Luận văn: Thực trạng đội ngũ Thẩm phán ở tỉnh Thanh Hóa

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng đội ngũ Thẩm phán ở tỉnh Thanh Hóa hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng đội ngũ Thẩm phán ở tỉnh Thanh Hóa dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Tổ chức và hoạt động của TAND tỉnh Thanh Hóa

2.1.1 Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Thanh Hóa quá trình thành lập và phát

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, đã mở ra một kỷ nguyên mới đối với đất nước ta, kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, cách mạng tháng 8 thành công xoá bỏ chính quyền thực dân phong kiến, lập ra Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (nay là Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam) là Nhà nước của dân, do dân và vì dân.

Từ những ngày đầu thành lập nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đứng trước bao khó khăn như giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm. Để xây dựng và củng cố bộ máy Nhà nước, ban hành pháp luật bảo vệ thành quả cách mạng, ngày 13/9/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 33C ngày 13/9/1945 về việc lập các Toà án quân sự và quy định quyền hạn xét xử của các Tòa án đó. Như vậy, trên toàn lãnh thổ Việt Nam, ở cả ba miền: Bắc bộ, Trung Bộ, Nam bộ đều thiết lập các Toà án quân sự với nhiệm vụ “xét xử tất cả những người nào phạm vào một việc gì có phương hại đến nền độc lập của Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà”. Việc ra đời các Toà án này đã góp phần trấn áp bọn phản cách mạng cấu kết với thực dân Pháp nhằm xâm lược nước ta. Đó là mốc son đánh dấu sự ra đời của hệ thống Toà án Việt Nam. Từ đó đến nay, hệ thống Toà án nhân dân luôn được củng cố và kiện toàn, cải cách tổ chức bộ máy từ Trung ương đến địa phương theo từng giai đoạn lịch sử của đất nước.

Từ đó TAND tỉnh Thanh Hoá được thành lập, xây dựng và trưởng thành. Mỗi bước đi lên và trưởng thành của Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Thanh Hóa đều gắn liền với sự lãnh đạo, quan tâm sâu sát của Tòa án nhân dân tối cao, của các cấp uỷ Đảng và chính quyền, sự phối kết hợp chặt chẽ và sự giúp đỡ chí tình của các ban ngành đoàn thể, các cơ quan hữu quan và sự ủng hộ nhiệt tình của nhân dân các dân tộc trong tỉnh. Dưới sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng, TAND tối cao và Lãnh đạo địa phương, Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá đã phát triển không ngừng, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách hoàn thành nhiệm vụ được giao trong các giai đoạn cách mạng và bảo vệ Tổ quốc. Từ chỗ đội ngũ cán bộ trong ở hai cấp Tòa án địa phương rất ít, chưa được đào tạo, trình độ còn hạn chế, chỉ được giao xét xử một số loại vụ việc; cho đến nay đội ngũ cán bộ công chức không ngừng lớn mạnh về số lượng và chất lượng, Cán bộ công chức được đào tạo cơ bản cả về chuyên môn nghiệp vụ, lý luận và kinh nghiệm thực tiễn xét xử các loại án Hình sự, Dân sự, Hôn nhân gia đình, các tranh chấp Kinh doanh thương mại, Lao động, Hành chính nhằm đáp ứng kịp thời nhiệm vụ trong thời kỳ đổi mới toàn diện của đất nước. Luận văn: Thực trạng đội ngũ Thẩm phán ở tỉnh Thanh Hóa.

Thanh Hóa là một trong những tỉnh lớn của cả nước, nằm ở cực Bắc Miền Trung, cách Thủ đô Hà Nội 150km, cách Thành phố Hồ Chí Minh 1.560km, phía Bắc giáp 03 tỉnh Sơn La, Hòa Bình và Ninh Bình, phía Nam giáp tỉnh Nghệ An, phía Tây giáp tỉnh Hủa Phăn (Lào), phía Đông là Vịnh Băc Bộ. Dân số trên 3,5 triệu người. Có 07 dân tộc: Kinh, Mường, Dao, Thái, Hmông, Thổ, Hoa. Toàn tỉnh có 27 huyện, thị xã, thành phố; Có 634 phường, xã, thị trấn. Số vụ việc hàng năm giải quyết ở Tòa án địa phương nhiều, phức tạp và ngày càng gia tăng.

Về cơ cấu tổ chức bộ máy: Luật tổ chức TAND năm 2014 quy định, TAND hai cấp tỉnh Thanh Hóa có:

TAND tỉnh gồm:

  • Ủy ban Thẩm phán ( 07 Thẩm phán trung cấp);
  • 04 Toà chuyên trách: Toà Hình sự, Toà Dân sự, Toà Hành chính, Toà Hôn nhân gia đình và người chưa thành niên;
  • 03 phòng: Phòng Kiểm tra nghiệp vụ và Thi hành án, Văn phòng và Phòng Tổ chức- cán bộ, Thanh tra và Thi đua khen thưởng.
  • 27 TAND cấp huyện, thị xã, thành phố. Trong đó có 11 TAND huyện miền núi, 02 TAND thành phố và 02 TAND thị xã.

Về biên chế: Biên chế phân bổ: gồm 346 cán bộ,công chức và 78 Hợp đồng lao động trong biên chế.

  • Cấp tỉnh: 59 biên chế và gồm 13 TPTC, 20 thư ký, 16 TTV và tương đương, còn lại công chức khác.
  • Cấp huyện: 287 biên chế gồm 118 TP (Trong đó: 39 TPTC và 79 TPSC), 145 thư ký, còn lại công chức khác.

