Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Quản lý nhà nước xây dựng nông thôn mới tại Đắk Nông hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Luận văn: Quản lý nhà nước về Xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Đắk R’lấp, tỉnh Đắk Nông dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp, nông dân và nông thôn là những vấn đề mang tầm chiến lược của cách mạng Việt Nam, có tầm quan trọng đặc biệt trong công cuộc giải phóng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chính vì vậy, các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải quyết đồng bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn không phải chỉ là nhiệm vụ của nông dân, ở khu vực nông thôn mà là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Tuy nhiên trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn huyện còn nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về Xây dựng nông thôn mới chưa được sáng tỏ.
Vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh, ở mỗi giai đoạn lịch sử của đất nước, đường lối phát triển kinh tế xã hội của Đảng ta đều xác định rõ vai trò, vị trí quan trọng hàng đầu của nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã xác định: ” Xây dựng nông thôn mới ngày càng giàu đẹp, dân chủ, công bằng, văn minh, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp, kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội phát triển ngày càng hiện đại”; Nghị quyết số 26-NQ/TW của Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa X xác định: “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội bền vững, gìn giữ ổn định chính trị, đảm bảo an ninh quốc phòng, gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước. Nông dân là chủ thể của quá trình phát triển; Xây dựng nông thôn mới là căn bản, phát triển toàn diện, hiện đại hóa nông nghiệp là khâu then chốt”[1, trang 2]. Tuy nhiên, những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế và chưa đồng đều giữa các địa phương. Nông nghiệp phát triển còn kém bền vững, tốc độ tăng trưởng có xu hướng giảm dần, sức cạnh tranh thấp (nhất là trong điều kiện biến đổi khí hậu ngày càng diễn ra nghiêm trọng), chưa phát huy tốt nguồn lực cho phát triển sản xuất; nghiên cứu, chuyển giao khoa học – công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế. Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới cách thức sản xuất trong nông nghiệp còn chậm, phổ biến vẫn là sản xuất nhỏ, phân tán; năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng nhiều mặt hàng thấp. Công nghiệp, dịch vụ và ngành nghề phát triển chậm, chưa thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động ở nông thôn. Các hình thức tổ chức sản xuất chậm đổi mới, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển mạnh sản xuất hàng hóa. Nông nghiệp và nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội còn yếu kém, môi trường ngày càng ô nhiễm; năng lực thích ứng, đối phó với thiên tai còn nhiều hạn chế. Ðời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao, nhất là vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa; chênh lệch giàu, nghèo giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng còn lớn, phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc.
Để phát triển nông thôn mới Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia Xây dựng nông thôn mới vào tháng 6 năm 2010[27]. Trong đó đã xác định 19 tiêu chí Quốc gia ứng vói 5 nhóm gồm 39 chỉ tiêu cụ thể. Đây là một chương trình phát triển tổng hợp cả về kinh tế, văn hóa, xã hội, phát huy quyền làm chủ của nhân dân và xây dựng hệ thống chính trị, bảo đảm quốc phòng an ninh, trật tự an toàn xã hội; bảo đảm cho sự phát triển bền vững của đất nước, góp phần thực hiện mục tiêu đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Luận văn: Quản lý nhà nước xây dựng nông thôn mới tại Đắk Nông.
Thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia Xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020 của Chính phủ, dưới sự chỉ đạo và hướng dẫn của Ủy ban nhân dân tỉnh Đăk Nông, tháng 12/2011 Ủy ban nhân dân huyện Đắk R’lấp đã lập Đề án Xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 – 2020. Trong giai đoạn này, với sự lãnh chỉ đạo quyết liệt của Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện, Chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới đã được cả hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở vào cuộc thực hiện đồng bộ và bước đầu đạt được những kết quả quan trọng: nhận thức, tư duy, hành động của cán bộ và nhân dân về Xây dựng nông thôn mới được nâng cao; tinh thần tự giác Xây dựng nông thôn mới trong cán bộ, nhân dân ngày càng thể hiện rõ nét; xuất hiện nhiều phong trào thi đua mạnh mẽ, rộng khắp trong toàn huyện, nhất là phong trào thi đua phát triển sản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn và xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, góp phần Xây dựng nông thôn mới…. Bước đầu làm thay đổi bộ mặt nông thôn, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân. Tuy nhiên, thực tế thực hiện chương trình còn không ít khó khăn, hạn chế như sản xuất nông nghiệp chưa ổn định, kết cấu hạ tầng các xã Xây dựng nông thôn mới còn thấp, một số tiêu chí đạt rất thấp như tiêu chí giao thông, y tế, môi trường, nhà ở dân cư, cơ sở vật chất văn hóa. Điều này đòi hỏi huyện cần phải tiếp tục có giải pháp phù hợp, đồng bộ hơn nhằm đẩy mạnh thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của địa phương.
Xuất phát từ tính cấp thiết và thực tiễn đã nêu trên, tác giả chọn vấn đề “Quản lý nhà nước về Xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Đắk R’lấp, tỉnh Đắk Nông” làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Quản Lý Công
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn là chủ đề đã, đang và sẽ thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều cơ quan lãnh đạo, quản lý, các cơ quan nghiên cứu khoa học và của nhiều học giả trong và ngoài nước. Vì vậy, sau khi nhận đề tài, tác giả đã thu thập được hơn 40 tài liệu. Nhìn chung các tài liệu đã công bố đều tập trung chủ yếu vào nghiên cứu phát triển kinh tế – xã hội, Xây dựng nông thôn mới ở tỉnh, huyện của các tỉnh khác, chứ chưa có công trình nghiên cứu về Xây dựng nông thôn mới cũng như quản lý nhà nước về Xây dựng nông thôn mới ở huyện Đắk R’lấp, tỉnh Đắk Nông. Điểm chung nhất những nghiên cứu của họ là sau khi phân tích thực tiễn quản lý nhà nước nói chung và việc thực thi chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn, các tác giả đều cố gắng gợi mở, nêu lên những kinh nghiệm để có thể vận dụng để giải quyết những vấn đề thực tiễn của Việt Nam về Xây dựng nông thôn mới. Dưới đây, tác giả xin khái quát kết quả tổng quát của mình như sau.
Trước hết phải kể đến Đề tài cấp nhà nước “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp khoa học và công nghệ về giao thông nông thôn, thủy lợi phù hợp với quy hoạch làng xã phục vụ Xây dựng nông thôn mới khu vực Tây Nguyên” thuộc Chương trình Khoa học công nghệ phục vụ Xây dựng nông thôn mới theo Quyết định số 452/QĐTTg của Thủ tướng Chính phủ, chủ nhiệm đề tài là PGS.TS Võ Kim Sơn. Đề tài khoa học hướng tới ba mục tiêu chính gồm: Đánh giá thực trạng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn, hệ thống thủy lợi nội đồng Khu vực Tây Nguyên đưa ra được các giải pháp khoa học và công nghệ phát triển giao thông nông thôn, hoàn thiện hệ thống thủy lợi nội đồng phù hợp với quy hoạch nông thôn mới Khu vực Tây Nguyên. Xây dựng các mô hình ứng dụng các giải pháp khoa học công nghệ phát triển giao thông nông thôn, hoàn thiện hệ thống thủy lợi nội đồng phù hợp cho các tiểu vùng của Khu vực Tây Nguyên. Nội dung chính của đề tài là đưa ra tổng quan kết quả nghiên cứu về các giải pháp KH&CN xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn, hệ thống thủy lợi nội đồng và quy hoạch đường liên xã phục vụ Xây dựng nông thôn mới từ đó phân tích, đánh giá thực trạng cơ sở hạ tầng thủy lợi, giao thông nông thôn khu vực Tây Nguyên. Dựa trên những kết quả phân tích đánh giá đề xuất các giải pháp KH&CN hoàn thiện hệ thống thủy lợi nội đồng, phát triển giao thông nông thôn phục vụ Xây dựng nông thôn mới khu vực Tây Nguyên của Nước ta hiện nay. Luận văn: Quản lý nhà nước xây dựng nông thôn mới tại Đắk Nông.
Công trình: “Một số vấn đề nông nghiệp, nông dân nông thôn ở các nước và Việt Nam” của tác giả Benedict J.tria Kerrkvliet, Jamesscott Nguyễn Ngọc và Đỗ Đức Định sưu tầm và giới thiệu, Nhà xuất bản Hà Nội ấn hành năm 2000. Trong công trình này, các tác giả đã nghiên cứu về vai trò, đặc điểm của nông dân, thiết chế nông thôn ở một số nước trên thế giới và những kết quả bước đầu trong nghiên cứu làng truyền thống ở Việt Nam. Những điểm đáng chú ý của công trình này có giá trị tham khảo cho việc giải quyết những vấn đề chính sách phát triển nông thôn nước ta hiện nay như: tương lai của các trang trại nhỏ; nông dân với khoa học; hệ tư tưởng của nông dân ở thế giới thứ ba; các hình thức sở hữu đất đai; những mô hình tiến hóa nông thôn ở các nước nông nghiệp trồng lúa… Đặc biệt lưu ý là những kết quả nghiên cứu của công trình về làng truyền thống ở Việt Nam; quan hệ làng xóm – Nhà nước ở Việt Nam trong quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế.
Công trình “Kinh nghiệm tổ chức quản lý nông thôn Việt Nam trong lịch sử” do GS. Phan Đại Doãn và PGS. Nguyễn Quang Ngọc làm chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia ấn hành năm 1994, là công trình nghiên cứu những vấn đề lịch sử trong phát triển nông thôn nước ta. Sau khi nêu lên sự quan tâm của Nhà nước trong các thời kỳ về quản lý làng xã và xây dựng thiết chế chính trị – xã hội nông thôn nước ta, các tác giả đã trình bày khá toàn diện về quản lý nông thôn nước ta trong lịch sử như vấn đề Nhà nước quản lý nông thôn trong các thế kỷ XVI – XVIII; nhà Nguyễn đối với vấn đề nông thôn thế kỷ XIX; phát triển nông thôn trong thời kỳ Pháp thuộc (1945 – 1954); cơ cấu quản lý hành chính làng xã Việt Nam từ 1954 – 1975. Công trình còn đề cập đến mô hình phát triển làng xã nông thôn Việt Nam ở các vùng cụ thể ở nước ta, nhất là ở Bắc bộ và Nam bộ. Công trình đã cung cấp những sử liệu rất có giá trị về vai trò của Nhà nước, tính cộng đồng và tính bền vững của mô hình làng xã Việt Nam; những nhân tố tác động đến việc hình thành thiết chế làng xã và mô hình hoạt động của chúng.
