
1.1. Khái quát về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm đất đô thị
Đất đô thị bao gồm mặt đất, mặt nước và khoảng không gian nhất định bên trên và bên dưới nó trong khu vực đô thị. Nhìn từ không gian địa lý kinh tế thì đất đô thị có nguồn gốc từ đất nông nghiệp và đất chưa sử dụng. Đất đô thị là một phần của đất đai quốc gia được phát triển gắn liền với quá trình đô thị hóa. Quá trình chuyển đổi hoạt động kinh tế và dân số từ vùng nông thôn vào vùng thành thị làm cho đất đô thị từ chỗ không khác mấy với đất nông nghiệp, dần phát triển về diện tích và tách khỏi nhóm đất này để mang những đặc tính khác biệt gắn với hoạt động kinh tế và đời sống dân cư phi nông nghiệp. Mức độ đô thị hóa càng gia tăng thì các sự khác biệt càng đậm nét và hình thành tính chất đặc trưng đất đô thị.
Đất đô thị phát triển là dựa chủ yếu vào đất nông nghiệp và còn tiếp tục chiếm đất nông nghiệp. Do kinh tế đô thị phát triển, nhân khẩu tập trung đông, quy mô đô thị phải mở rộng ra vùng nông nghiệp phụ cận làm cho đất nông nghiệp suy giảm. Về kinh tế, đô thị mở rộng làm cho giá đất xung quanh đô thị tăng cao, buộc phải khai thác chiều sâu và chiều cao xây dựng công trình, nhưng hạn chế về điều kiện kỹ thuật và năng lực đầu tư cũng làm cho diện tích đất đô thị buộc phải mở rộng ra các vùng đất nông nghiệp xung quanh.
Đô thị Việt Nam đã và đang trong xu thế phát triển rất nhanh về số lượng, quy mô đất đai và dân số. Trong các yếu tố hình thành và phát triển đô thị thì yếu tố chiếm đất và mở rộng đất đai có vai trò đặc biệt quan trọng.
Đất ở đô thị là loại đất được sử dụng trong các khu vực đô thị gồm các thành phố, thị xã, khu công nghiệp, khu dân cư và các khu vực đô thị khác. Đất ở đô thị thường được quy hoạch, chia thành các khu vực chức năng như đất dân cư, đất công nghiệp, đất thương mại và đất công cộng.
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị
1.1.2.1. Khái niệm về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Khi bàn về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có nhiều định nghĩa khác nhau của các nhà khoa học, do họ nhìn nhận quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở những khía cạnh khác nhau hoặc cách diễn đạt khác nhau.
Xét về mặt thuật ngữ, quy hoạch nói chung được hiểu là “sự bố trí sắp xếp toàn bộ theo một trình tự hợp lý trong từng thời gian, làm cơ sở cho việc lập kế hoạch dài hạn. Theo Từ điển Luật học, quy hoạch được định nghĩa là “việc phân bố, sắp xếp các hoạt động và các yếu tố sản xuất, dịch vụ và đời sống trên một địa bàn lãnh thổ cho một mục đích nhất định trong một thời kỳ trung hạn, dài hạn để cụ thể hóa chiến lược phát triển kinh tế – xã hội trên lãnh thổ theo thời gian và là cơ sở để lập các kế hoạch phát triển”. Luận văn: Pháp luật về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau khi nghiên cứu về QH, KHSDĐ có thể được kể đến. Có cách nhìn từ góc độ khoa học để tiến hành công tác đo, vẽ bản đồ đất đai, kiểm kê đất đai, chia diện tích đất, loại đất theo từng ngành nghề. Ở góc độ khác thì cho rằng QH, KHSDĐ được thực hiện trên cơ sở hệ thống văn bản pháp luật. Nhưng dù dưới góc độ nào vẫn nhận định QH, KHSDĐ là hệ thống các giải pháp của Nhà nước trong tổ chức, quản lý nhằm mục đích khai thác kết hợp tối ưu tài nguyên đất với những loại tài nguyên thiên nhiên khác, giữ gìn môi trường sinh thái để phát triển bền vững trên cơ sở phân chia quỹ đất cho từng mục đích phát triển kinh tế – xã hội, an ninh quốc phòng theo các đơn vị hành chính các địa phương, các ngành và cả nước. Như vậy, ta có thể rút ra khái niệm về QH, KHSDĐ như sau: “Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp kinh tế, kĩ thuật và pháp chế của Nhà nước về tổ chức sử dụng đất đầy đủ, hợp lí, có hiệu quả cao và thông qua việc phân phối đất cả nước, tổ chức sử dụng đất như một tư liệu sản xuất xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất và bảo vệ môi trường.”
1.1.2.2. Khái niệm về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị
Quy hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị là việc khoanh định các loại đất được sử dụng trong khoảng thời gian là mười năm phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội của đô thị đó.
Kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị là việc khoanh định các loại đất được sử dụng trong khoảng thời gian từ một năm đến năm năm phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội và quy hoạch sử dụng đất của đô thị đó.
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cần phải được xây dựng dựa trên quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội đã được phê duyệt, đảm bảo định hướng phát triển chung của cả nước.
1.1.2.3. Đặc điểm về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
- Về nguyên tắc chung, QH, KHSDĐ luôn có những đặc điểm sau:
QH, KHSDĐ mang tính lịch sử – xã hội. Trong QH, KHSDĐ luôn có mối quan hệ giữa con người và đất đai. Nó đồng thời chỉ ra hai yếu tố thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển và thúc đẩy quan hệ sản xuất phát triển. Tính lịch sử của quy hoạch không gian do đó khẳng định vai trò lịch sử của nó trong từng thời đại xây dựng và hoàn thiện các phương thức sản xuất xã hội thể hiện ở mục tiêu, yêu cầu, nội dung và sự hoàn thiện của các phương án quy hoạch không gian.
QH, KHSDĐ mang đặc điểm tổng hợp. Kiến thức tổng hợp trong nhiều lĩnh vực khoa học của khoa học tự nhiên, kinh tế và khoa học xã hội được áp dụng. Để phân bổ đất đai cho phát triển kinh tế xã hội, các cơ hội quy hoạch sử dụng đất thường cần phải chạm đến tất cả các loại hình sử dụng đất. Với chức năng này, quy hoạch sử dụng đất có nhiệm vụ tổng hợp mọi nhu cầu sử dụng đất và giải quyết các mâu thuẫn về đất đai theo ngành, lĩnh vực.
