Luận văn: Pháp luật về thế chấp tài sản để đảm bảo vay vốn

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật về thế chấp tài sản để đảm bảo vay vốn hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Pháp luật về thế chấp tài sản để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp Việt Nam vay vốn Ngân hàng Hua Nan Commercial Bank, Ltd Đài Loan dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

TÓM TẮT

Đề tài: “Pháp luật về thế chấp tài sản để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp Việt Nam vay vốn Ngân hàng Hua Nan Commercial Bank, Ltd Đài Loan

Trong thời đại của nền kinh tế thị trường như hiện nay, nhu cầu vốn vay để đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp là rất lớn. Thông qua hệ thống ngân hàng (đại diện là các ngân hàng thương mại (NHTM)), là các “kênh” bơm vốn chủ yếu cho các công ty, doanh nghiệp. Trong đó, kinh doanh lĩnh vực ngân hàng là hoàn toàn mở trong cam kết gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) của Việt Nam. Lĩnh vực cho vay rất hay xảy ra các rủi ro, bởi đây là loại hình kết nối với mọi hoạt động sản xuất, loại hình kinh doanh nói chung. Để hoạt động cho vay được an toàn, hạn chế đến mức thấp nhất các rủi ro, ở hấu hết các quốc gia đều quy định chặt chẽ trong cấp hạn ngạch vay, đặc biệt quan tâm đến việc cấp vay có đảm bảo bằng tài sản thế chấp. TSBĐ cho khoản vay là tài sản do bên vay hoặc bên bảo lãnh cung cấp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Chính vì thế, việc nghiên cứu về hợp đồng thế chấp tài sản (TCTS) về cho vay của NHTM là rất cấp thiết. Luận văn lựa chọn đề tài trên và sử dụng các phương pháp nghiên cứu thích hợp đã hoàn thành các nội dung chủ yếu sau:

Thứ nhất, luận văn hệ thống hóa các vấn đề cơ bản liên quan đến cơ sở lý luận pháp luật về hợp đồng thế chấp, đưa ra một số khái niệm, đặc điểm pháp lý của hợp đồng TCTS, phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về TCTS, qua đó nắm bắt được nội dung cơ bản liên quan đến TCTS tại các NHTM nói chung và Ngân hàng Hua Nan Commercial Bank (HNCB) nói riêng. Luận văn: Pháp luật về thế chấp tài sản để đảm bảo vay vốn.

Thứ hai, luận văn làm rõ thực trạng HĐTD tại HNCB được bảo đảm bằng tài sản thế chấp. Trong đó, đề cập đến các hoạt động và kết quả của việc cho vay, tóm lược về hoạt động cầm cố tài sản để vay vốn, những loại hình TCTS mà HNCB đang áp dụng.

Thứ ba, luận văn xem xét thực trạng áp dụng pháp luật đối với TCTS nhằm đảm bảo thực hiện nghĩa vụ hợp đồng vay tại HNCB, từ đó nêu ra kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật TCTS, nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động TCTS tại HNCB.

Từ khóa: hoạt động cho vay có thế chấp,  pháp luật về TCTS, hoàn thiện công tác TCTS tại HNCB

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Luật

ABSTRACT

Subject: “Law on mortgage of property to ensure the performance of obligations of Vietnamese enterprises borrowing capital of Hua Nan Commercial Bank, Ltd Taiwan

In the current era of the economic market, the demand for loans to invest in production and business development of enterprises is very large. Through the banking system (represented by commercial banks), are the main “channels” of providing capital for businesses. In which, banking is a completely open field in Vietnam’s commitment to join the World Trade Organization (WTO). Lending activities always have potential risks, because in general this is a factor associated with all business activities. In order to ensure safety, efficiency and minimize risks in lending activities, there are strict regulations on lending in all countries around the world, of which special focus on lending activities secured by properties mortgaged. In this case, the secured loans are the assets of borrowers or guarantors to secure the performance of their obligations. As the result, it is very important to study the bank’s mortgage assets in lending activities in particular. The thesis selected this topic and used appropriate research methods have completed the following main contents:

Firstly, the thesis systematizes the issues related to the legal basis of mortgage contracts, giving some concepts and legal characteristics of asset mortgage contracts, analyze the provisions of the current Vietnamese laws on assets mortgage, in order to grasp the basic contents related to mortgage of properties at the banks in general and Hua Nan Commercial Bank (HNCB) in particular.

Next, the thesis clarifies the situation of assets mortgage to secure loan contracts at HNCB. In which, the activities and results of the credit grant are mentioned, the activities of mortgaging assets to secure loans are stated, and the types of property mortgage that HNCB is applying.

Finally, the thesis examines the current situation of applying the law on mortgage of assets to ensure the performance of loan contract obligations at HNCB, thereby making recommendations to contribute for improving the law on mortgage of assets and improving the quality of mortgage activities management at HNCB.

PHẦN MỞ ĐẦU Luận văn: Pháp luật về thế chấp tài sản để đảm bảo vay vốn.

1. GIỚI THIỆU

1.1 Đặt vấn đề

Hoạt động cho vay là một trong các nghiệp vụ cơ bản của Ngân hàng thương mại, mang lại lợi nhuận chính cho các Tổ chức tín dụng trong và ngoài nước. Tuy nhiên, vấn đề mà các Ngân hàng thương mại đang phải đối mặt là rủi ro mất vốn trong lĩnh vực cho vay do người vay không trả được khoản tiền nợ. Rủi ro này gây ra tổn thất về tài chính, giảm giá trị thị trường của nguồn vốn ngân hàng, nếu bị nghiêm trọng hơn có thể khiến hoạt động kinh doanh của ngân hàng bị âm vốn thua lỗ, thậm chí là ngân hàng bị phá sản. Ngân hàng Hua Nan Commercial Bank tại Đài Loan (sau đây gọi là HNCB TW) cũng là Tổ chức tín dụng có nguồn thu chủ yếu từ lĩnh vực cho vay các doanh nghiệp Việt Nam phù hợp với thông tư 12/2022/TT-NHNN (hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp), cũng sẽ vướng phải các rủi ro tín dụng tiềm ẩn từ hoạt động cấp tín dụng của mình. Chính vì thế, các biện pháp giảm thiểu và phòng ngừa rủi ro trong lĩnh vực cho vay cần được áp dụng thích hợp với đặc thù hoạt động kinh doanh của từng ngân hàng trong và ngoài nước.

Ngân hàng Hua Nan Commercial Bank từ lúc thành lập và hoạt động đến nay đã hơn 100 năm. HNCB TW cũng có chi nhánh tại TP. Hồ Chí Minh. HNCB TW cũng dần đi vào ổn định trong hoạt động kinh doanh tại thị trường Việt Nam và quốc tế. Nguồn thu nhập chủ yếu của HNCB TW là từ việc cấp tín dụng, cho vay khách hàng doanh nghiệp và tổ chức kinh tế chiếm trên 90% tổng doanh thu và lợi nhuận, đặt biệt là các khoản cho vay hợp vốn. Tuy trong quá trình hoạt đông cho vay có phát sinh nợ xấu và nợ quá hạn ở mức thấp, tình trạng một số khách hàng phá sản, không trả được nợ, thậm chí sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro nợ xấu và chuyển qua theo dõi ngoại bảng, nhưng con số này dường như sẽ tăng lên đáng kể trong những năm tới.

Ngoài ra, việc cạnh tranh trên thị trường cho vay doanh nghiệp giữa các ngân hàng ngày càng quyết liệt, nên việc xét cấp tín dụng càng ngày càng được nới lõng các tiêu chí xem xét để tăng doanh số và tăng số lượng khách hàng vay. Điều này làm tăng rủi ro cho vay và chất lượng tín dụng yếu kém của ngân hàng. Mặt khác, việc kiểm tra kiểm soát sau cho vay, đi thăm thực tế và đánh giá mục đích sử dụng về vốn vay vẫn chưa được thật sự chú trọng, đặc biệt là đối với các khách hàng vay có năng lực tài chính không tốt, bị thua lỗ nhiều năm liên tiếp, cũng sẽ gây ra rủi ro chậm trả nợ hoặc không trả được nợ cho HNCB TW.

Một trong các biện pháp để hạn chế và giảm thiểu rủi ro trong quá trình cho vay của ngân hàng trong và ngoài nước là có Tài sản bảo đảm đối với khoản vay. Đối với HNCB TW thì Tài sản bảo đảm chủ yếu cho khoản vay ngân hàng nước ngoài này là BĐS và tiền gửi của khách hàng là doanh nghiệp Việt Nam vay vốn trực tiếp HNCB TW.