2.1.2 Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Thanh Hóa thực hiện chiến lược cải cách tư pháp theo tinh thần của Đảng và Nhà nước Luận văn: Thực trạng đội ngũ Thẩm phán ở tỉnh Thanh Hóa.

Thứ nhất, Công tác lãnh đạo, chỉ đạo. Việc triển khai thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng về CCTP và lãnh chỉ đạo công tác kiểm tra của Đảng, giám sát của HĐND các cấp đối với hoạt động tư pháp: Ban Thường vụ tỉnh ủy đã ban hành hàng chục văn bản gồm: các Quyết định, Quy chế, Chương trình, Công văn…để triển khai thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng về CCTP.

Ban Chỉ đạo CCTP tỉnh ban hành nhiều văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, công tác CCTP tại địa phương, tổ chức các Hội nghị quán triệt NQ số 08- NQ/TW, NQ số 49-NQ/TW, chỉ thị số 15-CT/TW, ngày 07/7/2007 của BCT (khóa X) về sự lãnh đaọ của Đảng đối với các cơ quan bảo vệ pháp luật trong công tác điều tra, xử lý các vụ án, công tác bảo vệ Đảng. Chỉ đạo triển khai thực hiện kết luận số 92-KL/TW ngày 12/3/2018 về tiếp tục thực hiện NQ số 49-NQ/TW…

Hội đồng nhân dân hai cấp nâng cao hiệu quả công tác giám sát việc thực thi pháp luật; thẩm định các báo cáo hoạt động của các cơ quan tư pháp trước khi trình tại các kỳ họp HĐND. Thông qua nắm bắt tình hình cơ sở, các đại biểu HĐND rà soát kết quả thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của các cơ quan tư pháp, trực tiếp chất vấn tại các kỳ họp. Ban pháp chế thường xuyên giám sát chuyên đề về công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án dân sự.

Thứ hai, Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Thanh Hóa thực hiện chiến lược cải cách tư pháp CCTP là một trong những mặt công tác trọng tâm của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Đối với TAND hai cấp tỉnh TH thực hiện tốt nhiệm vụ CCTP trực tiếp góp phần nâng cao chất chất lượng hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị mà Đảng và Nhà nước giao cho. Vì vậy đẩy nhanh, đẩy mạnh hoàn thành các nhiệm vụ CCTP đang là vấn đề đặt ra cấp thiết.

Quán triệt và thực hiện nghiêm quan điểm, chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp, những năm qua, cùng với sự chỉ đạo của Ban CCTP tỉnh, TAND hai cấp tỉnh TH đã lãnh đạo, chỉ đạo và triển khai toàn diện các nhiệm vụ, nội dung về cải cách tư pháp, đạt nhiều kết quả quan trọng. Nổi bật là, nhận thức của cán bộ, đảng viên, nhất là của lãnh đạo về vị trí, vai trò, sự cần thiết phải đẩy mạnh cải cách tư pháp được nâng lên. Công tác xây dựng và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật được triển khai nghiêm túc, từng bước đi vào nền nếp, với chất lượng, hiệu quả ngày càng cao; đã đề xuất nhiều ý kiến thiết thực, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật. Hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án của cơ quan tư pháp địa phương được tiến hành tích cực, chặt chẽ, đúng quy định của pháp luật. Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho các đối tượng, cho nhân dân được coi trọng với biện pháp phong phú, thiết thực, tạo nhiều chuyển biến tích cực, góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Luận văn: Thực trạng đội ngũ Thẩm phán ở tỉnh Thanh Hóa.

Công tác cải cách tư pháp còn chú trọng chăm lo, kiện toàn tổ chức biên chế, xây dựng đội ngũ cán bộ,công chức, Thẩm phán bảo đảm đúng chức năng, nhiệm vụ được giao, từng bước được xây dựng theo hướng: tinh, gọn, hiệu quả, đồng bộ và có mô hình phù hợp với chức năng, nhiệm vụ góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Bên cạnh kết quả đạt được, nhận thức của một số lãnh đạo đơn vị về mục tiêu, quan điểm, phương châm chỉ đạo Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 còn hạn chế, triển khai có mặt còn chậm, thiếu kiên quyết. Công tác phối hợp giữa các cơ quan tư pháp cả trong tham mưu, hướng dẫn và tổ chức thực hiện nhiệm vụ, nhất là trong công tác nắm và quản lý tình hình vi phạm, tội phạm xảy ra có lúc, có việc chưa kịp thời; việc xử lý, giải quyết một số vụ việc nghiêm trọng, phức tạp có lúc, có nơi còn chưa chặt chẽ, triệt để. Đội ngũ Thẩm phán còn thiếu so với biên chế; trình độ, năng lực chưa đồng đều; trình độ ngoại ngữ còn hạn chế; kỹ năng tranh tụng tuy đã có tiến bộ song vẫn còn là khâu yếu.

2.2. Số lượng, chất lượng và những kết quả và hạn chế của đội ngũ Thẩm phán TAND tỉnh Thanh Hóa Luận văn: Thực trạng đội ngũ Thẩm phán ở tỉnh Thanh Hóa.

