Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực tiễn PL về thế chấp tài sản để đảm bảo vay vốn hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: thực tiễn áp dụng pháp luật về thế chấp tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ tại ngân hàng hua nan Commercial Bank và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1. Tổng quan về Ngân hàng Hua Nan Commercial Bank và hoạt động cho vay của Ngân hàng Hua Nan Commercial Bank, Ltd
3.1.1. Tổng quan về Ngân hàng Hua Nan
Ngân hàng Hua Nan (Hua Nan Bank, ngân hàng mẹ tại Đài Loan) được sáng lập vào năm 1919, bởi những nhà kinh doanh của Đài Loan, trong đó gồm ông Lin Hsiung Cheng và một số doanh nhân Hoa Kiều thành đạt đương thời. Ngân hàng được thành lập nhằm mục đích phục vụ nhu cầu của người Hoa ở hải ngoại và để phát triển đầu tư trong và ngoài nước Đài Loan. Ngân hàng chính thức được thành lập vào ngày 29/01/1919 với số vốn ban đầu là 10 tỷ JPY. Trụ sở chính được đặt tại Đài Bắc. Vào năm 1944, Ngân hàng Trung ương Đài Loan, với tư cách là chủ sở hữu đa số cổ phần trong Ngân hàng Hua Nan, đã buộc ông Akekula thôi giữ chức vụ chủ tịch, thay vào đó là ông Lin Hsiung Cheng trở thành chủ tịch danh dự của Ngân hàng. Ông Lin Hsiung Cheng đã giữ chức vụ Chủ tịch trong giai đoạn 19191944. Vào ngày 25/10/1945, Đài Loan tổ chức cuộc cải tổ nội các, ông Lin Hsiung Cheng được bầu kiêm nhiệm làm Chủ tịch Hiệp hội Thương Mại Đài Loan lúc bấy giờ. Sau khi ông Lin Hsiung Cheng qua đời, Hội đồng quản trị Ngân hàng Hua Nan đã tổ chức cuộc họp vào ngày 22/02/1947, bầu ông Liu Chih Kuang giữ chức vụ Chủ tịch.
Kể từ năm 1948 trở về sau, Ngân hàng Hua Nan đã mở rất nhiều chi nhánh và văn phòng khắp đất nước Đài Loan, cũng như vốn chủ sở hữu không ngừng tăng lên. Sau khi Ngân hàng Hua Nan và Công ty Chứng khoán EnTrust sáp nhập và thành lập Tập đoàn Tài chính Hua Nan, cổ phiếu của Tập đoàn Tài chính Hua Nan đã chính thức được niêm yết tại sàn giao dịch chứng khoán Đài Loan (TSE). Luận văn: Thực tiễn PL về thế chấp tài sản để đảm bảo vay vốn.
Vào ngày 22/01/1998, chính phủ Đài Loan đã nhượng lại một lượng lớn cổ phần của Ngân hàng Hua Nan, như thế Ngân hàng Hua Nan đã phần nào được tư hữu hóa và phát triển bền vững theo nền kinh tế thị trường dựa trên tiêu chí chính sách của Chính phủ. Vào ngày 18/05/2001, các cổ đông đã thông qua việc tăng vốn lên 37,091 tỷ Đài tệ. Từ đó đưa Ngân hàng Hua Nan trở thành một trong những ngân hàng hàng đầu tại Đài Loan.
Tính đến cuối năm 2007 và nửa đầu năm 2008, HNFHC đã có 07 công ty con, gồm: Ngân hàng Hua Nan, Công ty chứng khoán Hua Nan, Công ty Bảo hiểm South China, Công ty Đầu tư Hua Nan, Công ty Quản lý Quỹ Hua Nan, Công ty Tư Vấn Quản lý Hua Nan và Công ty Quản lý Tài sản Hua Nan. Cuối năm 2017, tổng tài sản của HNFHC là 2.658 tỷ Đài tệ, vốn điều lệ là 110 tỷ Đài tệ, trong đó tổng giá trị cổ phiếu phổ thông là 70 tỷ Đài tệ. Tính đến thời điểm hiện tại, Tổng số nhân viên hơn 50.000 người, với hơn 300 chi nhánh và phòng giao dịch trong nước và trên 20 chi nhánh và văn phòng đại diện ở nước ngoài. HNFHC đã khẳng định và giữ vững được vị trí của mình trong lĩnh vực ngân hàng và tài chính ở thương trường trong nước cũng như là mở rộng ra quốc tế. Ngoài ra, Tập đoàn tài chính Hua Nan xếp hạng thứ 201 trong top 1.000 ngân hàng lớn trên thế giới (do The Banker xếp hạng và công bố vào tháng 7/2022).
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
3.1.2. Ngân hàng Hua Nan Commercial Bank Ltd. – chi nhánh TP.HCM
Ngân hàng Hua Nan Commercial Bank Ltd. – chi nhánh TP. Hồ Chí Minh được thành lập trên cơ sở Văn Phòng Đại Diện tại TP. Hồ Chí Minh. Văn Phòng Đại Diện Ngân hàng Hua Nan được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp phép thành lập vào năm 2004. Văn phòng được thực hiện chức năng nghiên cứu thị trường, liên lạc, xúc tiến và xây dựng những dự án của Ngân hàng Hua Nan Commercial Bank Ltd. tại Việt Nam; thúc đẩy và giám sát thực hiện các hợp đồng, thoả thuận đã ký giữa Ngân hàng Hua Nan với các ngân hàng và Doanh Nghiệp tại Việt Nam, các dự án do Hua Nan Bank tài trợ tại Việt Nam.
Ngày 13/07/2006, Thống đốc Ngân hàng nhà nước đã cấp phép cho Ngân hàng Hua Nan Commercial Bank, Ltd, một ngân hàng của Đài Loan, được mở chi nhánh tại TP HCM, theo Giấy phép mở chi nhánh ngân hàng nước ngoài số 07/GPNHNN. Chi nhánh có tên là Ngân hàng Hua Nan Commercial Bank, Ltd. – Chi nhánh TP HCM, với vốn đầu tư ban đầu là 15 triệu USD và được tăng lên 65 triệu USD vào năm 2010. Thời hạn hoạt động của Ngân hàng Hua Nan Commercial Bank, Ltd. – Chi nhánh TP HCM là 20 năm. Trường hợp cần gia hạn, Thống đốc Ngân hàng nhà nước có thể xem xét và chấp thuận.
Đồng thời, Ngân hàng Hua Nan chi nhánh TP.HCM cũng được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh lần đầu ngày 05/09/2006 do Sở Kế hoạch và Đầu tư TP.HCM cấp. Chi nhánh đặt trụ sở tại địa chỉ Lầu 1, tòa nhà IWA, số 102 A-B Cống Quỳnh, Quận 1, TP. HCM. Luận văn: Thực tiễn PL về thế chấp tài sản để đảm bảo vay vốn.
Sáu đó, chi nhánh ngân hàng Hua Nan chi nhánh TP.HCM được chuyển qua Lầu 10, tháp Royal, số 235 Nguyễn Văn Cừ, Quận 1, TP.HCM và được cấp lại lần thứ 2 Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế số 0304567947 ngày 05/11/2009 và Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thay đổi gần đây nhất là 16/11/2021.
Chi nhánh Ngân hàng Hua Nan Commercial Bank Ltd. tại TP. Hồ Chí Minh hoạt động kinh doanh tại địa chỉ mới như sau:
- Địa chỉ: Lầu 10, tháp Royal, số 235 Nguyễn Văn Cừ, Quận 1, TP.HCM
- Số điện thoại: 84-28-3837188
- Số fax: 84-28-38371999
- Swift code: HNBKVNVX
Tính đến cuối tháng 12 năm 2022, tổng số cán bộ nhân viên là: 38 (08 người Đài Loan, 30 người Việt Nam), trong đó gồm: 1 Tổng Giám đốc, 1 Phó Tổng Giám đốc, 2 trưởng phòng, 5 chuyên viên cao cấp, 9 chuyên viên, 12 nhân viên.
3.1.3. Quá trình hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực cho vay
Ngân hàng Hua Nan được phép giao dịch tiền gửi; được mua bán ngoại tệ; được phép vay vốn của nước ngoài; được mở tài khoản tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và vay vốn ngắn hạn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; được tham gia hoạt động trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng; được mở tài khoản để phục vụ thanh toán quốc tế tại các ngân hàng nước ngoài; thực hiện các hoạt động thanh toán, chuyển tiền trong lãnh thổ Việt Nam và từ Việt Nam ra nước ngoài theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, nghiệp vụ cho vay và cấp bảo lãnh là hai hoạt động nghiệp vụ kinh tế đem lại nguồn thu nhập chính yếu cho HNCB HCM cũng như cho Ngân hàng Hua Nan Commercial Bank, Ltd tại Đài Loan.
Tại thời điểm 31/12/2020, 31/12/2021 và 31/12/2022, dư nợ tín dụng của HNCB HCM tăng trưởng như sau:
Bảng 3.1 Dư nợ tín dụng cho vay tại chi nhánh TP.HCM
Đơn vị tính : triệu đồng Luận văn: Thực tiễn PL về thế chấp tài sản để đảm bảo vay vốn.
| 2020 | Tỷ lệ % | 2021 | Tỷ lệ % | 2022 | Tỷ lệ % | |
| Tổng cộng dư nợ cho vay | 4.045.364 | 100 | 4.463.252 | 100 | 4.153.995 | 100 |
| Phân theo thời gian | 2020 | Tỷ lệ % | 2021 | Tỷ lệ % | 2022 | Tỷ lệ % |
| Nợ ngắn hạn | 3.322.164 | 82,12 | 2.289.013 | 75,37 | 3.233.910 | 77,85 |
| Nợ trung, dài hạn | 723.200 | 17,88 | 747.842 | 24,63 | 920.085 | 22,15 |
| Tổng cộng | 4.045.364 | 100 | 4.463.252 | 100 | 4.153.995 | 100 |
| Phân theo tiền tệ | 2020 | Tỷ lệ % | 2021 | Tỷ lệ % | 2022 | Tỷ lệ % |
| Dư nợ VND | 1.783.990 | 44,10 | 2.298.659 | 51,50 | 1.819.088 | 43,79 |
| Dư nợ ngoại tệ (USD) | 2.261.374 | 55,90 | 2.164.593 | 48,50 | 2.334.907 | 56,21 |
| Tổng cộng | 4.045.364 | 100 | 4.463.252 | 100 | 4.153.995 | 100 |
| Phân theo Tài sản bảo đảm | 2020 | Tỷ lệ % | 2021 | Tỷ lệ % | 2022 | Tỷ lệ % |
| Dư nợ có Tài sản bảo đảm | 2.034.986 | 50,30 | 2.270.604 | 50,87 | 2.253.093 | 54,24 |
| Dư nợ không có Tài sản bảo đảm | 2.010.378 | 49,70 | 2.192.648 | 49,13 | 1.900.902 | 45,76 |
| Tổng cộng | 4.045.364 | 100 | 4.463.252 | 100 | 4.153.995 | 100 |
(Nguồn: Phòng Tín dụng-HNCB HCM) Luận văn: Thực tiễn PL về thế chấp tài sản để đảm bảo vay vốn.
Theo bảng thống kê bên trên, cho thấy tổng dư nợ tín dụng của HNCB HCM đều tăng trưởng qua các năm. HNCB HCM không có loại hình tài trợ vốn cho khách hàng cá nhân, chủ yếu cho vay vốn ngắn hạn phục vụ nhu cầu hoạt động kinh doanh sản xuất của doanh nghiệp tại Việt Nam. Hầu hết khách hàng được vay tại HNCB HCM đều là doanh nghiệp có vốn đầu tư Đài Loan.
