Luận văn: Thực trạng chất lượng chương trình du lịch Cty lữ hành

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng chất lượng chương trình du lịch Cty lữ hành hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng về chất lượng Chương trình du lịch nội địa của các công ty lữ hành tại tỉnh Đồng Tháp dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Khái quát về ngành du lịch tỉnh Đồng Tháp

2.1.1. Các điều kiện phát triển du lịch

2.1.1.1.Điều kiện tự nhiên, văn hóa  ã hội

Những điều kiện tự nhiên, văn hóa xã hội của tỉnh đã tạo nên nguồn tài nguyên du lịch vô cùng phong phú và đặc sắc cho du lịch Đồng Tháp.

Tính đến năm 2022, Đồng Tháp nằm trong khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long với diện tích 3.378,8 km2 với số dân là 1.680.300 người (theo số liệu của Tổng cục thống kê). Phía Ðông giáp tỉnh Tiền Giang và Long An, phía Tây giáp tỉnh An Giang, phía Nam giáp tỉnh Vĩnh Long và Cần Thơ, phía Bắc giáp với Vương quốc Campuchia (Ðồng Tháp có 52 km đường biên giáp với Campuchia với 4 cửa khẩu) thích hợp tổ chức các Chương trình du lịch liên tuyến trong vùng hoặc kết nối với nước bạn Campuchia. Có khí hậu ôn hoà, nhiệt độ trung bình 27oC và là tỉnh có 2/3 diện tích tự nhiên thuộc vùng trũng Đồng Tháp Mười tạo nên cảnh quan và hệ sinh thái có nhiều nét hoang sơ đặc sắc hấp dẫn với những cánh rừng tràm bạt ngàn, những đầm sen, đầm bông súng, những vườn cò, sân chim thuộc hệ sinh thái đất ngập nước tiêu biểu với những điểm du lịch sinh thái nổi tiếng như: Đồng sen Tháp Mười, khu du lịch sinh thái Gáo Giồng đặc biệt là Vườn Quốc gia Tràm Chim được xem như một Đồng Tháp Mười thu nhỏ được công nhận là khu Ramsa thứ tư của Việt Nam với diện tích trên 7.580 ha. Đây là một trong 8 khu vực bảo tồn các loài chim quan trọng nhất của Việt Nam với hơn 100 loài động vật có xương sống, 40 loài cá và 147 loài chim nước. Đặc biệt, nhiều loài chim quý hiếm trên thế giới như sếu đầu đỏ, te vàng, bồ n ng, gà đãy Java… liên tục xuất hiện nhiều ở Vườn Quốc gia Tràm Chim. Với cảnh quan và tài nguyên sinh thái đặc thù này tạo điều kiện hình thành nên những sản phẩm như du lịch khám phá, du lịch trải nghiệm, du lịch sinh thái. Luận văn: Thực trạng chất lượng chương trình du lịch Cty lữ hành.

Tỉnh có hệ thống sông, ngòi, kênh, rạch chằng chịt với hai nhánh sông lớn chảy qua là sông Tiền và sông Hậu (hai nhánh của sông Mê Kông khi đổ vào Việt Nam). Trong đó sông Tiền chảy qua địa phận Đồng Tháp với chiều dài 132km. Dọc theo hai bên bờ sông Tiền là hệ thống kênh rạch dọc ngang tạo nên một lưu vực phù sa màu mỡ hình thành nên những cánh đồng lúa bạt ngàn, những vườn trái cây đặc sản như xoài Cao Lãnh, quýt hồng Lai Vung, bưởi Phong Hòa, nhãn Châu Thành, hoa Sa Đéc,….Tạo điều kiện cho những Chương trình du lịch sinh thái miệt vườn. Ngoài ra cảnh quan ven sông với những bãi đất bồi, những cồn nôi có cảnh quan mát mẻ trong lành như cồn Bình Thạnh, cồn Tiên, bãi tắm An Hòa,… là điều kiện để xây dựng những khu nghỉ dưỡng nhằm phục vụ du khách đến lưu trú khi đến bằng đường bộ hoặc các du thuyền liên vận từ Thành phố Hồ Chí Minh đến PhnmPênh (Cam Pu Chia) đi qua Đồng Tháp.

Thiên nhiên phong phú cùng với quá trình khôn hoang cũng đã tạo cho Đồng Tháp có nét ẩm thực độc đáo với các món ăn đặc sản như: Cá lóc nướng trui cuốn lá sen non, chuột đồng quay lu, cơm gạo huyết rồng, lẩu cá linh bông điên điển, bánh xèo Mỹ Trà,… Ngoài cách thưởng thức tại chỗ, du khách còn có thể đem về làm quà tặng với các món đặc sản như nem Lai Vung, quýt hồng Lai Vung, xoài Cao Lãnh, hủ tiếu Sa Đéc, bánh phồng Sa Giang, khô cá Tam Nông, mận Hòa An, trà tim sen, Hồng Sen tửu,…

Hơn nữa, Đồng Tháp còn có những nét văn hóa phong phú và đặc sắc với nhiều tôn giáo như Cao Đài, Phật Giáo Hòa Hảo, Phật giáo và Công giáo. Là tỉnh có 12 di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia và 49 di tích cấp tỉnh với nhiều điểm du lịch văn hóa nôi tiếng như: Khu di tích mộ cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, khu di tích Xẻo Quýt, khu di tích Gò Tháp, chùa Kiến An Cung, nhà cô Huỳnh Thủy Lê,…trong đó khu di tích Gò Tháp được chính phủ xếp hạng là di tích khảo cổ và kiến trúc nghệ thuật quốc gia đặc biệt. Bên cạnh đó, Đồng Tháp còn có những làng nghề truyền thống như làng chiếu Định Yên, làng hoa kiểng Sa Đéc, làng quýt hồng Lai Vung và những ngành sản xuất nông nghiệp mang dấu ấn địa phương phù hợp để phục vụ nhu cầu tham quan du lịch của khách du lịch như nghề nuôi cá bè ven sông Tiền, trồng lúa nước, trồng ấu, trồng sen, làm nem,… Cùng với đó, Đồng Tháp còn có những lễ hội hấp dẫn tổ chức thường niên như: lễ hội hoa Sa Đéc, lễ hội Sinh Vật Cảnh, hội đình Định Yên, lễ giỗng bà Đỗ Công Tường, lễ hội Dinh ông Đốc Binh Vàng, lễ giỗ cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, lễ hội Gò Tháp,…với nhiều hoạt động lễ hội đặc sắc, thu hút đông đảo du khách trong và ngoài tỉnh tham gia.

Cùng với tính tình người dân Đồng tháp đậm chất bưng biền cần cù, hiền lành, cởi mở và giàu lòng mến khách, tài nguyên du lịch văn hóa và tài nguyên du lịch sinh thái là cơ sở cho Đồng Tháp tạo nên những nét riêng trong việc xây dựng và thực hiện nên những Chương trình du lịch hấp dẫn, chất lượng và đặc thù.

2.1.1.2. Cơ sở hạ tầng về cơ sở vật chất kỹ thuật Luận văn: Thực trạng chất lượng chương trình du lịch Cty lữ hành.

Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch là điều kiện để hiện thực hóa nguồn tài nguyên du lịch phong phú thành những sản phẩm du lịch phục vụ nhu cầu của du khách.

Tại Đồng Tháp các cơ sở hạ tầng đang được đầu tư mạnh mẽ và từng bước hoàn thiện trong đó có các tuyến đường quốc lộ đi qua như: QL30, QL54, QL80, đường N1, đường N2 cùng với hệ thống tỉnh lộ thông suốt trong toàn tỉnh. Nếu như trước kia Đồng Tháp được xem như một địa phương “khuất nẻo” với vị trí địa lý bị cách trở thì nay với các cơ sở hạ tầng được đầu tư nâng cấp đã dần khắc phục những cách trở đó. Hai công trình xây dựng cầu Cao Lãnh bắc qua sông Tiền nối liền phía Bắc và phía Nam Đồng Tháp, cầu Vàm Cống bắc qua sông Hậu nối liền Đồng Tháp và An Giang giúp Đồng Tháp thông thương bằng đường bộ đến các tỉnh phía Nam đồng bằng Sông Cửu Long tạo điều kiện liên tuyến với các địa danh du lịch nổi tiếng của vùng này như Châu Đốc, Hà Tiên, Phú Quốc; Các tuyến đường N1, đường N2 thuộc dự án đường Trường Sơn giúp Đồng Tháp nối liền với các tỉnh phía Đông trước kia bị cách trở bởi vùng Đồng Tháp Mười hoang sơ; đặc biệt là có đường biên giới giáp với Campuchia dài 52 km qua hai huyện Hồng Ngự và Tân Hồng, với 4 cửa khẩu (Thông Bình, Dinh Bà, Mỹ Cân và Thường Phước) trong đó có 2 cửa khẩu quốc tế là Thường Phước và Dinh Bà cùng tuyến đường 28km nối liền cửa khẩu quốc tế Dinh Bà đến đường Xuyên Á do công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Xây lắp và Vật liệu Xây dựng Đồng Tháp thi công trên đất bạn Campuchia, tạo điều kiện thông thương kinh tế giữa hai nước góp phần hình thành nên những chương trình nối liền Đồng Tháp với các điểm du lịch trọng điểm bên phía xứ sở chùa tháp như Phn mpênh, Siêm Riệp, thành phố biển Sihanoukville,…

Hơn nữa, với những tuyến giao thông đường thủy chằng chịt tạo bởi hệ thống sông Tiền, sông Hậu, các nhánh sông nhỏ tự nhiên và hệ thống kênh đào nối liền sông Tiền đổ ra sông Vàm Cỏ Tây (Long An) xuyên qua vùng trũng Đồng Tháp Mười tạo điều kiện xây dựng những Chương trình du lịch đường thủy nối ba tỉnh vùng Đồng Tháp Mười và ngược dòng Mekong lên tận Phn mpênh (Campuchia).

Hệ thống khách sạn phục vụ du lịch cũng ngày càng được cải thiện nâng cấp qua các năm cả về chất lượng và số lượng. Đến tháng 6 năm 2023 đã có 2 khách sạn 3 sao, 3 khách sạn 2 sao, 27 khách sạn 1 sao cùng nhiều cơ sở đạt chuẩn với 1387 buồng phục vụ khách lưu trú. Luận văn: Thực trạng chất lượng chương trình du lịch Cty lữ hành.