Công trình “Phát triển nông thôn” do GS. Phạm Xuân Nam (chủ biên) được Nxb Khoa học xã hội ấn hành năm 1997, là một công trình nghiên cứu chuyên sâu về phát triển nông thôn. Trong tác phẩm này, tác giả đã phân tích khá sâu sắc một số nội dung về phát triển kinh tế – xã hội nông thôn nước ta như dân số, lao động, việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, vấn đề sử dụng và quản lý nguồn lực tài nguyên thiên nhiên, vấn đề phân tầng xã hội và xóa đói giảm nghèo. Trong lúc phân tích những thành tựu, yếu kém và thách thức đặt ra trong phát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta các tác giả đã chỉ ra yêu cầu hoàn thiện hệ thống chính sách và cách thức chỉ đạo của Nhà nước trong quá trình vận động của nông thôn.
Bài viết của nguyên Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Trưởng Ban chỉ đạo Chương trình Mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới đăng trên Tạp chí Cộng sản số 94 năm 2014 với chủ đề: “Nhìn lại hơn 3 năm thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới: Kết quả và một số bài học kinh nghiệm”. Bài viết đã trình bày những kết quả quan trọng bước đầu trong hơn 3 năm thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới căn cứ và 19 tiêu chí của nông thôn mới. Đồng thời bài viết cũng khái quát những ưu điểm, hạn chế, vướng mắc từ các cấp chính quyền địa phương, cơ chế, chính sách, văn bản hướng dẫn thực hiện đến nguồn vốn đầu tư cho Chương trình, từ đó, đề xuất một số giải pháp chủ yếu tiếp túc đẩy mạnh thực hiện Chương trình Xây dựng nông thôn mới trong thời gian tiếp theo…
Công trình “XDNTM những vấn đề lý luận và thực tiễn” do tác giả Vũ Văn Phúc chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2012. Công trình là tập hợp các bài viết của các nhà khoa học, lãnh đạo các cơ quan Trung ương, địa phương, các ngành, các cấp về Xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam, gồm những vấn đề lý luận chung về Xây dựng nông thôn mới, kinh nghiệm quốc tế về Xây dựng nông thôn mới, thực tiễn và kết quả bước đầu trong Xây dựng nông thôn mới ở một số địa bàn trên phạm vi cả nước, đặc biệt là các địa bàn thí điểm Xây dựng nông thôn mới. Luận văn: Quản lý nhà nước xây dựng nông thôn mới tại Đắk Nông.
Cuốn sách“Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam sau hai mươi năm đổi mới – quá khứ và hiện tại” của tác giả Nguyễn Văn Bích, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2000. Cuốn sách này tác giả đã phân tích những sự thay đổi cơ bản trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp và đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội nông thôn Việt Nam sau hơn hai mươi năm đổi mới.
Công trình “Công nghiệp nông thôn Việt Nam – Thực trạng và giải pháp” của TS Nguyễn Văn Phúc được xuất bản năm 2004 bởi Nhà xuất bản chính trị Quốc gia Hà Nội. Công trình nói về những thành tựu to lớn trong quá trình phát triển công nghiệp nông thôn nước ta, những khó khăn cản trở, đồng thời đề ra các giải pháp khắc phục.
Bài viết “XDNTM là sự nghiệp cách mạng của Đảng ta” của tác giả Hồ Xuân Hùng đăng trên báo Nhân dân điện tử năm 2011. Bài viết nói về các giải pháp để phát triển cơ sở hạ tầng, chuyển dịch cơ cấu lao động, tăng thu nhập, tổ chức lại sản xuất, giải quyết các mâu thuẫn lớn ở nông thôn.
Cuốn sách về “Phát triển nông thôn” của TS Mai Thanh Cúc, TS Quyền Đình Hà được xuất bản bởi Trường Đại học nông nghiệp (năm 2005). Nội dung của cuốn sách là trình bày kiến thức nhập môn của môn học phát triển nông thôn, phát triển kinh tế nông thôn, phát triển cơ sở hạ tầng dịch vụ xã hội và môi trường nông thôn, vai trò của nhà nước và các tổ chức trong phát triển nông thôn, nghiên cứu phát triển nông thôn.
Tô Huy Rứa với công trình: “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong đổi mới ở Việt Nam – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” (năm 2011). Công trình khái quát cơ bản về nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong thời kỳ mới, đồng thời đưa ra những điều kiện thực tế để xây dựng một nền nông nghiệp hiện đại.
Đỗ Mai Thành với bài viết: “Vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam: Lý luận và thực tiễn”. Bài viết này được đăng trên Tạp chí Cộng sản năm 2012, nội dung của bài viết là nêu các quan điểm về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, áp dụng những quan điểm vào tình hình cụ thể của đất nước.
Phạm Thắng với bài viết: “Giải pháp nào cho sự phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn hiện nay”. Bài viết được đăng trên Tạp chí Cộng sản năm 2008 với nội dung đề cập đến thành tựu và những thách thức và giải pháp đối với quá trình phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn hiện nay.
Phạm Thắng với “Những chủ trương cơ bản của Đảng về nông dân, nông nghiệp, nông thôn”. Bài viết được đăng trên Tạp chí Cộng sản năm 2008, bài viết nói về tầm quan trọng của nhận thức đúng đắn nông nghiệp, nông thôn để có những giải pháp đạt nhiều thành tựu to lớn. Luận văn: Quản lý nhà nước xây dựng nông thôn mới tại Đắk Nông.
Ngoài ra, tác giả được tiếp cận nhiều tài liệu của các tác giả khác khi nghiên cứu về chủ đề này như đề tài “QLNN về chương trình Xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình” của Đinh Việt Dũng, Luận văn Thạc sỹ Hành chính công năm 2014. Đề tài “Nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng và đề xuất chính sách đặc thù cho việc xây dựng xã nông thôn mới bền vững ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ tỉnh Đắk Lắk” của Thạc sỹ Châu Thị Minh Long, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên năm 2015. Đề tài “QLNN về Xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ” của Nguyễn Thị Bích Lệ, Luận văn Thạc sỹ Quản lý công năm 2016.
Có thể nói cho đến thời điểm hiện tại, ở nước ta, các tác phẩm nghiên cứu về nông thôn mới chủ yếu là các đề tài nghiên cứu cấp nhà nước, các bài viết đăng trên tạp chí và các luận văn của các học viên tại các trường đại học, học viện nhưng chưa có sự đi sâu phân tích đối với hoạt động quản lý nhà nước trong Xây dựng nông thôn mới.
Nhìn chung các công trình đã được tổng quan, chủ yếu nghiên cứu về một số l nh vực hoặc khía cạnh nhất định nào đó đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn mà chưa đề cập cụ thể đến vấn đề nông thôn mới và xây dựng nông thôn mới. Đắk R’lấp là huyện có tốc độ phát triển kinh tế cao so với các huyện, thị khác trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, khu vực nông thôn vẫn còn chịu nhiều tác động của các yếu tố trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Do vậy, việc nghiên cứu đề tài “QLNN về Xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Đắk R’lấp, tỉnh Đắk Nông” là vấn đề mới, không trùng lắp với các công trình khác trước đó, đòi hỏi phải đầu tư nghiên cứu một cách khoa học, đồng bộ, sát với thực tế mới có thể đạt được mục đích và yêu cầu đề ra.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước đối với Xây dựng nông thôn mới và đối chiếu phân tích, đánh giá thực trạng về xây dựng nông thôn ở huyện Đắk R’lấp, tỉnh Đắk Nông để xác định những khó khăn, hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém cần khắc phục. Đồng thời căn cứ vào định hướng phát triển kinh tế – xã hội huyện đến 2020, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hơn hiệu quả quản lý nhà nước về Xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện, hướng tới mục tiêu phấn đấu hoàn thành 100% số xã trên địa bàn huyện đạt tiêu chí xã nông thôn mới theo hướng giữ vững và nâng cao hơn các tiêu chí theo chuẩn nông thôn mới tại các xã đã đạt chuẩn và được công nhận xã nông thôn mới[19].
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn sẽ tập trung thực hiện các nhiệm vụ cụ thể sau:
- Làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý nhà nước về Xây dựng nông thôn mới trong điều kiện Việt Nam để phục vụ cho việc nghiên cứu quản lý nhà nước đối với Xây dựng nông thôn mới ở huyện Đắk R’lấp, tỉnh Đắk Nông;
- Phân tích, đánh giá thực trạng và những vấn đề đang đặt ra trong công tác quản lý nhà nước về Xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Đắk R’lấp, qua đó thấy được những mặt được, mặt chưa được, nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém trong quản lý nhà nước về Xây dựng nông thôn mới tại huyện này.
- Đề xuất định hướng và các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về Xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Đắk R’lấp, tỉnh Đắk Nông đến năm 2020 và những năm tiếp theo.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài Luận văn: Quản lý nhà nước xây dựng nông thôn mới tại Đắk Nông.
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Xây dựng nông thôn mới và quản lý nhà nước về Xây dựng nông thôn mới ở huyện Đắk R’lấp, tỉnh Đắk Nông trên cơ sở xem xét việc triển khai thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về Xây dựng nông thôn mới (trong đó đặc biệt bám sát các tiêu chí và 5 nhóm chỉ tiêu về Xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận văn nghiên cứu cả lý luận và thực tiễn, cả hiện trạng và tương lai, cả định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về Xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Đắk R’lấp, tỉnh Đắk Nông.
- Về không gian: địa bàn huyện Đắk R’lấp, tỉnh Đắk Nông
- Về thời gian: Luận văn tiến hành nghiên cứu nội dung quản lý nhà nước về Xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Đắk R’lấp từ năm 2012 – 2017 và tầm nhìn tới 2020 và những năm tiếp theo.
5. Phương pháp tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Trong quá trình nghiên cứu tác giả tôn trọng hệ thống lý luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; hệ thống lý luận, quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các chủ trương, đường lối của Đảng về Chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới.