Vấn đề pháp lý đối với việc xử lý Tài sản bảo đảm khi doanh nghiệp Việt Nam vay vốn mà không hoàn trả được nợ để có thể chuyển được nguồn tiền ra khỏi lãnh thổ Viêt Nam cho HNCB TW thu hồi nợ vay quá hạn là vấn đề cần phải được làm rõ. Vì vậy, tôi chọn đề tài “Pháp luật về thế chấp tài sản để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp Việt Nam vay vốn Ngân hàng Hua Nan Commercial Bank, Ltd Đài Loan” để nghiên cứu tìm hiểu, giải đáp các vấn đề về pháp lý đối với Tài sản bảo đảm đối với khoản vay của doanh nghiệp Việt Nam vay vốn HNCB TW, góp phần hạn chế, giảm thiểu rủi ro mất vốn trong quá trình cho vay của HNCB TW, cũng như các rủi ro pháp lý vướng mắc mà HNCB TW có thể gặp phải khi nhận Tài sản bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm thu hồi nợ vay trên lãnh thổ Việt Nam chuyển qua lãnh thổ Đài Loan.

1.2 Tính cấp thiết của đề tài:  Luận văn: Pháp luật về thế chấp tài sản để đảm bảo vay vốn.

Hoạt động cấp tín dụng của Ngân hàng thương mại là một trong những hoạt động truyền thống và quan trọng, hoạt động này ngoài việc mang lại lợi nhuận từ chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động, các chi phí hoạt động, thì cũng là 1 trong những nhân tố góp phần để thu hút khách hàng đến sử dụng các dịch vụ của ngân hàng. Ngân hàng thương mại trong quá trình xem xét cho vay cần chú ý đến vấn đề Tài sản bảo đảm cho Hợp đồng tín dụng và cần nắm rõ các quy định pháp luật về đảm bảo nghĩa vụ trả nợ vay tránh thất thoát vốn cho vay. Các doanh nghiệp trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ luôn gặp phải những rủi ro tiềm tàng, từ việc giải quyết các khoản nợ phải trả tồn đọng trong bản thân doanh nghiệp đến việc kinh doanh sản xuất kém hiệu quả và khóc liệt trong cạnh tranh của nền kinh tế, từ đó dẫn đến việc không có khả năng trả khoản nợ vay tại ngân hàng, vì vậy hoạt động tài trợ vốn của ngân hàng luôn tiềm ẩn rủi ro.

Bên cạnh đó, việc kinh doanh của hầu hết các Ngân hàng thương mại tập trung vào tăng doanh số dư nợ tín dụng, nhưng chất lượng tín dụng chưa cao, việc quản trị rủi ro còn nhiều bất cập, tỷ lệ nợ xấu, quá hạn và có khả năng mất vốn vay vẫn làm đau đầu các nhà quản trị rủi ro. Thu nhập từ hoạt động tín dụng chiếm tới hơn 80% nguồn lợi nhuận của các ngân hàng và nếu rủi ro tín dụng xảy ra thì ngân hàng sẽ bị sụt giảm thu nhập đáng kể. Tình trạng lỗ vốn kéo dài làm mất uy tín của ngân hàng, thậm chí có thể đẩy nhà băng đến nguy cơ phá sản. Chỉ cần một khách hàng mất khả năng trả nợ thì bao nhiêu công sức, lợi nhuận của ngân hàng sẽ bị xóa bỏ một cách nhanh chóng, nếu đây là khoản vay lớn thì nó còn có thể ảnh hưởng xấu đến năng lực tài chính và danh tiếng của ngân hàng.

Trước sức ép tăng trưởng của nền kinh tế, HNCB TW đã nỗ lực vượt qua mọi khó khăn để thực hiện xuất sắc các nhiệm vụ kinh doanh, giữ vững và phát huy vai trò là ngân hàng nước ngoài hoạt động tốt và bền vững tại thị trường Việt Nam và quốc tế, cũng như là giữ vững được uy tín trong hoạt động ngân hàng của Tập đoàn tài chính Hua Nan xếp hạng thứ 201 trong top 1.000 ngân hàng lớn trên thế giới (do The Banker xếp hạng và công bố vào tháng 7/2022). Nhận thức được vai trò và uy tín của chi nhánh ngân hàng, đồng thời để tránh được nguy cơ sụt giảm chất lượng tín dụng luôn tồn tại và có khả năng đe dọa đến sự phát triển bền vững của mình, HNCB TW đã phối hợp với Ngân hàng Hua Nan chi nhánh TP. Hồ Chí Minh đẩy mạnh công tác cải cách toàn diện, nhất là trong việc quản lý rủi ro tín dụng. Do đó, kể từ lúc mới thành lập chi nhánh TP. Hồ Chí Minh đến nay đã nhiều năm liền ngân hàng không những đạt được những kết quả kinh doanh ấn tượng trong hệ thống các chi nhánh ở nước ngoài, mặc dù tỷ lệ nợ xấu được duy trì ở mức thấp nhất trong toàn hệ thống cũng như trong nước Việt Nam.

Tuy nhiên, rủi ro phát sinh nợ xấu vẫn tồn tại và có thể xảy ra trong tiến trình hoạt động cho vay của chi nhánh TP.HCM cũng như HNCB TW, đặc biệt là chưa hiểu rõ về các quy định của luật đối với quy trình cho vay có Tài sản bảo đảm và khách hàng vay sử dụng tài sản để thế chấp, cầm cố chưa phù hợp quy định pháp luật. Xuất phát từ lý do về rủi ro trong hoạt động cho vay trên, HNCB TW cũng như chi nhánh TP. Hồ Chí Minh cần yêu cầu người vay phải đưa, cung cấp Tài sản bảo đảm cho khoản vay theo đúng quy định của pháp luật, từ đó cần làm rõ, nắm bắt và hiểu rõ luật, các quy định liên quan đến đảm bảo nghĩa vụ của doanh nghiệp Việt Nam vay vốn tại ngân hàng HNCB TW. Chính vì vậy, tôi đã chọn đề tài “Pháp luật về đảm bảo nghĩa vụ của doanh nghiệp Việt Nam vay vốn Ngân hàng Hua Nan Commercial Bank, Ltd Đài Loan” để có cơ hội được nghiên cứu, tìm hiểu và đúc kết những kinh nghiệm pháp luật, những quy định về đảm bảo trách nhiệm, nghĩa vụ trả nợ của khách hàng vay đối với ngân hàng nước ngoài, nhằm hạn chế rủi ro tiềm tàng có thể xảy ra trong quá trình tài trợ vốn vay cho khách hàng doanh nghiệp, từ đó góp phần phòng ngừa, hạn chế và giảm thiểu rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng của HNCB TW và của chi nhánh TP.Hồ Chí Minh. Luận văn: Pháp luật về thế chấp tài sản để đảm bảo vay vốn.

2. TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU

Việc nghiện cứu các quy định pháp luật về Biện pháp bảo đảm tiền vay nói chung và việc Thế chấp tài sản bảo đảm cho khoản vay đã được biết đến qua nhiều công trình, nghiên cứu như sách, báo, tạp chí, chẵn hạn như: “Tài sản thế chấp và xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành” (Vũ Thị Hồng Yến, luận án Tiến sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2013); “Xử lý Tài sản bảo đảm tiền vay của tổ chức tín dụng theo pháp luật Việt Nam” (Trần Thanh Thanh, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2012); “Thế chấp và xử lý tài sản thế chấp theo pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành” (Nguyễn Trung Hiếu, Luận văn Thạc sĩ luật học năm 2015, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội); “Pháp luật về thế chấp quyền sử dụng đất tại các tổ chức tín dụng ở Việt Nam – Thực trạng và hướng giải quyết”, sách chuyên khảo, Nguyễn Thị Nga, Nxb Tư pháp Hà Nội, 2015 – mục đích chính là tác giả đã trình bày một cách có hệ thống, các Biện pháp bảo đảm khoản vay của các Tổ chức tín dụng, nêu lên những bất cập và hướng khắc phục, hoàn thiện pháp luật về bảo đảm khoản vay của các Tổ chức tín dụng, có so sánh với các nước trên thế giới về các Biện pháp bảo đảm đối với tiền vay chẵn hạn như: Nhật bản, Pháp, Mỹ, Liên bang Nga… Tạp chí ngân hàng số 17/2010 “Đặc điểm pháp lý và mối quan hệ hiệu lực giữa hợp đồng thế chấp tài sản với Hợp đồng tín dụng trong hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng” của TS. Nguyễn Văn Tuyến, người viết đã nói đến mối quan hệ pháp lý giữa hợp đồng thế chấp và Hợp đồng tín dụng, các hoạt động mang tính chất nghiệp vụ của Ngân hàng thương mại và pháp luật được áp dụng trong hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại, chỉ ra những thiếu sót và đề ra hướng hoàn thiện pháp luật trong hoạt động của Ngân hàng thương mại.