Bảng 2.1. Hệ thống khách sạn tại Đồng Tháp giai đoạn 2018 – 2022

Thêm vào đó các dự án do các thành phần kinh tế trong và ngoài tỉnh đang thực hiện thủ tục đầu tư để chuẩn bị triển khai, gồm: Dự án nâng cấp khu di tích Xẻo Quýt; Dự án nâng cấp khu di tích cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc;

Dự án Khu Văn hóa Lúa nước ở xã Long Hưng A, huyện Lấp Vò do Công ty TNHH MTV Hai Lúa đầu tư 150 tỷ đồng; Dự án du lịch sinh thái ở Khu di tích Gò Tháp, do Công ty cổ phần Đầu tư -Thương mại – Du lịch Đồng Tháp Mười đầu tư 20 tỷ đồng; Dự án Khu du lịch nghỉ dưỡng ven sông Tiền ở phường 6, thành phố Cao Lãnh, do Công ty cổ phần Đầu tư Hưng Hưng Thịnh đầu tư 666 tỷ đồng; Dự án Công viên bảo tồn sinh thái Gáo Giồng, huyện Cao Lãnh, do Công ty cổ phần Thiên nhiên Đồng Tháp đầu tư 400 tỷ đồng; Dự án Khu du lịch sinh thái phù sa Cửu Long ở Cồn An Hòa, xã An Nhơn, huyện Châu Thành, do Công ty cổ phần đầu tư Cần Giờ đầu tư 30 tỷ đồng. Các dự án này hoàn thành sẽ góp phần đa dạng hóa sản phẩm du lịch, tạo ra sản phẩm đặc trưng cho du lịch Đồng Tháp, đưa ngành du lịch tỉnh thật sự trở thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh[26].

Tuy nhiên, hiện tại hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch của Đồng Tháp còn chưa thực sự hoàn thiện. Các tuyến đường giao thông chưa đồng bộ như tuyến đường N2, tuyến đường đến Gáo Giồng, tuyến phà Miễu Trắng nối Cao Lãnh – Sa Đéc,… cũng là thách thức cho các đơn vị tổ chức lữ hành trong việc kết nối các tuyến điểm du lịch ở giai đoạn hiện tại. Thêm vào đó hệ thống khách sạn chủ yếu tập trung ở hai trung tâm lớn của Đồng Tháp là thành phố Cao Lãnh và thành phố Sa Đéc mà thiếu những khách sạn có vị trí gần (phạm vi 3km) so với các điểm tham quan trọng điểm của tỉnh như vườn quốc gia Tràm Chim, khu di tích Gò Tháp. Điều này làm cho các chương trình tham quan phải liên tục quay về nơi lưu trú gây mất thời gian và chi phí cho du khách.

2.1.1.3. Điều kiện về nhân lực du lịch

Nhân lực phục vụ trong ngành du lịch của tỉnh Đồng Tháp ngày càng nâng cao về số lượng và chất lượng. Nếu như năm 2018 tổng số lao động trực tiếp trong ngành du lịch của tỉnh là 376 thì đã tăng lên 507 lao động năm 2019, 565 lao động năm 2020, 669 lao động năm 2021. Đội ngũ HDV đạt chuẩn ngày càng tăng nếu như năm 2019 toàn tỉnh chỉ có 8 người có thẻ HDV (2 thẻ HDV quốc tế và 6 thẻ HDV nội địa) thì  năm 2021 đã là 56 HDV (9 thẻ HDV quốc tế và 47 thẻ HDV nội địa). Theo Dự án Phát triển nguồn Nhân lực du lịch Việt Nam (HRDT Project) do Liên minh Châu Âu tài trợ từ năm 2013 đến 2019, Đồng Tháp đã có 19 đào tạo viên của các tiêu chuẩn nghề VTOS như: lễ tân, nghiệp vụ buồng, nghiệp vụ điều hành tour, nghiệp vụ hướng dẫn du lịch,…và 31 hồ sơ học viên đã được đào tạo và cấp chứng chỉ.[51]

Bên cạnh đó nguồn nhân lực trình độ cao từ các cán bộ quản lý du lịch của Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Đồng Tháp; Trung tâm Xúc tiến Thương mại, Du lịch và Đầu tư Đồng Tháp cũng như các giảng viên thuộc khoa Văn hóa – Du lịch trường Đại học Đồng Tháp đang là những nhân tố góp phần tích cực thay đổi diện mạo và tăng cường đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cho ngành du lịch tỉnh nhà.

Tuy nhiên, một bộ phận phục vụ tại các cơ sở tư nhân chưa qua đào tạo và cộng đồng địa phương cũng chưa được truyền đạt kiến thức về lợi ích và cách thức ứng xử phù hợp với khách du lịch khi đến địa phương là một trở lực cho việc phát triển bền vững.

2.1.1.4.Chính sách phát triển du  ịch của địa phương Luận văn: Thực trạng chất lượng chương trình du lịch Cty lữ hành.

Đồng Tháp là tỉnh có chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh gọi tắt là PCI (Provincial Competitiveness Index) đứng thứ hai cả nước vào năm 2023 về chất lượng điều hành kinh tế và xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho việc phát triển doanh nghiệp. Nghị quyết Đại hội IX Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp trong nhiệm kỳ 2019 – 2024 khẳng định “Quan tâm đầu tư hạ tầng thương mại – dịch vụ, tạo điều kiện cho du lịch phát triển nhanh sau năm 2024”.

Trong kế hoạch số 51/KH-UBND của Ủy ban Nhân dân tỉnh Đồng Tháp ban hành ngày 27 tháng 4 năm 2021 về vấn đề phát triển du lịch tỉnh Đồng Tháp đến năm 2024 có nêu về vấn đề đầu tư cho ngành du lịch tỉnh với ba nguồn vốn chủ yếu là:

  • Thứ nhất là nguồn vốn của Trung ương chủ yếu hỗ trợ cho việc đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật tại các khu, điểm du lịch trọng yếu của tỉnh từ Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa, du lịch. Tổng kinh phí ước tính là 180,219 tỷ đồng, trong đó nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa là 92,809 tỷ đồng và nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia về du lịch là 87,41 tỷ đồng.
  • Thứ hai là nguồn vốn ngân sách của tỉnh chủ yếu đầu tư nâng cấp hệ thống giao thông; hệ thống điện, cấp nước, thoát nước; tồn tạo cảnh quan, duy tu các công trình hiện có; bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử – văn hóa và đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch ở các khu du lịch trọng điểm; công tác quảng bá xúc tiến du lịch; công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực. Tổng kinh phí ước tính là 273,868 tỷ đồng, trong đó vốn đầu tư nâng cấp hệ thống giao thông là 222,384 tỷ đồng; vốn đầu tư hệ thống điện, cấp nước, thoát nước là 6,3 tỷ đồng; vốn đầu tư duy tu các công trình, bảo tồn, tồn tạo và phát huy giá trị các di tích lịch sử – văn hóa và cơ sở vật chất kỹ thuật là 39,94 tỷ đồng; vốn hỗ trợ công tác quảng bá xúc tiến du lịch là 4,078 tỷ đồng; vốn hỗ trợ công tác đào tạo nguồn nhân lực là 1,166 tỷ đồng.
  • Thứ ba là nguồn vốn xã hội hóa với tổng kinh phí ước tính là 1.405,947 tỷ đồng. Trong đó, nguồn vốn xã hội hóa một số hạng mục công trình ở Khu di tích Gò Tháp và Vườn Quốc gia Tràm chim là 69,142 tỷ đồng; nguồn vốn xã hội hóa về công tác đào tạo nguồn nhân lực (Doanh nghiệp du lịch đóng góp) là 0,805 tỷ đồng; nguồn vốn đầu tư phát triển du lịch của các dự án là 1.336 tỷ đồng [26].

Đây là nguồn động lực lớn để du lịch Đồng Tháp dần khẳng định vị trí của mình trên bản đồ du lịch Việt Nam.

Hơn thế nữa việc xúc tiến triển khai đề án Phát triển du lịch Đồng Tháp giai đoạn 2024-2025 cũng tạo điều kiện cho du lịch Đồng Tháp tạo nên nét riêng đặc sắc cho điểm đến Đồng Tháp so với các tỉnh khu vực đồng bằng Sông Cửu Long đang trong bối cảnh trùng lắp về sản phẩm du lịch, góp phần nâng cao vị thế đặc biệt của du lịch Đồng Tháp từ đó thu hút ngày càng nhiều du khách biết và đến với du lịch Đồng Tháp [27].

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Bảng Giá Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Du Lịch

2.1.2. Đặc điểm chương trình du lịch tại tỉnh Đồng Tháp Luận văn: Thực trạng chất lượng chương trình du lịch Cty lữ hành.

Đồng Tháp là một điểm đến về du lịch chưa thực sự nổi tiếng, khách du lịch đến du lịch tại đây chủ yếu là tự đến bằng phương tiện cá nhân hoặc phương tiện giao thông công cộng, mà không mua chương trình du lịch từ các đơn vị lữ hành. Tuy nhiên, gần đây thông qua những chuyến du lịch miễn phí hoặc giảm giá một phần do tỉnh Đồng Tháp tổ chức dành cho các hãng lữ hành để khảo sát, lựa chọn, xây dựng chương trình du lịch cũng như các nhà báo để viết bài tuyên truyền về du lịch Đồng Tháp thường gọi là “Famtrip” (familiarization trip) đã giúp quảng bá điểm đến Đồng Tháp rất tốt. Hiện nay, đã có rất nhiều đơn vị lữ hành ngoài tỉnh đặc biệt là các đơn vị lữ hành tại thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội ký kết hợp tác với các đơn vị lữ hành trong tỉnh Đồng Tháp. Về mặt tổ chức các Chương trình du lịch tại Đồng Tháp gồm các hình thức chủ yếu là: Khách du lịch tự đến bằng phương tiện vận chuyển cá nhân hoặc công cộng và mua Chương trình du lịch trọn gói hoặc một phần của các đơn vị lữ hành tại tỉnh Đồng Tháp; khách du lịch thông qua các đơn vị lữ hành ngoài tỉnh mua Chương trình du lịch trọn gói hoặc một phần của các đơn vị lữ hành tại tỉnh Đồng Tháp. Trong đó nhiều nhất là hình thức khách du lịch thông qua các đơn vị lữ hành ngoài tỉnh mua một phần Chương trình du lịch của các đơn vị lữ hành tại tỉnh Đồng Tháp (thường không bao gồm xe vận chuyển đến và tham quan trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp) tiếp đó là hình thức khách tự đến bằng phương tiện vận chuyển cá nhân và mua một phần Chương trình du lịch của các đơn vị lữ hành tại tỉnh Đồng Tháp.

Các Chương trình du lịch tại tỉnh Đồng Tháp hiện nay chủ yếu là Chương trình du lịch độc lập, rất ít nối tuyến qua các điểm du lịch ở các tỉnh trong khu vực như An Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ, Kiên Giang hay Campuchia. Nguyên nhân của điều này chính vì vị trí của tỉnh Đồng Tháp có thế “ngõ cục” bị cách trở với trở với các tỉnh phía Nam bởi sông Tiền và Sông Hậu, các cửa khẩu với biên giới Campuchia lại chưa thông xe nên rất cách trở về mặt giao thông. Tuy nhiên, trong tương lai khi hai công trình cầu Cao Lãnh và Vàm Cống đang thi công được hoàn thành sẽ thay đổi được thực trạng này.

Các Chương trình du lịch được tổ chức qua các điểm thuộc phần lãnh thổ phía Nam sông Tiền trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp hầu hết đều có sử dụng phương tiện vận chuyển đường thủy như bơi xuồng, đi tắc ráng,…

Các Chương trình du lịch tại tỉnh Đồng Tháp đa phần là ngắn ngày, thường không quá 3 ngày vì số lượng điểm tham quan tại tỉnh Đồng Tháp tương đối ít. Hơn nữa, các dịch vụ phụ trợ, các điểm vui chơi giải trí về đêm dành cho du khách hầu như không có nên đã không đủ sức thu hút khách du lịch ở lại lâu ngày tại tỉnh Đồng Tháp.