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:
Phương pháp phân tích hệ thống: được sử dụng để phân tích công việc quản lý nhà nước về Xây dựng nông thôn mới ở huyện Đắk R’lấp, tỉnh Đắk Nông;
Phương pháp phân tích thống kê: Sử dụng để phân tích các chỉ tiêu về Xây dựng nông thôn mới theo các tiêu chí và chỉ tiêu của Chương trình mục tiêu quốc gia về Xây dựng nông thôn mới của Nhà nước.
Phương pháp so sánh: sử dụng để so sánh kết quả, hiệu quả quản lý nhà nước về Xây dựng nông thôn mới ở huyện Đắk R’lấp, tỉnh Đắk Nông;
Phương pháp phân tích chính sách: sử dụng để phân tích các chính sách, giải pháp Xây dựng nông thôn mới ở huyện Đắk R’lấp, tỉnh Đắk Nông mà chính quyền huyện Đắk R’lấp đã thực thi trong thời gian vừa qua;
6. Ý nghĩa của đề tài
Đề tài có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn trên các mặt chủ yếu sau:
- Làm rõ nội dung, bản chất của Xây dựng nông thôn mới và quản lý nhà nước về Xây dựng nông thôn mới; đặc biệt cố gắng trình bày rõ về vấn đề đánh giá quản lý nhà nước về Xây dựng nông thôn mới.
- Làm rõ những mặt được, mặt chưa được và nguyên nhân của hạn chế, yếu kém trong quản lý nhà nước về Xây dựng nông thôn mới ở huyện Đắk R’lấp trong thời gian vừa qua.
- Đề xuất định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về Xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Đắk R’lấp.
- Luận văn có thể là tài liệu tham khảo bổ ích về quản lý nhà nước đối với Xây dựng nông thôn mới ở các huyện trong và ngoài tỉnh, có điều kiện, hoàn cảnh như huyện Đắk R’lấp, tỉnh Đắk Nông.
7. Kết cấu của đề tài Luận văn: Quản lý nhà nước xây dựng nông thôn mới tại Đắk Nông.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục; nội dung của luận văn được chia thành 3 chương:
- Chương 1. Cơ sở khoa học của quản lý nhà nước về Xây dựng nông thôn mới
- Chương 2. Thực trạng quản lý nhà nước về Xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Đắk R’lấp, tỉnh Đăk Nông
- Chương 3. Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về Xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Đắk R’lấp, tỉnh Đăk Nông
Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
1.1. Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về Xây dựng nông thôn mới
1.1.1. Một số khái niệm
1.1.1.1. Khái niệm thông thôn
Quan niệm “Nông thôn” thường đồng ngh a với làng, xóm, thôn. Theo các tài liệu nghiên cứu, “làng” là từ nôm, là tiếng nói dân dó, ngạn ngữ đời sống trong dân gian ăn sâu vào trong tâm lý, ý thức của người Việt. GS, TS Hoàng Chí Bảo trong công trình nghiên cứu về “Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn nước ta hiện nay” cũng cho rằng làng Việt vốn hình thành một cách tự nhiên, ra đời không qua bàn tay nhào nặn của chính quyền Trung ương, mang nét đặc trưng riêng; cùng với sự thay đổi của các triều đại trị vì trong lịch sử mà tên gọi của làng cũng khác nhau: “làng” cũng gọi là “thôn” hoặc “làng xóm”, cũng có khi làng cũng chính là “xóm”.
Làng – xóm là một cộng đồng địa vực, có ranh giới lãnh thổ tự nhiên và hành chính xác định. Làng là một đơn vị tự cấp, tự túc về kinh tế. Làng xóm vừa có ruộng, có nghề, có chợ tạo thành một không gian khép kín thống nhất. Làng – xóm là một cộng đồng tương đối độc lập về phong tục tập quán văn hoá. Làng – xóm cũng là một đơn vị tự trị về chính trị [13].
Về mặt địa lý tự nhiên, nông thôn là một địa bàn rộng lớn tạo thành các vành đai bao quanh thành thị.
Về kinh tế, nông thôn là địa bàn hoạt động chủ yếu của các ngành sản xuất vật chất nông – lâm – ngư ngiệp. Ngoài ra nó còn có các ngành nghề phi nông nghiệp như: công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ.
Về tổ chức xã hội – cơ cấu dân cư, ở nông thôn chủ yếu là nông dân và gia đình họ với mật độ dân cư thấp. Ngoài ra, có một số người làm việc ở nông thôn nhưng sống ở đô thị; một số người làm việc ở đô thị, sống ở nông thôn.
Về văn hóa, nông thôn là nơi bảo tồn, lưu giữ các di sản văn hóa truyền thống chủ yếu của dân tộc như: phong tục, tập quán cổ truyền, các ngành nghề truyền thống, các di tích lịch sử.
Trình độ dân trí, khoa học công nghệ, và kết cấu hạ tầng của cộng đồng dân cư nông thôn thường thấp kém, thua xa so với đô thị. Luận văn: Quản lý nhà nước xây dựng nông thôn mới tại Đắk Nông.
Ngày nay, khái niệm “nông thôn” đã mở rộng nội hàm so với “làng”, “bao gồm cả những thị trấn mà sự tồn tại và phát triển của nó phụ thuộc vào nông nghiệp, gắn với nông thôn và bảo đảm các dịch vụ cần thiết cho dân cư ở nông thôn”.
Theo Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4//2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, thì: Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn, được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã. Đặc điểm vùng nông thôn nước ta gắn liền với các loại hình lao động, sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp với tuyệt đại đa số dân cư sinh sống bằng một loại hình lao động, bởi vậy diện mạo các vùng nông thôn rất ít có sự thay đổi nhất là về phương diện kinh tế – xã hội [23].
1.1.1.2. Khái niệm về nông thôn mới
Nông thôn mới, trước tiên nó phải là nông thôn, không phải là thị tứ, thị trấn, thị xã, thành phố và khác với nông thôn truyền thống hiện nay. nông thôn mới là một vùng nông thôn có nền sản xuất tiếp thu được những thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại mà vẫn giữ đựơc nét đặc trưng, tinh hoa văn hóa của nông thôn truyền thống. Hiện nay, chưa có một định ngh a chính thức về nông thôn mới. Tuy nhiên có thể hiểu: “Mô hình nông thôn mới là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được xây dựng trên cơ sở nông thôn cũ (truyền thống, đã có) nhưng mang tính tiên tiến về mọi mặt” –Theo PGS –TS Phan Xuân Sơn, “xây dựng mô hình nông thôn mới ở nước ta hiện nay” (đăng trên Tạp chí cộng sản năm 2008), có thể khái quát gọn theo các nội dung cơ bản sau [21]:
- Thứ nhất, đó là làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; đảm bảo không gian nông thôn phải mang đặc trưng nông thôn với khuôn viên, cảch quan của làng xã, của hộ gia đình nông thôn.
- Thứ hai, sản xuất phải phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hoá; thu nhập đảm bảo, công ăn việc làm ổn định, không có hộ nghèo đói.
- Thứ ba, đời sống về vật chất và tinh thần của dân nông thôn ngày càng được nâng cao.
- Thứ tư, bảo vệ và phát triển tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ và phát triển môi trường, bảo tồn và khai thác cảnh quan tự nhiên, duy trì cân bằng sinh thái.
- Thứ năm, bản sắc văn hoá dân tộc được giữ gìn và phát triển, trong đó, bảo tồn và phát triển các di sản văn hoá truyền thống của các dân tộc.
- Thứ sáu, xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ.
Nói tóm lại: nông thôn mới là nông thôn trong đó đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao, giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị. Nông dân được đào tạo, tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến, có bản l nh chính trị vững vàng, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới. nông thôn mới có kinh tế phát triển toàn diện, bền vững, cơ sở hạ tầng được xây dựng đồng bộ, hiện đại, phát triển theo quy hoạch, gắn kết hợp lý giữa nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ và đô thị. Nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, môi trường sinh thái được bảo vệ. Sức mạnh của hệ thống chính trị được nâng cao, đảm bảo giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội.
1.1.1.3. Khái niệm về Xây dựng nông thôn mới
Xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện; có nếp sống văn hóa, môi trường và an ninh nông thôn được bảo đảm, thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao. Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng của toàn đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị. nông thôn mới không chỉ là vấn đề kinh tế, xã hội, mà là vấn đề kinh tế, chính trị tổng hợp. Xây dựng nông thôn mới giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích cực, chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh.
1.1.2. Sự cần thiết phải Xây dựng nông thôn mới Luận văn: Quản lý nhà nước xây dựng nông thôn mới tại Đắk Nông.
Việc Xây dựng nông thôn mới nhằm phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế của quê hương, đất nước trong giai đoạn mới. Sau hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn. Tuy nhiên, nhiều thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế.
Nông nghiệp phát triển còn kém bền vững, sức cạnh tranh thấp, chuyển giao khoa học công nghệ và đạo tạo nguồn nhân lực còn hạn chế.
Nông nghiệp, nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng như giao thông, thủy lợi, trường hoc, trạm y tế…còn yếu kém, môi trường ngày càng ô nhiễm.
Đời sống vật chất, tinh thần của người dân còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao, chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị còn lớn, phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc…
Không thể có một nước công nghiệp nếu nông nghiệp và nông thôn còn lạc hậu và đời sống nhân dân còn thấp. Vì vậy, Xây dựng nông thôn mới là một trong những nhiệm vụ quan trọng và hết sức cần thiết với nước ta hiện nay.
1.1.3. Đặc điểm Xây dựng nông thôn mới
Khi nghiên cứu quản lý xã hội đối với Xây dựng nông thôn mới, cần phải nhận thức rõ mục tiêu, đặc điểm, bản chất, chức năng của hoạt động Xây dựng nông thôn mới. Qua đó, thấy được vai trò của Xây dựng nông thôn mới trong quá trình phát triển, cũng như xác định được vai trò, nội dung quản lý của xã hội đối với Xây dựng nông thôn mới. Các yêu cầu Xây dựng nông thôn mới là:
Một là, tính kinh tế
Phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả bền vững trên cơ sở phát huy những lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới. Xây dựng nông thôn có nền sản xuất hàng hoá mở, hướng đến thị trường và giao lưu, hội nhập. Để đạt được điều đó, kết cấu hạ tầng của nông thôn phải hiện đại, tạo điều kiện cho mở rộng sản xuất giao lưu buôn bán. Thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn phát triển nhanh, khuyến khích mọi người tham gia vào thị trường, hạn chế rủi ro cho nông dân, điều chỉnh, giảm bớt sự phân hoá giàu nghèo, chênh lệch về mức sống giữa các vùng, giữa nông thôn và thành thị, đời sống vật chất và tinh thần của dân cư nông thôn được nâng cao. Sản xuất hàng hoá có chất lượng cao, mang nét độc đáo, đặc sắc của từng vùng, địa phương.
