Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Đội ngũ Thẩm phán Tòa án nhân dân tại tỉnh Thanh Hóa hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Đội ngũ Thẩm phán Tòa án nhân dân tại tỉnh Thanh Hóa dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thứ nhất, hiện nay Việt Nam đã và đang tiến hành cải cách tư pháp, nâng cao chất lượng đội ngũ Thẩm phán là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động xét xử. Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 chỉ ra nhiều vấn đề mới trong hoạt động quản lý nhà nước đối với đội ngũ thẩm phán. Đặc biệt, là hoạt động quản lý nhà nước đối với đội ngũ Thẩm phán.
Đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp là nội dung chủ yếu của chiến lược. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001) đã nêu rõ một số định hướng về cải cách tư pháp: “Cải cách tổ chức, nâng cao chất lượng và hoạt động của các cơ quan tư pháp, nâng cao tinh thần trách nhiệm của các cơ quan và cán bộ tư pháp trong công tác điều tra, bắt, giam giữ, truy tố, xét xử, thi hành án, không để xảy ra những trường hợp oan sai… Tăng cường đội ngũ Thẩm phán và hội thẩm nhân dân cả về số lượng và chất lượng”. Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 và sau đó là Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị đã chỉ rõ: “Tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo cử nhân luật, đào tạo cán bộ nguồn của các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp; bồi dưỡng cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp theo hướng cập nhật các kiến thức mới về chính trị, pháp luật, kinh tế, xã hội, có kỹ năng nghề nghiệp và kiến thức thực tiễn…”. Do đó, yêu cầu đối với đội ngũ Thẩm phán có kiến thức mới về chính trị, pháp luật, kinh tế xã hội, đạo đức, kiến thức thực tiễn và đặc biệt là kỹ năng xét xử các loại vụ việc thuộc thẩm quyền của hệ thống TAND. Do đó, chỉ ra yêu cầu mới trong hoạt động quản lý nhà nước đối với đội ngũ Thẩm phán các cấp là phải nâng cao chất lượng hơn nữa, để đạt được mục tiêu về chất lượng đội ngũ Thẩm phán đã đề ra.
Thứ hai, trong những năm qua, hoạt động quản lý nhà nước đối với đội ngũ Thẩm phán đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trong việc giải quyết các tranh chấp, phòng ngừa tội phạm góp phần ổn định kinh tế, chính trị, xã hội. Tuy nhiên bên cạnh đó, vẫn còn những hạn chế nhất định, như văn bản quản lý còn thiếu đồng bộ, cơ chế chính sách phát triển đội ngũ Thẩm phán có chất lượng cao đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, công tác tuyển chọn, bổ nhiệm Thẩm phán, công tác tạo nguồn thẩm phán…còn những hạn chế nhất định. Hiện nay, chất lượng đội ngũ Thẩm phán hiện nay còn có những hạn chế, tình trạng xét xử oan, sai tuy ít nhưng còn tồn tại. Một số vụ án có yếu tố nước ngoài, sở hữu trí tuệ, thương mại quốc tế, các loại tội phạm hình sự xuyên quốc gia, khả năng sử dụng ngoại ngữ, tin học vào nghiên cứu luật pháp quốc tế phục vụ cho hoạt động xét xử đối với một số Thẩm phán còn những hạn chế nhất định.
Từ những lý do trên, học viên chọn đề tài “Đội ngũ Thẩm phán Tòa án nhân dân tại tình Thanh Hóa” làm đề tài luận văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài Luận văn: Đội ngũ Thẩm phán Tòa án nhân dân tại tỉnh Thanh Hóa.
Trong quá trình nghiên cứu, tổng quan các tài liệu có liên quan đến đề tài, học viên nhận thấy có một số công trình nghiên cứu có liên quan tới chủ đề của luận văn theo theo các nội dung sau:
Một là, các đề tài nghiên cứu về quyền lực nhà nước, kiểm soát quyền lực nhà nước.
- Nhà nước pháp quyền, bảo vệ quyền con người và tài phán hành chính, TS. Nguyễn Như Phát, trong sách Tài phán hành chính trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay, PGS.TS. Nguyễn Như Phát và PGS.TS. Nguyễn Thị Việt Hương (đồng chủ biên), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2015;
- Về kiểm soát quyền lực hành pháp trong hệ thống quyền lực nhà nước Việt Nam hiện nay, của TS. Vũ Thư, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 12 năm 2006.
- Cải cách tư pháp trong tổ chức quyền lực nhà nước, TS. Nguyễn Đăng Dung, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, số 25/2009;
Các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung nghiên cứu các vấn đề về quyền lực nhà nước, quyền tư pháp, vai trò, hệ thống TAND với vị trí là chủ thể thực hiện quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền đã được các nhà nghiên cứu phân tích, làm rõ.
Qua đó, học viên nhận thức rõ hơn những vấn đề lý luận về tổ chức và hoạt động của Tòa án, vai trò vị trí của Thẩm phán trong bộ máy nhà nước của một số nước trên thế giới, về tổ chức hệ thống Tòa án trong bộ máy nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ.
Hai là, các đề tài nghiên cứu về cải cách tư pháp, các đề tài chủ yếu nghiên cứu những nội dung liên quan đến cải cách tư pháp hiện nay và việc đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống TAND, gồm một số công trình nghiên cứu sau đây:
- Cải cách các cơ quan tư pháp, hoàn thiện hệ thống các thủ tục tư pháp nâng cao hiệu quả và hiệu lực xét xử của Tòa án trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, Đề tài khoa học cấp Nhà nước mã số KX.04.06 do TS. Uông Chu Lưu làm Chủ nhiệm đề tài; Luận văn: Đội ngũ Thẩm phán Tòa án nhân dân tại tỉnh Thanh Hóa.
- Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền, TSKH. Lê Cảm và TS. Nguyễn Ngọc Chí (đồng chủ biên), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2004;
- Cải cách tư pháp: ý nghĩa, mục đích và trọng tâm, của GS. TSKH. Đào Trí Úc, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 2/2003;
- Tòa án và vấn đề cải cách tư pháp, của tác giả Phạm Văn Hùng, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 135/2006.
- Đổi mới tổ chức và hoạt động của TAND ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, Luận án Tiến sỹ Luật học của Lê Thành Dương, Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật, 2002;
- Bàn về quản lý Thẩm phán tòa án nhân dân các cấp, Đỗ Gia Thư, Tạp chí TAND, số 1/2005.
- Thực trạng và yêu cầu kiện toàn đội ngũ Thẩm phán hành chính ở Việt Nam hiện nay, của Nguyễn Văn Cương, Nguyễn Hữu Xương, trong sách Tài phán hành chính trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay, TS. Nguyễn Như Phát và PGS. TS. Nguyễn Thị Việt Hương (đồng chủ biên), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2015;
Ba là, Một số công trình nghiên cứu về công tác đào tạo, bồi dưỡng Thẩm phán.
Các Báo cáo công tác định kỳ của TAND tối cao và của Bộ Tư pháp (trong thời gian Bộ Tư pháp quản lý toà án địa phương về tổ chức)
Báo cáo tổng kết công tác ngành hàng năm; Báo cáo công tác định kỳ trước Quốc hội của TAND tối cao và của Bộ Tư pháp, trong đó có chỉ ra các số liệu về kết quả tuyển chọn, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật Thẩm phán trong các giai đoạn…Tuy nhiên, các số liệu này thường tản mạn, không hệ thống, nó chỉ thể hiện kết quả ở từng lĩnh vực nhất định và chỉ ở tại thời điểm báo cáo. Nhưng nó cũng có vai trò quan trọng nhất định, để tác giả có thể tham khảo khi thực hiện đề tài nghiên cứu của mình.
Đề tài khoa học: Ban Nội chính Trung ương năm 2000 có đề tài: “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong xây dựng đội ngũ cán bộ Tư pháp trong sạch, vững mạnh”, mã số: KHBĐ (1999)
Đề tài nghiên cứu đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng đối với việc xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp hiện nay; Bộ Tư pháp năm 2000 với đề tài: “Pháp lệnh về Thẩm phán và hội thẩm TAND – Thực trạng và phương hướng hoàn thiện” (số đăng ký: 2000 – 58- 140). Đề tài đã chỉ ra một số quy định trong Pháp lệnh năm 1993 không còn phù hợp và chưa đầy đủ, từ đó kiến nghị điều chỉnh, bổ sung làm cơ sở xây đựng dự thảo Pháp lệnh Thẩm phán và hội thẩm TAND mới; Đề tài của Tòa án nhân dân tối cao năm 2004: “Đổi mới công tác quản lý, đào tạo, bồi dưỡng Thẩm phán TAND địa phương”. Đề tài nghiên cứu đưa ra một số quan điểm, giải pháp đổi mới quản lý, đào tạo, bồi dưỡng đối với Thẩm phán TAND địa phương hiện nay; Bộ Tư Pháp, Cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng môn đạo đức nghề nghiệp tư pháp cho các chức danh tư pháp (2004); Đào tạo cán bộ pháp luật có trình độ cao phục vụ cho việc hội nhập quốc tế của Việt Nam (2006); Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức tư pháp địa phương (2007); Cơ sở lý luận thực tiễn xây dựng tập hệ thống hóa các vụ án điển hình dùng làm tài liệu cho công tác đào tạo các chức danh tư pháp (2008); Hoàn thiện phương pháp đào tạo các chức danh tư pháp (2009).
Luận án, luận văn, sách, tạp chí khoa học: Nguyễn Thị Anh Thư, Đào tạo và sử dụng Thẩm phán hành chính ở Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ Luật Hiến pháp và luật hành chính thực hiện tại Học viện Khoa học xã hôi, 2016, Đỗ Gia Thư, Cơ sở khoa học của việc xây dựng đội ngũ Thẩm phán, Luận án Tiến sĩ Luật học thực hiện tại Viện Nhà nước và Pháp luật, 2006; Xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp theo yêu cầu của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay của tác giả Trần Đình Thắng – Nxb. Chính trị Quốc gia, 2009; Phạm Văn Lợi (2004), Chế định Thẩm phán – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. Tư pháp, Hà Nội; “Mô hình tuyển dụng – đào tạo Thẩm phán hiện nay của một số quốc gia và Việt Nam, nhìn từ góc độ so sánh”, Tạp chí Nghề luật, số 4/2009, trình bày sơ lược về mô hình tuyển chọn và đào tạo Thẩm phán ở 6 nước khác nhau (Bỉ, Tây Ban Nha, Hà Lan, Italia, Nhật Bản), “Kiện toàn và nâng cao chất lượng đội ngũ Thẩm phán hành chính ở nước ta hiện nay” của tác giả Nguyễn Danh Tú, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, tháng 10/2017, đưa ra một số đề xuất để nâng cao hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng Thẩm phán hành chính; Giới thiệu về Học viện Tư pháp Cộng hòa Liên bang Đức và hoạt động đào tạo nâng cao cho Thẩm phán, công tố viên ở Học viện Tư pháp Đức của tác giả Nguyễn Thị Hằng Nga và Nguyễn Trường Thiệp, Tạp chí Nghề Luật, số 4/2019. Luận văn: Đội ngũ Thẩm phán Tòa án nhân dân tại tỉnh Thanh Hóa.
- Đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Qua những công trình nghiên cứu đã tổng quan, tác giả nhận thấy một số những kết quả và hạn chế mà các công trình đã đạt được, cụ thể:
Một là, trong các công trình nghiên cứu mà học viên đã khảo cứu, các tác giả đã có những phân tích cụ thể và đưa ra những đánh giá về các vấn đề của cải cách tư pháp. Các công trình cũng tập trung nghiên cứu về quyền lực nhà nước, vị trí vai trò của hệ thống TAND, vị trí, vài trò của Thẩm phán và thực trạng tổ chức và hoạt động TAND các cấp. Các công trình đã phân tích, làm rõ các yếu tố tác động đến chất lượng và hiệu quả trong hoạt động của hệ thống TAND; từ đó chỉ ra một số kiến nghị và giải pháp đổi mới tổ chức hệ thống TAND.
Hai là, số lượng các nghiên cứu về đội ngũ Thẩm phán ở Việt nam hiện nay còn hạn chế về số lượng. Tuy nhiên, những kết quả trên đã góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận, thực tiễn quan trọng về vị trí, vai trò của đội ngũ Thẩm phán. Những số liệu, kết quả của các công trình trên có giá trị tham khảo để học viên hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình.
3. Mục đích nhiệm vụ của đề tài Luận văn: Đội ngũ Thẩm phán Tòa án nhân dân tại tỉnh Thanh Hóa.
- Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với đội ngũ Thẩm phán và thực tiễn quản lý nhà nước đối với đội ngũ Thẩm phán Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa. Đánh giá được thực trạng quản lý nhà nước đối với đội ngũ Thẩm phán TAND tỉnh Thanh Hóa; chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế và đưa ra được những giải pháp nâng cao chất lượng quản lý nhà nước đối với đội ngũ Thẩm phán nói chung, đội ngũ Thẩm phán TAND tỉnh Thanh Hóa nói riêng.
- Nhiệm vụ nghiên cứu
Một là, làm rõ một số vấn đề lý luận về xây dựng đội ngũ Thẩm phán về đội ngũ Thẩm phán;
Hai là, phân tích thực xây dựng đội ngũ Thẩm phán Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa. Từ đó chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân;
Ba là, đề ra một số giải pháp nâng cao chất lượng xây dựng đôi ngũ Thẩm phán nói chung, đội ngũ Thẩm phán TAND tỉnh Thanh hóa nói riêng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề lý luận về xây dựng đội ngũ Thẩm phán và thực tiễn xây dựng đội ngũ Thẩm phán tại TAND tỉnh Thanh Hóa
- Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực trạng xây dựng đội ngũ Thẩm phán Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Luận văn: Đội ngũ Thẩm phán Tòa án nhân dân tại tỉnh Thanh Hóa.
Phương pháp luận biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin, nhằm xem xét đối tượng nghiên cứu trong môi trường vật chất mà sự vật, hiện tượng, quá trình đó tồn tại, từ đó đánh giá vấn đề từ những yếu tố quy định (mang tính bản chất) của chúng;
Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về cán bộ, đào tạo cán bộ, yêu cầu của cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện
- Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành đa ngành, phương pháp Logic và lịch sử; phân tích – tổng hợp; so sánh; quy nạp; diễn dịch; khái quát hóa; phân tích văn bản…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa lý luận
Làm rõ một số vấn đề lý luận về vị trí, vai trò của Thẩm phán, xây dựng đội ngũ Thẩm phán, quản lý nhà nước đối với đội ngũ Thẩm phán.
- Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu, đánh giá thực trạng quy định của pháp luật và tiễn xây dựng đội ngũ Thẩm phán tại Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa. Chỉ ra những thành tựu và hạn chế, nguyên nhân của thành tựu và hạn chế.
Đánh giá những thành tựu và hạn chế, nguyên nhân của thành tựu và hạn chế trong quy định của pháp luật và thực trạng xây dựng đội ngũ Thẩm phán tại TAND tỉnh Thanh Hóa
Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định của pháp luật, hoạt động xây dựng đội ngũ Thẩm phán tại TAND tỉnh Thanh Hóa, luận văn đã đề ra các giải pháp, kiến nghị phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả công tác xây dựng đội ngũ Thẩm phán trong thời gian tới phù hợp với thực tiễn phát triển của đất nước.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung gồm có 3 chương gồm:
- Chương 1: Lý luận chung về đội ngũ Thẩm phán.
- Chương 2: Thực trạng đội ngũ Thẩm phán ở tỉnh Thanh Hóa.
- Chương 3: Quan điểm, định hướng và các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ thẩm phán ở tỉnh Thanh Hóa.
Chương 1 Lý luận chung về đội ngũ thẩm phán
1.1. Thẩm phán trong hệ thống các chức danh tư pháp
1.1.1 Khái niệm Thẩm phán Luận văn: Đội ngũ Thẩm phán Tòa án nhân dân tại tỉnh Thanh Hóa.
Khái niệm Thẩm phán, quy định tại Điều 1, Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân năm 2002: “Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Toà án” [18, tr.1]. Như vậy, Thẩm phán là những công chức nhà nước được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, thương mại, hành chính, lao động và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Toà án.
- Luật Tổ chức tòa án nhân dân năm 2018 quy định:
Thẩm phán là công dân Việt Nam, trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tinh thần dũng cảm và kiên quyết bảo vệ công lý, liêm khiết và trung thực; Có trình độ cử nhân luật trở lên; Đã được đào tạo nghiệp vụ xét xử; Có thời gian làm công tác thực tiễn pháp luật; Có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao, được Chủ tịch nước bổ nhiệm để làm nhiệm vụ xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật. Như vậy, Thẩm phán là một chức danh tư pháp, làm việc tại Tòa án, có đủ điều kiện tiêu chuẩn theo quy định của Luật tổ chức TAND năm 2014 được Chủ Tịch nước bổ nhiệm làm nhiệm vụ xét xử [21, Điều 65]. Ngạch Thẩm phán có 04 ngạch: Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Thẩm phán cao cấp; Thẩm phán trung cấp; Thẩm phán sơ cấp.
- Nhiệm kỳ Thẩm phán
Thẩm phán là những người có địa vị pháp lý cao, biểu hiện của nền công lý quốc gia, thực hiện quyền xét xử của Nhà nước theo pháp luật. Pháp luật của mỗi quốc gia đều có những quy định chặt chẽ về Thẩm phán, trong đó quy định nhiệm kỳ Thẩm phán, ở các nước trên thế giới chủ yếu phân thành hai loại: chế độ suốt đời (Bổ nhiệm cho đến tuổi nghỉ hưu) và chế độ nhiệm kỳ; cũng có nước áp dụng cả hai chế độ.
Hiện nay, ở Việt Nam Thẩm phán được bổ nhiệm theo chế độ nhiệm kỳ. Nhiệm kỳ của Thẩm phán được quy định trong một khoảng thời gian nhất định. “Nhiệm kỳ đầu của Thẩm phán là 5 năm; trường hợp được bổ nhiệm lại hoặc được bổ nhiệm vào ngạch Thẩm phán khác thì nhiệm kỳ tiếp theo là 10 năm” [21, Điều 74]
Trong những năm qua, với việc triển khai thực hiện các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội liên quan tới công tác tư pháp, đặc biệt là Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02-01-2002 của Bộ Chính trị về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” (đây gọi tắt là Nghị quyết 08-NQ/TW) và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” (sau đây gọi tắt là Nghị quyết 49-NQ/TW), thì đội ngũ cán bộ, công chức Tòa án nhân dân đã từng bước được kiện toàn cả về số lượng và nâng cao về chất lượng cán bộ, đặc biệt là đội ngũ Thẩm phán và các cán bộ có chức danh tư pháp; cơ sở vật chất, điều kiện phương tiện làm việc của các Tòa án cũng đã được quan tâm đầu tư có hiệu quả, giúp cho Tòa án các cấp có những điều kiện thuận lợi hơn để triển khai thực hiện các nhiệm vụ của mình.
Trong bối cảnh tình hình tội phạm và các tranh chấp dân sự, kinh doanh thương mại, lao động và khiếu kiện hành chính diễn biến phức tạp, gia tăng về số lượng và phức tạp về tính chất; việc mở rộng hợp tác quốc tế ngày càng sâu rộng cũng làm phát sinh càng nhiều các tranh chấp có yếu tố nước ngoài liên quan tới lĩnh vực pháp luật quốc tế và với xu thế mở rộng thẩm quyền của Tòa án trong xét xử các vi phạm, cũng như giải quyết các tranh chấp trong xã hội, thì yêu cầu tăng cường về số lượng, chất lượng đội ngũ Thẩm phán đối với các Tòa án là một nhiệm vụ cấp thiết.
1.1.2 Vị trí, vai trò của Thẩm phán trong hoạt động tư pháp Luận văn: Đội ngũ Thẩm phán Tòa án nhân dân tại tỉnh Thanh Hóa.