Các Chương trình du lịch tại tỉnh Đồng Tháp phần lớn thuộc loại hình du lịch sinh thái gắn liền với các điểm du lịch như vườn quốc gia Tràm Chim, khu du lịch sinh thái Gáo Giồng, đồng sen Tháp Mười. Bên cạnh đó, còn có các Chương trình du lịch thuộc loại hình văn hóa gắn với các điểm du lịch như khu di tích khảo cô và kiến trúc nghệ thuật quốc gia cấp đặc biệt Gò Tháp, di tích căn cứ cách mạng Xẻo Quýt, khu di tích mộ cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, chùa Kiến An Cung, nhà cô Huỳnh Thủy Lê,..cùng các kỳ lễ hội như lễ hội hoa Sa Đéc, lễ hội Sinh Vật Cảnh, hội đình Định Yên, lễ giỗng bà Đỗ Công Tường, lễ hội Dinh ông Đốc Binh Vàng, lễ giỗ cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, lễ hội Gò Tháp. Ngoài ra các sản phẩm du lịch trải nghiệm, thưởng ngoạn gắn liền với đời sống sinh hoạt và canh tác nông nghiệp như hái sen, hái ấu, trải nghiệm đập lúa trời, giăng lưới, đặt lờ, đặt trúm, tham quan vườn hoa Sa Đéc, vườn quýt hồng Lai Vung,… Luận văn: Thực trạng chất lượng chương trình du lịch Cty lữ hành.

2.1.3. Kết quả kinh doanh du lịch của Tỉnh giai đoạn 2018 – 2022

Tốc độ tăng trưởng trong tổng lượng khách tăng dần qua các năm cụ thể là năm 2019 tổng lượng khách tăng 9,5% so với cùng kỳ năm trước; năm 2020 tổng lượng khách tăng 10,7% so với cùng kỳ năm trước; năm 2021 tổng lượng khách tăng 11,1% so với cùng kỳ năm trước; năm 2022 tổng lượng khách tăng 18,2% so với cùng kỳ năm trước cho thấy du lịch Đồng Tháp đang trên đà phát triển ngày càng thu hút đông đảo khách du lịch đến tham quan Đồng Tháp đặc biệt là các kỳ lễ hội tại khu di tích Gò Tháp và các Chương trình du lịch mới như trải nghiệm mùa nước nôi, tham quan làng hoa Sa Đéc, chương trình trải nghiệm mỗi ngày một nghề (trồng ấu, hái sen, làm nem, trồng hoa,…).

Tuy nhiên, tỉ trọng khách du lịch so với tổng lượng khách đến Đồng Tháp còn chiếm tỉ lệ thấp cụ thể là năm 2018 đạt 239.000 lượng khách chiếm 21,2% tổng lượng khách, đến năm 2022 đạt 436.309 lượng khách chiếm 25,3% tổng lượng khách. Nguyên nhân do là các Chương trình du lịch chưa được triển khai đến các đối tượng khách hàng có nhu cầu, du khách đến đồng tháp chỉ là các hoạt động đơn lẻ, chủ yếu là loại hình hình tâm linh qua các kỳ lễ hội.

 Bảng 2.2. Lượt khách đến thăm Đồng Tháp từ năm 2018 – 2022

Kết quả phân tích cho thấy lượt khách đến Đồng Tháp tăng đều qua các năm: nếu như năm 2018 tổng lượt khách đến Đồng Tháp được ghi nhận là 1.130.000 lượt khách thì đến năm 2022 đã đạt 1.726.176 lượt khách. Trong đó tỷ lệ khách quốc tế so với khách nội địa chiếm tỷ lệ rất thấp trong tổng lượt khách trong những năm vừa qua. Qua đó cho thấy thị trường khách nội địa chiếm tỷ lệ rất lớn trong tổng lượt khách du lịch đến với Đồng Tháp. Đây là nguồn khách chủ yếu của du lịch Đồng Tháp trong thời gian hiện tại và tương lai gần.

Biểu đồ 2.2.Doanh thu từ dịch vụ du lịch của tỉnh Đồng Tháp qua 5 năm

Mặc dầu tổng lượt khách du lịch qua các công ty lữ hành chiếm tỷ trọng thấp trong tổng lượt khách đến Đồng Tháp nhưng doanh thu từ dịch vụ du lịch không những tăng qua các năm mà còn chiếm tỷ trọng khá cao trong tổng doanh thu cụ thể như sau: Năm 2018 đạt 57,180 tỷ đồng chiếm 75% tổng doanh thu; năm 2019 đạt 74,778 tỷ đồng chiếm 63,4% tổng doanh thu; năm 2020 đạt 110,982 tỷ đồng chiếm 68,5% tổng doanh thu; năm 2021 đạt 133,794 tỷ đồng chiếm 67,6% tổng doanh thu; năm 2022 đạt 135,26 tỷ đồng chiếm 55,6% tổng doanh thu. Từ đó, cho thấy việc tăng hiệu quả kinh tế từ ngành du lịch thì hoạt động lữ hành đóng vai trò chủ đạo. Luận văn: Thực trạng chất lượng chương trình du lịch Cty lữ hành.

2.1.4. Một số tuyến du lịch điển hình trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp

  • Khu Di tích Xẻo Quýt – Khu Di tích Nguyễn Sinh Sắc – Bảo tàng tỉnh Đồng Tháp (01 ngày);
  • Nhà c Huỳnh Thủy Lê – Làng hoa kiểng Sa Đéc – Khu Di tích Xẻo Quýt (01 ngày);
  • Khu Di tích Xẻo Quýt – Khu Di tích Gò Tháp (01 ngày);
  • Thành phố Sa Đéc – Khu Di tích Xẻo Quýt (02 ngày, 01 đêm);
  • Khu Di tích Nguyễn Sinh Sắc – Khu du lịch sinh thái Gáo Giồng (01 ngày);
  • Thành phố Sa Đéc – Khu Di tích Xẻo Quýt – Khu Di tích Nguyễn Sinh Sắc – Khu du lịch sinh thái Gáo Giồng (02 ngày, 01 đêm);
  • Thành phố Sa Đéc – Khu Di tích Xẻo Quýt – Khu du lịch sinh thái Gáo Giồng – Vườn Quốc gia Tràm Chim (03 ngày, 02 đêm);
  • Khu Di tích Xẻo Quýt – Vườn Quốc gia Tràm Chim (02 ngày, 01 đêm).

2.2. Khảo sát chất lượng chương trình du lịch nội địa của các công ty lữ hành tại tỉnh Đồng Tháp Luận văn: Thực trạng chất lượng chương trình du lịch Cty lữ hành.

2.2.1. Mô tả quá trình và phương pháp nghiên cứu

2.2.1.1. Nghiên cứu sơ bộ

Bước nghiên cứu này được thực hiện thông qua kỹ thuật phỏng vấn sâu với mục đích khám phá, điều chỉnh, bổ sung các yếu tố tác động đến chất lượng Chương trình du lịch. Đối tượng được phỏng vấn là những người đã từng sử dụng Chương trình du lịch của các công ty du lịch trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp, các nhà quản lý kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp và các nhà nghiên cứu giảng dạy trong lĩnh vực du lịch. Cuộc phỏng vấn dựa trên một dàn bài thảo luận đã được định trước để khám phá và điều chỉnh các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng Chương trình du lịch. Sau đó tiến hành phỏng vấn thực tế đối với 20 khách hàng đã từng sử dụng Chương trình du lịch của các công ty du lịch trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp. Từ đó, điều chỉnh và hoàn thiện thang đo đưa vào phỏng vấn chính thức.

Thông qua lược khảo các tài liệu nghiên cứu và tham vấn chuyên gia cùng những kết quả của nghiên cứu sơ bộ, nghiên cứu đã xác định 50 tiêu chí được cho là có ảnh hưởng đến chất lượng Chương trình du lịch nội địa. Mô hình dùng để đo lường chất lượng Chương trình du lịch nội địa gồm 8 thành phần chính gồm: TKCT, HDV, Dịch vụ ăn uống, Dịch vụ lưu trú, Dịch vụ vận chuyển, điểm tham quan, cơ sở hạ tầng và dịch vụ phụ trợ.

Phần đầu là nhận định của khách du lịch về những phát biểu liên quan đến các thuộc tính chất lượng dịch vụ làm cơ sở để đánh giá chất lượng Chương trình du lịch nội địa với thang đo likert 5 điểm được quy ước như sau: (1)Hoàn toàn không đồng ý, (2)Không đồng ý, (3)Bình thường, (4)Đồng ý,(5)Hoàn toàn đồng ý.

Phần hai là đánh giá của khách du lịch về mức độ quan trọng của các thuộc tính chất lượng dịch vụ làm cơ sở để phân tích theo mô hình IPA từ đó đề xuất những ý kiến hữu ích cho nhà quản lý du lịch với thang đo likert được quy ước như sau:(1)Rất không quan trọng, (2)Không quan trọng, (3)Bình thường, (4) Quan trọng, (5)Rất quan trọng.

Như vậy thang đo chất lượng Chương trình du lịch nội địa gồm 10 thành phần với 50 biến quan sát được mã hóa như sau:

Bảng 2.3. Mã hóa thang đo các thành phần của biến độc lập

Tương tự, các biến quan sát của “Chất lượng Chương trình du lịch nội địa” cũng được mã hóa nhằm tạo thuận lợi cho quá trình xử lý số liệu.

Bảng 2.4. Mã hóa thang đo các thành phần của các biến phụ thuộc

2.2.1.2. Thông tin mẫu nghiên cứu

  1. Cỡ mẫu Luận văn: Thực trạng chất lượng chương trình du lịch Cty lữ hành.

Theo Hair và cộng sự, để sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA), kích thước mẫu tốt khi tỉ lệ quan sát/biến đo lường là 5:1 [15, tr.398]. Theo lý thuyết, nghiên cứu sử dụng 50 biến đo lường, do đó số mẫu tối thiểu cần lấy là n = 50 x 5 = 250.

Do quy mô tổng thể đủ lớn (trên 1,6 triệu) nên đề tài áp dụng công thức tính cỡ mẫu: n = z2  p.qe 2

Trong đó:

  • n là cỡ mẫu
  • z là giá trị phân phối tương ứng với độ tin cậy lựa chọn
  • p là ước tính tỷ lệ phần trăm trong tập hợp
  • q = 1 – p
  • e là sai số cho phép

Với độ tin cậy là 95% (giá trị z tương ứng là 1,96), ước tính % tập hợp p = 70% và sai số chấp nhận 5% thì quy mô mẫu dự kiến:

n = 1,962 0,7.(10 , 05 -02 ,7   = 323

Như vậy, cỡ mẫu đủ để nghiên cứu trong trường hợp này dao động từ 250 đến 323. Để đảm bảo quy mô mẫu, nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn trực tiếp theo cách lấy mẫu ngẫu nhiên thuận tiện bằng bảng câu hỏi với 400 du khách nội địa sau khi sử dụng Chương trình du lịch tại tỉnh Đồng Tháp do các công ty tại tỉnh Đồng Tháp tổ chức. Thời gian lấy mẫu là từ tháng 6 đến tháng 9 năm 2023. Sau khi sàng lọc loại bỏ các phiếu trả lời không đạt yêu cầu, dữ liệu phân tích còn lại 311 quan sát. Như vậy, số liệu được thu thập đảm bảo thực hiện tốt mô hình nghiên cứu.

