Luận văn: Thực trạng QL giáo dục kỹ năng tự phục vụ học sinh

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng QL giáo dục kỹ năng tự phục vụ học sinh hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tiểu học tại trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Khái quát đặc điểm về địa bàn nghiên cứu

2.1.1. Khái quát về điều kiện tư nhiên, kinh tế – chính trị, văn hóa- xã hội của các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương

Khái quát về điều kiện tự nhiên của thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương

Thành phố Thủ Dầu Một là trung tâm chính trị – kinh tế – văn hóa – xã hội của tỉnh Bình Dương. Một đô thi loại I theo quyết định số 1959/QĐ-TTg2017 công nhận Thủ Dầu Một là đô thị loại I trực thuộc Bình Dương, nằm trong chuỗi đô thị của vùng kinh tế trong điểm phía Nam, là một đỉnh của tứ giác phát triển công nghiệp miền Đông Nam Bộ

Thành phố Thủ Dầu Một là thành phố trực thuộc tỉnh Bình Dương, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có vị trí tương đối thuận lợi cho việc giao lưu với các huyện, thị trong tỉnh và cả nước qua quốc lộ 13, cách Thành phố Hồ Chí Minh 30 km

Thành phố Thủ Dầu Một nằm ở phía Tây Nam tỉnh Bình Dương, có sông Sài Gòn chảy qua. Phía Đông giáp thị xã Tân Uyên; Phía Tây giáp huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh; Phía Nam giáp thị xã Thuận An; Phía Bắc giáp thị xã Bến Cát. Ngày 2 tháng 5 năm 2012, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 11/NQ-CP thành lập thành phố Thủ Dầu Một thuộc tỉnh Bình Dương, trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số và các đơn vị hành chính trực thuộc của thị xã Thủ Dầu Một đồng thời chính thức hoạt động vào ngày 1 tháng 7 năm 2012 Luận văn: Thực trạng QL giáo dục kỹ năng tự phục vụ học sinh.

Với diện tích 118,67 km2, dân số 385 000 người (2018), hiện nay thành phố có 14 đơn vị hành chính cấp phường gồm: phường Phú Cường; phường Phú Thọ; phường phú Hòa; phường Phú Lợi; phường Phú Mỹ; phường Hòa Phú; phường Phú Tân; phường hiệp Thành; phường Tân An; phường Hiệp An; phường Chánh Nghĩa; phường Chánh Mỹ; phường Định hòa; phường Tương Bình Hiệp.

Tình hình kinh tế – chính trị, văn hóa – xã hội của TP Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương

Với bề dày truyền thống lịch sử 300 năm xây dựng và phát triển, từ một đô thi nhỏ, chưa được quy hoạch, hạ tầng thiếu thốn, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân còn khó khăn, bằng những nỗ lực vượt qua nhiều khó khăn thách thức, thành phố Thủ Dầu Một liên tục phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Đặc biệt là từ năm 2007, khi được công nhận là đô thi loại III thì Thủ Dầu một đã không ngừng phát triển và vươn mình thành độ thi loại I vào cuối năm 2017, chỉ trong vòng 10 năm: Kinh tế duy trì với tốc độ tăng trưởng cao bình quân 25,58%/năm. Cơ cấu kinh tế từ cơ cấu công nghiệp – thương mại, dịch vụ – nông nghiệp đã chuyển sang cơ cấu thương mại dịch vụ 60,78%, công nghiệp 39,04% và nông nghiệp 0,18%. Thu nhập bình quân đầu người đạt 81,6 triệu đồng/người/năm. Thu nhập bình quân đầu người đạt cao hơn bình quân chung cả nước 1,51 lần. Thành phố Thủ Dầu Một không còn hộ nghèo (theo tiêu chí Trung ương). Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tăng 29,6%. Tổng giá trị khối lượng xây dựng cơ bản thực hiện được 1.151,061 tỷ đồng, đạt 136,75% kế hoạch tỉnh giao, giá trị cấp phát 841,724 tỷ đồng, đạt 100% kế hoạch. Nghiệm thu và đưa vào sử dụng 34 công trình, gồm 09 trường học, 03 Trung tâm Văn hoá Thể thao phường, 01 khu tái định cư, 07 công trình giao thông, 12 nhà làm việc của Ban chỉ huy quân sự phường, xã.

Tỷ lệ đô thị hóa đạt 100%, với 97,7% lao động phi nông nghiệp; diện tích nhà ở bình quân 18,8 m2/người và 93,3% là nhà xây kiên cố, bán kiên cố; gần 100% các hộ dân cư sử dụng nước sạch; tỷ lệ chất thải rắn được thu gom đạt trên 95%… thành phố Thủ Dầu Một đã khẳng định vị thế đô thị trung tâm của tỉnh Bình Dương trong quá trình công nghiệp hóa – độ thị hóa và đến nay đã xứng tầm với thành phố đô thị loại I.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Bảng Giá Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Quản Lý Giáo Dục

2.1.2. Khái quát về tình hình giáo dục – đào tạo của các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một

Quy mô phát triển trường lớp giáo dục tiểu học của thành phố Thủ Dầu Một

Theo báo cáo tổng kết của Phòng Giáo dục và Đào tạo TP Thủ Dầu Một, năm học 2017-2018 tổng số trường tiểu học: 27 trường, trong đó có 04 trường Tư thục có lớp tiểu học. Tổng số lớp: 725 lớp so với năm học trước tăng 24 lớp. Tổng số học sinh: 25.630 so với năm học trước tăng 1.674 học sinh. Tổng số trường tổ chức 2b/ngày: 22 trường so với năm học trước tăng 02 trường (TH Tương Bình Hiệp, TH Hòa Phú). Tổng số học sinh học 2b/ngày 18.860 so với năm học trước tăng 3.353 em. Tổng số trường tổ chức bán trú: 21 trường so với năm học trước tăng 03 trường (Tương Bình Hiệp, Hòa Phú, Bùi Quốc Khánh). Tổng số học sinh tham gia bán trú: 14.685 so với năm học trước tăng 2.927 em.

Thành phố Thủ Dầu Một với diện tích là 118.67 km² và có tổng cộng 27 trường tiểu học trên toàn thành phố. Như vậy, cứ mỗi 4.40 km² sẽ có một trường tiểu học phục vụ cho nhu cầu của người dân, đây là một kết quả khả quan, cho thấy Phòng Giáo dục của thành phố đã đáp ứng được nhu cầu đến trường của các trẻ tiểu học về mặt số lượng. Không dừng lại ở đó, với tình hình dân số ngày một tăng cao, thành phố Thủ Dầu Một không ngừng đầu tư để mở thêm trường cho trẻ tiểu học. Ngoài ra, về mặt chất lượng,thành phố Thủ Dầu Một cũng nỗ lực nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học của thành phố với số lượng trẻ nhập học ngày một tăng cao và không có trẻ bỏ học. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục kỹ năng tự phục vụ học sinh.

Chất lượng giáo dục ở các trường tiểu học của thành phố Thủ Dầu Một:

Năm học 2017-2018 ngành giáo dục thành phố tiếp tục thực hiện đánh giá học sinh theo Thông tư 22/2016/TT-BGDĐT. Học sinh hoàn thành chương trình lớp học toàn thành phố là 25.122/25.630 đạt tỷ lệ 98,02% so với năm học trước Phòng Giáo dục vẫn đảm bảo chất lượng dạy và học ngày càng được nâng cao. Học sinh hoàn thành chương trình tiểu học: 4.646/4.647 đạt tỷ lệ 99.98% so với năm học trước giảm 0.02%. Toàn thành phố thực hiện nghiêm túc đề án: “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020” theo Quyết định số 1400/QĐ-TTg ngày 30/9/2008 của Thủ tướng Chính phủ. Chương trình tự chọn 2 tiết/tuần hoặc 4 tiết/tuần; trên cơ sở phù hợp điều kiện về đội ngũ và nhu cầu của học sinh, thực hiện đủ 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết cho học sinh, trong đó tập trung phát triển 2 kĩ năng nghe và nói. Kết quả đạt được như sau:

Học sinh được đánh giá “Hoàn thành tốt” 14.541/25.630 tỷ lệ 56.75%; “Hoàn thành”: 10.851/25630 tỷ lệ: 42.35%; “Chưa hoàn thành” 238/25630 tỷ lệ: 0.9%. Trong đó có 5 trường tổ chức dạy Tiếng Anh tăng cường (Hiệp Thành, Định Hòa , Lê Hồng Phong, Trần Phú, Nguyễn Du) với số học sinh tham gia là 874 học sinh).

Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Thủ Dầu Một tăng cường đầu tư CSVC trang thiết bị trong việc tổ chức dạy học môn Tin học trong các trường tiểu học kết quả đạt được như sau: có 23/27 trường thực hiện dạy tin học với 13.025 học sinh tham gia. Học sinh được đánh giá “Hoàn thành tốt”: 8.388/13.025 tỷ lệ 64,4%; “Hoàn thành” : 4.633/13.025 tỷ lệ: 35.57 %; “Chưa hoàn thành” 4/13.025 tỷ lệ: 0,03%.