Các công trình, nghiên cứu nêu trên đã khai thác 1 vài nội dung pháp lý của các Biện pháp bảo đảm, nhưng chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách chuyên sâu và toàn diện về các quy định mới của Bộ luật dân sự 2015 và các văn bản pháp luật mới liên quan đến việc thế chấp để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả khoản vay của doanh nghiệp Việt Nam vay vốn nhà băng nước ngoài. Mặt khác, mức độ cần sử dụng nguồn vốn vay của các công ty ngày một tăng, đặc biệt là tiếp cận được nguồn tiền vay ngoại tệ của ngân hàng nước ngoài chuyển vể. Ngoài ra, nhu cầu mở rộng cho vay của các Ngân hàng thương mại trong và ngoài nước luôn cần đảm bảo được mức độ hiệu quả, an toàn, tính cạnh tranh trong thời kỳ hội nhập quốc tế. Do đó, việc nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện các quy định của pháp luật về cầm cố, Thế chấp tài sản trong hoạt động vay vốn đối với các nhà băng nước ngoài có ý nghĩa rất lớn, đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế như hiện nay.

3. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI Luận văn: Pháp luật về thế chấp tài sản để đảm bảo vay vốn.

3.1 Mục tiêu tổng quát:  

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là thông qua việc hệ thống hóa cơ sở lý luận và phân tích quy định pháp luật về đảm bảo thực hiện nghĩa vụ, về Tài sản bảo đảm của doanh nghiệp Việt Nam vay vốn ngân hàng HNCB TW; đánh giá thực trạng về cho vay, cấp tín dụng có Tài sản bảo đảm của Ngân hàng Hua Nan Commercial Bank cho khách hàng là doanh nghiệp Việt Nam vay, đề xuất các giải pháp nhằm để hoàn thiện các công cụ pháp lý trong quản lý rủi ro, đảm bảo an toàn trong hoạt động cho vay của Ngân hàng Hua Nan Commercial Bank.

3.2 Mục tiêu cụ thể: 

Làm rõ cơ sở lý luận về Thế chấp tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong quan hệ tín dụng ngân hàng;

Chi tiết hóa các quy định pháp luật liên quan đến vấn đề đảm bảo thực hiện nghĩa vụ, về Tài sản bảo đảm của doanh nghiệp Việt Nam vay vốn ngân hàng;

Trên cơ sở phân tích những mặt tồn tại phát sinh, thực trạng rủi ro tín dụng, để từ đó đưa ra những Biện pháp bảo đảm khoản vay phù hợp với quy định của pháp luật;

Đánh giá quy trình nội bộ liên quan đến áp dụng pháp luật trong hạn chế rủi ro tín dụng và công tác quản trị rủi ro tín dụng trong hoat động cho vay khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng này;

Đưa ra các nhận xét, đánh giá cụ thể và đề ra giải pháp để khắc phục, đồng thời đề xuất giúp ngân hàng này hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng pháp lý phát sinh nhằm hạn chế đến mức thấp nhất việc không thể xử lý Tài sản bảo đảm và chuyển tiền trả vay qua đến HNCB TW ở lãnh thổ Đài Loan. Luận văn: Pháp luật về thế chấp tài sản để đảm bảo vay vốn.

4. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Ngân hàng Hua Nan Commercial Bank – chi nhánh TP.HCM đang thực hiện những biện pháp bảo đảm nào nhằm hạn chế rủi ro tín dụng khách hàng vay ? – Kết quả đạt được trong việc áp dụng pháp luật để quản trị rủi ro khoản vay có TSBĐ tại ngân hàng Hua Nan là như thế nào ?

  • Nguyên nhân dẫn đến rủi ro pháp lý và những mặt còn tồn tại hoặc phát sinh chưa phù hợp quy định trong hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng Hua Nan Commercial Bank là gì ?
  • TSBĐ khoản vay của Ngân hàng Hua Nan gồm những loại nào ? Có phù hợp với quy định pháp luật không ?
  • Việc xử lý Tài sản bảo đảm khoản vay tại Ngân hàng Hua Nan có khả năng thực thi theo đúng quy định hay không ?
  • Tiền thu được từ việc xử lý Tài sản bảo đảm có được chuyển ra khỏi lãnh thổ Việt Nam để trả nợ vay quá hạn không ?

Trên cơ sở đó, đưa ra các kiến nghị, giải pháp nhằm hạn chế và làm giảm thiểu rủi ro tín dụng trong quá trình hoạt động cho vay khách hàng là doanh nghiệp tại Ngân hàng Hua Nan Commercial Bank Đài Loan

5. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

5.1 Đối tượng nghiên cứu:

Là các quy định của pháp luật về Thế chấp tài sản để bảo đảm thực thi nghĩa vụ của doanh nghiệp Việt Nam vay vốn các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam qua thực tiễn hoạt động cho vay vốn của Ngân hàng Hua Nan Commercial Bank, Ltd  Đài Loan

5.2 Phạm vi nghiên cứu:

Các doanh nghiệp Việt Nam vay vốn có Tài sản bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ vay tại Ngân hàng Hua Nan Commercial Bank tại Đài Loan.

Các doanh nghiệp Việt Nam có Tài sản bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ bảo đảm cho khoản vay nước ngoài tại Ngân hàng Hua Nan Commercial Bank Đài Loan thông qua việc bắt cầu khoản vay tại Ngân hàng Hua Nan chi nhánh TP. Hồ Chí Minh.

Các loại Tài sản bảo đảm mà Ngân hàng Hua Nan Commercial Bank Đài Loan đang nhận cầm cố, thế chấp.

Phạm vi của thời gian nghiên cứu: số liệu và thông tin của các năm 2020-2022

6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Luận văn: Pháp luật về thế chấp tài sản để đảm bảo vay vốn.

Đề tài sử dụng phương pháp định tính, phương pháp phân tích dữ liệu và tổng hợp dữ liệu

6.1 Nghiên cứu tài liệu

Hệ thống hóa cơ sở lý luận liên quan rủi ro tín dụng, công tác quản trị tín dụng và các quy định pháp luật về Tài sản bảo đảm, về đảm bảo nghĩa vụ trả nợ để xây dựng khung lý thuyết cho đề tài nghiên cứu. Ngoài ra, còn dùng phương pháp này để nghiên cứu những đề tài, luận văn hoặc báo cáo khoa học có liên quan để tham khảo và học tập kinh nghiệm. Phương pháp này cũng được sử dụng để nghiên cứu các văn bản pháp quy về ngân hàng và các hoạt động của nhà băng, các tài liệu của Ngân hàng Hua Nan Commercial Bank để phục vụ cho việc phân tích sau này.

6.2 Thu thập số liệu

  • Số liệu sơ cấp: sao chép các tài liệu, số liệu do Ngân hàng cung cấp.
  • Số liệu thứ cấp: sàng lọc phân tích đánh giá số liệu.
  • Phân tích và đánh giá tình hình hoạt động cho vay sẽ có rủi ro tín dụng nếu khoản vay không có đảm bảo.

Phương pháp quan sát, mô tả thực tế: theo dõi, quan sát thực tiển áp dụng pháp luật về hoạt động cho vay có Tài sản bảo đảm của Ngân hàng Hua Nan để từ đó mô tả, đánh giá trạng thái thực trạng lổ hỏng liên quan đến áp dụng pháp luật trong ngân hàng này

Phương pháp nghiên cứu tình huống: xem xét, phân tích các tình huống pháp luật liên quan đến nhận Tài sản bảo đảm của các Ngân hàng thương mại trong nước, các bản án và các bài viết liên quan đến xử lý Tài sản bảo đảm thu hồi nợ. Đồng thời, luận văn cũng sẽ xem xét và đánh giá một số vấn đề liên quan đến ngoại hối mua ngoại tệ chuyển tiền trả vay nước ngoài.

Phương pháp so sánh, khảo sát, đánh giá: tìm hiểu các ý tưởng pháp lý, các giải pháp pháp lý, thiết chế pháp lý cụ thể trong hệ thống pháp luật của Việt Nam, tại Hua Nan Bank Đài Loan (thông qua cán bộ tín dụng và các khoản cho vay thực tế) hoặc các quốc gia (đặc biệt là Đài Loan) tương tác với nhau thế nào, có thể học hỏi được ở nhau những gì ?

7. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Nội dung nghiên cứu của đề tài liên quan đến tài sản đảm bảo của doanh nghiệp Việt Nam thế chấp, cầm cố để vay vốn tại HNCB TW hoặc thông qua hình thức bắt cầu thế chấp, cầm cố cho chi nhánh TP.HCM nhẳm đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho các Hợp đồng tín dụng đã ký kết.

8. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI Luận văn: Pháp luật về thế chấp tài sản để đảm bảo vay vốn.

Thông qua việc nghiên cứu đề tài, giúp hệ thống hóa những rủi ro tín dụng trong quá trình hoạt động cho vay của chi nhánh ngân hàng Hua Nan TP.HCM cũng như HNCB TW, đánh giá được tình hình quản trị rủi ro trong công tác cho vay của 2 ngân hàng này. Trên cơ sở phân tích những thực trạng và rủi ro tồn tại và rủi ro tiềm ẩn, để thấy được việc Tài sản bảo đảm cho khoản vay là cần thiết, các quy định pháp luật về đảm bảo thực thi nghĩa vụ trả nợ cho các Hợp đồng tín dụng đã ký kết đối với doanh nghiệp vay vốn ngân hàng nước ngoài thật sự hữu ích cho định hướng công tác quản trị rủi ro trong thời gian tới và mạnh dạn đưa ra vài giải pháp nhằm hoàn thiện 1 số quy định, bổ sung sửa đổi các thỏa thuận về Tài sản bảo đảm cho khoản vay của HNCB TW và của chi nhánh TP.HCM để phù hợp với quy định pháp luật.