Bảng 3.2 Quy mô, cơ cấu dư nợ phân theo Tài sản bảo đảm tại chi nhánh TP.HCM
Đơn vị tính: Triệu đồng
| Chỉ tiêu | Năm 2020 | Năm 2021 | Năm 2022 | So sánh | ||||||
| Số tiền | % | Số tiền | % | Số tiền | % | 2021/2020 | 2022/2021 | |||
| +/- | % | +/- | % | |||||||
| Dư nợ có TSBĐ | 2.034.986 | 50,30 | 2.270.604 | 50,87 | 2.253.093 | 54,24 | 235.618 | 11,58 | -17.511 | -0,77 |
| Dư nợ không có TSBĐ | 2.010.378 | 49,70 | 2.192.648 | 49,13 | 1.900.902 | 45,76 | 182.270 | 9,07 | -291.746 | -13,31 |
| Tổng cộng | 4.045.364 | 100 | 4.463.252 | 100 | 4.153.995 | 100 | 417.888 | 10,33 | -309.257 | -6.93 |
(Nguồn: Phòng Tín dụng-HNCB HCM)
Theo cơ cấu về dư nợ có Tài sản bảo đảm và dư nợ không có Tài sản bảo đảm như đã thống kê ở bảng trên, thì đa số dư nợ vay tại HNCB HCM đều không có Tài sản bảo đảm. Do khách hàng của HNCB HCM có đặc thù là khách hàng lớn và có vốn đầu tư của Đài Loan, cho nên theo chủ trương của ngân hàng mẹ thì hầu hết đều cho doanh nghiệp Đài Loan vay tín chấp. Đối với các loại hình tín dụng có thế chấp, thì hầu hết là tài trợ vốn vay để mua sắm tài sản cố định phục vụ cho việc sản xuất cùa nhà xưởng. Tuy nhiên, đối với các hình thức vay có Tài sản bảo đảm thì hầu hết là loại hình ký quỹ tương đương 10% đến 30% khoản vay.
Biểu đồ 3.1 Quy mô, cơ cấu dư nợ theo Tài sản bảo đảm tại chi nhánh TP.HCM
Theo thống kê, thì dư nợ không có Tài sản bảo đảm chiếm 50,30%, 50,87% và 54,24% lần lượt tại các năm 2020, 2021 và 2022. Tỷ trọng giữa dư nợ có Tài sản bảo đảm và dư nợ không có Tài sản bảo đảm đều được giữ ổn định qua các năm và có xu hướng tăng vào 2022. Hầu hết các khoản cấp tín dụng tại HNCB HCM đều được vay tín chấp và do ngân hàng mẹ phê duyệt hạn mức, trừ trường hợp Tài sản bảo đảm là từ 100% trở lên đối với hạn mức và khoản vay thì mới thuộc cấp tổng giám đốc HNCB HCM phê duyệt. Những trường hợp như vậy hầu như rất hiếm, đa phần là ký quỹ và Tài sản bảo đảm là BĐS -nhà xưởng tương đương 60%-70% khoản vay. Luận văn: Thực tiễn PL về thế chấp tài sản để đảm bảo vay vốn.
Đối với các khoản cho vay từ Hua Nan Bank Đài Loan, dư nợ và số lượng khách hàng vay là doanh nghiệp Việt Nam cũng tăng trưởng mỗi năm. Từ 17 khách hàng vay năm 2020, tăng lên 23 khách hàng vay trong năm 2021 và 26 khách hàng vay trong năm 2022. Hua Nan Bank chi nhánh TP Hồ Chí Minh ngoài thẩm định và tài trợ nguồn vốn cho khách hàng là doanh nghiệp tại Việt Nam ra, còn có các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư tại Lào và Cam-pu-chia, chẵn hạn như Ngân hàng Vietinbank Lào hay là Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Campu-chia (BIDC), thậm chí là Bộ Tài chính Lào và Ngân hàng Nhà nước Công hòa Dân chủ Nhân dân Lào cũng thuộc chi nhánh TP.Hồ Chí Minh của Hua Nan Bank thẩm định và được Hua Nan Bank Đài Loan trực tiếp giải ngân cho vay. Việc giải ngân khoản vay nước ngoài bằng ngoại tệ chưa thực hiện trực tiếp được từ chi nhánh TP Hồ Chí Minh để chuyển ra nước ngoài, do luật pháp Việt Nam chưa cho phép các Tổ chức tín dụng trong lãnh thổ Việt Nam trực tiếp cho vay và chuyển ngoại tệ ra nước ngoài, trừ trường hợp Chính phủ Việt Nam cho phép. Tuy nhiên, các doanh nghiệp tại Việt Nam vẫn chiếm đa số trên tổng dư nợ cho vay khách hàng của Hua Nan Bank Đài Loan. Hua Nan Bank Đài Loan chỉ giải ngân cho vay bằng Đô la Mỹ hoặc ngoại tệ khác tùy thuộc vào nhu cầu giao dịch thanh toán của khách hàng vay.
Tại thời điểm 31/12/2020, 31/12/2021 và 31/12/2022, dư nợ tín dụng của HNCB TW tăng trưởng như sau:
Bảng 3.3 Dư nợ tín dụng Hua Nan Bank Đài Loan trực tiếp cho doanh nghiệp Việt Nam vay vốn
Đơn vị tính : triệu đồng
| 2020 (TG: 23.131) | Tỷ lệ % | 2021 (TG: 23.145) | Tỷ lệ % | 2022 (TG: 23.612) | Tỷ lệ % | |
| Tổng cộng dư nợ cho vay | 1.931.439 | 100 | 5.013.901 | 100 | 6.230.498 | 100 |
| Phân theo thời gian | 2020 | Tỷ lệ % | 2021 | Tỷ lệ % | 2022 | Tỷ lệ % |
| Nợ ngắn hạn | 749.445 | 38,80 | 2.920.436 | 58,25 | 3.673.318 | 58,96 |
| Nợ trung, dài hạn | 1.181.994 | 61,20 | 2.093.465 | 41.75 | 2.557.180 | 41,04 |
| Tổng cộng | 1.931.439 | 100 | 5.013.901 | 100 | 6.230.498 | 100 |
| Phân theo tài sản bảo bảo | 2020 | Tỷ lệ % | 2021 | Tỷ lệ % | 2022 | Tỷ lệ % |
| Dư nợ có Tài sản bảo đảm | 1.200.499 | 62,16 | 2.370.742 | 47,28 | 2.185.291 | 35,07 |
| Dư nợ không có TSBĐ | 730.940 | 37,84 | 2.643.159 | 52,72 | 4.045.207 | 64,93 |
| Tổng cộng | 1.931.439 | 100 | 5.013.901 | 100 | 6.230.498 | 100 |
(Nguồn: Phòng Tín dụng-HNCB HCM) Luận văn: Thực tiễn PL về thế chấp tài sản để đảm bảo vay vốn.
Biểu đồ 3.2 Cơ cấu dư nợ doanh nghiệp Việt Nam theo Tài sản bảo đảm tại ngân hàng Hua Nan Bank Đài Loan
Qua số liệu bên trên cho thấy nhu cầu vay ngoại tệ trực tiếp tại ngân hàng ở nước ngoài của doanh nghiệp tại Việt Nam ngày một tăng cao. Điều này thể hiện qua số dư nợ vay tại Ngân hàng Hua Nan Đài Loan, từ 1.931 tỷ đồng năm 2020 tăng lên 5.014 tỷ đồng năm 2021 và 6.230 tỷ đồng năm 2022. Điều này cũng dễ hiểu, một khi các Tổ chức tín dụng cho vay hết hạn mức đối với một khách hàng (15% vốn tự có theo Luật Các Tổ chức tín dụng), doanh nghiệp Việt Nam sẽ tìm đến các khoản vay tại ngân hàng ở nước ngoài.
Ngoài ra, doanh nghiệp Việt Nam vay vốn nước ngoài khi đến hạn trả nợ vay sẽ được các ngân hàng bán ngoại tệ để chuyển trả vay nước ngoài. Trong khi việc bán ngoại tệ này không được phép đối với doanh nghiệp Việt Nam vay ngoại tệ trong nước, ngoại trừ một số trường hợp được phép theo quy định của pháp luật. Xét về mặt chi phí đi vay nước ngoài, doanh nghiệp sẽ nhận được nguồn vốn vay ngoại tệ (USD) với mức lãi suất thấp hơn so với vay nội tệ (VND) trong nước Việt Nam, mặc dù khi đến hạn trả khoản vay nước ngoài các doanh nghiệp phải mua ngoại tệ (lãi/lỗ chênh lệch tỷ giá vào thời điểm trả vay), tốn phí chuyển tiền nước ngoài và chịu thêm thuế nhà thầu từ tiền lãi vay phải trả giúp bên Tổ chức tín dụng ở nước ngoài (theo quy định tại Thông tư 103/2014/TT-BTC ngày 06/08/2014 về việc nộp thuế nhà thầu nước ngoài-Foreigner Contractor tax), nhưng những chi phí này là không đáng kể so với việc doanh nghiệp Việt Nam đạt được uy tín và đẳng cấp về huy động vốn trên thị trướng quốc tế mà Tổ chức tín dụng tại nước ngoài chấp thuận cấp hạn ngạch cho vay đối với họ.
Ngoài ra, theo số liệu bên trên cho thấy tỷ trọng dư nợ có Tài sản bảo đảm có xu hướng giảm, nhưng vẫn chiếm tỷ lệ trên 35% tổng dư nợ cho vay, hầu hết là đối với các doanh nghiệp nhỏ và đối với các khoản vay trung hạn thường thì sẽ yêu cầu doanh nghiệp phài thế chấp, cầm cố tài sản để đảm bảo cho khoản vay tại nước ngoài. Mặc khác, tỷ trọng cho vay ngắn hạn tăng qua các năm 2020-2022, do các khoản vay ngắn hạn tại ngân hàng ở nước ngoài dưới 365 ngày thì không cần phải mất thời gian và tốn công sức làm hồ sơ thủ tục đăng ký với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (theo quy định tại thông tư 12/2022/TT-NHNN về khoản vay nước ngoài không được Chính phủ bảo lãnh).
3.2. Thực tiễn Thế chấp tài sản để bảo đảm nghĩa vụ Hợp đồng tín dụng trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng Hua Nan Luận văn: Thực tiễn PL về thế chấp tài sản để đảm bảo vay vốn.
3.2.1. Chủ thể của Thế chấp tài sản tại Hua Nan Bank
Chủ thể của Thế chấp tài sản là cá nhân, tổ chức có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Trong quan hệ Thế chấp tài sản, bên có nghĩa vụ cần phải cung cấp bảo đảm về tài sản cho việc thực thi nghĩa vụ của mình được gọi là bên thế chấp. Còn bên có quyền được gọi là bên nhận thế chấp, trường hợp này là Hua Nan Bank Đài Loan và Hua Nan Bank chi nhánh TP.Hồ Chí Minh. Chủ thể của Thế chấp tài sản cần đạt đủ điều kiện mà luật pháp đã quy định về tổ chức, cá nhân tham gia vào giao dịch dân sự nói chung. Bên Thế chấp tài sản có thể chính là bên có nghĩa vụ trong mối quan hệ dân sự được đảm bảo bằng biện pháp thế chấp, và có thể cũng là người thứ ba thế chấp (chủ sở hữu QSDĐ, tài sản trên đất, giấy tờ có giá…) đảm đảm cho bên có nghĩa vụ.
Chủ thể của các hợp đồng Thế chấp tài sản là các bên tham gia vào hợp đồng Thế chấp tài sản gồm bên thế chấp (doanh nghiệp vay vốn tại Hua Nan Bank hoặc bên thứ ba) và bên nhận thế chấp (Hua Nan Bank và HNCB HCM). Các chủ thể này cần phải hội tụ được và đủ về các điều kiện, yêu cầu của luật pháp đối với chủ thể nói chung giao kết trong hợp đồng. Các bên tham gia này đều có quyền và nghĩa vụ như luật định. Nếu như hợp đồng Thế chấp tài sản nhằm để đảm bảo cho nghĩa vụ của hợp đồng vốn vay thì bên nhận thế chấp thường là các Tổ chức tín dụng-bên cho vay thể hiện trong Hợp đồng tín dụng, còn bên thế chấp chính là bên có quyền nắm giữ hợp pháp đối với vật thế chấp của các chủ thể theo luật định.