QH, KHSDĐ mang tính dài hạn, chiến lược và chỉ đạo vĩ mô. Các quyết định về QH, KHSDĐ trung và dài hạn, các quyết định về định hướng chiến lược và các quyết định về chính sách dựa trên các dự đoán về xu hướng dài hạn của các yếu tố kinh tế – xã hội chính (ví dụ: thay đổi nhân khẩu học, tiến bộ công nghệ, đô thị hóa, công nghiệp hóa, v.v.) và để cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng các biện pháp quyết định hàng năm và lập kế hoạch sử dụng đất ngắn hạn. QH, KHSDĐ chỉ dự đoán xu hướng sử dụng đất theo hướng, mục tiêu, cơ cấu và phân bố thay đổi (thường không dự đoán chi tiết về thay đổi), do đó mục đích của quy hoạch là định hướng chiến lược vĩ mô, định hướng và tổng quan về sử dụng.
QH, KHSDĐ mang đặc tính chính trị và chính sách xã hội. Khi lập quy hoạch phải quán triệt đầy đủ các chính sách, quy định của Đảng và nhà nước về đất đai, bảo đảm thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế đất nước, phát triển nền kinh tế quốc dân, phát triển kinh tế đất đai. xã hội dựa trên.Tôi có. – Quy hoạch kinh tế, tuân thủ các quy định, tiêu chuẩn quản lý về dân số, đất đai, môi trường sinh thái. Luận văn: Pháp luật về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.
QH, KHSDĐ mang đặc điểm khả biến. Do thời kỳ QH, KHSDĐ tương đối dài, chịu sự tác động của nhiều yếu tố kinh tế – xã hội, kinh tế – kỹ thuật nên một số quy hoạch ban đầu trong quy hoạch tổng thể không còn phù hợp, phải điều chỉnh, hoàn thiện.
Tóm lại quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất không chỉ đơn thuần là các biện pháp kỹ thuật, cũng không đơn thuần là một quy phạm pháp luật thông thường. Xét một cách toàn diện, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một hiện tượng kinh tế – xã hội đặc thù thể hiện đồng thời ba tính chất.
Một là, tính pháp chế: Quy hoạch, kế hoạch có tính pháp chế bởi nó nhằm đảm bảo chế độ quản lý và sử dụng đất theo pháp luật thông qua việc xác nhận mục đích sử dụng đất của người sử dụng đất theo quy hoạch. Cùng với pháp luật thì quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là công cụ để Nhà nước quản lý đất đai được thống nhất.
Hai là, tính kỹ thuật: Ngoài tính pháp chế, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất còn có tính kỹ thuật bởi đó là việc sử dụng các công tác chuyên môn như điều tra, khảo sát, xây dựng bản đồ, khoanh định, xử lý số liệu… để xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên cơ sở tiến bộ của khoa học kỹ thuật.
Ba là, tính kinh tế: Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất mang tính kinh tế thể hiện bằng việc hiệu quả sử dụng đất đai phụ thuộc vào tính khoa học, hợp lý của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Đây là biện pháp quan trọng nhất nhằm khai thác hợp lý và có hiệu quả cao tiềm năng đất đai.
Như vậy, quy hoạch sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật và pháp chế của nhà nước về tổ chức sử dụng đất đầy đủ, hợp lý, có hiệu quả cao thông qua việc phân phối và tái phân phối quỹ đất cả nước, tổ chức sử dụng đất như một tư liệu sản xuất cùng với các tư liệu sản xuất khác gắn liền với đất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất và bảo vệ môi trường.
Từ góc nhìn pháp lý, tập thể tác giả Trường Đại học Luật Hà Nội đưa ra định nghĩa về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất như sau:
- Quy hoạch đất đai là việc khoanh định hoặc điều chỉnh việc khoanh định đối với các loại đất cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội của từng địa phương và trong phạm vi cả nước là sự tính toán, phân bổ sử dụng đất cụ thể về số lượng, chất lượng, vị trí, không gian.
- Kế hoạch đất đai là việc xác định các biện pháp, thời gian để sử dụng đất theo quy hoạch.
Tóm lại quy hoạch sử dụng đất là chiến lược sử dụng đất của nhà nước được ghi nhận, thể hiện dưới hình thức văn bản, còn kế hoạch sử dụng đất là các biện pháp được xác định theo từng thời gian cụ thể để thực hiện đúng chiến lược sử dụng đất đã được thể hiện trong quy hoạch.
1.1.3. Các yêu cầu đối với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị Luận văn: Pháp luật về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.
Bất cứ một hoạt động nào của con người cũng hướng đến những mục tiêu nhất định, mục tiêu của việc xây dựng quy hoạch sử dụng đất là nhằm lựa chọn được phương án sử dụng đất đạt hiệu quả cao nhất. Hiệu quả sử dụng đất cao mà Nhà nước hướng đến trong hoạt động quy hoạch sử dụng đất không chỉ là hiệu quả về mặt kinh tế mà là hiệu quả về nhiều mặt (kinh tế – xã hội, môi trường – sinh thái, an ninh – quốc phòng). Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu, phát huy vai trò của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải đạt được những yêu cầu cơ bản sau đây:
- Thứ nhất, công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải đảm bảo nguyên tắc phát triển bền vững.
Như đã phân tích, phát triển bền vững là con đường tất yếu của Việt Nam. Nội dung cốt lõi để đảm bảo phát triển bền vững là có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ. Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế – xã hội, Nhà nước, các tổ chức xã hội… phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa ba lĩnh vực chính: kinh tế, xã hội, môi trường. Báo cáo chính trị tại Đại hội XI từ ngày 12 đến ngày 19/01/2011 ở thủ đô Hà Nội, Đảng ta cũng đã khẳng định bài học về mục tiêu phải bảo đảm phát triển bền vững nền kinh tế, đó là: “Phát triển nhanh và bền vững phải luôn gắn chặt với nhau trong quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển kinh tế – xã hội”.
Không chỉ ở Việt Nam, hiện nay Liên Hợp Quốc cũng như nhiều tổ chức phát triển trên thế giới đều coi quy hoạch sử dụng đất là công cụ rất quan trọng để đảm bảo phát triển bền vững, trong quá trình xây dựng, tổ chức thực hiện, giám sát quy hoạch sử dụng đất, các chủ thể tham gia phải đảm bảo được nguyên tắc phát triển bền vững. Quy hoạch sử dụng đất phải là công cụ gắn kết lợi ích kinh tế và lợi ích bảo vệ môi trường và đảm bảo công bằng xã hội. Khi khoanh định các diện tích đất cho phát triển công nghiệp, phát triển du lịch, văn hóa xã hội, phát triển nông nghiệp phải cân đối các nhu cầu và lồng ghép yếu tố bảo vệ môi trường, hạn chế lợi ích cục bộ, lợi ích nhóm đảm bảo sự công bằng xã hội. Trong các nhu cầu sử dụng đất, chúng ta phải thực sự ưu tiên và bảo vệ đất nông nghiệp nhằm góp phần bảo đảm an toàn lương thực quốc gia, đồng thời bảo vệ môi trường cảnh quan thiên nhiên. Nguyên Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Phạm Khôi Nguyên nhận định: Hiện nay diện tích đất trồng lúa của cả nước có khoảng 4,1 triệu ha. Trong vòng 20 năm tới, nhằm đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội và tạo đột phá trong xây dựng kết cấu hạ tầng, đất trồng lúa sẽ tiếp tục phải chuyển sang mục đích phi nông nghiệp ước khoảng 450 – 500 nghìn ha (nhất là các vùng đồng bằng). Bên cạnh đó, để đảm bảo an ninh lương thực quốc gia trước mắt cũng như lâu dài, nước ta cần phải duy trì ổn định quỹ đất trồng lúa khoảng 3,8 triệu ha.