  1. Cơ cấu mẫu

Giới tính

Trong tổng số 311 mẫu quan sát có 145 nam chiếm tỷ 53,38% và 166 nữ chiếm 46,62%. Tỷ lệ nam nữ tương đối đồng đều kh ng chênh lệnh quá cao. Trên thực tế đa phần khách du lịch qua các đơn vị lữ hành khi về Đồng Tháp đều là những nhóm gia đình, thế nên sự chênh lệch giới tính trong mẫu nghiên cứu là không nhiều.

Biểu đồ 2.3.Giới tính của đáp viên

Độ tuổi

Bảng 2.5.Độ tuổi của đáp viên Luận văn: Thực trạng chất lượng chương trình du lịch Cty lữ hành.

Các Chương trình du lịch tại Đồng Tháp đa phần là những chương trình trải nghiệm thực tế, du lịch sinh thái, khám phá thiên nhiên. Đây là những loại hình du lịch phù hợp với mẫu người năng động, có sức khỏe, thích khám phá.

Qua thống kê cho thấy du khách chủ yếu ở độ tuổi từ 25-50 tuổi, trong đó độ tu i từ 25-< 35 chiếm tỷ trọng cao nhất. Các độ tuổi khác chiếm tỷ trọng thấp.

Thu nhập

Bảng 2.6.Thu nhập hàng tháng của đáp viên

Trong tổng số 311 mẫu quan sát có 49 du khách có thu nhập <3 triệu đồng chiếm 15,8%; 138 du khách có thu nhập từ 3 đến <5 triệu đồng chiếm 44,4%; 55 du khách có thu nhập từ 5 đến <10 triệu đồng chiếm 17,7%; 69 du khách có thu nhập từ lớn hơn 10 triệu đồng chiếm 22,2%.

Nơi cư trú và kinh nghiệm tiêu dùng

Các mẫu nghiên cứu được thu thập từ những thị trường nguồn hướng đến của du lịch Đồng Tháp. Các mẫu nghiên cứu là khách du lịch nội địa phần lớn đến từ thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội. Nơi cư trú của khách du lịch trong mẫu nghiên cứu này có cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật hiện đại, mức sống tương đối cao so với tại Đồng Tháp. Có sự khác biệt nhiều về điều kiện tự nhiên giữa nơi cư trú đối với điều kiện tự nhiên của Đồng Tháp, đặc biệt là những những khách du lịch đến từ miền Bắc. Khách du  lịch trong mẫu nghiên cứu này có thường có nhiều kinh nghiệm tiêu dùng du lịch ở tiêu chuẩn cao, từng trải nghiệm các Chương trình du lịch ở các trung tâm du lịch lớn trong nước. Hơn nữa, các Chương trình du lịch đến Đồng Tháp phần lớn đều liên tuyến từ thành phố Hồ Chí Minh nên đa phần khách du lịch có sự so sánh về chất lượng dịch vụ của Đồng Tháp với thành phố Hồ Chí Minh.           

2.2.1.3. Kiểm định thang đo bằng hệ sẽ tin cậy Cronbach A pha

  1. Thang đo biến độc lập

Hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha dùng để loại các biến không phù hợp vì các biến rác này có thể tạo ra các nhân tố giả khi phân tích EFA. Hệ số Cronbach’Alpha phải đạt từ 0.6 trở lên là sử dụng được.và các biến quan sát có hệ số tương quan giữa biến – t ng trong bảng kết quả < 0.3 sẽ bị loại bỏ. Luận văn: Thực trạng chất lượng chương trình du lịch Cty lữ hành.

Khi đưa 50 biến vào kiểm định độ tin cậy của thang đo, kết quả được trình bày ở bảng 2.7.dưới đây:

Bảng 2.7. Kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo các biến độc lập

Như vậy, hệ số cronbach’s alpha của các nhân tố luôn nằm trong khoảng từ 0,727 – 0,835 (>0,6) chứng tỏ thang đo lường là tốt và đạt tiêu chuẩn. Sau khi loại bỏ 03 biến Dịch vụ lưu trú 9, Dịch vụ vận chuyển 1 và Dịch vụ vận chuyển 2 do có hệ số tương quan biến tổng <0,3 thì 47 biến còn lại thuộc 8 nhân tố đều đạt yêu cầu phục vụ cho phân tích nhân tố khám phá ở bước tiếp theo.

  1. Thang đo biến phụ thuộc

Với 8 biến quan sát được đưa vào nghiên cứu, cronbach’s alpha = 0,729 là đạt yêu cầu và có 02 biến bị loại khỏi mô hình do không đạt yêu cầu về hệ số tương quan biến tổng nên chỉ còn 06 biến được tiếp tục sử dụng trong phân tích ở bước kế tiếp.

Bảng 2.8.Kết quả đánh giá độ tin cậ  của thang đo biến phụ thuộc

2.2.1.4. Phân tích nhân tố khám phá EFA

Để xác định số lượng các nhân tố trong thang đo, phân tích nhân tố khám phá được yêu cầu cho cả các biến độc lập lẫn phụ thuộc.

  1. Phân tích nhân tố khám phá với các biến độc ập

Sau khi phân tích nhân tố khám phá thu được kết quả như sau:

Bảng 2.9. Hệ số KMO và  artlett của các biến độc lập

Chỉ số KMO là chỉ số được dùng để xem xét sự thích hợp của phân tích nhân tố, KMO lớn có ý nghĩa phân tích nhân tố là thích hợp. Với KMO = 0,798 là đủ lớn (thỏa mãn điều kiện 0,5< KMO <1); kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê do Sig. = 0,000 (<0,05) nên các biến quan sát có mối tương quan với nhau trong t ng thể. Do vậy, có thể kết luận rằng kết quả phân tích nhân tố là thích hợp với tập dữ liệu.

Phân tích nhân tố với 47 biến quan sát được đưa vào phân tích theo tiêu chuẩn Eigenvalue >1 thì có 09 nhân tố được rút ra và giữ lại trong mô hình phân tích cho biết tổng biến thiên của chất lượng Chương trình du lịch nội địa của các công ty lữ hành tại tỉnh Đồng Tháp được giải thích bởi 09 nhân tố trên.

Bảng 2.10. Tổng phương sai được giải thích ( biến độc lập)

Với việc loại bỏ 6 biến quan sát không đạt yêu cầu do có hệ số tải nhân tố (factor loading ≤ 0,5). Dựa theo kết quả ma trận nhân tố đã xoay (Rotated component matrix) cho thấy các biến ở bảng 2.10 đều có hệ số tải nhân tố nằm trong khoảng từ 0,504 – 0,882 nên 41 biến này đủ điều kiện đưa vào mô hình phân tích.

Bảng 2.71. Ma trận xoa  nhân tố Luận văn: Thực trạng chất lượng chương trình du lịch Cty lữ hành.

Như vậy, các biến quan sát được đưa vào phân tích EFA được rút gọn thành 09 nhân tố. Cụ thể, nhân tố 1 gồm 9 biến TKCT2, TKCT3, TKCT4, TKCT5, TKCT6, TKCT7, TKCT8 và CSHT1, CSHT2; nhân tố 2 gồm 7 biến từ HDV1 dến HDV7; nhân tố 3 gồm 5 biến từ Dịch vụ vận chuyển 3 đến Dịch vụ vận chuyển 6 và Dịch vụ lưu trú 8; nhân tố 4 gồm 4 biến từ DTQ1 đến DTQ4, nhân tố 5 gồm 4 biến từ Dịch vụ ăn uống 5 đến Dịch vụ ăn uống 8, nhân tố 6 gồm 4 biến từ Dịch vụ lưu trú 4 đến Dịch vụ lưu trú 7; nhân tố 7 gồm 3 biến DVPT1 đến DVPT3; nhân tố 8 gồm 3 biến từ Dịch vụ lưu trú 1 đến Dịch vụ lưu trú 3; nhân tố 9 gồm 2 biến Dịch vụ ăn uống 1, Dịch vụ ăn uống 2.

  1. Phân tích nhân tố khám phá với biến phụ thuộc “Chất lượng Chương trình du lịch nội địa của các công ty lữ hành tại tỉnh Đồng Tháp”

Bảng 2.12. Hệ số KMO và  artlett biến phụ thuộc

Kết quả phân tích EFA cho thấy hệ số KMO = 0,717 (>0,5), kiểm định Barllet có sig. = 0,000, phương sai trích> 50%, chứng tỏ các biến có tương quan với nhau và chỉ hình thành 1 nhân tố duy nhất. Như vậy sử dụng phân tích EFA là phù hợp và biến chất lượng Chương trình du lịch chỉ là 1 biến duy nhất hay thang đo biến phụ thuộc chỉ là thang đo đơn hướng.

Bảng 2.83. Tổng phương sai được giải thích (biến phụ thuộc)

Tổng phương sai trích = 66,091% (>50%), như vậy thang đo đạt yêu cầu. Hơn nữa, dựa vào bảng 2.14 cho thấy hệ số tải nhân tố luôn >0,5. Như vậy, phân tích nhân tố từ tập hợp 6 biến quan sát, không có nhân tố nào thay đổi.

Bảng 2.14. Ma trận thành phần

  1. Đặt lại tên các nhân tô và hiệu chỉnh mô hình

Với kết quả phân tích EFA ở trên, tác giả tiến hành đặt tên cho các biến quan sát thuộc 09 nhóm nhân tố như sau:

  • X1 – “Cung đường và TKCT” gồm 09 biến: TKCT2, TKCT3, TKCT4, TKCT5, TKCT6, TKCT7, TKCT8, CSHT1 và CSHT2.
  • X2 – “HDV” gồm 07 biến: từ HDV1 đến HDV7 Luận văn: Thực trạng chất lượng chương trình du lịch Cty lữ hành.
  • X3 – “Vị trí lưu trú và Dịch vụ vận chuyển” gồm 05 biến: từ Dịch vụ vận chuyển3 đến Dịch vụ vận chuyển6 và Dịch vụ lưu trú8
  • X4 – “Điểm tham quan” gồm 03 biến: từ DTQ1, DTQ2 và DTQ3
  • X5 – “DVAU” gồm 04 biến: từ Dịch vụ ăn uống5 đến Dịch vụ ăn uống8
  • X6 – “Cơ sở kỹ thuật và dịch vụ tại nơi lưu trú” gồm 04 biến: từ Dịch vụ lưu trú4 đến Dịch vụ lưu trú7
  • X7 – “Dịch vụ phụ trợ” gồm 03 biến: DVPT1, DVPT2 và DVPT3
  • X8 – “Điều kiện cơ bản tại nơi lưu trú” gồm 03 biến: Dịch vụ lưu trú1, Dịch vụ lưu trú2 và Dịch vụ lưu trú3
  • X9 – “Món ăn” gồm 02 biến: Dịch vụ ăn uống2 và Dịch vụ ăn uống3

Hiệu chỉnh mô hình nghiên cứu

Dựa vào kết quả phân tích EFA, mô hình nghiên cứu được hiệu chỉnh

2.2.2. Kết quả nghiên cứu

Trong các đánh giá về các thuộc tính chất lượng dịch vụ trong nhóm cung đường và TKCT, đa phần du khách đều đánh giá đồng ý với chất lượng các thuộc tính ở mức mức 4 (đồng ý) thể hiện chất lượng dịch vụ ở mức tốt; phần đông còn lại đánh giá là trung bình – mức 3. Điều này thể hiện nhóm các yếu tố thuộc về cung đường là thiết kế chương trình được du khách đánh giá cao do các công ty lữ hành tại Đồng Tháp đã có các bước nghiên cứu thật kỹ tài nguyên du lịch, cung đường để xây dựng nên những Chương trình du lịch. Hơn nữa các các cung tuyến điểm du lịch trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp đã sớm hình thành và phát triển từ khi Công ty Du lịch Đồng Tháp hình thành từ năm 1982.