Hai là, tính văn hóa – xã hội Luận văn: Quản lý nhà nước xây dựng nông thôn mới tại Đắk Nông.
Nông thôn phát triển theo quy hoạch, cơ cấu hạ tầng, kinh tế, xã hội hiện đại, môi trường sinh thái được bảo vệ; các giá trị truyền thống làng xã được phát huy tối đa, tạo ra bầu không khí tâm lý xã hội tích cực, bảo đảm trạng thái cân bằng trong đời sống kinh tế – xã hội ở nông thôn, giữ vững an ninh trật tự xã hội,…nhằm hình thành môi trường thuận lợi cho sự phát triển kinh tế nông thôn. Xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư, giúp nhau xoá đói giảm nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng. Người nông dân có cuộc sống ổn định, giàu có, trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật và tay nghề cao, lối sống văn minh hiện đại nhưng vẫn giữ được những giá trị văn hoá, bản sắc truyền thống “tắt lửa tối đèn” có nhau, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tham gia tích cực mọi phong trào chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng, đối ngoại…nhằm vừa tự hoàn thiện bản thân, nâng cao chất lượng cuộc sống của mình, vừa góp phần xây dựng quê hương văn minh giàu đẹp.
Ba là, tính dân chủ
Dân chủ nông thôn được mở rộng và đi vào thực chất. Người dân và cộng đồng phát huy vai trò làm chủ trong quá trình giám sát, đánh giá hoạt động thực thi các dự án đầu tư tại địa phương. Các chủ thể nông thôn (lao động nông thôn, chủ trang trại, hộ nông dân, các tổ chức phi chính phủ, nhà nước, tư nhân…) có khả năng, điều kiện và trình độ để tham gia tích cực vào các quá trình ra quyết định về chính sách phát triển nông thôn; thông tin minh bạch, thông suốt và hiệu quả giữa các tác nhân có liên quan; phân phối công bằng. Người nông dân thực sự “được tự do và quyết định trên luống cày và thửa ruộng của mình”, lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh làm giàu cho mình, cho quê hương theo đúng chủ trương đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Phát huy dân chủ với tinh thần thượng tôn pháp luật, gắn lệ làng, hương ước với pháp luật để điều chỉnh hành vi con người, đảm bảo tính pháp lý, tôn trọng kỷ cương phép nước, phát huy tính tự chủ của làng xã. Phát huy tối đa Quy chế Dân chủ ở cơ sở, tôn trọng hoạt động của các hội, đoàn thể, các tổ chức hiệp hội vì lợi ích cộng đồng, nhằm huy động tổng lực vào Xây dựng nông thôn mới.
Bốn là, tính phối hợp
Xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; cấp ủy đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch, đề án, kế hoạch và tổ chức thực hiện. Đây là công việc mới, vừa làm vừa thí điểm rút kinh nghiệm, do đó, sự phối hợp giữa các sở, ngành, các đơn vị, mặt trận và đoàn thể, giữa Ban chỉ đạo các cấp và Ban quản lý cấp xã phải chặt chẽ, đồng bộ để hạn chế những thiếu sót. Căn cứ vào đặc điểm tình hình cụ thể, lợi thế và nhu cầu thiết thực của địa phương, của người dân để chọn nội dung nào làm trước, nội dung nào làm sau. Phân công, phân cấp trong quản lý nhưng cần có sự chỉ đạo tập trung cụ thể, liên tục và huy động sự tham gia của toàn hệ thống chính trị và Ban chỉ đạo các cấp trong công tác phối hợp, kiểm tra, giám sát các hoạt động quản lý Xây dựng nông thôn mới nhằm thúc đẩy thực hiện một cách hiệu quả.
Năm là, tính định hướng
Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn, chính sách, cơ chế hỗ trợ, đào tạo cán bộ và hướng dẫn thực hiện. Các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng người dân tại địa phương bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện. Trên tinh thần đó, các chính sách kinh tế – xã hội sẽ tạo hiệu ứng tổng thể nhằm xây dựng mô hình nông thôn mới. Bên cạnh đó, nhà nước thực hiện thí điểm tại một số xã làm cơ sở để nhân rộng cho các xã còn lại, nhằm xây dựng thành công mô hình nông thôn mới xã hội chủ nghĩa. Luận văn: Quản lý nhà nước xây dựng nông thôn mới tại Đắk Nông.
Sáu là, tính đa dạng
Xây dựng nông thôn mới phải huy động tổng hợp các nguồn lực: vốn cộng đồng, vốn doanh nghiệp, các tổ chức tín dụng xã hội, vốn nhà nước. Vốn nhà nước chỉ đầu tư cho các công trình thiết yếu, có sức lan tỏa, tạo động lực, tạo niềm tin cho người dân và toàn xã hội tham gia. Huy động nguồn lực từ cộng đồng là quyết định, sự tham gia của doanh nghiệp và xã hội là quan trọng, sự hỗ trợ từ ngân sách nhà nước là cần thiết. Bên cạnh đó, đa dạng hình thức sở hữu, trong đó chú ý xây dựng mới các hợp tác xã theo mô hình kinh doanh đa ngành. Hỗ trợ các hợp tác xã ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ phù hợp với các phương án sản xuất kinh doanh, phát triển ngành nghề ở nông thôn.
1.1.4. Nội dung về Xây dựng nông thôn mới
So với trước đây xây dựng nông thôn thường thông qua các chương trình hay dự án, mới chỉ giải quyết một số khía cạnh riêng lẻ ở nông thôn thì Xây dựng nông thôn mới là phát triển nông thôn một cách toàn diện bao gồm 5 nội dung với 19 tiêu chí cụ thể sau:
Một là, về quy hoạch: Tiêu chí 1. Quy hoạch và thực hiện quy hoạch (có quy hoạch sử dụng đất; quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội – môi trường; quy hoạch phát triển các khu dân cư).
Hai là, về hạ tầng kinh tế kỹ thuật, gồm: Tiêu chí 2. Giao thông (tỷ lệ 100% km đường trục xã, liên xã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ Giao thông vận tải; tỷ lệ từ 70% km đường trục thôn, xóm được cứng hóa đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ Giao thông vận tải; tỷ lệ 100% km đường ngõ, xóm sạch và không lầy lội vào mùa mưa; Tiêu chí 3. Thủy lợi (hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất và dân sinh; tỷ lệ từ 65% km kênh mương do xã quản lý được kiên cố hóa). Tiêu chí 4. Điện (tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên, an toàn); Tiêu chí 5. Trường học (các trường đạt chuẩn quốc gia); Tiêu chí 6. Cơ sở vật chất văn hóa (có khu thể thao, nhà văn hóa xã, thôn); Tiêu chí 7. Chợ nông thôn (đạt chuẩn của Bộ Xây dựng); Tiêu chí 8. Bưu điện (có điểm bưu điện, internet); Tiêu chí 9. Nhà ở dân cư (không có nhà tạm, nhà dột nát; tỷ lệ hộ có nhà đạt chuẩn của Bộ Xây dựng).
Ba là, về kinh tế và tổ chức sản xuất, gồm Tiêu chí 10. Thu nhập (thu nhập bình quân đầu người/năm cao hơn trung bình 1,4 lần so với mức bình quân chung); Tiêu chí 11. Hộ nghèo (tỷ lệ hộ nghèo chung thấp hơn 6%); Tiêu chí 12. Cơ cấu lao động (tỷ lệ lao động trong độ tuổi làm việc trong l nh vực nông, lâm, ngư nghiệp trung bình thấp hơn 30%); Tiêu chí 13. Hình thức tổ chức sản xuất (có tổ hợp tác, Hợp tác xã).
Bốn là, về văn hóa – xã hội, môi trường, gồm Tiêu chí 14. Giáo dục (đạt phổ cập giáo dục trung học; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp Trung học cơ sở tiếp tục học Trung học phổ thông, bổ túc, học nghề đạt 85%; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt trên 35%); Tiêu chí 15. Y tế (trạm y tế đạt chuẩn; tỷ lệ người dân tham gia các bảo hiểm y tế đạt từ 30% trở lên); Tiêu chí 16. Văn hóa (có từ 70% số thôn, bản trở lên đạt tiêu chuẩn làng văn hóa theo quy định của Bộ Văn hóa – Thể thao – Du lịch); Tiêu chí 17. Môi trường (tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch đạt chung là 85%; các cơ sở sản xuất đạt tiêu chuẩn chung về môi trường; không có các hoạt động suy giảm môi trường và có các hoạt động phát triển môi trường xanh, sạch, đẹp; nghĩa trang xây dựng theo quy hoạch; chất thải được thu gom và xử lý).
Năm là, về hệ thống chính trị, gồm: Tiêu chí 18. Hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh (cán bộ xã đạt chuẩn; có đủ các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở theo quy định; Đảng bộ, chính quyền xã đạt tiêu chuẩn “Trong sạch, vững mạnh”; các tổ chức chính trị của xã đều đạt danh hiệu tiến tiến trở lên); Tiêu chí 19. An ninh, trật tự xã hội (an ninh, trật tự xã hội được giữ vững).
1.2. Quản lý nhà nước về Xây dựng nông thôn mới Luận văn: Quản lý nhà nước xây dựng nông thôn mới tại Đắk Nông.
1.2.1. Một số khái niệm
1.2.1.1. Khái niệm về quản lý nhà nước
Theo nghĩa rộng: quản lý nhà nước là sự chỉ huy, điều hành của các cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp và tư pháp) để thực thi quyền lực Nhà nước, thông qua các văn bản quy phạm pháp luật.
Theo nghĩa hẹp: quản lý nhà nước chủ yếu là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi của con người theo pháp luật, nhằm đạt được những mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ quản lý nhà nước. Đồng thời các cơ quan nhà nước còn thực hiện các hoạt động có tính chấp hành, điều hành, hành chính nhà nước nhằm xây dựng, tổ chức bộ máy và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình [10].
