Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Quy định pháp luật về thế chấp tài sản bên thứ ba hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Quy định pháp luật về thế chấp tài sản bên thứ ba để đảm bảo khoản vay tại NHTM dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Từ thực tiễn hoạt động tín dụng của các Ngân hàng thương mại thì biện pháp bảo đảm thế chấp là biện pháp bảo đảm được sử dụng phổ biến nhất. Thế chấp tài sản có đặc điểm cơ bản là Bên thế chấp không phải chuyển giao tài sản cho Bên nhận thế chấp mà họ vẫn có thể sử dụng, khai thác Tài sản bảo đảm miễn không làm thay đổi, suy giảm giá trị tài sản. Xét về mặt chủ thể, thế chấp tài sản có thể chia thành thế chấp tài sản của chính bên vay và thế chấp tài sản bên thứ ba.
Trong quan hệ bảo đảm mà một bên dùng tài sản của mình để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của bên khác đang được sử dụng nhiều trên thực tế. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn nhiều chủ thể vẫn chưa thể xác định biện pháp bảo đảm được sử dụng. Việc nhầm lẫn đôi khi từ Tòa án nhân dân các cấp, cơ quan thi hành án hay các cơ quan chức năng. Từ đó, việc phân định chính xác phạm vi bảo đảm, quyền và nghĩa vụ các bên tham gia giao dịch, thời điểm xử lý tài sản bảo đảm…cũng chưa chính xác. Bên cạnh đó, thực tiễn diễn ra một số vấn đề xoay quanh biện pháp bảo đảm thế chấp tài sản của bên thứ ba như: xác định số lượng thành viên hộ gia đình tham gia giao dịch thế chấp, giao dịch thế chấp có khả năng vô hiệu do có thời gian gián đoạn, bên thế chấp/bên có nghĩa vụ phá sản, mất khả năng thanh toán sẽ ảnh hưởng đến việc xử lý Tài sản bảo đảm như thế nào…Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, tác giả nhận thấy việc nghiên cứu các “Quy định pháp luật về Thế chấp tài sản bên thứ ba để đảm bảo tiền vay tại các Ngân hàng thương mại” là việc cần thiết và chọn nghiên cứu về đề tài này.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
2.Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu tổng quát của đề tài là tập trung làm rõ những vấn đề lý luận về thế chấp tài sản của bên thứ ba, phân tích thực trạng áp dụng pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng thế chấp tài sản của bên thứ ba tại các Ngân hàng thương mại, chỉ ra những tồn tại, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật, từ đó, đề xuất một số giải pháp phù hợp thực tiễn nhằm hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng tài sản thế chấp của bên thứ ba tại các Ngân hàng thương mại.
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Mô tả tổng quan về thế chấp tài sản bên thứ ba để đảm bảo khoản vay tại Ngân hàng thương mại: khái niệm, đặc điểm, chủ thể tham gia giao dịch, hiệu lực Hợp đồng thế chấp tài sản của bên thứ ba…
- Nêu lên thực trạng pháp luật áp dụng biện pháp bảo đảm thế chấp tài sản bên thứ ba để đảm bảo khoản vay tại các Ngân hàng thương mại. Luận văn: Quy định pháp luật về thế chấp tài sản bên thứ ba.
- Đề xuất, kiến nghị các giải pháp để tháo gỡ vướng mắc trong quá trình áp dụng, hướng hoàn thiện pháp luật về thế chấp tài sản bên thứ ba để đảm bảo việc áp dụng các quy định của pháp luật thật sự hữu hiệu, bảo đảm quyền và lợi ích của các chủ thể tham gia hoạt động tín dụng tại các Ngân hàng thương mại.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Các quy định pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng tài sản thế chấp của bên thứ ba (chủ thể tham gia; tài sảm thế chấp của bên thứ ba, hình thức và hiệu lực của Giao dịch bảo đảm thế chấp tài sản bên thứ ba, nội dung Hợp đồng thế chấp…) tại các văn bản pháp luật như: Bộ luật dân sự năm 1995, Bộ luật dân sự năm 2005, Bộ luật dân sự năm 2015, Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19 tháng 03 năm 2021 Quy định thi hành Bộ luật dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, Luật đất đai năm 2013, Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16 tháng 06 năm 2010 sửa đổi năm 2017, Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 Quy định về hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng…Bên cạnh đó luận văn phân tích một số trường hợp xảy ra trong thực tế, kèm theo trích dẫn một số bản án để làm rõ hơn thực trạng. Từ đó, tác giả đề nghị một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và dành cho Ngân hàng thương mại.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung: Đề tài nghiên cứu các Quy định pháp luật về thế chấp tài sản bên thứ ba đảm bảo khoản vay tại Ngân hàng thương mại. Trong quá trình nghiên cứu, luận văn chưa giải quyết triệt để những vấn đề như: lý thuyết vật quyền và trái quyền. Bên cạnh đó, trong quá trình phân tích thực trạng có đề cập đến một số bản án để minh chứng cho những lập luận của mình, tác giả không có điều kiện tiếp cận toàn bộ bản án nên chưa khái quát hết thực trạng liên quan việc thực thi pháp luật trong quan hệ thế chấp tài sản một bên để đảm bảo nghĩa vụ của người khác tại Ngân hàng thương mại.
- Phạm vi không gian: tại các Ngân hàng thương mại
- Phạm vi thời gian: từ năm 2005 – 2023
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận, kết hợp phương pháp tư duy logic và duy vật biện chứng để hệ thống hoá một số cơ sở lý luận về thế chấp tài sản bên thứ ba đảm bảo khoản vay tại Ngân hàng thương mại. Trong khoa học pháp lý, các quan hệ xã hội là đối tượng điều chỉnh của pháp luật, chịu sự tác động của các điều kiện kinh tế, chính trị. Do đó, khi nghiên cứu đề tài này, tác giả đã đặt vấn đề nghiên cứu trong một không gian chịu sự chi phối và tác động của nhiều yếu tố, từ đó xem xét và đánh giá vấn đề một cách tổng quát và toàn diện. Luận văn: Quy định pháp luật về thế chấp tài sản bên thứ ba.
Phương pháp phân tích: phương pháp này được sử dụng xuyên suốt toàn đề tài, áp dụng phương pháp này để giải thích những quy định của pháp luật đối với thế chấp tài sản bên thứ ba, nhằm hiểu rõ mục đích, vai trò, ý nghĩa của các quy định pháp luật về biện pháp bảo đảm này. Tiếp đó, tác giả tiếp tục phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về biện pháp bảo đảm này, từ đó chỉ ra những điểm bất cập, hạn chế cần phải tiếp tục sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện.
Phương pháp tổng hợp: là phương pháp liên kết, sắp xếp thông tin đã thu thập và đánh giá để tạo ra một hệ thống lý thuyết đầy đủ, sâu sắc về vấn đề nghiên cứu. Trên cơ sở phân tích, đánh giá pháp luật, tác giả sẽ đưa ra những kết luận, nhận định cụ thể về thế chấp tài sản bên thứ ba theo pháp luật hiện hành.
Phương pháp so sánh, đối chiếu: được sử dụng trong quá trình nghiên cứu hệ thống các quy định pháp luật về Biện pháp thế chấp bên thứ ba như: Bộ luật dân sự năm 1995, Bộ luật dân sự năm 2005, Bộ luật dân sự năm 2015, Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16 tháng 06 năm 2010 sửa đổi năm 2017, Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19 tháng 03 năm 2021 …, để tìm kiếm những điểm khác biệt, mâu thuẫn, chồng chéo từ đó tìm ra nguồn gốc, cốt lõi vấn đề, kết luận và đưa ra các kiến nghị, đề xuất phù hợp. Phương pháp này, giúp phát hiện những khuyết điểm của văn bản của pháp luật hay phát hiện những quy định cần đổi mới để phù hợp với sự thay đổi của xã hội, giúp đề tài nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn hơn. Bên cạnh đó, phương pháp so sánh, đối chiếu còn được luận văn sử dụng trong việc phân tích hiệu lực Hợp đồng thế chấp, hiệu lực đối kháng bên thứ ba của một số nước trên thế giới và Việt Nam, từ đó thấy được những điểm tương đồng, khác biệt trong các quy định của pháp luật một số nước trên thế giới với Việt Nam, cũng như những điểm tiến bộ, điểm mới trong các quy định của pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ.
5. Đóng góp của đề tài
Đề tài là công trình khoa học nghiên cứu về quy định pháp luật về thế chấp tài sản bên thứ ba để đảm bảo khoản vay tại Ngân hàng thương mại ở Việt Nam, đề tài có những đóng góp mới là:
- Về mặt lý luận, Luận văn đã hệ thống hóa:
Những lý luận về thế chấp tài sản bên thứ ba – một trong những biện pháp bảo đảm tín dụng được sử dụng phổ biến tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam. Luận văn: Quy định pháp luật về thế chấp tài sản bên thứ ba.
Những quy định pháp luật hiện hành về biện pháp thế chấp tài sản bên thứ ba: chủ thể tham gia giao dịch, hiệu lực Hợp đồng thế chấp tài sản bên thứ ba, nội dung chính Hợp đồng thế chấp, xử lý Tài sản bảo đảm…
- Về mặt thực tiễn:
Nêu lên thực trạng áp dụng pháp luật cụ thể trong việc nhận thế chấp tại Ngân hàng thương mại và những vướng mắc thực tế và thường xuyên phát sinh từ việc áp dụng các quy định của pháp luật đó.
Đề xuất một số kiến nghị, một số giải pháp nhằm hướng dẫn thực hiện các quy định của pháp luật hiện hành có liên quan nhằm triển khai có hiệu quả, thống nhất quy định pháp luật trên thực tế và nâng cao mức an toàn trong triển khai hoạt động thế chấp tài sản của bên thứ ba tại các Ngân hàng thương mại.
6. Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu
Việc nghiên cứu pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo đảm tiền vay nói chung và bảo đảm tiền vay bằng tài sản thế chấp của bên thứ ba nói riêng đã được đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu như:
6.1 Luận án, luận văn
Công trình nghiên cứu về bảo đảm khoản vay bằng Tài sản thế chấp của bên thứ ba:
Nguyễn Quang Hương Trà (2021), Thế chấp bất động sản theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, Luận án Tiến sĩ luật học, trường Đại học Luật Hà Nội: Luận án đã phân tích quan điểm khoa học về Bất động sản tồn tại ở thể thức quyền, yếu tố vật quyền và trái quyền của biện pháp thế chấp Bất động sản, làm sáng tỏ phương diện lý luận trong khoa học pháp lý về thế chấp Bất động sản. Bên cạnh đó, bài viết đã nhận diện được điểm tích cực, hạn chế của pháp luật. Từ đó đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật: phân biệt giữa yếu tố vật quyền và trái quyền để điều chỉnh phù hợp. Trọng tâm và phạm vi của luận án là nghiên cứu chung về thế chấp bất động sản nên đây là nguồn tài liệu tham khảo cho tác giả trong phần tổng quan về thế chấp tài sản bên thứ ba để đảm bảo khoản vay tại Ngân hàng thương mại.
Phạm Thị Vân Anh (2016), Bảo đảm nghĩa vụ trả nợ bằng thế chấp tài sản bên thứ ba trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội. Phần 1 bài viết đã nêu các quy định về bảo đảm nghĩa vụ trả nợ trong hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại: khái niệm, đặc điểm nghĩa vụ trả nợ, bản chất vai trò của thế chấp bằng tài sản bên thứ ba, phân biệt các biện pháp bảo đảm: cầm cố so với thế chấp tài sản bên thứ ba, bảo lãnh và thế chấp tài sản bên thứ ba. Phần tiếp theo, luận văn đề cập đến các quy định về giao dịch thế chấp bằng tài sản bên thứ ba, hiệu lực của giao dịch thế chấp, Hợp đồng bảo đảm khoản vay bằng thế chấp của bên thứ ba.
Đề tài có viết về thực tiễn áp dụng pháp luật về thế chấp tài sản bên thứ ba trong quá trình xử lý Tài sản bảo đảm khoản vay và những bất cập tồn tại trong thực tiễn áp dụng pháp luật. Tuy nhiên phần thực trạng mà luận văn đề cập khá chung chung, không cụ thể được vướng mắc cụ thể đang gặp phải. Từ đó, phần nội dung tiếp theo là Đề xuất, kiến nghị nâng cao hiệu quả pháp luật cũng khá trừu tượng. Luận văn: Quy định pháp luật về thế chấp tài sản bên thứ ba.