Ngân hàng thế giới cũng đã nhấn mạnh tính cấp thiết của quản lý đất đai bền vững: “Các hoạt động sử dụng đất – dù là chuyển đổi địa hình tự nhiên để phục vụ nhu cầu sử dụng của con người hay thay đổi cách thức quản lý trong hoạt động chi phối đất đai của con người – đã biến đổi một phần lớn diện tích đất trên bề mặt trái đất”.
Quy hoạch sử dụng đất là kiểm soát việc sử dụng đất, là ý đồ sử dụng đất dựa trên các tính toán, cơ sở khoa học, vì vậy trong quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất phải luôn luôn thấm nhuần và đảm bảo nguyên tắc phát triển bền vững. Luận văn: Pháp luật về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.
- Thứ hai, công tác quy hoạch sử dụng đất phải đảm bảo tính thống nhất và đồng bộ.
Một trong những vai trò của quy hoạch sử dụng đất đó là công cụ để Nhà nước quản lý đất đai được thống nhất. Đảm bảo tính thống nhất và đồng bộ góp phần đảm bảo được các yêu cầu khác của công tác quy hoạch sử dụng đất. Theo Từ điển tiếng Việt do Viện Khoa học xã hội Việt Nam ấn hành thì “thống nhất là làm cho phù hợp với nhau, không mâu thuẫn nhau”. Sự thống nhất và đồng bộ ở đây được biểu hiện thông qua 3 yếu tố sau đây:
- Quy hoạch sử dụng đất phải được xây dựng và thực hiện dựa trên quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội.
Quy hoạch tổng thể được quan niệm là quy hoạch chung cho mọi ngành kinh tế, cho mọi lĩnh vực xã hội và cho mọi yếu tố môi trường trên một quy mô lãnh thổ nhất định, là công cụ để nâng cao đời sống vật chất văn hóa và tinh thần của nhân dân. Quy hoạch sử dụng đất là quy hoạch tổng hợp chuyên ngành, thực hiện việc phân phối và tái phân phối quỹ đất nhằm đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn. Quy hoạch sử dụng đất vì vậy phải căn cứ vào yêu cầu phát triển và đặc điểm tự nhiên kinh tế, xã hội để điều chỉnh cơ cấu và phương hướng sử dụng đất đai, xây dựng phương án sử dụng đất đai hợp lý và hiệu quả nhất.
- Quy hoạch sử dụng đất phải được xây dựng thống nhất – không chồng chéo, mâu thuẩn với các quy hoạch khác (quy hoạch bảo vệ môi trường, quy hoạch xây dựng đô thị và điểm dân cư nông thôn, quy hoạch nông nghiệp, quy hoạch kiến trúc…)
Các mục tiêu phát triển của bất kỳ quốc gia nào cũng căn cứ vào hai yếu tố nội lực quan trọng nhất là lao động và đất. Vì vậy, cùng với quy hoạch, kế hoạch phát triển nguồn nhân lực (giáo dục, đào tạo, lao động) quy hoạch phát triển đất đai quốc gia phải trở thành quy hoạch phát triển cao nhất, phải trở thành nguồn của mọi quy hoạch phát triển khác trong các lĩnh vực kinh tế – xã hội, quy hoạch đất đai là “quy hoạch của các quy hoạch”, là bản “tổng phổ” của quy hoạch, quy hoạch sử dụng đất phải là “nhạc trưởng” để kết nối các quy hoạch ngành, tạo nên một bản “hợp xướng” thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển bền vững.
- Hệ thống quy hoạch sử dụng đất phải được xây dựng thống nhất từ Trung ương đến địa phương.
Sự thống nhất – đồng bộ trong quy hoạch sử dụng đất còn biểu hiện sự thống nhất, đồng bộ trong hệ thống các cấp quy hoạch từ quy hoạch tổng thể mang tính vĩ mô đến quy hoạch chi tiết cấp cơ sở. Quy hoạch cấp dưới phải thống nhất với quy hoạch cấp trên, quy hoạch cấp trên phải xây dựng từ nhu cầu sử dụng đất của cấp dưới. Mối quan hệ giữa các cấp quy hoạch (quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch chi tiết) là mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau, là mối quan hệ giữa ý tưởng, tư duy mang tính vĩ mô với ý tưởng, kế hoạch cụ thể mang tính vi mô.
- Thứ ba, công tác quy hoạch sử dụng đất phải căn cứ vào đặc điểm tự nhiên, kinh tế, văn hóa – xã hội, phong tục tập quán của từng vùng lãnh thổ. Luận văn: Pháp luật về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.
Mỗi vùng, mỗi đơn vị sử dụng đất đều có những điểm khác biệt về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, không có vùng đất nào giống hệt với vùng đất nào, sự khác biệt này có thể nhận thấy ở cả tầm vĩ mô và tầm vi mô, chính sự khác biệt này tạo ra sự đa dạng sinh học cho mỗi vùng lãnh thổ. Vì vậy, nếu các nhà quy hoạch không tính toán đến các điều đó trong khi xây dựng các phương án sử dụng đất sẽ không tổ chức được việc sử dụng đất đai hợp lý, không đảm bảo được tính hiệu quả, tính khả thi của quy hoạch sử dụng đất. Quy hoạch sử dụng đất phải tạo ra được những điều kiện để tổ chức lãnh thổ hợp lý thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội. “Quy hoạch sử dụng đất phải phù hợp các quy luật phát triển của tự nhiên, thể hiện đầy đủ các quy luật phát triển kinh tế – xã hội và phản ánh được những thành tựu của khoa học kỹ thuật hiện đại”. Các quy luật tự nhiên, kinh tế xã hội, thành tựu khoa học tác động đến từng vùng lãnh thổ sẽ cho ra những kết quả khác nhau về mặt kinh tế xã hội.