Nhìn chung thì những quy định của luật pháp hiện nay đã xác lập các quyền và nghĩa vụ giữa các bên khá tương đồng với cách tiếp cận về pháp luật của các quốc gia trên thế giới về cách thức Thế chấp tài sản để đảm bảo việc thực thi nghĩa vụ. Bên thế chấp sẽ có quyền và nghĩa vụ, còn bên nhận thế chấp được Bộ luật dân sự năm 2015 quy định khá cụ thể trong những điều khoản từ 320 đến 323. Mặc khác, tại điều 324 Bộ luật dân sự đề cập đến bên thứ ba giữ tài sản thế chấp cũng có quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ. Cũng như là theo thông tư 12/2022/TT-NHNN ngày 30/9/2022 đã có đề cập vấn đề Bên bảo đảm, bên đi vay và bên cho vay, lúc này thì bên bảo đảm cũng chính là chi nhánh Hua Nan Bank TP.HCM do đã cấp SBLC để đảm bảo cho khoản vay nước ngoài, ngay khi bên đi vay không tuân thủ theo hợp đồng vay nước ngoài, không trả được nợ vay, thì chi nhánh Hua Nan Bank TP.HCM sẽ thực hiện theo Bộ quy tắc thống nhất về bảo lãnh trả tiền ngay và Quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ (UCP và URDG) thông lệ quốc tế về bảo lãnh, sẽ cho rút vốn giải ngân khoản vay thanh toán cho Hua Nan Bank Đài Loan.
3.2.2. Đối tượng của hợp đồng thế chấp Luận văn: Thực tiễn PL về thế chấp tài sản để đảm bảo vay vốn.
Việc thế chấp, cầm cố tài sản cho Hua Nan Bank Đài Loan cũng tương tự như việc thế chấp, cầm cố tài sản cho ngân hàng thương mại trong nước. Vì vậy, đối tượng của thế chấp là vật, quyền tài sản, giấy tờ có giá, có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai, tài sản đang cho mượn, cho thuê. Hua Nan Bank có thể thoả thuận với doanh nghiệp vay vốn dùng toàn bộ hoặc một phần tài sản để thế chấp tùy theo thương thảo giữa các bên. Pháp luật quy định, nếu toàn bộ một BĐS được dùng để thế chấp thì các vật phụ của BĐS cũng trở thành tài sản thế chấp. Nếu Hua Nan Bank nhận thế chấp 1 phần động sản, BĐS mà có vật phụ hiển nhiên vật phụ thuộc tài sản thế chấp, ngoại trừ các bên có thương thảo khác. Hua Nan Bank cần chú ý rằng lợi tức, hoa lợi không phải là tài sản thế chấp mặc dù tạo lập được trên tài sản thế chấp trừ khi các bên có thương lượng hoặc luật pháp có quy định khác.
Theo quy định nội bộ của Hua Nan Bank, phạm vi bảo đảm của các Biện pháp bảo đảm không được phép vượt quá phạm vi nghĩa vụ đã được thống nhất, ghi tại nội dung của quan hệ chính trong hợp đồng. Đối tượng của các Biện pháp bảo đảm là những lợi ích vật chất như tiền, các quyền tài sản, giấy tờ có giá… Các Biện pháp bảo đảm nghĩa vụ chỉ được thực thi khi xảy ra sự kiện vi phạm nghĩa vụ, tức là quy định nội bộ của Hua Nan Bank chỉ được xử lí các Tài sản bảo đảm để thực thi nghĩa vụ kể từ khi nghĩa vụ bị thực hiện không đúng, không được thực hiện, thực hiện không đầy đủ. Nếu nghĩa vụ chính đã được thực hiện thì Biện pháp bảo đảm cũng được coi là chấm dứt. Các Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự hình thành từ sự giao kết giữa các bên.
Đối tượng của Biện pháp bảo đảm là tài sản. Bộ luật dân sự có quy định về các Tài sản bảo đảm cụ thể kèm theo các điều kiện, chẵn hạn như vật là đối tượng của các Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là vật hiện có hay là được hình thành trong tương lai. Vật có thể tồn tại dưới dạng động sản hay BĐS; tiền, giấy tờ có giá là đối tượng của các Biện pháp bảo đảm, đối với ngoại tệ thì chỉ những chủ thể có được phép kinh doanh, lưu thông ngoại hối mới được dùng ngoại tệ là đối tượng của các Biện pháp bảo đảm (theo quy định của Pháp lệnh ngoại hối). Giấy tờ có giá thường sẽ bao gồm: trái phiếu, kì phiếu, cổ phiếu, chứng chỉ tiền gửi, séc, giấy tờ có giá khác theo luật định, và phải trị giá được thành số tiền và được phép giao dịch. Như vậy, có những giấy tờ có giá gắn liền với nhân thân của chủ sở hữu như cổ phiếu ghi danh cấm chuyển nhượng trong 1 thời hạn nhất định thì không thể thành đối tượng của giao kết dân sự. Các đối tượng của Biện pháp bảo đảm nêu trên đều đang được đề cập trong quy định nội bộ và đang được áp dụng tại Hua Nan Bank. Luận văn: Thực tiễn PL về thế chấp tài sản để đảm bảo vay vốn.
Theo Bùi Đức Giang, Nguyễn Hoàng Long (2019), “ngày nay các tài sản vô hình (quyền tài sản) có xu hướng chiếm một tỷ trọng ngày càng quan trọng trong tổng tài sản của một doanh nghiệp. Việc sử dụng tài sản vô hình để bảo đảm nghĩa vụ có rất nhiều ưu điểm so với tài sản hữu hình bởi vì giúp tránh được nguy cơ tài sản bị mất, bị phá hủy hay giảm giá trị.”
Nghĩa vụ được bảo đảm là loại quan hệ mà bên có nghĩa vụ phải bảo đảm bằng tài sản của bản thân mình, bao gồm nghĩa vụ chuyển giao quyền, chuyển giao vật, nghĩa vụ thanh toán khoản tiền hoặc giấy tờ có giá, nghĩa vụ thực hiện 1 công việc khác. Người mà nghĩa vụ của mình được bảo đảm thực hiện thông qua Biện pháp bảo đảm chính là người có nghĩa vụ được bảo đảm. Người có nghĩa vụ được đảm bảo đôi khi cùng lúc hoặc không cùng một lúc làm bên bảo đảm. Nghĩa vụ được bảo đảm là nghĩa vụ bị xác lập trước khi giao dịch bảo đảm được hình thành.
Vì vậy, khi chính công ty đi vay vốn và giao kết hợp đồng tín dụng, thì lúc này chính bản thân doanh nghiệp sẽ phát sinh nghĩa vụ cần được bảo đảm (việc vay vốn và Hợp đồng tín dụng). Lúc này, bản thân doanh nghiệp sẽ Thế chấp tài sản để đảm bảo cho món vay đảm bảo cho hợp đồng vay vốn mà công ty đã ký kết với Hua Nan Bank.
3.2.3. Đăng ký thế chấp
Điều 319 của Bộ luật dân sự năm 2015 có quy định về hiệu lực của Thế chấp tài sản là “Hợp đồng thế chấp tài sản có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác; Thế chấp tài sản phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký.”
Do đó, nhằm bảo vệ cho quyền lợi hợp pháp, thì bên nhận thế chấp cần phải “công khai hóa” quyền của mình về tài sản thế chấp nhằm để cho các bên khác biết được trạng thái pháp lý của Tài sản bảo đảm thế chấp và để họ hoàn toàn nắm bắt, ý thức được toàn bộ hậu quả pháp lý nếu vẫn giao kết các thỏa thuận liên quan đến Tài sản bảo đảm đã thế chấp này. Loại hình đơn giản và phổ biến nhất của việc “công khai hóa” như trên chính là “đăng ký giao dịch bảo đảm”, theo đó hợp đồng Thế chấp tài sản giữa bên thế chấp và bên nhận thế chấp sẽ tiến hành đăng ký tại một cơ quan có thẩm quyền nhất định. Từ đó, bất kỳ bên thứ ba nào cũng sẽ có thể tìm hiểu tại các cơ quan có thẩm quyền về trạng thái pháp lý của tài sản này có đang bị cầm cố, thế chấp hay chưa, để qua đó đề ra các quyết định chuẩn xác đối với tài sản đó trong việc thiết lập giao dịch. Một khi bên thứ ba chấp thuận tiến hành thực thi giao kết, nếu như có tranh chấp xảy ra đối với tài sản đã thế chấp, thì bên nhận thế chấp đương nhiên có được được lợi thế “ưu tiên” trong việc xử lý Tài sản bảo đảm đã thế chấp, do trước đó bên thứ ba đã được biết hoặc bắt buộc phải biết liên quan đến quyền của bên nhận thế chấp đối với Tài sản bảo đảm đã thế chấp mà vẫn tham gia xác lập, ký kết giao dịch đối với Tài sản bảo đảm đã có thế chấp. Luận văn: Thực tiễn PL về thế chấp tài sản để đảm bảo vay vốn.
Trong quan hệ cầm cố tài sản, bên nhận cầm cố có thể thiết lập “hiệu lực đối kháng với người thứ ba” bằng biện pháp “nắm giữ tài sản cầm cố” và đạt được quyền ưu tiên xử lý các Tài sản bảo đảm từ thời điểm “nắm giữ tài sản cầm cố” thay vì bắt buộc phải công khai hóa và thiết lập “hiệu lực đối kháng với người thứ ba” bằng hình thức “đăng ký giao dịch bảo đảm” như Bộ luật dân sự năm 2015. Người nhận cầm cố được phép không “đăng ký giao dịch bảo đảm” nhưng họ vẫn được đảm bảo quyền ưu tiên hoàn trả khoản nợ vì đã hoàn tất thao tác công khai hóa quyền của mình trước thông qua việc nắm giữ Tài sản bảo đảm.
Tại Hua Nan Bank chi nhánh TP.HCM, bên đại diện nhận thế chấp cho Hua Nan Bank Đài Loan tại Việt Nam có đăng ký thế chấp đúng theo trình tự thủ tục, bao gồm công chứng, đăng ký bảo đảm tại các cơ quan liên quan. Trừ hợp đồng tiền gửi chỉ ký kết về hợp đồng gửi tiền và giấy đồng ý cầm cố tại Hua Nan Bank chi nhánh TP.HCM ra, thì ngân hàng có ký hợp đồng thế chấp động sản và hợp đồng thế chấp BĐS với các doanh nghiệp vay vốn. Tuy nhiên, riêng đối với hợp đồng thế chấp động sản không được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm ra, thì Hua Nan Bank có công chứng và đăng ký tại văn phòng đất đai đối với các hợp đồng thế chấp BĐS.
3.2.4. Nội dung của hợp đồng thế chấp tài sản
Về cơ bản, hợp đồng thế chấp sẽ được ký kết thông qua nhiều hình thức, miễn là các bên tham gia có thể minh chứng được quan hệ hợp đồng. Thế nhưng, trong một số loại hợp đồng thì cụ thể vẫn phải tuân thủ những quy định liên quan đến hình thức. Ví dụ hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất thì các bên tham gia giao kết vẫn cần làm theo hình thức văn bản như quy định của pháp luật đất đai. Bên cạnh đó, luật còn quy định hợp đồng Thế chấp tài sản cần đáp ứng các yêu cầu tiêu chuẩn về hình thức như chứng thực, công chứng, đăng ký. Ví dụ: Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản trên đất và hợp đồng Thế chấp tài sản trên đất thuộc loại văn bản phải có chứng thực, công chứng và đăng ký.
Cần lưu ý rằng, việc Thế chấp tài sản có thể được thực hiện bằng một hợp đồng riêng biệt hoặc là một điều khoản về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong hình thức giao dịch dân sự khác. Trường hợp thế chấp được thể hiện trong hợp đồng chính thì tất cả điều khoản về thế chấp đều là những “điều khoản cấu thành” của hợp đồng chính. Ví dụ: Điều khoản thế chấp trong Hợp đồng tín dụng. Trường hợp thế chấp được “lập thành văn bản riêng” thì sẽ được coi như 1 hợp đồng phụ kế bên hợp đồng chính, hiệu lực của nó lệ thuộc vào hiệu lực của hợp đồng chính. Chính vì vậy mà nội dung của hợp đồng thế chấp được lập riêng cần phải liên thông, phù hợp với hợp đồng chính. Luận văn: Thực tiễn PL về thế chấp tài sản để đảm bảo vay vốn.