Lê Thị Thu Ánh (năm 2015), Thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng tài sản thế chấp của bên thứ ba tại ngân hàng thương mại ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội: Bài viết đã khái quát chung về bảo đảm tiền vay bằng thế chấp của bên thứ ba, khái quát về pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng tài sản bên thứ ba tại Ngân hàng thương mại. Tuy nhiên phần nêu thực trạng áp dụng pháp luật về thế chấp tài sản bên thứ ba tại các Ngân hàng thương mại còn khá sơ sài, chủ yếu chỉ phân tích các nội dung luật mà chưa chỉ ra được nhũng bất cập, vướng mắc khi áp dụng vào thực tiễn. Do đó nội dung phần đề xuất kiến nghị để giải quyết các vướng mắc trong xảy ra trong thực tiễn cũng chưa sâu sắc.
Trần Văn Nhiên (năm 2015), Quy định của pháp luật về thế chấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba tại ngân hàng thương mại, Luận văn Thạc sĩ học, Đại học Luật TP HCM: Bài viết đã làm rõ hơn các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thế chấp Quyền sử dụng đất của bên thứ ba tại Ngân hàng thương mại, nêu lên được bất cập trong các quy định của pháp luật và đề xuất những kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật về thế chấp Quyền sử dụng đất của bên thứ ba tại Ngân hàng thương mại. Bên cạnh đó, đề tài cũng khuyến cáo một số vấn đề pháp lý đối với Ngân hàng thương mại và người sử dụng đất. Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tài sản sản thế chấp là quyền sử dụng đất.
6.2 Sách và công trình nghiên cứu khoa học
Sách Chín biện pháp bảo đảm nghĩa vụ hợp đồng của tác giả Luật sư Trương Thanh Đức, nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản 2021, tái bản lần thứ ba: Quyển sách cung cấp thông tin cơ bản về các biện pháp bảo đảm theo Bộ luật dân sự năm 2015, Nghị định số 21/2021/NĐ-CP; phân tích, luận giải các biện pháp bảo đảm về quy định pháp lý và khả năng áp dụng thực tiễn, gợi mở cách thức thực hiện cho các chủ thể.
Sách Pháp luật về Giao dịch bảo đảm trong hoạt động cấp tín dụng ở Việt Nam của tác giả Đoàn Đức Lương, Viên Thế Giang, Võ Thị Mỹ Hương, nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 2015: công trình nghiên cứu đã trình bày những vấn đề lí luận cơ bản về giao dịch bảo đảm trong hoạt động cấp tín dụng; phân tích các qui định pháp luật về giao dịch bảo đảm trong hoạt động cấp tín dụng, gồm: lựa chọn biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, pháp luật về hợp đồng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, đăng kí giao dịch bảo đảm, xử lí tài sản bảo đảm và giải quyết tranh chấp phát sinh từ giao dịch bảo đảm.
Bài viết Rủi ro pháp lý từ Hợp đồng thế chấp tài sản bên thứ ba, của hai tác giả Nguyễn Phương Linh và Nguyễn Văn Phương đăng trên Tạp chí Ngân hàng, số 23, tháng 12/2012: bài viết này được các tác giả nghiên cứu tại thời điểm có một số tòa án tuyên vô hiệu đối với Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất của bên thứ ba. Các tác giả đã đề cập đến một số quy định của pháp luật liên quan đến thế chấp Quyền sử dụng đất của bên thứ ba, đồng thời nêu lên hậu quả của việc tòa án tuyên Hợp đồng thế chấp vô hiệu dưới nhiều góc độ kinh tế, xã hội, pháp luật. Tuy nhiên, các bài viết này cũng chỉ dừng lại ở việc nêu lên thực trạng áp dụng pháp luật là chủ yếu, chưa có các luận giải vấn đề mang tính chất lý luận và chưa đề cập đến các khía cạnh pháp lý khác nhau so với thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật liên quan đến vấn đề thế chấp Quyền sử dụng đất của bên thứ ba. Luận văn: Quy định pháp luật về thế chấp tài sản bên thứ ba.
Bài viết Một số vấn đề pháp lý về hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba của tác giả Đoàn Thái Sơn, đăng trên Tạp chí ngân hàng số 12/2012, bài viết chủ yếu đưa ra một số vấn đề thực tiễn xảy ra đối với Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất của bên thứ ba. Bài viết đề cập đến các nội dung dưới cái nhìn tổng thể, tuy nhiên không đi sâu phân tích thực tế tại một Ngân hàng thương mại cụ thể nào.
Bài viết Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự cho người khác trong Bộ luật dân sự năm năm 2015 của tác giả Nguyễn Hồng Hải, đăng trên VIETNAM LAW & LEGAL FORUM Vol. 23 – No 276 August 2017: Bài viết đã nêu khái niệm và sự cần thiết “bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự cho người khác. Qua đó, tác giả phân tích cơ sở pháp lý của việc bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự bằng tài sản bên thứ ba thông qua các nguyên tắc cơ bản của Luật dân sự (tự do, tự nguyện của các chủ thể; không thuộc các trường hợp bị hạn chế vì lý do quốc phòng an ninh, không gây thiệt hại cho người khác…). Tác giả cũng đề cập đến các thể thức có thể áp dụng: dùng tài sản bên thứ ba để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của bên trả nợ và dùng tài sản để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của mình. Bài viết đã khái quát những nội dung xoay quanh các hình thức đảm bảo của nghĩa vụ dân sự của bên thứ ba, tuy nhiên bài viết chỉ dừng lại ở việc phân tích các hình thức đảm bảo mà chưa đánh giá từng biện pháp có ưu nhược điểm gì, cũng như chưa nêu thực trạng đang triển khai các thể thức này như thế nào.
Bài viết Bảo đảm khoản vay bằng tài sản bên thứ ba: từ quy định pháp luật đến thực tiễn áp dụng của Tiến sĩ Bùi Đức Giang, đăng trên báo Ngân hàng, Ngân hàng nhà nước Việt Nam, số 7/2020, trang 13 – 15. Bài viết đã phân tích giá trị pháp lý của biện pháp bảo đảm bằng tài sản bên thứ ba qua Bộ luật dân sự và sự thừa nhận biện pháp thế chấp bằng Bất động sản của người thứ ba tại Thông tư số 07/2019/TT-BTP của Bộ Tư pháp ngày 25 tháng 11 năm 2019. Bên cạnh đó bài viết cũng đã nêu vấn đề: có hay không sự vi phạm Luật Doanh nghiệp nếu sử dụng tài sản của doanh nghiệp để đảm bảo nghĩa vụ của đối tượng khác. Cuối cùng, bài viết đã kết luận: hành lang pháp lý về bảo đảm bằng tài sản bên thứ ba vẫn tiềm ẩn một số khoảng trống, hạn chế nhất định và vẫn tiềm ẩn rủi ro pháp lý cả cho Tổ chức tín dụng lẫn bên bảo đảm.
Những bài luận văn, luận án, nghiên cứu trên đã mang lại những kết quả đáng ghi nhận từ lý thuyết đến thực tiễn. Nhìn chung các công trình trên có những đặc điểm như sau:
Một là, mặt đạt được: về cơ bản, các công trình đã có những phân tích về lý luận và pháp luật hiện hành về bất động sản, thế chấp bất động sản, tài sản thế chấp của bên thứ ba, hiệu lực của hợp đồng thế chấp tài sản bên thứ ba… Đây là nguồn tài liệu tham khảo cho tác giả trong quá trình triển khai chương 1: tổng quan về thế chấp tài sản của bên thứ ba để đảm bảo khoản vay tại Ngân hàng thương mại
Hai là, mặt hạn chế: những công trình nghiên cứu trên nghiên cứu dựa trên những quy định cũ như Bộ luật dân sự năm 2005, Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về Giao dịch bảo đảm, Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22 tháng 02 năm 2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về Giao dịch bảo đảm. Do đó, tính thực tiễn của đề tài không đảm bảo phù hợp diễn biến thực tế các tồn tại, vướng mắc phần nào đã được giải quyết bởi các quy định mới.
Do đó, đề tài “Quy định pháp luật về thế chấp tài sản bên thứ ba để đảm bảo khoản vay tại Ngân hàng thương mại” sẽ kế thừa những lý luận của các nghiên cứu khoa học, luận văn trước đó. Bên cạnh đó, tác giả cũng có dẫn chiếu so sánh một số quy định pháp luật tại các quốc gia khác và Việt Nam để người đọc có thể cách nhìn khái quát hơn về biện pháp thế chấp tài sản, tài sản bên thứ ba.
7 Kết cấu luận văn:
Nội dung luận văn được kết cấu bởi 02 chương sau đây:
Chương 1: Tổng quan về thế chấp tài sản bên thứ ba để đảm bảo khoản vay tại ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật thế chấp tài sản bên thứ ba để đảm bảo khoản vay tại ngân hàng thương mại và một số kiến nghị
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THẾ CHẤP TÀI SẢN BÊN THỨ BA ĐỂ ĐẢM BẢO KHOẢN VAY TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Khái quát về thế chấp tài sản bên thứ ba đảm bảo khoản vay tại các ngân hàng thương mại Luận văn: Quy định pháp luật về thế chấp tài sản bên thứ ba.
1.1.1 Khái niệm về thế chấp tài sản bên thứ ba đảm bảo khoản vay tại ngân hàng thương mại
Theo quy định tại Điều 292 Bộ luật dân sự năm 2015 có 9 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự bao gồm: cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lưu quyền sở hữu, bảo lãnh, tín chấp, cầm giữ tài sản. Trong số đó, có 7 biện pháp được gọi là Giao dịch bảo đảm, 2 biện pháp: bảo lưu quyền sở hữu và cầm giữ tài sản chỉ được gọi là biện pháp bảo đảm. Ta có thể phân nhóm các biện pháp bảo đảm như sau:
Nếu xét tiêu chí luật định, có thể chia thành hai nhóm:
- Nhóm 1: là nhóm biện pháp bảo đảm xác lập theo quy định của luật: cầm giữ tài sản.
- Nhóm 2: là nhóm biện pháp bảo đảm xác lập theo sự thoả thuận gồm 8 biện pháp: cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lưu quyền sở hữu, bảo lãnh, tín chấp.
Nếu xét về tiêu chí tính chất, có thể chia thành hai nhóm
- Nhóm 1: nhóm biện pháp bảo đảm bằng tài sản (mang tính đối vật): Cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, ký cược, ký quỹ, đặt cọc, cầm giữ tài sản, bảo lưu quyền sở hữu.
- Nhóm 2: nhóm biện pháp bảo đảm không bằng tài sản (mang tính đối nhân): bảo lãnh, tín chấp
Trên thực tế, để đảm bảo cho việc cấp tín dụng nói chung và cho vay nói riêng thì các Ngân hàng thương mại sử dụng các loại Giao dịch bảo đảm: cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, ký quỹ, bảo lãnh và tín chấp. Trong đó, thế chấp tài sản là một trong những Giao dịch bảo đảm được sử dụng phổ biến. Nếu trường hợp tài sản thuộc sở hữu của bên vay, thì trong giao dịch vay vốn tồn tại hai chủ thể: Bên vay (cũng là Bên thế chấp) – Bên cho vay (cũng chính là Bên nhận thế chấp). Nếu trường hợp Tài sản bảo đảm thuộc sở hữu một đối tượng khác với bên vay, lúc này sẽ có ba chủ thể tham gia giao dịch vay vốn gồm: Bên vay, Bên thế chấp, Bên nhận thế chấp. Nếu xét về Hợp đồng cho vay sẽ tồn tại 2 chủ thể: Bên vay và bên cho vay. Nếu xét về Hợp đồng bảo đảm, các chủ thể là: Bên thế chấp, Bên nhận thế chấp và bên vay. Trong bài viết này, tác giả tạm gọi bên có tài sản là bên thứ ba, và sẽ phân tích quy định pháp luật về Thế chấp tài sản bên thứ ba đảm bảo khoản vay tại Ngân hàng thương mại.
Theo quan điểm của PGS.TS Đỗ Văn Đại: việc dùng tài sản để đảm bảo nghĩa vụ cho bên thứ ba chưa được thừa nhận một cách chính thống từ Quốc hội và đồng tình từ Toà án. Hay nói cách khác thế chấp chỉ dùng để đảm bảo cho nghĩa vụ của chính bên có tài sản. Luận văn: Quy định pháp luật về thế chấp tài sản bên thứ ba.
Theo quan điểm của tác giả Nguyễn Hồng Hải (2017): bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự của người khác là việc một bên thoả thuận với chủ nợ sẽ bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên vay thông qua lời cam kết (là biện pháp bảo đảm mang tính đối nhân như bảo lãnh hoặc tín chấp) hay thông qua tài sản cụ thể (biện pháp bảo đảm đối vật như cầm cố, thế chấp).