- Thứ nhất, về công tác xét xử
Hoạt động của TAND tập trung chủ yếu trong công tác xét xử. Tòa án nhân danh nước CHXHCNVN được trao thẩm quyền xét xử các loại án bao gồm: Hình sự, Dân sự, Kinh tế, Hành chính, Lao động và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật.Thẩm phán được Nhà nước trao quyền thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án theo luật định đó là thực hiện chức năng xét xử những vụ án: hình sự, dân sự, hành chính (Dân sự bao gồm: tranh chấp về dân sự; những tranh chấp về hôn nhân gia đình; những tranh chấp về kinh doanh – thương mại; những tranh chấp về lao động).Vai trò của Thẩm phán trong công tác xét xử như sau:
Một là, đối với công tác giải quyết án hình sự. Cùng với sự phát triển nhanh chóng về mọi mặt của đất nước, mặt trái từ sự phát triển đó là tình hình tội phạm diễn biến phức tạp, có chiều hướng tăng lên về số lượng, tính chất của các vụ phạm tội ngày càng nghiêm trọng, các vụ trọng án ngày một gia tăng, thành phần tội phạm đa dạng, manh động, tinh vi… đặc biệt là sự tham gia ngày càng nhiều của người phạm tội là thanh thiếu niên, đang là nỗi nhức nhối của toàn xã hội. Hiện nay còn xuất hiện các loại tội phạm mới về công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, tội phạm có tổ chức, tội phạm xuyên quốc gia, vv… làm cho tình hình an ninh, chính trị của đất nước bị đe dọa. Chính vì vậy, công tác xét xử của Tòa án đối với các vụ án hình sự có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ những thành quả cách mạng, các giá trị tốt đẹp của dân tộc, cũng như bảo vệ tính mạng, sức khỏe của nhân dân, góp phần tích cực vào sự phồn vinh của đất nước.
Khi được phân công giải quyết, xét xử vụ án hình sự Thẩm phán phải thực hiện thẩm quyền tiến hành tố tụng quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự năm 2019 và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi, quyết định của mình. Do đó, đòi hỏi Thẩm phán toàn hệ thống Tòa án phải nâng cao năng lực chuyên môn, nghề nghiệp, kiến thức pháp luật, bản lĩnh chính trị và đạo đức , nỗ lực hơn nữa trong quá trình xét xử đảm bảo xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Thông qua xét xử các vụ án hình sự, Thẩm phán góp phần to lớn vào việc trừng trị kịp thời, có hiệu quả những kẻ phạm tội nhằm duy trì trật tự kỷ cương phép nước, không chỉ buộc bị cáo phải hành xử đúng pháp luật mà còn tạo nên một môi trường bền vững an toàn cho cá nhân, tổ chức sinh sống và hoạt động.
- Hai là, đối với công tác giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động
Thẩm phán xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ để giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính và thực hiện các quyền hạn khác theo quy định của luật tố tụng. Số lượng các vụ án dân sự,hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động mà Tòa án các cấp phải thụ lý và giải quyết hàng năm tương đối lớn. Đối với quyền xét xử các vụ án kinh doanh thương mại và các vụ án về lao động, đây là mảng khối lượng kiến thức tương đối rộng, đội ngũ Thẩm phán Tòa án lại thiếu kiến thức về thị trường, các quan hệ kinh tế và quan hệ lao động tương đối phức tạp, liên quan đến lợi ích của nhiều bên. Luận văn: Đội ngũ Thẩm phán Tòa án nhân dân tại tỉnh Thanh Hóa.
NQ 49-NQ/TW nêu nhiệm vụ: Tiếp tục hoàn thiện thủ tục tố tụng dân sự. Nghiên cứu thực hiện và phát triển các loại hình dịch vụ từ phía Nhà nước để tạo điều kiện cho các đương sự chủ động thu thập chứng cứ chứng minh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Đổi mới thủ tục hành chính trong cơ quan tư pháp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận công lý; người dân chỉ nộp đơn đến Toà án, Toà án có trách nhiệm nhận và thụ lý đơn.
Ba là, Xét xử các vụ án hành chính: Án hành chính là một trong những loại án có tính chất đặc biệt khi người khởi kiện thường là người dân và người bị kiện là cơ quan hành chính nhà nước hoặc người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước, là xét xử các quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước. Luật tố tụng hành chính 2015 có hiệu lực thi hành đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân trong khiếu kiện hành chính, mở rộng thẩm quyền giải quyết án hành chính của TAND, do đó số lượng án hành chính tăng nhanh. Đổi mới mạnh mẽ thủ tục giải quyết các khiếu kiện hành chính tại Toà án; tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tham gia tố tụng, bảo đảm sự bình đẳng giữa công dân và cơ quan công quyền.
Thứ hai, Thông qua thực hiện hoạt động xét xử của Thẩm phán có vai trò trong công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật thông đối với mọi tầng lớp nhân dân
Một là, trong hoạt động của Tòa án thì xét xử là trọng tâm, tuy nhiên việc xét xử muốn đạt hiệu quả cao thì không thể thiếu vai trò của hoạt động tuyên truyền, giáo dục ý thức pháp luật cho nhân dân thông qua công tác xét xử. Nhận thấy tầm quan trọng của công tác này, Luật tổ chức TAND năm 2018 đã quy định: “Toà án phối hợp với cơ quan, tổ chức phát huy tác dụng giáo dục của phiên toà và tạo điều kiện thuận lợi cho việc thi hành bản án, quyết định của Toà án” [21, Điều 17]. Tòa án đã tích cực tuyên truyền, giáo dục ý thức pháp luật cho người dân, đặc biệt là thông qua công tác xét xử lưu động các vụ án hình sự. Chính từ việc thực hiện tốt công tác xét xử lưu động, Tòa án đã giúp người dân hiểu các quy định của pháp luật hình sự, thấy được ý thức trách nhiệm của mình đối với cộng đồng xã hội, đồng thời định hướng cho cách ứng xử của người dân phù hợp với quy định của pháp luật, giáo dục họ ý thức sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật.
Hai là, Thẩm phán có vai trò trong việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân thông qua hoạt động xét xử công khai tại các phiên Toà. Điều đó góp phần quan trọng đưa pháp luật vào thực tiễn vào cuộc sống, nâng cao nhận thức pháp luật của người dân, từ đó góp phần ngăn ngừa tội phạm, ổn định xã hội…
1.2. Định hướng và nội dung của cải cách tư pháp ở Việt nam hiện nay Luận văn: Đội ngũ Thẩm phán Tòa án nhân dân tại tỉnh Thanh Hóa.
1.2.1 Bối cảnh của cải cách tư pháp
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, là cơ sở để Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời. Một nền tư pháp kiểu mới – nền tư pháp nhân dân đã từng bước được thiết lập. Lần đầu tiên trong lịch sử tư pháp nước ngày 22/5/1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 85 về cải cách bộ máy tư pháp, xây dựng nên những nguyên tắc tiến bộ đầu tiên cho nền tư pháp non trẻ của nước ta trên cơ sở dự án Sắc lệnh Cải cách bộ máy tư pháp và Luật Tố tụng với những mục đích rất rõ ràng là bộ máy tư pháp cần được “dân chủ hoá”, “để công việc xét xử được nhanh chóng và gần dân hơn”, “thủ tục tố tụng cần được hợp lý và giản dị hơn” [12].
Kể từ Đại hội lần thứ VI (năm 1986) của Đảng ta, chủ trương đổi mới toàn diện đất nước được đặt ra và triển khai. Cải cách tư pháp là một đòi hỏi mang tính quy luật khách quan, cấp thiết để có thể thích ứng với những đổi mới về văn hóa, kinh tế, xã hội, hệ thống chính trị; v.v… Do vậy, yêu cầu đó đã chính thức được chỉ ra tại các Đại hội tiếp theo của Đảng và ghi nhận trong các Nghị quyết 8 Trung ương khóa VII, Nghị quyết 3 và 7 Trung ương khóa VIII và đặc biệt là Nghị quyết 08-NQ/TW và Nghị quyết 49-NQ/TW. Nghị quyết 49 được ban hành phù hợp với tinh thần Nghị quyết Đại hội IX của Đảng về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế. Cùng với việc Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) xác lập nguyên tắc “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”, bước vào những năm đầu thế kỷ XXI, cải cách tư pháp được triển khai từng bước đồng bộ với cải cách pháp luật và cải cách hành chính [10] nhằm đổi mới tổng thể bộ máy nhà nước theo các nguyên tắc pháp quyền, thúc đẩy đổi mới chính trị theo kịp và đáp ứng tốt hơn đòi hỏi của đổi mới kinh tế. Luận văn: Đội ngũ Thẩm phán Tòa án nhân dân tại tỉnh Thanh Hóa.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề ra đường lối và chiến lược phát triển kinh tế – xã hội những năm tới. Trong đó có yêu cầu về việc xây dựng nhà nước pháp quyền. Nhà nước pháp quyền là nhà nước được tổ chức và quản lý theo pháp luật và đề cao các giá trị nhân văn, tôn trọng và bảo đảm quyền của con người, quyền công dân. Căn cứ vào những đặc trưng đó của Nhà nước pháp quyền, có thể thấy nhiệm vụ cấp bách hàng đầu hiện nay là phải tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống pháp luật và thực thi pháp luật nghiêm minh. Do đó yêu cầu “cải cách tổ chức, nâng cao chất lượng và hoạt động của các cơ quan tư pháp” [10, tr.2] là một trong những đòi hỏi bức xúc hiện nay, là một đòi hỏi tự thân của nền công lý và dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Đổi mới, cải cách hệ thống cơ quan tư pháp từ tổ chức đến cơ chế hoạt động, năng lực của cán bộ đã được quán triệt là nhiệm vụ cấp bách của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong việc xây dựng các cơ quan tư pháp trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ trật tự an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, hướng tới xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân. Thể chế hoá chủ trương của Đảng, trong 30 năm đổi mới vừa qua, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc cải cách bộ máy nhà nước nói chung và cải cách tư pháp nói riêng. Nhờ đó, tư pháp Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng, tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp đã được củng cố và phát triển từng bước đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước.
Đề cao hoạt động quản lý nhà nước, quản lý xã hội bằng pháp luật. Các cơ quan tư pháp đã tham gia tích cực và chủ động vào việc soạn thảo văn bản pháp luật, xây dựng à hoàn thiện hệ thống pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật, từng bước nâng cao ý thức pháp luật cho cán bộ và nhân dân. Các cơ quan tư pháp đã luôn tích cực và có vai trò quan trọng nhất trong việc thực nhiệm vụ bảo vệ pháp chế và trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, đấu tranh có hiệu quả với tội phạm và các vi phạm pháp luật, giải quyết nhanh chóng, kịp thời và đúng pháp luật các tranh chấp nảy sinh trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần ổn định xã hội, phát triển kinh tế, phát huy tính chủ động, sáng tạo của mọi tầng lớp nhân dân trong quá trình đổi mới.