Từ những điểm chung của các quan niệm trên, tác giả cho rằng, quản lý nhà nước là hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước của các cơ quan trong bộ máy nhà nước nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước trên cơ sở các quy luật phát triển xã hội, nhằm mục đích ổn định và phát triển đất nước. Nói cách khác, quản lý nhà nước là việc Cơ quan nhà nước sử dụng bộ máy, công cụ của mình để thực hiện chức năng quản lý toàn diện đối với các hoạt động phát triển kinh tế – xã hội – môi trường – an ninh quốc phòng trên một địa bàn cụ thể theo luật định.
1.2.1. 2. Khái niệm quản lý nhà nước về Xây dựng nông thôn mới
Từ khái niệm “quản lý nhà nước” và khái niệm “NTM”, có thể hiểu quản lý nhà nước về Xây dựng nông thôn mới chính là việc Nhà nước thực hiện vai trò của mình thông qua việc hoạch định chiến lược, xây dựng các chính sách, kế hoạch và triển khai thực hiện các chương trình hỗ trợ nhằm tác động tới sự phát triển kinh tế – xã hội của khu vực nông thôn, làm cho nông thôn phát triển toàn diện và đồng bộ, có kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội hiện đại; làng xã văn minh, sạch đẹp; sản xuất phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hoá; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị vững mạnh và được tăng cường; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất, tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nói cách khác, quản lý nhà nước về Xây dựng nông thôn mới là hoạt động tổ chức, điều hành của cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương nhằm thực hiện mục tiêu Xây dựng nông thôn mới; là tập hợp tất cả các hoạt động các cơ quan nhà nước tác động vào khu vực nông nghiệp, nông thôn, nông dân nhằm hướng đến sự phát triển bền vững của nền kinh tế và đảm bảo cho cuộc sống của người dân ngày càng tốt đẹp hơn. Luận văn: Quản lý nhà nước xây dựng nông thôn mới tại Đắk Nông.
QLNN về Xây dựng nông thôn mới là việc cơ quan nhà nước thực thiện chức năng quản lý của mình đối với hoạt động Xây dựng nông thôn mới để đổi mới bộ mặt kinh tế – xã hội – môi trường ở khu vực nông thôn nhằm cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của người dân và từng bước hình thành xã hội văn minh ở nông thôn.
1.2.2. Vai trò quản lý nhà nước về Xây dựng nông thôn mới
Tạo ra sự thống nhất nhận thức, tư duy, hành động để hoàn thành chủ trương Xây dựng nông thôn mới ở nước ta. Xây dựng nông thôn mới là vấn đề rộng lớn, phức tạp và mang tính lâu dài liên quan đến nhiều bộ ngành và các địa phương, đòi hỏi phải có sự tham gia của cả hệ thống chính trị và người dân, do vậy Nhà nước giữ vai trò lãnh đạo, chỉ đạo, điều phối, phối hợp giữa các bên liên quan trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện; kiểm tra giám sát tất cả các hoạt động liên quan nhằm đạt hiệu quả và các mục tiêu đề ra. Đồng thời, thực hiện việc kiểm tra. thanh tra, giám sát các hoạt động xây dựng nông thôn mới trên phạm vi cả nước.
Hướng dẫn định hướng phát triển sản xuất; hỗ trợ tiêu thụ nông sản và huy động nhiều nguồn vốn để xây dựng nông thôn mới một cách hiệu quả. – Định hướng trong đầu tư công, thực hiện các chính sách đảm bảo về an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo, nâng cao các mặt đời sống của người dân vùng nông thôn thông qua thực lực kinh tế nhà nước, vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước và huy động các thành phần kinh tế khác cùng tham gia. Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu tài sản quốc gia sẽ có chức năng quản lý, phân bổ nguồn lực của đất nước, cung cấp những dịch vụ hàng hóa công mà thị trường tự do không đảm trách được, thông qua đó xóa bỏ chênh lệch giữa khu vực thành thị với nông thôn, kiểm soát và khai thác hiệu quả tài nguyên cho sản xuất nông nghiệp, phát triển kinh tế khu vực nông thôn.
Nhà nước can thiệp để kiểm soát xã hội nông thôn thông qua hoạch định ban hành những cơ chế, chính sách, tạo hành lang khung pháp lý nhằm tối đa hóa phúc lợi của xã hội và hướng đến việc kích thích tăng trưởng kinh tế vùng nông thôn, đồng thời với chuyển đổi nền tảng sản xuất của xã hội nông thôn, chăm lo thực hiện các chính sách về văn hoá, giáo dục, môi trường, y tế cho người dân vùng nông thôn.
1.2.3. Nội dung quản lý nhà nước về Xây dựng nông thôn mới
Công tác quản lý nhà nước trong quá trình Xây dựng nông thôn mới phải xác định là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; cấp ủy đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch, đề án, kế hoạch và tổ chức thực hiện. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị, xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong Xây dựng nông thôn mới cùng tham gia chung sức thực hiện từ khâu lập đề án, quy hoạch, kiểm tra, giám sát đến triển khai, tham gia và hưởng thụ. Nội dung quản lý nhà nước về Xây dựng nông thôn mới bao gồm nội dung sau:
1.2.3.1.Công tác chỉ đạo, điều hành Xây dựng nông thôn mới
Định hướng quy hoạch, thực hiện quy hoạch tạo cơ sở cho các tổ chức, nhân dân thực hiện các hoạt động nhằm đạt được các tiêu chí trong Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới, đảm bảo tối đa lợi ích cho toàn xã hội.
Để có mô hình nông thôn mới mang tính kế thừa và bổ sung, phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vấn đề quy hoạch được đặt lên hàng đầu, trở thành tiêu chí đầu tiên. Nếu quy hoạch không đi trước một bước và không có chất lượng thì Xây dựng nông thôn mới sẽ gặp khó khăn và không đi đến đích, từ đó vấn đề quy hoạch nông thôn mới là khâu quan trọng, có ý ngh a quyết định trong vấn đề Xây dựng nông thôn mới. Tiêu chí quy hoạch thể hiện tính hợp lý trong sắp xếp, bố trí các khu vực nông thôn, đảm bảo kết cấu hạ tầng nông thôn được bền vững. Việc quy hoạch bao gồm: quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ; quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế – xã hội – môi trường; phát triển và chỉnh trang các khu dân cư hiện có trên địa bàn xã.
Đồng thời, trong quá trình thực hiện Xây dựng nông thôn mới theo Bộ tiêu chí Quốc gia sẽ có sự linh động, điều chỉnh sao cho phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của đất nước và từng thời kỳ.
- Xác định xây dựng nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, đồng thời đẩy phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn. Luận văn: Quản lý nhà nước xây dựng nông thôn mới tại Đắk Nông.
- Xác định nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn, nhất là vùng khó khăn.
- Xác định mục tiêu xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội nông thôn gắn với phát triển các đô thị trong từng thời kỳ được xác định trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội và được thể hiện trong kế hoạch cụ thể.
- Xác định thứ tự ưu tiên các mục tiêu.
- Xác định các giải pháp để đạt được mục tiêu.
Để thực hiện chức năng của nhà nước về Xây dựng nông thôn mới nhà nước ta đã thông qua chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, các chương trình mục tiêu và các dự án ưu tiên phát triển kinh tế – xã hội…
Để thực hiện định hướng phát triển nhà nước cần tiến hành:
- Phân tích, đánh giá thực trạng của hoạt động Xây dựng nông thôn mới, những nhân tố trong nước và quốc tế có ảnh hưởng đến quá trình thực hiện các tiêu chí trong Bộ tiêu chí Quốc gia về Xây dựng nông thôn mới.
- Dự báo chiều hướng phát triển nông nghiệp, nông thôn.
- Hoạch định Xây dựng nông thôn mới gồm: hoạch định đường lối phát triển, hoạch định chính sách, chương trình mục tiêu và dự án để phát triển nông thôn.
1.2.3.2. Ban hành cơ chế và văn bản thực hiện quản lý nhà nước về Xây dựng nông thôn mới
Trước hết, cần nhận thức rõ về chính sách phát triển. Hiểu một cách khái quát chính sách là hành động có mục đích của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thông qua việc ban hành một tập hợp các quyết định, những văn bản có liên quan với nhau để thực hiện một mục tiêu nào đó. Cơ chế là cách thhức để quản lý, điều hành, xây dựng các mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức thực hiện chương trình đề ra. Trong Xây dựng nông thôn mới, các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện nghiên cứu xây dựng, ban hành, sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách nhằm cụ thể hóa và hỗ trợ thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới dựa trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật và những hướng dẫn, chỉ đạo của Trung ương. Những cơ chế, chính sách về Xây dựng nông thôn mới được các địa phương tập trung thực hiện nhằm thu hút sự tham gia của các tổ chức, cá nhân, thành phần kinh tế đầu tư phát triển vùng nông thôn như: hỗ trợ phát triển các ngành nghề; chuyển giao khoa học công nghệ; nguyên vật liệu, máy móc phục vụ phát triển sản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng; quảng bá thương hiệu; hỗ trợ chi phí đào tạo, thu hút cán bộ có trình độ đại học, cao đẳng về công tác tại các xã,… bảo đảm phát triển hài hòa giữa các mục tiêu về kinh tế – xã hội và an ninh – quốc phòng để người dân khu vực nông thôn được hưởng đầy đủ các chế độ phúc lợi xã hội.
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 05 quyết định về cơ chế, chính sách thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới; các bộ, ngành Trung ương ban hành 05 quyết định và 52 Thông tư hướng dẫn thực hiện các cơ chế, chính sách, nội dung chương trình Xây dựng nông thôn mới. Vận dụng các cơ chế, chính sách của Trung ương, các tỉnh, thành phố cũng đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách nhằm đẩy nhanh Chương trình Xây dựng nông thôn mới tại các xã trên địa bàn.
1.2.4.3. Tổ chức, bộ máy quản lý nhà nước về Xây dựng nông thôn mới
Đây là yếu tố cơ bản, có vai trò quan trọng quyết định sự thành bại của việc triển khai thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới. Chính phủ và các bộ, ngành đã xây dựng hệ thống các văn bản hướng dẫn các địa phương thành lập tổ chức bộ máy quản lý, chỉ đạo Xây dựng nông thôn mới ở các cấp. Dựa vào những hướng dẫn trên, các địa phương đã xem xét, lựa chọn bố trí nhân sự để tham gia vào các Ban chỉ đạo các cấp và Ban quản lý Xây dựng nông thôn mới. Hiện nay, cơ cấu tổ chức bộ máy từ Trung ương đến cơ sở được tổ chức như sau [24]:
- Ở Trung ương có Ban chỉ đạo và Thường trực Ban chỉ đạo Chương trình Mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới do Phó Thủ tướng Chính phủ làm Trưởng ban. Thường trực Ban chỉ đạo Trung ương cũng đã ban hành quyết định thành lập Văn phòng Điều phối của Trung ương. Luận văn: Quản lý nhà nước xây dựng nông thôn mới tại Đắk Nông.
- Cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có Ban chỉ đạo do Bí thư tỉnh/thành ủy hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh/thành phố làm Trưởng ban. Ban chỉ đạo các tỉnh, thành đều thành lập Bộ phận giúp việc theo một trong 03 hình thức (Ban Xây dựng nông thôn mới hoặc Văn phòng điều phối hoặc Ban chỉ đạo).
- Cấp huyện có Ban chỉ đạo do đồng chí Bí thư huyện ủy hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện làm Trưởng ban. Bộ phận giúp việc đặt trong phòng Nông nghiệp huyện.
- Cấp xã có Ban chỉ đạo do đồng chí Bí thư Đảng ủy xã làm Trưởng ban vàBan quản lý Xây dựng nông thôn mới do đồng chí Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã làm Trưởng ban.
BCĐ các cấp có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch và nhu cầu kinh phí thực hiện chương trình, đồng thời chỉ đạo các ngành, đơn vị cùng cấp xây dựng, hoàn thiện và hướng dẫn các cơ chế chính sách liên quan đến Xây dựng nông thôn mới.
Ngày 04/11/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1996/QĐ-TTg về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức và biên chế Văn phòng điều phối giúp việc Ban chỉ đạo thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới các cấp. Theo quyết định này, Văn phòng điều phối sẽ được thành lập thống nhất, đồng bộ ở 03 cấp Trung ương, tỉnh và huyện. Văn phòng có chức năng giúp Ban chỉ đạo cùng cấp quản lý và tổ chức thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới. Quyết định cũng quy định mỗi xã được bố trí 01 công chức chuyên trách về nông nghiệp, Xây dựng nông thôn mới (hiện tại các địa phương đang tiến hành cơ cấu tổ chức lại bộ máy theo hướng dẫn).
Ngoài việc thành lập tổ chức bộ máy quản lý Xây dựng nông thôn mới, cơ quan nhà nước các cấp còn thường xuyên mở các lớp tập huấn, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác Xây dựng nông thôn mới. Thời gian qua, đội ngũ cán bộ lãnh đạo và cán bộ tham mưu phụ trách Xây dựng nông thôn mới nhiều địa phương đã được quan tâm kiện toàn, thường xuyên được đào tạo, bồi dưỡng có bước trưởng thành, trình độ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ (85% số xã đạt tiêu chí về cán bộ).
1.2.4.4. Tuyên truyền, vận động Xây dựng nông thôn mới
Xây dựng nông thôn mới là chương trình lớn, phức tạp lần đầu tiên được thực hiện ở nước ta, do vậy các cấp ủy Đảng, chính quyền phải làm tốt công tác tuyên truyền, vận động người dân và các thành phần kinh tế cùng tham gia. Tuyên truyền, vận động là việc làm cần thiết để mỗi cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và nhân dân hiểu được vị trí, tầm quan trọng, mục tiêu phương pháp, cách làm Xây dựng nông thôn mới từ đó tự giác, chủ động tham gia với nhà nước.
Thủ tướng Chính phủ đã phát động phong trào thi đua “Cả nước chung sức Xây dựng nông thôn mới”, nhiều bộ, ngành và tỉnh, thành đã hưởng ứng, cụ thể hóa thành phong trào thi đua ở đơn vị, địa phương có tác động rất lớn đến sự quan tâm, hỗ trợ các nguồn lực và động viên tinh thần của toàn xã hội đối với nông dân, nông thôn. Ban chỉ đạo các cấp đã chủ động biên tập các quyển sổ tay hướng dẫn, tài liệu hỏi đáp tập huấn, tuyên truyền đến các cơ quan và người dân. Các báo, đài tăng cường đưa các tin bài, phóng sự, xây dựng các chuyên trang, chuyên mục phổ biến các hoạt động của chương trình. Ủy Ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên vận động đoàn viên, hội viên và nhân dân thực hiện các cuộc vận động, phong trào gắn với thực hiện Chương trình Xây dựng nông thôn mới. Công tác tuyên truyền, vận động giúp cán bộ, nhân dân nhận thức đúng đắn về chương trình, từ đó thay đổi nếp nghĩa, khắc phụ tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào nhà nước, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo để biến chương trình thành phong trào rộng lớn trong cả nước.
1.2.4.5. Quản lý và sử dụng các nguồn lực Luận văn: Quản lý nhà nước xây dựng nông thôn mới tại Đắk Nông.
Nguồn lực thực hiện Xây dựng nông thôn mới được hiểu là các hình thức vốn tự nhiên vật chất, bằng tiền vốn nhân lực, vật lực mà xã hội có được từ các nguồn khác nhau như: ngân sách Trung ương và địa phương, đầu tư vào tín dụng từ các tổ chức và cá nhân, từ dân cư và cộng đồng. Vì vậy, huy động nguồn lực là các giải pháp để khai thác và sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực cho Xây dựng nông thôn mới một cách có lợi nhất cho nhân dân, cộng đồng địa phương.
Trong đó, con người là nguồn lực quan trọng nhất trong quá trình thực hiện Xây dựng nông thôn mới. Con người còn chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống quản lý nhà nước, quyết định hiệu quả của hoạt động này. Đó là đội ngũ cán bộ chuyên môn, cán bộ quản lý nhà nước, những người trực tiếp điều hành các hoạt động Xây dựng nông thôn mới. Nhìn nhận được tầm quan trọng của nguồn lực con người trong bộ máy quản lý nhà nước về thực hiện Xây dựng nông thôn mới, trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã từng bước xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ năng lực điều hành, năng động và sáng tạo; thực hiện chế độ tiền lương các chế độ, chính sách đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật với đội ngũ quản lý nhà nước về Xây dựng nông thôn mới.
Có chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực quản lý nhà nước về Xây dựng nông thôn mới thông qua chương trình đào tạo mới và đào tạo lại nguồn nhân lực hiện có.
Có chính sách khuyến khích, ưu đãi đặc biệt để thu hút nhân tài tham gia vào đội ngũ quản lý nhà nước về Xây dựng nông thôn mới.
Tổ chức các lớp tập huấn nội dung quản lý nhà nước về Xây dựng nông thôn mới cho đội ngũ nhân lực phụ trách Xây dựng nông thôn mới tại địa phương.
Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực quản lý nhà nước về Xây dựng nông thôn mới có vị trí đặc biệt quan trọng, đóng vai trò thúc đẩy, tạo bước chuyển mạnh mẽ về năng lực, trình độ đội ngũ này.
1.2.4.6. Kiểm tra, thanh tra, giám sát việc Xây dựng nông thôn mới
Kiểm tra, giám sát là chức năng cơ bản và quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước nói chung, trong đó có quản lý nhà nước về Xây dựng nông thôn mới. quản lý nhà nước đối với nội dung này chính là việc các Ban chỉ đạo, cơ quan nhà nước Trung ương và địa phương tiến hành kiểm tra, giám sát để đánh giá tính hiệu quả, tính thực tế của đường lối, chủ trương, chính sách đề ra. Nếu thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát sẽ giúp phát hiện những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện và kịp thời đề xuất biện pháp để điều chỉnh, sửa chữa những sai sót Xây dựng nông thôn mới theo chương trình, kế hoạch. Kiểm tra, giám sát thường xuyên còn giúp tránh được xu hướng các địa phương chạy theo bệnh thành tích, nôn nóng, làm vội, làm ẩu hoặc đề ra nhiệm vụ, chỉ tiêu vượt quá khả năng, không phù hợp với lộ trình phấn đấu. Về phương thức tiến hành kiểm tra, giám sát; Ban chỉ đạo các cấp, các cấp ủy Đảng, chính quyền sẽ thực hiện kiểm tra, giám sát theo định kỳ hoặc đột xuất thông qua xây dựng các chương trình, kế hoạch công tác, tổ chức các đoàn khảo sát, thông qua các hội nghị sơ kết, nghe báo cáo để đánh giá kết quả triển khai thực hiện Xây dựng nông thôn mới; các bộ, ngành của Trung ương, các thành viên Ban chỉ đạo và sở, ngành chuyên môn của địa phương được phân công theo dõi, đôn đốc các địa bàn, lĩnh vực phụ trách.
1.2.5. Nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về Xây dựng nông thôn mới
1.2.5.1. Sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Luận văn: Quản lý nhà nước xây dựng nông thôn mới tại Đắk Nông.
Hội nghị lần thứ 7 BCH TW khóa X đã đề ra Nghị quyết số 26-NQ/TW, đề cập một cách toàn diện quan điểm của Đảng ta về phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Nghị quyết khẳng định: nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vai trò to lớn, chiếm vị trí quan trọng trong sự nghiệp Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Chính vì vậy các vấn đề về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, phải được giải quyết đồng bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh Công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đó không phải chỉ là nhiệm vụ của nông dân, ở khu vực nông thôn mà là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội.
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, nhiệm kỳ 2011-2016 cũng đã nêu: “Tiếp tục triển khai chương trình Xây dựng nông thôn mới phù hợp với đặc điểm từng vùng theo các bước đi cụ thể, vững chắc trong từng giai đoạn, giữ gìn và phát huy nét văn hóa bản sắc của nông thôn Việt Nam”.
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã chỉ ra phương hướng, nhiệm vụ phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn là “Xây dựng nền nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, ứng dụng công nghệ cao, nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm; nâng cao giá trị gia tăng, đẩy mạnh xuất khẩu”. Từ đó, tạo điều kiện thuận lợi để sản phẩm nông nghiệp Việt Nam có đủ sức cạnh tranh trên thị trường khu vực và quốc tế. Đồng thời “Đẩy nhanh cơ cấu lại ngành nông nghiệp, xây dựng nền nông nghiệp sinh thái phát triển toàn diện cả về nông, lâm, ngư nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững, trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh và tổ chức lại sản xuất, thúc đẩy ứng dụng sâu rộng khoa học – công nghệ, nhất là công nghệ sinh học, công nghệ thông tin vào sản xuất, quản lý nông nghiệp và đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn để tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh, bảo đảm chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài; nâng cao thu nhập và đời sống của nông dân. Chú trọng đầu tư vùng trọng điểm sản xuất nông nghiệp. Có chính sách phù hợp để tích tụ, tập trung ruộng đất, thu hút mạnh các nguồn lực đầu tư phát triển nông nghiệp; từng bước hình thành các tổ hợp nông nghiệp – công nghiệp – dịch vụ công nghệ cao”.