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ Thế chấp tài sản ĐỂ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG Hợp đồng tín dụng VỚI NGÂN HÀNG

1.1. Lý luận chung về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ

1.1.1. Khái niệm Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ

Để có thể nắm rõ về những vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến Thế chấp tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, trước tiên cần khái quát được thế nào là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, nắm bắt được các đặc điểm và các loại Biện pháp bảo đảm, để từ đó dẫn dắt hình thành các ý tưởng liên quan đến Thế chấp tài sản. Từ việc khái quát biện pháp bảo đảm trong phần lý luận, sẽ giúp hiểu rõ và nắm vững hơn về việc Thế chấp tài sản để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trong các Hợp đồng tín dụng, đối với các khoản cho vay của Tổ chức tín dụng.

Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là hình thức các bên thương lượng để xác lập hiệu lực phòng ngửa nhằm bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ, đồng thời ngăn chặn, đảm bảo cho hậu quả có thể khắc phục đối với việc không thực hiện nghĩa vụ. Trong một mối quan hệ nghĩa vụ, người có quyền được chủ động yêu cầu người có nghĩa vụ phải thực thi nghĩa vụ hoặc không được làm 1 công việc nhất định và chỉ khi nào công việc đó được thực hiện đúng thì người có quyền mới thoả mãn được lợi ích của mình. Tuy nhiên, về cách thức, biện pháp thực hiện nghĩa vụ và việc thực hiện hay không thực hiện lại phụ thuộc vào hành vi của người có nghĩa vụ. Vì thế, quyền chủ động của người có quyền rơi vào tình trạng bị động là phải lệ thuộc vào hành vi của người khác để thoả mãn yêu cầu của mình. Một khi bên có nghĩa vụ không chịu thực thi hoặc thực hiện chưa đầy đủ nghĩa vụ thì bên có quyền sẽ gửi yêu cầu nhà chức trách có thẩm quyền thực thi biện pháp cưỡng chế, yêu cầu bên vi phạm phải làm đúng theo nghĩa vụ. Dù vậy, nhiều khi vẫn không bảo đảm được quyền lợi của bên có quyền nếu bên vi phạm nghĩa vụ không có cung cấp tài sản để thực hiện nghĩa vụ. Luận văn: Pháp luật về thế chấp tài sản để đảm bảo vay vốn.

BLDS năm 2015 cũng như các văn bản liên quan chưa đưa ra định nghĩa thế nào là “Biện pháp bảo đảm”. Tuy nhiên, qua nội hàm từ ngữ cũng như các quy định pháp luật, có thể hiểu rằng Biện pháp bảo đảm là những cách thức, giải pháp nhằm hỗ trợ, khẳng định, bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng, thỏa thuận một cách chắc chắn. Biện pháp bảo đảm đi liền, không tách rời với nghĩa vụ chính trong hợp đồng, giao dịch chính. Trường hợp bên có nghĩa vụ không chịu thực hiện, làm chưa đúng, chưa đẩy đủ và có biểu hiện vi phạm nghĩa vụ đã cam kết, thì bên có quyền có thể áp dụng Biện pháp bảo đảm đã thỏa thuận hoặc đề nghị nhà chức trách có thẩm quyền áp dụng để yêu cầu bên có nghĩa vụ phải làm đúng nghĩa vụ đã cam kết nhằm bảo đảm quyền lợi cho mình.

Để có thể khắc phục tình hình nêu trên và tạo cho các quan hệ nghĩa vụ ở vào trạng thái chủ động trong thực tế đối với bên có quyền được thừa hưởng quyền dân sự, luật pháp đã hướng cho các bên tự thương lượng đặt ra các Biện pháp bảo đảm việc thực thi các nghĩa vụ và trong giao kết hợp đồng. Thông qua các Biện pháp bảo đảm này, người có quyền sẽ có ưu thế hơn trong việc thực hiện các hành vi tác động trực tiếp đến tài sản, như quyền ràng buộc phía bên kia đảm bảo quyền lợi của mình khi họ không thực thi hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ lúc đến hạn. Chẳng hạn, để đảm bảo cho việc có trách nhiệm trả nợ khi đến hạn của bên vay, đồng thời nếu không trả được nợ vay đúng hạn thì bên cho vay vẫn sẽ được thu hồi khoản vay, thì các bên thương thảo bên vay phải giao tài sản cho bên cho vay, còn nếu bên cho vay không giao tài sản đến hạn thì bên cho vay có phép xử lý tài sản nhằm mục đích thu hồi khoản vay, đôi bên thoả thuận với nhau để bên vay phải cung cấp cho bên cho vay 1 tài sản và bên cho vay được quyền xử lý Tài sản bảo đảm đó để thu hồi khoản vay nếu bên vay khi đến thời hạn không trả đầy đủ nợ vay.

Việc xác lập Biện pháp bảo đảm giữa các chủ thể với nhau được thực hiện thông qua một giao dịch dân sự, vì thể giao dịch dân sự này được gọi là giao dịch bảo đảm và quan hệ hình thành từ giao dịch bảo đảm được gọi là quan hệ bảo đảm. Vì vậy, bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được hiểu theo 2 phương diện: “về mặt khách quan là sự quy định của luật pháp về các phương thức để bảo đảm cho một nghĩa vụ chính được thực hiện đồng thời xác định và bảo đảm quyền, nghĩa vụ của các bên trong các phương thức bảo đảm đó, về mặt chủ quan bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự thể hiện sự thoả thuận giữa các bên trong lựa chọn sử dụng một trong các biện pháp đã được pháp luật quy định để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ dân sự với tính chất tác động, dự phòng, đồng thời khắc phục và ngăn chặn những hậu quả không tốt do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ gây ra”.

Căn cứ vào điều 12 Luật Ngân hàng thương mại của Đài Loan phiên bản năm 2019, thì khoản tín dụng có bảo đảm tức là khoản vay có Tài sản bảo đảm, bao gồm nhưng không giới hạn thế chấp bằng động sản và BĐS; cầm cố bằng động sản hoặc quyền tài sản; Thương phiếu/hối phiếu phải thu từ các giao dịch kinh doanh của bên vay; và/hoặc việc bảo lãnh được kéo dài bởi cơ quan Chính phủ phụ trách Cục ngân khố, ngân hàng hoặc Tổ chức tín dụng được Chính phủ ủy quyền.

1.1.2. Đặc điểm của các Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ Luận văn: Pháp luật về thế chấp tài sản để đảm bảo vay vốn.

Phụ thuộc vào nội dung, tính chất của từng quan hệ nghĩa vụ cụ thể, cũng như phụ thuộc vào điều kiện của các chủ thể tham gia vào quan hệ đó mà mỗi một BPBĐ mang một đặc điểm riêng biệt. Mục đích của các Biện pháp bảo đảm được thể hiện thông qua các chức năng của từng biện pháp cụ thể. Mỗi một Biện pháp bảo đảm có đặc điểm và tính chất riêng biệt, nên chức năng của chúng không thể giống nhau hoàn toàn. Một chức năng riêng biệt có ở biện pháp này nhưng không có ở biện pháp khác. Nhưng nếu nhìn một cách tổng thể thì các Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đều có ba chức năng nói chung: Chức năng tác động, chức năng dự phòng và chức năng dự phạt. Ngoài ra, tất cả các Biện pháp bảo đảm đều có các đặc điểm cụ thể riêng.

Thứ nhất, các Biện pháp bảo đảm nhằm mục đích bổ sung cho nghĩa vụ chính. Các Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ này luôn gắn liền và phụ thuộc với một nghĩa vụ nào đó, mà không tồn tại độc lập riêng biệt. Việc lệ thuộc này phơi bày ở điểm khi xuất hiện quan hệ nghĩa vụ chính thì mọi người mới cùng nhau thiết lập một Biện pháp bảo đảm. Nghĩa là việc bảo đảm thực hiện nghĩa vụ không tồn tại một cách độc lập. Nội dung, hiệu lực của Biện pháp bảo đảm phù hợp và phụ thuộc vào nghĩa vụ chính. Vì vậy, người ta gọi nghĩa vụ phát sinh từ các Biện pháp bảo đảm là nghĩa vụ phụ.

Thứ hai, các Biện pháp bảo đảm đều vì mục tiêu đề cao trách nhiệm của đôi bên trong quan hệ nghĩa vụ. Theo đó, khi đặt ra Biện pháp bảo đảm, các bên nhằm mong muốn đạt được việc đề cao ý thức trách nhiệm thực thi nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ. Mặc khác, ở nhiều trường hợp, các bên còn nhằm đạt mục đích đề cao ý thức giữa các bên trong giao kết hợp đồng. Ví dụ: biện pháp đặt cọc ràng buộc các bên phải thực hiện giao kết hợp đồng. Luận văn: Pháp luật về thế chấp tài sản để đảm bảo vay vốn.