Tuy nhiên, sự đánh giá thấp của du khách về cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch của Đồng Tháp vẫn còn tồn nhiều do hệ thống cầu đường của tỉnh đa phần đang xuống cấp và trong quá trình xây dựng mới thể hiện qua số du khách đánh giá chất lượng ở mức thấp (không đồng ý) chiếm tỷ lệ cao ở các biến như CSHT1 (các tuyến đường bảo đảm cho các xe du lịch tiếp cận điểm tham quan) có 44 đánh giá chiếm 14,1%, CSHT2 (các tuyến đường đảm bảo cho phương tiện vận chuyển êm ái) có 76 đánh giá chiếm 24,4%. Phần lớn các chương trình du lịch trong tỉnh Đồng Tháp là ngắn ngày (1 đến 2 ngày) nên lịch trình tương đối gấp rút thế nên một số điểm du khách đến tham quan chưa kịp thưởng ngoạn hết giá trị bản địa thì đã phải di chuyển đến điểm khác điều đó làm cho du khách chưa thực sự đánh giá tốt đối với các thuộc tính TKCT3 và TKCT8 (độ dài thời gian tham quan tại các điểm tham quan phù hợp và thực hiện chương trình đúng như thiết kế ban đầu) đều có 45 đánh giá chiếm 14,5%.

Số du khách đánh giá chất lượng ở mức tuyệt đối (hoàn toàn đồng ý) chiếm tỷ lệ không cao; số đánh giá chất lượng ở mức thấp nhất (hoàn toàn không đồng ý) chiếm tỉ lệ rất thấp, ngoài 3 đánh giá ở biến CSHT2 không có biến quan sát nào bị du khách đánh giá ở mức thấp nhất trong nhóm các thuộc tính này. Mặc dầu đánh giá chung chất lượng dịch vụ của nhóm thuộc tính này ở mức tốt, tuy nhiên đây lại là tính hiệu chưa mấy khả quan so thời gian hình thành và tốc độ phát triển của ngành du lịch Đồng Tháp. Thế nên, các doanh nghiệp lữ hành cần chủ động xây dựng thiết kế lại các Chương trình du lịch phù hợp với nhu cầu du khách.

Hướng dẫn viên đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tổ chức phục vụ du khách trong hoạt đông lữ hành, với nhiều chính sách hỗ trợ ưu tiên phát triển đội ngũ HDV từ người dân bản địa nên đa phần HDV thông thạo văn hóa lịch sử địa phương nên những thuộc tính chất lượng dịch vụ trong nhóm HDV được phần lớn du khách đánh giá đồng ý với chất lượng các thuộc tính ở mức 4 (đồng ý) thể hiện chất lượng dịch vụ ở mức tốt. Cho thấy chất lượng HDV của Đồng Tháp cơ bản đáp ứng được nhu cầu của du khách. Luận văn: Thực trạng chất lượng chương trình du lịch Cty lữ hành.

Mặc dù, số du khách đánh giá chất lượng ở mức thấp (không đồng ý) chiếm số ít, nhiều nhất là ở biến HDV2 với 31 đánh giá không đồng ý về HDV phát âm chuẩn dễ hiểu. Điều này phản ảnh thực tế do đa phần HDV là người bản xứ thường xuyên dùng nhiều tiếng địa phương, hơn nữa họ chưa có nhiều cơ hội được học tập và tìm hiểu về đặc điểm văn hóa của các nguồn khách từ những vùng miền khác. Ngoài ra, nhóm các thuộc tính này vẫn không được sự hài lòng tuyệt đối của du khách do một số không ít hướng dẫn viên trong tỉnh chưa được đào tạo và đào tạo lại một cách kỹ lưỡng và chuyên nghiêp. Số du khách đánh giá chất lượng ở mức tuyệt đối (hoàn toàn đồng ý) chiếm tỷ lệ tương đối thấp, điều này thể hiện sự hạn chế của HDV du lịch tại tỉnh Đồng Tháp trong các chương trình du lịch vẫn còn tồn tại đáng chú ý. Tuy nhiên, kh ng có biến quan sát nào bị du khách đánh giá ở mức thấp nhất (hoàn toàn kh ng đồng ý) trong nhóm các thuộc tính này. Đánh giá chung chất lượng dịch vụ của nhóm thuộc tính HDV ở mức tốt nhưng vẫn chưa thực sự phát huy được hết thế mạnh địa phương và thông qua các chương trình đào tao hỗ trợ HDV bản xứ của chính quyền cũng như các công ty trên đia bàn tỉnh Đồng Tháp.

2.2.2.3. Vị trí lưu trú và dịch vụ vận chuyển

Nhóm các yếu tố này thuộc về các dịch vụ tạo điều kiện cho du khách tiếp cận và tăng thời gian tham quan trải nghiệm tại các điểm du lịch.

Trong các đánh giá thuộc nhóm vị trí lưu trú và Dịch vụ vận chuyển, đa phần du khách đều đánh giá đồng ý với chất lượng các thuộc tính ở mức 4 (đồng ý) thể hiện chất lượng dịch vụ ở mức tốt điều này v  cùng có ý nghĩa đáng khích lệ cho du lịch Đồng Tháp bởi đa phần các khách sạn, nhà nghĩ tại Đồng Tháp thuộc tiêu chu n xếp hạng thấp. Thế nhưng đúng như tình hình thực trạng về dịch vụ vận chuyển và lưu trú tại tỉnh được du khách đánh giá chất lượng ở mức thấp (không đồng ý) chiếm tỷ lệ cao ở các biến như Dịch vụ vận chuyển 6 (người điều khiển phương tiện vui vẻ) có 80 đánh giá chiếm 25,7% cho thấy đội ngũ tài xế (lái xe) và tài công (lái tàu) còn chưa có thái độ hòa nhã vui vẻ với du khách làm ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng dịch vụ. Dịch vụ lưu trú 8 (cơ sở lưu trú có vị trí tiện lợi trong quá trình tham quan) có 65 đánh giá chiếm 20,9% điều này thể hiện thực tế các Chương trình du lịch tại Đồng Tháp có rất ít cơ sở lưu trú trong phạm vi gần điểm tham quan, đa phần du khách phải quay lại trung tâm Tỉnh để lưu trú. Dịch vụ vận chuyển 3 và Dịch vụ vận chuyển 5 (Có các thiết bị bảo đảm an toàn hoạt động tốt và người điều khiển phương tiện có kinh nghiệm, đảm bảo an toàn) đều có đánh giá thấp (không đồng ý) ở số lượng đông lần lượt là 51 và 53 đánh giá. Nhìn chung trong nhóm các thuộc tính này có khá nhiều đánh chất lượng ở mức thấp, thậm chí còn có cả những đánh giá mức hoàn toàn không đồng ý ở hai biến biến quan sát là Dịch vụ lưu trú 8 và Dịch vụ vận chuyển 6. Điều này thể hiện thực chất vị trí của các cơ sở lưu trú. Luận văn: Thực trạng chất lượng chương trình du lịch Cty lữ hành.

2.2.2.4. Dịch vụ ăn uống

Đồng Tháp là một địa phương có văn hóa ẩm thực khá phong phú và đa dạng, thế nên đó cũng là một trong thế mạnh của ngành du lịch Đồng Tháp với các loại đặc sản mùa nước nôi, ẩm thực đồng quê, ẩm thực Sen…

Trong các đánh giá về về các thuộc tính chất lượng dịch vụ trong nhóm Dịch vụ ăn uống, đa phần du khách đều đánh giá đồng ý với chất lượng các thuộc tính ở mức 4 (đồng ý) thể hiện chất lượng dịch vụ ở mức tốt. Điều này thể hiện rõ thế mạnh của ẩm thực Đồng Tháp có sự hấp dẫn và đáp ứng được nhu cầu ẩm thực.

Thế nhưng vẫn có những đánh giá chất lượng dịch vụ ăn uống ở mức thấp (không đồng ý) trong dó có Dịch vụ ăn uống 8, Dịch vụ ăn uống 7 và Dịch vụ ăn uống 5 lần lượt có 70, 59 và 49 lượt đánh giá là không đồng ý; biến quan sát Dịch vụ ăn uống 8 (Nhân viên phục vụ ăn uống chu đáo, kịp thời) có đến 3 đánh giá ở mức thấp nhất – hoàn toàn không đồng ý. Điều này thể hiện rằng: mặc dù ẩm thực Đồng Tháp phong phú đa dạng, hấp dẫn nhưng khi chuyển thành sản phẩm du lịch lại chưa phát huy được hết lợi thế bởi những hạn chế về trình độ và phong cách phục vụ của nhân viên tại các nhà hàng và khu ẩm thực của tỉnh Đồng Tháp.

2.2.2.5. Cơ sở kỹ thuật và dịch vụ tại nơi lưu trú

Các đánh giá thuộc về nhóm cơ sở kỹ thuật và dịch vụ tại nơi lưu trú, đa phần du khách đều đánh giá đồng ý với chất lượng các thuộc tính ở mức mức 4 (đồng ý) thể hiện chất lượng dịch vụ ở mức tốt. Điều này có thoạt nhìn có vẽ ngược lại so với thực trạng cơ sở vật chất kỹ thuật của và dịch vụ lưu trú tại các điểm tham quan du lịch, tuy nhiên đó lại là đánh giá thể hiện du khách đến Đồng Tháp đã định hình sẵn cảm nhận một nơi có cơ sở kyc thuật và dịch vụ không cao nên họ dễ dàng chấp nhận và đánh giá tốt các dịch vụ lưu trú tại đây dẫu nó nằm ở mức tiêu chuẩn chất lượng trung bình.