Theo quan điểm của tác giả: Nếu theo định nghĩa tại Bộ luật dân sự năm 1995 thì bên có nghĩa vụ dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của chính mình, tức là trong giao dịch dân sự này chỉ tồn tại hai chủ thể là bên có nghĩa vụ cũng chính là Bên thế chấp và Bên nhận thế chấp. Nhưng xét về định nghĩa thế chấp theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 và Bộ luật dân sự năm 2015 thì gần như là tương đồng nhau và có sự khác biệt với Bộ luật dân sự năm 1995 trước đó: cả hai bộ luật đều nêu lên việc một bên dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ mà không đề cập đến nghĩa vụ đó là của ai: của chính bên có tài sản hay một bên khác có nghĩa vụ. Tuy nhiên trong Bộ luật dân sự năm 2015 cũng không có một điều khoản nào cấm, hạn chế quyền của các chủ thể khi lựa chọn các biện pháp bảo đảm miễn là đáp ứng các nguyên tắc cơ bản của Bộ luật dân sự bao gồm:
- Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết thoả thuận: miễn là thoả thuận này không vi phạm vào các điều cấm của luật và đạo đức xã hội.
- Quyền dân sự của các bên có thể bị hạn chế để phục vụ quốc phòng, hay an ninh quốc gia, sức khoẻ của cộng đồng….
- Các chủ thể thực hiện quyền dân sự không được lạm quyền gây thiệt hại cho chủ thể khác, hoặc thực hiện mục đích phạm pháp và đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự theo Điều 3 Bộ luật dân sự.
Mặc dù Bộ luật dân sự năm 2015 chưa có quy định cụ thể về thế chấp tài sản bên thứ ba nhưng nếu các giao dịch dân sự được thiết lập giữa các bên đảm bảo tuân thủ đúng các nguyên tắc này thì các giao dịch này vẫn được công nhận hiệu lực. Bên cạnh đó, theo hướng dẫn tại Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19 tháng 03 năm 2021 đã phần nào cụ thể hóa, giải thích thêm cho khái niệm này thông qua quy định: Người có nghĩa vụ có thể đồng thời hoặc không đồng thời là bên bảo đảm. Điều này có nghĩa là có thể tồn tại 2 bên: người có nghĩa vụ – bên có tài sản và bên có tài sản hoàn toàn có thể dùng tài sản của mình để bảo đảm cho người có nghĩa vụ. Trong trường hợp này có thể áp dụng GDBĐ là cầm cố tài sản, thế chấp tài sản. Hơn nữa, quan điểm của Bộ tư pháp cũng đã công nhận Giao dịch bảo đảm của bên thứ ba thông qua Khoản 3 Điều 4 Thông tư số 07/2019/TTBTP ngày 25 tháng 11 năm 2019: việc đăng ký thế chấp Quyền sử dụng đất, Tài sản gắn liền với đất, Quyền sử dụng đất đồng thời Tài sản gắn liền với đất…được thực hiện để đảm bảo nghĩa vụ dân sự của Bên thế chấp, nghĩa vụ người khác hoặc nghĩa vụ của cả Bên thế chấp và người khác.
Từ những phân tích ở trên, chúng ta có thể đưa ra khái niệm: Thế chấp tài sản bên thứ ba để đảm bảo cho khoản vay tại Ngân hàng thương mại là sự thoả thuận giữa các bên rằng một bên (gọi là Bên thế chấp) sử dụng tài sản thuộc sở hữu của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bên có nghĩa vụ với Ngân hàng thương mại (BNTC) và không có sự chuyển giao tài sản giữa các bên tham gia giao dịch.
1.1.2 Đặc điểm thế chấp tài sản của bên thứ ba để đảm bảo khoản vay tại ngân hàng thương mại
Thứ nhất: không có sự chuyển giao Tài sản thế chấp Luận văn: Quy định pháp luật về thế chấp tài sản bên thứ ba.
Thế chấp tài sản của bên thứ ba cũng có đặc điểm như thế chấp là không có sự chuyển giao Tài sản thế chấp. Điều này có nghĩa là Bên thế chấp được phép tiếp tục sử dụng, khai thác hoa lợi, lợi tức, công năng hiện có của Tài sản thế chấp. Đối với Bên nhận thế chấp thì cũng tiết kiệm được chi phí quản lý, lưu trữ Tài sản bảo đảm. Đây cũng xem như là một ưu điểm của biện pháp bảo đảm này.
Thứ hai: Thế chấp tài sản của bên thứ ba mang tính đối vật.
Đây là đặc tính cơ bản và nổi trội nhất để phân biệt biện pháp bảo đảm này với các biện pháp bảo đảm khác. Vật quyền hay quyền đối vật là quyền của chủ thể đối với một tài sản; tương ứng từng quan hệ của chủ thể với tài sản mà chủ thể có quyền khác nhau (quyền sở hữu, quyền định đoạt….)
Vật quyền bảo đảm (tiếng Pháp: sûreté réelle) là một khái niệm của hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa (Civil law), được dùng để chỉ quyền trực tiếp và ngay tức khắc của bên nhận bảo đảm trên một tài sản được chủ sở hữu của nó dùng để đảm bảo thực hiện một nghĩa vụ. Vật quyền bảo đảm là một biện pháp làm tăng quyền năng của trái chủ, mà không phụ thuộc vào người khác, cho phép trái chủ có quyền lợi đặc biệt đối với tài sản của người thụ trái. Quan hệ đảm bảo có thể gồm cả trường hợp bên thứ ba dùng tài sản của mình để bảo đảm nghĩa vụ của bên khác, theo đó, chủ sở hữu đã trao quyền định đoạt tài sản của mình cho Bên nhận thế chấp. Trong quan hệ vật quyền thì chủ thể có thể thực hiện quyền của mình lên đối tượng là tài sản bằng hành vi trực tiếp của mình mà không quan tâm đến ý kiến của chủ thể khác. Nhờ đó mà quan hệ vật quyền tạo sự an tâm hơn và chủ động cho trái chủ. Các quyền đối vật trong quan hệ vật quyền bao gồm: Luận văn: Quy định pháp luật về thế chấp tài sản bên thứ ba.
Quyền tác động trực tiếp lên tài sản: như chính tên gọi đây là quyền của Bên nhận thế chấp thực hiện các hành vi tác động trực tiếp lên Tài sản bảo đảm. Đây là quyền quan trọng nhất, giành sự chủ động cho Bên nhận thế chấp, để có thể triển khai nhanh chóng nhất quyền lợi của mình khi xảy ra tình huống phải xử lý đến Tài sản bảo đảm.
Quyền theo đuổi: là quyền của Bên nhận thế chấp trong việc duy trì, lặp lại quyền chiếm hữu, kiểm soát Tài sản bảo đảm cho việc hưởng quyền dân sự của mình. Nghĩa là, dù cho Tài sản bảo đảm có chuyển nhượng cho ai đi nữa thì vẫn trong tình trạng đã được thế chấp; quyền của Bên nhận thế chấp vẫn được duy trì. Pháp luật một số quốc gia cũng quy định cụ thể về nội dung này: Theo điều 2393 Bộ luật dân sự của nước Cộng hòa Pháp: “khi Bất động sản được chuyển dịch sang cho người thứ ba, biện pháp thế chấp đã xác lập trên Bất động sản đó vẫn tồn tại”; hay điều 2660 Bộ luật dân sự Quebec Canada: “biện pháp thế chấp trao cho người có quyền đòi nợ quyền được theo tài sản dù tài sản này có đến tay người nào”, hay quy định tại khoản 2 Điều 297 Bộ luật dân sự năm 2015 “Khi biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì bên nhận bảo đảm được quyền truy đòi Tài sản bảo đảm và được quyền thanh toán theo quy định tại Điều 308 của Bộ luật này và luật khác có liên quan”
Ví dụ: Bên nhận thế chấp có quyền yêu cầu người mua, người nhận tặng cho Tài sản thế chấp… phải giao tài sản cho mình để xử lý thu hồi nợ. Nguyên tắc này không chỉ bảo vệ người có quyền đối vật, mà còn khuyến khích Tài sản bảo đảm tham gia các giao dịch dân sự, thương mại, cũng như xác định cơ chế pháp lý ràng buộc trách nhiệm của người mua, người nhận tặng cho tài sản.
Quyền kiểm soát lưu thông tài sản: là quyền của Bên nhận thế chấp thực hiện các hành vi để ngăn chặn việc định đoạt trái phép Tài sản bảo đảm hoặc hành vi làm mất, làm giảm sút giá trị Tài sản bảo đảm.
Thứ ba: quan hệ của Bên thế chấp và bên có nghĩa vụ
Một trong chức năng chính của Giao dịch bảo đảm là để đảm bảo khả năng thu hồi vốn đã cấp trong trường hợp khách hàng không có khả năng hoàn trả nợ gốc, lãi, các loại phí cho Ngân hàng thương mại; nâng cao trách nhiệm của bên vay. Bởi lẽ nếu Tài sản thế chấp của chính khách hàng vay thì khi bên vay không hoàn trả đúng, đủ nghĩa vụ của mình thì sẽ đối mặt nguy cơ mất tài sản đó. Từ đó bên vay buộc phải cân nhắc kỹ lưỡng hơn về hiệu quả của phương án, dự án dự tính triển khai thực hiện. Hơn nữa, việc thế chấp tài sản của chính mình khiến bên vay nâng cao hơn trách nhiệm, thiện chí thực hiện nghĩa vụ với bên cho vay. Tuy nhiên đặc điểm này lại khá hạn chế tác dụng đối với biện pháp bảo đảm Thế chấp tài sản của bên thứ ba. Bởi nếu bên vay vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận thì bên vay không hề chịu thiệt hại nào về tài chính mà Bên thế chấp mới là người phải đối diện nguy cơ mất tài sản đã mang đi thế chấp cho Ngân hàng thương mại. Trong quan hệ này, Bên thế chấp là người không có quyền lợi nhưng lại có nghĩa vụ. Do đó, tính trách nhiệm và thiện chí của bên vay không bị ảnh hưởng bởi Giao dịch bảo đảm đã thiết lập. Chính vì vậy, để “khôi phục” tính năng đối với biện pháp bảo đảm này, các Ngân hàng thương mại thường yêu cầu: Bên thế chấp và bên vay phải có quan hệ huyết thống (cha mẹ ruột, cha mẹ vợ, con ruột…hoặc thành viên trong cùng gia đình), điều hành (tài sản của người điều hành bảo đảm nghĩa vụ của doanh nghiệp) hoặc quan hệ sở hữu (tài sản của người sở hữu, nắm giữ phần lớn cổ phần của doanh nghiệp để đảm bảo nghĩa vụ cho doanh nghiệp đó)…
Thứ tư: Nghĩa vụ của bên thế chấp
Đối với tình huống Thế chấp đảm bảo khoản vay của chính mình: Bên thế chấp cũng đồng thời là bên vay. Nghĩa vụ của bên thế chấp lúc này bao gồm cả nghĩa vụ của hai chủ thể là bên thế chấp và bên vay. Khi xử lý Tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nghĩa vụ nợ tại Ngân hàng thương mại thì bên thế chấp vẫn phải thực hiện tiếp nghĩa vụ với tư cách của bên vay. Tuy nhiên đối với tình huống Thế chấp đảm bảo nghĩa vụ người khác thì bên thế chấp chỉ phải chịu trách nhiệm trong phạm vi Tài sản thế chấp. Bên vay là người phải thanh toán tiếp phần nợ vay còn lại sau khi xử lý Tài sản bảo đảm.
1.1.3 Sự khác biệt giữa biện pháp thế chấp tài sản của bên thứ ba và bảo lãnh Luận văn: Quy định pháp luật về thế chấp tài sản bên thứ ba.
Cho đến thời điểm hiện tại vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm, tranh luận xoay quanh việc một bên dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để đảm bảo nghĩa vụ của bên khác là thế chấp tài sản bên thứ ba hay bảo lãnh.
Quan điểm thứ nhất: Bảo lãnh đối vật là biện pháp mà trong đó các bên có thể sử dụng biện pháp cầm cố hoặc thế chấp tài sản cụ thể để đảm bảo cho nghĩa vụ bảo lãnh. Trách nhiệm của bên bảo lãnh chỉ giới hạn trong phạm vi tài sản mang đi cầm cố, thế chấp. Bên bảo lãnh có thể giới hạn rủi ro về tài sản mà mình có thể phải chịu. Như vậy theo quan điểm này thì gần như không có sự khác biệt rõ ràng giữa thế chấp và bảo lãnh về trách nhiệm của bên bảo đảm.
Quan điểm thứ hai: việc một bên sử dụng Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của người khác (hay còn gọi là thế chấp Bất động sản của bên thứ ba) hoàn toàn phù hợp quy định về bảo lãnh. Theo quan điểm này tác giả loại trừ việc thế chấp trực tiếp của bên thứ ba mà thừa nhận bảo lãnh của bên thứ ba[16]. Việc thế chấp Bất động sản là để đảm bảo cho nghĩa vụ bảo lãnh, và quan hệ thế chấp này luôn phải gắn với quan hệ bảo lãnh.
