Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm của người quản lý ngân hàng

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm của người quản lý ngân hàng hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Luận văn  đi sâu vào phân tích các vấn đề lý luận về trách nhiệm của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần. Giải thích một số thuật ngữ, khái niệm chưa thống nhất về người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại. Nêu ra một số nguyên tắc quản trị, điều hành ngân hàng thương mại cổ phần. Làm rõ khái niệm và đặc điểm chuyên biệt về người quản lý, người điều hành của ngân hàng thương mại. Tìm hiểu về vai trò và trách nhiệm của người quản lý, người điều hành của ngân hàng thương mại cổ phần.

Trên cơ sở đó, tác giả tập trung phân tích, chứng minh quy định pháp luật điều chỉnh trách nhiệm của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại. Qua đó từ thực tiễn xét xử các vụ án hình sự về vi phạm của người quản lý người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần trong tổ chức, quản trị, điều hành ngân hàng, từ đó tác giả chỉ ra những tồn tại, thiếu sót, bất cập của quy định pháp luật về quy định trách nhiệm của người quản lý người điều hành ngân hàng thương mại. Đồng thời, đề xuất một số giải pháp, kiến nghị khắc phục những hạn chế qua thực thi các quy định; sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật hiện hành còn chưa rõ ràng, đầy đủ, không hiệu quả để phù hợp với thực tiễn, góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật có liên quan.

ABSTRACT

This thesis the author delves into the analysis of theoretical issues about the responsibilities of managers and operators of Joint Stock Commercial Banks. Also, the thesis explains some inconsistent terms and concepts about managers and operators of commercial banks, outlining some principles of management and administration of JSCBs as well as clarifying the concept and specific characteristics of managers and operators of commercial banks. Studying about the roles and responsibilities of the managers and executives of the Joint Stock Commercial Bank.

The author focuses on analyzing and proving the legal regulations governing the responsibilities of managers and operators of commercial banks. Thereby from the practice of adjudicating criminal cases on violations of the managers of the joint stock commercial banks in the organization, administration and administration of the bank, from which the author points out the shortcomings, shortcomings and inadequacies of the legal regulations on responsibilities of managers and operators of commercial banks. At the same time, propose some solutions and recommendations to overcome limitations through the implementation of regulations; amending and supplementing the provisions of the current law which are still unclear, complete and ineffective in order to be suitable with reality , contributing to the improvement of relevant legal provisions.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Hỗ Trợ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Luật

PHẦN MỞ ĐẦU Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm của người quản lý ngân hàng.

1. TÌNH THẾ CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Hoạt động ngân hàng với bản chất là kênh dẫn vốn, mang đến những giá trị nhất định cho nền kinh tế. Song luôn tiềm ẩn những rủi ro, đe dọa tới sự phát triển chung của hệ thống ngân hàng. Thời gian gần đây nhiều sai phạm tại các ngân hàng thương mại cổ phần không chỉ trong phạm vi các giao dịch cấp tín dụng mà còn các lỗ hổng về sở hữu, đầu tư chéo bất hợp pháp vào các doanh nghiệp sân sau, lợi ích nhóm. Trong đó, các vi phạm về trách nhiệm của người quản lý, người điều hành tổ chức tín dụng, nguy cơ lạm quyền, cố ý làm trái các quy định để chiếm đoạt, gây thất tài sản của các ngân hàng cũng xảy ra.

Những năm gần đây, các vi phạm về quản lý, điều hành ngân hàng thương mại cổ phần xảy ra thường xuyên và có quy mô lớn, đã được xử lý. Các đối tượng vi phạm đều giữ các chức vụ quan trọng, là người đang quản lý, người điều hành của ngân hàng như Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Giám đốc, Phó Tổng giám đốc, Kế toán trưởng, Giám đốc chi nhánh đã có hành vi vi phạm các quy định về quản lý, điều hành doanh nghiệp, vi phạm các quy định của pháp luật các tổ chức tín dụng đặt ra những thách thức cho các nhà làm luật trong việc tìm kiếm giải pháp ngăn chặn hiệu quả.

Vấn đề quản lý, điều hành ngân hàng hiện nay đang được điều chỉnh bằng Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi bổ sung năm 2017; Luật Doanh nghiệp năm 2020; Nghị định số 59/2009/NĐ-CP ngày 16/7/2009 về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng thương mại; Thông tư số 06/2010/TT-NHNN ngày 26/02/2010 hướng dẫn về tổ chức, quản trị, điều hành… Trong đó, Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, khi tiến hành sửa đổi bổ sung vào năm 2017 đã khắc phục được một số quy định tồn tại trong hoạt động quản lý, điều hành của các ngân hàng. Tuy nhiên, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại hiện nay chưa tương đồng, chưa tuân thủ các nguyên tắc chung về quản trị (các nguyên tắc quản trị ngân hàng lành mạnh của Uỷ ban Basel; các nguyên tắc của OECD) và còn nhiều bất cập, ví dụ như: quy định về thành viên Hội đồng quản trị độc lập, điều kiện tiêu chuẩn của Tổng giám đốc, minh bạch tài sản của Chủ tịch Hội đồng quản trị, làm hạn chế hiệu quả quản trị, điều hành ngân hàng thương mại. Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm của người quản lý ngân hàng.

Nhìn từ thực tiễn cho thấy một trong những nguyên nhân sai phạm, sâu xa hơn là nguyên nhân dẫn đến đổ vỡ, trong đó có sự “ngã ngựa” những ngân hàng lớn, xuất phát từ sai phạm của người quản lý, người điều hành của ngân hàng. Trách nhiệm của người quản lý, người điều hành tổ chức tín dụng chưa được ghi nhận và đánh giá một cách đầy đủ trong các văn bản pháp luật hiện hành, cụ thể là Luật Các tổ chức tín dụng, đồng thời chưa được cụ thể hóa trong Điều lệ hoạt động của các Ngân hàng thương mại để được thực thi nghiêm túc từ đó, tạo điều kiện để người quản lý, người điều hành Ngân hàng vi phạm, lạm quyền gây ra những thiệt hại vô cùng nghiêm trọng như được nhận diện.

Xuất phát từ thực tiễn đó, tác giả chọn đề tài: “Pháp luật về trách nhiệm của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam” để làm công trình nghiên cứu cho luận văn Thạc sĩ của mình.

2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

2.1 Mục tiêu tổng quát

Làm rõ một số vấn đề lý luận về vai trò, vị trí và trách nhiệm của người quản lý, người điều hành tại các tổ chức tín dụng, nhất là tại các ngân hàng thương mại. Nghiên cứu, phân tích quy định của pháp luật hiện hành về trách nhiệm của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại và thực tiễn áp dụng của nó tại ngân hàng thương mại cổ phần. Từ đó, tác giả đưa ra những kiến nghị phù hợp góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật, hoàn thiện hơn các quy định này từ thực tiễn.