2.2.1 Số lượng

Thực hiện Nghị quyết 473a/ NQ- UBTVQH 13 ngày 28/3/2017 của UBTV QH về tổng biên chế và số lượng Thẩm phán của TAND, Tòa án quân sự các cấp, TAND TC thực dự kiến phân bổ chỉ tiêu biên chế đối với TAND cấp tỉnh và TAND cấp huyện, cụ thể [27]:

Căn cứ phân bổ chỉ tiêu biên chế: Tổng biên chế được Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội giao và thực trạng biên chế hiện có của các tòa số lượng án giải quyết xét xử hàng năm của mỗi cấp tòa án; Căn cứ vào số lượng các vụ án các TAND địa phương thụ lý; Căn cứ vào biên chế tối thiểu của TAND cấp tỉnh, cấp huyện (mỗi TAND cấp tỉnh tối thiểu có 09 Thẩm phán, TAND cấp huyện tối thiểu có 03 TP); Căn cứ vào định mức xét xử của Thẩm phán.

Cách xác định chỉ tiêu biên chế:

  • Đối với TAND cấp tỉnh: Biên chế Thẩm phán được xác định trên cơ sở lấy số án đã thụ lý chia cho định mức xét xử
  • Đối với TAND cấp huyện: Biên chế Thẩm phán được xác định trên cơ sở lấy số án đã thụ lý chia cho định mức xét xử
  • Từ năm 2015 đến năm 2020 TAND TC phân bổ 06 lần biên chế Thẩm phán cho TAND hai cấp tỉnh Thanh Hóa như sau:

Năm 2015: Quyết định số 65/QĐ-TCCB ngày 12/01/2015, Biên chế được phân là 370 người, trong đó:

  • Cấp tỉnh: 70 người
  • Thẩm phán tỉnh: 24 người
  • Cấp huyện: 300 người
  • Thẩm phán huyện: 125 người
  • Tổng Thẩm phán: 149

Năm 2016: Quyết định phân bổ biên chế số 1108/QĐ-TCCB ngày 7/8/2016, Biên chế được phân bổ là 370 người, trong đó:

  • Cấp tỉnh: 70 người
  • Thẩm phán tỉnh: 24 người
  • Cấp huyện: 300 người
  • Thẩm phán huyện: 125 người Tổng Thẩm phán: 149

Năm 2017: Quyết định phân bổ biên chế số 412/QĐ-TCCB ngày 27/8/2017, Biên chế được phân bổ là 348 người, trong đó:

  • Cấp tỉnh: 68 người
  • Thẩm phán tỉnh: 22 người
  • Cấp huyện: 280 người
  • Thẩm phán huyện: 115 người Tổng Thẩm phán: 137

Năm 2018: Quyết định số 874/QĐ-TCCB Ngày 20/3/2018 của Chánh án TAND; Biên chế được phân bổ là 344 người, trong đó:

  • Cấp tỉnh: 57 người
  • Thẩm phán TC: 13 người
  • Cấp huyện: 287 người
  • Thẩm phán TC,SC: 118 người
  • Tổng Thẩm phán: 131

Năm 2019: Quyết định số 27/QĐ-TCCB ngày 08/01/2019 của Chánh án TANDTC về tổng biên chế và số lượng Thẩm phán của TAND tỉnh Thanh Hóa “Phân bổ sung thêm 02 biên chế cho TAND tỉnh Thanh Hóa… trong đó có 13 Thẩm phán Trung cấp”; Biên chế được phân bổ là 346 người, trong đó: Luận văn: Thực trạng đội ngũ Thẩm phán ở tỉnh Thanh Hóa.

  • Cấp tỉnh: 59 người
  • Thẩm phán TC: 13 người
  • Cấp huyện: 287 người
  • Thẩm phán TC,SC: 118 người
  • Tổng Thẩm phán: 131

Năm 2020: TAND TC ban hành công văn số 661/TANDTC-TCCB ngày 01/11/2020 về việc phân bổ Thẩm phán cho TAND cấp huyện.

Biên chế được phân bổ là 346 người, trong đó:

  • Cấp tỉnh: 59 người
  • Thẩm phán TC: 13 người
  • Cấp huyện: 287 người
  • Thẩm phán TC, SC: 118 người
  • Tổng Thẩm phán: 131

Qua 06 lần phân bổ biên chế công chức nói chung và Thẩm phán nói riêng, đối với TAND hai cấp Thanh Hóa giảm dần. Luật tổ chức TAND năm 2014 có hiệu lực thi hành, cơ cấu tổ chức, bộ máy thay đổi nhưng biên chế Thẩm phán giữ nguyên, không phân bổ thêm. Hàng năm TAND tỉnh có đề nghị thi nâng ngạch TPTC, thi tuyển chọn TPSC mới để bổ sung số Thẩm phán giảm tự nhiên (nghỉ chế độ Bảo hiểm xã hội) và đáp ứng nhiệm vụ xét xử, các loại án ngày càng tăng nhiều về số lượng và tính chất phức tạp. Căn cứ vào chỉ tiêu Thẩm phán được phân bổ, TAND tỉnh Thanh Hóa đã phân bổ biên chế đối với 27 TAND cấp huyện, thị xã, thành phố. Về cơ bản biên chế phân bổ và số lượng Thẩm phán cho các đơn vị đã được thực hiện theo các tiêu chí được TAND TC hướng dẫn. Theo báo cáo của TAND tỉnh Thanh Hóa từ năm 2017 đến 2019, biên chế phân bổ Thẩm phán giảm nhiều (giảm tự nhiên) còn tình hình xét xử các loại án của hai cấp tăng như sau: (Xem phụ lục 02).