Khi soạn thảo hợp đồng thế chấp tài khoản, các bên cần phải đảm bảo các nội dung cơ bản sau đây:
Một là, thông tin pháp lý các bên. Tương tự như các loại hợp đồng khác, điều đầu tiên mà hợp đồng Thế chấp tài sản cần thể hiện là thông tin của bên thế chấp và bên nhận thế chấp, bao gồm: họ và tên (tên công ty), số chứng minh nhân dân (thông tin về giấy chứng nhận thành lập công ty), địa chỉ thường trú (trụ sở chính), thông tin liên lạc,…
Hai là, phạm vi nghĩa vụ được thế chấp. Khi thương thảo về phạm vi nghĩa vụ được bảo đảm, các bên cần lưu ý nghĩa vụ rất có thể được bảo đảm 1 phần hoặc toàn bộ theo thương lượng hoặc theo luật định. Nghĩa vụ bảo đảm toàn bộ được hiểu là bao gồm cả nợ gốc, tiền lãi, tiền phạt, tiền đền bù thiệt hại. Nghĩa vụ được đảm bảo có thể là nghĩa vụ ở hiện tại hoặc nghĩa vụ xảy ra ở tương lai hay là nghĩa vụ có điều kiện. Đối với nghĩa vụ trong tương lai cần phải được hình thành trong thời hạn bảo đảm mới là nghĩa vụ được bảo đảm. Ví dụ: A thế chấp Quyền sử dụng đất để vay 2 khoản vay tại ngân hàng, thời hạn giữa hai khoản vay là 1 năm và khoản vay thứ nhất được phát vay tại thời điểm ký kết hợp đồng thế chấp. Như vậy, khoản vay thứ 2 lúc này sẽ là nghĩa vụ hình thành trong tương lai.
Ba là, tài sản thế chấp. Khi soạn các điều khoản về tài sản thế chấp, các bên cần lưu ý tài sản thế chấp phải thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp. Đối với việc thế chấp Quyền sử dụng đất, thì quy định này được hiểu rộng ra là tài sản thế chấp cần phải thuộc quyền sử dụng của bên thế chấp. Như vậy, một người không thể thế chấp tài sản mà nó không thuộc quyền sở hữu của mình và nếu vi phạm thì biện pháp thế chấp sẽ trở thành vô hiệu. Tài sản thế chấp có thể được miêu tả chung, nhưng cần phải xác minh được tài sản. Đây được coi như là 1 yếu tố cấu thành hiệu lực của hợp đồng Thế chấp tài sản. Tuy nhiên, không có bất ký quy tắc thống nhất nào cho việc phải chi tiết hóa Tài sản bảo đảm phải ra sao thì mới phù hợp và tuân thủ quy định trên của Bộ luật dân sự, mà việc diển tả này còn tùy vào từng trường hợp cụ thể và không bắt buộc. Về trị giá của Tài sản bảo đảm có thể nhỏ hơn, lớn hơn, hoặc bằng với giá trị nghĩa vụ được bảo đảm. Nếu thế chấp toàn bộ động sản, BĐS có vật phụ thì vật phụ của động sản, BĐS đó cũng thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp giữa các bên có thỏa thuận khác. Vật phụ được hiểu vật phục vụ trực tiếp cho quá trình khai thác công dụng của động sản, BĐS, là một bộ phận của động sản, BĐS, đôi khi cũng có thể tách rời động sản, BĐS. Luận văn: Thực tiễn PL về thế chấp tài sản để đảm bảo vay vốn.
Bốn là, quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Việc thỏa thuận rõ về quyền và nghĩa vụ sẽ giúp các bên có sự ràng buộc khi thực thi hợp đồng, theo đó các bên cần thực hiện đầy đủ và đúng các quyền và nghĩa vụ ghi trong hợp đồng.
Năm là, chấm dứt Thế chấp tài sản. Việc Thế chấp tài sản được xem là chấm dứt một khi các nghĩa vụ được bảo đảm bằng việc thế chấp được chấm dứt, việc Thế chấp tài sản được hủy bỏ hoặc được thay thế bằng Biện pháp bảo đảm khác. Tài sản thế chấp đã được xử lý theo thương lượng giữa các bên.
Sáu là, phương thức xử lý tài sản thế chấp. Ở điều khoản này, các bên cần thương lượng cách thức xử lý Tài sản bảo đảm đã thế chấp cũng như thứ tự hoàn trả các khoản tiền có được từ việc xử lý Tài sản bảo đảm thế chấp.
Tóm lại, hợp đồng Thế chấp tài sản là 1 loại hợp đồng dùng cho việc đảm bảo thực thi nghĩa vụ hiện đang được sử dụng rất phổ biến. Theo đó, bên thế chấp sẽ sử dụng vật, tài sản thuộc quyền nắm giữ của mình để đảm bảo việc thực thi nghĩa vụ đối với bên nhận thế chấp. Hợp đồng thế chấp cần được soạn thảo đầy đủ các điều khoản cơ bản như thông tin các bên, phạm vi nghĩa vụ được thế chấp, tài sản thế chấp, quyền và nghĩa vụ các bên.
Hiện tại, Hua Nan Bank vẫn sử dụng các mẫu hợp đồng cầm cố, thế chấp và các mẫu phụ lục hợp đồng liên quan đến cầm cố, thế chấp từ thời sơ khai lúc mới thành lập chi nhánh tại TP.HCM (năm 2006) đến nay, mấy năm gần đây vẫn sử dụng các mẫu này chỉ khác ở chỗ là có thêm cập nhật sơ sài của các hãng luật và nội bộ phòng pháp chế. Các mẫu hợp đồng, phụ lục hợp đồng này đã quá lỗi thời và nhiều bất cập, không theo kịp xu thế thay đổi của các điều luật hiện hành. Đây là hạn chế rõ nét nhật mà Hua Nan Bank cần thay thế toàn bộ các mẫu để sao cho phù hợp với xu thế hiện tại.
3.2.5. Thứ tự ưu tiên thanh toán và xử lý tài sản thế chấp
Theo quy định nội bộ, mặc dù hồ sơ thế chấp của Hua Nan Bank thường thể hiện quyền xử lý Tài sản bảo đảm không cần thông báo khách hàng vay hoặc người cung cấp Tài sản bảo đảm, nếu có chứng cứ rõ ràng cho thấy tình hình sản xuất kinh doanh của khách hàng không thể phát triển hoặc nghi ngờ khách hàng không có khả năng trả khoản nợ, nhưng ngân hàng trước tiên vẫn thực hiện việc gửi văn bản chính thức yêu cầu trả nợ gốc và lãi đến khách hàng. Nếu khách hàng không tuân theo yêu cầu trả nợ, thì nhà băng có thể thực hiện một trong số những hành động, bao gồm nhưng không giới hạn việc xử lý những Tài sản bảo đảm đã thế chấp cho ngân hàng và/hoặc truy đòi nợ đối với người bảo lãnh, giữ và quản lý các nguyên vật liệu hay bất cứ hàng hóa đem đi cầm, thế chấp cho ngân hàng, ngân hàng sẽ chủ động bảo vệ hàng hóa và máy móc để đảm bảo chúng không bị chuyển đi mà không được sự cho phép của nhà băng và nếu trong trường hợp cấp thiết thì thực thi bán tài sản thế chấp.
Nếu ngân hàng quyết định bán tài sản sau khi đã đưa ra thông báo hợp lý cho khách hàng, ngân hàng phải bán với giá tốt nhất có thể chứ không chỉ đủ để hoàn trả lại nợ vay và phương thức bán tài sản sẽ phù hợp với thương thảo tại hợp đồng thế chấp. Một khi các bên thỏa thuận phương thức xử lý Tài sản bảo đảm là bán đấu giá tài sản thì việc bán này cần thực hiện theo quy định của luật pháp về bán đấu giá tài sản. Nếu như các bên thương lượng bán Tài sản bảo đảm không qua phương thức đầu giá thì việc bán Tài sản bảo đảm tiến hành như quy định tại Bộ luật dân sự, đảm bảo các bên có quyền tự thương lượng hoặc sử dụng dịch vụ của tổ chức có chức năng thẩm định giá tài sản làm cơ sở xác định giá bán Tài sản bảo đảm. Nếu giá trị Tài sản bảo đảm lớn hơn giá trị nghĩa vụ, ngân hàng phải hoàn trả cho bên bảo đảm số tiền chênh lệch còn lại giữa giá bán Tài sản bảo đảm với giá trị của nghĩa vụ nợ được bảo đảm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trong quá trình tiến hành các trình tự theo như quy định của pháp luật, mục đích là để chuyển giao quyền nắm giữ tài sản cho bên mua Tài sản bảo đảm, chủ sở hữu tài sản và ngân hàng cần có trách nhiệm tương tác hỗ trợ bên mua. Luận văn: Thực tiễn PL về thế chấp tài sản để đảm bảo vay vốn.
Trong quan hệ Thế chấp tài sản, thật ra chưa có sự bàn giao vật đã thế chấp, vì thế mà Tài sản bảo đảm chỉ cần chịu 1 sự bó buộc với bên nhận thế chấp về mặt chứng từ pháp lý, mà bên nhận thế chấp vẫn chưa được thực hiện quyền của mình lên Tài sản bảo đảm một cách trực tiếp và thông qua thực tế. Bên thế chấp vẫn nắm giữ, dùng, khai thác và quản lý tài sản môt cách thường lệ, cho nên “người thứ ba” nhìn vào không tài nào phân định về việc 1 tài sản đã được đem đi cầm, thế chấp cho nhà băng hay chưa và đã thực hiện giao kết đối với tài sản đã có thế chấp hay chưa. Cho đến lúc xuất hiện tranh chấp mâu thuẫn thì “người thứ ba” mới phát hiện về các quyền đã được xác lập lên tài sản, ngoại trừ quyền về chủ sở hữu ra, còn thể hiện quyền của bên nhận thế chấp. Chính vì vậy, thường thì việc cùng xử lý Tài sản bảo đảm sao cho thỏa đáng rất phức tạp, khó khăn và khó có thể đảm bảo quyền của các bên giống với hợp đồng.
Đến thời điểm hiện tại, ngoài các khoản tiền ký quỹ cầm cố tại Hua Nan Bank được giải ra trực tiếp để thanh toán cho các khoản vay quá hạn ra, thì Hua Nan Bank chưa phát sinh việc phải xử lý tài sản (máy móc thiết bị hoặc BĐS) của doanh nghiệp Việt Nam để thanh toán các khoản vay quá hạn tại Hua Nan Bank Đài Loan.
3.2.6. Những kết quả đạt được và các hạn chế, vướng mắc trong quá trình TCTS để bảo đảm nghĩa vụ Hợp đồng tín dụng Luận văn: Thực tiễn PL về thế chấp tài sản để đảm bảo vay vốn.
Quá trình Thế chấp tài sản để đảm bảo cho nghĩa vụ Hợp đồng tín dụng được tiến hành chủ yếu bởi phòng tín dụng doanh nghiệp tại chi nhánh TP.Hồ Chí Minh của Ngân hàng Hua Nan Commercial Bank. Chi nhánh TP.Hồ Chí Minh là bên trung gian quản lý Tài sản bảo đảm và là bên thay mặt HNCB TW nhận cầm cố, thế chấp các loại tài sản của doanh nghiệp Việt Nam vay vốn Hua Nan Bank mẹ tại Đài Loan.