Quan điểm thứ ba: bên bảo lãnh có thể sử dụng thêm biện pháp thế chấp để đảm bảo nghĩa vụ bảo lãnh của mình. Trong đó, biện pháp bảo đảm thế chấp là quan hệ phái sinh từ quan hệ bảo lãnh. Tuy nhiên, trong quan hệ thế chấp để đảm bảo nghĩa vụ người khác thì lại không nhất thiết phải tồn tại đồng thời hai quan hệ thế chấp và bảo lãnh. Bên thế chấp không đồng thời là bên bảo lãnh nên không phải thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ. Như vậy theo ý kiến này có hai trường hợp rõ ràng: Thế chấp tài sản bên thứ ba để đảm bảo cho nghĩa vụ cho bên khác và bên bảo lãnh dùng tài sản của mình để thế chấp cho nghĩa vụ bảo lãnh của chính mình.
Để phân biệt được hai biện pháp bảo đảm này, chúng ta sẽ cùng đi tìm hiểu, phân tích các đặc điểm sau:
Một là: Tính chất đối nhân và đối vật
Thế chấp là có sự chỉ định cụ thể về Tài sản bảo đảm mang tính đối vật. Theo khái niệm luật La tinh: Vật quyền được dùng để chỉ quyền có thể được thực hiện trực tiếp và ngay tức khắc trên một vật. Quan hệ này được xác định trên hai yếu tố: chủ thể của quyền (người có quyền) và đối tượng của quyền (vật). Trong đó, chủ thể có thể có thể thực thi quyền của mình lên đối tượng (vật) một cách độc lập, không cần đến sự hỗ trợ, hợp tác của người khác. Theo PGS.TS. Ngô Huy Cương (2013): quyền đối vật thi hành trực tiếp lên vật và luôn luôn là đối tượng làm tăng tài sản của chủ thể quyền. Về chủ thể: quyền đối vật bao giờ cũng xác định được chủ thể quyền, còn chủ thể của nghĩa vụ là tất cả những người còn lại […]. Về đối tượng: quyền đối vật có chủ thể là vật. Luận văn: Quy định pháp luật về thế chấp tài sản bên thứ ba.
Ngược lại, bảo lãnh là biện pháp bảo đảm mang tính đối nhân (trái quyền). Trái quyền được thiết lập giữa hai chủ thể và chỉ có thể được thực hiện suôn sẻ trên cơ sở hợp tác tích cực giữa hai chủ thể đó. Deluxe Black’s Law Dictionary (1990) giải nghĩa: Quyền đối nhân (right in personam) là một quyền áp đặt một nghĩa vụ đối với một người xác định. Theo PGS.TS. Ngô Huy Cương (2013) có thể phân biệt quyền đối nhân và quyền đối vật thông qua chủ thể của quyền và đối tượng của quyền. Theo đó:
- Về chủ thể: quyền đối nhân có hai loại chủ thể là trái chủ và người thụ trái […] trong đó trái chủ là loại chủ thể tích cực có quyền yêu cầu người thụ trái phải thi hành một nghĩa vụ nào đó; còn người thụ trái là loại chủ thể tiêu cực phải thi hành nghĩa vụ vì quyền lợi của trái chủ, hoặc của người khác mà đã được xác định cụ thể trong quan hệ chủ thể;
- Về đối tượng: quyền đối nhân có ba loại đối tượng là chuyển giao tài sản, làm hoặc không làm một việc nào đó.
BLDS Pháp có hiệu lực tại thời điểm năm 2018, khái niệm về biện pháp bảo lãnh được quy định tại Điều 2288 là một biện pháp đối nhân: “Người bảo lãnh một nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đó đối với người có quyền nếu người có nghĩa vụ không tự mình thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”.
Tương tự, Bộ luật dân sự năm 2015 Việt Nam cũng định nghĩa: Bảo lãnh là một lời cam kết từ bên bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh rằng sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ khi bên có nghĩa vụ vi phạm cam kết theo Hợp đồng cho vay. Bản chất của bảo lãnh chính là dùng uy tín (có thể dựa trên năng lực tài chính, bảng xếp hạng do các tổ chức uy tín quốc tế…) của bên bảo lãnh để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ. Vì tính chất đặc thù như vậy nên bảo lãnh mang tính đối nhân. Đứng ở góc độ Ngân hàng thương mại thì lúc này bên bảo lãnh đóng vai trò như một “con nợ dự phòng” hay “con nợ thứ hai” (“con nợ đầu tiên” là bên vay). Khi bên vay không thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn hoặc không thực hiện được nghĩa vụ trước hạn thì bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho bên vay. Ngân hàng thương mại chính là trái chủ, bên bảo lãnh là người thụ trái, đối tượng là thực hiện hành động trả nợ thay cho bên có nghĩa vụ khi họ vi phạm. Tính chất đối nhân này càng thể hiện rõ ràng hơn ở khoản 2 Điều 342 Bộ luật dân sự năm 2015: “Trường hợp bên bảo lãnh không thực hiện đúng nghĩa vụ bảo lãnh thì bên nhận bảo lãnh có quyền yêu cầu bên bảo lãnh thanh toán giá trị nghĩa vụ vi phạm và bồi thường thiệt hại”.
Tuy nhiên, để tăng thêm tính trách nhiệm, khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình với Ngân hàng thương mại, thì hai bên có thể thỏa thuận sử dụng thêm biện pháp bảo đảm khác để đảm bảo nghĩa vụ bảo lãnh của bên bảo lãnh. Trong tình huống này, các bên có thể sử dụng biện pháp bảo đảm là cầm cố, thế chấp tài sản của chính bên bảo lãnh hoặc tài sản của bên khác. Việc dùng tài sản của bên khác để đảm bảo nghĩa vụ bảo lãnh là trường hợp kết hợp giữa biện pháp bảo lãnh và cầm cố, thế chấp tài sản để đảm bảo nghĩa vụ của bên thứ ba.
Theo tìm hiểu của tác giả, quy định về biện pháp bảo lãnh theo pháp luật Việt Nam cũng khá tương đồng với pháp luật của Úc, Pháp, chỉ khác ở chỗ là theo pháp luật của Úc thì bảo lãnh không phải mang tính chất của một biện pháp bảo đảm (“securities”) mà mang tính chất của một nghĩa vụ theo hợp đồng, theo đó bên bảo lãnh cam kết với bên nhận bảo lãnh để thực hiện nghĩa vụ của bên thứ ba khi bên thứ ba đó không thực hiện nghĩa vụ của mình.
Hai là: Phạm vi bảo đảm cho nghĩa vụ Luận văn: Quy định pháp luật về thế chấp tài sản bên thứ ba.
Đối với biện pháp bảo đảm Thế chấp tài sản của bên thứ ba: xuất phát từ bản chất là tính đối vật nên Bên thế chấp chỉ phải chịu trách nhiệm trong phạm vi Tài sản thế chấp. Nếu bên vay vi phạm nghĩa vụ theo Hợp đồng cho vay đã giao kết, bên cho vay sau khi đã sử dụng các biện pháp nghiệp vụ cần thiết để thu hồi nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn, phí… nhưng thất bại, NHTM buộc phải sử dụng đến biện pháp bảo đảm để thu hồi nợ. Lúc này Bên thế chấp phải giao TSTC cho Ngân hàng thương mại xử lý để thu hồi khoản vay và phải đối mặt với tình huống xấu nhất là mất đi tài sản đã mang thế chấp cho ngân hàng. Trường hợp, khi xử lý Tài sản thế chấp của bên thứ ba nhưng vẫn chưa thu hồi đầy đủ khoản vay theo Hợp đồng cho vay thì phần nghĩa vụ còn lại sẽ được bảo đảm bằng biện pháp bảo đảm khác hoặc trở thành cho vay không có Tài sản bảo đảm ( nếu không còn biện pháp bảo đảm khác) và việc thực hiện hoàn trả giá trị khoản vay thuộc về bên vay, còn Bên thế chấp xem như đã hoàn thành nghĩa vụ với ngân hàng. Hay nói cách khác: thiệt hại lớn nhất của Bên thế chấp là toàn bộ giá trị tài sản đã thế chấp cho Ngân hàng thương mại.
Phạm vi bảo đảm của bên bảo lãnh giới hạn nội dung cam kết của mình, có thể là toàn bộ nghĩa vụ nợ gốc, lãi, phí theo Hợp đồng cho vay giao kết giữa bên vay và Ngân hàng thương mại; hoặc cũng có thể giới hạn ở một số tiền nhất định. Tình huống thứ hai xảy ra khi bên bảo lãnh muốn giới hạn trách nhiệm mình trong một số tiền tối đa theo cam kết, nếu Ngân hàng thương mại cho vay lớn hơn số tiền này thì phần vượt đó hoặc là cho vay không có bảo đảm hoặc là được đảm bảo bởi biện pháp bảo đảm khác. Khi bên bảo lãnh không có khả năng thực hiện đúng nghĩa vụ này thì bên cho vay khởi kiện, Tòa án yêu cầu bên bảo lãnh phải giao các tài sản thuộc sở hữu của mình cho đến khi thực hiện đủ nghĩa vụ đó. Tình huống xấu nhất bên bảo lãnh phải đối mặt là có thể phải giao toàn bộ tài sản để thực hiện đầy đủ nghĩa vụ bảo lãnh của mình (trong khi đó ở Biện pháp thế chấp tài sản của bên thứ ba thì Bên thế chấp chỉ phải giao tài sản đã thế chấp).
Trong quan hệ vay vốn với Ngân hàng thương mại, cam kết của bên bảo lãnh là thanh toán, trả nợ thay cho bên vay. Nếu bên vay không thực hiện đúng theo các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 44 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19 tháng 03 năm 2021 thì bên bảo lãnh phải thực hiện theo lời mình đã cam kết. Nếu bên bảo lãnh muốn tăng thêm sự tín nhiệm từ các Ngân hàng thương mại thì có thể kết hợp thêm biện pháp bảo đảm khác như cầm cố, thế chấp Tài sản bảo đảm để đảm bảo nghĩa vụ bảo lãnh của chính mình. Khi nghĩa vụ bảo lãnh xuất hiện, nếu giá trị tài sản dùng để đảm bảo nghĩa vụ bảo lãnh nhỏ hơn nghĩa vụ bảo lãnh thì phần nghĩa vụ vượt quá là phần nghĩa vụ không bảo đảm. Tuy nhiên, bên bảo lãnh vẫn còn nghĩa vụ phải thanh toán tiếp phần còn thiếu đó, trường hợp không thanh toán được Ngân hàng thương mại sẽ khởi kiện yêu cầu bên bảo lãnh giao tài sản để thực hiện nghĩa vụ.
Tóm lại: ở Giao dịch bảo đảm bảo lãnh thì bên vay và bên bảo lãnh đều phải chịu trách nhiệm về nghĩa vụ còn lại nếu xử lý Tài sản bảo đảm mà không đủ hoàn trả đầy đủ nghĩa vụ với Ngân hàng thương mại. Bên nhận thế chấp không có quyền yêu cầu thanh toán các khoản nợ từ bên thế chấp nhưng đối với quan hệ bảo lãnh thì các Ngân hàng thương mại hoàn toàn có quyền này.
Ba là: Tư cách của bên bảo đảm Luận văn: Quy định pháp luật về thế chấp tài sản bên thứ ba.
Yêu cầu đối với Bên thế chấp trong Giao dịch bảo đảm Thế chấp tài sản của bên thứ ba:
Bên thế chấp là cá nhân: có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự.
Bên thế chấp là pháp nhân: có năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân, giao dịch được thực hiện bởi người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo ủy quyền, tuy nhiên lưu ý là phải đảm bảo xác định đúng phạm vi quyền hạn của người được ủy quyền, tránh tình huống giao dịch bị vô hiệu do sai thẩm quyền, vượt phạm vi được ủy quyền. Tiêu chuẩn đối với bên bảo lãnh: ngoài các tiêu chuẩn cơ bản như Bên thế chấp trong Giao dịch bảo đảm thế chấp tài sản của bên thứ ba thì bên bảo lãnh còn phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự tương ứng với nghĩa vụ bảo lãnh. Đối với giao dịch bảo lãnh trong quan hệ cho vay tại Ngân hàng thương mại, bên bảo lãnh cam kết thực hiện nghĩa vụ thay cho bên cho vay, mà nghĩa vụ của bên cho vay là hoàn trả đầy đủ, đúng hạn, đầy đủ tiền gốc, lãi vay, các loại phí. Do đó, bên bảo lãnh đóng vai trò như một “con nợ thứ cấp”, cũng phải đáp ứng điều kiện như một khách hàng vay vốn thực sự. Nếu phân tích sâu hơn thì ngoài điều kiện theo luật định, bên bảo lãnh còn phải đáp ứng các điều kiện như một khách hàng vay vốn tại các Ngân hàng thương mại. Trên thực tế điều mà các Ngân hàng thương mại quan tâm nhất chính là năng lực tài chính của bên bảo lãnh, họ phải thẩm định và xác định được bên bảo lãnh có khả năng, năng lực thực hiện lời cam kết hay không. Điều đó thường thể hiện qua các chỉ số tài chính hay đôi khi qua giá trị các tài sản mà họ đang sở hữu.