Theo bảng thống kê ta nhận thấy: số lượng các loại án phải thụ lý và giải quyết hàng năm tỷ lệ nghịch với số lượng Thẩm phán. Số lượng các loại án tăng hàng năm, số lượng Thẩm phán không tăng mà giảm đến mức không thể giảm được (Bình quân cấp tỉnh giảm từ 20 thẩm phán xuống còn 13 Thẩm phán; cấp huyện từ 129 TP xuống còn 118 Thẩm phán). Đây là thực trạng chung của Tòa án các cấp chứ không riêng đối với Tòa án Thanh Hóa. Căn cứ vào tình hình hiện nay TAND TC xem xét đề nghị UBTVQH tăng biên chế TP đáp ứng nhu cầu giảm tải công việc chuyên môn, giảm tải áp lực cho TP.

2.2.2 Chất lượng Luận văn: Thực trạng đội ngũ Thẩm phán ở tỉnh Thanh Hóa.

Bất kỳ giai đoạn nào Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Thanh Hóa luôn chú trọng nâng cao chất lượng cho đội ngũ Thẩm phán về phẩm chất đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng xét xử… từ đó xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng cán bộ bảo đảm đổi mới công tác cán bộ theo kịp yêu cầu phát triển kinh tế, quốc phòng, an ninh, chính trị tại địa phương và Chiến lược cải cách Tư pháp đến năm 2025.

Trình độ chuyên môn: Đến thời điểm này, số TP hai cấp Tòa án Thanh Hóa có trình độ Đại học Luật đạt tỉ lệ: 100 %, trong đó có 15 TP có trình độ Thạc sĩ các chuyên ngành Luật.

Về trình độ chính trị: Cử các đồng chí lãnh đạo, các đồng chí thuộc diện quy hoạch và Thẩm phán Tòa án nhân dân các cấp đi học các lớp Cử nhân, Cao cấp và Trung cấp chính trị. Đến thời điểm này 100% Chánh án, phó chánh án TAND hai cấp, Thẩm phán cấp tỉnh có trình độ cao cấp Chính trị, còn lại số ít TP cấp huyện, có trình độ trung cấp Chính trị hoặc chưa được tham gia học lớp cao cấp. Ban cán sự Đảng và Lãnh đạo Tòa án nhân dân tỉnh tiếp tục có kế hoạch cử Thẩm phán cấp huyện theo học các lớp Cao cấp chính trị và trung cấp mở tại địa phương.

Về trình độ tin học: 100% TP hai cấp TAND thanh Hoa có trình độ tin học đạt chứng chỉ A trở lên, bản thân các Thẩm phán tự vận dụng tốt vào công việc viết án văn và các văn bản khác phục vụ cho công tác chuyên môn.

Về trình độ Ngoại ngữ: Thẩm phán có trình độ ngoại ngữ Tiếng Anh từ chứng chỉ A trở lên, nhưng ít vận dụng trong công tác nên không phát huy tác dụng.

Về công tác giải quyết các loại án: Đảm bảo xét xử các loại án vượt chỉ tiêu của hệ thống Tòa án đề ra, hạn chế đến mức tối thiểu án hủy, sửa, án tồn đọng, không để xảy ra án oan, sai. Ban cán sự Đảng, Lãnh đạo TAND tỉnh thường xuyên chỉ đạo công tác kiểm tra nghiệp vụ đối với những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật không có kháng cáo, kháng nghị của TAND cấp huyện. Qua công tác kiểm tra nghiệp vụ TAND tỉnh đánh giá toàn diện đối với mỗi Thẩm phán bao gồm cả đạo đức nghề nghiệp, trình độ độ chuyên môn và năng lực công tác. Luận văn: Thực trạng đội ngũ Thẩm phán ở tỉnh Thanh Hóa.

Cụ thể, Năm 2018, Phòng Kiểm tra nghiệp vụ TAND tỉnh đã nghiên cứu xem xét 3.530 hồ sơ vụ án, đọc và kiểm tra 3.644 án văn các loại. Qua công tác Kiểm tra nghiệp vụ đã phát hiện 14 vụ án có sai sót về tố tụng và nội dung giải quyết vụ án, trong đó 6 vụ có vi phạm và sai sót nghiêm trọng, 06 vụ có sai sót ít nghiêm trọng, trả lời 19 đơn khiếu nại có liên quan đến hoạt động tố tụng. Năm 2019, TAND tỉnh đã rút 3.700 hồ sơ vụ án để kiểm tra nghiệp vụ; nghiên cứu xem xét 3.644 bản án, quyết định của TAND cấp huyện xét xử đã có hiệu lực pháp luật; tiếp nhận và giải quyết 21 đơn đề nghị giám đốc thẩm. Trong đó đã phát hiện 10 vụ án có sai sót về tố tụng và nội dung giải quyết vụ án, 8 vụ có vi phạm và sai sót nghiêm trọng đã bị kháng nghị. Trong năm 2019 TAND tỉnh ban hành 17 văn bản rút kinh nghiệm chung cho toàn hệ thống TAND. Năm 2019 nghiên cứu xem xét 2.894 bản án, quyết định của TAND cấp huyện xét xử đã có hiệu lực pháp luật. Qua công tác kiểm tra nghiệp vụ của phòng Kiểm tra nghiệp vụ và thi hành án,TAND tỉnh đã đáng giá được hạn chế của cá nhân từng TP trong quá trình giải quyết, xét xử các loại án đồng thời phát hiện kịp thời các sai sót khi thực hiện nhiệm vụ. Phòng Kiểm tra nghiệp vụ và thi hành án kịp thời đề xuất các biện pháp nâng cao chất lượng công tác xét xử của TP cấp huyện, tham mưu cho Chánh án tỉnh kháng nghị giám đốc thẩm những bản án, quyết định đã có hiệu lực [22].