Thực hiện đường lối của Đảng, thời gian qua công tác Xây dựng nông thôn mới ở các địa phương có sự tham gia tích cực của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các tổ chức đoàn thể và nhân dân.
1.2.5.2. Vai trò và năng lực của Ban chỉ đạo Xây dựng nông thôn mới của chính quyền các cấp
Chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới là một chương trình tổng hợp bao gồm mọi mặt công tác của Đảng, Nhà nước về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Để thực hiện nội dung đó, Nhà nước, cụ thể là chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình hoạch định chính sách, tạo hành lang pháp lý trong việc thực thi các tiêu chí về Xây dựng nông thôn mới.
Xây dựng nông thôn mới là một vấn đề phức tạp vì liên quan đến nhiều ngành, nhiều chính sách và hoạt động có tác động trực tiếp đến khu vực nông thôn và đời sống của người dân. Việc triển khai Xây dựng nông thôn mới mới là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trong đó vai trò chỉ đạo, điều hành của chính quyền các cấp đóng vai trò nòng cốt, có tính chất quyết định.
Chính vì vậy, nâng cao năng lực quản lý, điều hành của Ban chỉ đạo các cấp và trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ thực thi nhiệm vụ là vấn đề trọng tâm của công tác tổ chức cán bộ. Luận văn: Quản lý nhà nước xây dựng nông thôn mới tại Đắk Nông.
1.2.5.3. Vai trò Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể quần chúng
Xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, trong đó vai trò của MTTQ, các đoàn thể quần chúng là hết sức quan trọng. Cùng với chính quyền, MTTQ và các đoàn thể nhân dân chính là nơi tập hợp, đoàn kết, động viên các hội viên, đoàn viên và toàn thể nhân dân tích cực tham gia thực hiện tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; triển khai có hiệu quả các phong trào thi đua yêu nước do địa phương phát động, trong đó có chương trình chung sức Xây dựng nông thôn mới. Do đó để Xây dựng nông thôn mới thành công cần đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của MTTQ và các đoàn thể theo hướng ngày càng đa dạng, thiết thực và hiệu quả.
1.2.5.4. Vai trò của nông dân trong hoạt động Xây dựng nông thôn mới
Nông dân chính là chủ thể trong Xây dựng nông thôn mới thể hiện ở chỗ: người dân trực tiếp tham gia phát triển kinh tế, tổ chức sản xuất, thực hiện Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn; chủ động xây dựng kết cấu hạ tầng KT-XH; tham gia vào quá trình quy hoạch và thực hiện quy hoạch Xây dựng nông thôn mới; xây dựng và giữ gìn đời sống văn hóa; đảm bảo vệ sinh môi trường; duy trì ổn định về trật tự xã hội; xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh.
Sự tham gia của người dân, của cộng đồng trong Xây dựng nông thôn mới là một trong những yếu tố cơ bản để nâng cao tính dân chủ ở nông thôn, từ đó huy động được cả cộng đồng tham gia tích cực vào các quá trình Xây dựng nông thôn mới, phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.
1.3. Kinh nghiệm quản lý nhà nước về Xây dựng nông thôn mới
1.3.1. Kinh nghiệm quản lý nhà nước về Xây dựng nông thôn mới ở một số nước trên thế giới
1.3.1.1. Kinh nghiệm từ Thái Lan
Thái Lan vốn là một nước nông nghiệp truyền thống với dân số nông thôn chiếm khoảng 80% dân số cả nước. Để thúc đẩy sự phát triển bền vững nền nông nghiệp, Thái Lan đã áp dụng một số chiến lược như: Tăng cường vai trò của cá nhân và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp; đẩy mạnh phong trào học tập, nâng cao trình độ của từng cá nhân và tập thể bằng cách mở các lớp học và các hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn; tăng cường công tác bảo hiểm xã hội cho nông dân, giải quyết tốt vấn đề nợ trong nông nghiệp; giảm nguy cơ rủi ro và thiết lập hệ thống bảo hiểm rủi ro cho nông dân.
Đối với các sản phẩm nông nghiệp, Nhà nước đã hỗ trợ để tăng sức cạnh tranh với các hình thức, như tổ chức hội chợ triển lãm hàng nông nghiệp, đẩy mạnh công tác tiếp thị; phân bổ khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách khoa học và hợp lý, từ đó góp phần ngăn chặn tình trạng khai thác tài nguyên bừa bãi và kịp thời phục hồi những khu vực mà tài nguyên đã bị suy thoái; giải quyết những mâu thuẫn có liên quan đến việc sử dụng tài nguyên lâm, thủy hải sản, đất đai, đa dạng sinh học, phân bổ đất canh tác. Trong xây dựng kết cấu hạ tầng, Nhà nước đã có chiến lược trong xây dựng và phân bố hợp lý các công trình thủy lợi lớn phục vụ cho nông nghiệp. Hệ thống thủy lợi bảo đảm tưới tiêu cho hầu hết đất canh tác trên toàn quốc, góp phần nâng cao năng suất lúa và các loại cây trồng khác trong sản xuất nông nghiệp. Chương trình điện khí hóa nông thôn với việc xây dựng các trạm thủy điện vừa và nhỏ được triển khai rộng khắp cả nước….
Về lĩnh vực công nghiệp phục vụ nông nghiệp, chính phủ Thái Lan đã tập trung cơ cấu lại ngành nghề phục vụ phát triển công nghiệp nông thôn, đồng thời cũng xem xét đến các nguồn tài nguyên, những kỹ năng truyền thống, nội lực, tiềm năng trong l nh vực sản xuất và tiếp thị song song với việc cân đối nhu cầu tiêu dùng trong nước và nhập khẩu.
Thái Lan đã tập trung phát triển các ngành mũi nhọn như sản xuất hàng nông nghiệp, thủy, hải sản phục vụ xuất khẩu, thúc đẩy mạnh mẽ công nghiệp chế biến nông sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, nhất là các nước công nghiệp phát triển[39].
1.3.1.2. Kinh nghiệm từ Trung Quốc Luận văn: Quản lý nhà nước xây dựng nông thôn mới tại Đắk Nông.
Năm 1984, Ban Chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc ban hành văn kiện số 1 và số 4 chọn hướng phát triển nông thôn bằng cách phát huy vai trò của các xí nghiệp phi nông nghiệp ở nông thôn, lấy công nghiệp nông thôn làm trọng tâm của chính sách. Nguyên tắc là quy hoạch đi trước, định ra các biện pháp thích hợp cho từng nơi, đột phá trọng điểm, chính phủ sẽ hỗ trợ nông dân với phương châm “ly nông bất ly hương”, thực hiện đồng bộ các chương trình về phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Các chương trình của chính phủ như: chương trình đốm lửa, được mùa, giúp đỡ vùng nghèo hướng đến việc trang bị cho nông dân những tư tưởng tiến bộ, áp dụng thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất, bồi dưỡng cán bộ cốt cán, nâng cao mức sống dân cư miền núi, dân tộc ít người và vùng nông thôn.
Hội nghị toàn thể Trung ương lần thứ 5 (khóa XVI) Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 2005 đã đưa ra quy hoạch Xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa hướng tới mục tiêu “Sản xuất phát triển, đời sống sung túc, thôn làng văn minh, thôn xã gọn gàng, quản lý dân chủ”. Phương châm thực hiện là “cho nhiều lấy ít, làm sống động”, dùng quan điểm phát triển phối hợp giữa thành thị với nông thôn để Xây dựng nông thôn mới, xây dựng nông dân kiểu mới, có nội dung mới, phương châm chiến lược mới và con đường mới. Hiện tại, Trung Quốc đang tìm kiếm và dốc sức giải quyết vấn đề tam nông, sự chênh lệch thành thị và nông thôn, phát triển hài hòa công nghiệp và nông nghiệp. Những đường hướng và chủ trương mới này đang thu được nhiều kết quả, làm thay đổi diện mạo mới đối với bộ mặt nông thôn của Trung Quốc để các nước học tập[39].
1.3.1.3. Kinh nghiệm từ Hàn Quốc
Phong trào xây dựng làng mới với mục tiêu làm thay đổi lối suy ngh thụ động và tư tưởng trông chờ ỷ lại của người dân ở nông thôn, làm cho người dân có niềm tin đối với sự nghiệp phát triển nông thôn, làm việc độc lập và có tính cộng đồng cao. Nguyên tắc cơ bản của phong trào là nhà nước hỗ trợ vật tư, nhân dân đóng góp công của, quyết định loại công trình ưu tiên xây dựng và chịu trách nhiệm quyết định toàn bộ thiết kế, chỉ đạo thi công, nghiệm thu công trình. Sự giúp đỡ của nhà nước chiếm tỷ lệ cao trong những năm đầu và sẽ giảm dần qua thời gian và thay vào đó là sự đóng góp của địa phương và nhân dân sẽ tăng lên.
Chương trình thực hiện chia thành 02 giai đoạn. Giai đoạn 1 là phát huy nội lực của nhân dân để xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, bao gồm cải thiện cơ sở hạ tầng cho từng hộ dân như: ngói hóa nhà ở, lắp điện thoại, nâng cấp kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống của nông dân,… Giai đoạn 2 là thực hiện dự án nhằm tăng thu nhập cho nông dân như tăng năng suất cây trồng, xây dựng các vùng sản xuất chuyên canh, thúc đẩy hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, phát triển chăn nuôi, trồng rừng. Thông qua phong trào nông thôn mới, Hàn quốc đã xây dựng được hệ thống kết cấu hạ tầng ở nông thôn, thu hẹp sự chênh lệch giữa nông thôn và thành thị, cuộc sống của người nông dân đạt đến mức khá giả và trở thành một quốc gia phát triển.