Các trường tổ chức cho học sinh tham gia “ câu lạc bộ khoa học vui”, học sinh tự tay làm xà phòng, đất sét, slam, nước rửa tay,..

Tổ chức các hoạt động giao lưu, các sân chơi trí tuệ bổ ích và thân thiện nhằm phát triển năng lực học sinh như: Liên hoan văn nghệ “Tiếng hát dân ca”, Giao lưu tìm hiểu “An toàn giao thông”, Giao lưu Tiếng Việt của chúng em, Đố vui để học, Rung chuông vàng, Câu lạc bộ tiếng Anh, Tin học, … Luận văn: Thực trạng QL giáo dục kỹ năng tự phục vụ học sinh.

Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên trường tiểu học thành phố Thủ Dầu Một:

Tổng số giáo viên tiểu học 957/810 nữ trong đó (GV dạy lớp: 689/624; GVBM: 268/186). Tổng số CBQL tiểu học hiện nay: 62/45 nữ trong đó (HT: 23/10 nữ; PHT: 39/35 nữ). Đánh giá chuẩn đội ngũ CBQL: Trình độ chuyên môn CBQL đạt chuẩn trình độ chuyên môn 100% ở các cấp học (Trong đó tiểu học trên chuẩn 98,4%). Đánh giá chuẩn giáo viên dạy lớp: Trình độ chuyên môn đạt chuẩn 100% ở các cấp học (Trong đó tiểu học trên chuẩn 863, tỉ lệ: 90,18%). Tóm lại, thực trạng tình hình giáo dục tiểu học hiện tại của thành phố Thủ Dầu Một như hiện nay, có thể thấy thành phố đạt được nhiều thành tựu. Đó là việc đáp ứng được nhu cầu giáo dục tiểu học của người dân cũng như luôn dành nhiều ngân sách cho việc phát triển giáo dục nói chung và giáo dục tiểu học nói riêng với việc mở rộng số lượng trường tiểu học và các chính sách nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học. Số lượng trẻ tiểu học và thành tích tốt các em đạt được đều tăng qua các năm. Bên cạnh đó, chất lượng giáo viên cũng được chú trọng phát triển thông qua những yêu cầu, chính sách tuyển dụng và hỗ trợ nâng cao năng lực cho giáo viên.

Tuy nhiên, vẫn tồn tại những nhược điểm đáng kể trong thực trạng giáo dục tiểu học ở thành phố. Có thể kể đến việc số lượng học sinh trong một lớp quá đông khiến cho tiến trình dạy và học giảm chất lượng. Ngoài ra, việc mất cân bằng giới tính trong đội ngũ giáo viên tiểu học cũng phần nào ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục.

Cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ dạy và học ở các trường tiểu học của thành phố Thủ Dầu Một:

Các trường chủ động tham mưu đầu tư cơ sở vật chất, xây dựng thư viện đạt chuẩn, cải tạo cảnh quan trường học đạt tiêu chuẩn xanh – sạch – đẹp, an toàn theo quy định. Phát huy tốt công năng của thư viện và phát triển văn hóa đọc cho học sinh. Các trường thực hiện mô hình thư viện thân thiện, thư viện mini, … Thực hiện nghiêm túc các quy định về việc sử dụng sách giáo khoa, sách bổ trợ, tài liệu tham khảo (Cv 2372/BGDĐT-GDTrH ngày 11/4/2013). Rà soát, sửa chữa, bổ sung thiết bị dạy học theo danh mục thiết bị dạy học tối thiểu. Thực hiện tốt việc triển khai sưu tập tài nguyên dạy học. Qua Hội thi “Triển lãm tài nguyên đồ dùng dạy học điện tử qua bộ sưu tập đồ dùng dạy học điện tử” cấp Tỉnh đạt giải Nhất toàn đoàn. Bảo quản tốt và sử dụng hiệu quả các loại đồ chơi, thiết bị vận động ngoài trời được cấp.

2.2. Tổ chức khảo sát đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tiểu học

2.2.1. Mục tiêu khảo sát Luận văn: Thực trạng QL giáo dục kỹ năng tự phục vụ học sinh.

Khảo sát thực trạng về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương nhằm góp phần làm rõ thực trạng cũng như phân tích tìm ra những ưu và hạn chế trong công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phụ vụ cho học sinh tiểu học làm cơ sở đề xuất những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng trong quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

2.2.2. Nội dung khảo sát

Để đạt mục tiêu nghiên cứu, nội dung khảo sát bao gồm: Sự cần thiết của việc giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tiểu học, nhận thức của giáo viên, cán bộ quản lý, phụ huynh học sinh về ý nghĩa, mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức thực hiện, hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho cho học sinh; Sự quan tâm thực hiện của giáo viên, cán bộ quản lý trong hoạt động giáo dục kỹ năng tự phụ vụ của học sinh tiểu học; Việc xây dựng kế hoạch giáo dục kỹ năng tự phụ vụ cho học sinh; Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh, trong đó được thể hiện thông qua bố trí nhân sự vận hành đối với đội ngũ giáo viên, đối với phương pháp và hình thức thực hiện; Khảo sát sự chỉ đạo trong công tác thực hiện kế hoạch giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh; Kiểm tra và đánh giá hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh; Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tiểu học bao gồm các yếu tố chủ quan và khách quan; Những nguyên nhân thuận lợi và khó khăn cũng như những biện pháp thích hợp trong quá trình quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tại các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tình Bình Dương.

2.2.3. Công cụ điều tra, khảo sát thực trạng

Người nghiên cứu xây dựng bảng hỏi khảo sát thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tại các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương dành cho giáo viên, cán bộ quản lý và phụ huynh học sinh theo phụ lục 1 và 2. Bên cạnh đó, người nghiên cứu còn xây dựng nội dung các câu hỏi để thực hiện phỏng vấn, quan sát học sinh, trong quá trình thực hiện hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tại trường tiểu học, các bảng quan sát được thể hiện trong phụ lục 3.

2.2.3. Kiểm tra độ tin cậy của thang đo Luận văn: Thực trạng QL giáo dục kỹ năng tự phục vụ học sinh.

Khi tiến hành khảo sát, người nghiên cứu thực hiện thông qua thăm do ý kiến giáo viên, cán bộ quản lý, phụ huynh học sinh và học sinh bằng bảng hỏi và câu hỏi phỏng vấn. Các phiếu hỏi được gửi đến đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý, phụ huynh học sinh trong các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương theo cách tiếp cận ngẫu nhiên. Theo đó, người nghiên cứu sử dụng phầm mềm SPSS 25.0 thực hiện phân tích dữ liệu thu thập được bằng cách tính số lượng, phần trăm (%), điểm trung bình và độ lệch chuẩn cũng như xếp hạng các nội dung khảo sát theo qui ước cụ thể. Sau khi xây dựng bảng hỏi và hỏi ý kiến các đối tượng tham gia khảo sát về lĩnh vực quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tiểu học. Chúng tôi nhận thấy rằng bảng hỏi có độ tin cậy và có tính khả thi thông qua kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha.

2.2.4. Đối tượng, thời gian, giới hạn nghiên cứu

Tiến hành khảo sát để phân tích thực trạng hoạt động giáo dục KN TPV cho học sinh tại trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Đề tài đã tiến hành kháo sát 8 trường/ 21 trường trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một. Các trường được khảo sát dựa theo từng địa bàn, dựa vào thời gian hoạt động của trường, dưa theo tiêu chí công nhận trường chuẩn quốc gia, …Đối tượng khảo sát bao gồm giáo viên, cán bộ quản lý và phụ huynh học sinh. Trong đó, giáo viên và cán bộ quản lý là 310 phiếu (hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, tổ khối trưởng, giáo viên bộ môn và giáo viên chủ nhiệm lớp) của các trường như: Trường TH Phú Hòa 2, Trường TH Phú Hòa 1, Trường TH Trần Phú, Trường TH Phú Mỹ, Trường TH Tân An, Trường TH Nguyễn Hiền, Trường TH Lê Hồng Phong, Trường TH Hòa Phú (mỗi trường khảo sát 3 cán bộ quản lý, 5 tổ khối trưởng và giáo viên dạy lớp). Số lượng phụ huynh được khảo sát là 400 người ( mỗi trường khảo sát 50 PHHS khối 1 và khối 5). Quan sát một số HS khối 1 và khối 5 của 8 trường khảo sát. Trong đó, số lượng phiếu khảo sát từ GV và CBQL thu về 310 đạt 310/320 = 96.8%, về đặc điểm của đối tượng khảo sát được thể hiện trong bảng 2.1, cụ thể như sau:

Bảng 2.1. Kết quả khảo sát đặc điểm của giáo viên và cán bộ quản lý tại các trường TH tại thành phố Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL giáo dục kỹ năng tự phục vụ học sinh.