Phần lớn các TP có tinh thần trách nhiệm với công việc được giao. Một số ít TP trình độ chuyên môn hạn chế, bản thân chủ quan không nghiên cứu kỹ các văn bản liên quan đến công tác chuyên môn nên còn có án bị hủy, sửa. Có TP vì lợi ích bản thân, vi phạm quy tắc ứng xử của hệ thống tòa án, vi phạm đạo đức nghề nghiệp nên áp dụng pháp luật không đúng, có lợi cho người này nhưng thiệt hại cho người khác trong cùng vụ án. Tình trạng cho hưởng án treo chưa phù hợp của một số TP là một hiện tượng đáng cảnh báo, có nhiều biến tướng được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, gây ra những phản ứng trái chiều của người dân mà cụ thể là gia đình bị can, người bị hại, đương sự… tham gia trong vụ án.

Theo Báo cáo thống kê của phòng Tổ chức – Cán bộ, Thanh tra và Thi đua khen thưởng Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa thì số lượng biên chế và trình độ Thẩm phán từ năm 2017 đến 2019 như sau: (Phụ lục 3)

2.2.3 Đào tạo

Công tác đào tạo là một trong 3 giải pháp đột phá TANDTC đã đề ra: Một là, tăng cường tranh tụng tại phiên tòa; Hai là, đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ, công chức; Ba là, làm tốt công tác tổng kết thực tiễn xét xử và đảm bảo áp dụng thống nhất pháp luật. Do đó, TAND TC rất quan tâm và chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng Thẩm phán. Tăng cường việc đào tạo, bồi dưỡng qua trường lớp, việc đào tạo Thẩm phán Tòa án nhân dân chú trọng thông qua hoạt động thực tiễn. Tạo tiền đề cho Tòa án hoàn thành tốt các nhiệm vụ chính trị trong đó kết quả giải quyết, xét xử các loại vụ án tiếp tục có sự chuyển biến tích cực. Chẳng hạn, trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII, nhờ được sự quan tâm chỉ đạo thường xuyên và sâu sát của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các cơ quan của Quốc hội; sự phối hợp chặt chẽ của các bộ, ngành có liên quan và đặc biệt là sự cố gắng, nỗ lực của đội ngũ Thẩm phán, cán bộ, công chức Tòa án các cấp nên trong thời gian qua các Tòa án đã hoàn thành tốt các nhiệm vụ chính trị của mình, từ năm 2016 đến 2019 các Tòa án đã giải quyết 1.781.410/1.809.080 vụ án, đạt 98,5%. Cùng với đó, các Tòa án triển khai sâu rộng việc nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa, nên chất lượng xét xử tiếp tục được nâng lên, tỷ lệ các bản án, quyết định bị hủy, sửa do lỗi chủ quan của Thẩm phán giảm 1,35% so với nhiệm kỳ trước [14]. Luận văn: Thực trạng đội ngũ Thẩm phán ở tỉnh Thanh Hóa.

Căn cứ thực trạng tình hình đội ngũ Thẩm phán, cán bộ có chức danh tư pháp và yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị TAND tỉnh TH đã xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng Thẩm phán và cán bộ có chức danh tư pháp,cụ thể như sau:

Một là, Nâng cao nhận thức về chức năng, nhiệm vụ của hoạt động đào tạo, bồi dưỡng Thẩm phán, cán bộ có chức danh tư phá về trách nhiệm được cử đi đào tạo, bồi dưỡng và ý thức tự làm việc, tự đào tạo, không ngừng nâng cao năng lực làm việc, năng lực thực thi nhiệm vụ;

Hai là, đa dạng phương thức đào tạo, bồi dưỡng bằng nhiều hình thức như: thông qua hoạt động thực tiễn tại đơn vị; tổ chức các buổi học tập rút kinh nghiệm, tọa đàm trực tuyến…

Ba là, tăng cường quản lý chất lượng đào tạo, bồi dưỡng, biên soạn các chương trình bồi dưỡng về đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, tài liệu tập huấn chuyên môn cho từng chức danh tư pháp… phân công cho các Thẩm phán đồng thời là các Chánh tòa có kinh nghiệm trong công tác xét xử biên soạn và giảng dạy, giải đáp vướng mắc, tổ chức đánh giá chất lượng đào tạo hàng năm. Bốn là, ưu tiên các nguồn lực tài chính cho công tác đào tạo từ ngân sách

Nhà nước cấp, nguồn kinh phí công chức tiết kiệm, nguồn kinh phí xin hỗ trợ của tỉnh… phù hợp với thực tế từng năm.

2.2.4 Trình độ Luận văn: Thực trạng đội ngũ Thẩm phán ở tỉnh Thanh Hóa.

  • Theo Báo cáo công tác tổ chức cán bộ năm 2019 của TAND Tỉnh Thanh Hóa:

Về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, Thẩm phán hai cấp Tòa án hiện có 15 người có trình độ thạc sĩ; còn lại 100% tốt nghiệp Đại học Luật (gồm cả Đại học Luật đào tạo chính quy và tại chức)

Về trình độ lý luận chính trị: 100% có trình độ lý luận chính trị từ Trung cấp trở lên. Trong đó 100% Chánh án TAND cấp huyện, Thẩm phán cấp tỉnh có trình độ cao cấp Chính trị.