Thứ ba, đối tượng của các Biện pháp bảo đảm là những quyền lợi mang tính vật chất. Quyền lợi giữa các bên về nghĩa vụ có Biện pháp bảo đảm là các loại lợi ích vật chất. Quy luật về ngang giá biểu hiện qua các giao dịch tài sản thể hiện ở việc chỉ có lợi ích vật chất mới bao quát được các lợi ích vật chất. Chính vì thế, các bên thực thi quan hệ nghĩa vụ không thể sử dụng quyền nhân thân để làm đối tượng của Biện pháp bảo đảm. Lợi ích về vật chất là đối tượng của các Biện pháp bảo đảm thường là các loại tài sản (vật có thực, tiền, giấy tờ biểu hiện giá trị của nó được bằng tiền và các quyền tài sản hoặc là một công việc phải làm). Các loại tài sản này cần có đủ các tính chất mà luật pháp đã yêu cầu đáp ứng về 1 đối tượng của nghĩa vụ nói chung.

Thứ tư, phạm vi bảo đảm của các Biện pháp bảo đảm không được vượt phạm vi nghĩa vụ đã được ấn định biểu hiện qua nội dung của quan hệ nghĩa vụ chính. Khoản 1 Điều 293 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định “Nghĩa vụ có thể được bảo đảm một phần hoặc toàn bộ theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật; nếu không có thoả thuận và pháp luật không quy định phạm vi bảo đảm thì nghĩa vụ coi như được bảo đảm toàn bộ, kể cả nghĩa vụ trả lãi, tiền phạt và bồi thường thiệt hại.” Như vậy về nguyên tắc, nếu như các bên không có thương lượng hoặc pháp luật chưa có quy định khác thì phạm vi bảo đảm sẽ bao gồm hết toàn bộ nghĩa vụ, nhưng một số trường hợp cũng có thể chỉ là đảm bảo một phần nghĩa vụ. Ví dụ: “Bên bảo lãnh có thể cam kết bảo lãnh một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ cho bên được bảo lãnh”.

Phạm vi của bảo lãnh không lớn hơn phạm vi của nghĩa vụ, mặc dù về mặt thực tế bên có nghĩa vụ thường đưa 1 tài sản có giá trị lớn gấp nhiều lần so với giá trị của nghĩa vụ nhằm để bảo đảm việc thực thi nghĩa vụ. Tuy nhiên, cho dù giá trị của đối tượng bảo đảm có lớn hơn giá trị nghĩa vụ, nhưng suy cho cùng thì mục đích của việc bảo đảm đó thì cũng chỉ là vì mục đích để người có nghĩa vụ phải thực thi nghĩa vụ trong phạm vi đã giao kết.

Thứ năm, các Biện pháp bảo đảm nghĩa vụ chỉ được thực thi khi xảy ra sự vi phạm nghĩa vụ. Cho dù các bên đã đặt ra một Biện pháp bảo đảm bên cạnh một nghĩa vụ chính nhưng vẫn không cần phải áp dụng Biện pháp bảo đảm đó nếu nghĩa vụ chính đã được thực hiện 1 cách đầy đủ. Thông thường, trong quan hệ quyền của chủ nợ, bên mắc nợ tự nguyện thực hiện nghĩa vụ đối với chủ nợ, nếu đến hạn mà bên mắc nợ đã thực hiện đúng, đầy đủ thì nghĩa vụ của bên có quyền cũng được coi là hết đối với Biện pháp bảo đảm. Trong 1 mối quan hệ nghĩa vụ, bên có nghĩa vụ tự ý thức thực hiện nghĩa vụ của mình đối với bên có quyền và nếu như đến thời hạn mà bên có nghĩa vụ đã thực thi đúng, đầy đủ thì mặc định Biện pháp bảo đảm nghĩa vụ đó cũng sẽ được coi là kết thúc. Bản chất dự phòng của các Biện pháp bảo đảm cho thấy rằng các Biện pháp bảo đảm chỉ được áp dụng khi nghĩa vụ chính không được thực hiện hoặc làm không đúng và đầy đủ đề từ đó bảo đảm quyền lợi cho bên có quyền.

Thứ sáu, các Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thường hình thành từ sự thương lượng giữa các bên. Nếu những căn cứ để phát sinh các nghĩa vụ là khác nhau (các căn cứ này có thể là sự thoả thuận, có thể là do quy định của pháp luật) thì Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ chỉ sẽ xảy ra thông qua việc thoả thuận giữa các bên thông qua một giao dịch dân sự. Vì vậy, có quan điểm cho rằng các Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là những hợp đồng phụ được đặt ra bên cạnh một hợp đồng chính để bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng chính. Quan điểm trên còn nhiều vấn đề cần tranh luận nhưng dù sao vẫn phải thừa nhận rằng cách thức và toàn bộ nội dung của một Biện pháp bảo đảm đều là sự đút kết của sự thương thảo giữa các bên. Có những hợp đồng dân sự mà luật định buộc phải có Biện pháp bảo đảm (như Hợp đồng tín dụng mà bên cho vay là Ngân hàng Nhà nước) nhưng không vì thế mà mất đi sự thoả thuận giữa các bên. Dù pháp luật đã quy định phải có thế chấp của người vay nhưng người vay vẫn có quyền lựa chọn thoả thuận để cùng với bên cho vay xác định về nội dung của thế chấp (đối tượng của thế chấp là BĐS nào, phương thức xử lí tài sản ra sao). Luận văn: Pháp luật về thế chấp tài sản để đảm bảo vay vốn.

1.1.3. Các Biện pháp bảo đảm nghĩa vụ dân sự chủ yếu được áp dụng trong hoạt động cho vay của ngân hàng

Hiện nay, việc cho vay của Tổ chức tín dụng trong và ngoài nước thông qua các hợp đồng cấp vốn trung, dài hạn hoặc ngắn hạn thường tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Các khoản vay trung dài hạn cũng như cho vay ngắn hạn, đều tồn tại những rủi ro mất vốn khác nhau, vì vậy việc áp dụng các Biện pháp bảo đảm nghĩa vụ dân sự phù hợp với từng đối tượng khách hàng, từng loại hình cho vay là cần thiết.

Theo quy định tại Điều 292 Bộ luật dân sự năm 2015, có tổng cộng 9 biện pháp Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bao gồm: “cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lưu quyền sở hữu, bảo lãnh, tín chấp và cầm giữ tài sản”. Khi các bên lựa chọn một trong các biện pháp này để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì giữa họ phát sinh một quan hệ pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.

Tùy theo từng loại giao dịch và tài sản hiện có của các chủ thể tham gia giao dịch mà các bên sẽ lựa chọn hình thức đảm bảo sao cho phù hợp với từng nội dung giao dịch bảo đảm. Biện pháp bảo đảm được hình thành nhằm để đảm bảo cho 1 nghĩa vụ nhất định của bên bảo đảm đối với bên nhận bảo đảm. Qua đó, giúp đảm bảo được quyền ưu tiên hơn các chủ thể khác của bên nhận bảo đảm trong việc xử lý tài sản

liên quan đến thời điểm và tỷ lệ được nhận từ Tài sản bảo đảm.

Theo Büschgen 1991, các hệ thống pháp luật khác cho phép cầm cố, thế chấp thả nổi trong đó nội dung chung của một nhà kho cụ thể được cầm cố, thế chấp. Cho nên, việc mô tả tài sản thế chấp một cách cụ thể trong các hợp đồng cầm cố, thế chấp là không cần thiết, do khi thế chấp hàng tồn kho thì nguyên vật liệu tồn kho sẽ được sử dụng để sản xuất ra sản phẩm lưu kho, rồi xuất bán khỏi kho để nhận tiền hàng về trả nợ vay, lúc này thì tài sản thế chấp trong nhà kho lưu trữ rất khó có thể mô tả được.

Vì Biện pháp bảo đảm chỉ mang tính bổ trợ cho nghĩa vụ chính. Biện pháp bảo đảm không tồn tại độc lập, vì nó luôn phụ thuộc vào nghĩa vụ chính và chỉ khi nào xảy ra nghĩa vụ chính thì giữa các bên mới cùng nhau thiết lập một Biện pháp bảo đảm. Hai loại nghĩa vụ trên có mối quan hệ mật thiết với nhau, nếu nghĩa vụ chính vô hiệu thì nghĩa vụ phụ cũng vô hiệu theo. Các Biện pháp bảo đảm đều nhằm đề cao tính tự giác của đôi bên trong quan hệ nghĩa vụ dân sự và thông thường phải thoả mãn một vài điều kiện. Luận văn: Pháp luật về thế chấp tài sản để đảm bảo vay vốn.

Tài sản trong giao dịch sẽ do các bên tự thỏa thuận và phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm. Nếu Tài sản bảo đảm thuộc sở hữu chung của nhiều người thì phải được sự đồng ý bằng văn bản của tất cả các chủ sở hữu đó. Quy định Tài sản bảo đảm phải thuộc sở hữu của bên bảo đảm luôn tạo sự bất lợi cho bên có quyền (bên nhận bảo đảm). Do đó, bên nhận bảo đảm cần có sự tính toán, cân nhắc và phải xem xét thật cụ thể, chi tiết xem Tài sản bảo đảm đó có thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm không.