Đất đai có đặc tính không đồng nhất về điều kiện bản thân của đất đai (địa chất, thổ nhưỡng, nước), về điều kiện khí hậu tương ứng (ánh sáng, nhiệt độ, lượng mưa), vì vậy khi quy hoạch sử dụng đất phải phù hợp với đặc tính của từng diện tích đất để quyết định mục đích sử dụng đất. Khi quy hoạch sử dụng đất nhất thiết phải nghiên cứu đến tính chất đất đai của từng vùng lãnh thổ, từng địa phương như tính không gian, tính thổ nhưỡng, tính chất thảm thực vật tự nhiên, các điều kiện thủy văn, tính chất phân dị lãnh thổ.
Mỗi địa phương, mỗi vùng lãnh thổ đều không chỉ mang những đặc điểm khác nhau về tự nhiên, về điệu kiện kinh tế mà còn có những điều kiện văn hóa – xã hội mang tính đặc thù như phong tục, tập quán, yếu tố tâm linh, quan niệm đạo đức, nhu cầu vật chất khác nhau. Khi lựa chọn phương án sử dụng đất, các nhà quy hoạch nhất thiết phải quan tâm đến các yếu tố mang tính đặc thù của địa phương, vùng. Các yếu tố này thể hiện các nhu cầu sử dụng đất khác nhau, nếu bỏ qua chúng trong hoạch định phương án sử dụng đất sẽ không đạt được mục tiêu, không phát huy được vai trò của đất đai, gây lãng phí trong công tác quy hoạch, quy hoạch sử dụng đất được lập sẽ không có tính khả thi, không tạo ra sự công bằng xã hội trong nguyên tắc phát triển bền vững mà Việt Nam chúng ta đã lựa chọn.
Thứ tư, phải xây dựng được quy hoạch sử dụng đất mang tính ổn định, lâu dài. Một trong các đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất là mang tính chiến lược, chỉ đạo vĩ mô và ổn định lâu dài. Quy hoạch sử dụng đất là ý đồ sử dụng đất trong tương lai cho nên khi tính toán trên cơ sở khoa học để hình thành nên ý tưởng sử dụng đất, thực hiện các ý tưởng đó, cho ta kết quả để thỏa mãn nhu cầu đặt ra trong quá trình sử dụng đất, các nhà quy hoạch phải đảm bảo được tính ổn định, lâu dài cho các quy hoạch sử dụng đất, phải tiên liệu được những thay đổi trong các quan hệ kinh tế – xã hội để lựa chọn chiến lược sử dụng đất. Trong quá trình triển khai thực hiện các quy hoạch chúng ta cũng cần tôn trọng tính ổn định của các quy hoạch, hạn chế việc thay đổi tùy tiện ý đồ sử dụng đất (điều chỉnh). Một phương án sử dụng đất được xây dựng sẽ phải đầu tư tài chính, nhân lực, thời gian, vì vậy sẽ vô cùng lãng phí nếu chúng ta xây dựng mà không tôn trọng tính ổn định của quy hoạch sử dụng đất đó. Tham luận của GS Đặng Hùng Võ tại Hội nghị tập huấn “Phân tích chính sách đối với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và vai trò của đại biểu dân cử”, do Ban Công tác đại biểu Uỷ ban Thường vụ QH tổ chức ngày 18 và 19 – 9 năm 2022 tại TP.Hồ Chí Minh nêu rõ những bất cập của quy hoạch sử dụng đất là “chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, thiếu tính dự báo lâu dài…kém chất lượng, thiếu khả thi và điều chỉnh tùy tiện”. Luận văn: Pháp luật về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.
Từ những phân tích trên chúng ta thấy, một trong những yêu cầu của công tác quy hoạch sử dụng đất là phải đảm bảo được sự ổn định cho quy hoạch sử dụng đất từ cấp quốc gia đến quy hoạch sử dụng đất chi tiết của các đơn vị cơ sở hoặc của các ngành.
Thứ năm, công tác quy hoạch sử dụng đất phải công khai, minh bạch, dân chủ. Quy hoạch sử dụng đất với mục tiêu đảm bảo sự công bằng xã hội, lựa chọn được phương án sử dụng đất tối ưu, đáp ứng và dung hòa được các nhu cầu sử dụng đất khác nhau thì phải đảm bảo được tính dân chủ trong quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện.
Điều 3 Hiến pháp năm 2013 Khẳng định: “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.”
Để đạt được mục tiêu dân chủ nói chung và dân chủ trong quy hoạch sử dụng đất nói riêng thì một trong những biện pháp bảo đảm chính là công khai, minh bạch, để “dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” thì trước hết dân phải biết. Công khai, minh bạch các thông tin về quy hoạch cũng nhằm bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của nhân dân. Quy hoạch sử dụng đất ảnh hưởng trực tiếp đến người dân dưới góc độ lợi ích vật chất cũng như lợi ích tinh thần. Quá trình quy hoạch sử dụng đất từ hình thành ý tưởng, đến lập phương án sử dụng đất trên các cơ sở khoa học, tổ chức thực hiện các phương án sử dụng đất phải luôn đảm bảo dân chủ. Yêu cầu công khai, minh bạch, dân chủ thực sự là một yêu cầu cấp bách, cần nghiêm túc lựa chọn cách thức công khai, minh bạch thông tin quy hoạch. Xây dựng quy trình và quy định trách nhiệm công khai, minh bạch các thông tin về quy hoạch sử dụng đất.
- Thứ sáu, sử dụng phương pháp tham vấn cộng đồng trong quy hoạch sử dụng đất.
Tham vấn cộng đồng hay còn hiểu là có sự đóng góp ý kiến của cộng đồng trong quá trình làm quy hoạch sử dụng đất. Tham vấn cộng đồng sẽ giúp quy hoạch sử dụng đất mang tính khả thi, đảm bảo được quyền bình đẳng của công dân trong quan hệ pháp luật đất đai, đảm bảo quyền tiếp cận thông tin của công dân, đồng thời vẫn đảm bảo nguyên tắc: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý. Phương pháp tham vấn cộng đồng hiện nay được xem là một xu thế, một giải pháp cho rất nhiều vấn đề xã hội, đặc biệt trong các lĩnh vực bảo vệ các nguồn tài nguyên rừng, tài nguyên nước, tài nguyên đất… Trong lĩnh vực quy hoạch đất đai việc lấy ý kiến cộng đồng đã được nhiều nước trên thế giới áp dụng và có hiệu quả, trong quy hoạch sử dụng đất đai các nước phát triển coi trọng vị trí của “cộng đồng”.