Trong tổng số 13 Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh có 13 người có trình độ cao cấp hoặc cử nhân lý luận chính trị (chiếm 100%). Còn lại các Phó chánh án và TP TAND cấp huyện đều có trình độ trung cấp lý luận chính trị.

Nhìn chung trong nhiều năm qua trình độ chuyên môn nghiệp vụ của TP hai cấp TA Thanh Hóa có nhiều bước chuyển biến mạnh mẽ, số lượng án tăng nhiều tỷ lệ nghịch với việc giảm biên chế Thẩm phán nhưng TAND hai cấp tỉnh Thanh Hóa luôn nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ vượt chỉ tiêu mà TAND TC đề ra.

2.2.5 Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân tồn tại, hạn chế của đội ngũ Thẩm phán của hai cấp Tòa án nhân dân trong cải cách tư pháp

Hiện nay đội ngũ Thẩm phán hai cấp Tòa án nhân dân đã có bước phát triển nhất định về số lượng và chất lượng. Đây là một yếu tố quan trọng giúp cho hai cấp Tòa án nhân dân luôn hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn của hệ thống, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường ổn định cho sự phát triển tại địa phương. Tuy nhiên, đội ngũ Thẩm phán cũng còn một số tồn tại, hạn chế, cụ thể là:

Rất nhiều Tòa án cấp huyện còn thiếu Thẩm phán so với yêu cầu. Công chức được tuyển dụng ít và chủ yếu là người miền xuôi, được phân công công tác tại các huyện miền núi là một vấn đề khó khăn. Hiện nay trong 27 TAND cấp huyện còn một số huyện miền núi thiếu Thẩm phán như các tòa án: Lang Chánh, Ngọc Lặc, Mường Lát, Quan Sơn, Quan Hóa, Thạch Thành… những huyện này cách trung tâm tỉnh lỵ hàng trăm km, giao thông hiểm trở, chỉ có một tuyến giao thông độc đạo, thường xuyên xảy ra thiên tai, địch họa (nhưng Nhà nước và hệ thống Tòa án chưa có chính sách đãi ngộ, quan tâm phù hợp…). Dẫn đến ảnh hưởng đến công tác điều động, biệt phái Thẩm phán lên công tác tại các huyện miền núi, xa xôi gặp rất nhiều khó khăn, hiện nay đang là vấn đề bất cập trong công tác tổ chức cán bộ. Luận văn: Thực trạng đội ngũ Thẩm phán ở tỉnh Thanh Hóa.

Mặc dù tỷ lệ cán bộ, đặc biệt là Thẩm phán có trình độ cử nhân luật 100%, nhưng trên thực tế mặt bằng trình độ đào tạo lại không đồng đều, số Thẩm phán được đào tạo chính quy là 55 người, chiếm khoảng 41,9% tổng số Thẩm phán hiện có, số còn lại được đào tạo theo chương trình tại chức, chuyên tu, luân huấn, chuyển đổi bằng vì vậy kiến thức pháp luật hoặc tiếp cận văn bản pháp luật của các TP này cũng có phần còn bị hạn chế. Trình độ quản lý của một số cán bộ lãnh đạo Tòa án cấp huyện, cũng như trình độ hiểu biết về pháp luật quốc tế, kiến thức xã hội và trình độ tin học, ngoại ngữ của Thẩm phán Tòa án hai cấp còn nhiều bất cập. Hiện nay đội ngũ Thẩm phán và công chức có trình độ đào tạo Luật các trường chính quy (gồm 04 trường: Đại học Luật Hà Nội, Đại học Luật Hồ Chí Minh, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, Khoa Luật Đại học Quốc gia HCM) có trình độ, năng lực tập trung tại TAND tỉnh, các huyện gần trung tâm tỉnh lỵ.

Cơ cấu đội ngũ Thẩm phán, công chức chưa đáp ứng được yêu cầu trước mắt và lâu dài; tình trạng hẫng hụt giữa các thế hệ Thẩm phán, công chức Tòa án các cấp còn phổ biến. Tòa án nhân dân hai cấp còn thiếu đội ngũ chuyên gia đủ sức giải quyết những vấn đề pháp lý phức tạp; nhiều Tòa án cấp huyện thiếu đội ngũ Thẩm phán, công chức nòng cốt kế cận có trình độ chuyên môn

Việc bố trí Thẩm phán, công chức ở một số đơn vị chưa phù hợp với đặc điểm, tính chất và yêu cầu công việc. Tiêu chuẩn chức danh chuyên môn nghiệp vụ các ngạch công chức đã được chuẩn hóa, tuy nhiên vẫn còn chưa đồng bộ, thực chất mà còn mang tính hình thức; việc rà soát, phân loại, đánh giá Thẩm phán còn hạn chế; việc quy hoạch, điều động, biệt phái Thẩm phán tiến hành còn chậm, chưa thực sự hiệu quả.