2.2 Mục tiêu cụ thể

  • Làm rõ khái niệm và đặc điểm chuyên biệt về người quản lý, người điều hành của ngân hàng thương mại. Phân tích, chứng minh quy định pháp luật điều chỉnh trách nhiệm của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại.
  • Chỉ ra những tồn tại, thiếu sót, bất cập của quy định pháp luật về vấn đề trách nhiệm của người quản lý người điều hành ngân hàng thương mại.
  • Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị khắc phục những hạn chế qua thực thi các quy định; sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật hiện hành còn chưa rõ ràng, đầy đủ, không hiệu quả cho phù hợp với thực tiễn, góp phần hoàn thiện các quy định liên quan đến trách nhiệm của người quản lý người điều hành ngân hàng thương mại.

3. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm của người quản lý ngân hàng.

  • Vai trò và trách nhiệm của người quản lý, người điều hành của ngân hàng thương mại cổ phần được thể hiện như thế nào.
  • Thực trạng quy định của pháp luật về trách nhiệm của người quản lý, người điều hành của ngân hàng thương mại cổ phần ở nước ta hiện nay? Thực tiễn áp dụng pháp luật về trách nhiệm của người quản lý, người điều hành của ngân hàng thương mại cổ phần bộc lộ những tồn tại, bất cập nào? Vì sao?
  • Những kết quả đạt được qua thực tiễn áp dụng vào việc tăng chất lượng quản lý điều hành hoạt động của các ngân hàng; những tồn tại, hạn chế trong áp dụng pháp luật về trách nhiệm của người quản lý, người điều hành của ngân hàng thương mại cổ phần và ảnh hưởng (tiêu cực) như thế nào đến hoạt động của các tổ chức tín dụng nói chung?
  • Những kiến nghị cụ thể nào để hoàn thiện hơn các quy định pháp luật hiện hành về trách nhiệm của người quản lý, người điều hành của ngân hàng thương mại cổ phần trong giai đoạn mở cửa nền kinh tế của nước ta hiện nay?

4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU.

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu một cách hệ thống các quy định của pháp luật hiện hành về trách nhiệm của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần. Đề tài có sử dụng chất liệu từ các điều lệ ngân hàng, bản án, quyết định xét xử của các cơ quan có thẩm quyền trong lĩnh vực ngân hàng để nêu ra các bất cập, tồn tại và vướng mắc của chế định trách nhiệm của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại trong quy định của Luật các tổ chức tín dụng và các văn bản hướng dẫn hiện hành. Trên cơ sở đó, kiến nghị tiếp tục hoàn thiện các vấn đề còn vướng mắc, bất cập và tồn tại của pháp luật hiện hành trong chế định này.

4.2 Phạm vi nghiên cứu

+ Phạm vi nội dung: Đề tài nghiên cứu nội dung quy định của pháp luật hiện hành, cụ thể là pháp luật tổ chức tín dụng điều chỉnh về trách nhiệm của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần và quy định của Luật Doanh nghiệp về trách nhiệm của người quản lý, người điều hành doanh nghiệp nói chung. Đề tài không khai thác hệ quả pháp lý về các sai phạm do vi phạm trách nhiệm của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần (trách nhiệm hình sự, dân sự, hành chính).   Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm của người quản lý ngân hàng.

+ Phạm vi không gian: Thực trạng áp dụng pháp luật hiện hành, các hạn chế, bất cập, vướng mắc về quy định trách nhiệm của người quản lý, người điều hành tại ngân hàng thương mại cổ phần thông qua phân tích, bình luận các chất liệu là các điều lệ, quy chế nội bộ và các bản án, quyết định giải quyết các vụ án trong lĩnh vực ngân hàng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.

+ Phạm vi thời gian: Nghiên cứu các quy định pháp luật theo pháp luật hiện hành và từ thời điểm năm 2017 đến nay.

5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để thực hiện đề tài này, luận văn sử dụng các phương pháp sau:

+ Phương pháp phân tích, tổng hợp: phương pháp này được sử dụng xuyên suốt toàn đề tài, áp dụng phương pháp này để tổng hợp và phân tích những quy định của pháp luật về trách nhiệm của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần, nhằm hiểu rõ mục đích, vai trò, ý nghĩa của các quy định pháp luật về chế định này. Đồng thời, trên cơ sở những quy định của pháp luật hiện hành, phân tích, đánh giá quá trình áp dụng pháp luật vào thực tiễn hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần để có thể chỉ ra những điểm bất cập, hạn chế cần phải tiếp tục sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện.

+ Phương pháp so sánh, đối chiếu: được sử dụng trong chương 2 của đề tài, thông qua việc so sánh, đối chiếu thực tiễn áp dụng pháp luật dựa trên việc tham chiếu các bản án hình sự về tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng. Thông qua phướng pháp so sánh, đối chiếu có thể tìm ra nguồn gốc, cốt lõi vấn đề, kết luận và đưa ra các kiến nghị, đề xuất phù hợp cho đề tài. Đồng thời, so sánh đối chiếu các quy định của pháp luật giữa các văn bản từ đó giúp phát hiện những khuyết điểm của văn bản pháp luật hay phát hiện những quy định cần đổi mới để phù hợp với sự thay đổi của xã hội, giúp đề tài có ý nghĩa thực tiễn hơn.

+ Phương pháp tình huống/ nghiên cứu tình huống tiêu biểu: Phân tích, bình luận các bản án, quyết định của Toà án đã xét xử, nêu rõ các hành vi sai phạm và hệ quả pháp lý, phương pháp này cũng được sử dụng trong chương 2 của đề tài. Qua đó đánh giá đầy đủ hơn về nhưng rủi ro, tác động nghiêm trọng đến sự ổn định, hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại khi tập trung quá nhiều quyền hành vào ngừơi quản lý, người điều hành nếu không có cơ sở kiểm soát nội bộ chặt chẽ. Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm của người quản lý ngân hàng.

+ Ngoài ra, tác giả còn sử dụng một cách tổng thể các phương pháp như thống kê, khảo sát, diễn giải, suy luận logic để làm rõ các khái niệm, các nội dung mang tính lý luận về trách nhiệm của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần

6. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Luận văn nghiên cứu các quy định pháp luật về trách nhiệm của người quản lý, người điều hành và thực trạng áp dụng các quy định đó tại ngân hàng thương mại cổ phần. Đề tài đi phân tích một số bản án về vi phạm của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại, đặc biệt là các sai phạm về trách nhiệm của người quản lý, người điều hành tổ chức tín dụng, để tìm ra những bất cập, vướng mắc, hạn chế của quy định này. Trên cơ sở đó, kiến nghị tiếp tục hoàn thiện các vấn đề còn hạn chế, bất cập và tồn tại của quy định pháp luật hiện nay trong chế định này.

7. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

Thông qua luận văn, tác giải tìm ra được các nguyên nhân, hạn chế về quy định trách nhiệm của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần và cũng từ thực tiễn luận văn này sẽ nêu ra các định hướng, giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật ngân hàng nói chung và quy định trách nhiệm của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần nói riêng, nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Đây cũng là một công trình khoa học để các ngân hàng thương mại cổ phần tham khảo, nghiên cứu nâng cao hiệu quả quản trị ngân hàng, hạn chế việc lãnh đạo chủ chốt của ngân hàng bị xử lý sai phạm liên quan đến trách nhiệm quản lý, điều hành ngân hàng; hạn chế thấp nhất những rủi ro, thất thoát vốn tín dụng.

8. TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm của người quản lý ngân hàng.

Liên quan đến vấn đề trách nhiệm của người quản lý, người điều hành của tổ chức, doanh nghiệp, qua khảo sát tác giả nhận thấy việc tiếp cận chủ yếu dưới góc độ là các bài viết đăng trên tạp chí hoặc một số trang web, có thể nêu một số bài viết như: Bùi Xuân Hải, 2005, “Người quản lý công ty theo Luật doanh nghiệp 1999 – Nhìn từ góc độ luật so sánh”, Tạp chí Khoa học pháp lý, Đại học Luật TP.HCM, Số 04(29), trang 17; Đỗ Minh Tuấn, 2015, “Nghĩa vụ trung thành của người quản lý công ty cổ phần”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Số 5 (309), trang 53; Bài viết “Nghĩa vụ của người quản lý công ty theo Luật Doanh nghiệp”, Thạc sĩ Lại Trung Dũng đăng trên tạp chí Công thương điện tử ngày 12/8/2021 và Bài viết:

“Quy định pháp luật về quản trị ngân hàng thương mại cổ phần”, Phan Phương Nam – Trường Đại học Luật TPHCM, đăng trên tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, ngày 10/01/2020.Các bài viết nêu trên đều có đề cập đến người quản lý, người điều hành thông qua các nghiên cứu về hệ thống quản trị của một doanh nghiệp mà cụ thể là người quản lý, điều hành công ty cổ phần. Một số bài viết nêu ra được các hạn chế của Luật doanh nghiệp qua các thời kỳ về quy định tổ chức quản trị công ty cổ phần nói chung, nhưng chưa đi sâu nghiên cứu các quy định về trách nhiệm của người quản lý, người điều hành của công ty cổ phần hoạt động dưới hình thức là ngân hàng thương mại cổ phần, một loại doanh nghiệp đặc thù.

Ngoài ra, dưới gốc độ là công trình nghiên cứu, luận văn thạc sĩ luật học thì có một số công trình nghiên cứu sau: Luận văn thạc sĩ của học viên Nguyễn Thị Phong Thủy – Đại học Quốc gia Hà Nội với đề tài: “Pháp luật về quản trị Ngân hàng thương mại Cổ phần ở Việt Nam”; Luận văn Thạc sĩ của học viên Nguyễn Hồng Châm – Đại học Luật Hà Nội với đề tài: “Quy chế pháp lý về Thành viên Độc lập Hội đồng quản trị trong ngân hàng thương mại cổ phần và thực tiễn thi hành ở Thành phố Hà Nội”; Luận văn thạc sĩ của học viên Nguyễn Hồng Hạnh – Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội với đề tài: “Trách nhiệm của người quản lý, điều hành trong công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp 2014”…Các luận văn nêu trên có xu hướng tiếp cận dưới góc độ quản trị ngân hàng hoặc quản lý điều hành doanh nghiệp nói chung và công ty cổ phần theo quy định của Luật doanh nghiệp. Hoặc chỉ nghiên cứu các quy định chung về tổ chức, quản trị ngân hàng, hoặc chỉ nghiên cứu độc lập các chủ thể quản lý của Ngân hàng như Hội đồng quản trị, Thành viên Hội đồng quản trị độc lập, Ban kiểm soát… và mối quan hệ giữa các chủ thể này. Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể, chi tiết quy định pháp luật và thực trạng áp dụng quy định của pháp luật về chế định trách nhiệm của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần thông qua thực tiễn các bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc Điều lệ của chính ngân hàng thương mại cổ phần. Do đó, công trình nghiên cứu này cũng sẽ tìm ra được các nguyên nhân, hạn chế về quy định trách nhiệm của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần và nêu ra các định hướng, giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện quy định pháp luật và nêu ra các giải pháp hạn chế việc lãnh đạo chủ chốt của ngân hàng xử lý liên quan đến trách nhiệm người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại.

9. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm của người quản lý ngân hàng.

Ngoài phần mởi đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu bằng 02 chương, với các nội dung chính sau đây:

  • CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI QUẢN LÝ, NGƯỜI ĐIỀU HÀNH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN.
  • CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI QUẢN LÝ, NGƯỜI ĐIỀU HÀNH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN.

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI QUẢN LÝ, NGƯỜI ĐIỀU HÀNH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN

1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần

1.1.1. Khái niệm người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần

Quản lý và điều hành là những thuật ngữ có nội hàm của công tác quản trị, là công việc thường xuyên và có tính đặc trưng để duy trì hoạt động một tổ chức, một doanh nghiệp, một đơn vị hoạt động theo đúng định hướng nhất định.

Theo “Tổ chức hợp tác và phát triển (OECD) (2014, trang 11): “Quản trị công ty là hệ thống các cơ chế, các hành vi quản lý. Cơ chế này xác định việc phân chia các quyền và nghĩa vụ giữa cổ đông, Hội đồng quản trị, các chức năng quản lý và những người có lợi ích liên quan, quy định trình tự ban hành các quyết định kinh doanh. Bằng cách này, công ty tạo ra một cơ chế xác lập mục tiêu hoạt động, tạo ra phương diện thực thi và giám sát việc thực hiện các mục tiêu đó”.

Quản lý, điều hành ngân hàng thương mại cổ phần cũng được hiểu theo nghĩa đó. Các ngân hàng thương mại cổ phần – về mặt cơ cấu, tổ chức, hình thức hoạt động như một doanh nghiệp, song đó là các doanh nghiệp đặc biệt, ngành nghề kinh doanh mang tính đặc thù, ảnh hưởng trực tiếp đến toàn bộ nền kinh tế. Do đó, quản trị ngân hàng thương mại cổ phần cũng giống như quản trị một doanh nghiệp hoặc một công ty nhưng mang tính đặc thù, và đòi hỏi yêu cầu rất cao.