Quyền lực Nhà nước thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa ba quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp trong nhà nước XHCN Việt Nam. Quyền tư pháp là một trong ba quyền hợp thành quyền lực Nhà nước, được hiểu là hoạt động xét xử của các Toà án và những hoạt động của cơ quan Nhà nước, các tổ chức khác trực tiếp liên quan đến hoạt động xét xử của Toà án như điều tra, công tố, bổ trợ tư pháp, nhằm bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, pháp chế xã hội chủ nghĩa, lợi ích hợp pháp của công dân, tôn trọng và duy trì công lý. Toà án nhân dân là nơi biểu hiện tập trung quyền tư pháp, sử dụng công khai các kết quả của hoạt động điều tra, công tố, bào chữa, giám định tư pháp thông qua các thủ tục tố tụng do luật định để đưa ra phán quyết cuối cùng thể hiện quyền lực Nhà nước. Hoạt động xét xử của Toà án nhân dân cũng là nơi thể hiện chất lượng hoạt động và uy tín của hệ thống cơ quan tư pháp nói riêng và của toàn bộ hệ thống cơ quan Nhà nước nói chung. Với ý nghĩa đó, việc cải cách các cơ quan Tư pháp và các hoạt động tư pháp là đòi hỏi tự thân, xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của quyền tư pháp trong cơ cấu quyền lực nhà nước. Luận văn: Đội ngũ Thẩm phán Tòa án nhân dân tại tỉnh Thanh Hóa.
Trong những năm vừa qua, bên cạnh các kết quả đạt được vẫn còn những hạn chế nhất định. Một bộ phận đội ngũ cán bộ tư pháp vẫn thiếu về số lượng trình độ chuyên môn hạn chế và yếu, sa sút về phẩm chất đạo đức,trách nhiệm nghề nghiệp; phương tiện làm việc của cơ quan tư pháp còn thiếu thốn, lạc hậu. Vì vậy, với yêu cầu phát triển và bảo vệ đất nước, yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam.
Mục tiêu của cải cách tư pháp là xây dựng nền tư pháp trong sạch mà trọng tâm là nâng cao chất lượng hoạt động xét xử của TAND các cấp.
- Do đó, các nội dung cụ thể thực hiện để cải cách tư pháp là:
Một là, cải cách tư pháp cần phải được tiến đồng bộ với cải cách nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Quá trình cải cách tư pháp nằm trong tổng thể việc đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam.
Hai là, cải cách tư pháp phải hướng tới việc thực hiện đầy đủ các nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động tư pháp theo quy định của pháp luật.
Ba là, hoàn thiện chính sách, pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng. Đặc biệt là xây dựng, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của TAND các cấp; hoàn thiện các chế định bổ trợ tư pháp; xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp và bổ trợ tư pháp trong sạch vững mạnh; hoàn thiện cơ chế giám sát của các cơ quan dân cử và phát huy quyền làm chủ của nhân dân đối với cơ quan tư pháp; tăng cường hợp tác quốc tế về tư pháp; bảo đảm cơ sở vật chất cho hoạt động tư pháp và hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư pháp.
1.2.2 Những định hướng lớn và mục đích của cải cách tư pháp Luận văn: Đội ngũ Thẩm phán Tòa án nhân dân tại tỉnh Thanh Hóa.
Thứ nhất, hoạt động tư pháp là hoạt động hướng tới việc bảo vệ pháp luật, bảo đảm cho pháp luật được tôn trọng và nghiêm chỉnh thực thi trong thực tiễn cuộc sống. Mục tiêu cao nhất trong nền tư pháp xã hội chủ nghĩa là phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước. Nghị quyết số 08-NQ/TW và Nghị quyết số 49-NQ/TW đã xác định mục tiêu chiến lược là xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam XHCN; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao. Cụ thể là:
Một là, Hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự và dân sự phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; hoàn thiện các thủ tục tố tụng tư pháp, bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người.
Trong Nhà nước pháp quyền cần phải xây dựng hệ thống pháp luật thống nhất phục đảm bảo quyền con người, quyền công dân. Nhà nước pháp quyền là Nhà nước dân chủ, Nhà nước thượng tôn pháp luật, bảo đảm cho mọi công dân đều có quyền tự do, bình đẳng tham gia quản lý đất nước và giám sát, kiểm tra mọi hoạt động của cơ quan nhà nước.
Các hoạt động tư pháp phải đảm bảo ngăn ngừa có hiệu quả và xử lý kịp thời, nghiêm minh các loại tội phạm hình sự, đặc biệt là các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội tham nhũng và các loại tội phạm có tổ chức; bảo vệ trật tự, kỷ cương; bảo đảm và tôn trọng quyền dân chủ, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức và công dân.
Thực hiện CCTP theo tinh thần NQ 49-NQ/TW, đúng tiến độ, trách nhiệm từng bước, có lộ trình hoàn thiện hệ thống pháp luật là một phần rất quan trọng thuộc về Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, các đại biểu Quốc hội. Nhiều năm qua, Quốc hội đã ban hành nhiều luật, bộ luật, pháp lệnh quan trọng về lĩnh vực tư pháp, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động của các cơ quan tư pháp như đã sửa đổi: Hiến pháp 2013, Bộ luật Dân sự năm 2019, ban hành Luật Luật sư, Luật Trợ giúp pháp lý, Luật Công chứng, Luật Tương trợ tư pháp, Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Thi hành án dân sự, Luật Lý lịch tư pháp, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự… Quốc hội cũng đã phê chuẩn Công ước của Liên hiệp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ…
Trên cơ sở các quy định của các bộ luật, luật, pháp lệnh, hoạt động của các cơ quan tư pháp đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao; kịp thời đấu tranh phát hiện, xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm; tích cực giải quyết các vụ án dân sự, hành chính và thi hành án, góp phần quan trọng vào việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trong phạm vi cả nước cũng như ở từng địa phương, tạo môi trường ổn định cho sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, thực sự tạo niềm tin của nhân dân trong việc, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, bảo vệ quyền con người, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm và vi phạm pháp luật khác.
Hai là, Đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp, trong đó xác định xét xử là hoạt động trọng tâm và Toà án có vị trí trung tâm. Luận văn: Đội ngũ Thẩm phán Tòa án nhân dân tại tỉnh Thanh Hóa.
Với mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, mọi công dân sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, hướng tới xã hội dân chủ kỷ cương, hạn chế các tiêu cực của xã hội, tạo sự bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật.Việt Nam đã xây dựng được nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, tổ chức bộ máy các cơ quan tư pháp và các chế định bổ trợ tư pháp hợp lý, khoa học và hiện đại, từng bước được kiện toàn và xác định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ. Việc xét xử của Tòa án được minh bạch hơn, Tòa án ra phán quyết dựa trên xem xét chứng cứ và Xã hội hóa hoạt động bổ trợ tư pháp liên quan đến lĩnh vực luật sư, tư vấn pháp luật, công chứng, giám định tư pháp, bán đấu giá tài sản, thừa phát lại, quản tài viên và một số hoạt động khác. Hoạt động này có nhiều lĩnh vực,cần phân chia thành từng nhóm để xác định hướng đi phù hợp với từng lĩnh vực, xác định được đúng lộ trình trong quá trình xã hội hóa các nghề bổ trợ phù hợp với CCTP, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực này, kiên quyết xử lý những sai phạm bằng các công cụ mà pháp luật quy định như kiểm tra, thu hồi giấy phép, Để quản lý công tác bổ trợ tư pháp đáp ứng yêu cầu CCTP trong giai đoạn hiện nay đòi hỏi Nhà nước cần hoàn thiện hệ thống pháp luật về công tác bổ trợ tư pháp như:xây dựng các văn bản hướng dẫn triển khai Luật Đấu giá tài sản, sửa đổi Luật Giám định tư pháp, nhanh chóng xây dựng và ban hành Nghị định về thừa phát lại… đồng hành cùng Chính phủ liêm chính, kiến tạo, phục vụ người dân và doanh nghiệp.
Ba là, xây dựng đội ngũ cán bộ đảm bảo tiêu chuẩn về chính trị, phẩm chất, đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ và kinh nghiệm, kiến thức xã hội, thực hiện thi tuyển đối với các chức danh tư pháp.
Định hướng này rất quan trọng vì đối với bất kỳ cơ quan nào, công tác cán bộ là công tác then chốt, cán bộ có tốt về mọi mặt mới có thể hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao, ngược lại cán bộ không tốt chẳng những không hoàn thành nhiệm vụ còn làm giảm uy tín của cơ quan, làm mất lòng tin của nhân dân. Các cơ quan tư pháp trên cơ sở các quy định của Đảng và Nhà nước về công tác cán bộ, chú trọng nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp gắn với tiêu chuẩn, chức danh, bảo đảm đáp ứng trình độ chuyên môn, năng lực và phẩm chất chính trị. Khuyến khích và tạo điều kiện hỗ trợ để cán bộ, công chức tư pháp, bổ trợ tư pháp tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học phục vụ hoạt động chuyên môn, đáp ứng yêu cầu của công tác cải cách tư pháp trong giai đoạn mới. Nghị quyết 48- NQ/TW xác định đổi mới công tác đào tạo cán bộ đảm nhiệm các chức danh tư pháp theo hướng: cán bộ đảm nhiệm chức danh tư pháp phải có trình độ đại học luật và được đào tạo về kỹ năng nghề nghiệp tư pháp theo chức danh; Nâng cao tiêu chuẩn về chính trị, đạo đức và nghề nghiệp chuyên môn của các cán bộ tư pháp. Nghiên cứu tiến tới thực hiện việc thi sát hạch trước khi bổ nhiệm và quy định thời hạn bổ nhiệm các cán bộ có chức danh tư pháp; Rà soát lại đội ngũ cán bộ tư pháp để xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong sạch, vững mạnh.
Bốn là, tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng, vai trò giám sát của nhân dân phải được tăng cường trong các cơ quan dân cử, tăng cường sự giám sát của công luận và của nhân dân đối với hoạt động tư pháp.