Một số Thẩm phán còn chưa vững vàng về bản lĩnh chính trị, thiếu ý thức rèn luyện phẩm chất đạo đức lối sống nên đã có các hành vi vi phạm trong thực hiện công vụ, thậm trí vi phạm pháp luật bị xử lý hình sự. Theo thống kê hàng năm của TAND tỉnh, số lượng đơn thư khiếu nại, tố cáo Thẩm phán là: Năm 2017: 13 đơn thư tố cáo trong đó 02 Thẩm phán bị kỷ luật lý do vi phạm quy tắc ứng xử theo quy định của hệ thống TAND. Năm 2018: 38 đơn thư tố cáo trong đó 05 Thẩm phán bị kỷ luật, 02 buộc thôi việc do nhận tiền của đương sự, 01 TP bị cách chức Chánh án. Năm 2019: 05 đơn thư tố cáo trong đó 02 Thẩm phán áp dụng hình thức kỷ luật theo quy định[22].

Để đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, trong đó trọng tâm là đổi mới tổ chức, hoạt động của Tòa án, quan điểm chỉ đạo của Đảng là cần tăng cường bố trí cán bộ các cơ quan tham gia cấp ủy. Tuy nhiên thực tế hiện nay, đại diện lãnh đạo các Tòa án địa phương tham gia cấp ủy còn hạn chế (chỉ có Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh và 07 Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện tham gia cấp ủy địa phương), nên chưa tương xứng với vị trí, vai trò của Tòa án nhân dân trong bộ máy nhà nước nói chung và trong các cơ quan tư pháp nói riêng theo tinh thần của Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách Tư pháp đến năm 2020. Luận văn: Thực trạng đội ngũ Thẩm phán ở tỉnh Thanh Hóa.

  • Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế về đội ngũ Thẩm phán hai cấp TAND tỉnh Thanh Hóa

Một là, Việc đầu tư các nguồn lực cho Tòa án chưa ngang tầm với vị trí, vai trò của Tòa án nhân dân trong bộ máy nhà nước, điển hình là cơ chế quản lý, phân bổ ngân sách đối với các Tòa án từ trước tới nay chỉ được thực hiện như đối với một cơ quan hành chính nhà nước.

Hai là, Việc bổ sung đội ngũ Thẩm phán cho Tòa án địa phương từ trước mới chỉ tập trung giải quyết tình thế để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trước mắt mà chưa có sự đầu tư mang tính tổng thể, đồng bộ và có tính chiến lược nhằm tăng cường nguồn nhân lực và các điều kiện cơ sở vật chất cho các Tòa án, chưa có những cơ chế ưu tiên cần thiết để tăng cường năng lực cho các Tòa án với vị trí là một hệ thống cơ quan thực hiện một nhánh quyền lực của nhà nước – quyền tư pháp theo Hiến pháp năm 2013.

Ba là, Các chế độ, chính sách đối với Thẩm phán Tòa án chưa phù hợp với đặc thù hoạt động của Tòa án, nghề nghiệp của Thẩm phán nên chưa tạo điều kiện cho Tòa án nhân dân có thể thu hút nguồn nhân lực có chất lượng cao vào công tác. Trong khi đó, hiện nay còn thiếu những cơ chế đặc thù để Tòa án chủ động trong việc tạo nguồn Thẩm phán cho các Tòa án, đặc biệt là ở những vùng sâu, vùng xa.

2.3. Đánh giá về các bảo đảm cho việc xây dựng đội ngũ Thẩm phán ở Thanh Hóa Luận văn: Thực trạng đội ngũ Thẩm phán ở tỉnh Thanh Hóa.

2.3.1 Sự lãnh đạo, phối hợp của cấp ủy địa phương

Thực hiện nguyên tắc cải cách Tư pháp phải đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện và chặt chẽ của Đảng, bảo đảm ổn định chính trị, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội trong quá trình cải cách Tư pháp, các cơ quan Tư pháp phải đặt dưới sự giám sát của các cơ quan dân cử và nhân dân. Trong quá trình triển khai và thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị, Ban Cán sự Đảng và Đảng uỷ Toà án nhân dân tỉnh bám sát sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng trong việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đường lối, Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, Chính sách, Pháp luật của Nhà nước để thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của ngành, thực hiện công tác báo cáo trước Hội đồng nhân dân các cấp theo quy định. Trong đó triển khai và thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 15-CT/TW, ngày 07/7/2017 của Bộ Chính trị “về sự lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan bảo vệ pháp luật trong công tác điều tra, xử lý các vụ án và công tác bảo vệ Đảng”, Thông tư liên ngành số 01/TTLN, ngày 15/10/2018 của Bộ Nội vụ – VKSNDTC-TANDTC hướng dẫn giai quyết các vụ án trọng điểm. Căn cứ chức năng, nhiệm vụ chính trị của hệ thống tòa án, Ban cán sự Đảng TAND tỉnh thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo các đơn vị, các Thẩm phán chấp hành nghiêm túc sự lãnh đạo của Đảng trong công tác xử lý các vụ án và công tác bảo vệ Đảng, báo cáo kịp thời, đầy đủ và chịu trách nhiệm của nội dung các vụ án cần báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của cấp Uỷ và tổ chức Đảng.

Hệ thống Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa trong thời gian qua luôn đảm bảo về sự lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện của Đảng trong thực hiện nhiệm vụ chính trị và xây dựng đội ngũ đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ mới. Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Thường trực Tỉnh ủy, Ban cán sự đảng Tòa án nhân dân tối cao, Ban cán sự đảng Tòa án nhân dân dân tỉnh đã chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể phù hợp với điều kiện thực tế và thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Phối hợp chặt chẽ với Tỉnh Ủy, Huyện ủy, Thành ủy trong công tác bổ nhiệm, miễn nhiệm, bổ nhiệm lại; điều động, biệt phái… chức danh TP và chức vụ quản lý đảm bảo tiêu chuẩn, quy định.