Biểu đồ 2.8. Số lượng các đánh giá của những biến quan sát  thuộc nhóm cơ sở kỹ thuật và dịch vụ tại nơi lưu trú

Hơn thế, chất lượng thực chất của cơ sở kỹ thuật và dịch vụ lưu trú được thể hiện qua số du khách đánh giá chất lượng ở mức thấp (không đồng ý) chiếm tỷ lệ cao ở các biến như Dịch vụ lưu trú 7 (luôn có hệ thống wifi truy cập internet hoạt động tốt) có 70 đánh giá chiếm 22.5% cho thấy tại các cơ sở lưu trú còn thiếu và yếu trong việc trang bị hệ thống kết nối internet không dây cho du khách, Dịch vụ lưu trú 4 và Dịch vụ lưu trú 6 (Trang thiết bị trong phòng đáp ứng được các yêu cầu của du khách và Nhân viên phục vụ tại cơ sở lưu trú chu đáo) lần lượt có số đánh giá ở mức không đồng ý là 64 và 58 chiếm tỷ trọng khá cao là 22,5% và 18,6%. Nhìn chung trong nhóm các thuộc tính này có khá nhiều đánh giá chất lượng ở mức thấp, thậm chí còn có cả những đánh giá mức hoàn toàn không đồng ý ở biến quan sát là Dịch vụ lưu trú 7. Cho thấy cơ sở vật chất kỹ thuật cũng như dịch vụ tại nơi lưu trú của Đồng Tháp còn nhiều hạn chế cần được khắc phục để phục vụ du khách tốt hơn.

2.2.2.6. Dịch vụ phụ trợ Luận văn: Thực trạng chất lượng chương trình du lịch Cty lữ hành.

Nhìn chung trong đánh giá về các thuộc tính chất lượng dịch vụ trong nhóm dịch vụ phụ trợ, đa phần du khách đều đánh giá đồng ý với chất lượng các thuộc tính ở mức 4 (đồng ý) thể hiện chất lượng dịch vụ ở mức tốt. Tuy nhiên, phần đánh giá là trung bình và đánh giá chất lượng ở mức thấp (không đồng ý) chiếm tỷ tương đối lớn. Trong đó đáng chú ý là các dịch vụ mua sắm đặc sản và giải trí về đêm. Tại Đồng Tháp hầu như chưa có các hoạt động hoặc dịch vụ đặc trưng phục vụ du khách, điều này gây nhàm chán và buồn tẻ cho du khách khi lưu trú lại Đồng Tháp qua đêm. Phương hướng của làm dịch vụ là thỏa mãn nhu cầu của khách ngày càng tốt hơn, do đó sự tồn tại của các đánh giá không đồng ý về chất lượng các dịch vụ phụ trợ là công việc cần phải chú ý khắc phục.

Biểu đồ 2.9. Số lượng các đánh giá của những biến quan sát  thuộc nhóm dịch vụ phụ trợ

2.2.2.7. Điều kiện cơ bản tại nơi lưu trú

Nhóm yếu tố này thuộc về các thuộc tính tiêu chu n vệ sinh, an ninh và độ rộng thoáng mát tại các cơ sở lưu trú. Về mặt an ninh thì đảm bảo, tuy nhiên các yếu tố vệ sinh thì chưa đáp ứng tốt nhu cầu của du khách bởi mức độ chuyên nghiệp chưa cao. Trong các đánh giá về các thuộc tính chất lượng dịch vụ trong nhóm điều kiện cơ bản tại nơi lưu trú, đa phần du khách đều đánh giá đồng ý với chất lượng các thuộc tính ở mức 4 (đồng ý) thể hiện chất lượng dịch vụ ở mức tốt; đánh giá là trung bình – mức 3 cũng chiếm số đông tiếp theo; số du khách đánh giá chất lượng ở mức thấp (không đồng ý) chiếm tỷ lệ không cao ở các biến như Dịch vụ lưu trú 3 (phòng rộng rãi, thoáng mát) có 51 đánh giá chiếm 16,4% cho thấy cơ sở vật chất tại nơi lưu trú còn nhiều hạn chế làm ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng dịch vụ. Nhìn chung trong nhóm các thuộc tính này có nhiều đánh chất lượng ở mức tích cực đồng ý. Tuy nhiên, còn có những đánh giá mức hoàn toàn không đồng ý với biến quan sát là Dịch vụ lưu trú 1 thuộc về yếu tố vệ sinh với 5 đánh giá.

Biểu đồ 2.10. Số lượng các đánh giá của những biến quan sát  thuộc nhóm điều kiện cơ bản tại nơi lưu trú

2.2.2.8. Món ăn

Như đã trình bày ở phần 2.2.2.4. ẩm thực là một thế mạnh của du lịch Đồng Tháp với các món ăn đặc sản theo mùa, các đặc sản chế biến từ các sản vật địa phương như cá, chuột đông, rắn, lúa, sen,…cùng cách chế biến phong phú và đa dạng tạo nên điểm hấp dẫn du khách khi đến Đồng Tháp. Qua đó đa phần du khách đều đánh giá đồng ý với chất lượng các thuộc tính ở mức 4 (đồng ý) thể hiện chất lượng dịch vụ ở mức tốt; đánh giá là trung bình – mức 3 cũng chiếm số đông tiếp theo.

Biểu đồ 2.11. Số lượng các đánh giá của những biến quan sát thuộc nhóm món ăn

Số du khách đánh giá chất lượng ở mức thấp (không đồng ý) chiếm tỷ lệ không cao ở các biến như Dịch vụ ăn uống 3 (món ăn phù hợp với khẩu vị của anh/chị) có 36 đánh giá chiếm 11,6% cho thấy món ăn địa phương có khẩu vị không phù hợp với du khách. Lý do là đa phần du khách từ các vùng miền khác không quen với khẩu vị chế biến theo vị ngọt và cách chế biến dân dã của Đồng Tháp đặc biệt là du khách đến từ miền Bắc hay miền Trung. Nhìn chung, trong nhóm các thuộc tính này có nhiều đánh chất lượng ở mức tích cực đồng ý không có đánh giá mức hoàn toàn không đồng ý.

Thông qua các số liệu thống kê và các đánh giá trên hầu hết các thuộc tính của chất lượng Chương trình du lịch được khách du lịch đánh giá là tốt, cho thấy các Chương trình du lịch tại Đồng Tháp được đa phần du khách đánh giá cao. Tuy nhiên, điều mà các doanh nghiệp cần hướng tới là mức đánh giá “hoàn toàn đồng ý” về các thuộc tính chất lượng Chương trình du lịch. Hơn nữa, cần phải xác định các thuộc tính của chất lượng Chương trình du lịch thuộc về các vấn đề cần tiếp tục duy trì hay giảm sự đầu tư để đem lại hiệu quả kinh tế nhất cho các doanh nghiệp lữ hành. Điều đó sẽ được phân tích trong phần tiếp theo với kỹ thuật phân tích “mức độ quan trọng” và “chất lượng thực hiện” gọi tắt là IPA.

2.2.3. Phân tích IPA Luận văn: Thực trạng chất lượng chương trình du lịch Cty lữ hành.

Trong kỹ thuật này, các thuộc tính sẽ được xem xét trên phương diện đánh giá là “mức độ thực hiện” các thuộc tính chất lượng Chương trình du lịch mà du khách đã sử dụng dịch vụ và “mức độ quan trong” của các thuộc tính này trong cảm nghĩ của du khách. Các kết quả này sẽ được thể hiện lên đồ thị IPA. Từ những phân tích đó nghiên cứu sẽ đề xuất các giải pháp phù hợp để đạt kết quả tốt nhất trong việc nâng cao chất lượng Chương trình du lịch.   

Bảng 2.15. Sự khác nhau của tầm quan trọng và mức độ thực hiện của các thuộc tính trong đánh giá chất lượng Chương trình du lịch nội địa

Một khám phá trong việc nghiên cứu chất lượng Chương trình du lịch nội địa của các công ty lữ hành tại tỉnh Đồng Tháp là tất cả các thuộc tính chất lượng Chương trình du lịch đều nằm ở vùng B (xem hình 2.2) thuộc vùng các thuộc tính cần tiếp tục duy trì. Điều này cho thấy mặc dù tất cả các thuộc tính có ý nghĩa nghiên cứu đều được khách du lịch đánh giá tốt, tuy nhiên đó cũng là các thuộc tính được khách du lịch xem là mức quan trọng cao trong các thuộc tính về chất lượng Chương trình du lịch mà họ sử dụng. Thế nhưng, tất cả các giá trị khác biệt trung bình (MD) đều mang giá trị âm và đều có ý nghĩa do sig. = 0,000, nghĩa là tất cả các thuộc tính chất lượng Chương trình du lịch mà khách du lịch cảm nhận sau khi sử dụng dịch vụ đều kh ng đạt được mức độ đánh giá quan trọng của du khách. Điều này chỉ ra rằng các doanh nghiệp cần cải thiện hơn nữa để đạt được như yêu cầu của du khách đến với Đồng Tháp.

Các thuộc tính có giá trị khác biệt trung bình (MD) khoảng cách lớn bao gồm:

Dịch vụ ăn uống 8 với giá trị MD= -0,98, SD=0,894 thể hiện sự phục vụ của nhân viên nhà hàng chưa được chu đáo kịp thời đối với nhu cầu của du khách. Điều này thể hiện qua sự hồi đáp yêu cầu của du khách về ẩm thực, hơn nữa đa phần các nhân viên phục vụ ăn uống là những lao động thời vụ và nhàn rỗi tại các điểm du lịch, sự hiểu biết về văn hóa ẩm thực chưa được chuẩn mực để hướng dẫn và giải đáp thắc mắc của du khách trong quá trình thưởng thức món ăn đặc sản.

DVVC5 với giá trị MD=-0,95, SD=0,89 thể hiện sự đảp ứng về sự cảm nhận của người điều khiển phương vận chuyển có kinh nghiệm đảm bảo an toàn. Đến với Đồng Tháp ngoài việc du khách được vận chuyển bằng xe trên đường bộ như các địa phương khác, thì đa phần các tuyến tham quan tại Đồng Tháp đều vận chuyển bằng phương tiện đường thủy như xuồng, tắc ráng thậm chí bè tương đối thô sơ thế nên chưa tạo được sự an tâm cho du khách, hơn nữa người điều khiển phương tiện lại rất thành thạo việc sông nước đôi khi điều khiển phương tiện có phần vội vàng và không chú tâm tạo cảm giác không an tâm cho du khách. Điều này cần được chú ý và nâng cao nhận thức của đội ngũ tài xế, tài cộng đồng thời thường xuyên mở các lớp nghiệp vụ phục vụ vụ khách du lịch cho đối tượng lao động này. Luận văn: Thực trạng chất lượng chương trình du lịch Cty lữ hành.

Dịch vụ vận chuyển 6 với giá trị MD=-0,91, SD=0,935 đây là thuộc tính thể hiện sự vui vẽ hòa đồng của người điều khiển phương tiện đối với du khách chưa được niềm nở. Đa phần những tài xế, tài công tại các điểm tham quan xuất thân từ những nông dân chất phát hiền lành, đôi khi rụt rè trong giao tiếp nhất là đối với những người chưa qua các lớp đào tạo về giao tiếp trong du lịch, họ tự tạo một khoảng cách nhất định đối với du khách. Đây là lợi thế tạo hình ảnh chất phát, nhưng cũng là rào cản trong việc thể hiện nhu cầu và đánh giá của du khách đối với đội ngũ phục vụ du lịch.