Với yêu cầu đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng về công tác cán bộ của Tòa án nhân dân, Nghị quyết số 49 –NQ/TW đã nêu rõ: “Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và hoàn thiện tổ chức, bộ máy các cơ quan tư pháp. Trọng tâm là xây dựng, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân” [8]. Do vậy, trong quá trình thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp cần phải coi trọng đổi mới tổ chức, hoạt động của Tòa án, coi đây là nhiệm vụ quan trọng nhất phải được ưu tiên hàng đầu. Trong những năm qua, chủ trương này chưa có được sự quan tâm thực hiện đúng mức. Vị trí, vai trò của Tòa án chưa được đặt đúng tầm trong bộ máy của Nhà nước, vị thế của Chánh án và Thẩm phán chưa được đề cao trong xã hội. Trong bộ máy nhà nước Chánh án Tòa án các địa phương thường có một vị trí khá khiêm tốn, chỉ tương đương với các Giám đốc sở, ban, ngành cùng cấp. Vị trí, vai trò của Tòa án nhân dân chưa được cải thiện đáng kể và đang phải đối mặt với những thách thức về nguy cơ lạm quyền từ phía các cơ quan công quyền và những người có thẩm quyền trong thi hành công vụ; lòng tin của người dân vào công lý, sự công bằng xã hội bị giảm sút. Luận văn: Đội ngũ Thẩm phán Tòa án nhân dân tại tỉnh Thanh Hóa.
Tăng cường và nâng cao hiệu lực giám sát việc chấp hành pháp luật của các cơ quan tư pháp, đặc biệt là của lãnh đạo các cơ quan tư pháp… Phát huy quyền làm chủ của nhân dân đối với hoạt động tư pháp… Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên tập trung làm tốt công tác động viên nhân dân phát hiện những hạn chế, khuyết điểm trong hoạt động tư pháp, qua đó kiến nghị với các cơ quan tư pháp khắc phục, sửa chữa. Tăng cường vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng trong việc tuyên truyền, cung cấp thông tin về hoạt động tư pháp [8].
Trên cơ sở các quan điểm của Đảng, Nhà nước thể chế hóa thành các quy định pháp luật, làm cơ sở pháp lý cho việc kiện toàn, đổi mới tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan tư pháp, bảo đảm cho các cơ quan tư pháp trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả. Đồng thời, Đảng lãnh đạo các cơ quan tư pháp thông qua công tác tổ chức, quản lý đội ngũ cán bộ, qua công tác kiểm tra, giám sát việc thi hành đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Thứ hai, Đảng và Nhà nước đề ra mục tiêu cải cách đồng bộ đối với cải cách lập pháp và cải cách hành pháp. Nghị quyết số 49- NQ/TW chỉ rõ: “Cải cách tư pháp phải xuất phát từ yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội, bảo vệ vững chắc Tổ quốc; gắn với đổi mới công tác lập pháp, cải cách hành chính” [8]. Như vậy, Ðảng ta đã đặt ra yêu cầu hết sức rõ ràng, chuẩn định về mối liên hệ giữa ba nhánh quyền lực và đương nhiên là cả ba hoạt động cải cách. Cải cách lập pháp không thể hiệu quả nếu không cải cách hành pháp,hành chính và cải cách tư pháp và ngược lại.
Như vậy mục đích của CCTP là “Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao”, trong quá trình thực hiện cải cách muốn đạt được hiệu lực, hiệu quả đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta phải thực hiện cải cách đồng bộ của 3 cơ quan quyền lực nhà nước, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. “Thực hiện đồng bộ cải cách hành chính với cải cách lập pháp, cải cách tư pháp” [9, tr.2], đã thể chế hóa và thực hiện theo Nghị quyết 30c/NQ-CP ngày 8-11-2016 của Chính phủ ban hành chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2016-2020 với nhiều mục tiêu quan trọng nhằm cải thiện và đổi mới mạnh mẽ nền hành chính Việt Nam gần dân, vì dân.
Tóm lại, những yêu cầu trên về cải cách tư pháp ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động xây dựng đội ngũ Thẩm phán ở Việt Nam hiện nay. Do vậy trong quá trình xây dựng đội ngũ Thẩm phán phải luôn bám sát mục tiêu cải cách tư pháp.
1.3. Những yêu cầu đòi hỏi của cải cách tư pháp đối với việc xây dựng đội ngũ Thẩm phán ở Việt Nam Luận văn: Đội ngũ Thẩm phán Tòa án nhân dân tại tỉnh Thanh Hóa.
1.3.1 Số lượng
Từ các đặc trưng cơ bản của đội ngũ cán bộ, công chức Việt Nam trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân. Căn cứ vào chủ trương, quan điểm của Đảng, Hiến pháp năm 2013 thì việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức Tòa án nhân dân trong sạch, vững mạnh phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản như sau: Yêu cầu về kiện toàn tổ chức, bảo đảm về số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức Tòa án; Yêu cầu về chất lượng cán bộ, công chức; Yêu cầu đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý…
Yêu cầu về số lượng không có nghĩa là bố trí đủ biên chế theo chỉ tiêu được phân bổ, mà phải bảo đảm xác định đúng, đủ số biên chế để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của từng đơn vị, Tòa án; đồng thời phải bảo đảm việc bố trí, phân công một cách phù hợp giữa cán bộ, công chức và nhiệm vụ được giao. Mặt khác, yêu cầu về số lượng còn có nghĩa phải bảo đảm về cơ cấu cán bộ, công chức (các chức danh công chức, nhất là các chức danh tư pháp), về giới tính, độ tuổi nhằm bảo đảm về công tác đào tạo nghiệp vụ qua thực tiễn, sự kế thừa liên tiếp giữa các thế hệ cán bộ, công chức.
Để bảo đảm tốt yêu cầu này, cần thực hiện tốt Kế hoạch đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức Tòa án nhân dân, trong đó chú trọng việc rà soát lại đội ngũ cán bộ, công chức để có phương án bố trí, sắp xếp phù hợp; xác định vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức gắn với xây dựng Bộ tiêu chuẩn các chức danh công chức của Tòa án nhân dân, làm cơ sở cho việc xác định biên chế, số lượng cán bộ, công chức vàThẩm phán phù hợp với từng Tòa án.
1.3.2 Về chất lượng Luận văn: Đội ngũ Thẩm phán Tòa án nhân dân tại tỉnh Thanh Hóa.
Thứ nhất, về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Thẩm phán là một chức danh tư pháp trong hệ thống chức danh tư pháp của TAND đồng thời cũng là cán bộ, công chức trong các cơ quan Nhà nước nên có tiêu chuẩn chung như cán bộ, công chức và tiêu chuẩn cụ thể. Tiêu chuẩn chung và tiêu chuẩn chung đối với từng vị trí việc làm cụ thể cần được xây dựng khoa học. Các chức danh cần đảm bảo trình độ chuyên môn, nghiệp vụ nhất định và yêu cầu riêng đối với tính đặc thù khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ đó. Trong đó tiêu chuẩn về trình độ là thước đo giá trị của mỗi cán bộ công chức thực thi nhiệm vụ được giao. Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chuyên môn và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế đòi hỏi trình độ của cán bộ tư pháp ngày càng được TANDTC quan tâm.
Thứ hai, về phẩm chất chính trị: Phẩm chất, bản lĩnh chính trị là yêu cầu quan trọng, cơ bản nhất đối với đội ngũ Can bộ, công chức Toà án nhân dân. Đó là sự trung thành và bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định với mục tiêu và con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn; chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; nhiệt tình cách mạng, gương mẫu, tận tuỵ, có tinh thần và ý thức trách nhiệm cao với công việc, hết lòng, hết sức vì sự nghiệp của nhân dân, tận tâm, tận trí phục vụ nhân dân.
Thứ ba, về năng lực: Nghị quyết Trung ương 3 (khóa VIII) coi năng lực đội ngũ cán bộ, công chức là yếu tố quyết định chất lượng của bộ máy nhà nước. Yêu cầu đặt ra đối với đội ngũ cán bộ, công chức nói chung và đối với Thẩm phán nói riêng là phải hiểu nguyên tắc và chế độ quản lý hành chính, tinh thông nghiệp vụ, hiểu biết chuyên môn. Có tinh thần đổi mới chưa đủ mà phải có kiến thức và năng lực xét xử; có kinh nghiệm hoạt động thực tiễn.
Thứ tư, về phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp, uy tín xã hội Bác Hồ luôn nhấn mạnh đạo đức cách mạng của người cán bộ. Người nói: “Bất kỳ ở địa vị nào, làm công tác gì, chúng ta đều là đầy tớ của nhân dân. Cơm chúng ta ăn, áo chúng ta mặc, vật liệu chúng ta dùng đều do mồ hôi, nước mắt của nhân dân mà ra. Vì vậy, chúng ta phải cố gắng thực hiện cần, kiệm, liêm, chính. Trước hết là Cần, tức là tăng năng suất trong công tác, bất kỳ công tác gì. Kiệm tức là không lãng phí thời gian của mình và của nhân dân. Liêm tức là không tham ô và luôn luôn tôn trọng, giữ gìn của công và của nhân dân. Chính tức là việc phải làm dù nhỏ cũng làm, việc trái thì dù nhỏ cũng tránh. Bốn điều đó đi liền với nhau” [18, tr.505,506].
Đạo đức cách mạng không phải bẩm sinh mà có, không phải do ngẫu nhiên mà có. “Đạo đức cách mạng không phải từ trên trời rơi xuống mà nó do đấu tranh rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà có. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng cành luyện càng trong”. Luận văn: Đội ngũ Thẩm phán Tòa án nhân dân tại tỉnh Thanh Hóa.
- Đối với người Thẩm phán cần có một số phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp như sau:
Một là, sự liêm chính. Thẩm phán phải giữ gìn sự liêm chính của cơ quan, của bản thân và phải có trách nhiệm giữ gìn niềm tin của người dân vào cơ quan xét xử. Sự liêm chính của người Thẩm phán thể hiện qua những hành vi cụ thể để trục lợi như: không có hành vi nhũng nhiễu, tham ô, lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong hoạt động tư pháp…
Hai là, sự độc lập. Thẩm phán phải độc lập trong hoạt động công vụ của mình, phù hợp với nguyên tắc “Khi xét xử Thẩm phán, HTND độc lập” trong bất kỳ hoàn cảnh nào thì hoạt động tư pháp phải được thực hiện theo quy định của pháp luật, không chịu áp lực bởi bất kỳ cá nhân, cơ quan, tổ chức nào. Sự độc lập trong đạo đức tư pháp không chỉ gắn với các chức danh tư pháp mà còn là sự độc lập của cơ quan thực hiện các hoạt động tư pháp. Sự độc lập còn được bảo hộ bởi sự tôn trọng của các chủ thể khác trong xã hội đối với Thẩm phán và các cơ quan thực hiện quyền tư pháp.