Bốn là: Quan hệ hợp đồng chính – phụ
Cơ sở phát sinh Hợp đồng bảo đảm chính là Hợp đồng cho vay. Chính nghĩa vụ phát sinh của bên vay với bên cho vay theo Hợp đồng cho vay mới dẫn đến sự cần thiết của Hợp đồng bảo đảm. Hợp đồng bảo đảm như một biện pháp phòng ngừa trong trường hợp bên vay vi phạm nghĩa vụ của mình, cụ thể là không thể hoàn trả tiền vay đầy đủ đúng hạn, hoặc phải trả nợ trước hạn theo điều khoản đã giao kết trong Hợp đồng cho vay. Do đó, có thể nói mối quan hệ giữa Hợp đồng cho vay – Hợp đồng bảo đảm có phần giống quan hệ giữa hợp đồng chính – phụ trong giao dịch dân sự. Tuy nhiên, Hợp đồng cho vay vô hiệu thì không hẳn dẫn đến sự vô hiệu của Hợp đồng bảo đảm mà chia thành hai tình huống:
Nếu Hợp đồng cho vay vẫn chưa được thực hiện thì Hợp đồng bảo đảm cũng chấm dứt.
Nếu Hợp đồng cho vay đã được các bên thực hiện một phần hoặc toàn bộ thì Hợp đồng bảo đảm không chấm dứt.
Nếu tạm gọi mối quan hệ Hợp đồng cho vay và Hợp đồng bảo đảm là hợp đồng chính – phụ dựa trên cơ sở phát sinh thì ta có thể thấy:
Đối với biện pháp thế chấp tài sản bên thứ ba: Hợp đồng cho vay là hợp đồng chính, Hợp đồng thế chấp tài sản bên thứ ba là hợp đồng phụ.
Đối với biện pháp bảo lãnh: Hợp đồng cho vay là hợp đồng chính, hợp đồng bảo lãnh là hợp đồng phụ. Nếu bên bảo lãnh sử dụng kết hợp biện pháp bảo đảm khác như cầm cố, thế chấp thì: hợp đồng bảo lãnh là hợp đồng chính; hợp đồng cầm cố, thế chấp là hợp đồng phụ – dựa trên cơ sở nghĩa vụ bảo lãnh của hợp đồng chính.
Năm là: Xử lý Tài sản bảo đảm Luận văn: Quy định pháp luật về thế chấp tài sản bên thứ ba.
Xử lý Tài sản bảo đảm đối với biện pháp thế chấp tài sản bên thứ ba xảy ra khi bên có nghĩa vụ không thực hiện hay thực hiện không đúng thỏa thuận hoặc trong trường hợp bên có nghĩa vụ phải thực hiện trước hạn khi vi phạm điều khoản đã thỏa thuận hoặc tuân theo quy định của luật. Nói cách khác: ngay khi bên vay vi phạm nghĩa vụ theo thoả thuận tại Hợp đồng cho vay thì Ngân hàng thương mại có quyền xử lý Tài sản thế chấp.
Xử lý Tài sản bảo đảm đối với biện pháp bảo lãnh Ngân hàng thương mại sẽ phải tiến hành trình tự các bước sau để thu nợ:
Yêu cầu bên vay thực hiện nghĩa vụ của mình.
Nếu bên vay không thực hiện được thì Ngân hàng thương mại sẽ yêu cầu bên bảo lãnh trả nợ thay theo cam kết
Nếu bên bảo lãnh cũng không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình thì Ngân hàng thương mại mới yêu cầu bên bảo lãnh giao tài sản thuộc sở hữu của mình để xử lý (đối với trường hợp bảo lãnh không kèm biện pháp bảo đảm khác) hoặc xử lý tài sản mà bên bảo lãnh đã thế chấp, cầm cố (đối với trường hợp bảo lãnh kèm biện pháp bảo đảm là thế chấp, cầm cố)
Tóm lại, qua phân tích chúng ta nhận thấy mặc dù có những điểm tương đồng là đều đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của người khác, nhưng hai biện pháp bảo đảm này vẫn có những sự khác biệt cơ bản: nếu ở biện pháp thế chấp tài sản của bên thứ ba mang tính đối vật thì ở biện pháp bảo lãnh mang tính đối nhân. Khi một bên muốn đảm bảo nghĩa vụ của bên khác thì sẽ có hai tình huống xảy ra:
Nếu bên bảo đảm muốn giới hạn nghĩa vụ của mình trong phạm vi Tài sản bảo đảm thì sử dụng biện pháp thế chấp tài sản.
Nếu bên bảo đảm lựa chọn sử dụng biện pháp bảo lãnh thì phải chịu trách nhiệm trả thay cho bên có nghĩa vụ (có thể là một số tiền nhất định hoặc toàn bộ nghĩa vụ của bên vay tại Ngân hàng thương mại) trong phạm vi cam kết của mình. Trường hợp các bên sử dụng thêm biện pháp bảo đảm khác như cầm cố, thế chấp để đảm bảo cho nghĩa vụ bảo lãnh của bên bảo lãnh thì sẽ có hai tình huống:
- Tình huống 1: nếu tài sản thuộc sở hữu của bên bảo lãnh thì đây là cầm cố, thế chấp tài sản để đảm bảo nghĩa vụ của chính mình. Khi xử lý Tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nghĩa vụ bảo lãnh thì bên bảo lãnh vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình cho đến khi hoàn tất.
- Tình huống 2: nếu tài sản thuộc sở hữu của bên khác thì đây là cầm cố, thế chấp tài sản bên thứ ba (bên bảo lãnh). Khi xử lý Tài sản bảo đảm để thanh toán cho nghĩa vụ bảo lãnh, và nếu không đủ thì chủ sở hữu tài sản (bên cầm cố, thế chấp) không phải thanh toán thêm bất kỳ khoản nào nữa; nhưng bên bảo lãnh vẫn phải thanh toán tiếp phần nghĩa vụ theo phạm vi cam kết của mình.
Hơn nữa nếu ở tình huống (i) thì khi bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì Bên thế chấp phải giao tài sản thế chấp cho Ngân hàng thương mại xử lý, trong khi ở tình huống (ii) thì bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ theo cam kết là trả nợ thay cho bên có nghĩa vụ, nếu bên bảo lãnh không thực hiện đúng nghĩa vụ thì mới phải giao Tài sản bảo đảm cho Ngân hàng thương mại. Luận văn: Quy định pháp luật về thế chấp tài sản bên thứ ba.
Quay trở lại quan điểm của các nhà nghiên cứu về biện pháp bảo đảm thế chấp tài sản của bên thứ ba và bảo lãnh:
- Ở quan điểm một nêu trên hàm ý rằng trách nhiệm bên bảo lãnh chỉ giới hạn trong Tài sản bảo đảm mang đi cầm cố, thế chấp. Tuy nhiên nếu xét tính đối nhân của biện pháp bảo lãnh thì trách nhiệm của bên bảo lãnh không bị giới hạn ở Tài sản bảo đảm mang đi thế chấp cầm cố. Trong phạm vi cam kết bảo lãnh thì bên bảo lãnh phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình.
- Ở quan điểm hai lại cho rằng chỉ có một trường hợp xảy ra khi một bên dùng tài sản của mình để bảo đảm nghĩa vụ người khác là: thế chấp để đảm bảo nghĩa vụ bảo lãnh. Tuy nhiên với cách hiểu này đã hạn chế sự phong phú các biện pháp bảo đảm theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015. Hơn nữa, nếu theo quan điểm này thì trách nhiệm bên bảo đảm sẽ không chỉ ở tài sản thế chấp mà là toàn bộ nghĩa vụ trả thay cho bên có nghĩa vụ. Tuy nhiên bên bảo lãnh sẽ có quyền truy đòi bên có nghĩa vụ phải hoàn trả lại cho mình số tiền đã thanh toán thay, trong khi đó nếu xét trong quan hệ thế chấp tài sản của bên thứ ba thì Bên thế chấp không có quyền này.
- Ở quan điểm ba: tác giả đã nhận thấy sự khác biệt giữa thế chấp để đảm bảo nghĩa vụ người khác và thế chấp đảm bảo nghĩa vụ chính mình trong quan hệ bảo lãnh. Đây là quan điểm phù hợp nhất với các đặc điểm mà tác giả đã phân tích như trên.
Như vậy, nếu xét về chủ thể giao dịch “bên bảo đảm” trong Giao dịch bảo đảm cho nghĩa vụ của người khác thì có 2 tình huống chính là: Thế chấp tài sản của bên thứ ba và bảo lãnh. Nếu xét về đối tượng giao dịch là Tài sản bảo đảm thì sẽ có hai tình huống là bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ của người khác (thế chấp tài sản của bên thứ ba) và Tài sản bảo đảm để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ của chính mình (quan hệ bảo lãnh có kết hợp biện pháp bảo đảm khác và bên bảo lãnh cũng chính là chủ sở hữu Tài sản bảo đảm).
1.1.4 Sự cần thiết điều chỉnh pháp luật về thế chấp tài sản bên thứ ba đảm bảo khoản vay trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
Thứ nhất, đảm bảo quyền và lợi ích các chủ thể Luận văn: Quy định pháp luật về thế chấp tài sản bên thứ ba.
Trong điều kiện kinh tế ngày càng phát triển, giao dịch dân sự diễn ra ngày càng nhiều, nhu cầu giao dịch giữa các bên, các thành phần kinh tế ngày càng đa dạng, tính phức tạp cũng tăng dần. Đặc biệt là giao dịch thế chấp tài sản trong giao dịch vay vốn giữa Bên thế chấp, bên vay và Ngân hàng thương mại cũng ngày càng phổ biến hơn. Việc cần thiết phải có quy định pháp luật để chi phối quyền lợi, nghĩa vụ của các bên; đảm bảo tính tuân thủ của các đối tượng tham gia giao dịch là một nhu cầu tất yếu. Điều này cũng góp phần làm cho bản chất của Giao dịch bảo đảm rõ nét hơn: đảm bảo khả năng thực hiện nghĩa vụ của bên vay hay cũng chính là khả năng thu hồi đầy đủ, đúng hạn của Ngân hàng thương mại. Việc hoàn thiện quy định về thế chấp tài sản của bên thứ ba tạo ra hành lang pháp lý, cơ sở pháp lý để các bên bảo vệ bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, nhất là Bên thế chấp. Bởi Bên thế chấp là bên sử dụng tài sản của mình để đảm bảo khoản vay cho bên vay. Giao dịch thế chấp này đã làm phát sinh nghĩa vụ của Bên thế chấp với Ngân hàng thương mại nhưng lại chưa thể hiện được quyền lợi của Bên thế chấp trong khi bên vay mới là người hưởng lợi trực tiếp từ giao dịch này. Từ đó, cũng đặt ra một vấn đề là phải bảo vệ lợi ích của Bên thế chấp. Thông thường trong giao dịch dân sự bất kỳ thì các chủ thể tham gia luôn tồn tại song song quyền lợi và nghĩa vụ: quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại. Việc Bên thế chấp đồng ý mang tài sản thuộc sở hữu của mình để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của bên vay tại Ngân hàng thương mại thể hiện giữa 2 bên đã tồn tại một giao dịch dân sự. Nguyên tắc chung của Bộ luật dân sự là vẫn tôn trọng sự thỏa thuận, ý chí tự nguyện của các bên tuy nhiên nếu trường hợp Bên thế chấp và bên vay không tồn tại một thỏa thuận nào thì nên bổ sung quy định pháp luật để bảo vệ quyền lợi của Bên thế chấp, chẳng hạn quyền được yêu cầu bên vay thực hiện nghĩa vụ với mình trong phạm vi tài sản đã thế chấp (tương tự như quyền của bên bảo lãnh quy định tại Điều 340 Bộ luật dân sự năm 2015).