Theo kết quả thống kê từ bảng 2.1 trên cho thấy rõ thông tin về các đối tượng khảo sát là những cán bộ quản lý, giáo viên tại các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương, cụ thể như:

Số lượng giáo viên và cán bộ quản lý tại các trường có sự phân bố không đồng đều, trong đó trường TH Phú Hòa 1 và Phú Mỹ có số lượng giáo viên và cán bộ quản lý nhiều nhất với 48 người chiếm 15.5% cao nhất trong tổng số lượng tham gia khảo sát. Theo đó là trường TH Tân An với 44 giáo viên và cán bộ quản lý chiếm 14.2%, các trường TH Hòa 2, Trần Phú và Hòa Phú chiếm 12.3%, còn lại là trường TH Nguyễn Hiền và Lê Hồng Phong chiếm 9% thấp nhất trong các trường về số lượng tham gia khảo sát, do các trường có quy mô nhỏ trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương.

Vị trí công tác hiện tại và bằng cấp chuyên môn: Người nghiên cứu tiến hành khảo sát 8 trường TH trên địa bàn, số lượng khảo sát là 310 người, trong đó cán bộ quản lý là 64 người gồm 8 Hiệu trưởng, 16 Phó hiệu trưởng, và 40 Tổ trưởng. Đồng thời, các đối trượng khảo sát có bằng cử nhân với chiếm đa số với 90.3%, còn lại là 9.7% là trường hợp khác, tức là có trình độ chuyên môn thấp hơn. Như vậy, các trường trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một có trình độ chuyên môn cao chiếm đa số, là điều kiện thuận lợi và đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng trong hoạt động giáo dục nhà trường.

Thâm niên công tác quản lý và trong lĩnh vực ngành: Giáo viên và cán bộ quản lý có đã công tác trong ngành từ 1 đến 5 năm chiếm 27.7%, và từ 5 đến dưới 10 năm chiếm 30%, đây là tỷ lệ cao nhất trong các mức thâm niên công tác trong ngành của các đối tượng. Ngoài ra, kết quả thống kê cho thấy thâm niên trên 20 năm là thấp nhất chiếm 12.6%.

Giới tính và độ tuổi: Tuổi từ 40 đến 50 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất với 29.4%, theo đó là từ 30 đến dưới 40 tuổi chiếm 28.7%, dười 30 tuổi chiếm 21.3%, thấp nhất là trên 50 tuổi chiếm 20.6%. Đồng thời, tỷ lệ Nữ là 85.5% trong tổng số lượng tham gia khảo sát, như vậy tại các trường TH trên đại bàn thành phố Thủ Dầu Một có đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý có đa dạng về tuổi và phần lớn là nữ giới, nữ giới ngày càng tham gia nhiều vào các hoạt động quản lý nhà trường.

Nhìn chung, đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý tại các trường TH trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một có trình độ chuyên môn cao, đáp ứng nhu cầu về nâng cao chất lượng trong các hoạt động giáo dục nhà trường.

2.2.5. Qui ước thang đo

Người nghiên cứu tiến hành thu thập đầy đủ các phiếu khảo sát từ giáo viên, cán bộ quản lývà phụ huynh học sinh, kết quả phỏng vấn, quan sát từ học sinh để tổng hợp và xử lý thống kê dữ liệu qua sự hỗ trợ từ phần mềm SPSS 25.0 để tính số lượng, phần trăm (%), điểm trung bình và độ lệch chuẩn, ứng với mỗi mức độ đánh giá. Khoảng cách giữa các mức độ trong thang đo được tính là: (Giá trị lớn nhất – giá trị nhỏ nhất)/5=(5-1)/5=0.8

Từ đó, thang đo được quy ước thông qua điểm trung bình (ĐTB) và thể hiện qua bảng 2.2 dưới đây:

Bảng 2.2. Quy ước thang đo trong đánh giá thực trạng hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tiểu học

Bảng quy ước 2.2 được sử dụng để phân tích và đánh giá thực trạng trong công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tiểu học tại các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương cũng như trong đánh giá tính khả thi và cần thiết của các biện pháp đề xuất. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục kỹ năng tự phục vụ học sinh.

2.3. Thực trạng hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh trường Tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương

2.3.1. Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, phụ huynh học sinh về giáo dục kỹ năng tự phục vụ

Kết quả khảo sát thực trạng nhận thức của giáo viên, cán bộ quản lý, phụ huynh học sinh về sự cần thiết, ý nghĩa, nội dung thực hiện của giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tiểu học được thể hiện qua các bảng như sau:

Bảng 2.3. Nhận thức về sự cần thiết của giáo dục kỹ năng tự phục vụ của học sinh tiểu học

Theo kết quả thống kê từ bảng trên cho thấy, tỷ lệ ít cần thiết và cần thiết về giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tiểu học chiếm cao nhất đối với đánh giá của giáo viên và cán bộ quản lý, trong đó ít cần thiết giáo dục là 47.7% đối với giáo viên và cán bộ quản lý, phụ huynh học sinh 22.6%, và cần thiết là 45.5% đối với giáo viên và cán bộ quản lý, trong khi đó khá cần thiết chỉ chiếm 0.3% và rất cần thiết là 3.6% rất thấp trong thang đo các mức độ. Tuy nhiên, đối với phụ huynh là 32.5% ở mức rất cần thiết. Khi tổ chức quan sát và phỏng vấn các đối tượng là phụ huynh và học sinh cho thấy, phần lớn họ cho rằng giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh là cần thiết. Như vậy, đây là một trong những hạn chế tại các trường tiểu học liên quan đến việc tổ chức giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh, để nâng cao chất lượng trong các hoạt động giáo dục, đặc biệt là giáo dục về kỹ năng tự phụ vụ cho học sinh các trường tiểu học tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương cần có những biện pháp bồi dưỡng nâng cao nhận thức cho đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý nhằm nâng cao ý thức và nhận thức đúng đắn về mục tiêu, nội dung và vài trò của hoạt động giáo dục này, góp phần đáp ứng mục tiêu phát triển toàn diện học sinh. Ngoài ra, nhận thức về sự cần thiết của hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh được thể hiện qua biểu đồ như sau:

Biểu đồ 2.1. Nhận thức về sự cần thiết của hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh của gióa viên, cán bộ quản lý và phụ huynh học sinh.

Ngoài ra, nhận thức về tầm quan trọng của giáo dục kỹ năng tự phục vụ tại các trường tiểu học trên địa bàn cũng được khảo sát, kết quả khảo sát thể hiện bảng 2.4 dưới đây

Bảng 2.4. Nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tiểu học của giáo viên và cán bộ quản lý Luận văn: Thực trạng QL giáo dục kỹ năng tự phục vụ học sinh.

Qua kết quả thống kê trên cho thấy, các nội dung như: “Xếp hàng đi ăn; Xếp sách vở gọn gàng; Lấy cơm đến bàn ngồi ăn; Cất khay đúng nơi quy định; Để giày dép trên kệ ngay ngắn; Lấy, cất nệm gối; Đi vệ sinh đúng nơi quy định; Rửa tay bằng xà phòng; Rửa mặt, đánh răng; Bỏ rác đúng nơi quy định; Kê bàn ghế khi đi ngủ; Tự đi ngủ; Cất đồ vào tủ cá nhân; Lấy, cất đồ dùng học tập; Chuẩn bị tập, sách khi ra về; Chải tóc, cột tóc; Thay đồ khi đi ngủ; Mang cặp, giày dép khi ra về” các nội được đánh giá với điển trung bình từ 3.46 điểm đến 4.10 điểm đạt mức độ khá quan trọng. Đồng thời độ lệch chuẩn trong các trường hợp dao động ở mức thấp. Như vậy, hầu như các giáo viên và cán bộ quản lý tại các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xem các nội dung như xếp hàng đi ăn, xếp sách vở, lấy cơm, bỏ rác, tự đi ngủ, cất đồ vào tủ, chải tóc, cột tóc… được xem là không thể thiếu trong hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh. Riêng nội dung “Tham gia các hoạt động học tập tại lớp” có điểm trung bình 3.32 điểm ứng với mức độ quan trọng trong thang đo. Độ lệnh chuẩn trong trường hợp này 0.951 thể hiện sự đồng nhất trong đánh giá giữa các đối tượng tham gia khảo sát. Như vậy, những nội dung này được xác định thực hiện trong hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tại trường. Đây là ưu điểm tại các trường cần được phát huy hơn nữa góp phần nâng cao chất lượng giáo dục nhà trường cũng như đáp ứng sự phát triển toàn diện cho học sinh tiểu học.