Dịch vụ vận chuyển 3 với giá trị MD=-0,87; SD=0,846 đây là thuộc tính thể hiện các thiết bị đảm bảo an toàn trong quá trình vận chuyển hoạt động tốt. Do chưa được đầu tư theo quy chuẩn, mà các phương tiện vận chuyển khách du lịch tại Đồng Tháp đôi khi là tận dụng những phương tiện phục vụ trong sinh hoạt thường nhật nên các thiết bị bảo đảm an toàn đôi khi không được chú trọng. Các thiết bị gồm phao cứu sinh, hệ thống cảnh báo, báo động tai nạn,…

CSHT2 với giá trị MD=-0,86, SD=0,911 phản ảnh các tuyến đường đảm bảo cho phương tiện vận chuyển êm ái chưa đạt được nhu cầu của du khách. Các tuyến đường chính của tỉnh Đồng Tháp như quốc lộ 30, đường N2, tỉnh lộ 843, 844 thuộc các huyện phía bắc sông Tiền dẫn đến các điểm du lịch như khu di tích Gò Tháp, khu di tích Xẻo Quýt, Vườn quốc gia Tràm Chim đang xuống cấp trầm trọng xen lẫn những đoạn đường đang được đào bới sửa chữa nên gây rất nhiều khó khăn cho các phương tiện vận chuyển bằng đường bộ. Tuy nhiên các tuyến đường thuộc các huyện phía Nam s ng Tiền lại tương đối tốt như

Hình 2.2 . Phân tích mức độ quan trọng và mức độ thể hiện của các thuộc

2.2.4. Phân tích tương quan và xây dựng mô hình hồi quy

2.2.4.1. Phân tích tương quan

Sau khi đã xác định các nhân tố có phân phối chuẩn (xem Phụ lục 3), nghiên cứu sử dụng kiểm định Pearson để phân tích tương quan.

Bảng 2.16. Ma trận tương quan Pearson

Hệ số tương quan Pearson nói lên mức độ tương quan giữa các biến với nhau trong mô hình. Các biến độc lập từ X1 đến X9 có hệ số tương quan thấp <0,5. Điều này có thể suy ra hầu như không có khả năng dẫn tới hiện tượng đa cộng tuyến khi kiểm định mô hình hồi quy đa biến. Các hệ số tương quan đều có ý nghĩa thống kê vì Sig. <0,05. Nếu biến nào có Sig. >0,05 khi đối chiếu với biến Y thì phải loại bỏ biến nghiên cứu đó ra khỏi m  hình nhằm đảm bảo tính phù hợp của m  hình. Như vậy, xét thấy các nhân tố đều được đưa vào kiểm định và xây dựng mô hình hồi quy ở bước tiếp theo.

2.2.4.2. X y dựng mô hình hồi quy

Sau khi loại bỏ biến X4 khỏi mô hình (do sig. > 0,05) thì mô hình hồi quy hiện tại còn lại 08 nhân tố như kết quả ở bảng 2.17 dưới đây: Luận văn: Thực trạng chất lượng chương trình du lịch Cty lữ hành.

Bảng 2.17. Kết quả phân tích hồi quy

Kết quả phân tích hồi quy bằng phương pháp enter cho thấy hệ số R2 điều chỉnh = 0,857 có nghĩa là 85,7% sự biến thiên của chất lượng Chương trình du lịch nội địa của các công ty tại tỉnh Đồng Tháp được giải thích bởi các nhân tố đưa vào mô hình, còn lại là các nhân tố khác chưa được nghiên cứu.

Hệ số Dubin Watson của mô hình = 1,975 (gần bằng 2) chứng tỏ không có hiện tượng tự tương quan. Kiếm định F có Sig. =0,000 nên mô hình hồi quy là phù hợp và có ý nghĩa, các biến độc lập có ảnh hưởng đến biến phụ thuộc Y. Như vậy, mô hình lý thuyết phù hợp với thực tế.

Bảng 2.17 cho thấy có 8 nhân tố ảnh hưởng đến Y do sig. <0,01 và hầu như không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến vì hệ số phóng đại phương sai VIF <10.

Như vậy, hàm hồi quy ước lượng các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng Chương trình du lịch nội địa của các công ty lữ hành tại tỉnh Đồng Tháp bao gồm 08 biến (X1, X2, X3, X5, X6, X7, X8, X9) được thiết lập như sau:

Y= – 0,019 + 0,401X1 + 0,081X2 + 0,07X3 + 0,122X5 + 0,061X6 + 0,142X7 + 0,082X8 + 0,041X9

Thông qua kiểm định của mô hình cho thấy các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng Chương trình du lịch nội địa là: X1. Cung đường và TKCT; X2. HDV; X3. Vị trí lưu trú và Dịch vụ vận chuyển; X5. Dịch vụ ăn uống; X6. Cơ sở kỹ thuật và dịch vụ tại nơi lưu trú; X7. Dịch vụ phụ trợ; X8. Điều kiện cơ bản tại nơi lưu trú; X9. Món ăn. Do đó, để nâng cao chất lượng Chương trình du lịch nội địa cần tác động vào 08 nhân tố trên.

Biến tự do được ước lượng có hệ số âm là -0,019. Điều này có nghĩa là các nhân tố khách quan có tác động tiêu cực đến chất lượng của các chương trình du lịch nội địa tại Đồng Tháp. Nhiều khách hàng cho rằng du lịch Đồng Tháp là một điểm đến mới vì thế chất lượng t  chức, kinh nghiệm sẽ không cao ngay cả khi chưa tiêu dùng các sản phẩm du lịch.

Hệ số hồi quy của X1 là 0,401 có nghĩa là khi giữ cho tất cả các biến khác không đôi thì khi tăng thêm 1 điểm đánh giá của khách hàng đối với biến X1 thì chất lượng Chương trình du lịch nội địa tăng thêm 0,401 điểm. Như vậy, biến này có vai trò vô cùng quan trọng trong việc nâng cao chất lượng Chương trình du lịch nội địa. Một Chương trình du lịch có sự sắp xếp logic giữa các dịch vụ du lịch và các điểm tham quan sẽ góp phần đáng kể trong việc nâng cao chất lượng. Nếu việc TKCT không phù hợp với du khách cũng sẽ tác động vô cùng tiêu cực đến chất lượng Chương trình du lịch bởi biến này có ảnh hưởng lớn nhất đến chất lượng. Tuy nhiên, theo khảo sát thì hiện nay, giá trị trung bình X1 = 3,5606 (xem phụ lục 3) còn thấp nên cần tăng cường hơn nữa công tác hoàn thiện khâu TKCT. Luận văn: Thực trạng chất lượng chương trình du lịch Cty lữ hành.

Tương tự với biến X5 (dịch vụ ăn uống) có hệ số beta bằng 0,122 thế nên cứ mỗi đơn vị X5 tăng thêm (các biến khác trong mô hình không đôi) thì chất lượng Chương trình du lịch nội địa tăng thêm 0,122 điểm. Tuy nhiên, giá trị trung bình của X5 theo sự đánh giá của khác hàng chỉ đạt 3,4003 là tương đối thấp. Đây là một vấn đề hết sức đáng lo ngại khi  m thực được xác định là thế mạnh của tỉnh Đồng Tháp trong khi đánh giá của du khách chỉ trên mức trung bình.

Cũng như thế biến X7 (dịch vụ phụ trợ) là 0,142 cũng cho thấy các biến này cũng có ảnh hưởng không nhỏ trong việc nâng cao chất lượng chương trình du lịch. Nghĩa là Biến X7 (dịch vụ phụ trợ) tăng thêm 1 đơn vị (các biến khác không đổi) thì cũng làm tăng Y (chất lượng Chương trình du lịch) tăng thêm 0,142 điểm. Trong khi đó giá trị trung bình của biến X7 là 3,3805 là không cao so với tiềm năng của các dịch vụ phụ trợ và nhu cầu của khách du lịch tại Đồng Tháp. 05 biến khác trong mô hình cũng được giải thích tương tự.

2.3. Đánh giá chất lượng các Chương trình du lịch nội địa của Đồng Tháp

2.3.1. Tổng hợp kết quả đánh giá

2.3.1.1. Kết quả phân tích số liệu thứ cấp

Đồng Tháp là một tỉnh có nhiều điều kiện để hình thành và phát triển những sản phẩm du lịch đặc thù có tính hấp dẫn dựa trên lợi thế về vị trí địa lý; khí hậu; địa hình; hệ sinh thái; văn hóa bản địa về ăn ở, sản xuất và tín ngưỡng – lễ hội. Hai loại hình du lịch mang lại lợi thế khác biệt khi tổ chức trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp là du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng.

Điều kiện cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật trong giai đoạn hiện tại tuy chưa đáp ứng tốt nhu cầu của du khách về giao thông, hệ thống điện nước, cơ sở khách sạn,… Tuy nhiên, Đồng Tháp có các dự án đang được gấp rút triển khai và hoàn thành trên địa bàn tỉnh. Trong tương lai gần sẽ tạo động lực thay đổi tích cực diện mạo của ngành du lịch tỉnh giúp cho các công ty lữ hành mạnh dạng đa dạng hóa sản phẩm và mở rộng khai thác thị trường khách du lịch trên khắp cả nước.

Về nguồn nhân lực cho thấy Đồng Tháp đang trên đà phát triển rất nhanh nhờ các nguồn lực về nhân viên lành nghề đã qua đào tạo và đội ngũ cán bộ lãnh đạo có kinh nghiệm và trình độ chuyên môn cao.

Hơn nữa, điều kiện chính sách phát triển du lịch của địa phương thể hiện Đồng Tháp có môi trường kinh doanh thuận lợi từ sự ủng hộ kêu gọi đầu tư của chính quyền cùng các chính sách hỗ trợ phát triển du lịch trong đề án phát triển kinh tế chung của tỉnh đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn giúp thúc đẩy cả nền kinh tế.

Mặc dầu, số lượng khách và doanh thu đều tăng theo các năm tuy nhiên mức chi tiêu của du khách cho chuyến du lịch tại Đồng Tháp còn rất thấp nên cần tăng cường đa dạng hóa sản phẩm vừa phục vụ du khách vừa tăng nguồn thu cho nền kinh tế Tỉnh.

2.3.1.2. Kết quả phân tích số liệu sơ cấp  Luận văn: Thực trạng chất lượng chương trình du lịch Cty lữ hành.

Nghiên cứu khám phá ra rằng chất lượng chương trình du lịch nội địa tại tỉnh Đồng Tháp phụ thuộc vào 9 nhóm nhân tố bao gồm: X1.Cung đường và TKCT; X2.HDV; X3.Vị trí lưu trú và Dịch vụ vận chuyển; X4.Điểm tham quan; X5.DVAU; X6.Cơ sở kỹ thuật và dịch vụ tại nơi lưu trú; X7.Dịch vụ phụ trợ; X8.Điều kiện cơ bản tại nơi lưu trú; X9.Món ăn.