Thứ hai, tạo hành lang pháp lý cho quan hệ thế chấp tài sản của bên thứ ba
GDBĐ thế chấp tài sản của bên thứ ba là phù hợp với xu hướng phát triển chung của pháp luật dân sự và nhu cầu thực tế. Tuy nhiên, trên thực tế đang tồn tại nhiều quan điểm, cách hiểu khác nhau và đôi khi dẫn đến Hợp đồng bảo đảm bị tuyên vô hiệu. Điều này gây ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động cho vay của các Ngân hàng thương mại, và nếu như không được hướng dẫn cụ thể thực hiện các Giao dịch bảo đảm hợp pháp, hợp lệ sẽ dẫn đến tình trạng các Ngân hàng thương mại e ngại việc cho vay. Hệ quả tiếp theo là sẽ làm giảm chức năng trung gian tài chính của Ngân hàng thương mại. Việc cấp vốn cho nền kinh tế cũng tắc nghẽn, các thành phần kinh tế sẽ khó tiếp cận nguồn vốn vay, việc mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh cũng gián đoạn; sự phát triển kinh tế cũng ngày càng khó khăn hơn. Do đó giao dịch này cần được pháp luật ghi nhận và điều chỉnh. Trên thực tế các quan hệ xã hội khá đa dạng nên cần có hành lang pháp lý riêng. Chính nhờ hành lang pháp lý này góp phần:
- Thiết lập, đảm bảo công bằng, giải quyết những tranh chấp, mâu thuẫn xảy ra giữa các thành phần khác nhau trong xã hội.
- Định hướng quan hệ xã hội đi theo trật tự chung, phù hợp lợi ích các bên và lợi ích chung của toàn xã hội.
1.2 Nội dung cơ bản của quy định pháp luật về thế chấp tài sản bên thứ ba để đảm bảo khoản vay tại ngân hàng thương mại Luận văn: Quy định pháp luật về thế chấp tài sản bên thứ ba.
1.2.1 Chủ thể tham gia giao dịch thế chấp tài sản của bên thứ ba
Chủ thể tham gia giao dịch trong quan hệ thế chấp tài sản của bên thứ ba để đảm bảo khoản vay tại Ngân hàng thương mại bao gồm: Bên nhận thế chấp, Bên thế chấp và bên vay.
BNTC: trong phạm vi luận văn này tác giả chỉ tập trung nghiên cứu Bên nhận thế chấp là các Ngân hàng thương mại
- Tư cách Bên nhận thế chấp:
NHTM hoạt động với hình thức công ty cổ phần và/hoặc hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ và được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định nhằm mục tiêu lợi nhuận. Hoạt động cho vay là một trong những hoạt động chính và mang lại phần lớn lợi nhuận cho các Ngân hàng thương mại.
- Mục đích tham gia:
Để đảm bảo an toàn cho hoạt động cho vay của mình thì nhận thế chấp Tài sản bảo đảm là một trong những lựa chọn của các Ngân hàng thương mại. Việc đảm bảo thu hồi đầy đủ, đúng hạn tiền vay, tiền lãi, các loại phí khác luôn là vấn đề sống còn của Ngân hàng thương mại. Xét về bản chất, Giao dịch bảo đảm mang tính chất dự phòng, nó sẽ phát huy tác dụng nếu một trong các bên vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng đã giao kết. Trong hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại, Giao dịch bảo đảm đóng vai trò quan trọng, như một sự bảo đảm khi bên vay không thực hiện đúng, đủ nghĩa vụ theo hợp đồng vay vốn đã giao kết. Lúc này, nguồn thu ban đầu đã được thẩm định có thể đã không đến đúng như kế hoạch đã hoạch định dẫn tới bên vay không có khả năng thanh toán theo lịch trả nợ đã cam kết hoặc do thiện chí trả nợ của bên vay dẫn đến Ngân hàng thương mại không thể thu hồi đầy đủ, đúng hạn khoản vay. Tài sản bảo đảm được dùng như một nguồn thu hồi nợ bổ sung, giúp Ngân hàng thương mại thu hồi một phần hoặc toàn bộ vốn vay (có thể bao gồm cả tiền lãi vay trong hạn, quá hạn, các loại phí…). Để đáp ứng điều kiện vay vốn có đảm bảo tại các Ngân hàng thương mại, bên vay phải có tài sản theo quy định của bên cho vay. Tuy nhiên không phải lúc nào bên vay cũng đáp ứng được điều này nên biện pháp thế chấp bằng tài sản của bên thứ ba được lựa chọn. Mặc dù vậy, các Ngân hàng thương mại vẫn ưu tiên nhận bảo đảm những tài sản thuộc sở hữu của bên vay. Sau khi đã nhận hết tài sản thuộc sở hữu của bên vay, nếu vẫn không đủ bảo đảm khoản vay hoặc những tài sản thuộc sở hữu bên vay không đáp ứng điều kiện trở thành Tài sản bảo đảm theo quy định của Ngân hàng thương mại thì mới xét đến việc nhận thế chấp tài sản của bên thứ ba. Điều này đảm bảo cho việc phát huy thiện chí, tăng tính trách nhiệm của bên vay.
- Cơ sở xác lập:
Chính nghĩa vụ phát sinh của bên vay với bên cho vay theo Hợp đồng cho vay mới dẫn đến sự cần thiết của Hợp đồng bảo đảm. Hợp đồng bảo đảm như một biện pháp phòng ngừa trong trường hợp bên vay vi phạm nghĩa vụ của mình, cụ thể là không thể hoàn trả tiền vay đầy đủ đúng hạn, hoặc phải trả nợ trước hạn theo điều khoản đã giao kết trong Hợp đồng cho vay. Do đó, có thể nói mối quan hệ giữa Hợp đồng cho vay – Hợp đồng bảo đảm có phần giống quan hệ giữa hợp đồng chính – phụ trong giao dịch dân sự. Tuy nhiên, nếu hợp đồng chính là Hợp đồng cho vay vô hiệu không dẫn đến vô hiệu đương nhiên của hợp đồng phụ – Hợp đồng bảo đảm mà còn tùy thuộc vào việc Hợp đồng cho vay đã được thực hiện hay chưa.
- Bên được bảo đảm: Luận văn: Quy định pháp luật về thế chấp tài sản bên thứ ba.
Tư cách bên được bảo đảm (bên vay):
Bên được bảo đảm là cá nhân: Khách hàng là cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật hoặc từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật, có quốc tịch Việt Nam, nước ngoài.
Bên được bảo đảm là pháp nhân: có năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân; được thành lập và hoạt động tại Việt Nam, thành lập ở nước ngoài và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam. Ngoài ra, giao dịch được thực hiện bởi người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo ủy quyền, tuy nhiên lưu ý là phải đảm bảo xác định đúng phạm vi quyền hạn của người được ủy quyền, tránh tình huống giao dịch bị vô hiệu do sai thẩm quyền, vượt phạm vi được ủy quyền.
- Mục đích tham gia giao dịch:
Bên được bảo đảm có nhu cầu vay vốn từ các Ngân hàng thương mại. Bên được bảo đảm là bên có quyền lợi nhất trong giao dịch này: được sử dụng khoản tiền vay vào mục đích hợp pháp (đối với khoản vay phục vụ như cầu đời sống), phù hợp với ngành nghề kinh doanh (đối với khoản vay phục vụ hoạt động kinh doanh, hoạt động khác). Ngoài ra, bên vay còn phải thoả mãn các điều kiện như: nhu cầu vay vốn hợp pháp, không thuộc các nhu cầu không được cho vay như: mua vàng miếng, trả nợ khoản vay cũ, thực hiện hoạt động kinh doanh những ngành nghề cấm… có phương án sử dụng vốn khả thi và có khả năng tài chính trả nợ.
- Cơ sở xác lập: Luận văn: Quy định pháp luật về thế chấp tài sản bên thứ ba.
Mỗi ngân hàng đều có quy định riêng về cấp tín dụng cho khách hàng có bảo đảm, có bảo đảm một phần hay không có bảo đảm. Đó là quyền tự chủ trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng. Tuy nhiên để được vay không có Tài sản bảo đảm thì thường bộ điều kiện đặt ra cũng khá nghiêm khắc, khó khăn. Nếu bên vay không đáp ứng được các điều kiện này thì bắt buộc phải có Tài sản bảo đảm. Trường hợp bên vay không có Tài sản bảo đảm hoặc tài sản không đáp ứng điều kiện của Ngân hàng thương mại hoặc tài sản không đủ đảm bảo cho khoản vay thì việc thế chấp tài sản của bên thứ ba là một giải pháp hiệu quả giúp bên vay tiếp cận được nguồn vốn vay để duy trì, mở rộng, phát triển hoạt động kinh doanh; đáp ứng nhu cầu phục vụ đời sống. Với ý nghĩa rộng hơn, khi các cá nhân, doanh nghiệp phát triển thì cũng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế, gia tăng thu nhập trên mỗi cá nhân, doanh nghiệp, kéo theo đó là tăng thu nhập của quốc gia. Tín dụng phát triển là cơ sở phát triển thị trường vốn, thị trường hàng hóa trong nước và gia tăng xuất khẩu, thị trường lao động….
- Bên thế chấp:
Tư cách Bên thế chấp:
BTC là chủ sở hữu hợp pháp của Tài sản bảo đảm và họ đồng ý mang tài sản thế chấp cho Ngân hàng thương mại để đảm bảo nghĩa vụ của bên vay. Đầu tiên, Bên thế chấp chấp phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Theo quy định tại Bộ luật dân sự năm 2015 thì quyền sở hữu bao gồm: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt. Việc chủ sở hữu tài sản mang tài sản thế chấp là một hình thức thể hiện quyền định đoạt của chủ sở hữu.
- Mục đích tham gia:
BTC là bên có nghĩa vụ trong giao dịch thế chấp tài sản của bên thứ ba đảm bảo khoản vay tại các Ngân hàng thương mại nhưng lại không nhận được lợi ích trực tiếp từ quan hệ vay vốn. Việc thế chấp tài sản của mình để đảm bảo cho nghĩa vụ của bên vay để hỗ trợ, tạo tiền đề cho bên vay được tiếp cận vốn vay. Thông thường thì quan hệ giữa bên vay và Bên thế chấp là:
- Quan hệ gia đình ruột thịt trong trường hợp bên vay và Bên thế chấp đều cùng là cá nhân – Quan hệ điều hành – quan hệ sở hữu trong trường hợp:
Bên vay là pháp nhân – Bên thế chấp là cá nhân. Lúc này Bên thế chấp thường là người trong ban điều hành (chủ tịch hội đồng quản trị/hội đồng thành viên, giám đốc/phó giám đốc), hoặc người sở hữu công ty/ sở hữu phần lớn cổ phần/vốn góp công ty, hoặc là người có quan hệ ruột thịt với những người trên. Quan hệ lợi ích giữa Bên thế chấp và bên vay là cùng chiều. Việc thế chấp tài sản của các đối tượng này để pháp nhân vay vốn cũng làm cho Bên thế chấp hưởng lợi ích gián tiếp như thông qua việc tăng thu nhập từ lương thưởng (quan hệ điều hành), tăng lợi tức, lợi nhuận từ hoạt động đầu tư vào bên vay (quan hệ sở hữu).
Bên vay là pháp nhân – Bên thế chấp là pháp nhân. Thông thường mối quan hệ giữa hai pháp nhân này sẽ là quan hệ sở hữu, điều hành như công ty mẹ – con, các công ty con trong cùng tập đoàn. Việc công ty mẹ, công ty con khác dùng tài sản để đảm bảo cho công ty con vay vốn giúp đơn vị này thực hiện tốt phương án kinh doanh, gia tăng lợi nhuận, mở rộng thị trường kinh doanh thì Bên thế chấp cũng được gia tăng lợi ích tương ứng (lợi nhuận công ty mẹ cũng được gia tăng do việc sở hữu vốn góp vào các công ty con).
Bên vay là cá nhân – Bên thế chấp là pháp nhân. Theo tác giả Bùi Đức Giang (2020): nếu người đại diện theo pháp luật của công ty xác lập Hợp đồng bảo đảm bằng tài sản của công ty để bảo đảm cho nghĩa vụ của một bên khác (dù là cá nhân hay tổ chức) mà không chứng minh được lợi ích của giao dịch này đối với công ty thì Giao dịch bảo đảm này có nguy cơ vô hiệu do vi phạm quy định này được hiểu là điều cấm của luật (Điều 123 của Bộ luật dân sự năm 2015). Tuy nhiên trên thực tế vẫn có trường hợp này xảy ra khi các bên có quan hệ lợi ích qua lại với nhau. Xét về quy định, nếu việc “sử dụng Tài sản bảo đảm để đảm bảo khoản vay cho người khác” đã được chấp thuận bởi cấp có thẩm quyền (hội đồng thành viên, hội đồng cổ đông,…) thì vẫn phù hợp. Luận văn: Quy định pháp luật về thế chấp tài sản bên thứ ba.
1.2.2 Tài sản thế chấp của bên thứ ba
TSBĐ là đối tượng của quyền đối vật trong quan hệ bảo đảm. Việc xác định loại tài sản và chủ sở hữu tài sản đóng vai trò quan trọng khi quy định đối tượng của vật quyền bảo đảm
Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015, tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá, và quyền tài sản. Tài sản bao gồm Bất động sản và động sản; có thể là tài sản hiện có và tài sản Hình thành trong tương lai. Tài sản được sử dụng để đảm bảo cho nghĩa vụ được gọi là Tài sản bảo đảm. Bốn loại tài sản đều có thể được sử dụng trong biện pháp thế chấp.