Tuy nhiên qua quá trình quan sát học sinh 8 trường tiểu học, tác giả nhận thấy các em thực hiện các kỹ năng: Để giày dép vào kệ, để cặp vào ngăn bàn, cất đồ dùng vào tủ cá nhân, lấy đồ dùng học tập, cất đồ dùng học tập, bỏ rác đúng nơi quy định, các kỹ năng trong giờ ngủ trưa, các kỹ năng trong giờ ăn, các kỹ năng lúc tan học,… đều thực hiện ở mức 1 là còn phải nhắc nhở, các em làm còn chậm chạp, cần phải giúp đỡ của giáo viên nhất là đối với các em lớp 1. Nhưng các em lớp 5 thì thực hiện nhanh nhẹn và khéo léo hơn. Chính vì thực trạng trên, chúng ta cần rèn luyện cho học sinh các kỹ năng ngay từ lớp nhỏ nhất ở bậc tiểu học.

2.3.2. Thực trạng về thực hiện chương trình, nội dung giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh Luận văn: Thực trạng QL giáo dục kỹ năng tự phục vụ học sinh.

Kết quả khảo sát thực trạng về sự thực hiện chương trình, nội dung giáo dục dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tiểu học được thể hiện qua bảng 2.5 như sau:

Bảng 2.5. Thực trạng thực hiện chương trình, nội dung giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tiểu học của giáo viên và cán bộ quản lý

Theo kết quả thống kê từ bảng 2.5 cho thấy, nội dung “Cất khay đúng nơi quy định; Kê bàn ghế khi đi ngủ; Đi vệ sinh đúng nơi quy định; Rửa tay bằng xà phòng” được đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý tham gia khảo sát đánh giá cao về mức độ thường xuyên thực hiện với có điểm trung bình từ 3.44 đến 3.58 điểm đạt mức 4, mức độ thường xuyên thực hiện. Độ lệch chuẩn trong các trường hợp này thấp ở mức 0.526 và 0.747 thể hiện sự đồng nhất trong đánh giá của các đối tượng tham gia khảo sát. Như vậy, các trường đã thường xuyên thực hiện nội dung kê bàn ghế khi đi ngủ và cất khay đúng nơi quy định hay đi vệ sinh và rửa tay bằng xà phòng cho học sinh tại các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

Bên cạnh đó, các nội dung khác như: “Xếp hàng đi ăn; Xếp sách vở gọn gàng; Để giày dép trên kệ ngay ngắn; Rửa mặt, đánh răng; Tự đi ngủ; Lấy, cất đồ dùng học tập; Thay đồ khi đi ngủ; Mang cặp, giày dép khi ra về” được các đối tượng đánh giá với điểm trung bình từ 2.60 điểm đến 3.35 điểm đạt mức hạng 3, mức độ Thỉnh thoảng. Độ lệch chuẩn trong các trượng hợp dao động từ 0.600 đến 1.062 thể hiện sự đồng nhất trong đánh giá của các đối tượng tham gia khảo sát. Qua đó, trong giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tại các trường tiểu học trên địa bàn Thỉnh thoảng thực hiện các nội dung như tổ chức hướng dẫn có các em biết tự xếp hàng khi đi ăn, xếp gọn sách khi học xong, rửa mặt, đánh răng, tự đi ngủ, tự thay quần áo khi đi ngủ, hay mang cặp, giày dép khi đi về.

Tuy nhiên, các nội dung như “Lấy cơm đến bàn ngồi ăn; Lấy, cất nệm gối; Bỏ rác đúng nơi quy định; Cất đồ vào tủ cá nhân; Chuẩn bị tập, sách khi ra về; Chải tóc, cột tóc” được đánh giá với điểm trung bình ở mức hạng 2, mức độ ít thường xuyên thực hiện. Đồng thời, độ lệch chuẩn thấp dao động từ 0.721 đến 0.901 thể hiện sự đồng nhất trong đánh giá các nội dung này của các giáo viên và cán bộ quản lý tại các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một. Khi trò chuyện phỏng vấn cũng như quan sát các học sinh và phụ huynh học sinh cho thấy, phần lớn phụ huynh học sinh cho rằng “ít thường xuyên đánh thức các em dậy mỗi buổi sáng, giao việc phù hợp cho các em, và có thời khóa biểu ở nhà cho các em, và kiểm tra góc học tập, tập sách các em mỗi ngày” đặc biệt là khả năng tự quản của học sinh chưa tốt như “ít tự đánh răng, rửa mặt, tự chải đầu, thay quần áo…” đây là sự thiết sót của phần lớn phụ huynh trong việc nhắc nhỡ và giúp đỡ cho con em mình hình thành ý thức tự giác, tự quản qua những công việc hàng ngày cần có những biện pháp khắc phục. Như vậy, các nội dung như “lấy cơm đến bàn ăn, cất nệm gối, đồ chơi, bỏ rác đúng nơi, chuẩn bị tập khi ra về và chải tóc” là những nội dung cần được thực hiện thường xuyên trong hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tại các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một hiện nay.

Bên cạnh đó, thực trạng trong giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho hoc sinh thực hiện tại nhà cũng được khảo sát và thể hiện trong các bảng như sau: Luận văn: Thực trạng QL giáo dục kỹ năng tự phục vụ học sinh.

Bảng 2.6. Thực trạng trong giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh thực hiện tại nhà

Theo kết quả thống kê từ bảng 2.6 cho thấy, phụ huynh học sinh cũng đã tham gia vào quá trình giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho con em mình, việc “Đánh thức các em dậy mỗi buổi sáng” cũng như bảo các em đi ngủ đúng giờ, đi học đúng giờ, nhắc nhỡ khi các em làm chưa tốt, kiểm tra góc học tập, sách vở ghi chép được đánh giá với điểm trung bình ứng với mức 3, và 4, mức độ thỉnh thoảng và thường xuyên. Trong đó, việc nhắc các em ăn sáng trước khi đi học, kiểm tra giao việc cho các em, kiểm tra góc học tập có điểm trung bình ở mức 4, mức độ thường xuyên. Độ lệch chuẩn trong các trường hợp trên khá cao chưa thể hiện sự đồng nhất trong đánh giá các nội dung này của các đối tượng tham gia khảo sát. Chứng tỏ, việc hỗ trợ, quan sát và rèn luyện tính tự giác của phụ huynh đối với học sinh trong mỗi gia đình là khác nhau, tuy nhiên các phụ huynh học sinh cũng đã tích cực trong việc thực hiện hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho con mình thông qua nhắc nhỡ, giao việc và khen thưởng.

Qua đó, khả năng tự phục vụ của mỗi học sinh được hình thành, kết quả khảo sát những biệu hiện về ý thức tự giác, kỹ năng tự quản, tự phục vụ cho mình được thể hiện trong bảng 2.7.

Bảng 2.7. Thực trạng ý kiến của phụ huynh về kỹ năng tự phục vụ của học sinh tại nhà

Dưới sự rèn luyện của nhà trường và gia đình, kỹ năng tự phục vụ của học sinh đã thể hiện theo chiều hướng tích cực, các em đã tự đánh răng, rửa mặt (có điểm trung bình 3.45, đạt mức độ thường xuyên), tự ăn sáng, thay quần áo, tự sách cặp ra xe cũng được đánh giá với điểm trung bình đạt mức 4, mức độ thường xuyên. Đồng thời, trình trạng xem ti vi được phụ huynh nhắc nhỡ và hạn chế cho học sinh xem, điểm trung bình 2.38 đạt mức 2, mức độ ít thường xuyên, chứng tỏ phụ huynh học sinh đã ý thức được rằng việc xem ti vi không mang lại kết quả tốt cho học sinh, làm mất thời gian để con tham gia vào các hoạt động. Ngoài ra, việc giúp gia đình những việc vừa sức chưa được đánh giá cao, điểm trung bình trong trường hợp này 2.23 điểm, độ lệch chuẩn 0.894 thể hiện sự đồng nhất trong đánh giá nội dung này từ các đối tượng phụ huynh tham gia khảo sát. Như vậy, tại mỗi gia đình học sinh, các em được gia đình nhắc nhỡ, rèn luyện về kỹ năng tự phục vụ, tuy các em đã thể hiện tốt khả năng tự phục vụ cho bản thân, tự đánh răng, rửa mặt, tự ăn sáng tại nhà, tự sách cặp ra xe chờ người thân đưa đến trường để học, đặc biệt hạn chế xem ti vi, nhưng giúp người thân làm một số việc vừa sức là chưa thực hiện tốt. Chính vì vậy, cần có sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh, cần có những biện pháp hữu hiện hơn trong quá trình giáo dục kỹ năng này. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục kỹ năng tự phục vụ học sinh.