Bảo đảm sự tham gia của người dân, tạo ra sự đồng thuận của người đang sử dụng đất trong thực hiện góp phần bảo đảm dân chủ đồng thời thúc đẩy kinh tế – xã hội theo nguyên tắc bền vững. Vai trò của cộng đồng trong quy hoạch sử dụng đất thể hiện ở một số khía cạnh cơ bản như: Giúp cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, các nhà quy hoạch lựa chọn được phương án sử dụng hợp lý nhằm đảm bảo sử dụng đất đạt hiệu quả cao nhất về mặt kinh tế – xã hội, an ninh – quốc phòng, môi trường sinh thái; thực hiện tốt nghĩa vụ của công dân trong qúa trình sử dụng đất; đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất trong quy hoạch, thu hồi đất; tự tuyên tuyền, tự giáo dục nâng cao nhận thức trong quá trình thực hiện quy hoạch, giảm bớt những mâu thuẫn, bất đồng giữa người sử dụng đất với nhau, giữa cơ quan Nhà nước với người sử dụng đất; giảm quy hoạch “treo”, đảm bảo tính khả thi cho quy hoạch sử dụng đất; giám sát, đấu tranh phòng chống các vi phạm, các tội phạm trong quá trình quản lý và sử dụng đất. Luận văn: Pháp luật về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.
Thứ bảy, xây dựng được quy hoạch sử dụng đất mang tính khả thi. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đề cập đến rất nhiều lĩnh vực như khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, kinh tế, dân số, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, môi trường sinh thái, yếu tố văn hóa, tâm linh của từng địa phương. Quy hoạch sử dụng đất tổng hợp các nhu cầu, điều hòa mâu thuẫn phù hợp với mục tiêu kinh tế – xã hội. Đối tượng nghiên cứu trong một quy hoạch sử dụng đất rất đa dạng, phức tạp như: Đặc điểm khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng; hình dạng và mật độ khoảnh đất, thửa đất; đặc điểm thủy văn, địa chất; đặc điểm thảm thực vật tự nhiên; mật độ cơ cấu và đặc điểm phân bố dân cư; tình trạng và sự phân bố cơ sở hạ tầng… Để xây dựng được một phương án sử dụng đất, chúng ta phải đầu tư rất nhiều về mặt tài chính, con người, thời gian. Ngoài ra, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất sau khi được xây dựng tác động trực tiếp, mạnh mẽ tới mọi mặt của đời sống xã hội, sẽ vô cùng lãng phí nếu chúng ta không đảm bảo được rằng phương án sử dụng đất đó sẽ được thực hiện có hiệu quả trong tương lai, góp phần thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển bền vững.
1.2. Khái quát pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị
1.2.1. Khái niệm pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội, được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm mục đích điều chỉnh các quan hệ xã hội. Pháp luật là công cụ để thực hiện quyền lực Nhà nước và là cơ sở pháp lý cho đời sống xã hội của Nhà nước.
Một trong những chức năng của pháp luật là chức năng điều chỉnh. Sự điều chỉnh của pháp luật lên các quan hệ xã hội được thực hiện theo hai hướng: một mặt pháp luật ghi nhận các quan hệ xã hội chủ yếu trong xã hội; mặt khác pháp luật bảo đảm cho sự phát triển của các quan hệ xã hội. Như vậy, pháp luật đã thiết lập “trật tự” đối với các quan hệ xã hội, tạo điều kiện cho các quan hệ xã hội phát triển theo chiều hướng nhất định phù hợp với ý chí của giai cấp thống trị, phù hợp với quy luật vận động khách quan của các quan hệ xã hội.
Hiến pháp quy định nguyên tắc chung rằng: Quản lý nhà nước về đất đai phải được quản lý bằng quy hoạch. Điều 54. Hiến pháp năm 2013 quy định: Luận văn: Pháp luật về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.
- Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luật.
- Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất. Người sử dụng đất được chuyển quyền sử dụng đất, thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của luật. Quyền sử dụng đất được pháp luật bảo hộ.
- Nhà nước thu hồi đất do tổ chức, cá nhân đang sử dụng trong trường hợp thật cần thiết do luật định vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Việc thu hồi đất phải công khai, minh bạch và được bồi thường theo quy định của pháp luật.
- Nhà nước trưng dụng đất trong trường hợp thật cần thiết do luật định để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai.
Luật Đất đai cụ thể hóa nguyên tắc hiến định ấy, căn cứ lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, nội dung của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, kỳ quy hoạch, kế hoạch cũng như quy định về trách nhiệm, thẩm quyền, trình tự lập, công bố, thông qua, xét duyệt, công bố, thực hiện và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Nội dung này được cụ thể hóa tại các Nghị định, Thông tư. Những quy định về quy trình kỹ thuật trong qúa trình xây dựng quy hoạch (mối quan hệ giữa tổ chức chuyên môn xây dựng quy hoạch với đất đai) chủ yếu được quy định tại các Thông tư do Bộ chuyên ngành (Bộ Tài nguyên và Môi trường) ban hành.
Tóm lại pháp luật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là hệ thống các quy tắc xử sự bắt buộc do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình xây dựng, quản lý và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
Pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị là tổng hợp các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh việc khoanh định các loại đất trong quá trình khai thác, sử dụng sao cho phù hợp với định hướng phát triển kinh tế – xã hội của đô thị trong hoạt động quản lý đô thị, khai thác tiềm năng của đất đai, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và hướng tới phát triển đô thị bền vững.
1.2.2. Nội dung cơ bản của pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị.
Pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nhưng không thể điều chỉnh hết tất cả các quan hệ ấy mà chỉ điều chỉnh những quan hệ cơ bản. Pháp luật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị bao gồm những nhóm quy phạm chủ yếu sau:
Thứ nhất, nhóm quy phạm về nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị đều luôn phải tuân thủ nguyên tắc chung của Luật đất đai quy định về nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch.
Đối với nhóm quy định về lập quy hoạch sử dụng đất: trước hết quan tâm đến hệ thống cơ quan có thẩm quyền và các nguyên tắc cơ bản về xác lập quy hoạch. Trong quá trình tổ chức lập quy hoạch phải đảm bảo phù hợp với chiến lược, quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh. Được lập từ tổng thể đến chi tiết; quy hoạch sử dụng đất của cấp dưới phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất của cấp trên; kế hoạch sử dụng đất phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Luận văn: Pháp luật về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.
Đồng thời, cần đảm bảo dân chủ và công khai, việc sử dụng đất phải tiết kiệm và có hiệu quả. Khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường; thích ứng với biến đổi khí hậu. Bảo vệ, tôn tạo di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh. Bảo đảm ưu tiên quỹ đất cho mục đích quốc phòng, an ninh, phục vụ lợi ích quốc gia, công cộng, an ninh lương thực và bảo vệ môi trường.
Dựa vào các nguyên tắc này, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được lập thành một hệ thống, bao gồm: Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia; quy hoạch tỉnh; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất an ninh. Các quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia phải bảo đảm tính đặc thù, liên kết của các vùng kinh tế – xã hội; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện phải thể hiện nội dung sử dụng đất của cấp xã. Quy hoạch, kế hoạch của ngành, lĩnh vực, địa phương có sử dụng đất phải bảo đảm phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê duyệt.