Đến thời điểm hiện tại, công tác thế chấp, cầm cố tài sản vẫn đang làm đúng theo quy định nội bộ. Chủ yếu tài sản thế chấp là BĐS được bên vay là doanh nghiệp tại Việt Nam thế chấp hoặc do bên thứ ba là các công ty liên quan thế chấp, sau đó chi nhánh TP. Hồ Chí Minh sẽ cấp hạn mức mở thư tín dụng dự phòng (Standby letter of credit) cho bên vay, mỗi lần muốn giải ngân Hua Nan Bank Đài Loan thì bên vay phải ký đơn mở SBLC cho Hua Nan Bank Đài Loan, sau khi Hua Nan Bank Đài Loan nhận được SBLC từ hệ thống điện tín SWIFT thì sẽ phát vay đến tài khoản vốn hoặc tài khoản vay nước ngoài chỉ định bởi bên vay tại lãnh thổ Việt Nam.
Ngoài ra, hình thức tiền gửi có kỳ hạn cầm cố tại chi nhánh TP. Hồ Chí Minh vẫn rất được Hua Nan Bank Đài Loan cũng như khách hàng ưa chuộng. Thường thì hình thức cầm cố tiền gửi chỉ bằng 30%-40% của khoản vay, tức là khách hàng muốn giải ngân 1.000.000 USD thì phải cầm cố, ký quỹ 300.000 USD – 400.000 USD hoặc bằng tiền VND tương đương quy đổi theo tỷ giá tại thời điểm cầm cố, ký quỹ. rồi bên Hua Nan Bank Đài Loan sẽ giải ngân cho doanh nghiệp Việt Nam vay vốn.
Công tác thế chấp, cầm cố tại chi nhánh TP. Hồ Chí Minh được thực hiện khá chặc chẻ và phù hợp với quy định pháp luật. Đến thời điểm hiện tại, khách hàng vay Hua Nan Bank Đài Loan cũng như khách hàng vay có hạn mức mở SBLC tại chi nhánh TP. Hồ Chí Minh chưa phát sinh trường hợp phải xử lý Tài sản bảo đảm để thu hồi nợ vay nước ngoài. Những năm gần đây, chi nhánh TP. Hồ Chí Minh cũng như Hua Nan Bank Đài Loan đã chú trọng công tác về tuân thủ pháp luật và pháp chế. Chi nhánh TP. Hồ Chí Minh cũng mới được thành lập phòng pháp chế và tuân thủ trong hai năm gần đây. Phòng pháp chế Hua Nan Bank Đài Loan ngày càng được chú trọng đấu tư, mở rộng và hoạt động mạnh dần lên, thường xuyên tổ chức tập huấn cho các chi nhánh hải ngoại liên quan về pháp luật ngân hàng.
Các hợp đồng giao dịch (Hợp đồng mở tài khoản, hợp đồng vay và hợp đồng thế chấp…) trước kia Hua Nan Bank phải 5-6 năm mới đưa các công ty luật xem xét (legality review) tính hiệu lực và phù hợp với các quy định hiện hành. Hiện nay thì mỗi năm mỗi đưa công ty luật xem xét tính hiệu lực và phù hợp quy định hiện hành, đồng thời công ty luật phải cấp phát ý kiến pháp lý (Legal Opinion) để chi nhánh TP. Hồ Chí Minh và Hua Nan Bank Đài Loan làm căn cứ áp dụng các bản hợp đồng giao dịch này một cách an toàn và phù hợp quy định. Luận văn: Thực tiễn PL về thế chấp tài sản để đảm bảo vay vốn.
Đến thời điểm hiện tại, việc xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ vay thì chỉ mới phát sinh tại Hua Nan Bank chi nhánh TP.Hồ Chí Minh. Tính đến 31/12/2022, Hua Nan Bank chi nhánh TP.Hồ Chí Minh đã phát sinh 4 trường hợp khách hàng vay đếu là doanh nghiệp có vốn đầu tư của Đài Loan bi phá sản, phát sinh nợ xấu, không trả được nợ và vi phạm hợp đồng vay và hợp đồng thế chấp Tài sản bảo đảm khoản vay.
Ngoại trừ lần đầu tiên xảy ra vào cuối năm 2008, khách hàng vay bị phá sản, bỏ trốn khỏi lãnh thổ Việt Nam để chạy về Đài Loan lẩn tránh các khoản nợ và chủ nợ, thì hầu hết các khoản nợ xấu còn lại đều có bảo đảm bằng hình thức cầm cố chứng chỉ tiền gửi có kỳ hạn tại Hua Nan Bank chi nhánh TP.Hồ Chí Minh. Khách hàng vay này phát sinh nợ xấu với hình thức bảo đảm khoản vay là từ việc ký phát Lệnh Phiếu của cá nhân bảo lãnh và khoản vay cũng được Quỹ Bảo lãnh Tín dụng Đài Loan ký cam kết bảo lãnh 65% số dư nợ vay. Sau khi bên vay không trả được khoản nợ, bị nợ xấu, bỏ trốn ra nước ngoài, ngân hàng đã thực thi theo các điều khoản ghi trong hợp đồng vay liên quan đến Biện pháp bảo đảm khoản vay, đến hiện trường trụ sở công ty phá sản chụp hình làm bằng chứng kèm theo hợp đồng vay, chứng thư bảo lãnh OCGF và về viết báo cáo gửi OCGF. Sau khi OCGF họp và xem xét đã chuyển tiền hoàn trả cho Hua Nan Bank số tiền tương đương 65% khoản nợ vay. Số tiền vay 35% còn lại, phải chờ tòa án bên Đài Loan xét xử theo các hợp đồng bảo lãnh cá nhân do các cá nhân đứng ra bảo lãnh khoản vay tại Hua Nan Bank chi nhánh TP. Hồ Chí Minh ký kết. Tòa tuyên các cá nhân bảo lãnh phải thực hiện việc khấu trừ tiền lương, tiền công để trả nợ khoản vay, đến hết năm 2018 khoản vay đã được thu hồi hoàn toàn.
Đối với các khoản nợ xấu còn lại, Hua Nan Bank chi nhánh TP. Hồ Chí Minh đã thực thi theo các hợp đồng cầm cố chứng chỉ tiền gửi của khách hàng vay và tiến hành giải phong tỏa tiền gửi để thu hồi khoản nợ xấu. Tuy nhiên, số tiền gửi cầm cố chỉ đủ để thanh toán 30%-40% số nợ vay, phần còn lại đang đợi bên Đài Loan thực hiện các thủ tục tố tụng để cưởng chế tài sản của các bên bảo lãnh khoản vay để tiếp tục thu hồi nợ. Mặc dù công tác thẩm định và quyết định cho vay qua nhiều khâu và khá chặc chẽ tại Hua Nan Bank, nhưng việc nợ xấu xảy ra cũng sẽ không thể lường trước được, nhất là trong thời buổi kinh tế xã hội diễn biến ngày một phức tạp, khó dự đoán và tiềm ẩn nhiều nguy cơ như ngày nay. Chính vì vậy, việc cho vay có tài sản thế chấp, cầm cố sẽ là hình thức giúp khách hàng vay tuân theo các điều khoản vay vốn, giúp Hua Nan Bank giảm bớt phần nào rủi ro mất vốn, nhất là trong giai đoạn hiện nay pháp luật về xử lý nợ xấu, pháp luật về Biện pháp bảo đảm khoản vay ngày càng được chính phủ Việt Nam chú trọng và hoàn thiện.
Ngoài ra, Hua Nan Bank chỉ xảy ra duy nhất 1 trường hợp khách hàng vay tại Việt Nam vay vốn trực tiếp Hua Nan Bank tại Đài Loan bị vỡ nợ vào đầu năm 2009. Khách hàng vay này bị phá sản vào thời điểm khủng hoảng kinh tế lúc bấy giờ. Khách hàng vay lúc đó ký Hợp đồng tín dụng trực tiếp với Hua Nan Bank Đài Loan với bản hợp đồng vay bằng tiếng Trung Quốc, luật áp dụng là theo pháp luật Đài Loan, trong đó có đề cập hình thức bảo lãnh là Lệnh Phiếu do 2 cá nhân người Đài Loan ký phát.
Theo Pháp luật về Thương phiếu của Đài Loan, cái gọi là “Lệnh phiếu” có nghĩa là người ký phát phiếu phát hành một số tiền nhất định, đảm bảo rằng anh ta sẽ thanh toán vô điều kiện số tiền trên phiếu cho người được trả tiền hoặc người cầm giữ ghi trên lệnh phiếu. Vì vậy, bản chất của lệnh phiếu là một “hối phiếu tín dụng”, được dùng để đảm bảo rằng người ký phát sẽ thanh toán số tiền ghi trên phiếu trong tương lai. Để nâng cao tính chất bảo đảm này, Luật Thương phiếu Đài Loan cũng quy định khi người cầm phiếu không nhận được khoản thanh toán vào ngày đến hạn thì có thể trực tiếp “đệ đơn đến tòa án để thi hành sau khi có phán quyết”. Tòa sẽ chỉ xem xét Lệnh phiếu có bị giả mạo chữ ký, thay đổi số tiền, ngày tháng hay không, v.v., nếu Lệnh phiếu không có sự giả mạo, tòa án sẽ ra phán quyết buộc người cầm giữ phải kê biên tài sản của người ký phát theo quy định như số tiền ghi trong Lệnh phiếu. Theo quy định tại Đài Loan thì “Thủ tục xét xử hình thức Lệnh phiếu” này đơn giản và nhanh chóng hơn các thủ tục tố tụng thông thường. Luận văn: Thực tiễn PL về thế chấp tài sản để đảm bảo vay vốn.
Chính vì vậy mà Hua Nan Bank Đài Loan đã thu hồi nợ từ phán quyết thực thi lệnh phiếu của Tòa, phát mãi tài sản của các cá nhân ký phát Lệnh phiếu và đã thu hồi đầy đủ khoản nợ quá hạn. Mặc dù Hua Nan Bank Đài Loan vẫn chưa phát sinh khoản nợ vay quá hạn trong những năm gần đây đối với các khách hàng vay là doanh nghiệp thành lập tại Việt Nam, nhưng việc yêu cầu có Tài sản bảo đảm khoản vay vẫn giữ ý chí chủ đạo trong quá trình thẩm định và xem xét phê duyệt khoản vay, đặc biệt là hình thức cầm cố chứng chỉ tiền gửi tại Hua Nan Bank chi nhánh TP. Hồ Chí Minh đang rất được ưa chuộng và đang được áp dụng trong hệ thống Hua Nan Bank. Đối với hình thức Thế chấp tài sản là BĐS, luật pháp Việt Nam chưa khai thông đối với tổ chức nước ngoài, các ngân hàng nước ngoài như Hua Nan Bank phải áp dụng hình thức gián tiếp qua việc mở SBLC hoặc các thủ tục cầm cố tài khoản xử lý tài sản thu hồi nợ vay (tài khoản có liên kết với hợp đồng thế chấp BĐS và mở SBLC bảo lãnh khoản vay nước ngoài, yêu cầu số tiền sau khi phát mại, bán tài sản thế chấp phải được ghi nhận vào tài khoản này) của khách hàng. Điều này còn vướng phải nhiều quy định chưa rõ ràng, rủi ro pháp lý có thể ảnh hưởng đến việc xử lý tài sản chuyển trả tiền cho chủ nợ ở nước ngoài cho doanh nghiệp Việt Nam vay. Mặc khác, khách hàng vay cũng cảm thấy mệt mỏi, mất thời gian và tốn kém chi phí cho các thủ tục và hình thức bảo đảm khoản vay này, trừ phi khách hàng vay khoản vay phục vụ cho các dự án lớn tại Việt Nam. Suy cho cùng, việc thế chấp, cầm cố tài sản bảo đảm cho khoản vay tại Hua Nan Bank Đài Loan cũng sẽ phải thông qua Hua Nan Bank chi nhánh TP. Hồ Chí Minh để tiến hành các thủ tục gián tiếp cũng như là xử lý Tài sản bảo đảm thu hồi nợ cũng sẽ cần thông qua chi nhánh tại Việt Nam. Vì vậy, trên thực tế áp dụng pháp luật về thế chấp, cầm cố tài sản ở Việt Nam đối với quá trình cho vay của ngân hàng cần được Hua Nan Bank nghiên cứu, chú trọng để hoàn thiện hơn quy định nội bộ về cho vay có cầm cố, thế chấp. Luận văn: Thực tiễn PL về thế chấp tài sản để đảm bảo vay vốn.