2.3.3. Thực trạng về phương pháp, hình thức giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh

Kết quả thống kê thực trạng về thực hiện phương pháp và hình thức giáo dục dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tiểu học được thể hiện qua các bảng như sau:

Bảng 2.8. Thực trạng về thực hiện phương pháp tổ chức giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tiểu học của giáo viên và cán bộ quản lý

Theo kết quả thống kê từ bảng trên cho thấy, các phương pháp sử dụng trong hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tại các trường tiểu học trên địa bàn chưa được đánh giá cao mức độ thực hiện thường xuyên, các trường hợp chỉ ở mức 2, 3 của thang đo thường xuyên là chiếm đa số. Trong đó, các nội dung “Cho các em thực hành với đồ vật, đồ dùng học tập, đồ dùng sinh hoạt; Sử dụng trò chơi để giáo dục kỹ năng tự phục vụ; Luyện tập để các em thực hành lặp đi lặp lại các thao tác kỹ năng; Dùng ngôn ngữ để giáo dục kỹ năng tự phục vụ” được đánh giá với điểm trung bình từ 1.96 đến 2.39 điểm đạt mức độ ít thường xuyên thực hiện, độ lệch chuẩn trong các trường hợp này dao động mức 0.489 và 0.523 thể hiện sự đồng nhất trong đánh giá các phương pháp sử dụng của các đối tượng tham gia khảo sát. Như vậy, các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một còn nhiều hạn chế trong việc sử dụng các phương pháp giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh, đặc biệt các phướng pháp cho các em tự thực hành với đồ vật, đồ dùng hàng ngày, sử dụng trò chơi, cũng như luyện tập và dùng ngôn ngữ để giáo dục cho học sinh ít khi thực hiện trong các hoạt động giáo dục kỹ năng tại trường. Đây là những hạn chế cần được khắc phục trong thời gian tới để đáp ứng nhu cầu phát triển toàn diện cho học sinh tại các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

Bên cạnh đó các phương pháp còn lại như: “Giao nhiệm vụ , yêu cầu các em thực hiện; Cho các em quan sát trực tiếp, tiếp xúc với phương tiện, hành động mẫu; Sử dụng hình thức biểu dương nhắc nhở, góp ý cho các em; Nhận xét thể hiện thái độ đồng tình hoặc không trước việc làm, hành vi của các em” được đánh giá ở mức độ thường xuyên và Thỉnh thoảng, trong đó phương pháp “Cho các em quan sát trực tiếp, tiếp xúc với phương tiện, hành động mẫu” có điểm trung bình 3.42 điểm, độ lệch chuẩn thấp 0.714 thể hiện sự đồng nhất trong đánh giá của các đối tượng tham gia khảo sát. Qua đó, các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương đã thực hiện nhiều phương pháp trong giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh, trong đó phương pháp cho các em quan sát, tiếp xúc với phương tiện, hành động mẫu là thương xuyên nhất.

Nhìn chung, các trường tiểu học trên địa bàn tuy đã thường xuyên sử dụng các phương pháp như giao nhiệm vụ, sử dụng hình thức biểu dưởng, nhắc nhở góp ý, nhận xét, đặc biệt là tạo điều kiện để các em quan sát, tiếp xúc với thực tế, hành động mẫu là thường xuyên thực hiện, nhưng các phương pháp như cho các em thực hành với đồ vật, đồ dùng học tập, sinh hoạt hằng ngày, hay phương pháp sử dụng trò chơi, sử dụng ngôn ngữ trong giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh là còn hạn chế.

Bảng 2.9. Thực trạng về thực hiện hình thức tổ chức giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tiểu học của giáo viên và cán bộ quản lý Luận văn: Thực trạng QL giáo dục kỹ năng tự phục vụ học sinh.

Theo kết quả thống kê từ bảng 2.9 cho thấy, trong các hình thức thực hiện gồm theo mục đích và nội dung giáo dục, theo vị trí không gian và theo số lượng người học, các hình thức được các trường thực hiện trong hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh và được đánh giá như sau:

Theo mục đích và nội dung giáo dục: Hình thức tổ chức các hoạt động trong sinh hoạt hàng ngày có điểm trung bình 2.51, độ lệch chuẩn 0.866, xếp hạng 2, ứng với mức độ ít thường xuyên thực hiện. Độ lệch chuẩn thấp thể hiện sự đồng nhất trong đánh giá của các đối tượng tham giá khảo sát về nội dung này. Qua trò chuyện với một số giáo viên và cán bộ quản lý cho thấy GV1, GV2, BGH2 cho rằng “vì thời gian chủ yếu tập trung vào các hoạt động dạy học, nên phần lớn hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ ”Như vậy, các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, ít sử dụng hình thức này để tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tiểu học tại trường. Bên cạnh đó, hình thức “Tổ chức hoạt động có chủ định của giáo viên và theo ý thích của học sinh; Tổ chức ngày lễ, hội” chưa được đánh giá cao mức độ thường xuyên, trong đó việc tổ chức ngày lễ hội có điểm trung bình 3.06 điểm và độ lệch chuẩn 0.757 ứng với mức độ thường xuyên, đây là nội dung được đánh giá với điểm trung bình cao nhất, bởi lẽ thông qua những hoạt động ngày lễ hội, các em có điều kiện được tiếp xúc trực tiếp và trải nghiệm trong bầu không khí và hình ảnh sôi động, thực tiễn.

Theo vị trí không gian: Hình thức hoạt động trong phòng lớp, hoạt động ngoài trời được các giáo viên và cán bộ quản lý đánh giá với điểm trung bình 3.14 điểm độ lệch chuẩn từ 0.585 đến 0.815 thể hiện sự đồng nhất trong đánh giá các hình thức này của các đối tượng tham gia khảo sát. Qua đó, các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một đã khá thường xuyên sử dụng các hình thức hoạt động ngoài trời và trong phòng lớp học để tổ chức thực hiện giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tại trường.

Theo số lượng người học: Trong các hình thức tổ chức ngoài trời, theo nhóm, cả lớp hay cá nhân được các giáo viên và cán bộ quản lý đánh giá cao mức độ thường xuyên thực hiện, điểm trung bình dao động từ 3.22 điểm đến 3.48 điểm đạt mức hạng 3, và 4. Trong đó, tổ chức hoạt động cả lớp và hoạt động cá nhân được các đối tượng tham gia khảo sát đánh giá cao nhất với điểm trung bình từ 3.48 điểm đến 3.68 điểm, độ lệch chuẩn từ 0.610 đến 0.827 thể hiện sự đồng nhất trong đánh giá của các đối tượng tham gia khảo sát trong đánh giá các hình thức này.

Nhìn chung, các hình thức được các trường vận dụng thường xuyên trong tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ, trong đó hình thức tổ chức cả lớp, cá nhân với theo số lượng người học là thường xuyên nhất, tuy nhiên các hình thức tổ chức các hoạt động trong sinh hoạt hàng ngày, có chủ định của giáo viên và theo ý thích của học sinh là ít thực hiện nhất. Để nâng cao chất lượng giáo dục nhà trường cũng như chất lượng trong các hoạt động giáo kỹ năng tự phục vụ cho học sinh được đảm bảo, các trường cần phải tổ chức đa dạng các hình thức hoạt động giáo dục, phù hợp với từng nội dung, mục tiêu giáo dục và điều kiện nhà trường.

2.3.4. Thực trạng đánh giá kết quả của giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh Luận văn: Thực trạng QL giáo dục kỹ năng tự phục vụ học sinh.

Kết quả thống kê thực trạng về tiêu chí thực hiện nội dung giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tiểu học được thể hiện qua các bảng sau:

Bảng 2.10. Thực trạng trạng về tiêu chí thực hiện nội dung giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tiểu học của giáo viên và cán bộ quản lý

Kết quả thống kê từ bảng 2.10 cho thấy, các giáo viên và cán bộ quản lý đánh giá cao các tiêu chí thực hiện nội dung ở mức Thỉnh thoảng và thường xuyên thực hiện, cụ thể:

Việc “Thiết lập và cụ thể hóa nội dung các kỹ năng cần giáo dục cho học sinh trong nhà trường” được các đối tượng tham gia khảo sát đánh giá với điểm trung bình 3.34 điểm, ứng với mức độ Thỉnh thoảng. Độ lệch chuẩn thấp 0.795 thể hiện sự đồng nhất trong đánh giá nội dung này giữa các đối tượng tham gia khảo sát, như vậy việc thiết lập và cụ thể hóa nội dung các kỹ năng cần giáo dục cho học sinh trong nhà trường được các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dượng thực hiện Thỉnh thoảng.

Tương tự việc “Tổ chức bồi dưỡng cho giáo viên và phụ huynh học sinh về nội dung các kỹ năng cần giáo dục cho các em; Giám sát giáo viên thực hiện các nội dung giáo dục tự phục vụ cho học sinh; Thiết lập nguồn tài liệu hỗ trợ cho thực hiện nội dung của các kỹ năng giáo dục tự phục vụ cho học sinh” cũng được đánh giá với điểm trung bình ở mức 3, mức độ Thỉnh thoảng, độ lệch chuẩn dao động từ 0.491 đến 0.641 thể hiện sự đồng nhất trong đánh giá của các giáo viên và cán bộ quản lý tham gia khảo sát đánh giá các nội dung này. Trong khi đó, tiêu chí “Xây dựng tiêu chí cho các mức độ thực hiện nội dung các kỹ năng giáo dục tự phục vụ cho học sinh tiểu học” có điểm trung bình 3.40 điểm đạt mức độ thường xuyên. Độ lệch chuẩn thấp 0.604 thể hiện sự đồng nhất trong đánh giá nội dung tiêu chí này. Qua đó, trong đánh giá hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh được các trường thường xuyên thực hiện, đặc biệt việc xây dựng tiêu chí cho các mức độ thực hiện nội dung các kỹ năng giáo dục tự phục vụ cho học sinh tiểu học là thường được thực hiện nhất.