Theo Ngân hàng thế giới (WB): “Quản trị là một hệ thống các yếu tố pháp luật, thể chế và thông lệ quản lý của các công ty. Nó cho phép công ty có thể thu hút được các nguồn tài chính và nhân lực, hoạt động có hiệu quả và nhờ đó tạo ra các giá trị kinh tế lâu dài cho các cổ đông, trong khi vẫn tôn trọng quyền lợi của những người có lợi ích liên quan và của xã hội”

Như vậy, các đặc điểm cơ bản nhất của việc quản trị ngân hàng thương mại cổ phần có thể tóm tắt như sau:

  • Thứ nhất, tính minh bạch thông tin kinh doanh và quá trình giám sát nội bộ đối với hoạt động quản lý, điều hành;
  • Thứ hai, đảo đảm thực thi các quyền của cổ đông; Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm của người quản lý ngân hàng.
  • Thứ ba, các thành viên trong HĐQT có thể hoàn toàn độc lập trong việc thông qua các quyết định, phê chuẩn kế hoạch kinh doanh, tuyển dụng người quản lý trong việc giám sát tính trung thực và hiệu quả của hoạt động quản lý và trong việc miễn nhiệm người quản lý, người điều hành khi cần thiết;
  • Thứ tư, quản trị điều hành được phân biệt giữa quản lý và sở hữu. ngân hàng thương mại cổ phần do các cổ đông là chủ sở hữu, nhưng để tồn tại và phát triển phải có sự dẫn dắt của HĐQT, sự điều hành của BĐH, sự giám sát của BKS và sự đóng góp của người lao động. Lợi ích của các chủ thể này hoàn toàn đối lập nhau.
  • Cuối cùng, quản trị ngân hàng thương mại cổ phần xác định quyền hạn và trách nhiệm giữa các cổ đông, HĐQT, BĐH, BKS. Đồng thời, quản trị ngân hàng cũng lập ra các quy tắc, quy trình, thủ tục ra các quyết định trong ngân hàng, ngăn chặn sự lạm quyền kiểm soát những xung đột lợi ích tiềm năng, xây dựng tiêu chuẩn rõ ràng hoặc phải tuân thủ các quy định về minh bạch thông tin và tài sản.

Công tác quản trị ngân hàng thương mại cổ phần phụ thuộc rất lớn vào yếu tố con người, đó là người quản lý, người điều hành của một ngân hàng. Về mặt lý luận, từ việc nghiên cứu các đặc điểm của việc quản trị (quản lý, điều hành) ngân hàng thương mại cổ phần có thể hình dung được những yêu cầu đặt ra đối với người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần. Vậy, người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần là gì, họ là ai? Quản lý có thể hiểu là việc tổ chức nội bộ; đưa ra và thực hiện các quyết định của đại hội cổ đông thông qua HĐQT, đồng thời quản lý, kiểm soát hoạt động điều hành của ngân hàng. Điều hành là các hoạt động nghiệp vụ được tiến hành nhằm duy trì hoạt động bình thường, ổn định, phát triển của ngân hàng, thường được tiến hành bởi những chủ thể có quyền lực nhất định.

Nghiên cứu khái niệm người quản lý dưới góc độ Luật Doanh nghiệp, tác giả Lại Trung Dũng cho rằng: “người quản lý của công ty là những nguời do chủ sở hữu chỉ định, bổ nhiệm hoặc đi thuê, để quản lý điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mà những quyết định của họ có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của chủ sở hữu, của công ty, chủ nợ và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến công ty”.

Hoặc theo tác giả Nguyễn Hồng Hạnh có cách định nghĩa ngắn gọn nhưng bao quát hơn, theo đó: “người quản lý, điều hành là những người được cơ quan chủ sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp bầu ra, những người này có thể giữ hoặc không giữ chức danh quản lý nhưng tham gia vào ra quyết định, định hướng phát triển công ty; tham gia việc quản lý, điều hành hoạt động hàng ngày của công ty”.

Tuy nhiên, nghiên cứu dưới gốc độ là người quản lý, người điều hành tổ chức tín dụng nói chung và ngân hàng thương mại cổ phần nói riêng cho thấy, các quy định của LCTCTD không đưa ra khái niệm có tính lý luận và bao quát nhưng có đưa ra khái niệm theo kiểu liệt kê về người quản lý, người điều hành tổ chức tín dụng: Người quản lý tổ chức tín dụng bao gồm Chủ tịch, thành viên Hội đồng Quản trị; Chủ tịch, thành viên Hội đồng thành viên; Tổng Giám đốc (Giám đốc) và các chức danh quản lý khác theo quy định tại Điều lệ của tổ chức tín dụng. Người điều hành tổ chức tín dụng bao gồm Tổng Giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó giám đốc), Kế toán trưởng, Giám đốc chi nhánh và các chức danh tương đương theo quy định tại Điều lệ của tổ chức tín dụng. Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm của người quản lý ngân hàng.

Từ cách quy định như trên, có thể thấy người quản lý và người điều hành của một ngân hàng thương mại cổ phần có những đặc điểm, tiêu chí, yêu cầu hoàn toàn khác nhau. LCTCTD không định nghĩa một cách rõ ràng, có tính lý luận về 02 chủ thể này, nhưng qua cách liệt kê các chức vụ, chức danh cụ thể nêu trên, theo tác giả luận văn có thể rút ra khái niệm của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần như sau:

Người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần là những người nằm trong hệ thống quản trị của ngân hàng, có nhiệm vụ và quyền hạn đưa ra chủ trương, chính sách, quản lý, điều hành toàn bộ hoạt động của ngân hàng nhằm duy trì sự ổn định và phát triển của ngân hàng, họ những người được bầu , bổ nhiệm theo quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật các tổ chức tín dụng như Chủ tịch Hội đồng quản trị, Thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, giám đốc các đơn vị trực thuộc ngân hàng, kế toán trưởng và các chức danh, chức vụ khác theo Điều lệ của Ngân hàng thương mại cổ phần.

1.1.2. Đặc điểm người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần

Hoạt động quản trị ngân hàng thương mại cổ phần là một cơ chế nhằm điều khiển và kiểm soát hoạt động của ngân hàng nhằm duy trì sự ổn định, đảm bảo mục tiêu lợi nhuận. Nói đến quản trị, các nhà kinh tế học và các chuyên gia ngân hàng sẽ hình dung không những là việc quản trị, thực hiện quyết định và tổ chức nội bộ của các ngân hàng mà còn là việc quản trị thanh khoản (khả năng thanh toán và quy mô của ngân hàng), quản trị tài sản, tín dụng.

Do đó, nhân sự quản trị mà cụ thể là người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần sẽ có những đặc điểm mang tính đặc trưng, khác biệt với người quản lý, người điều hành một doanh nghiệp bình thường, cụ thể:

Thứ nhất, những người được bầu, bổ nhiệm làm thành viên Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc hoặc Giám đốc của tổ chức tín dụng phải thuộc danh sách đã được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận.