3.2.7. Một số vấn đề đặt ra từ thực tiễn áp dụng pháp luật về Thế chấp tài sản để bảo đảm nghĩa vụ Hợp đồng tín dụng trong hoạt động cho vay của ngân hàng ở Việt Nam
Quy định về TSĐB được nêu tại “Chính sách và quy trình cho vay” của HNCB HCM, gồm: Các loại TSĐB được chấp nhận (BĐS; chứng chỉ tiền gửi; Thư tín dụng dự phòng; cổ phần, cổ phiếu được niêm yết; ôtô, tàu và máy bay; máy móc,thiết bị; hàng tồn kho…); Phương pháp định giá TSĐB; Cơ sở/thủ tục định giá TSĐB; Tần suất đánh giá lại TSĐB.
HNCB cho vay khách hàng với loại hình TSĐB ghi trong Hợp đồng vay là Quỹ Bảo lãnh tín dụng của OCGF Đài Loan (Overseas Credit Guarantee Funds) thông thường bằng 50%~70% của khoản vay. Việc quy định hình thức bảo lãnh của OCGF trong mục Tài sản bảo đảm nợ vay như vậy vẫn còn bất cập và chưa có mức ràng buộc cụ thể, tuy chưa xảy ra sự kiện phải thực thi hình thức bảo lãnh này.
HNCB cho vay khách hàng với loại hình TSĐB là BĐS hình thành từ vốn vay hoặc thế chấp đất đai trước rồi cho vay xây nhà xưởng. Sau khi xây dựng hoặc mua BĐS xong, đợi đến khi hoàn thành thủ tục cấp giấy tở về quyền sở hữu mới thế chấp, như vậy dẫn đến tình trạng có một số khách hàng đã đem tài sản đi thế chấp cho ngân hàng khác vì thỏa thuận được mức lãi suất và điều khoản vay vốn tốt hơn, nhưng khoản vay tại HNCB phải trở thành khoản vay không đủ Tài sản bảo đảm như thẩm định ban đầu hoặc tín chấp, gây rủi ro cho HNCB. Điều này chứng tỏ khâu pháp lý về quy định liên quan đến TSĐB còn lỏng lẽo.
Đối với các doanh nghiệp vay vốn tại HNCB được bảo lãnh bằng hình thức cá nhân Đài Loan hoặc công ty me và công ty liên quan tại Đài Loan bão lãnh ký phát Lệnh Phiếu (Promissory Notes) thực thi theo pháp luật Đài Loan, hình thức bảo lãnh này vẫn còn lỏng lẽo, bất cập và chưa có mức ràng buộc cụ thể.
Trong trường hợp không có thỏa thuận về phương thức xử lý Tài sản bảo đảm thì tài sản sẽ được bán đấu giá. Cái mới của Bộ luật dân sự năm 2015 đó chính là cho phép bên nhận bảo đảm được tự bán để xử lý Tài sản bảo đảm thu hồi khoản nợ. Đây là 1 ngoại lệ tại điều 195 của Bộ luật dân sự năm 2015 trong việc cho phép đối với bên nhận bảo đảm là bên không phải chủ trực tiếp sở hữu của Tài sản bảo đảm được tự bán Tài sản bảo đảm. Người không phải là chủ nắm giữ tài sản thì chỉ có quyền định đoạt nếu như có sự ủy quyền của chủ trực tiếp sở hữu hoặc theo luât định. Chính vì thế, Ngân hàng thương mại là bên nhận đảm bảo sẽ được tự mình phát mại tài sản cầm cố hay thế chấp, chỉ cần giữa các bên có cho phép về phương thức xử lý Tài sản bảo đảm mà không cần phải có ủy quyền của bên bảo đảm cho nhà băng. Quy định này được mong đợi sẽ tạo ra những tiện lợi cho Tổ chức tín dụng trong việc xử lý Tài sản bảo đảm thu hồi khoản nợ. Luận văn: Thực tiễn PL về thế chấp tài sản để đảm bảo vay vốn.
Hầu hết các bản án liên quan đến thế chấp Tài sản bảo đảm cho các Hợp đồng tín dụng đều được Tòa án tuyên xử cho kê biên phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Chẵn hạn như bản án số 07/2021/KDTM-PT về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước đã tuyên hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ký kết giữa ngân hàng M và công ty A có hiệu lực thực thi và được phép phát mại tài sản để thu hồi nợ. Mặc dù tài sản thế chấp thuộc hộ gia đình, có người trong hộ gia đình kháng cáo, không đồng ý để ngân hàng kê biên phát mại tài sản, nhưng theo quy định của pháp luật thì hợp đồng thế chấp được ký kết và chứng thực hợp lệ bời văn phòng công chứng và có đăng ký hiệu lực đối kháng với bên thứ ba tại văn phòng đăng ký đất đai phù hợp quy định, nên việc tòa án tuyên cho kê biên phát mại toàn bộ tài sản thế chấp để thu lại khoản nợ vay nếu công ty A không trả được nợ cho ngân hàng M là đúng quy định của luật.
Tuy nhiên, một số ngân hàng chỉ được phát mại một phần tài sản thế chấp, như trường hợp tại bản án số 174/2018/KDTM-PT liên quan đến tranh chấp hợp đồng tín dụng, Tòa án Nhân dân thành phố Hà Nội đã tuyên hợp đồng thế chấp giữa ngân hàng B và Công ty Q bị vô hiệu một phần, do hợp đồng Thế chấp tài sản mặc dù được công chứng ký kết hợp lệ đối với tài sản trên đất (không thế chấp đất do thuê đất trả tiền hàng năm). Do việc tách trách, nóng vội trong thẩm định cho vay, bỏ qua các tình tiết về các yêu cầu của Công ty C (trước đó đã ký kết hợp đồng mua lại một phần nhà xưởng và nhiều lần gửi đơn thư chặn không cho thế chấp tới ngân hàng B, nhưng bị ngân hàng B phớt lờ), cho nên không thể xử lý toàn bộ nhà xưởng thế chấp, bị tòa tuyên quyết định chỉ cho phép xử lý phần tài sản trên đất sau khi đã trừ phần diện tích chuyển nhượng cho Công ty C. Mặc dù bản án được phúc thẩm, nhưng căn cứ trên các bằng chứng và chứng cứ thực tế, ngân hàng vẫn sẽ khó có thể được tuyên thắng kiện. Điều này cho thấy mặc dù được nhận Tài sản bảo đảm cho Hợp đồng tín dụng trong cho vay, nhưng nếu nhà băng sơ sót bỏ qua các khâu thẩm định nhỏ, các tình tiết có nguy cơ ảnh hưởng đến việc nhận Tài sản bảo đảm, thì rủi ro ảnh hưởng đến việc xử lý tài sản thu hồi khoản nợ vẫn có thể xảy ra khi tòa phán quyết.
Đặc biệt nguy hiểm khi khoản vay ngân hàng có thể xảy ra tình trạng rủi ro mất vốn, nếu tòa tuyên không được phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nơ. Theo bản án số 03/2017/KDTM-PT liên quan đến tranh chấp hợp đồng tín dụng, Tòa án Nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã tuyên hợp đồng thế chấp giữa ngân hàng A và 2 cá nhân bị vô hiệu, do hợp đồng Thế chấp tài sản của bên thứ ba có dấu hiệu phạm tội và không có phù hợp quy định pháp luật theo điều 122 của Bộ luật dân sự 2005 là trên thần tự nguyện giao kết hợp đồng. Việc giao kết hợp đồng thế chấp được thực hiện một cách hời hợt, nhanh chóng mà người ký kết chưa được xem qua nội dung, chưa thể hiện ý chí đồng ý khi giao kết, sai sót trong quy trình ký kết hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp. Xuất phát từ sự cẩu thả, nóng vội trong cấp tín dụng của các cán bộ ngân hàng và sự lỏng lẽo trong công tác quản lý vay vốn, nên mới dẫn đến việc sai phạm và gây ra hậu quả không thể kê biên xử lý TSĐB thu hồi nợ, gây ra rủi ro mất vốn cho ngân hàng.
3.3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về Thế chấp tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đối với khoản vay ngân hàng nước ngoài
3.3.1. Về chế định Thế chấp tài sản Luận văn: Thực tiễn PL về thế chấp tài sản để đảm bảo vay vốn.
TCTS là 1 chế định pháp luật giữ vai trò hết sức quan trọng trong việc đảm bảo an toàn giao dịch và đẩy mạnh sự phát triển của các giao kết dân sự nói chung, đặc biệt là lĩnh vực hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng.
Sự không thống nhất và nhầm lẫn về cách hiểu liên quan đến quan hệ “bảo lãnh bằng Quyền sử dụng đất” hay là “thế chấp Quyền sử dụng đất của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cho người khác” là do quy định của luật chưa ghi nhận đúng bản chất pháp lý của mối quan hệ đảm bảo. Trong quan hệ hợp đồng, người có quyền thường đòi hỏi một Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Biện pháp bảo đảm này có thể là Biện pháp bảo đảm đối vật hoặc Biện pháp bảo đảm đối nhân. Cả hai Biện pháp bảo đảm này dựa trên hai quyền tài sản mà một người có thể có được, tương ứng đó là quyền đối vật và quyền đối nhân.
Như vậy có thể xác định, thế chấp là một dạng của bảo đảm đối vật vì nó quy định cho người có quyền (người nhận thế chấp) có thể thu hồi khoản nợ của mình thông qua xử lý các Tài sản bảo đảm, trong trường hợp đến hạn mà con nợ không hoàn thành nghĩa vụ. Ở đây đối tượng của quyền chính là tài sản thế chấp. Điều đó giúp phân biệt Thế chấp tài sản với Biện pháp bảo đảm đối nhân, ví dụ là bảo lãnh, vì trong trường hợp áp dụng Biện pháp bảo đảm đối nhân thì người có quyền (người nhận bảo lãnh) chỉ được phép yêu cầu bên bảo lãnh thực thi nghĩa vụ thay cho con nợ, mà không được thi hành quyền của mình trên bất kỳ một tài sản cụ thể nào của người bảo lãnh.
Việc pháp luật không phân loại và không quy định các Biện pháp bảo đảm thành bảo đảm đối vật và bảo đảm đối nhân sẽ dễ dẫn tới nhiếu hiểu nhầm trong cách hiểu về quan hệ bảo đảm, ví dụ như nhầm lẫn giữa bảo lãnh và thế chấp. Vì vậy, các quy định cho phép phân biệt rạch ròi về đảm bảo bằng vật quyền và đảm bảo bằng trái quyền sẽ cần phải được bổ sung. Để thực hiện điều này, các nhà làm luật có thể quy định theo hướng đưa định nghĩa về “vật quyền” và thiết lập “vật quyền” thành một chương của Bộ luật dân sự, qua đó sẽ làm cơ sở pháp lý cho đảm bảo nghĩa vụ bằng vật quyền trong các Biện pháp bảo đảm. Ngoài ra, cần có thêm việc bổ sung các quyền ưu tiên hoàn trả khoàn nợ và quyền truy đòi phù hợp với “vật quyền”.
3.3.2. Về chủ thể của Thế chấp tài sản Luận văn: Thực tiễn PL về thế chấp tài sản để đảm bảo vay vốn.
Trong quan hệ Thế chấp tài sản, để được gọi là bên thế chấp thì bên có nghĩa vụ cần phải sử dụng tài sản để bảo đảm cho việc thực thi nghĩa vụ của chính mình. Bên có quyền được gọi là bên nhận thế chấp. Chủ thể của Thế chấp tài sản phải là người đạt đủ yêu cầu mà luật pháp quy định về người tham gia vào giao kết dân sự nói chung. Bên TCTS có thể chính là bên có nghĩa vụ thể hiện ở quan hệ nghĩa vụ được đảm bảo bằng biện pháp thế chấp, có thể là bên thứ ba thế chấp (có quyền sở hữu tài sản trên đất, Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản khác…) bảo đảm cho bên có nghĩa vụ.