Bên cạnh đó, kết quả khảo sát về đánh giá mức độ quản lý việc thực hiện các phương pháp giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tiểu học cũng được thống kê và thể hiện qua bảng 2.11 như sau:

Bảng 2.11. Thực trạng trạng đánh giá về tiêu chí thực hiện các phương pháp giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tiểu học của giáo viên và cán bộ quản lý Luận văn: Thực trạng QL giáo dục kỹ năng tự phục vụ học sinh.

Theo kết quả thống kê từ bảng 2.11 cho thấy, việc “Tổ chức tập huấn về phương pháp giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho giáo viên” được các giáo viên và cán bộ quản lý tham gia khảo sát đánh giá có điểm trung bình 3.27 điểm, độ lệch chuẩn trong trường hợp này 0.641 thể hiện sự đồng nhất trong đánh giá nội dung này của các đối tượng tham gia khảo sát. Như vậy, các trường đã thỉnh thoảng tổ chức tập huấn về phương pháp giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho giáo viên. Đây là điều kiện thuận lợi giúp đội ngũ giáo viên nâng cao trình độ chuyên môn cũng như khả năng vận dụng những phương pháp tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh phù hợp và mang lại hiệu quả cao.

Bên cạnh đó, việc “Tổ chức, giám sát việc thực hiện các phương pháp giáo dục kỹ năng tự phục vụ của giáo viên; Tổ chức trao đổi kinh nghiệm giữa các giáo viên về thực hiện phương pháp giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh; Khuyến khích vận dụng các phương pháp theo hướng phát huy tính tự giác, tích cực chủ động của học sinh” được đánh giá với điểm trung bình ở mức 2 và mức 3, ứng với mức độ ít thường xuyên và thỉnh thoảng. Trong đó, việc tổ chức giám sát thực hiện phương pháp và tổ chức trao đổi kinh nghiệm được đánh giá với điểm trung bình thấp nhất dao động từ 2.36 đến 2.44 điểm, ứng với mức độ ít thường xuyên. Như vậy, trong đánh giá việc thực hiện phương pháp các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một đã tổ chức tập huấn về phương pháp giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh và khuyến khích vận dục các phương pháp theo định hướng tự giác, tích cực. Tuy nhiên, việc tổ chức giám sát việc thực hiện các phương pháp giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh và tổ chức trao đổi kinh nghiệm giữa các đối tượng ít được tổ chức kiểm tra thường xuyên tại các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương.

2.4. Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh trường Tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương

2.4.1. Thực trạng xây dựng kế hoạch giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh

Kết quả khảo sát thực trạng về việc thực hiện xây dựng kế hoạch giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tại các trường tiểu học thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 2.12. Thực trạng thực hiện xây dựng kế hoạch giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tại các trường tiểu học thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL giáo dục kỹ năng tự phục vụ học sinh.

Qua kết quả thống kê từ bảng 2.12 cho thấy, công tác lập kế hoạch hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ tại các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một được thực hiện thỉnh thoảng, trong đó:

Việc “Khảo sát thực trạng trước khi lập kế hoạch” có điểm trung bình thấp nhất với 2.67 điểm, tuy điểm trung bình ứng với mức độ thỉnh thoảng nhưng là điểm thấp nhất trong các nội dung khác của quá trình xây dựng kế hoạch. Đồng thời, độ lệch chuẩn 0.793 thể hiện sự đồng nhất trong đánh giá nội dung này của các đối tượng tham gia khảo sát. Qua đó, các trường tuy đã thực hiện khảo sát thực trạng trước khi lập kế hoạch tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh, nhưng cần phải tăng cường hơn trong việc khảo sát thực trạng trước khi lập kế hoạch vì đây là điều kiện cần thiết giúp nhà trường xác định nhu cầu, nguyện vọng và cần đối được các nguồn lực để có kế hoạch gần với thực tiễn.

Bên cạnh đó, việc “Xác định các mục tiêu GD kỹ năng tự phục vụ trong bản kế hoạch” cũng được đánh giá với điểm trung bình 2.93 điểm, ứng với mức hạng 3, mức độ thỉnh thoảng. Độ lệch chuẩn trong trường hợp này thấp 0.493 thể hiện sự đồng nhất trong đánh giá nội dung này của các đối tượng tham gia khảo sát. Việc xác định mục tiêu đúng đắn sẽ giúp nhà trường định hướng hoạt động, biết được việc cần phải làm, thiếu cái gì và cần bổ sung những cái gì, từ đó có kế hoạch cụ thể đáp ứng tốt các điều kiện, cũng như xác định rõ ràng các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường tham gia tích cực vào việc xây dựng kế hoạch hiệu quả, và đáp ứng mục tiêu.

Tương tự “Dự kiến nhân lực cho việc triển khai; Chuẩn bị các điều kiện về CSVC; Lên kế hoạch thời gian cho các hoạt động” cũng được đánh giá với điểm trung bình ở mức hạng 3, mức độ thỉnh thoảng. Độ lệch chuẩn trong các trường hợp thấp ở mức 0.4 đến 0.7 thể hiện sự đồng nhất trong đánh giá nội dung này của các đối tượng tham gia khảo sát. Qua đó, khi lập kế hoạch hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một đã thực hiện việc dự kiến nhân lực, cũng như chuẩn bị các điều kiện về cơ sở vật chất và lên kế hoạch thời gian thực hiện, tuy nhiên việc thực hiện chưa đạt mức thường xuyên.

Bên cạnh đó, việc “Dự trù các hình thức tổ chức và các biện pháp thực hiện” được các đối tượng tham gia khảo sát đánh giá cao với điểm trung bình 4.20 điểm cao nhất trong các nội dung, ứng với mức hạng 4, mức độ thường xuyên. Độ lệch chuẩn trong trường hợp này 0.931 cho thấy có sự đồng nhất trong đánh giá của các đối tượng tham gia khảo sát. Dự trù các biện pháp và hình thức tổ chức là điều kiện cần thiết giúp nhà trường giải quyết những tình huống, những hạn chế phát sinh trong quá trình thực hiện kế hoạch nhằm đáp ứng mục tiêu đề ra. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục kỹ năng tự phục vụ học sinh.

Như vậy, trong quá trình xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh, các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương đã thực hiện khảo sát thực trạng, xác định mục tiêu giáo dục, dự kiến nguồn nhân lực, chuẩn bị các điều kiện, lên kế hoạch, dự trù các hình thức và các biện pháp để đáp ứng mục tiêu. Tuy việc dự trù các hình thưc tổ chức và biện pháp thực hiện được thực hiện thường xuyên nhưng việc xác định mục tiêu, dự kiến nhân lực, chuẩn bị các điều kiện về cơ sở vật chất, thời gian thực hiện chưa được thường xuyên, đặc biệt là việc khảo sát thực trạng trước khi lập kế hoạch. Đây là những hạn chế cần được khắc phục trong thời gian tới nhằm nâng cao chất lượng trong công tác quản lý hoạt động giáo dục tự phục vụ cho học sinh tại các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dường.

2.4.2. Thực trạng tổ chức thực hiện giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh

Kết quả khảo sát thực trạng về việc tổ chức thực hiện giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tại các trường tiểu học thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 2.13. Thực trạng tổ chức thực hiện giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tại các trường tiểu học thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương

Theo kết quả thống kê từ bảng 2.13 cho thấy, công tác của Hiệu trưởng trong việc tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh được các đối tượng tham gia khảo sát đánh giá chưa cao, điểm trung bình trong đánh giá chỉ đạt mực hạng 2 và hạng 3, ứng với mức độ ít thường xuyên và thỉnh thoảng, cụ thể:

Tổ chức “Phân công cụ thể công việc cho từng tổ, nhóm, cá nhân cán bộ quản lý” được đánh giá với điểm trung bình 3.24 điểm ứng với mức hạng 3, mức độ thỉnh thoảng. Độ lệch chuẩn 0.949 thể hiện sự đồng nhất trong đánh giá. Việc phân công công việc cụ thể cho từng đối tượng sẽ giúp họ nắm được công việc mình chuẩn bị làm, cũng như thời gian và khối lượng công việc phải hoàn thành để tạo cơ sở kiểm tra đánh giá kết quả công việc sau khi kết thúc nhiệm vụ được giao. Như vậy, tại các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một đã có sự phân công cụ thể cho từng cá nhân, cán bộ quản lý một cách thỉnh thoảng.