Từng nhóm yếu tố có giá trị đánh giá về chất lượng dịch vụ với thang đo giá trị liker 5 điểm cụ thể như sau:

Bảng 2.18 Giá trị trung bình của các biến có trong mô hình hồi quy

Trong các đánh giá của du khách thì nhóm nhân tố X2 (HDV) có được đánh giá ở mức cao nhất với 3,75 điểm. Sự chân thành mến khách và thấu hiểu địa bàn do đa phần HDV là người bản địa đã tạo cho du khách có ấn tượng tốt về dịch vụ HDV tại Đồng Tháp. Dẫu vậy, mức đánh giá này vẫn chưa đạt mức 4 điểm (Đồng ý) cho thấy hầu hết các thuộc tính của chất lượng Chương trình du lịch nội địa tại Đồng Tháp được du khách đánh giá chưa cao.

Nhóm nhân tố bị đánh giá thấp nhất là X7 (Dịch vụ phụ trợ) ở mức 3,38 điểm. Điều này thể hiện sát với tình hình thực tế tại Đồng Tháp, hầu như  không có những dịch vụ bổ sung như các hoạt động vui chơi tại các điểm du lịch, dịch vụ giải trí về đêm và các mặt hàng lưu niệm còn đơn điệu và giá tương đối cao.

Ngoài đánh giá cao nhất của nhóm nhân tố HDV thì nhóm nhân tố X9 (món ăn) cũng được đánh giá ở mức 3,67 điểm. Điều này cho thấy ngoài thế mạnh về HDV các món ăn đặc sản Đồng Tháp cũng là nhân tố tích cực giúp cải thiện chất lượng Chương trình du lịch. Tuy nhiên, mức đánh giá này cũng chưa thực sự cao cần chú ý đến nhân lực phục vụ để cải thiện dịch vụ đưa các ăn đặc sản Đồng Tháp trở thành sản phẩm du lịch độc đáo hấp dẫn.

Tất cả các nhóm nhân tố đều chưa đạt mức 4, nên đánh giá chung về chất lượng Chương trình du lịch cũng chỉ đạt 3,52 điểm. Điều này cho thấy chất lượng Chương trình du lịch chưa cao, chưa đáp ứng được nhu cầu của du khách.

Trong đó mức độ tác động của các nhóm nhân tố tới chất lượng chung của Chương trình du lịch được xác định theo hàm hồi quy cụ thể là: Y= -0,019 + 0,401X1 + 0,081X2 + 0,07X3 + 0,122X5 + 0,061X6 + 0,142X7 + 0,082X8 + 0,041X9

Khi đó Y là chất lượng Chương trình du lịch, phụ thuộc vào các nhóm nhân tố chất lượng dịch vụ theo tỉ lệ cụ thể. Trong đó các nhóm nhân tố tác động mạnh đến chất lượng Chương trình du lịch gồm: X1.Cung đường và TKCT chiếm trọng số 0,401; X7. Dịch vụ phụ trợ chiếm trọng số 0,142; X5.DVAU chiếm trọng số 0,122,… các mức ý nghĩa này đã được trình bày rõ trong phần 2.2.4.2 Luận văn: Thực trạng chất lượng chương trình du lịch Cty lữ hành.

Qua hàm hồi quy cho thấy chất lượng Chương trình du lịch được quyết định bởi 8 nhóm nhân tố trên. Trong đó, cung đường và thiết kế chương trình đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc đánh giá chất lượng thực hiện Chương trình du lịch của khách du lịch, nhân tố này ảnh hưởng đến hơn 40% quyết định đánh giá của họ. Ngoài ra, nhóm các nhân tố thuộc về dịch vụ phụ trợ (X7) và dịch vụ ăn uống (X5) cũng có tác động lớn đến mức độ đánh giá về chất lượng thực hiện Chương trình du lịch của du khách.

Mặt khác, từ kết quả phân tích IPA cho thấy tất cả các thuộc tính chất lượng Chương trình du lịch đều nằm ở vùng B thuộc vùng các thuộc tính cần tiếp tục duy trì. Nghĩa là các thuộc tính này được du khách đánh giá tương đối tốt và họ cũng xem các yếu tố này là quan trọng trong quá trình thực hiện Chương trình du lịch. Do đó, các doanh nghiệp lữ hành cần chủ động tiếp tục đầu tư duy trì chất lượng dịch vụ của 9 nhóm nhân tố đã nêu.

Hơn nữa, tất cả các thuộc tính chất lượng Chương trình du lịch mà khách du lịch cảm nhận sau khi sử dụng dịch vụ đều không đạt được mức độ đánh giá quan trọng của du khách. Điều này chỉ ra rằng các doanh nghiệp cần cải thiện hơn nữa để đạt được như yêu cầu của du khách đến với Đồng Tháp.

2.3.2. Những thành công và hạn chế của chất lượng chương trình du lịch nội địa của Đồng Tháp

Chất lượng các Chương trình du lịch tại Đồng Tháp có nhiều điểm mạnh như sự phong phú và đặc trưng về tài nguyên kết hợp với những dịch vụ tương ứng phù hợp để phát triển loại hình du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng. Cơ sở hạ tầng ngày càng được nâng cấp hoàn thiện dần đưa Đồng Tháp trở thành một điểm đến dễ tiếp cận và có nhiều tiện lợi. Nội tại nguồn nhân lực ngày càng phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của du khách. Trong đó, các lao động trực tiếp trong ngành du lịch như hướng dẫn viên, nhân viên khách sạn, nhân viên nhà hàng,…đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng Chương trình du lịch. Nhờ nhiều hoạt động quảng bá chính thức và không chính thức, các đơn vị lữ hành cũng như du khách khắp nơi ngày càng chú ý tới điểm đến Đồng Tháp như một hình ảnh đặc sắc đặc thù với biểu tượng sen hồng và sự khẳng định “Đồng Tháp – Thuần khiết như hồn sen”.

Từ những lợi thế và điểm mạnh trên tạo điều kiện rất lớn để các đơn vị lữ hành thuận tiện trong việc nghiên cứu, xây dựng và nâng cao chất lượng thực hiện các chương trình du lịch nội địa tại tỉnh Đồng Tháp. Tuy nhiên vẫn còn tồn tại những vướng mắc, yếu kém làm trì hoãn, ảnh hưởng xấu đến việc nâng cao chất lượng chương trình du lịch tại tỉnh Đồng Tháp.

Điểm yếu cơ bản của chương trình du lịch tại Đồng Tháp là sự liên tuyến với các điểm tham quan trong khu vực như An Giang, Kiên Giang. Thiếu sự gắn kết với các đối tác lữ hành tại các thị trường mục tiêu, do đó dẫn đến hai hệ quả khách không chủ động được trong việc đặt mua chương trình du lịch tại Đồng Tháp hoặc nếu khách đến du lịch Đồng Tháp cũng chỉ thông qua duy nhất một đơn vị lữ hành tại nơi khách cư trú. Luận văn: Thực trạng chất lượng chương trình du lịch Cty lữ hành.

Cơ sở lưu trú tại các điểm tham quan chưa đáp ứng được nhu cầu của du khách, các chương trình du lịch phải tốn rất nhiều thời gian và chi phí vận chuyển đưa khách về lại trung tâm thành phố để nghỉ qua đêm. Vì không có các cơ sở lưu trú đạt tiêu chuẩn tốt, trong pham vi gần (3km) so với điểm tham quan Các dịch vụ phụ trợ chưa có nhiều, không có nhiều điểm vui chơi nghĩ dưỡng để du khách có thể lưu lại dài ngày và tiêu dùng du lịch nhiều hơn. Các quà lưu niệm có nhiều khởi sắc về số lượng và chất lượng cũng như sự đặc thù.Tuy nhiên, những sản phẩm này chỉ được phân phối hạn hẹp bởi một vài đơn vị chủ yếu, giá thành tương đối cao so với quà lưu niệm cùng chủng loại ở các điểm tham quan khác.

Các cơ sở lưu trú chủ yếu ở tiêu chuẩn thấp từ 3 sao trở xuống, chưa đáp ứng được nhu cầu của đối tượng khách thượng lưu, cơ sở vật chất kỹ thuật chưa được trang bị đầy đủ theo quy chuẩn. Nên ảnh hưởng tiêu cực đến sự đánh giá chất lượng Chương trình du lịch của khách du lịch.

Đội ngũ HDV đông về số lượng, đáp ứng cơ bản về công việc hướng dẫn viên, tuy nhiên chưa thành thục về văn hóa bản địa để đáp ứng được nhu cầu thưởng ngọan và tìm hiểu về tự nhiên, văn hóa cũng như lịch sử địa phương của du khách. Hơn nữa, đội ngũ HDV vẫn chưa được tập hợp lại thành những câu lạc bộ hoặc tổ chức chung để trao đổi và học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau.

Dựa vào việc xác định các điểm mạnh, điểm yếu cũng như nguyên nhân dẫn đến các điểm mạnh điểm yếu đó sẽ giúp các công ty lữ hành đề ra những định hướng và giải pháp từng bước tháo gỡ và hoàn thiện nâng cao chất lượng thực hiện Chương trình du lịch.

Tiểu kết chương 2

Từ những khái quát về ngành du lịch tỉnh Đồng Tháp cho thấy du lịch Đồng Tháp có rất nhiều lợi thế để hình thành nên những sản phẩm du lịch đặc thù thu hút khách. Thực trạng phát triển du lịch Đồng Tháp đang ở giai đoạn đầu những với những tính hiệu khả quan về việc thu hút khách du lịch thông qua số liệu lượt khách và doanh thu của ngành du lịch tỉnh Đồng Tháp.

Dựa trên nguồn tài liệu thứ cấp và sơ cấp thông qua quá trình điều tra thực tế và kết quả phân tích thông qua các phương pháp kiểm định thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích tương quan và xây dựng mô hình hồi quy đã tìm ra được các nhóm nhân tố thực sự ảnh hưởng đến chất lượng Chương trình du lịch nội địa của các công ty lữ hành tại tỉnh Đồng Tháp (được tổ chức thực hiện trên địa bàn tỉnh) là: X1. Cung đường và TKCT; X2. HDV; X3. Vị trí lưu trú và Dịch vụ vận chuyển; X5. Dịch vụ ăn uống; X6. Cơ sở kỹ thuật và dịch vụ tại nơi lưu trú; X7. Dịch vụ phụ trợ; X8. Điều kiện cơ bản tại nơi lưu trú; X9. Món ăn. Do đó, để nâng cao chất lượng Chương trình du lịch nội địa cần tác động vào 08 nhân tố trên. Kết hợp với kết quả từ kỹ thuật IPA cho thấy tất cả các nhân tố đều nằm trong nhóm B thuộc các vấn đề cần tiếp tục duy trì,đề tài sẽ tiếp tục đưa ra những giải pháp và kiến nghị phù hợp để góp phần nâng cao chất lượng Chương trình du lịch nội địa tại tỉnh Đồng Tháp. Luận văn: Thực trạng chất lượng chương trình du lịch Cty lữ hành.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Luận văn: Giải pháp chất lượng chương trình du lịch Cty lữ hành

One thought on “Luận văn: Thực trạng chất lượng chương trình du lịch Cty lữ hành

  1. Pingback: Luận văn: Chất lượng chương trình du lịch nội địa của Cty lữ Hành

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464