Đối với tài sản thuộc loại hình thành trong tương lai, thì tài sản này sẽ thuộc quyền nắm giữ của bên bảo đảm chỉ sau khi nghĩa vụ được xác lập hay là giao dịch bảo đảm được giao kết. Loại tài sản hình thành trong tương lai gồm các loại đã được tạo lập vào lúc giao kết giao dịch bảo đảm, tuy nhiên đến sau thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm mới trở thành quyền sở hữu của bên bảo đảm. Tài sản bảo đảm phải là đối tượng không bị tranh chấp về quyền sở hữu. Nếu có tranh chấp, thì chỉ khi các tranh chấp được giải quyết mới được đưa tài sản đó vào làm đối tượng của các BPBĐ.

Ngoài ra, Tài sản bảo đảm phải được nhận biết cụ thể và phải là tài sản không bị nghiêm cấm giao dịch, lưu thông. Những tài sản gắn liền với yếu tố nhân thân của chủ thể không thể là đối tượng của các Biện pháp bảo đảm. Những tài sản được cho phép giao dịch là loại không bị nghiêm cấm giao dịch theo quy định của luật pháp tại thời điểm xác lập giao dịch.

Việc thực hiện nhiều nghĩa vụ dân sự mà chỉ có 1 tài sản được dùng để làm vật bảo đảm, thì pháp luật vẫn cho phép, nếu tại thời điểm xác lập giao dịch bảo đảm, vật đó có giá trị lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc có thỏa thuận khác. Thứ tự ưu tiên thanh toán sẽ được áp dụng đối với tất cả các bên nhận bảo đảm cùng tham gia xử lý Tài sản bảo đảm và tiến trình xử lý Tài sản bảo đảm cần được đăng ký. Nếu như các Biện pháp bảo đảm đều hình thành hiệu lực đối kháng với bên thứ ba thì trỉnh tự ưu tiên thanh toán được phân chia theo thứ tự xác lập hiệu lực đối kháng. Mặc khác khi có Biện pháp bảo đảm xảy ra hiệu lực đối kháng với bên thứ ba và có Biện pháp bảo đảm không có hiệu lực đối kháng với bên thứ ba thì nghĩa vụ có Biện pháp bảo đảm xảy ra hiệu lực đối kháng với bên thứ ba được ưu tiên hoàn trả khoản nợ trước. Cuối cùng đối với trường hợp các Biện pháp bảo đảm đều không xảy ra hiệu lực đối kháng với bên thứ ba thì thứ tự nhận được tiền trả khoản nợ được xác định theo thứ tự xác lập Biện pháp bảo đảm.

Đối với các khoản cho vay trung dài hạn, thường thì các Tổ chức tín dụng sử dụng Biện pháp bảo đảm là tài sản hình thành từ vốn vay, nhận các loại tài sản cố định (bất động sản, máy móc thiết bị) để đảm bảo cho khoản vay. Đối với loại hình cho vay ngắn hạn, thì có thể sử dụng Biện pháp bảo đảm là ký quỹ, bảo lãnh hoặc thậm chí tín chấp nếu doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có hiệu quả. Tuy nhiên, nhìn chung thì cho dù là khoản cho vay ngắn hạn hoặc cho vay trung dài hạn, thường thì các Tổ chức tín dụng đều chấp nhận nhận bất kỳ Biện pháp bảo đảm theo quy định của pháp luật, nhằm hạn chế rủi ro mất vốn của ngân hàng mình đến mức thấp nhất có thể và tạo ra hiệu quả cao trong an toàn hoạt động cấp tín dụng.

1.2. Thế chấp tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ Hợp đồng tín dụng trong hoạt động cho vay của ngân hàng đối với doanh nghiệp Việt Nam Luận văn: Pháp luật về thế chấp tài sản để đảm bảo vay vốn.

1.2.1. Khái niệm Thế chấp tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ Hợp đồng tín dụng trong hoạt động cho vay

Theo Chang Yun Chien (2016), Bộ luật Dân sự Đài Loan hiện hành quy định ba loại quyền đối với tài sản bảo đảm: thế chấp, cầm cố và cầm đồ. Cho đến nay, thế chấp là lợi ích tài sản thấp hơn phổ biến nhất ở Đài Loan, với hàng trăm nghìn hồ sơ đăng ký để tạo ra các khoản thế chấp mới mỗi năm. Có một xu hướng giảm sử dụng thế chấp, một lần nữa khó hiểu. Cả cầm cố đồ vật và cầm cố quyền đều được cho phép trong Bộ luật Dân sự Đài Loan, và do đó, đối tượng của quyền tài sản không nhất thiết phải là vật chất. Quyền cầm cố thường được sử dụng để vay tiền mặt bằng cách cầm cố hàng tồn kho. Cầm đồ, một hình thức cầm cố thương mại, được Bộ luật Dân sự Đài Loan năm 2007 chính thức công nhận là một loại cầm cố đặc biệt và được quy định riêng. Các cửa hàng cầm đồ có thể được nhìn thấy ở khắp mọi nơi tại thành phố Đài Bắc, thủ phủ của Đài Loan, với những quảng cáo tuyên bố “mọi thứ đều có thể đem đi cầm được”.

Về phương diện ngữ nghĩa, Thế chấp tài sản là việc một bên dùng một tài sản để thay thế, chấp hành một nghĩa vụ trước đó. Trên thực tế, khi các bên có nghĩa vụ đối với nhau thường áp dụng một biện pháp nào đó để bảo đảm lợi ích cho bên có quyền. Qua đó, ta có thể hiểu đơn giản việc Thế chấp tài sản là việc để đảm bảo thực thi nghĩa vụ dân sự đối với một bên, thì bên còn lại dùng tài sản thuộc quyền nắm giữ của mình để đảm bảo và vật thế chấp không chuyển giao cho bên nhận thế chấp.

Theo B. Balkenhol H. Schütte 1991, tài sản thế chấp là một tài sản được cam kết bởi một người vay cho người cho vay cho đến khi một khoản vay được trả lại. Nếu người vay mặc định, thì người cho vay có quyền lưu giữ tài sản thế chấp và bán nó để trả hết khoản vay. Luận văn: Pháp luật về thế chấp tài sản để đảm bảo vay vốn.

Theo quy định tại Điều 317 Bộ luật dân sự năm 2015 thì “TCTS là việc một bên dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp”. Tài sản được thế chấp do bên thế chấp giữ và/hoặc sử dụng. Thông qua việc thỏa thuận, các bên cũng có thể chuyển tài sản thế chấp để bên thứ ba nắm giữ và/hoặc sử dụng. Trong thực tế, khi các bên có nghĩa vụ đối vởi nhau thường áp dụng một Biện pháp bảo đảm nào đó để bảo toàn cho quyền lợi của người có quyền. Thế chấp tài sản là một trong những Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ do luật  định, theo đó các bên trong quan hệ dân sự sẽ lựa chọn sử dụng để bảo đảm cho việc tuân theo nghĩa vụ.

Ngoài ra, tài sản thế chấp tạo lập từ vốn vay nên được khuyến khích, nhằm giúp các chủ doanh nghiệp có tài cán tạo lập sự nghiệp từ tài sản tạo ra từ dòng vốn vay ngân hàng. Theo B. Balkenhol, H. Schütte 1998, Luật Thế chấp tài sản có thể góp phần mở rộng lĩnh vực tài chính bằng cách cho phép các thỏa thuận hợp lý có lợi cho người đi vay với các đề xuất đầu tư chắc chắn (dự án kinh doanh sản xuất) nhưng không có tài sản (về cơ bản là tình huống của những người đi vay lần đầu, tài sản tạo ra từ nguồn vốn đi vay); tiếp theo là luật về tài sản thế chấp có thể tăng cường mật độ hóa các hợp đồng cho vay bằng cách giảm thiểu chi phí giao dịch liên quan cho người đi vay và người cho vay trong việc tạo lập, hoàn thiện và thực thi các Biện pháp bảo đảm (về cơ bản là tình huống của người đi vay có hồ sơ vay nhất định nhưng vẫn có tài sản thế chấp với tỷ lệ thấp). Mặc khác, tỷ lệ cho vay cao trên tài sản thế chấp ít ỏi chỉ được ưu ái cho các doanh nghiệp lớn, nổi tiếng và có lợi nhuận qua các năm thể hiện trên báo cáo tài chính đã được kiểm toán.

1.2.2. Đặc điểm của Thế chấp tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ Hợp đồng tín dụng trong hoạt động cho vay của ngân hàng

Theo Fleisig 1995, các quy tắc chi phối việc “tạo lợi ích bảo đảm”, hay nói cách khác là đặc điểm nhận diện kỹ thuật chuyên biệt của tài sản được cầm cố làm tài sản thế chấp, khác nhau giữa các hệ thống pháp luật này với hệ thống pháp luật khác. Ví dụ, ở Uruguay, luật yêu cầu tài sản phải được liệt kê trong mọi trường hợp, điều này có thể gây ra vấn đề với các hợp đồng dựa trên gia súc hoặc hàng hóa. Vì vậy, tại Việt Nam, đặc điểm của tài sản thế chấp phải có một số đặc tính nhất định.