Ba là, sự khách quan. Các bản án, quyết định đều phải dựa trên các quy định của pháp luật. Thẩm phán phải thực sự khách quan, công tâm khi thực thi nhiệm vụ xét xử. Khi thực hiện nhiệm vụ, Thẩm phán phải tuyệt đối tuân theo các quy định của pháp luật, không thiên vị, không đánh giá sự vật, hiện tượng bằng nhận thức chủ quan.
Bốn là, giao tiếp ứng xử. Thẩm phán phải có kỹ năng giao tiếp ứng cử phù hợp trong khi thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình. Trong giao tiếp ứng xử khi thực hiện nhiệm vụ phải hòa nhã, phát ngôn chuẩn mực vì người Thẩm phán đại diện cho cơ quan Tòa án, đại diện cho công lý, đại diện cho sự công bằng tạo ra sự bình đẳng, dân chủ kể cả với tội phạm.
Bên cạnh hoạt động giao tiếp, Thẩm phán còn có trách nhiệm xây dựng, duy trì và phát triển kiến thức, kỹ năng và các phẩm chất cần thiết để đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ của mình. Do vậy, Thẩm phán phải thường xuyên học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ chính trị, thường xuyên trau dồi, rèn luyện về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống.
Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân được Nhà nước thực hiện quyền lực nhà nước. Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân có trách nhiệm xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật đối với những vụ việc thuộc thẩm quyền của hệ thống Toà án.
Uy tín xã hội. Uy tín cá nhân có được từ sự rèn luyện bền bỉ của người cán bộ. Muốn có uy tín, người cán bộ phải giành lấy nó bằng chính tài năng, đạo đức, nghị lực, bằng ảnh hưởng tư tưởng và hành động thực tế của mình chớ không chỉ dựa vào danh hiệu và chức vụ. Thực tiễn công tác, hoạt động của cán bộ cho thấy nhiều cán bộ được nhân dân đánh giá là có uy tín cả về năng lực và phẩm chất. Nhưng trước cám dỗ của tiền tài, vật chất, trước tác động của cơ chế thị trường, chỉ cần xao nhãng việc trui rèn đạo đức phẩm chất, họ đã sa ngã. Từ một cán bộ có uy tín chuyển hóa thành một cán bộ mất uy tín. Tiếc rằng, trong tình hình hiện nay, số cán bộ, công chức trong các cơ quan Nhà nước, các tổ chức đoàn thể đạt được những tố chất ấy chưa nhiều. Một số cán bộ không chịu tu dưỡng, rèn luyện, bằng lòng với công việc hiện tại nên chưa tạo được uy tín cá nhân trong thực thi công vụ. Đáng nói hơn chính những cán bộ này thường coi nhẹ mối quan hệ với nhân dân, quan liêu, sách nhiễu nhân dân, gây mất niềm tin trong quần chúng. Luận văn: Đội ngũ Thẩm phán Tòa án nhân dân tại tỉnh Thanh Hóa.
Thẩm phán cũng như các cán bộ công chức khác để giữ trọn vẹn được chữ “tín” với nhân dân dân, đại diện cho cán cân công lý,hoàn thành nhiệm vụ,cần phải phải trau dồi phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, nâng cao trình độ năng lực chuyên môn nghiệp vụ, tự giáo dục, tự rèn luyện, tu dưỡng.
Phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp, uy tín xã hội là ba yếu tố không thể thiếu đối với người Thẩm phán, hỗ trợ và bổ sung cho nhau giúp cho người Thẩm phán thực hiện nhiệm vụ “quyền tư pháp”, ban hành những phán quyết đúng quy định đem lại công bằng, lẽ phải, bình yên cho người dân và toàn xã hội, xứng đáng với 8 chữ vàng mà Bác Hồ viết tặng: “Cần, kiệm, liêm, chính; chí công vô tư”. Ngược lại nếu thiếu một trong ba yếu tố thì người thẩm phán sẽ sa vào cám dỗ vật chất tầm thường dẫn đến suy thoái đạo đức, ảnh hưởng đến uy tín các cán bộ tư pháp cũng như cơ quan tư pháp.
Phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp là một trong những đảm bảo để xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong sạch, vững mạnh đồng, là một trong những nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp mà Nghị quyết 08- NQ/TW đề ra đối với các cơ quan tư pháp thực hiện trong thời gian tới: “Nâng cao tiêu chuẩn về chính trị, đạo đức và nghề nghiệp chuyên môn của các cán bộ tư pháp”.
1.4. Phương thức đào tạo, tuyển chọn, bổ nhiệm Thẩm phán Luận văn: Đội ngũ Thẩm phán Tòa án nhân dân tại tỉnh Thanh Hóa.
Để có một đội ngũ cán bộ, công chức giàu bản lĩnh, đủ năng lực trí tuệ, Ban cán sự đảng, lãnh đạo các Toà án nhân dân cần đặc biệt quan tâm đến công tác cán bộ, trong đó có công tác đào tạo, tuyển chọn, bổ nhiệm Thẩm phán hết sức quan trọng. Công tác đào tạo, tuyển chọn, bổ nhiệm thẩm phán phải bám sát nguyên tắc Đảng lãnh đạo, thống nhất công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Cùng với việc thực hiện nghiêm quy định của pháp luật về tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình, thủ tục và thẩm quyền trong bổ nhiệm cán bộ, công chức.
Chế độ bổ nhiệm Thẩm phán của Việt Nam hiện nay theo phương thức Hội đồng tuyển chọn quy định cụ thể tại Luật tổ chức TAND năm 2014 và các văn bản có liên quan như sau:
Về thẩm quyền bổ nhiệm Thẩm phán, Hiến pháp 2013 quy định việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Thẩm phán khác thuộc thẩm quyền của Chủ tịch nước; đối với việc bổ nhiệm, miễn nhiệm hoặc cách chức Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có sự phê chuẩn của Quốc hội. Ý nghĩa lý luận của quy định này nhằm đề cao địa vị pháp lý của Thẩm phán, đặc biệt là địa vị pháp lý của Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Bởi vì, chính đội ngũ Thẩm phán là những người trực tiếp giải quyết, xét xử các loại vụ án, thực hiện quyền tư pháp. Chất lượng giải quyết, xét xử, thực hiện quyền tư pháp của các Thẩm phán là biểu hiện của nền công lý của quốc gia. Do đó, họ được xã hội thừa nhận có địa vị pháp lý cao và được tôn trọng là phù hợp với tiến bộ xã hội và phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế. Ý nghĩa thực tiễn của quy định này là nhằm xác định Thẩm phán là Thẩm phán của quốc gia, không phụ thuộc vào địa phương nào, đó là đảm bảo hoạt động của Thẩm phán là nhân danh Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tiêu chuẩn Thẩm phán: Tiêu chuẩn Thẩm phán gồm các tiêu chuẩn về chính trị, đạo đức, nghiệp vụ, thời gian làm việc, tiêu chuẩn về vốn sống xã hội, tác phong quần chúng trong công tác thực tiễn, tiêu chuẩn này là thể hiện uy tín xã hội của Thẩm phán. Với quy định về tiêu chuẩn như vậy và qua kỳ thi tuyển chọn quốc gia, nguồn tuyển chọn Thẩm phán sẽ được mở rộng hơn so với trước đây.
Tiêu chuẩn quy định tại Điều 67, Luật tổ chức TAND năm 2014: Là công dân Việt Nam, trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tinh thần dũng cảm và kiên quyết bảo vệ công lý, liêm khiết và trung thực; Có trình độ cử nhân luật trở lên; Đã được đào tạo nghiệp vụ xét xử; Có thời gian làm công tác thực tiễn pháp luật; Có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Quy trình đề nghị bổ nhiệm TPTANDTC, TPCC, TPTC, TPSC: Thực hiện tại Quy định về trình tự, thủ tục và mẫu hồ sơ bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán (ban hành kèm theo Quyết định số 866/QĐ-TANDTC ngày 13/7/2016 của Chánh án TANDTC): Luận văn: Đội ngũ Thẩm phán Tòa án nhân dân tại tỉnh Thanh Hóa.
Cùng với việc cải cách mô hình tổ chức Toà án, thì vấn đề cải cách cơ chế bổ nhiệm thẩm phán phải được ưu tiên đặt lên hàng đầu vì thẩm phán là “linh hồn” của Toà án. Việc chuẩn bị nhân sự cho việc bổ nhiệm thẩm phán cần theo nguyên tắc của Lê-nin “thà ít mà tốt” chứ không thể vì yêu cầu số lượng mà phải “…vơ vét, tận dụng những lực lượng đã có để bổ nhiệm cho đủ” như trả lời chất vấn của nguyên Chánh án Toà án nhân dân tối Nguyễn Văn Hiện tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XI ngày 27/11/2006.
Về quy trình tuyển chọn Thẩm phán, xuất phát từ ý nghĩa Thẩm phán là của quốc gia, không phụ thuộc vào địa phương, do đó việc thi tuyển, tuyển chọn phải do Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán quốc gia (gồm 11 thành viên: Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án quân sự trung ương, các Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, 01 đại diện lãnh đạo Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Văn phòng Chủ tịch nước, Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng, Ban chấp hành Trung ương Hội luật gia Việt Nam) thay thế các Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán tại 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
- Về nhiệm kỳ của Thẩm phán:
Thẩm phán là chức danh nghiệp vụ, không phải là chức vụ lãnh đạo quản lý, nên việc gắn nhiệm kỳ cho chức danh Thẩm phán phát sinh rất nhiều bất cập trong thực tiễn hoạt động của Thẩm phán.Nhằm tạo cơ sở pháp lý để Thẩm phán thực hiện tốt nguyên tắc độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, khắc phục những hạn chế, bất cập về nhiệm kỳ của Thẩm phán. Luật Tổ chức TAND, 2018 quy định: “Nhiệm kỳ đầu của các Thẩm phán là 05 năm; trường hợp được bổ nhiệm lại hoặc được bổ nhiệm vào ngạch Thẩm phán khác thì nhiệm kỳ tiếp theo là 10 năm” [21, Điều 74] (trừ trường hợp bị cách chức, bãi nhiệm, miễn nhiệm Thẩm phán). Quy định theo hướng kéo dài hơn nhiệm kỳ của Thẩm phán sẽ tạo điều kiện cho Thẩm phán yên tâm làm nhiệm vụ, thực hiện tốt nguyên tắc độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong xét xử, bảo đảm cho các phán quyết mà Thẩm phán đưa ra khách quan, đúng pháp luật. Bên cạnh đó, quy định kéo dài nhiệm kỳ của Thẩm phán nhiều thuận lợi hơn so với nhiệm kỳ của Thẩm phán là 5 năm như quy định nhiều năm trước đây, gây tốn kém thời gian, vật chất cho công tác tái bổ nhiệm,tạo tâm lý không yên tâm làm việc của Thẩm phán; hạn chế tâm lý e ngại trước tác động của những cơ quan, cá nhân có thẩm quyền xem xét, tuyển chọn, đề nghị bổ nhiệm, bổ nhiệm lại TP.