Chủ thể tham gia vào quan hệ Biện pháp bảo đảm là tổ chức, cá nhân trong tham gia hợp đồng, thỏa thuận có áp dụng Biện pháp bảo đảm. Ngoài ra, theo quy định tại Điều 35 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP có quy định “việc nhận thế chấp của cá nhân, tổ chức kinh tế không phải là Tổ chức tín dụng đối với quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất của hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất, thì việc nhận thế chấp của cá nhân, tổ chức kinh tế không phải là tổ chức tín dụng đối với quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất của hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất phải đáp ứng một số điều kiện theo quy định. Bên nhận thế chấp là tổ chức kinh tế theo quy định của Luật Đất đai, cá nhân là công dân Việt Nam có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Việc nhận thế chấp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ không vi phạm điều cấm của Bộ luật dân sự, luật khác liên quan, không trái đạo đức xã hội trong quan hệ hợp đồng về dự án đầu tư, xây dựng, thuê, thuê khoán, dịch vụ, giao dịch khác. Trường hợp nghĩa vụ được bảo đảm bao gồm trả tiền lãi thì lãi suất phát sinh do chậm trả tiền, lãi trên nợ gốc trong hạn, lãi trên nợ gốc quá hạn, lãi trên nợ lãi chưa trả hoặc lãi, lãi suất khác áp dụng không được vượt quá giới hạn thỏa thuận về lãi, lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357, khoản 5 Điều 466 và Điều 468 của Bộ luật dân sự. Trường hợp có thỏa thuận về việc xử lý đối với hành vi không trả nợ đúng hạn của bên có nghĩa vụ và không có quy định khác của pháp luật thì chỉ xử lý một lần đối với mỗi hành vi không trả nợ đúng hạn. Ngoài ra, luật còn quy định điều kiện có hiệu lực khác của giao dịch dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự, luật khác liên quan”.
Ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch Hiệp hội BĐS TP.HCM (có phát biểu trên bài viết của thanhnienonline), “hiện luật Đất đai không cho phép thế chấp bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại các nhà băng ở nước ngoài. Quy định này cho đến nay đã không còn phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế sâu rộng của nước ta, làm hạn chế khả năng huy động các nguồn lực tài chính từ các tổ chức tài chính quốc tế và các nhà đầu tư nước ngoài phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế đất nước. Do vậy, việc mở cửa cho phép thế chấp các dự án BĐS tại các ngân hàng nước ngoài là cần thiết, giúp làm tăng lòng tin và bảo đảm lợi ích của nhà đầu tư, nhất là các nhà đầu tư nước ngoài.”
Theo quy định trên, thì tổ chức nhận tài sản thế chấp sẽ không bao gồm tổ chức ở nước ngoài (Hua Nan Bank Đài Loan). Vì vậy, hiện tại Hua Nan Bank tại Đài Loan đang nhận Tài sản bảo đảm là BĐS chỉ có thể thực hiện gián tiếp thông qua Hua Nan Bank chi nhánh TP. Hồ Chí Minh bằng cách cấp hạn mức thư tín dụng dự phòng Standby L/C cho bên vay để họ thế chấp BĐS cho hạn mức này, rồi mỗi lần giải ngân thì mở một bức SBLC tương ứng số tiền vay cho bên thụ hưởng là Hua Nan Bank Đài Loan, như vậy thì thủ tục rất rườm rà và mất thời gian, chi phí đối với doanh nghiệp Việt Nam vay vốn ngân hàng tại nước ngoài. Vì vậy, kiến nghị luật pháp Việt Nam nên bổ sung quyền thế chấp bật động sản cho ngân hàng tại nước ngoài để thuận tiện cho việc vay vốn của doanh nghiệp Việt Nam. Luận văn: Thực tiễn PL về thế chấp tài sản để đảm bảo vay vốn.
3.3.3. Về đối tượng của Thế chấp tài sản
Điều 295 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định tài sản bảo đảm gồm: “(1) Tài sản bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm, trừ trường hợp cầm giữ tài sản, bảo lưu quyền sở hữu. (2) Tài sản bảo đảm có thể được mô tả chung, nhưng phải xác định được. (3) Tài sản bảo đảm có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai. (4) Giá trị của Tài sản bảo đảm có thể lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm”. Điều 8 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP hướng dẫn cụ thể về tài sản dùng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ bao gồm: “(1) Tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai, trừ trường hợp Bộ luật dân sự, luật khác liên quan cấm mua bán, cấm chuyển nhượng hoặc cấm chuyển giao khác về quyền sở hữu tại thời điểm xác lập hợp đồng bảo đảm, Biện pháp bảo đảm; (2) Tài sản bán trong hợp đồng mua bán tài sản có bảo lưu quyền sở hữu; (3) Tài sản thuộc đối tượng của nghĩa vụ trong hợp đồng song vụ bị vi phạm đối với biện pháp cầm giữ; (4) Tài sản thuộc sở hữu toàn dân trong trường hợp pháp luật liên quan có quy định”. Tài sản bảo đảm được định giá theo quy định tại Điều 306 của Bộ luật dân sự năm 2015. Theo đó, “bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm có quyền thỏa thuận về giá Tài sản bảo đảm hoặc định giá thông qua tổ chức định giá tài sản khi xử lý Tài sản bảo đảm. Trường hợp không có thỏa thuận thì tài sản được định giá thông qua tổ chức định giá tài sản. Việc định giá Tài sản bảo đảm phải bảo đảm khách quan, phù hợp với giá thị trường. Tổ chức định giá phải bồi thường thiệt hại nếu có hành vi trái pháp luật mà gây thiệt hại cho bên bảo đảm, bên nhận bảo đảm trong quá trình định giá Tài sản bảo đảm”.
Việc định giá tại thời điểm thế chấp chỉ mang tính tham khảo, do khi thực hiện bán Tài sản bảo đảm đã thế chấp để thu hồi khoản nợ thì sẽ phải thực hiện định giá lại bởi tổ chức định giá chuyên môn. Vì vậy, kiến nghị Hua Nan Bank không nên ghi giá trị số tiền Tài sản bảo đảm trong hợp đồng thế chấp, chỉ nên ghi trong biên bản định giá và trong hợp đồng thế chấp sẽ dẫn chiếu đến giá trị tài sản là đã được đề cập và thỏa thuận trong biên bản định giá tài sản thế chấp.
Ngoài ra, mặc dù hình thức thế chấp máy móc thiết bị không được ưa chuộng, không có giá trị bằng BĐS, khó quản lý và phát mại để thu hồi nợ, thời gian khấu hao nhanh, nhưng luật pháp có cho phép thế chấp loại hình tài sản này thì Hua Nan Bank cũng nên xem xét cho người đi vay thế chấp, không nên chỉ giới hạn loại hình cầm cố tiền gửi và thế chấp bằng BĐS. Việc có thêm tài sản thế chấp máy móc thiết bị này cũng phần nào có ràng buộc trách nhiệm trả khoản nợ của bên đi vay, giảm thiểu rủi ro mất vốn của ngân hàng.
3.3.4. Về đăng ký Thế chấp tài sản Luận văn: Thực tiễn PL về thế chấp tài sản để đảm bảo vay vốn.
Theo quy định tại Điều 22 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP, “Hợp đồng bảo đảm được công chứng, chứng thực theo quy định của Bộ luật dân sự, luật khác liên quan hoặc theo yêu cầu thì có hiệu lực từ thời điểm được công chứng, chứng thực. Hợp đồng bảo đảm không thuộc trường hợp trên thì có hiệu lực từ thời điểm do các bên thỏa thuận. Trường hợp không có thỏa thuận thì có hiệu lực từ thời điểm hợp đồng được giao kết.”
Theo quy định tại Điều 298 Bộ luật dân sự năm 2015, “BPBĐ được đăng ký theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật. Việc đăng ký là điều kiện để giao dịch bảo đảm có hiệu lực chỉ trong trường hợp luật có quy định. Trường hợp được đăng ký thì Biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký. Việc đăng ký Biện pháp bảo đảm được thực hiện theo quy định của pháp luật về đăng ký Biện pháp bảo đảm.” Nội dung này được hướng dẫn cụ thể tại Điều 23 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP.
Đăng ký Biện pháp bảo đảm được hướng dân cụ thể tại Nghị định số 99/2022/NĐ-CP ngày 30 tháng 11 năm 2022 của Chính phủ về đăng ký Biện pháp bảo đảm. Vì vậy, khi hoàn tất xác lập hợp đồng thế chấp, bên nhận thế chấp nhất định phải “đăng ký giao dịch bảo đảm” như một sự bắt buộc “công khai hóa” quyền của mình liên quan đến tài sản, để bên thế chấp được biết và cân nhắc khi thiết lập các giao kết về tài sản thế chấp, nói cách khác bên nhận thế chấp đã hoàn tất thực thi “hiệu lực đối kháng với bên thứ ba”. Cho nên, bên thứ ba đã biết về quyền này và phải chịu “hiệu lực đối kháng” liên quan đến tài sản và cần phải nhường lại quyền ưu tiên xử lý Tài sản bảo đảm cho bên nhận thế chấp đã “đăng ký giao dịch bảo đảm”.
Điểm tiến bộ của Bộ luật dân sự năm 2015 thể hiện ở chỗ tách bạch về “hiệu lực” và “hiệu lực đối kháng với người thứ ba” của hợp đồng Thế chấp tài sản. Hợp đồng Thế chấp tài sản chỉ chưa có “hiệu lực đối kháng với người thứ ba” chứ không bi mất đi “hiệu lực” giữa bên thế chấp và bên nhận thế chấp, nếu như việc Thế chấp tài sản chưa được đăng ký theo quy định (ngoại trừ việc đăng ký là tiêu chuẩn, điều kiện để hợp đồng Thế chấp tài sản có hiệu lực). Về nguyên tắc, nếu như các bên không đăng ký đối với việc Thế chấp tài sản, các bên vẫn phải tuân thủ và thực hiện theo nghĩa vụ như đã cam kết tại hợp đồng thế chấp.
Việc đăng ký thế chấp được chia làm 2 trường hợp là trường hợp bắt buộc phải đăng ký và trường hợp đăng ký khi có yêu cầu. Các Biện pháp bảo đảm phải đăng ký gồm: “Thế chấp quyền sử dụng đất; Thế chấp tài sản gắn liền với đất trong trường hợp tài sản đó đã được chứng nhận quyền sở hữu trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; Cầm cố tàu bay, thế chấp tàu bay và Thế chấp tàu biển”. Các Biện pháp bảo đảm sẽ được đăng ký khi có yêu cầu gồm: “Thế chấp tài sản là động sản khác; Thế chấp tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai; Bảo lưu quyền sở hữu trong trường hợp mua bán tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai; mua bán tàu bay, tàu biển; mua bán tài sản là động sản khác có bảo lưu quyền sở hữu”. Luận văn: Thực tiễn PL về thế chấp tài sản để đảm bảo vay vốn.
Trường hợp đăng ký thay đổi do bổ sung Tài sản bảo đảm mà các bên không thực hiện thêm ký kết hợp đồng bảo đảm mới hoặc do bổ sung nghĩa vụ được bảo đảm và tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo đảm các bên không có thỏa thuận về việc bảo đảm cho các nghĩa vụ phát sinh trong tương lai, thì thời điểm xảy ra hiệu lực của việc đăng ký Biện pháp bảo đảm đối với nghĩa vụ bổ sung hay là tài sản bổ sung chính là thời điểm mà cơ quan đăng ký ghi lại nội dung của đăng ký thay đổi vào cuốn sổ đăng ký hoặc cập nhật, lưu vào hệ thống cơ sở dữ liệu về Biện pháp bảo đảm. Ngoài ra, Nghị định số 99/2022/NĐ-CP nêu cụ thể các trường hợp đăng ký không làm thay đổi thời điểm có hiệu lực của đăng ký Biện pháp bảo đảm. Thời hạn có hiệu lực của đăng ký Biện pháp bảo đảm là kể từ thời điểm đăng ký theo quy định cho đến thời điểm xóa đăng ký Biện pháp bảo đảm.