Tương tự, tổ chức thực hiện việc “Tạo điều kiện thuận lợi để cán bộ quản lý thực hiện nhiệm vụ; Có cơ chế phối hợp cụ thể giữa giáo viên và các lực lượng khác; Chuẩn bị mọi nguồn lực để thực hiện; Thường xuyên giám sát, đôn đốc, nhắc nhở; Khen thưởng, xử lí kịp thời, công bằng, chính xác” cũng được các đối tượng tham gia khảo sát đánh giá cao ở mức hạng 3, mức độ thỉnh thoảng. Độ lệch chuẩn trong các trường hợp thấp dao động từ 0.594 đến 1.141 đã thể hiện sự đồng nhất đánh giá trong các đối tham gia khảo sát về các nội dung này. Tuy kết quả đánh giá chưa đạt mức thường xuyên nhưng các trường đã thể hiện việc tổ chức tạo điều kiện thuận lợi để cán bộ quản lý thực hiện nhiệm vụ, chuẩn bị mọi nguồn lực có thể và giám sát, nhắc nhở và khen thưởng công bằng cho các cá nhân, bộ phận trong quá trình tham gia hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ học sinh tại các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục kỹ năng tự phục vụ học sinh.

Ngoài ra, việc tổ chức “Bồi dưỡng nâng cao năng lực cho giáo viên về hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ” cũng được các trường thực hiện trong quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh, nhưng quá trình thực hiện còn hàn chế, điểm trung bình trong đánh giá của các đối tượng tham gia khảo sát 2.58 điểm, ứng với mức hạng 2, mức độ ít thường xuyên trong quản lý hoạt động giáo dục, độ lệch chuẩn trong trường hợp này là 0.667 thể hiện sự đồng nhất trong đánh giá của các đối tượng khảo sát về tiêu chí này. Như vậy, trong quá trình quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tại các trường tiểu học trên đại bàn thành phố Thủ Dầu Một Hiệu trưởng đã thực hiện thỉnh thoảng trong việc phân công nhiệm vụ, tạo điều kiện thuận lợi cho các lực lượng phối hợp hoàn thành nhiệm vụ, cũng như thực hiện thường xuyên giám sát, đôn đốc và xử lý khen thưởng phù hợp cho từng cá nhân, tuy nhiên việc tổ chức bồi dưỡng nâng cao năng lực cho giáo viên về khả năng tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh còn hạn chế ít thực hiện.

2.4.3. Thực trạng chỉ đạo thực hiện giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh

Kết quả khảo sát thực trạng về chỉ đạo thực hiện giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tại các trường tiểu học thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 2.14. Thực trạng chỉ đạo thực hiện giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tại các trường tiểu học thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương

Theo kết quả thống kế từ bảng 2.14 cho thấy, Hiệu trưởng các trường thường xuyên chỉ đạo thực hiện trong hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tiểu học, cụ thể việc “Chỉ đạo cho Phó hiệu trưởng, tổ chuyên môn xây dựng nội dung sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn bàn về kỹ năng tự phục vụ cho các em” được các đối tượng tham gia khảo sát đánh giá cao với điểm trung bình 3.62 điểm đạt mức 4, mức độ thường xuyên. Độ lệch chuẩn trong trường hợp này thấp 0.838 thể hiện sự đồng nhất trong đánh giá tiêu chí này từ đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý tham gia khảo sát. Qua đó, công tác chỉ đạo các bộ phận phối hợp xây dựng nội dung sinh hoạt và bàn về kỹ năng tự phục vụ cho học sinh được Hiệu trưởng các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một thường xuyên thực hiện. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục kỹ năng tự phục vụ học sinh.

Bên cạnh đó, việc chỉ đạo “tổ chuyên môn thống nhất nội dung dạy kỹ năng tự phục lồng ghép trong các hoạt động; các giáo viên, tổ chuyên môn nghiên cứu, xây dựng kế hoạch thực hiện nhiệm vụ được giao”, cũng như “Thường xuyên đổi mới hình thức tổ chức GD kỹ năng tự phục vụ” cũng được đánh giá cao, tuy nhiên điểm trung bình trong các trường hợp ở mức 3, mức độ trung bình ứng với mức độ thỉnh thoảng trong thang đo, độ lệch chuẩn trong các trường hợp này dao động từ 0.683 đến 0.804 thể hiện sự đồng nhất trong đánh giá các nội dung này của các đối tượng tham gia khảo sát. Như vậy, việc chỉ đạo các bộ phận, cá nhân thống nhất về nội dung giáo dục kỹ năng tự phục vụ lồng ghép trong các hoạt động của Hiệu trưởng được thực hiện, cũng như chỉ đạo các bộ phận, tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch thực hiện nhiệm vụ được giao cũng được thực hiện tại các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, góp phần động viên, khích lệ tinh thần làm việc của các cá nhận, bộ phận hoàn thành theo mục tiêu kế hoạch đề ra.

2.4.4. Thực trạng kiểm tra, đánh giá việc thực hiện giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh

Kết quả khảo sát thực trạng kiểm tra đánh giá việc thực hiện giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tại các trường tiểu học thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương được thể hiện qua bảng 2.15 sau:

Bảng 2.15. Thực trạng kiểm tra đánh giá việc thực hiện giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tại các trường tiểu học thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương

Từ bảng 2.15 cho thấy, công tác kiểm tra đánh của Hiệu trưởng trong thực hiện các hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tại các trường tiểu học trên đại bàn thành phố Thủ Dầu Một còn nhiều hạn chế, cụ thể:

Việc kiểm tra hàng tháng, đột xuất, kiểm tra việc thực hiện của học sinh về kỹ năng tự phục vụ, đánh giá rút kinh nghiệm, thực hiện điều chỉnh cần thiết, bình xét khen thưởng cá nhân, tổ nhóm có thành tích tốt là những nội dung chưa được đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý tại các trường tham gia khảo sát đánh giá với điểm trung bình dao động từ 1.65 điểm đến 2.57 điểm ứng với mức độ không thường xuyên và ít thường xuyên. Độ lệch chuẩn trong các trường hợp này thấp từ 0.354 đến 0.725 thể hiện sự đồng nhất trong đánh giá của các đối tượng tham gia khảo sát tại các trường tiểu học trên địa bàn. Qua đó, Hiệu trưởng các trường cần phải tăng cường trong công tác kiểm tra đánh giá thường xuyên, định kỳ đặc biệt là trong kiểm tra hành tháng cũng như kiểm tra kết quả thực hiện của học sinh, thực hiện việc nhận xét rút kinh nghiệm, khen thưởng phù hợp nhằm nâng cao chất lượng trong hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tại các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, đáp ứng mục tiêu phát triển toàn diện học sinh.

Bên cạnh đó, việc “Kiểm tra theo học kì; Kiểm tra tổng kết theo năm học; Kiểm tra kết quả thực hiện GD KNTPV của GV” được đánh giá với điểm trung bình ở mức 3 và mức 4 ứng với mức độ thỉnh thoảng và thường xuyên thực hiện của Hiệu trưởng các trường. Trong đó, “Kiểm tra tổng kết theo năm học” có điểm trung bình 3.88 điểm ứng với mức độ thường xuyên, độ lệch chuẩn trong trường hợp này là 0.767 thể hiện sự đồng nhất trong đánh giá của các đối tượng tham gia khảo sát. Như vậy, việc thực hiện kiểm tra tổng kết theo năm học được thực hiện thường xuyên trong quá trình thực hiện hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tại trường. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục kỹ năng tự phục vụ học sinh.

Nhìn chung, các trường tiểu học trên đại bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tuy ít thường xuyên tổ chức kiểm tra đánh giá theo hành tháng. Việc tổ chức kiểm tra kết quả thực hiện của học sinh về kỹ năng tự phục vụ, và khen thưởng các cá nhân có thành tích tốt trong thực hiện nội dung giáo dục này. Nhưng việc các trường đã thường xuyên tổ chức kiểm tra theo học kỳ, theo năm và tổ chức đánh giá kết quả thực hiện của giáo viên trong quá trình tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tại các trường trên địa bàn. Để nâng cao chất lượng trong các hoạt động giáo dục nhà trường đặc biệt là trong hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tại trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, Hiệu trưởng các trường cần phải có những biện pháp phù hợp trong công tác kiểm tra đánh giá, tập trung hơn trong kiểm tra kết quả thực hiện của học sinh và tăng cường trong việc bình xét, rút kinh nghiệm và khen thưởng đúng người đúng việc.

2.5. Đánh giá chung về thực trạng

2.5.1. Ưu điểm

Qua khảo sát thực trạng về hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh cũng như công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tại các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Kết quả thống kê cho thấy, các trường tiểu học trên địa bàn thành phố có đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý có trình độ chuyên môn cao.