Thứ hai, nhóm quy phạm về căn cứ về quy hoach, kế hoach sử duṇg đất quản lý đô thị.
Căn cứ để lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị phụ thuộc vào chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế, quốc phòng và thực trạng sử dụng đất của quốc gia và vùng lảnh thổ. Việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất dựa vào các căn cứ sau đây:
Thứ ba, nhóm quy phạm trình tự quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và kỳ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị.
Pháp luật quy định chặt chẽ về trình tự lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Luật đất đai và các thông tư, nghị định liên quan: Việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị cần điều tra, thu thập các thông tin, tài liệu:
Điều tra, thu thập các thông tin. tài liệu liên quan đến điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường tác động đến việc sử dụng đất; tình hình quản lý, sử dụng đất, biến động sử dụng đất; kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện kỳ trước và tiềm năng đất đai; Luận văn: Pháp luật về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.
Điều tra, thu thập các thông tin, tài liệu về nhu cầu sử dụng đất và các dự án sử dụng đất do các ngành, lĩnh vực xác định và đề xuất. Điều tra, thu thập các thông tin, tài liệu về nhu cầu sử dụng đất do Ủy ban nhân dân cấp dưới trực tiếp xác định, phân loại và đánh giá các thông tin, tài liệu thu thập được.
Điều tra, khảo sát thực địa:
- Xác định những nội dung cần điều tra, khảo sát thực địa; xây dựng kế hoạch khảo sát thực địa;
- Chỉnh lý bổ sung thông tin, tài liệu trên cơ sở kết quả điều tra, khảo sát thực địa.
Tổng hợp, xử lý các thông tin, tài liệu.
- Lập báo cáo kết quả điều tra, thu thập các thông tin, tài liệu. Hội thảo thống nhất kết quả điều tra, thông tin, tài liệu thu thập. Phân tích, đánh giá điều kiện tự nhiên, các nguồn tài nguyên và môi trường.
Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế – xã hội.
Thứ tư, nhóm quy phạm về trách nhiệm, thẩm quyền xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quản lý đô thị
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất sẽ do hệ thống cơ quan hành chính tổ chức lập. Trong đó, quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia do Chính phủ lập dưới sự hỗ trợ của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Bản quy hoạch, kế hoạch của cấp hành chính nào sẽ do cấp đó tổ chức lập: cấp tỉnh do UBND cấp tỉnh lập, cấp huyện do UBND cấp huyện phụ trách. Đất quốc phòng do Bộ Quốc phòng đảm nhiệm và đất an ninh sẽ do Bộ Công an phụ trách.
Như vậy thẩm quyền lập quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị sẽ do các cơ quan chức năng có thẩm quyền phụ trách theo sự phân công của nhà nước chịu trách nhiệm lập, điều chỉnh và thực hiện, công bố.
Thứ năm, nhóm quy phạm về công bố quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị .
Pháp luật quy định chặt chẽ, cụ thể về nội dung công bố quy hoạch như hình thức công bố, quy trình công bố, nội dung công bố, thẩm quyền công bố quy hoạch giúp cho quyền được tiếp cận thông tin về quy hoạch của người dân được đảm bảo, tránh việc công bố mang tính hình thức không đạt được yêu cầu công khai, minh bạch của pháp luật quy hoạch sử dụng đất. Việc công bố quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cũng hạn chế tình trạng mua bán thông tin về quy hoạch dẫn đến đầu cơ đất đai, tác động tiêu cực đến thị trường bất động sản và ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của người sử dụng đất. Công bố quy hoạch sẽ góp phần định hướng thị trường bất động sản phát triển lành mạnh, đưa giá cả bất động sản về sát với giá trị thật của nó. Việc công bố quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cũng góp phần giảm bớt sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội, tạo điều kiện cho tầng lớp nhân dân lao động có cơ hội sở hữu nhà ở. Quy định cụ thể, chi tiết về việc thực hiện quy hoạch sẽ giúp nâng cao tính khả thi cho pháp luật quy hoạch sử dụng đất, giảm tình trạng quy hoạch treo, chống lãng phí. Giúp cho những chi phí xây dựng quy hoạch được sử dụng có hiệu quả, đồng thời cũng đảm bảo lợi ích của người sử dụng đất nơi diễn ra quy hoạch.
Thứ sáu, nhóm quy phạm về thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị. Luận văn: Pháp luật về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.
Với quy định về thực hiện và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Một là, Chính phủ tổ chức, chỉ đạo việc thực hiện quy hoạch , kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia; Thủ tướng Chính phủ phân bổ chỉ tiêu sử dụng đất cho các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an trên cơ sở các chỉ tiêu sử dụng đất cấp quốc gia đã được Quốc hội quyết định; UBND cấp tỉnh, cấp huyện có trách nhiệm thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương; UBND cấp xã có trách nhiệm thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn cấp xã; Bộ Quốc phòng, Bộ Công an có trách nhiệm thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng, an ninh. Người sử dụng đất thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành. Trường hợp quy hoạch sử dụng đất đã được công bố mà chưa có kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện thì người sử dụng đất được tiếp tục sử dụng và được thực hiện các quyền của người sử dụng đất. Ví dụ: trường hợp đã có kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện thì người sử dụng đất trong khu vực phải chuyển mục đích sử dụng đất và thu hồi đất theo kế hoạch được tiếp tục thực hiện các quyền của người sử dụng đất nhưng không được xây dựng mới nhà ở, công trình, trồng cây lâu năm; nếu người sử dụng đất có nhu cầu cải tạo, sửa chữa nhà ở, công trình hiện có thì phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép. Diện tích đất ghi trong kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được công bố phải thu hồi để thực hiện dự án hoặc phải chuyển mục đích sử dụng đất mà sau 03 năm chưa có quyết định thu hồi đất hoặc chưa được phép chuyển mục đích sử dụng đất thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt kế hoạch sử dụng đất phải điều chỉnh, hủy bỏ và phải công bố việc điều chỉnh, hủy bỏ việc thu hồi hoặc chuyển mục đích đối với phần diện tích đất ghi trong kế hoạch sử dụng đất. Khi kết thúc kỳ quy hoạch sử dụng đất mà các chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất chưa thực hiện hết thì vẫn được tiếp tục thực hiện đến khi quy hoạch sử dụng đất kỳ tiếp theo được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê duyệt.