Đối với tiền và giấy tờ có giá trên thực tế chủ yếu là cầm cố (có sự chuyển giao tài sản sang cho bên nhận bảo đảm) mà ít khi sử dụng biện pháp thế chấp vì đặc tính dễ chuyển đổi, giá trị cao nên nếu chỉ giao giấy tờ về quyền sở hữu thì bên nhận bảo đảm khó quản lý được Tài sản bảo đảm.
- Xét về quyền tài sản, do các bên không thực hiện chuyển giao tài sản cho nhau được nên biện pháp áp dụng là Thế chấp.
- Đối với Bất động sản: nếu Bất động sản là Quyền sử dụng đất thì chỉ có thể áp dụng biện pháp thế chấp, còn nếu là Bất động sản nói chung thì ngoài áp dụng biện pháp thế chấp còn có thể áp dụng biện pháp cầm cố.
Sự khác biệt cơ bản giữa các Bộ luật dân sự: thế chấp theo Bộ luật dân sự năm 2005 và Bộ luật dân sự năm 2015 là bao gồm cả Bất động sản và động sản, trong khi theo Bộ luật dân sự năm 1995 thì chỉ được thế chấp Bất động sản. Hơn nữa, một đặc điểm của thế chấp là bên thế chấp phải giao giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp. Từ đó có thể suy luận ra chỉ những tài sản có đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng mới có thể sử dụng làm tài sản thế chấp. Tài sản thế chấp của bên thứ ba về cơ bản cũng giống tài sản thế chấp của chính bên vay và cũng phải đáp ứng điều kiện theo Điều 295 Bộ luật dân sự năm 2015.
1.2.3 Nội dung của Hợp đồng thế chấp tài sản của bên thứ ba
HĐTC cũng là một hợp đồng dân sự, là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Thông thường mỗi Ngân hàng thương mại ban hành bộ mẫu biểu Hợp đồng thế chấp để sử dụng nội bộ và cho khách hàng quan hệ tín dụng. Tuy vậy, nhìn chung Hợp đồng thế chấp sẽ có những nội dung sau:
- Mô tả các bên tham gia: Bên thế chấp, bên nhận thế chấp
Xác định Tài sản thế chấp: nội dung mô tả càng chính xác, cụ thể thì Tài sản thế chấp càng có thể xác định dễ dàng, tránh tình trạng tranh chấp khi xử lý tài sản. Việc này cũng là cơ sở xác định trách nhiệm các bên. Lưu ý những trường hợp đặc biệt như: thế chấp Quyền sử dụng đất nhưng không thế chấp tài sản trên đất hoặc tài sản trên đất trên thực tế khác với Giấy chứng nhận.
Phạm vi nghĩa vụ bảo đảm: là điều khoản mô tả cụ thể về nghĩa vụ tài chính của Bên thế chấp. Tùy thuộc thoả thuận các bên thì điều khoản này có thể là một giá trị cụ thể hoặc toàn bộ nghĩa vụ của bên vay với bên cho vay bao gồm cả Hợp đồng cho vay phát sinh trước, trong, sau khi ký Hợp đồng thế chấp này (và đây là trường hợp phổ biến trong các Hợp đồng cho vay tại các Ngân hàng thương mại hiện nay). Luận văn: Quy định pháp luật về thế chấp tài sản bên thứ ba.
Giá trị định giá Tài sản thế chấp: Luật không quy định cụ thể về cách định giá tài sản mà tôn trọng sự thoả thuận các bên. Các Ngân hàng thương mại có thể tự định giá tài sản hoặc sử dụng dịch vụ định giá từ các công ty định giá độc lập và các đơn vị này phải bồi thường thiệt hại nếu có hành vi trái pháp luật mà gây thiệt hại cho bên bảo đảm, bên nhận bảo đảm trong quá trình định giá Tài sản bảo đảm. Giá trị Tài sản thế chấp có thể xem là căn cứ xác định số tiền cho vay. Các Ngân hàng thương mại nên quán triệt nguyên tắc thận trọng khi định giá tài sản, tránh tình trạng định giá tài sản quá giá trị thực tế, dẫn đến khi xử lý tài sản cũng không đủ thu hồi khoản vay đã cấp.
Quyền và nghĩa vụ các bên: Hợp đồng thế chấp cũng là một dạng hợp đồng song vụ: quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại. Quyền và nghĩa vụ của Bên thế chấp được quy định cụ thể tại Điều 320, 321 Bộ luật dân sự năm 2015. Quyền và nghĩa vụ của Bên nhận thế chấp quy định tại Điều 322, 323 Bộ luật dân sự năm 2015.
Thoả thuận xử lý Tài sản bảo đảm: đây là một trong những điều khoản quan trọng trong Hợp đồng thế chấp, là nội dung ảnh hưởng đến sự thuận tiện, nhanh chóng khi xảy ra tình huống phải xử lý Tài sản bảo đảm– là giải pháp cuối cùng để thu hồi vốn vay, lãi trong hạn, quá hạn, các loại phí phát sinh khi xử lý tài sản…Thông thường điều khoản này sẽ bao gồm các nội dung: Nguyên tắc xử lý Tài sản thế chấp, Phương thức xử lý Tài sản thế chấp, thủ tục xử lý Tài sản thế chấp, chỉ định đại diện theo ủy quyền, sử dụng tiền thu được từ việc xử lý Tài sản thế chấp.
Các điều khoản khác: hiệu lực hợp đồng, giải chấp tài sản; chuyển giao, chuyển nhượng hợp đồng; luật điều chỉnh, giải quyết tranh chấp, thông báo…và nội dung các thoả thuận khác.
1.2.4 Hình thức, hiệu lực của giao dịch bảo đảm thế chấp tài sản của bên thứ ba Luận văn: Quy định pháp luật về thế chấp tài sản bên thứ ba.
1.2.4.1 Hình thức của giao dịch bảo đảm thế chấp tài sản của bên thứ ba
Khoản 1 Điều 119 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản, hoặc bằng hành vi cụ thể ”. Đối với biện pháp bảo đảm thế chấp tài sản: hợp đồng thế chấp tài sản phải được lập thành văn bản, có thể là văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính (hợp đồng tín dụng). Ngoài ra, nếu quy định Hợp đồng thế chấp phải công chứng, chứng thực, đăng ký (Điều 167 Luật Đất đai năm 2013 và Điều 122 Luật Nhà ở năm 2014) thì các bên phải tuân thủ theo quy định đó.
Theo khảo sát tại các Ngân hàng thương mại thì Giao dịch bảo đảm thế chấp tài sản đều được lập thành văn bản riêng là Hợp đồng thế chấp mà không lồng ghép với Hợp đồng cho vay do những nguyên nhân sau:
Hợp đồng cho vay và Hợp đồng thế chấp là được xếp vào loại những hợp đồng khá phức tạp, nhiều điều khoản, quy định chặt chẽ quyền lợi và nghĩa vụ của các bên. Mỗi hợp đồng có những thỏa thuận đặc thù, nếu là Hợp đồng cho vay là thỏa thuận về số tiền vay, thời hạn vay, mục đích vay, lãi suất vay,…, quyền và nghĩa vụ của bên vay và bên cho vay. Còn ở Hợp đồng thế chấp: thông tin về tài sản thế chấp, giá trị Tài sản bảo đảm, nghĩa vụ bảo đảm…, quyền và nghĩa vụ của Bên thế chấp và Bên nhận thế chấp. Do đó nên tách bạch Hợp đồng cho vay và Hợp đồng thế chấp để đảm bảo tính “trọn vẹn” của từng hợp đồng.
Hợp đồng cho vay và Hợp đồng thế chấp của bên thứ ba có sự khác biệt về chủ thể: Hợp đồng cho vay giao kết giữa bên vay và bên cho vay; Hợp đồng thế chấp giao kết giữa Bên thế chấp và Bên nhận thế chấp hoặc giữa Bên thế chấp, Bên nhận thế chấp và bên có nghĩa vụ.
Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất, hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất và Tài sản gắn liền với đất, hợp đồng thế chấp nhà ở là các trường hợp quy định phải công chứng, chứng thực. Do đó nếu lồng ghép Hợp đồng cho vay và Hợp đồng thế chấp thì khi sửa đổi điều khoản về Hợp đồng cho vay cũng phải thực hiện công chứng, chứng thực gây mất thời gian, công sức, chi phí của các bên. Trên thực tế, các khoản vay theo phương thức hạn mức thường có thời gian duy trì 12 tháng, khi hết hạn hợp đồng tín dụng thì Hợp đồng thế chấp cũng hết hiệu lực. Như vậy mỗi năm khi các Ngân hàng thương mại tái cấp tín dụng cho khách hàng, ký kết hợp đồng tín dụng mới thì các bên phải ký kết lại Hợp đồng thế chấp và thực hiện công chứng, chứng thực Hợp đồng thế chấp.
Xét về mặt nguyên tắc, hình thức giao kết Hợp đồng thế chấp khá đa dạng nhưng quan trọng là các bên phải chứng minh được quan hệ hợp đồng. Về mặt hình thức, Hợp đồng thế chấp có thể theo những dạng hình thức sau:
- HĐTC không cần công chứng, chứng thực Luận văn: Quy định pháp luật về thế chấp tài sản bên thứ ba.
- HĐTC phải công chứng, chứng thực gồm: Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất, Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất và Tài sản gắn liền với đất; Hợp đồng thế chấp nhà ở (bao gồm cả nhà ở Hình thành trong tương lai)
- HĐTC phải đăng ký gồm: a) thế chấp Quyền sử dụng đất, b) thế chấp nhà ở, TS khác gắn liền với đất đã được chứng nhận quyền sở hữu, c) thế chấp dự án đầu tư xây dựng nhà ở, dự án đầu tư không phải nhà ở, dự án đầu tư nông nghiệp, dự án phát triển rừng, dự án đầu tư khác có sử dụng đất đồng thời Quyền sử dụng đất được giao có thu tiền sử dụng đất, hoặc đất thuê trả tiền một lần cho cả thời gian thuê; d) thế chấp tàu bay; đ) thế chấp tàu biển.
1.2.4.2 Hiệu lực của giao dịch bảo đảm thế chấp tài sản bên thứ ba
Hiệu lực của giao dịch thế chấp
Hợp đồng là căn cứ xác lập hiệu lực của biện pháp thế chấp giữa các bên trong biện pháp thế chấp. Do đó hiệu lực của Giao dịch bảo đảm chính là thời điểm có hiệu lực của Hợp đồng thế chấp. Về điểm này hiện không có sự khác biệt giữa Hợp đồng thế chấp bên thứ ba và các hợp đồng khác. Hợp đồng thế chấp tài sản bên thứ ba có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết ngoại trừ các bên có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác. Như vậy ta có thể thấy việc xác định hiệu lực hợp đồng căn cứ theo thứ tự như sau:
Thứ nhất là do luật quy định. Nếu quy định pháp luật có quy định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng thì bắt buộc các bên phải tuân thủ theo luật định (Ví dụ Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất có hiệu lực từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính, Hợp đồng thế chấp nhà ở có hiệu lực từ thời điểm công chứng, chứng thực hợp đồng)
Thứ hai là do các bên thoả thuận. Nguyên tắc này xây dựng dựa trên sự tự do, tự nguyện của các bên miễn là không vi phạm quy định pháp luật, điều cấm xã hội.
Thứ ba là tại thời điểm giao kết. Nếu hai nguyên tắc trên không đề cập đến hiệu lực của Hợp đồng thế chấp thì thời điểm có hiệu lực hợp đồng được xác định kể từ thời điểm giao kết.
Các Hợp đồng thế chấp bắt buộc phải công chứng, chứng thực gồm: Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất (tiết a Khoản 3 Điều 167 Luật đất đai năm 2013), Quyền sử dụng đất và Tài sản gắn liền với đất (theo khoản 1 Điều 122 Luật nhà ở năm 2014). Nếu các bên đã giao kết hợp đồng nhưng không thực hiện thủ tục công chứng thì hợp đồng có thể vô hiệu do vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức. Tuy nhiên quy định tại Bộ luật dân sự năm 2015 còn đề cập đến tình huống thực tế: khi một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong hợp đồng thì Toà án ra quyết định công nhận hiệu lực hợp đồng. Luận văn: Quy định pháp luật về thế chấp tài sản bên thứ ba.