Bên cạnh đó, họ đã nhận thức cao về mục tiêu, nội dung và vài trò của hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tiểu học tại trường. Đặc biệt, trong quá trình tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh, đội ngũ giáo viên nhà trường thường xuyên tạo điều kiện để các em được quan sát trực tiếp, được tiếp xúc với phương tiện, hành động mẫu, cũng như thực hiện biểu dương nhắc nhở góp ý các em. Ngoài ra, giáo viên và cán bộ quản lý tại trường đã thường xuyên thực hiện các hình thức hoạt động theo nhóm, theo cá nhân và thường xuyên kiểm tra việc thực hiện nội dung của học sinh tại trường

Trong công tác quản lý, các trường đã thường xuyên thay đổi về các hình thức và các biện pháp nhằm hoàn thiện quá trình thực hiện hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tiểu học. Đặc biệt là Hiệu trưởng các trường thường xuyên chỉ đạo các bộ phận phối hợp tổ chức, xây dựng kế hoạch, và khuyến khích các bộ phận hoàn thành tốt mục tiêu đề ra.

2.5.2. Hạn chế Luận văn: Thực trạng QL giáo dục kỹ năng tự phục vụ học sinh.

Bên cạnh những ưu điểm thì quá trình thực hiện hoạt động giáo dục cũng như trong công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tại các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương còn tồn tại nhiều hạn chế thiếu sót như:

Nhận thức, đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý chưa cao, chưa xác định nội dung trong giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tiểu học là quan trọng.

Các nội dụng giáo dục như nội dung lấy cơm đến bàn ăn, cất nệm gối, đồ chơi, bỏ rác đúng nơi, chuẩn bị tập khi ra về và chải tóc còn hạn chế và cần được thực hiện thường xuyên trong hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tại các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một.

Các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một còn nhiều hạn chế trong việc sử dụng các phương pháp giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh, đặc biệt các phướng pháp cho các em tự thực hành với đồ vật, đồ dùng hàng ngày, sử dụng trò chơi, cũng như luyện tập và dùng ngôn ngữ để giáo dục cho học sinh ít khi thực hiện trong các hoạt động giáo dục kỹ năng tại trường

Các hình thức được các trường vận dụng thường xuyên trong tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho HS, trong đó hình thức tổ chức cả lớp, cá nhân với theo số lượng người học là thường xuyên nhất, tuy nhiên các hình thức tổ chức các hoạt động trong sinh hoạt hàng ngày, có chủ định của giáo viên và theo ý thích của học sinh là ít thực hiện nhất. Để nâng cao chất lượng giáo dục nhà trường cũng như chất lượng trong các hoạt động giáo kỹ năng tự phục vụ cho học sinh được đảm bảo, các trường cần phải tổ chức đa dạng các hình thức hoạt động giáo dục, phù hợp với từng nội dung, mục tiêu giáo dục và điều kiện nhà trường.

Các trường còn hạn chế trong việc xây dựng kế hoạch, chưa được thường xuyên khảo sát thực trạng trước khi lập kế hoạch, cũng như xác định mục tiêu và dự kiến nhân lực trong hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh.

Trong công tác tổ chức hoạt động, các trường ít thường xuyên thực hiện công tác bồi dưỡng nâng cao năng lực cho giáo viên về hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh.

Các trường còn hạn chế trong khâu kiểm tra đánh giá của quá trình tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ: ít kiểm tra hàng tháng, đột xuất, kiểm tra kết quả thực hiện kỹ năng tự phục vụ của học sinh, đánh giá rút kinh nghiệm, điều chỉnh kế hoạch và khen thưởng. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục kỹ năng tự phục vụ học sinh.

2.5.3. Nguyên nhân của những hạn chế

Qua phỏng vấn và quan sát các đối tượng tham gia khảo sát cho thấy quá công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tại các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương còn tồn tại một số nguyên nhân khó khăn ảnh hưởng đến kết quả hoạt động và công tác quản lý cụ thể như:

Bảng 2.16. Nguyên nhân hạn chế trong công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tiểu học

Theo kết quả thống kê trên cho thấy, các nguyên nhân hạn chế ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tại trường được tập trung vào các nguyên nhân như: Nhà trường chưa có xây dựng được chính sách hỗ trợ lương thưởng phù hợp cho cá nhân bộ phận có thành tích tốt trong công việc, tình trạng bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đặc biệt nguyên nhân được đề cập đến nhiều nhất là “áp lực công việc và thời gian lên lớp, chuẩn bị bài cho các môn học” chiếm 23.3% cao nhất trong các nguyên nhân khác. Trong đó, nguyên nhân về sự đáp ứng của cơ sở vật chất ít được đề cập nhất với 2.3% trong tổng các ý kiến đóng góp từ các đối tượng tham gia khảo sát. Như vậy, để công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tại các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, các trường cần phải có những biện pháp phù hợp để tạo điều kiện thuận lợi cho các bộ phận phối hợp với nhau, đoàn kết, gắn bó với nghề, trong đó tập trung giải quyết những khó khăn về chính sách, cơ chế khen thưởng cũng như trong công tác bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý tại trường.

Tiểu kết chương 2 Luận văn: Thực trạng QL giáo dục kỹ năng tự phục vụ học sinh.

Trong chương 2, người nghiên cứu đã tập trung thực hiện phân tích đánh giá thực trạng về công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tại các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Theo đó, kết quả phân tích thực trạng cho thấy, tuy các trường đã có những biện pháp thực hiện thường xuyên trong quá trình quản lý hoạt động giáo dục này nhưng chưa mang lại hiệu quả trong hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh, một số khâu vẫn còn tồn tại hạn chế thiếu sót cần được quan tâm khắc phục, đặc biệt là:

Nhận thức của đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý chưa sâu sắc về mục tiêu, xác định nội dung, ý nghĩa của hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh;

Hình thức tổ chức thực hiện và trong công tác quản lý như lập kế hoạch, đảm bảo các điều kiện, phương tiên thực hiện chưa phù hợp với mục tiêu và yêu cầu đặc thù của hoạt động giáo kỹ năng tự phục vụ cho học sinh;

Trong công tác xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch vẫn còn nhiều hạn chế về công tác tổ chức, cần đa dạng hơn về hình thức hoạt động;

Trong công tác kiểm tra đánh giá quá trình thực hiện hoạt động giáo dục này cũng phải được thực hiện thường xuyên hơn.

Qua nghiên cứu thực trạng tổ chức, quản lý hoạt động GD KN tự phục vụ cho HS trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tôi có một số kết luận như sau:

Các trường tiểu học đã tổ chức được hoạt động GD KN tự phục vụ cho HS theo một số hình thức và phương pháp nhất định. CBQL, GV, HS và PHHS đã có nhận thức tích cực về tầm quan trọng của hoạt động GD KN tự phục vụ trong giáo dục. Trong quản lý đã tiến hành lập kế hoạch hoạt động, có sự phân công và phối hợp các lực lượng trong việc thực hiện. Thường xuyên đôn đốc, động viên, bước đầu tạo điều kiện cho GV trong việc tổ chức hoạt động GD KN tự phục vụ.

Trong quá trình giáo viên tổ chức các hoạt động GD KN tự phục vụ, giáo viên đã biết sử dụng các biện pháp, phương pháp, hình thức tổ chức ở từng thời điểm tùy thuộc vào khả năng nhận thức của học sinh. Nhưng vẫn chưa mang lại hiệu quả cao, nội dung và hình thức tổ chức còn nghèo nàn, chất lượng GD KN tự phục vụ cho HS còn thấp. Việc quản lý hoạt động GD KN tự phục vụ của đội ngũ CBQL, GV còn chưa đi vào nề nếp và chưa có chiều sâu, chưa thực sự đóng góp nhiều cho việc nâng cao chất lượng GD toàn diện của nhà trường. Do vậy các nhà QL cần phải có những biện pháp GD KN tự phục vụ cho HS để nâng cao chất lượng GD, nâng cao năng lực tổ chức các hoạt động GD KN tự phục vụ cho GV để tăng cường hiệu quả GD KN tự phục vụ cho HS.

Giáo dục KN tự phục vụ cho HS chưa đạt hiệu quả do nhiều yếu tố ảnh hưởng từ chủ quan và khách quan. Bên cạnh, trong quá trình thực hiện còn gặp một số khó khăn nhất định là nhận thức của CBQL và GV, năng lực tổ chức hoạt động GD KN tự phục vụ và các điều kiện tổ chức thực hiện hoạt động này trong nhà trường. Do vậy cần xây dựng được hệ thống các biện pháp sao cho phù hợp GD KN tự phục vụ cho HS đạt được hiệu quả cao hơn.

Từ đó, với những kết quả nghiên cứu thực trạng trên, người nghiên cứu đề xuất các biện pháp phù hợp nhằm khắc phục những hạn chế thiếu sót trong quá trình quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tại các trường tiểu học thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, các biện pháp được thể hiện trong chương tiếp theo với mục tiêu, nội dung và cách thức thực hiện đáp ứng tính khả thi và cần thiết. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục kỹ năng tự phục vụ học sinh.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Luận văn: Biện pháp QL giáo dục kỹ năng tự phục vụ học sinh

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464