2.3.2 Công tác quản lý hai cấp Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa

TAND hai cấp tỉnh Thanh Hóa chịu sự quản lý của TAND TC và chịu sự giám sát của cấp Ủy và HĐND cùng cấp, thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình theo quy định của Luật tổ chức TAND năm 2014 và các văn bản hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao. Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa quản lý trực tiếp (chiều dọc) 27 TAND cấp huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Ban cán sự Đảng, ban hành quy định phân công Chánh án và các Phó Chánh án phụ trách trực tiếp theo dõi, đôn đốc các hoạt động của TAND cấp huyện được phân công phụ trách. Thực hiện chiến lược cải cách tư pháp, TAND tỉnh Thanh Hóa đã từng bước khắc phục khó khăn thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ theo luật định. Chánh án TAND tỉnh thực hiện chức năng quản lý TAND cấp tỉnh và TAND cấp huyện theo quy định của pháp luật và sự phân cấp quản lý của TANDTC trên các lĩnh vực công tác, Chánh án TAND tỉnh chịu trách nhiệm trước Ban cán sự Đảng và Lãnh đạo TANDTC.

2.2.3. Ý thức luật của thẩm phán hai cấp Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa Luận văn: Thực trạng đội ngũ Thẩm phán ở tỉnh Thanh Hóa.

Ý thức pháp luật của Thẩm phán TAND hai cấp tỉnh Thanh Hóa từng bước được nâng lên phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Ý thức pháp luật của TP bao gồm: Thẩm phán có phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống chuẩn mực; đáp ứng tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn, năng lực xét xử; cập nhật, trang bị và nghiên cứu đầy đủ các văn bản pháp luật phục vụ cho công tác xét xử; Thẩm phán phải có kinh nghiệm thực tiễn.

Những năm gần đây nền kinh tế thị trường phát triển nhiều thành phần kinh tế ra đời nên tình hình tội phạm tỉnh Thanh Hóa nói riêng và cả nước nói chung cũng diễn biến phức tạp. Tệ nạn tham nhũng, buôn lậu và tệ nạn xã hội (ma túy, mại dâm, đánh bạc qua mạng) gia tăng đáng kể… Bình quân hàng năm toàn tỉnh đã đưa ra xét xử trên hàng trăm vụ về tội phạm ma túy, hàng chục vụ đặc biệt nghiêm trọng và hàng nghìn vụ án hình sự khác. Các vụ án trọng điểm, trọng án được ba ngành xét chọn đưa đi xét xử lưu động tại địa bàn xảy ra vụ án, góp phần tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật trong quần chúng nhân dân. Đối với án dân sự, hôn nhân gia đình, kinh tế đều được giải quyết đạt và vượt chỉ tiêu. Hàng năm Tòa án tỉnh và các huyện, thị giải quyết khoảng 2.000 vụ. Trong những năm qua được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và lãnh đạo ngành Toà án, Thẩm phán Tòa án hai cấp tỉnh Thanh Hóa không ngừng được nâng cao cả về số lượng về chất lượng, kết quả xét xử của TP Tòa án Thanh Hóa đã góp phần quan trọng vào việc giữ vững an ninh, trật tự, bảo đảm an toàn xã hội cho địa phương đồng thời bảo vệ pháp luật xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Hiện nay TP hai cấp tỉnh Thanh Hóa còn một số Thẩm phán có trình độ luân huấn, chuyển ngành được bầu làm Thẩm phán còn hạn chế về trình độ chuyên môn, hạn chế năng lực, chưa có kinh nghiệm thực tế hoặc suy thoái phẩm chất đạo đức, lương tâm nghề nghiệp… nên án hủy, án sửa chưa giảm nhiều, vẫn còn tình trạng TP vi phạm pháp luật bị xử lý kỷ luật, bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Vì vậy, xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán trong sạch, vững mạnh, có đủ bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp và năng lực công tác đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay là rất quan trọng, đòi hỏi Đảng, Nhà nước và hệ thống Toà án phải tăng cường chỉ đạo và thực hiện quyết liệt hơn nữa nhiệm vụ quan trọng này để thực hiện nhiệm vụ xây dựng nhà nước Việt Nam pháp quyền xã hội chủ nghĩa [5].

  • Kết luận Chương 2

Từ cơ sở lý luận chung và thực tiễn xây dựng đội ngũ Thẩm phán trong giai đoạn hiện nay của hệ thống Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Thanh Hóa, chương 2 của luận văn tác giả đề cập đến những hạn chế, tồn tại, những yếu tố tác động trực tiếp đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp nói chung và đội ngũ Thẩm phán nói riêng là cơ sở để tác giải đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ Thẩm phán trong Chương 3. Đây cũng là nội dung cơ bản mà Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ chính trị đề ra đòi hỏi các cơ quan tư pháp phải đổi mới toàn diện, bám chặt các mục tiêu CCTP công khai, minh bạch, hiện đại hóa gắn cải cách tư pháp với cải cách hành chính tổng thể của Đảng và Nhà nước ta, nâng cao chất lượng nội tại của nền tư pháp, làm cho hệ thống các cơ quan tư pháp ngày càng thích ứng hơn với quá trình phát triển xã hội. Luận văn: Thực trạng đội ngũ Thẩm phán ở tỉnh Thanh Hóa.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Giải pháp chất lượng đội ngũ thẩm phán ở Thanh Hóa

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464