Thứ hai, họ phải đáp ứng những tiêu chí nhất định và đòi hỏi tính chuyên môn về quản trị ngân hàng rất cao. Tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình bầu, bổ nhiệm, bãi nhiệm, miễn nhiệm người quản lý, người điều hành phải đáp ứng một cách toàn diện theo quy định của NHNN và các quy định liên quan. Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm của người quản lý ngân hàng.

Thứ ba, tính minh bạch về quan hệ sở hữu tài sản trong nội tại Ngân hàng. Người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần phải được đặt trên cơ sở của sự tách biệt giữa quản lý và sở hữu. Mối quan hệ giữa chủ sở hữu ngân hàng và người quản lý, người điều hành ngân hàng cần minh bạch, có cơ chế kiểm soát chặt chẽ, tránh tình trạng lạm dụng, can thiệp sâu rộng vào hoạt động của ngân hàng.

Thứ tư, trách nhiệm của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần phải được quy định một cách chặt chẽ trong văn bản quy phạm pháp luật và trong chính điều lệ của ngân hàng thương mại cổ phần. Quy định trách nhiệm để kiểm soát và ngăn ngừa sự lạm quyền của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại, đặc điểm này phải được quy định cụ thể và phải có sự khác biệt với các loại hình doanh nghiệp khác.

Tóm lại, xuất phát từ đặc điểm kinh doanh của ngân hàng thương mại cổ phần, mặc dù là loại hình doanh nghiệp dưới hình thức công ty cổ phần nhưng hoạt động theo quy định của LCTCTD. Do đó, người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần có những đặc điểm riêng biệt đảm bảo các tiêu chí, điều kiện khắt khe hơn nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động quản trị ngân hàng thương mại cổ phần.

1.1.3. Vai trò của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm của người quản lý ngân hàng.

Một trong những nguyên nhân chủ yếu cho thấy việc các tổ chức tín dụng, trong đó có ngân hàng thương mại cổ phần lâm vào tình trạng yếu kém trên thực tế trong thời gian vừa là do: năng lực quản trị và kiểm soát rủi ro của các ngân hàng còn nhiều bất cập so với quy mô, tốc độ tăng trưởng, mức độ tăng trưởng, mức độ và yêu cầu về quản trị rủi ro trong hoạt động và tình trạng người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần sở hữu, sở hữu chéo, nhóm cổ đông, chi phối, thao túng hoạt động ngân hàng.

Nói như vậy để hình dung được rằng vai trò của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần là vô cùng quan trọng. Các ngân hàng thương mại cổ phần – bản chất là các doanh nghiệp, song là các doanh nghiệp đặc biệt, cung cấp các dịch vụ về tài chính nhằm thu lợi nhuận, do vậy hoạt động quản trị, điều hành của người quản lý, người điều hành không những tác động đến giá trị của ngân hàng và giá vốn của họ mà còn tác động toàn bộ nền kinh tế, cụ thể:

Thứ nhất, là những người đưa ra chiến lược, chính sách nhằm ổn định và phát triển Ngân hàng trong mọi hoàn cảnh. Người quản lý ngân hàng thương mại đóng vai trò then chốt trong việc quyết định chiến lược, kế hoạch phát triển trung hạn, dài hạn và kế hoạch kinh doanh hằng năm của ngân hàng, do đó họ có thể được xem là trung tâm quyết định chiến lược phát triển.

Thứ hai, họ là những người thi hành, chấp hành các quyết định của Hội đồng quản trị hoặc ĐHĐCĐ để duy trì sự hoạt động bình thường của Ngân hàng nhằm đảm bảo sự an toàn và giảm thiểu rủi ro cuả Ngân hàng.

Thứ ba, người quản lý là những người vừa đưa ra chiến lược, chính sách và cũng là người giám sát hoạt động của người điều hành ngân hàng. Giám sát ở đây không có nghĩa là hậu kiểm mà giám sát được hiểu là phải biết rõ, nắm bắt từ đó điều chỉnh kịp thời chức năng định hướng đối với các vấn đề hoạt động của ngân hàng. Giám sát hoạt động của TGĐ – người được HĐQT bổ nhiệm để điều hành hoạt động hàng ngày của ngân hàng.

Thứ tư, người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần là những người “thuyền trưởng” chèo lái con thuyền “ngân hàng” vượt qua mọi sóng gió, mọi rủi ro và người quyết định sự tồn tại của một ngân hàng. Năng lực của người quản lý, người điều hành yếu kém là nguyên nhân trực tiếp làm cho hoạt động của Ngân hàng ngày càng suy yếu và dần dần bị đào thải hoàn toàn khỏi hệ thống các tổ chức tín dụng.

Tóm lại, để duy trì hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần một cách ổn định, an toàn và hiệu quả thì vai trò của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần là rất quan trọng. Họ là những người quyết định toàn bộ chủ trương, đường lối và trực tiếp điều hành hoạt động hàng ngày của ngân hàng thương mại cổ phần. Do đó, trong tất cả các vấn đề cần giải quyết để nâng cao chất lượng hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần thì yếu tố thay đổi, đổi mới các quy định, các chính sách về người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần là cần thiết, đòi hỏi phải phù hợp với thực tiễn và thông lệ quản trị quốc tế.

1.2. Các nguyên tắc về quản lý, điều hành ngân hàng thương mại cổ phần. Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm của người quản lý ngân hàng.  

1.2.1. Các nguyên tắc của OECD.

OECD (Ogranizatinon for Economic Cooperation and Development) là Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế ra đời năm 1960 thúc đẩy việc xây dựng các chính sách nhằm: đạt được sự tăng trưởng kinh tế và làm việc bền vững nhất, năng cao mức sống ở các quốc gia thành viên, đồng thời duy trì ổn định tài chính và đóng góp cho sự mở rộng của thương mại thế giới trên cơ sở đa phương.

OECD đã đưa ra một số nguyên tắc quản trị công ty theo 4 nhóm chính, bao gồm:

  • Một là, các nguyên tắc về cơ cấu, tổ chức, bao gồm các nguyên tắc về cơ cấu HĐQT, TGĐ, BKS, cơ chế hoạt động phối hợp và chế độ thù lao của các bộ máy này;
  • Hai là, các nguyên tắc về nghĩa vụ và trách nhiệm của thành viên HĐQT và Ban giám đốc, những người có liên quan và xã hội;
  • Ba là, các nguyên tắc về thực hiện quyền của cổ đông và đại hội cổ đông; Bốn là, các nguyên tắc về minh bạch và công bố thông tin.