Vì vậy, đối với việc cầm cố, thế chấp bằng động sản và giấy tờ có giá tại Hua Nan Bank Đài Loan, kiến nghị ngân hàng nên đăng ký hiệu lực đối kháng, đặc biệt là đối với máy móc thiệt bị trong nhà xưởng của doanh nghiệp trên lãnh thổ Việt Nam và giấy tờ có giá tại nhà băng khác. Điều này sẽ giúp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của ngân hàng nước ngoài khi doanh nghiệp tại Việt Nam vay vốn không trả được nợ vay và xử lý Tài sản bảo đảm được thuận lợi.
Các tài sản thế chấp tại Hua Nan Bank, ngoài BĐS thế chấp gián tiếp tại chi nhánh TP. Hồ Chí Minh có đăng ký thế chấp tại văn phòng đăng ký đất đai ra, thì Hua Nan Bank vẫn chưa sửa đổi quy định nội bộ đối với việc cầm cố tiền gửi có kỳ hạn của khách hàng vay cần đăng ký tại cơ quan đăng ký giao dịch tài sản, đặc biệt là khi cầm cố tiền gửi có kỳ hạn tại nhà băng khác. Vì vậy, Tổ chức tín dụng nên trình cấp lãnh đạo tập đoàn nghiên cứu, điều chỉnh và thông qua để hệ thống Hua Nan Bank có thể thực hiện và áp dụng quy định nội bộ thống nhất, rõ ràng và phù hợp với quy định hiện hành về hiệu lực đối kháng với bên thứ ba khi tài sản được đăng ký với cơ quan có thẩm quyền, làm giảm rủi ro không xử lý được Tài sản bảo đảm theo quy định.
3.3.5. Về loại hình của Thế chấp tài sản và xử lý tài sản thế chấp
Điều 303 Bộ luật dân sự năm 2015 đã có quy định “bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm có quyền thỏa thuận một trong các phương thức xử lý tài sản cầm cố, thế chấp sau đây: a) Bán đấu giá tài sản; b) Bên nhận bảo đảm tự bán tài sản; c) Bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm; d) Phương thức khác. Trường hợp không có thỏa thuận về phương thức xử lý tài sản bảo đảm thì tài sản được bán đấu giá, trừ trường hợp luật có quy định khác”.
Về nguyên tắc xử lý Tài sản bảo đảm đã có quy định tại Điều 49 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP, “việc xử lý tài sản bảo đảm phải được thực hiện đúng với thỏa thuận của các bên, quy định của Nghị định này và pháp luật liên quan. Bên nhận bảo đảm thực hiện việc xử lý tài sản bảo đảm trên cơ sở thỏa thuận trong hợp đồng bảo đảm thì không cần có văn bản ủy quyền hoặc văn bản đồng ý của bên bảo đảm. Trường hợp Bộ luật Dân sự, luật khác liên quan quy định tài sản đang dùng để bảo đảm phải xử lý để bên bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác thì tài sản này được xử lý theo quy định đó. Việc bên nhận bảo đảm xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ không phải là hoạt động kinh doanh tài sản của bên nhận bảo đảm. Việc nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm và bán tài sản cầm cố, thế chấp theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015”.
Ngoài ra, theo quy định tại thông tư 12/2022/TT-NHNN ngày 30/9/2022 quy định về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp, khi phát sinh nghĩa vụ bảo đảm bằng tài sản cho khoản vay nước ngoài, bên bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo đảm theo các cam kết tại thỏa thuận vay và các thỏa thuận bảo đảm không trái với quy định pháp luật Việt Nam về giao dịch bảo đảm và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Vì vậy, theo quy định của Luật đất đai hiện hành thì đối với đất trên lãnh thổ Việt Nam không được thế chấp cho cá nhân, tổ chức ở nước ngoài. Điều này gây cản trở cho việc thế chấp trực tiếp BĐS cho Hua Nan Bank Đài Loan. Hiện nay, Hua Nan Bank Đài Loan chỉ nhận BĐS thế chấp thông qua bắt cầu (SBLC) tại chi nhánh Hua Nan Bank TP.HCM. Việc hạn chế thế chấp như vậy làm tăng thêm thủ tục rườm rà phức tạp, tăng thêm chi phí sử dụng vốn vay cho doanh nghiệp tại Việt Nam. Luận văn: Thực tiễn PL về thế chấp tài sản để đảm bảo vay vốn.
Theo bảng tin được đăng trên VNExpress.net ngày 15/03/2023 “Đề xuất cho doanh nghiệp thế chấp quyền sử dụng đất vay nước ngoài” liên quan đến hội thảo “Lấy ý kiến dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)” chiều 15/3 ở TP HCM, ông Darryl Dong, Phó giám đốc Quốc gia Việt Nam của Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) Ngân hàng Thế giới (World Bank), đưa ra đề xuất doanh nghiệp được thế chấp BĐS trực tiếp hoặc gián tiếp để vay vốn quốc tế. Đại diện IFC cho biết thế chấp BĐS vay vốn nước ngoài là giải pháp vốn hoá đất đai đã được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới, như Trung Quốc, Campuchia, Thái Lan. Việc Việt Nam không có quy định này đang làm giảm nguồn tài trợ quốc tế và tăng chi phí vay vốn của doanh nghiệp. Hệ quả là Việt Nam bị giảm đáng kể lợi thế cạnh tranh so với doanh nghiệp nước ngoài. Cho nên, theo đề xuất kiến nghị đối với luật pháp Việt Nam nêu trên sẽ giúp mở rộng việc thế chấp BĐS cho ngân hàng ở nước ngoài, thu hút thêm nhiều nguồn vốn ngoại tệ giá rẽ chảy vào lãnh thổ Việt Nam.
Kết luận chương 3 Luận văn: Thực tiễn PL về thế chấp tài sản để đảm bảo vay vốn.
TCTS là 1 chế định pháp luật có 1 vai trò trọng yếu nhằm đảm bảo cho việc an toàn giao dịch, thúc đẩy quá trình phát triển của các giao dịch dân sự, nhất là về lĩnh vực tài trợ nguồn vốn vay của Ngân hàng thương mại. Biện pháp bảo đảm và việc xử lý các Tài sản bảo đảm được quy định tại khá nhiều văn bản khác nhau. Các vấn đề chung được quy định tại BLDS năm 2015, Nghị định số 21/2021/NĐ-CP, Nghị định 99/2022/NÐ-CP, Thông tư liên tịch số 16/2014/TTLT-BTP-BTNMT-NHNN và Thông tư số 12/2022/TT-NHNN ngày 30/9/2022.
Ngoài ra, theo nguyên tắc vận dụng luật pháp trong thực hiện Biện pháp bảo đảm được quy định tại Nghị định số 21/2021/NĐ-CP thì phải áp dụng theo các quy định pháp luật chuyên ngành có liên quan như: tín dụng, đất đai, khoáng sản… Mặc khác, đối với việc bảo đảm khoản vay nước ngoài có quy định tại Thông tư 12/2022/TTNHNN, việc quy định và thực thi về bảo đảm khoản vay nước ngoài còn nhiều bất cập và phức tạp. Trong đó bên đi vay đã bị phá sản, giải thể không trả được nợ vay nước ngoài, lúc này chủ thể không còn tồn tại thì rất khó thực hiện trách nhiệm thông báo (như quy định tại thông tư 12) cho bên nhận bảo đảm, ngân hàng phục vụ giao dịch bảo đảm và ngân hàng cung ứng dịch vụ tài khoản để phối hợp giải quyết xử lý tài sản bảo đảm để chuyển tiền trả vay nước ngoài.
Với hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh rộng, nhiều lĩnh vực là một trong những khó khăn cho người áp dụng pháp luật. Với tầm quan trọng và phạm vi điều chỉnh rộng, thiết nghĩ cơ quan chức năng cần xây dựng Luật biện pháp bảo đảm (trong đó có thông tin về bảo đảm đối với khoản vay nước ngoài) để tập trung các quy định, bảo đảm tính hiệu lực, hiệu quả, thuận lợi trong thực hiện pháp luật.
KẾT LUẬN Luận văn: Thực tiễn PL về thế chấp tài sản để đảm bảo vay vốn.
Hợp đồng dân sự có vai trò cực kỳ quan trọng trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức cũng như cá nhân tham gia các giao dịch dân sự. Đây chính là ràng buộc pháp lý về quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng, là căn cứ để giải quyết những tranh chấp liên quan đến những vấn đề mà các bên tham gia giao kết hợp đồng đã thương thảo và thống nhất. Trong thời đại mà đất nước đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và vươn ra thế giới, các quan hệ kinh tế xã hội do tác động của nền kinh tế thị trường trở nên phức tạp và đa dạng hơn thì sự cần thiết phải nhận thức đúng đắn, đầy đủ về hợp đồng giao dịch nói chung và hợp đồng thế chấp nói riêng đã trở nên rất quan trọng.
Đã có nhiều đề tài khoa học nghiên cứu lý luận về thế chấp, thực trạng và đưa ra giải pháp để hoàn thiện pháp luật về thế chấp BĐS, máy móc thiết bị, cũng như là cầm cố Tài sản bảo đảm khác. Tuy nhiên, chưa có một đề tài nào nghiên cứu có hệ thống các quy định của pháp luật về hợp đồng thế chấp, trong đó có việc thế chấp đảm bảo thực hiện nghĩa vụ hợp đồng tín dụng nước ngoài. Trong luận văn này, tôi đã nghiên cứu các vấn đề lý luận về thế chấp, các quy định pháp luật hiện hành về hợp đồng thế chấp tài sản cho khoản vay ờ nước ngoài, các vướng mắc cần giải quyết khi áp dụng pháp luật về Thế chấp tài sản. Đồng thời nêu lên 1 số kiến nghị nhằm để hoàn thiện pháp luật về công tác Thế chấp tài sản đảm bảo thực hiện nghĩa vụ đối với việc vay vốn ngân hàng nước ngoài.
Sau khi tìm hiểu, phân tích các vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn của các quy định pháp luật về Thế chấp tài sản trong hoạt động cho vay của Hua Nan Bank, luận văn đã chỉ ra những mặt được và chưa được của hệ thống pháp luật về Thế chấp tài sản, nhằm đảm bảo cho hoạt động của nhà băng đạt được các điểm chính yếu như an toàn, hiệu quả, giảm thiểu rủi ro tối đa cho việc mất vốn khoản vay nước ngoài. Ngân hàng cần dùng các biện pháp Thế chấp tài sản của bên đi vay để bảo đảm cho các khoản vay của mình, ràng buộc bổn phận, trách nhiệm trả nợ của khách hàng vay, hạn chế đến mức thấp nhất về rủi ro có thể xảy ra. Việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về Thế chấp tài sản trong hoạt động cho vay của ngân hàng luôn được xem là sự cấp thiết trước nhu cầu tài trợ nguồn vốn vay của nhà băng cho nền kinh tế, đặc biệt là vay vốn nước ngoài, thu hút dòng ngoại tệ chảy vào Việt Nam, đồng thời đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng vay.
Trong công tác hoàn thiện pháp luật về Thế chấp tài sản đảm bảo cho Hợp đồng tín dụng, thì sự an toàn, hiệu quả cao cần được ưu tiên thực hiện, vì vậy nội bộ Hua Nan Bank nên xây dựng, thiết lập các quy định mang tính dự báo, phòng ngừa và có thể hạn chế rủi ro, điều này vẫn chưa được ngân hàng chú trọng thực hiện. Đồng thời nhà làm luật cần kết hợp tìm hiểu, nghiên cứu, áp dụng kinh nghiệm của quốc tế trong việc điều chỉnh, sửa đổi pháp luật để việc Thế chấp tài sản ngày càng được hoàn thiện hơn, hoạt động TCTS ngày càng hòa nhập với môi trường pháp luật quốc tế. Luận văn: Thực tiễn PL về thế chấp tài sản để đảm bảo vay vốn.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Pháp luật về thế chấp tài sản để đảm bảo vay vốn

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