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng công tác xây dựng đội ngũ Thẩm phán đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp
1.5.1 Sự lãnh đạo của Đảng Luận văn: Đội ngũ Thẩm phán Tòa án nhân dân tại tỉnh Thanh Hóa.
Đảng lãnh đạo các cơ quan tư pháp là nội dung rất quan trọng và cần thiết trong công cuộc đổi mới hiện nay, nhằm mục đích: một là, bảo đảm hoạt động của các cơ quan tư pháp theo đúng đường lối chính trị, kiên định đi theo định hướng xã hội chủ nghĩa, giữ vững bản chất tốt đẹp của Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; hai là, bảo đảm phát huy đầy đủ vị trí, vai trò của các cơ quan tư pháp để hoàn thành chức năng, nhiệm vụ theo luật định, duy trì và bảo vệ nền pháp chế xã hội chủ nghĩa, vì sự công bằng, dân chủ và nghiêm minh trong tổ chức thi hành pháp luật.
Đảng lãnh đạo các cơ quan tư pháp có nội dung toàn diện: lãnh đạo về chính trị, tư tưởng; về tổ chức, cán bộ; về định hướng công tác. Đảng lãnh đạo các cơ quan tư pháp thông qua việc định ra các nguyên tắc, quan điểm lớn làm cơ sở xây dựng tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp; vạch ra đường lối, định hướng trong các lĩnh vực hoạt động của các cơ quan tư pháp.
Do vậy, trong quá trình thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp cần phải coi trọng đổi mới tổ chức, hoạt động của Tòa án, coi đây là nhiệm vụ quan trọng nhất phải được ưu tiên hàng đầu. Trong những năm qua, chủ trương này chưa có được sự quan tâm thực hiện đúng mức. Vị trí, vai trò của Tòa án chưa được đặt đúng tầm trong bộ máy của Nhà nước, vị thế của Chánh án và Thẩm phán chưa được đề cao trong xã hội. Trong bộ máy nhà nước, Chánh án Tòa án các địa phương thường có một vị trí khá khiêm tốn, chỉ tương đương với các Giám đốc sở, ban, ngành cùng cấp, còn Thẩm phán chỉ tương đương với công chức bình thường (Nhà nước chưa quan tâm nhiều đến chế độ cho tương xứng với chức năng, nhiệm vụ của Thẩm phán: ví dụ về chế độ lương chưa có thang bảng lương riêng dành cho Thẩm phán, chưa có chế độ, chính sách đảm bảo quyền lợi phù hợp với công việc…). Vị trí, vai trò của Tòa án nhân dân chưa được cải thiện đáng kể và đang phải đối mặt với những thách thức về nguy cơ lạm quyền từ phía các cơ quan công quyền và những người có thẩm quyền trong thi hành công vụ; lòng tin của người dân vào công lý, sự công bằng xã hội bị giảm sút. Luận văn: Đội ngũ Thẩm phán Tòa án nhân dân tại tỉnh Thanh Hóa.
“Khi nói đến CCTP,… đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan tư pháp và các hoạt động tư pháp. Và ngược lại, CCTP với tầm vóc mới của nó cũng đang đòi hỏi sự đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư pháp” [33]. Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan tư pháp nói chung và đối với xây dựng đội ngũ Thẩm phán lại càng có ý nghĩa rất quan trọng. Bởi vì, các chức danh tư pháp cụ thể là các điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, chấp hành viên, có quyền hạn rất lớn, lại được thực thi trong điều kiện và một phạm vi độc lập cao. Đảng lãnh đạo từ khâu tuyển chọn, bổ nhiệm, đến giám sát công tác xét xử. Do vậy,cần phối hợp chặt chẽ giữa Ban cán sự đảng TAND với cơ quan tham mưu của cấp ủy trong công tác bổ nhiệm, bổ nhiệm lại Thẩm phán các cấp hàng năm luôn được rà soát, bổ sung, tăng cường cả về số lượng và chất lượng. Có được sự lãnh đạo, định hướng sát sao, chặt chẽ của Đảng mà đội ngũ cán bộ công chức, Thẩm phán ngành Tòa án hiện nay đã đáp ứng tương đối các yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp.
1.5.2 Cơ chế quản lý Tòa án
Theo quy định của pháp luật thì hệ thống Toà án nhân dân từ năm 1960 đến nay được tổ chức theo đơn vị hành chính gồm: Toà án nhân dân tối cao, Toà án nhân dân cấp tỉnh và Toà án nhân dân cấp huyện; Toà án quân sự gồm: Toà án quân sự khu vực, Toà án quân sự cấp quân khu và Toà án quân sự Trung ương. Theo quy định của Luật tổ chức Toà án nhân dân thì Toà án quân sự Trung ương là một đơn vị của Toà án nhân dân tối cao, do Toà án nhân dân tối cao quản lý về chuyên môn, nghiệp vụ và có sự phối hợp chặt chẽ với Bộ Quốc phòng.
Với cơ cấu tổ chức hệ thống Toà án như trên, hơn 40 năm qua, các Toà án đã góp phần đắc lực vào việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, duy trì trật tự an toàn xã hội, trật tự quản lý kinh tế, bảo đảm cho mọi người được sống trong một môi trường xã hội và sinh thái an toàn, lành mạnh, mang tính nhân văn cao; bảo đảm sự bình đẳng và an toàn pháp lý trong quan hệ dân sự, góp phần tạo điều kiện đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân, thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội. Luận văn: Đội ngũ Thẩm phán Tòa án nhân dân tại tỉnh Thanh Hóa.
Nhằm nâng cao năng lực và hoạt động của các cơ quan tư pháp nói chung, đặc biệt đối với Toà án và Viện kiểm sát trước yêu cầu của tình hình mới, Đảng và Nhà nước đã có chủ trương cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW. Một trong những nội dung cơ bản mà 49-NQ/TW đã đề ra, đó là: “Tổ chức Toà án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính” [8].
Hiện nay, Luật tổ chức TAND năm 2014 quy định hệ thống Toà án nhân dân ở nước ta được tổ chức gồm 4 cấp: Toà án nhân dân tối cao, TAND cấp cao, TAND tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương, TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương. Nguyên tắc tổ chức của TAND “Các TAND được tổ chức độc lập theo thẩm quyền xét xử” [21, Điều 5]. Công tác quản lý Tòa án không theo cấp hành chính mà cơ cấu theo ngành dọc, TANDTC là Toà án cấp trên trực tiếp của Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân cấp tỉnh là Toà án cấp trên trực tiếp của Toà án nhân dân cấp huyện và tương đương. TANDTC quản lý TAND các cấp và TAQS về mặt tổ chức để đảm bảo gắn việc theo dõi, hướng dẫn nghiệp vụ chuyên môn với việc nhận xét, đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ và các mặt công tác khác [6, tr.2]. Việc nghiên cứu để tổ chức Toà án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính mà Nghị quyết số 49-NQ/TW đề ra là một bước đột phá về chất, nhằm xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của Toà án. TAND được chia thành 4 cấp, quản lý theo ngành dọc từ trung ương xuống địa phương như hiện nay là phù hợp với đặc thù của hệ thống Tòa án và các cơ quan tư pháp, thực hiện tốt nhiệm vụ “Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và hoàn thiện tổ chức, bộ máy các cơ quan tư pháp. Trọng tâm là xây dựng, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân.Tổ chức hệ thống Toà án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính” [8] mà NQ 49-NQ/TW đề ra.
1.5.3 Ý thức pháp luật của thẩm phán Luận văn: Đội ngũ Thẩm phán Tòa án nhân dân tại tỉnh Thanh Hóa.
Thực hiện đường lối đổi mới, bên cạnh những thuận lợi, thời cơ, đất nước ta còn gặp không ít khó khăn, thách thức về kinh tế – xã hội, an ninh, trật tự an toàn xã hội. Riêng lĩnh vực an ninh, trật tự an toàn xã hội, chúng ta có thể thấy các thế lực thù địch, phản động vẫn tiếp tục chống phá Đảng và Nhà nước ta. Tình hình tranh chấp, vi phạm pháp luật, tội phạm còn diễn biến phức tạp; một số loại tội phạm có thể sẽ tiếp tục gia tăng. Tệ nạn tham nhũng vẫn là một trong những nguy cơ đối với nước ta. Hoạt động tội phạm có tổ chức, có sự liên kết giữa các băng, nhóm tội phạm trong và ngoài nước có thể xảy ra nhiều hơn; sẽ xuất hiện một số loại tội phạm mới như đầu cơ chứng khoán, rửa tiền…; các đối tượng phạm tội sẽ tăng cường sử dụng những thành tựu mới nhất của khoa học – kỹ thuật vào những hoạt động tội phạm. Tình hình này đặt ra những yêu cầu, nhiệm vụ hết sức nặng nề, đòi hỏi công tác tư pháp phải có những chuyển biến mạnh mẽ và phấn đấu đạt được mục tiêu xây dựng nền tư pháp công bằng, dân chủ, nghiêm minh.
Sau hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng về kinh tế-xã hội, an ninh chính trị được giữ vững, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện và phát triển; bộ máy nhà nước hoạt động ngày càng hiệu quả hơn, đóng góp tích cực vào công cuộc đổi mới của đất nước. Nhờ có sự đổi mới về kinh tế và quyết tâm thực hiện công cuộc cải cách hành chính mà Việt Nam đang là nước có nền kinh tế tăng trưởng nhanh trong khu vực và trên thế giới; cơ sở vật chất được tăng cường, đời sống chính trị – xã hội ổn định, quan hệ quốc tế được mở rộng. Tuy nhiên, khi nền kinh tế chuyển mạnh sang cơ chế thị trường cùng với các yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế thì ngày càng có nhiều vụ việc phức tạp, các loại án hình sự ngày càng tinh vi, mức độ nguy hiểm cho xã hội ngày lớn, các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, thương mại, lao động… ngày càng gia tăng về cả số lượng và sự phức tạp, đặc biệt khi nó xuất hiện yếu tố nước ngoài ngày càng nhiều, giá trị lợi ích vật chất trong các vụ án ngày càng lớn. Do đó, để đưa ra được phán quyết thấu tình đạt lý, phù hợp với thông lệ, tập quán pháp luật quốc tế đòi hỏi Thẩm phán phải tâm huyết với nghề, không ngừng học tập nâng cao trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ xét xử của mình. Xixeron một luật sư, nhà hùng biện nổi tiếng của La mã thời cổ đại từng nói: “Quan tòa, đó là một đạo luật biết nói, còn đạo luật là một vị quan tòa câm”.