Tất cả các nguyên tắc này cần phải được thực hiện sao cho công ty hoạt động sinh lời và giá trị đầu tư của cổ đông liên tục tăng trưởng, đồng thời đảm bảo thực thi quyền cổ đông một cách công bằng thông qua hoạt động của HĐQT, Đại hội đồng cổ đông, tránh xung đột lợi ích và công bố thông tin minh bạch, đầy đủ.

NHTMCP là một doanh nghiệp đặc thù, hoạt động theo LCTCTD nên về cơ bản hoạt động quản lý, điều hành sẽ phải tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc nêu trên. Trong đó, chú trọng vào các nguyên tắc sau: i). Nguyên tắc về cơ cấu và tổ chức HĐQT, Ban Giám đốc, BKS và mối quan hệ của chúng trong chỉnh thể hệ thống quản trị ngân hàng thương mại cổ phần; ii).Nguyên tắc về Quyền và nghĩa vụ của HĐQT, Ban Giám đốc, BKS; iii).Nguyên tắc về đạo đức nghề nghiệp và một số tiêu chuẩn cụ thể đối với người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần.

Thứ nhất, Nguyên tắc về cơ cấu và tổ chức HĐQT, Ban giám đốc, BKS và mối quan hệ của chúng trong chỉnh thể hệ thống quản trị ngân hàng thương mại cổ phần: về cơ cấu HĐQT, Ban giám đốc, BKS đối với tổ chức tín dụng là công ty cổ phần bao gồm một số nội dung như nhiệm kỳ, số lượng, bộ phận giúp việc. Cơ cấu, tổ chức HĐQT, Ban giám đốc, BKS – nguyên tắc này bảo đảm rằng công ty có những bộ máy cần thiết để HĐQT – người đại diện cho quyền lợi của các cổ đông – có thể vận hành và quản lý công ty một cách có hiệu quả và phục vụ cho lợi ích của các cổ đông.

Thứ hai, Nguyên tắc về quyền và nghĩa vụ của HĐQT, Ban giám đốc, BKS: LCTCTD 2017 quy định về quyền và nghĩa vụ của HĐQT, Ban giám đốc, BKS đối với tổ chức tín dụng là công ty cổ phần. Quyền và nghĩa vụ của từng ban được quy định cụ thể nhằm phân định rõ trách nhiệm và quyền hạn của từng nhóm điều hành. Cả cơ cấu tổ chức cũng như quyền và nghĩa vụ của HĐQT, Ban giám đốc, BKS của ngân hàng thương mại cổ phần đều được quy định tại Điều lệ của ngân hàng nhưng không được trái với quy định tại LCTCTD và các quy định liên quan. Nguyên tắc này đảm bảo rằng thành viên của các bộ máy vận hành ngân hàng thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn vì lợi ích tối cao của cổ đông. Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm của người quản lý ngân hàng.

Thứ ba, Nguyên tắc về đạo đức nghề nghiệp và một số tiêu chuẩn cụ thể đối với người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần: LCTCTD có quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với người quản lý, điều hành và một số chức danh khác của tổ chức tín dụng. Việc quy định về điều kiện, tiêu chuẩn đối với HĐQT, Ban điều hành, BKS của tổ chức tín dụng nhằm giảm thiểu rủi ro về đạo đức nghề nghiệp xuống mức thấp nhất. Nguyên tắc này nhằm đảm bảo tính trung thực của hoạt động ngân hàng và cung cấp dịch vụ một cách tốt nhất cho khách hàng, đồng thời giảm thiểu rủi ro đạo đức.

1.2.2. Các nguyên tắc của Basel

Uỷ ban Basel về giám sát nghiệp vụ ngân hàng thành lập bởi các Thống đốc Ngân hàng Trung ương của nhóm G10 vào năm 1975. Ủy ban này đã ban hàng các nguyên tắc quản trị công ty tại các ngân hàng thương mại cổ phần gồm 14 nguyên tắc cơ bản được tóm tắt như sau:

Nguyên tắc 1: “HĐQT chịu trách nhiệm chung trước ngân hàng, bao gồm phê chuẩn và giám sát việc thực hiện các mục tiêu chiến lược của ngân hàng, chiến lược rủi ro, quản trị công ty và giá trị của công ty. HĐQT cũng chịu trách nhiệm giám sát Ban Giám đốc”. Nội dung nguyên tắc này đề cập cụ thể đến các vấn đề như trách nhiệm của HĐQT; Giá trị công ty và quy tắc ứng xử; Giám sát Ban Giám đốc.

Nguyên tắc 2: thể hiện những quy định về trình độ chuyên môn của HĐQT: “Thành viên HĐQT cần có và luôn duy trì trình độ chuyên môn phù hợp, kể cả thông qua đào tạo, để đảm trách vị trí của mình. Họ phải hiểu biết rõ ràng về vai trò của mình trong quản trị công ty và có khả năng đưa ra các đánh giá hợp lý về hoạt động kinh doanh của ngân hàng.” Chẳng hạn, về trình độ chuyên môn của HĐQT, Ủy ban Basel đã đưa ra những yêu cầu như HĐQT, từng thành viên và cả Hội đồng nói chung, phải có kinh nghiệm, năng lực và phẩm chất cá nhân phù hợp, bao gồm trình độ chuyên môn về nghề nghiệp và sự chính trực; Toàn bộ HĐQT phải có kiến thức đầy đủ và kinh nghiệm phù hợp về từng loại hình hoạt động tài chính chủ yếu mà ngân hàng dự kiến thực hiện để có thể tăng cường quản trị và giám sát hiệu quả…

Nguyên tắc 3: xác định những vấn đề về thông lệ hoạt động và cơ cấu của HĐQT. Trong đó “HĐQT phải xác định các thực tiễn quản trị ngân hàng phù hợp với hoạt động của mình và có các phương tiện để đảm bảo các thực tiễn này được tuân thủ và rà soát định kỳ để cải tiến liên tục. Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm của người quản lý ngân hàng.

Nguyên tắc 4: đề cập đến cơ cấu tập đoàn, đây là vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với những ngân hàng thương mại cổ phần có xu hướng phát triển mở rộng thành một tập đoàn với những công ty con trực thuộc

Nguyễn tắc 5: với Ban điều hành, Basel quy định: “Dưới sự chỉ đạo của HĐQT, Ban Giám đốc phải đảm bảo các hoạt động của ngân hàng phù hợp với chiến lược kinh doanh, mức độ chấp nhận rủi ro/khẩu vị rủi ro và các chính sách mà HĐQT phê chuẩn.

Nguyên tắc thứ 6: Ngân hàng phải có hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả và bộ phận quản lý rủi ro (bao gồm một giám đốc quản lý rủi ro hoặc tương đương) với đầy đủ thẩm quyền, sự tôn trọng, độc lập, nguồn lực và được tiếp cận HĐQT.