Hai là, UBND cấp tỉnh và cấp huyện có trách nhiệm rà soát quy hoạch của ngành, lĩnh vực, địa phương có sử dụng đất bảo đảm phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê duyệt. UBND cấp tỉnh chỉ đạo, kiểm tra UBND cấp huyện, cấp xã xác định cụ thể diện tích, ranh giới đất trồng lúa, đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ ngoài thực địa. UBND cấp tỉnh chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ về việc bảo vệ đất trồng lúa, đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ đã được xác định trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm trước Chính phủ về việc kiểm tra thực hiện các chỉ tiêu sử dụng đất trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia, cấp tỉnh và giám sát các địa phương, các Bộ, ngành trong việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
Có thể thấy rằng, diện tích đất đai hiện nay có hạn, trong khi nhu cầu sử dụng đất ngày càng cao, để phục vụ cho sự phát triển hài hòa giữa các ngành như nông nghiệp, giao thông, công nghiệp trong từng giai đoạn thì cần phải có sự điều chỉnh quỹ đất đai. Do đó, nhiệm vụ của quy hoạch sử dụng đất là phải điều chỉnh một cách hợp lý mối quan hệ đất đai đó. Khoản 1 Điều 46 Luật đất đai 2013 quy định các trường hợp được điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất: Có sự điều chỉnh chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh của quốc gia; quy hoạch tổng thể phát triển các vùng kinh tế – xã hội mà sự điều chỉnh đó làm thay đổi cơ cấu sử dụng đất; Do tác động của thiên tai, chiến tranh làm thay đổi mục đích, cơ cấu, vị trí, diện tích sử dụng đất; Có sự điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất của cấp trên trực tiếp làm ảnh hưởng tới quy hoạch sử dụng đất; Có sự điều chỉnh địa giới hành chính của địa phương. Nội dung điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất là một phần của quy hoạch sử dụng đất đã được quyết định, phê duyệt. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê duyệt quy hoạch sử dụng đất của cấp nào thì có thẩm quyền quyết định, phê duyệt điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất của cấp đó. Như vậy, thẩm quyền quyết định điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất thuộc về Quốc hội đối với quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia; Chính phủ đối với quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh; quy hoạch sử dụng đất quốc phòng, an ninh; UBND cấp tỉnh đối với quy hoạch sử dụng đất cấp huyện.
1.2.3. Vai trò của pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị Luận văn: Pháp luật về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.
Pháp luật với vai trò là công cụ để Nhà nước thực hiện QLNN nói chung và quản lý về đất đai nói riêng. Quá trình xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị phát sinh rất nhiều các QHXH, như: Quan hệ giữa các cơ quan Nhà nước với nhau; quan hệ giữa cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai với các tổ chức chuyên môn xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị; quan hệ giữa cơ quan Nhà nước, tổ chức chuyên môn xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị với người sử dụng đất. Pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị tác động lên các quan hệ xã hội theo hai hướng: một mặt pháp luật ghi nhận các QHXH, mặt khác pháp luật bảo đảm cho sự phát triển của các QHXH. Các QHXH này đòi hỏi phải được điều chỉnh bằng pháp luật, cần phải có các nguyên tắc bắt buộc để hướng các quan hệ đi theo trật tự. Cùng với đó, pháp luật bảo vệ các QHXH mà nó điều chỉnh. Khi có các hành vi VPPL xảy ra xâm hại đến các QHXH được pháp luật bảo vệ thì các đối tượng xâm hại đó phải chịu những biện pháp, chế tài do Nhà nước quy định. Chính vì vậy pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị thể hiện các vai trò sau:
Thứ nhất, pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị tạo cơ sở pháp lý nhằm phát huy vai trò và nâng cao hiệu quả công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị. Đảm bảo cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành các hoạt động giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất và thu hồi đất nhằm phân phối quỹ đất hợp lý, hiệu quả trên cơ sở tiềm năng đất đai và nhu cầu sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực, địa phương để phát triển KT – XH, bảo vệ an ninh quốc phòng và môi trường sinh thái. Mọi hoạt động triển khai các dự án phát triển các vùng kinh tế, xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất, mở rộng khu dân cư,… đều phải tiến hành dựa vào pháp luật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị.
Thứ hai, pháp luật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị điều chỉnh, định hướng cho các hoạt động liên quan đến quy hoạch, kế hoạch được thực hiện theo pháp luật, theo ý chí của Nhà nước; góp phần hạn chế các hành vi vi phạm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thông qua các biện pháp pháp lý, cơ chế đảm bảo thực hiện được quy định cụ thể trong Luật. Với các biện pháp chế tài xử phạt đó buộc các đối tượng có hành vi vi phạm, tùy vào tính chất, mức độ của hành vi mà phải chịu các trách nhiệm pháp lý khác nhau, như: trách nhiệm hành chính, trách nhiệm hình sự, trách nhiệm kỷ luật,…
Thứ ba, pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị có sự tác động vào ý thức của con người, làm cho NSDĐ có các xử sự phù hợp với cách xử sự chung được quy định trong các QPPL. Từ sự nhận thức này hướng con người đến những hành vi, cách ứng xử phù hợp với lợi ích của xã hội, lợi ích của Nhà nước trong quá trình sử dụng đất và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Việc quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị được điều chỉnh bằng pháp luật góp phần hạn chế các hành vi vi phạm về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất như: chuyển mục đích tùy tiện, lấn chiếm, tranh chấp đất đai,…
Thứ tư, pháp luật có vai trò định hướng cho công tác xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị theo đường lối, chủ trương và chính sách của Đảng, Nhà nước nhằm đạt được mục tiêu phát triển đất nước. Trong công tác quản lý đất đai, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chính là cơ sở khoa học, là căn cứ pháp lý quan trọng để Nhà nước quản lý các biến động về đất đai, nó trực tiếp thể hiện phương thức yêu cầu trong công tác quản lý và sử dụng đất đai. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai là một trong những phương tiện để Nhà nước thực hiện các chủ trương, chính sách đất đai của mình, giúp cho Nhà nước can thiệp một cách sâu sắc vào quá trình sử dụng đất, đồng thời khắc phục những khó khăn do lịch sử để lại. Việc quản lý đất đai theo quy hoạch chính là điều kiện để đất đai được sử dụng hợp lý và có hiệu quả.
1.3. Các yếu tố tác động đến thực hiện pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị Luận văn: Pháp luật về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.
Pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cũng như bất kỳ một chế định pháp luật nào đều bị chi phối bởi các yếu tố nhất định đến quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện các quy định đó. Tuy nhiên, mỗi nhóm quy phạm pháp luật lại chịu tác động bởi những yếu tố khác nhau. Pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất điều chỉnh các quan hệ xã hội mang tính đặc thù, đó là quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện hoạt động quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, mà quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất lại mang trong mình những đặc điểm riêng biệt, pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất vì vậy chịu sự tác động, chi phối của các yếu tố chính trị, lịch sử, văn hóa – xã hội và kinh tế.