Trong những năm qua được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và lãnh đạo ngành Toà án, Thẩm phán nước ta không ngừng được nâng cao cả về số lượng và chất lượng, kết quả xét xử của họ đã góp phần quan trọng vào việc bảo vệ pháp luật xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Tuy nhiên, so với yêu cầu của công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước, đặc biệt là đứng trước các yêu cầu, thách thức trong bối cảnh cải cách công tác tư pháp hiện nay thì Thẩm phán của chúng ta còn nhiều hạn chế, bất cập, tình trạng “thiếu” về số lượng và “yếu” về chất lượng vẫn còn xảy ra ở nhiều nơi, nhiều lúc. Một bộ phận Thẩm phán suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, yếu kém về năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ đã làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Vì vậy, xây dựng ý thức pháp luật của Thẩm phán trong sạch, vững mạnh, có đủ bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp và năng lực công tác đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay là rất quan trọng, đòi hỏi Đảng, Nhà nước và ngành Toà án phải tăng cường chỉ đạo và thực hiện quyết liệt hơn nữa nhiệm vụ quan trọng này để thực hiện nhiệm vụ xây dựng nhà nước Việt Nam pháp quyền xã hội chủ nghĩa [5].
Thẩm phán có nghiệp vụ cao tức là phải nắm vững quy định của pháp luật, có tư duy và khả năng vận dụng pháp luật để giải quyết các vấn đề pháp lý đặt ra. Luận văn: Đội ngũ Thẩm phán Tòa án nhân dân tại tỉnh Thanh Hóa.
- Ý thức pháp luật của TP thể hiện ở một số khía cạnh:
Thẩm phán phải có trình độ chuyên môn, năng lực xét xử (phải hiểu biết pháp luật sâu);
Đây là yêu cầu cơ bản, quan trọng của cán bộ trong mọi thời kỳ. Có trình độ chuyên môn tốt mới bảo đảm cho cán bộ hoàn thành công việc được giao. Đối với người TP cũng vậy, đòi hỏi ở họ phải có trình độ theo quy định như tốt nghiệp một trường Đại học Luật, có thời gian công tác trong lĩnh vực pháp luật, được đào tạo qua lớp Nghiệp vụ xét xử. Bên cạnh trình độ theo bằng cấp người Thẩm phán còn có kinh nghiệp thực tiễn, họ luôn trau dồi, học hỏi nâng cao trình độ để đáp ứng nhiệm vụ chuyên môn và đấu tranh trên mặt trận phòng chống tội phạm. Khi tham dự một phiên tòa chúng ta sẽ thấy rằng phải có trình độ, năng lực cùng với sự hiểu biết về xã hội thì người TP mới điều khiển và thực hiện nhiệm vụ đại diện Tòa án quyết định một công dân có tội hay không có tội, thực hiện nhiệm vụ giải thích pháp luật, tuyên truyền pháp luật đến nhân dân. Trình độ của cán bộ được đánh giá là tốt khi đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ đó.
Thẩm phán phải có phẩm chất đạo đức tốt: TP sẽ đem kiến thức pháp luật của mình áp dụng vào công tác xét xử. Công tác xét xử của TP là một hình thức tuyên truyền, phổ biến, giải thích pháp luật đến với người dân. Nếu TP có đạo đức tốt họ sẽ truyền tải các thông tin pháp luật, kiến thức pháp luật một cách tích cực để hạn chế tiêu cực của xã hội; Khi giải quyết bất cứ vụ án nào Thẩm phán xem xét, đánh giá chứng cứ toàn diện, công tâm, áp dụng đúng quy định pháp luật để giải quyết vụ án. Nếu TP có đạo đức không tốt họ sẽ truyền tải thông tin trái với quy định Nhà nước, bóp méo sự thật, trong quá trình giải quyết, xét xử vụ án nhũng nhiễu, hách dịch, thậm chí vì lòng tham, vì một chút lợi lộc cho bản thân mà có thể làm sai lệch hồ sơ, thiên vị, làm theo yêu cầu có lợi cho bên đương sự “quan tâm” đến mình…
Thẩm phán phải có kinh nghiệm thực tiễn: Là thời gian công tác trong lĩnh vực pháp luật; thời gian bổ nhiệm TP. Thời gian công tác trong lĩnh vực pháp luật, đặc biệt thời gian bổ nhiệm Thẩm phán, bổ nhiệm nhiều nhiệm kỳ thì sẽ tích lũy nhiều kinh nghiệm thực tiễn và trình độ chuyên môn được củng cố, áp dụng pháp luật càng chuẩn mực, hạn chế vi phạm tố tụng, hạn chế án hủy, án sửa. Thẩm phán có số án hủy, sửa vượt quá chỉ tiêu quy định của ngành Tòa án, thậm chí có án oan, sai, bỏ lọt tội phạm là những Thẩm phán có thể hạn chế về trình độ chuyên môn, có thể hạn chế năng lực, có thể chưa có kinh nghiệm thực tế, có thể do không có phẩm chất đạo đức, lương tâm nghề nghiệp… Tất cả yếu tố đó tạo nên ý thức pháp luật của TP.
Thẩm phán phải là người có ý thức pháp luật cao hơn ý thức pháp luật của những người khác mà ý thức pháp luật đó cần theo kịp những thành tựu khoa học pháp lý, thực tiễn pháp lý và văn hóa pháp lý, Thẩm phán có nghiệp vụ cao tức là họ phải nắm rõ các qui định của pháp luật, có tư duy pháp lý sâu sắc, có thói quen và phương pháp khoa học để giải quyết các vấn đề pháp lý đặt ra có như vậy họ mới có thể độc lập khi xét xử và chỉ tuân theo pháp luật (Tăng cường tính độc lập của Thẩm phán trong hoạt động xét xử) để đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ ngày càng cao trong tình hình mới, Thẩm phán phải ra sức học tập, nâng cao trình độ, không bao giờ được thoả mãn với những kiến thức, kinh nghiệm đang có, phải ham học tập, ham tìm hiểu để mở rộng tầm hiểu biết, thành thạo một việc và biết nhiều việc, không ngừng nâng cao năng lực công tác, hoàn thành nhiệm vụ với chất lượng và hiệu quả ngày càng cao. Người cán bộ của dân, vì dân cũng phải luôn chú trọng thực hiện cần, kiệm, liêm, chính; nghiêm túc thực hành tự phê bình và phê bình, có như vậy mới khiến mình không ngừng tiến bộ, không chỉ xứng đáng là người đầy tớ trung thành của nhân dân, mà còn là người đầy tớ giỏi của nhân dân, được nhân dân tin yêu, quý trọng.
1.5.4 Sự phối hợp của chính quyền, của người dân Luận văn: Đội ngũ Thẩm phán Tòa án nhân dân tại tỉnh Thanh Hóa.
Để đảm bảo cho quyền lực nhà nước trong đó có quyền tư pháp thực sự thuộc về nhân dân, pháp luật đã quy định cho nhân dân quyền giám sát các hoạt động của Tòa án thông qua các hình thức giám sát trực tiếp và gián tiếp.
Ngoài ra đối với các bị cáo, đương sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án cụ thể có thể giám sát hoạt động của Tòa án thông qua việc tham gia trực tiếp các phiên tòa. Những người này có quyền kháng cáo một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án khi thấy việc phán quyết trong các bản án, quyết định đó chưa thỏa đáng. Bên cạnh đó, mọi người dân cũng có thể thực hiện quyền giám sát của mình thông qua việc tố cáo những tiêu cực của cán bộ Tòa án, của Thẩm phán đến các cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Từ ngày 1/7/2017 Tòa án Nhân dân Tối cao thực hiện về việc công bố bản án, quyết định trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án theo tinh thần CCTP. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án thuộc trường hợp được công bố có hiệu lực pháp luật, bản án, quyết định đó phải được công bố trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án.Thực hiện công khai, minh bạch các hoạt động của Tòa án nói chung và công khai bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nói riêng là bước đột phá trong CCTP đồng thời tăng cường giám sát của xã hội, của nhân dân đối với nhiệm vụ thực hiện quyền tư pháp của Tòa án, công tác xét xử của Thẩm phán. Từ sự đóng góp, giám sát của nhân dân thông qua các bản án, quyết định mà Thẩm phán nhận ra thiếu sót, hạn chế từ đó mỗi Thẩm phán hoàn thiện bản thân, tự giác học tập, trau dồi chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trước mắt và lâu dài trong hoạt động xét xử.
Sự phối hợp của chính quyền, của người dân đã góp phần đảm bảo được tính chất dân chủ trong hoạt động xét xử của Tòa án, đồng thời đảm bảo mọi hoạt động của Tòa án luôn nằm dưới sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ từ phía nhân dân. Thông qua hoạt động giám sát của các chủ thể khác nhau mà Tòa án thấy được những tồn tại, yếu kém của mình và có hướng khắc phục kịp thời, hạn chế sự tiêu cực trong hoạt động xét xử, đảm bảo tính hợp pháp, công bằng trong mọi phán quyết của Tòa án, đáp ứng kịp thời những yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của nhân dân [19, T.51].
- Kết luân Chương 1
Trong phạm vi của luận văn, nội dung Chương 1 đề cập đến những vấn đề lý luận cơ bản nhất về Thẩm phán trong hệ thống các chức danh tư pháp gắn với chiến lược cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 08- NQ/TW và Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ chính trị về chiến lược CCTP đến năm 2020 góp phần thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng và bảo vệ nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, chủ động hội nhập quốc tế. Luận văn: Đội ngũ Thẩm phán Tòa án nhân dân tại tỉnh Thanh Hóa.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực trạng đội ngũ Thẩm phán ở tỉnh Thanh Hóa

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Giải pháp chất lượng đội ngũ thẩm phán ở Thanh Hóa