Nguyên tắc thứ 7: Các rủi ro cần được xác định và giám sát liên tục trong phạm vi toàn ngân hàng và tại từng bộ phận, và cơ sở vật chất của bộ phận quản lý rủi ro và kiếm soát nội bộ của ngân hàng phải bắt kịp với những thay đổi trong mức độ và loại hình rủi ro mà ngân hàng đương đầu.

Nguyên tắc thứ 8: Quản lý rủi ro hiệu quả đòi hỏi phải chủ động và tích cực thông báo nội bộ về rủi ro trong ngân hàng, bao gồm trong toàn bộ ngân hàng cũng như báo cáo lên HĐQT và Ban Giám đốc.

Nguyên tắc thứ 9: HĐQT và Ban Giám đốc phải sử dụng hiệu quả kết quả công việc do kiểm toán nội bộ, kiểm toán độc lập và bộ phận kiểm soát nội bộ thực hiện.

Nguyên tắc thứ 10, 11: với chế độ đãi ngộ Basel quy định rằng “HĐQT phải tích cực giám sát việc ban hàng và quản lý hệ thống lương thưởng, cũng như phải kiểm tra và soát xét hệ thống lương thưởng để đảm bảo hệ thống hoạt động như dự định.

Nguyên tắc 12 quy định “HĐQT và Ban Giám đốc phải biết rõ và thấu hiểu cơ cấu hoạt động của ngân hàng và những rủi ro mà ngân hàng phải đối mặt.

Nguyên tắc 13: “Khi một ngân hàng hoạt động thông qua các đơn vị được thành lập với mục đích đặc biệt hoặc ở các quốc gia nơi thiết chế pháp lý ngăn cản sự minh bạch hay không đáp ứng các chuẩn mực ngân hàng quốc tế thì HĐQT và Ban Giám đốc phải hiểu rõ mục đích, cơ cấu và các rủi ro chuyên biệt của các hoạt động này. Họ cũng phải tìm cách giảm nhẹ các rủi ro đã được xác định.

Nguyên tắc 14: Với việc công khai và minh bạch Basel quy định việc quản trị ngân hàng phải đảm bảo được tính minh bạch đối với cổ đông và các bên liên quan đến công ty

Tóm lại, tất cả 14 nguyên tắc nêu trên, Uỷ ban Basel quy định đều liên quan đến hoạt động quản trị ngân hàng, trong đó chú trọng và nhấn mạnh vai trò trách nhiệm của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần. Trong hoạt động quản trị ngân hàng mà đặc biệt là những người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần phải bám sát chặt chẽ vào 14 nguyên tắc cơ bản này để đưa ra các chiến lược, chính sách phù hợp nhằm đảm bảo, duy trì sự ổn định và phát triển bền vững của ngân hàng mà mình đang quản lý, điều hành. Đồng thời, khi xây dựng các chế định, các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện, đối với người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại thì Cơ quan quản lý nhà nước, nhà lập pháp phải dựa vào các nguyên tắc này để xây dựng pháp luật phù hợp với thông lệ quốc tế, từng bước nâng cao chất lượng của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần.

Việc không tuân thủ hoặc tuân thủ không nghiêm túc những nguyên tắc này một phần cũng gây nên những khủng hoảng trong hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần thời gian vừa qua như vấn đề nợ xấu, thanh khoản giảm… Chính vì vậy, trong thời gian tới, việc hoàn thiện pháp luật về hoạt động của thị trường tài chính tiền tệ nói chung và pháp luật về trách nhiệm của người quản lý người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần nói riêng cần chú ý vận dụng các nguyên tắc của Ủy ban Basel một cách linh hoạt, phù hợp với thực tiễn tại Việt Nam. Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm của người quản lý ngân hàng.

1.3. Điều chỉnh bằng pháp luật đối với các hoạt động quản lý, điều hành trong ngân hàng thương mại cổ phần 

Dù được tổ chức theo mô hình nào thì cơ cấu bộ máy quản trị, điều hành trong loại hình ngân hàng thương mại cổ phần về cơ bản bao gồm các cơ quan chính, đó là: ĐHĐCĐ, HĐQT, BKS và Ban điều hành. Đây là mô hình có tính chất phổ biến ở tất cả các nước trên thế giới. Tuy nhiên, về các quy định cụ thể thì từng nước có những quy định khác nhau nhất định, tùy theo hệ thống pháp luật, cách thức và mục tiêu quản lý của mỗi Nhà nước.

Ở Việt Nam, ngân hàng thương mại cổ phần được tổ chức và hoạt động trên cơ sở những quy định chung của Luật Doanh nghiệp về công ty cổ phần và những quy định cụ thể của LCTCTD 2017. Theo đó, các cơ quan quản lý ngân hàng thương mại cổ phần bao gồm: ĐHĐCĐ, HĐQT, BKS và Ban điều hành (Tổng giám đốc, giám đốc, kế toán trưởng, giám đốc chi nhánh…)

Trong các cơ quan chính của ngân hàng thương mại cổ phần thì ĐHĐCĐ là cơ quan quyết định cao nhất, có thẩm quyền bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên HĐQT và thành viên BKS; quyết định những vấn đề quan trọng nhất trong tổ chức, hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần trên cơ sở thống nhất ý chí của các cổ đông.

HĐQT là cơ quan quản trị ngân hàng thương mại cổ phần, có thẩm quyền quyết định các vấn đề có liên quan đến quyền lợi, mục đích của ngân hàng thương mại cổ phần, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của ĐHĐCD. HĐQT phải chịu trách nhiệm trước ĐHĐCĐ về kết quả hoạt động cũng như những sai phạm trong quản lý, điều hành, vi phạm điều lệ, vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho ngân hàng.

BKS trực thuộc Đại hội đồng cổ đông, thực hiện việc kiểm tra, giám sát hoạt động tài chính của ngân hàng.

Tổng giám đốc (Giám đốc) do HĐQT bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm, phải chịu trách nhiệm trước HĐQT. Tổng giám đốc thực hiện việc điều hành ngân hàng. Giúp việc cho Tổng giám đốc (Giám đốc) có các Phó Tổng giám đốc (Phó giám đốc), Kế toán trưởng và bộ máy chuyên môn nghiệp vụ. Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm của người quản lý ngân hàng.