Thứ nhất, BĐS, động sản đều là tài sản thế chấp, ngoài ra còn có vật quyền hoặc trái quyền; vật phụ gắn với động sản, BĐS thế chấp; tài sản gắn liền với đất trong trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất thuộc quyền sở hữu của người thế chấp. Thế chấp tài sản là hợp đồng phụ bảo đảm nghĩa vụ của hợp đồng chính. Thế chấp tài sản lúc nào cũng phụ thuộc, gắn kết với nghĩa vụ chính mà nó bảo đảm và không tồn tại độc lập, thể hiện ở mấu chốt khi có nghĩa vụ chính thì các bên mới thương lượng tạo lập nên biện pháp Thế chấp tài sản. Luận văn: Pháp luật về thế chấp tài sản để đảm bảo vay vốn.

Thứ hai, trong quan hệ về thế chấp, bên thế chấp không phải chuyển giao Tài sản bảo đảm cho bên nhận thế chấp. Về bản chất của bảo đảm được biểu hiện qua việc bên thế chấp cần phải giao cho người nhận những loại giấy tờ thể hiện tình trạng pháp lý của vật thế chấp như các loại chứng từ chứng nhận quyền sở hữu tài sản (đối với ô tô, xe container, xe máy…), giấy tờ nhà đất (đối với đất và tài sản trên đất) hay giấy tờ khác như khế ước mua nhà ở tạo lập trong tương lai kèm theo hồ sơ về dự án được phê duyệt đối với ngôi nhà đó, giấy phép xây dựng, chứng từ về thừa kế nhà, đất.

Thứ ba, một tài sản có thể được dùng thế chấp bảo đảm cho việc thực hiện nhiều nghĩa vụ khác nhau. Điều 296 Bộ luật dân sự 2015 quy định “Một tài sản có thể được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ, nếu có giá trị tại thời điểm xác lập giao dịch bảo đảm lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”. Trong một số trường hợp văn bản vể thế chấp cần phải được đăng ký với nhà chức trách có thẩm quyền. Theo Nghị định số 99/2022/NĐ-CP ngày 30/11/2022 quy định về đăng ký Biện pháp bảo đảm thì “các giao dịch sau bắt buộc phải đăng ký, trong đó gồm thế chấp quyền sử dụng đất, thế chấp tài sản gắn liền với đất trong trường hợp tài sản đó đã được chứng nhận quyền sở hữu trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; cầm cố tàu bay, thế chấp tàu bay; thế chấp tàu biển.”

Đối với việc Thế chấp tài sản cũng như là việc đi vay của doanh nghiệp, nhằm đảm bảo cho việc đem tài sản của doanh nghiệp đi thế chấp cho Tổ chức tín dụng phù hợp với quy định của Luật Doanh nghiệp 2020, doanh nghiệp cần phải thông qua hội đồng thành viên hoặc hội đồng quản trị phê duyệt và chấp thuận bằng văn bản. Biên bản họp có đầy đủ chữ ký và thông tin biểu quyết thông qua, cần được trình ra và gửi cho Tổ chức tín dụng lưu hồ sơ để phù hợp với quy định về cho vay có Thế chấp tài sản.

1.2.3. Phân loại Thế chấp tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ Hợp đồng tín dụng trong hoạt động cho vay của ngân hàng Luận văn: Pháp luật về thế chấp tài sản để đảm bảo vay vốn.

1.2.3.1. Thế chấp toàn bộ BĐS và thế chấp một phần

Đối với đất đai, khi thế chấp một phần Quyền sử dụng đất, cần phân định rõ mốc giới của phần đất được thế chấp và các vật phụ có trên đất đó, đồng thời thỏa thuận rõ với bên thế chấp để xác định cụ thể về tài sản thế chấp. Nếu như không có thỏa thuận về vật phụ trên đất không thuộc tài sản thế chấp thì thực hiện theo quy định tại Bộ luật dân sự về “Thế chấp tài sản”: “Trong trường hợp thế chấp một phần BĐS có vật phụ thì vật phụ thuộc tài sản thế chấp”. Việc một phần Quyền sử dụng đất áp dụng thế chấp được quy định trong Bộ luật dân sự về “Phạm vi thế chấp Quyền sử dụng đất” quy định như sau có thể thế chấp 1 phần Quyền sử dụng đất hoặc toàn bộ. Do vậy, bên thế chấp có thể thế chấp ngay 1 phần đất thuộc quyền sử dụng của mình trên tổng diện tích đất đã được cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất cho nhà băng để đi vay tiền.

Theo quy định tại Điều 318 Bộ luật dân sự 2015 có quy định, “đối với các trường hợp thế chấp một phần hoặc toàn bộ BĐS, nếu như thế chấp toàn bộ động sản, BĐS trên đó có vật phụ, thì vật phụ này cũng là vật thế chấp (trừ trường hợp các bên có thương lượng loại trừ tất cả vật phụ của BĐS, động sản đó ra ngoài khối vật thế chấp hoặc lựa chọn một vật phụ để thế chấp). Còn nếu như thế chấp 1 phần  động sản, BĐS có vật phụ thì vật phụ gắn với tài sản đó sẽ được coi là vật thế chấp, ngoại trừ trường hợp các bên có thương lượng khác. Mặc khác, khi thế chấp một phần động sản, BĐS mà có vật phụ gắn với phần tài sản được thế chấp thì vật phụ cũng xem là vật thế chấp, cho nên khi thế chấp một phần động sản hoặc một phần BĐS mà có vật phụ thì vật phụ sẽ là vật thế chấp.”

Tại Đài Loan, theo Khoản 1 Điều 865 Bộ Luật dân sự Đài Loan, trường hợp chủ sở hữu thế chấp cùng 1 BĐS để bảo đảm quyền của nhiều chủ nợ thì ưu tiên theo thứ tự của các chủ nợ được xác định theo thứ tự đăng ký trước. Một số khoản thế chấp theo luật chung hoặc theo quy tắc công bằng có thể được thiết lập trên cùng một BĐS, và đăng ký thế chấp thứ hai là việc đăng ký thế chấp chỉ sau lần thế chấp thứ nhất. Bên nhận thế chấp thứ hai kém hơn bên nhận thế chấp thứ nhất nhưng cao hơn bất kỳ bên nhận thế chấp tiếp theo nào. Bên nhận thế chấp hạng 1 có quyền bán tài sản thế chấp mà không cần thông qua sự đồng ý của bên nhận thế chấp hạng 2. Một khi tài sản thế chấp được bán thì mọi quyền thế chấp sẽ bị chấm dứt. Số tiền thu từ bán tài sản đã thế chấp trước hết phải trả hết quyền chủ nợ của bên nhận thế chấp hạng nhất, nếu còn dư thì trả hết quyền chủ nợ của bên nhận thế chấp hạng hai.

Đối với Việt Nam, tài sản thế chấp cho nhiều nghĩa vụ cũng được quy định trong Bộ luật dân sự 2015. Một tài sản sẽ được dùng để thế chấp nhằm đảm bảo cho nhiều nghĩa vụ, thì một khi giá trị vật thế chấp này tại thời điểm thiết lập giao kết thế chấp phải lớn hơn tổng trị giá các nghĩa vụ được bảo đảm, nếu như không có bất kỳ thương thảo nào khác hoặc luật pháp cũng không có quy định khác. Trường hợp một vật được dùng để thế chấp thực thi nhiều nghĩa vụ, thì bên bảo đảm phải báo với bên người nhận sau nắm rõ về việc Tài sản bảo đảm đang được sử dụng để thực thi các nghĩa vụ khác. Mỗi lần thực hiện thế chấp đảm bảo phải được lập, ký kết dưới hình thức văn bản. Một khi phải xử lý vật thế chấp để thực hiện một nghĩa vụ đến kỳ hạn thì các nghĩa vụ khác mặc dù chưa đến hạn cũng sẽ xem như đến hạn và toàn bộ các bên nhận chung Tài sản bảo đảm đều được cùng tham gia xử lý. Bên phía người nhận bảo đảm mà đã ra thông báo về việc xử lý tài sản thì phải có trách nhiệm tiến hành việc xử lý, nếu như các bên cùng nhận Tài sản bảo đảm không có thương lượng khác. Mặc khác, nếu các bên mong muốn thực hiện tiếp những nghĩa vụ chưa đáo hạn thì sẽ thương thảo với bên bảo đảm cung cấp tài sản khác để đảm bảo cho việc tiếp tục thực thi những nghĩa vụ chưa đến hạn. Luận văn: Pháp luật về thế chấp tài sản để đảm bảo vay vốn.