1.3.1. Yếu tố chính trị
Pháp luật là công cụ hữu hiệu để Nhà nước thể hiện quan điểm chính trị, để chính thức hóa tử tưởng của Đảng. Pháp luật về đất đai nói chung và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nói riêng mang đậm nét tính giai cấp, thể hiện rõ nét yếu tố chính trị. Biểu hiện cụ thể của yếu tố chính trị chi phối đến pháp luật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
Có thể khẳng định: pháp luật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chịu sự chi phối mạnh mẽ của yếu tố chính trị. Thông qua quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất, quan điểm, đường lối phát triển kinh tế xã hội của Đảng được cụ thể hóa, như quan điểm bảo vệ môi trường để phát triển bền vững, quan điểm bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa, quan điểm đầu tư xây dựng và phát triển nguồn nhân lực như thế nào, định hướng phát triển từng vùng kinh tế trọng điểm ra sao.
1.3.2. Yếu tố kinh tế thị trường
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay, đất đai còn là hàng hóa đặc biệt, được tiền tệ hóa để tham gia vào nền sản xuất hàng hóa với tính chất vừa là tư liệu sản xuất, vừa là tư liệu sinh hoạt, vừa là nguồn vốn đầu tư phát triển. Vì vậy, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ngày càng có ý nghĩa to lớn trong việc điều phối quan hệ cung, cầu đất đai trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế thế giới hiện nay ở nước ta, nhằm sử dụng có hiệu quả, hợp lý và tiết kiệm nguồn tài nguyên quý giá cho sự phát triển kinh tế của đất nước. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tối đa hóa giá trị của bất động sản, theo đó việc sử dụng đất được quyết định trên cơ sở động lực của thị trường, quy hoạch sử dụng đất trở thành sản phẩm của thị trường.
Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và chuyển đổi cơ cấu kinh tế với sự tập trung dân số và phát triển hạ tầng, phát triển các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc các ngành công nghiệp, thương mại, dịch vụ theo sự phát triển bề rộng của không gian đô thị. Quá trình đô thị hóa làm tăng nhu cầu về bất động sản cả về số lượng và cơ cấu nhằm thỏa mãn, phù hợp với các hoạt động kinh tế, xã hội, sản xuất kinh doanh dịch vụ, đúng với nhu cầu ngày càng cao của đời sống. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có thể xem là yếu tố góp phần không nhỏ trong công cuộc thay đổi “diện mạo” của Việt Nam trên trường Quốc tế.
Pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất vì thế cũng bị chi phối mạnh mẽ bởi yếu tố kinh tế, nhất là trong giai đoạn hội nhập kinh tế thế giới như hiện nay của nước ta.
1.3.3 Yếu tố văn hóa xã hội Luận văn: Pháp luật về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.
Một trong các yêu cầu của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất còn là nâng cao chất lượng sống cho cộng đồng. Với những đặc trưng của đất đai, để quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đạt được những yêu cầu, mục tiêu thì quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất còn phải căn cứ vào đặc điểm tự nhiên, kinh tế, văn hóa – xã hội, phong tục tập quán của từng vùng lãnh thổ. Từ yếu tố tâm lý, tín ngưỡng, văn hóa phong tục, tập quán mà các nhà quy hoạch đất quyết định các chỉ tiêu đất đai cho từng ngành, từng nhu cầu khác nhau. Pháp luật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất lúc này không chỉ bị chi phối bởi ý chí chủ quan của Nhà nước mang yếu tố chính trị và tình hình phát triển kinh tế, yếu tố hội nhập mà còn bị chi phối bởi các yếu tố văn hóa – xã hội.
1.3.4. Yếu tố lịch sử
Lịch sử Việt Nam gắn liền với lịch sử khai khẩn, xây dựng đất nước và bảo vệ lãnh thổ của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Trải qua nhiều thế hệ, nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập, bảo vệ được vốn đất như hiện nay. Trên mỗi thửa đất, vùng đất, lãnh thổ đều để lại những thành quả lao động của nhân dân ta qua các thời kỳ lịch sử, đó là đất đai, rừng núi, là các công trình công cộng, đường xá giao thông, cầu cống, các di tích lịch sử – văn hóa, cảnh quan thiên nhiên. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất mang tính tổng hợp không chỉ do tính đa mục đích sử dụng đất của các chủ thể sử dụng và chiếm hữu đất đai, mà còn do tính lịch sử, truyền thống, tập tục, văn hóa của quốc gia. Pháp luật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được xây dựng, thiết kế không nhằm ngoài mục đích giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống, xác định đúng nhu cầu sử dụng đất của thị trường, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, bảo vệ môi trường để phát triển kinh tế xã hội bền vững. Vì vậy, pháp luật quy hoạch sử dụng đất cũng bị chi phối, tác động mạnh mẽ bởi yếu tố lịch sử. Luận văn: Pháp luật về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.
Tóm lại, pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cùng lúc chịu sự tác động đa chiều (tác động của các yếu tố lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội), tác động của yếu tố bên ngoài mang tính khách quan như điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, thổ nhưỡng và những yếu tố mang tính chủ quan như ý chí của giai cấp cầm quyền, trình độ chuyên môn của các nhà quy hoạch… Khi xây dựng, chúng ta phải cân đối các yếu tố khách quan, chủ quan trong pháp luật quy hoạch, kế hoạch để pháp luật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thực sự vừa là công cụ thể hiện ý chí định đoạt đất đai của Nhà nước vừa là giải pháp để nâng cao chất lượng sống cho người dân, đảm bảo hài hòa lợi ích của các bên liên quan.
Tiểu kết Chương 1
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là công cụ để Nhà nước quản lý thống nhất đất đai, là phương thức để Nhà nước khẳng định và thực hiện quyền định đoạt đối với đất đai, giúp Nhà nước lựa chọn được phương án sử dụng đất đạt hiệu quả cao nhất về kinh tế – xã hội, môi trường – sinh thái, an ninh – quốc phòng… Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong các nội dung quản lý Nhà nước về đất đai. Qua nghiên cứu chương 1 của luận văn, tác giả đã đưa khái niệm, đặc điểm về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, rút ra ý nghĩa, mục tiêu của việc quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong giai đoạn hiện nay.
Đồng thời chương 1 của luận văn cũng đã phân tích khái niệm, vai trò, nội dung điều chỉnh của pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị. Trên cơ sở đó, tác giả đã làm rõ các yếu tố tác động đến thực thi pháp luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị. Các nội dung nghiên cứu tại Chương 1 sẽ làm tiền đề “lý thuyết” quan trọng để tác giả tiến hành phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đô thị ở Thừa Thiên Huế tại chương 2. Luận văn: Pháp luật về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực trạng về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Giải pháp về sử dụng đất trong quản lý đô thị tại Huế