Hiệu lực đối kháng với bên thứ ba
Ở những văn bản luật trước đây chưa có sự phân biệt, tách bạch giữa hiệu lực của Hợp đồng thế chấp tài sản của bên thứ ba và hiệu lực đối kháng với bên thứ ba. Tuy nhiên, Bộ luật dân sự năm 2015 đã khắc phục được điểm này khi quy định giao dịch thế chấp tài sản phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký. Trong trường hợp việc thế chấp tài sản chưa được đăng ký theo quy định thì Hợp đồng thế chấp chỉ chưa có hiệu lực đối kháng với người thứ ba chứ không mất đi hiệu lực và Bên thế chấp và Bên nhận thế chấp có trách nhiệm phải thực thi hợp đồng.
Nguyên nhân đăng ký là điều kiện để phát sinh hiệu lực đối kháng với bên thứ ba xuất phát từ đặc điểm của giao dịch thế chấp là không có sự chuyển giao tài sản giữa Bên thế chấp và Bên nhận thế chấp. Ngoại trừ các bên tham gia giao dịch thì những chủ thể khác có thể không biết hoặc không có thông tin về tài sản khi quyết định giao dịch tài sản đó. Do đó cần thiết có một sự công khai thông tin về tài sản thế chấp để bảo vệ quyền lợi Bên nhận thế chấp và bên khác biết về Giao dịch bảo đảm này, và đăng ký Giao dịch bảo đảm là một cách công bố hiệu quả những thông tin về tài sản bảo đảm. Từ kênh này, các bên có thể tra cứu tình trạng pháp lý của tài sản và đưa ra quyết định. Việc đăng ký Giao dịch bảo đảm có ý nghĩa như sự “tuyên bố quyền” của Bên nhận thế chấp cho các bên khác biết và cũng gián tiếp “hạn chế quyền” chủ sở hữu đối với tài sản bảo đảm cũng như của các chủ thể khác chưa xác lập hiệu lực đối kháng với người thứ ba đối với biện pháp bảo đảm. Bên cạnh đó, nếu xét lý thuyết vật quyền: vật quyền phải được công khai. Do đó thông qua thủ tục đăng ký Giao dịch bảo đảm công khai hóa quyền, Bên nhận thế chấp mới có thể xác lập quyền đối vật trên tài sản thế chấp. Luận văn: Quy định pháp luật về thế chấp tài sản bên thứ ba.
Theo Luật mẫu về Giao dịch bảo đảm của Ngân hàng Tái thiết và phát triển Châu Âu (Luật mẫu EBRD) đưa ra ba phương thức xác lập hiệu lực của một Giao dịch bảo đảm: (1) Đăng ký: Các bên giao kết Hợp đồng bảo đảm (charging instrument); (2) Chiếm hữu: Các bên giao kết Hợp đồng bảo đảm (charging instrument) và bên nhận bảo đảm cầm giữ Tài sản bảo đảm; (3) Bảo lưu quyền sở hữu tài sản: Bên bán nắm giữ quyền sở hữu tài sản cho đến khi bên mua thanh toán đủ tiền. Pháp luật Mỹ đưa ra các phương thức “perfection” (hoàn thiện Giao dịch bảo đảm) là: Đăng ký Giao dịch bảo đảm, chiếm hữu/kiểm soát Tài sản bảo đảm, và Giao dịch bảo đảm tự động hoàn thiện áp dụng cho một số Tài sản bảo đảm nhất định. Như vậy có thể thấy đăng ký là phương thức hoàn thiện được sử dụng ở cả luật mẫu EBRD và pháp luật Mỹ. Mặc dù không trực tiếp sử dụng thuật ngữ “hoàn thiện Giao dịch bảo đảm” nhưng bằng việc quy định những thủ tục pháp lý nhất định áp dụng cho từng biện pháp bảo đảm, pháp luật Việt Nam cũng có sự tương đồng với thông lệ quốc tế và pháp luật các nước về vấn đề làm thế nào để Giao dịch bảo đảm có hiệu lực đối với bên thứ ba. Các trường hợp bắt buộc phải đăng ký gồm: Thế chấp Quyền sử dụng đất; thế chấp nhà ở, Tài sản gắn liền với đất khi tài sản đã được công nhận quyền sở hữu, …
Hệ quả pháp lý khi không tuân thủ quy định về đăng ký: Theo Điều 4 Nghị định số 99/2022/NĐ-CP ngày 30 tháng 11 năm 2022: Thế chấp tài sản là thuộc trường hợp phải đăng ký. Tuy nhiên quy định về giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức tại Điều 129 Bộ luật dân sự năm 2015 lại không hề đề cập đến việc chưa hoàn tất thủ tục đăng ký. Hơn nữa, chỉ trong trường hợp luật có quy định thì việc đăng ký mới được coi là điều kiện để Giao dịch bảo đảm có hiệu lực. Như vậy có thể thấy rằng quy định hiện hành thì chưa có quy định hệ quả pháp lý khi không hoàn tất việc đăng ký thế chấp theo đúng quy định (ngoại trừ trường hợp thế chấp Quyền sử dụng đất có hiệu lực từ thời điểm đăng ký).
1.2.5 Xử lý tài sản thế chấp của bên thứ ba
Trường hợp xử lý Tài sản bảo đảm: Khi đến hạn phải thực hiện nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc không thực hiện đúng nghĩa vụ thì Bên nhận thế chấp được quyền xử lý Tài sản bảo đảm. Hơn nữa, Bộ luật dân sự năm 2015 cũng quy định chi tiết hơn về trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ trước hạn do bên có nghĩa vụ vi phạm theo thỏa thuận hay quy định của luật thì Bên nhận thế chấp cũng được quyền xử lý Tài sản thế chấp. Điều này có nghĩa là khi bên vay vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng đã thỏa thuận thì Ngân hàng thương mại đã có quyền xử lý Tài sản bảo đảm mà không cần phải đợi đến khi Bên thế chấp không thực hiện thay nghĩa vụ cho bên vay. Còn trường hợp nếu Bên thế chấp muốn nhận lại Tài sản bảo đảm thì phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với Ngân hàng thương mại (gồm cả những chi phí phát sinh do chậm thanh toán) trước thời điểm xử lý Tài sản bảo đảm. Một trường hợp xử lý tài sản khác là: để bên bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác đến hạn theo quy định pháp luật.
Phương thức xử lý Tài sản thế chấp: Bán Tài sản thế chấp (thông qua đấu giá hoặc Bên nhận thế chấp tự bán Tài sản bảo đảm), Bên thế chấp nhận Tài sản bảo đảm để thay thế việc thực hiện nghĩa vụ của bên vay (khi Bên thế chấp đồng ý bằng văn bản) và phương thức khác. Nếu các bên không có thỏa thuận về phương thức xử lý Tài sản bảo đảm thì tài sản được bán đấu giá, trừ trường hợp luật có quy định khác” (trừ trường hợp Tài sản bảo đảm là chứng khoán niêm yết, hàng hóa trên sàn giao dịch, hoặc động sản khác có thể xác định được giá cụ thể, rõ ràng trên thị trường thì bên nhận bảo đảm được bán theo giá tại thị trường giao dịch chứng khoán hoặc tại sàn giao dịch liên quan khác nhưng phải thông báo cho bên bảo đảm và các bên cùng nhận bảo đảm khác (nếu có) biết trước khi bán)
- Nguyên tắc xử lý Tài sản thế chấp: Luận văn: Quy định pháp luật về thế chấp tài sản bên thứ ba.
Thứ nhất, trường hợp nhiều tài sản đảm bảo cho một nghĩa vụ thì bên nhận bảo đảm có thể lựa chọn Tài sản bảo đảm để xử lý (nếu các bên không có thoả thuận)
Thứ hai, nếu Tài sản thế chấp được đầu tư thêm làm phát sinh tài sản mới hay tăng thêm nhưng không thuộc Tài sản thế chấp thì: Nếu tách rời được phần tăng thêm thì sẽ giao lại cho bên đầu tư. Nếu không tách rời được thì Bên thế chấp xử lý khối tài sản và thanh toán lại phần giá trị đầu tư thêm cho bên đầu tư.
Thứ ba, nếu thế chấp Quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất/thế chấp tài sản gắn liền với đất mà không thế chấp quyền sử dụng đất:
Nếu người sử dụng đất đồng thời là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất: nếu các bên không có thỏa thuận khác thì bên thế chấp được xử lý cả phần tài sản gắn liền với đất.
Nếu người sử dụng đất không đồng thời là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất: (i) khi xử lý quyền sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được tiếp tục sử dụng đất trong phạm vi quyền, nghĩa vụ của mình; quyền và nghĩa vụ của bên thế chấp trong mối quan hệ với chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được chuyển giao cho người nhận chuyển quyền sử dụng đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác; (ii) khi xử lý tài sản gắn liền với đất, người nhận chuyển quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất được tiếp tục sử dụng đất trong phạm vi quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được chuyển giao, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Thanh toán số tiền thu được từ xử lý tài sản: Bộ luật dân sự năm 2015 đã khắc phục được điểm chưa hợp lý của Bộ luật dân sự năm 2005 về số tiền thu được khi xử lý Tài sản bảo đảm chưa đủ nghĩa vụ được đảm bảo, cụ thể:
Bộ luật dân sự năm 2005: nếu tiền thu được từ Tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nghĩa vụ được bảo đảm thì Bên thế chấp phải thanh toán tiếp phần còn thiếu đó. Theo quy định tại điều luật này thì phạm vi nghĩa vụ bảo đảm không chỉ giới hạn trong Tài sản thế chấp mà Bên thế chấp vẫn phải tiếp tục chịu trách nhiệm đối với phần nghĩa vụ chưa được thanh toán sau khi đã xử lý Tài sản thế chấp. Điều này chỉ đúng đối với trường hợp thế chấp để đảm bảo nghĩa vụ của chính bên thế chấp.
Bộ luật dân sự năm 2015: “Trường hợp số tiền có được từ việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp sau khi thanh toán chi phí bảo quản, thu giữ và xử lý tài sản cầm cố, thế chấp nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm thì phần nghĩa vụ chưa được thanh toán được xác định là nghĩa vụ không có bảo đảm, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận bổ sung Tài sản bảo đảm. Bên nhận bảo đảm có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ được bảo đảm phải thực hiện phần nghĩa vụ chưa được thanh toán”. Như vậy Bên thế chấp chỉ phải chịu trách nhiệm trong phạm vi giá trị Tài sản bảo đảm, Ngân hàng thương mại yêu cầu bên vay phải tiếp tục thực hiện phần nghĩa vụ còn lại và không được yêu cầu khoản thanh toán nào từ Bên thế chấp nữa.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Luận văn: Quy định pháp luật về thế chấp tài sản bên thứ ba.
Chương 1 tác giả đã tập trung nghiên cứu những lý luận về thế chấp tài sản của bên thứ ba tại các Ngân hàng thương mại và đi đến những kết luận sau:
Thứ nhất, thế chấp tài sản của bên thứ ba là hoạt động thế chấp đặc thù. Chủ thể thực hiện gồm: bên thế chấp và bên nhận thế chấp, trong đó bên thế chấp sử dụng tài sản thuộc sở hữu của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bên có nghĩa vụ với bên nhận thế chấp (NHTM) và không có sự chuyển giao tài sản giữa các bên tham gia giao dịch. Các quy định thể hiện: chủ thể tham gia quan hệ thế chấp tài sản bên thứ ba; Tài sản thế chấp bên thứ ba; nội dung Hợp đồng thế chấp tài sản bên thứ ba; hình thức, hiệu lực của Giao dịch bảo đảm thế chấp tài sản bên thứ ba ….
Thứ hai, mặc dù biện pháp thế chấp tài sản của bên thứ ba và bảo lãnh đều được sử dụng để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của người khác. Tuy nhiên, sự khác biệt cơ bản giữa hai biện pháp này là: thế chấp của bên thứ ba mang tính đối vật nhưng bảo lãnh mang tính đối nhân. Nếu bên nhận bảo lãnh muốn tăng thêm sự tin tưởng thì có thể yêu cầu bên bảo lãnh sử dụng thêm biện pháp bảo đảm cầm cố, thế chấp để đảm bảo cho nghĩa vụ bảo lãnh.
Nếu xét trong quan hệ ba bên: Thế chấp tài sản của bên thứ ba là việc dùng Tài sản bảo đảm của Bên thế chấp để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ của bên vay. Trong khi đó ở biện pháp bảo lãnh là dùng Tài sản bảo đảm để đảm bảo nghĩa vụ thực hiện trả nợ thay của chính bên bảo lãnh (nếu Tài sản bảo đảm thuộc sở hữu bên bảo lãnh).
Việc xác định đúng bản chất biện pháp bảo đảm sẽ giúp các bên xác định: phạm vi nghĩa vụ bảo đảm, quyền và nghĩa vụ các bên tham gia giao dịch, quan hệ hợp đồng chính – phụ, xử lý Tài sản bảo đảm,… Luận văn: Quy định pháp luật về thế chấp tài sản bên thứ ba.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực tiễn pháp luật thế chấp tài sản bên thứ ba

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