Như đã phân tích, ngân hàng thương mại cổ phần là loại hình doanh nghiệp đặc thù nên việc tổ chức, quản lý, điều hành và các chức danh quản lý, điều hành hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần phải tuân thủ các quy định của pháp luật về Doanh nghiệp nói chung và LCTCTD. LCTCTD là văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh hoạt động của các tổ chức tín dụng được tổ chức dưới dạng một doanh nghiệp đặc thù. Theo đó, hoạt động quản lý, điều hành ngân hàng thương mại cổ phần phải đặt dưới sự giám sát của Ngân hàng nhà nước thông qua các công cụ pháp luật, mà cụ thể là LCTCTD và các văn bản áp dụng pháp luật do Chính Phủ và Ngân hàng Nhà nước ban hành. Không có một công cụ nào khác có thể thay thế việc quản lý hoạt động ngân hàng thương mại cổ phần bằng pháp luật, bởi tính chất đặc thù, sức ảnh hưởng vĩ mô đối với toàn bộ nền kinh tế của hoạt động kinh doanh tiền tệ. Điều này cũng đồng nghĩa với việc, mọi Điều lệ, Nghị quyết ĐHĐCĐ của các ngân hàng thương mại cổ phần về cơ cấu tổ chức quản lý, hoạt động quản trị Ngân hàng đều phải tuân thủ tuyệt đối LDN 2020, LCTCTD và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.

Đối với chi nhánh ngân hàng nước ngoài, cơ cấu tổ chức, quản trị điều hành sẽ do ngân hàng nước ngoài quyết định nhưng phải phù hợp với pháp luật Việt nam, trong đó có quy định của LCTCTD, đồng thời phải được NHNNVN chấp thuận trước khi thực hiện. Điều này không chỉ để bảo đảm cho các hoạt động ngân hàng nói chung, hoạt động của người quản lý, người điều hành trong ngân hàng thương mại cổ phần quy cũ và hiệu quả.

1.4. Mối quan hệ pháp lý giữa người quản lý, người điều hành với tổ chức bộ máy quản trị, điều hành Ngân hàng thương mại cổ phần

Những quyết sách, chiến lược của người quản lý người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần có tác động rất lớn đến sự ổn định và phát triển của bản thân ngân hàng đó. Từng vị trí của người quản lý, điều hành ngân hàng thương mại cổ phần có những nhiệm vụ, quyền hạn khác nhau nhưng tựu chung lại, hoạt động của các cá nhân này đều nhằm mục tiêu là đảm bảo ổn định hoạt động ngân hàng, an toàn và tuân thủ đúng pháp luật, tuân thủ điều lệ của ngân hàng, vì sự phát triển của ngân hàng và lợi ích của cổ đông. Do đó, mối quan hệ giữa người quản lý người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần với các cơ quan khác trong tổ chức quản trị ngân hàng đòi hỏi  tính biện chứng và khách quan, thể hiện ở các khía cạnh sau:

Thứ nhất, mối quan hệ giữa người quản lý, người điều hành với tổ chức quản trị nội bộ ngân hàng thương mại cổ phần thông qua hoạt động hàng ngày tại Ngân hàng. Công việc, nhiệm vụ và quyền hạn của của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần và các cơ quan tổ chức bộ máy quản trị điều hành là một chuỗi thống nhất, trong đó có sự phân công, phân cấp rõ ràng. HĐQT và CTHĐQT, TVHĐQT là các cơ quan, cá nhân hoạch định, quyết định các vấn đề có tính chất định hướng, chính sách, mục tiêu hoạt động và phát triển. Tổng giám đốc và các cơ quan còn lại là cơ quan điều hành hàng ngày của ngân hàng để thực hiện chủ trương, kế hoạch mà ĐHĐCĐ và HĐQT đề ra.

Thứ hai: Mối quan hệ trong kiểm tra, giám sát giữa các cơ quan quản trị, điều hành hoạt động ngân hàng thương mại cổ phần với người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại được thể hiện trên các mặt: với chức năng là cơ quan có thẩm quyền quyết định cao nhất của ngân hàng thương mại cổ phần, ĐHĐCĐ, thông qua các hoạt động như đánh giá sai phạm và quyết định hình thức xử lý đối với thành viên HĐQT, CTHĐQT. Việc xem xét, thông qua báo cáo của HĐQT, BKS cũng như việc bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên các cơ quan này đã thực hiện vai trò giám sát đối với hoạt động của thành viên HĐQT, thành viên BKS. Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm của người quản lý ngân hàng.

Thứ ba: người quản lý, người điều hành là các đối tượng chủ chốt vận hành bộ máy, tổ chức hoạt động đối với các cơ quan quản lý, điều hành ngân hàng thương mại cổ phần tuân thủ theo điều lệ ngân hàng và các quy định pháp luật có liên quan. Theo đó, Người quản lý, điều hành được trao quyền quản lý, điều hành thông qua điều lệ của ngân hàng thương mại cổ phần, trong đó Điều lệ ngân hàng thương mại P là “luật chơi” nội bộ của ngân hàng, trong đó có quy định rất rõ vai trò của trách nhiệm người quản lý, người điều hành đối với các cơ quan quản trị, điều hành khác trong nội tại ngân hàng. Ngoài điều lệ, thì trong mối quan hệ với các cơ quan quản trị ngân hàng khác, người quản lý, người điều hành phải thuân thủ nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông, đây là cơ quan có quyền quyết định cao nhất của ngân hàng, chủ sở hữu. Người quản lý, người điều hành phải thuân thủ nghị quyết này để điều hành hoạt động của ngân hàng.

Như vậy, để nâng cao chất lượng quản trị của hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần, một trong những yếu tố cần quan tâm đó là xây dựng được mối quan hệ giữa người quản lý, người điều hành với tổ chức bộ máy quản trị của ngân hàng thương mại cổ phần. Phải giải quyết được vấn đề họ là ai trong tổ chức, bộ máy đó; họ có mối quan hệ như thế nào; cá nhân, cơ quan, tổ chức nào sẽ kiểm soát, kiểm tra và giám sát họ trong quá trình thực hiện trách nhiệm của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Ở chương này, tác giả đi sâu vào phân tích các vấn đề lý luận về trách nhiệm của người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại cổ phần. Giải thích một số khái niệm chưa thống nhất về người quản lý, người điều hành ngân hàng thương mại. Nêu ra một số nguyên tắc quản trị, điều hành ngân hàng thương mại cổ phần. Làm rõ khái niệm và đặc điểm chuyên biệt về người quản lý, người điều hành của ngân hàng thương mại. Tìm hiểu về vai trò và trách nhiệm của người quản lý, người điều hành của ngân hàng thương mại cổ phần. Từ đó, đưa ra một cách nhìn toàn diện về lý luận đối với  người quản lý, người điều hành của ngân hàng thương mại cổ phần và từ các vấn đề lý luận này sẽ được đối chiếu với các quy định của pháp luật hiện hành nhằm đánh giá tính hơp lý của các quy định của pháp luật liên quan đến chế định này, tìm ra những bất cập, hạn chế và nêu ra giải pháp cụ thể khắc phục trong thời gian tới. Các nội dung này sẽ được nêu ra và tập trung phân tích ở chương tiếp theo của luận văn. Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm của người quản lý ngân hàng.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Luận văn: Thực trạng PL trách nhiệm người quản lý ngân hàng

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464