1.2.3.2. Thế chấp bằng máy móc thiết bị và cầm cố số dư tiền gửi, sổ tiết kiệm

Cho vay thế chấp máy móc thiết bị là một hình thức vay thế chấp tài sản nhằm phục vụ mục đích làm ăn kinh doanh, cần nguồn vốn mua sắm tài sản cố định. Đương nhiên, rất cần phải biết lựa chọn ngân hàng vay vốn sao cho lãi suất thấp nhất để đảm bảo hiệu quả công việc làm ăn. Nhóm ngân hàng nước ngoài là nhóm ngân hàng “cẩn thận nhất” vì họ thường lo những rủi ro có thể xảy ra và khó thu hồi khoản nợ do đặc thù của ngân hàng nước ngoài. Bởi vậy những điều kiện cho vay rất khắc khe chặt chẽ, đối với trường hợp cho vay thế chấp máy móc thiết bị sẽ chỉ nhận tài sản chính chủ và bắt buộc phải mua bảo hiểm vật chất cho tài sản trong suốt quá trình vay. Chính điều này khiến những ngân hàng này không được nhiều doanh nghiệp cần vốn vay lựa chọn mặc dù lãi suất rất thấp.

Ngân hàng sẽ tiến hành thẩm định và phê duyệt các hồ sơ liên quan đến máy móc thiết bị thế chấp cho dự án vay. Mỗi ngân hàng có những điều kiện thẩm định và phê duyệt hồ sơ khác nhau tùy theo định hướng chiến lược từng thời kì hoặc tùy từng ngân hàng mà khách hàng đến vay vốn. Sau thỏa thuận về hạn mức vay cũng như giá trị tài sản cầm cố, thế chấp thì sẽ tiến hành các thủ tục ký kết các hợp đồng vay và hợp đồng thế chấp. Việc ký hợp đồng thế chấp sẽ được thực hiện dưới sự chứng kiến và xác nhận của công chứng viên. Để khoản vay máy móc thế chấp đảm bảo được công nhận và bảo vệ quyền lợi cho ngân hàng, sau khi công chứng hợp đồng thế chấp, ngân hàng sẽ tiếp tục đăng ký việc đồng ý thế chấp trên tại cơ quan đăng ký có thẩm quyền (thông thường là tại văn phòng đăng ký giao dịch tài sản đảm bảo TP.HCM).

Thủ tục cầm cố số dư tiền gửi nói chung, thẻ tiết kiệm nói riêng vẫn được thực hiện trên thực tế là bên nhận tiền gửi xác nhận đồng ý phong tỏa tài khoản tiền gửi và xác nhận hỗ trợ bên nhận cầm cố xử lý để thu hồi nợ. Tuy nhiên, việc này dường như mới chỉ dừng lại ở việc hỗ trợ, chứ chưa rõ nghĩa vụ của Tổ chức tín dụng. Nếu có nghĩa vụ thanh toán khác, đặc biệt nếu như chính là nghĩa vụ vổi Tổ chức tín dụng nhận tiền gửi, thì họ có thể ưu tiên khấu trừ số tiền gửi trước. Bên nhận cầm cố khó có cơ sở pháp lý để đòi hỏi quyền lợi.

Nhìn chung, việc cầm cố số dư tiền gửi là một biện pháp bảo đảm rất an toàn trên thực tế. Tuy nhiên, vấn đề dễ xảy ra rủi ro, tranh chấp nếu như người cầm cố số dư tiền gửi không phải là chủ sở hữu số tiền gửi. Quy định “chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm là người đứng tên trên thẻ (sổ) tiết kiệm” tại Quyết định số 47/2006/QĐ- NHNN là chưa đủ cơ sở pháp lý. Pháp luật chưa xác định rõ tư cách và nghĩa vụ của tổ chức tín dụng quản lý số dư tiền gửi nói chung, phát hành thẻ tiết kiệm nói riêng ngoài quy định từ năm 2006 “bên nhận cầm cố có quyển yêu cầu tổ chức nhân tiền gửi tiết kiệm phong tỏa tài khoản tiền gửi tiết kiệm của bên cầm cố”. Luận văn: Pháp luật về thế chấp tài sản để đảm bảo vay vốn.

Trước năm 2021, pháp luật chưa quy định về việc cầm cố số dư tiền gửi mà quy định cầm cố thẻ tiết kiệm giống như việc cầm cố giấy tò có giá. Việc cầm cố thẻ tiết kiệm là cách diễn đạt rút gọn, vì thực chất thẻ tiết kiệm không phải là giấy tờ có giá. Cách diễn đạt khác là cầm cố số tiền gửi trong thẻ tiết kiệm. Đến năm 2021, pháp luật mới thay đổi quy định từ cầm cố thẻ tiết kiệm thành cầm cố số dư tiền gửi.

1.2.3.3. Thế chấp bảo đảm nghĩa vụ cho chính mình và thế chấp bảo đảm nghĩa vụ cho bên thứ ba

Thế chấp bảo đảm nghĩa vụ cho chính mình đó chính là sự cam kết của chính bên thế chấp về việc dùng các loại tài sản do chính mình sở hữu hợp pháp để đảm bảo cho nghĩa vụ đối với bên người nhận. Trường hợp này rất thông dụng đối với bên đi vay sẽ cung cấp Tài sản bảo đảm đề thế chấp cho chính bản thân mình vay vốn ngân hàng. Hầu như các ngân hàng khi tiếp nhận hồ sơ vay, đều yêu cầu bên vay phải thế chấp tài sản của chính mình và xem đây là điều kiện tiên quyết để vay vốn. Nếu bên vay có yêu cầu thế chấp, cầm cố bằng vật cung cấp bên thứ ba, thì ngân hàng vẫn xem xét và chấp nhận.

Việc thế chấp, cầm cố đảm bảo nghĩa vụ cho bên thứ ba thực ra đây là loại bảo lãnh bằng thế chấp (bảo lãnh đối vật). Hiệu quả của bảo lãnh này là thiết lập quyền chủ nợ của người nhận bảo lãnh đối với tài sản thứ hai bên cạnh khối tài sản tổng thể, đơn giản là để người nhận bảo lãnh thu hồi một món nợ đến hạn, nếu không đòi được khoản nợ từ người được bảo lãnh, thì quay sang đòi ở người bảo lãnh.

Theo Nguyễn Phương Linh, Nguyễn Văn Phương (2012), “khi phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay ngân hàng và bị khởi kiện ra Tòa, bên bảo lãnh và bên được bảo lãnh đều thừa nhận tự nguyện ký hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản nhưng tìm cách lẩn tránh nghĩa vụ của mình theo quy định của hợp đồng và pháp luật với những lý do riêng của mỗi bên.”

Mặc khác, trong bài viết của Nguyễn Phương Linh, Nguyễn Văn Phương (2012) cũng có đề cập, “khi cho vay vốn có bảo đảm bằng tài sản, ngân hàng quan niệm rằng biện pháp bảo đảm bằng tài sản được coi như là phao cứu sinh cho ngân hàng và là căn cứ pháp lý quan trọng để ngân hàng thu hồi nợ vay trong trường hợp bên vay không trả được nợ đến hạn.” Cho nên, nếu Tòa án tuyên bố vô hiệu hợp đồng Thế chấp tài sản của bên thứ ba và không công nhận hiệu lực của hợp đồng Thế chấp tài sản này thì việc Thế chấp tài sản theo hình thức do bên thứ ba cung cấp để đảm bảo thực thi nghĩa vụ cho người khác sẽ không còn tác dụng, hiệu quả phòng ngừa như đề cập bên trên, sẽ không được ngân hàng chấp thuận khi thẩm định để xét điều kiện cho vay đối với các khách hàng có hình thức thế chấp cho vay có Tài sản bảo đảm loại hình trên.

Kết luận chương 01 Luận văn: Pháp luật về thế chấp tài sản để đảm bảo vay vốn.

Thông qua việc tìm hiểu những vấn đề lý luận cơ bản về Thế chấp tài sản để bảo đảm thực thi đúng nghĩa vụ của doanh nghiệp liên quan đến Hợp đồng tín dụng với ngân hàng, có thể giúp các bên thấu hiểu hơn các quy định, các hình thức về thế chấp, về Tài sản bảo đảm, về các loại hình bảo đảm mà luật pháp Việt Nam có quy định để các bên tham gia giao dịch thực hiện theo và cần tuân theo để đảm bảo cho quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.

Từ khái niệm và những đặc điểm chung của các Biện pháp bảo đảm, có thể nói rằng về bản chất pháp lý, Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là một loại “chế tài” trong nghĩa vụ dân sự. Chế tài này do các bên thoả thuận đặt ra dưới sự bảo trợ của pháp luật. Các bên có thể tự áp dụng như đã thoả thuận khi có sự vi phạm nghĩa vụ hoặc nếu không có thoả thuận thì có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng để bảo đảm quyền lợi cho bên có quyền. Luận văn: Pháp luật về thế chấp tài sản để đảm bảo vay vốn.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Luận văn: Quy định PL về thế chấp tài sản để đảm bảo vay vốn

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464