1.3.1.4. Kinh nghiệm từ Mỹ
Mỹ là nước có điều kiện tự nhiên cực kỳ thuận lợi để phát triển nông nghiệp. Vùng Trung Tây của nước này có đất đai màu mỡ nhất thế giới. Lượng mưa vừa đủ cho hầu hết các vùng của đất nước; nước sông và nước ngầm cho phép tưới rộng khắp cho những nơi thiếu mưa. Luận văn: Quản lý nhà nước xây dựng nông thôn mới tại Đắk Nông.
Bên cạnh đó, các khoản vốn đầu tư lớn và việc tăng cường sử dụng lao động có trình độ cao cũng góp phần vào thành công của ngành nông nghiệp Mỹ. Điều kiện làm việc của người nông dân làm việc trên cánh đồng rất thuận lợi: máy kéo với các ca bin lắp điều hòa nhiệt độ, gắn kèm theo những máy cày, máy xới và máy gặt có tốc độ nhanh và đắt tiền. Công nghệ sinh học giúp phát triển những loại giống chống được bệnh và chịu hạn. Phân hóa học và thuốc trừ sâu được sử dụng phổ biến, thậm chí, theo các nhà môi trường, quá phổ biến. Công nghệ vũ trụ được sử dụng để giúp tìm ra những nơi tốt nhất cho việc gieo trồng và thâm canh mùa màng. Định kỳ, các nhà nghiên cứu lại giới thiệu các sản phẩm thực phẩm mới và những phương pháp mới phục vụ việc nuôi trồng thủy, hải sản, như tạo các hồ nhân tạo để nuôi cá.
Ngành nông nghiệp Mỹ đã phát triển thành một ngành “kinh doanh nông nghiệp”, một khái niệm được đặt ra để phản ánh bản chất tập đoàn lớn của nhiều doanh nghiệp nông nghiệp trong nền kinh tế Mỹ hiện đại. Kinh doanh nông nghiệp bao gồm rất nhiều doanh nghiệp nông nghiệp và các cơ cấu trang trại đa dạng, từ các doanh nghiệp nhỏ một hộ gia đình cho đến các tổ hợp rất lớn hoặc các công ty đa quốc gia sở hữu những vùng đất đai lớn hoặc sản xuất hàng hóa và nguyên vật liệu cho nông dân sử dụng. Cũng giống như một doanh nghiệp công nghiệp tìm cách nâng cao lợi nhuận bằng việc tạo ra quy mô lớn hơn và hiệu quả hơn, nhiều nông trại Mỹ cũng ngày càng có quy mô lớn hơn và củng cố hoạt động của mình sao cho linh hoạt hơn.
Sự ra đời ngành kinh doanh nông nghiệp vào cuối thế kỷ XX đã tạo ra ít trang trại hơn, nhưng quy mô các trang trại thì lớn hơn nhiều. Đôi khi được sở hữu bởi những cổ đông vắng mặt, các trang trại mang tính tập đoàn này sử dụng nhiều máy móc hơn và ít bàn tay của nông dân hơn. Vào năm 1940, Mỹ có 6 triệu trang trại và trung bình mỗi trang trại có diện tích khoảng 67 ha, đến cuối thập niên 90 của thế kỷ XX, số trang trại chỉ còn 2,2 triệu nhưng trung bình mỗi trang trại có diện tích 190 ha. Cũng chính trong khoảng giai đoạn này, số lao động nông nghiệp giảm rất mạnh – từ 12,5 triệu người năm 1930 xuống còn 1,2 triệu người vào cuối thập niên 90 của thế kỷ trước – dù cho dân số của Mỹ tăng hơn gấp đôi. Và gần 60% trong số nông dân còn lại đó đến cuối thế kỷ này chỉ làm việc một phần thời gian trên trang trại; thời gian còn lại họ làm những việc khác không thuộc trang trại để bù đắp thêm thu nhập cho mình.
Hiện nay, người Mỹ ở vùng đô thị hay ven đô hướng về những ngôi nhà thô sơ, ngăn nắp và những cánh đồng, phong cảnh miền quê truyền thống, yên t nh. Tuy nhiên, để duy trì “trang trại gia đình” và phong cảnh làng quê đó thực sự là một thách thức[39].
1.3.2. Kinh nghiệm quản lý nhà nước về Xây dựng nông thôn mới ở trong nước
1.3.2.1. Kinh nghiệm từ huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh
Củ Chi là huyện ngoại thành nằm về phía Tây Bắc thành phố Hồ Chí Minh, có diện tích tự nhiên 43.496 ha; trong đó diện tích đất nông nghiệp 28.228 ha. Huyện có 20 xã và 01 thị trấn. Cơ cấu kinh tế của huyện là công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp (73,41%); thương mại, dịch vụ (14,02%) và nông nghiệp (12,56%). Dân số trên địa bàn huyện có 394.825 người, số lao động trong độ tuổi hiện nay là 181.866 người. Số hộ nghèo trên địa bàn huyện chiếm tỷ lệ 3,75% (theo chuẩn 16 triệu đồng/người/năm). Ngay trên địa bàn có các khu công nghiệp (thu hút gần 20.000 lao động địa phương) nên lao động nông thôn dịch chuyển mạnh sang công nghiệp – dịch vụ, tạo thuận lợi cho nâng cao thu nhập.
Năm 2009, Trung ương chọn xã Tân Thông Hội làm xã thí điểm Xây dựng nông thôn mới, tiếp đến xã Thái Mỹ được chọn làm xã điểm và 18 xã còn lại tiếp tục nhân rộng giai đoạn 2012 – 2015. Qua 6 năm triển khai Xây dựng nông thôn mới, đến nay, huyện Củ Chi được Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 476/QĐTTg ngày 12/4/2015 công nhận đạt chuẩn nông thôn mới năm 2015. Luận văn: Quản lý nhà nước xây dựng nông thôn mới tại Đắk Nông.
Kinh nghiệm quản lý nhà nước về Xây dựng nông thôn mới của huyện Củ Chi là:
Thứ nhất, bộ máy tổ chức các cấp được kiện toàn với sự tham gia của các cơ quan, cán bộ có liên quan, có sự phối hợp chặt chẽ, có sự phân công và làm rõ trách nhiệm của từng đơn vị và cá nhân tham gia nên vận hành được xuyên suốt, giải quyết nhanh, gọn, có hiệu quả những vấn đề cấp bách, nảy sinh trong quá trình thực hiện các tiêu chí nông thôn mới. Ban chỉ đạo và Tổ công tác giúp việc thường xuyên bám sát địa bàn, phối hợp chặt chẽ với Ban quản lý xã để kịp thời hỗ trợ bằng cơ chế, chính sách thúc đẩy nhanh tiến trình Xây dựng nông thôn mới.
Thứ hai, chú trọng đến công tác đào tạo cán bộ và chính sách cán bộ. Đội ngũ cán bộ xã được trẻ hóa, có trình độ, năng lực, năng động trong công tác, tạo bước chuyển biến tích cực cho địa phương.
Thứ ba, Công tác ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, các quy định quản lý nhà nước về Xây dựng nông thôn mới phải đồng bộ, kịp thời nhất là công tác quy hoạch phải đi trước một bước dựa vào lợi thế cạnh tranh của mỗi xã để kết nối với quy hoạch huyện và thành phố, có kết nối nội thành; lấy công nghiệp hỗ trợ nông nghiệp, thực hiện cải cách hành chính tạo điều kiện thuận lợi mời gọi doanh nghiệp về đầu tư.
Thứ tư, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đối với hoạt động Xây dựng nông thôn mới. Kịp thời phát hiện uốn nắn, xử lý các trường hợp vi phạm nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động Xây dựng nông thôn mới. Xây dựng nông thôn mới phải xuất phát từ nhu cầu thực tiễn tại địa phương, cộng đồng dân cư đóng vai trò chủ đạo trong thực hiện, giám sát, hưởng thụ, huy động nguồn lực trong nhân dân phải gắn liền với bồi dưỡng sức dân; thông qua các đề án hợp lòng dân được nhân dân đồng tâm hiệp lực, chung sức Xây dựng nông thôn mới. Giao quyền chủ động choBan quản lý xã làm chủ đầu tư các chương trình, dự án phát huy vai trò chủ động, tích cực trong quá trình Xây dựng nông thôn mới.
1.3.2.2. Kinh nghiệm từ huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình
Huyện Kiến Xương nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Thái Bình, diện tích tự nhiên là 199,34 km2, diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 12.586 ha; toàn huyện có 36 xã và 1 thị trấn, 237 thôn; tổng số 68.996 hộ, dân số 214.600 người, mật độ dân số là 1.076 người/km2. Luận văn: Quản lý nhà nước xây dựng nông thôn mới tại Đắk Nông.
Với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của nhà nước và sự phối hợp thực hiện của các tổ chức đoàn thể, chương trình Xây dựng nông thôn mới ở Kiến Xương đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ. Ngay từ những bước đi đầu tiên, Kiến Xương là huyện duy nhất trong tỉnh Thái Bình hoàn thành đúng tiến độ lập quy hoạch Xây dựng nông thôn mới trong năm 2010. Bám sát 2 hướng đột phá: cải tạo, xây dựng hệ thống giao thông, thủy lợi nội đồng gắn với quy vùng sản xuất; làm tốt công tác dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp, hết năm 2012, 35/35 xã trong huyện đã hoàn thành dồn điền đổi thửa, sau dồn đổi bình quân còn 1,6 thửa/hộ. Các xã, thị trấn đã thực hiện quy vùng sản xuất, nhiều địa phương đã có vùng sản xuất lúa giống, lúa chất lượng cao như: xã Vũ Hòa xây dựng cánh đồng mẫu với diện tích 50ha, xã Bình Định xây dựng vùng sản xuất lúa hàng hóa diện tích trên 250ha… Trong 4 năm (2011 – 2014), nhân dân đã góp 383,49 tỷ đồng (trong đó bằng tiền là 274,503 tỷ đồng, bằng ngày công lao động, hiến đất, hiện vật quy ra tiền khoảng 108,987 tỷ đồng) làm đường giao thông và các công trình công cộng. Toàn huyện có 70 trường học, 247 nhà văn hóa, sân thể thao xã, thôn, 12 chợ nông thôn, 20 trạm y tế xã, 26 khu xử lý rác thải cùng hàng chục công trình khác được xây mới, sửa chữa đạt chuẩn nông thôn mới. Hết năm 2014, 12 xã ở Kiến Xương đã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới, ngoài ra còn có 11 xã đạt từ 15 – 17 tiêu chí, 10 xã đạt từ 11 – 14 tiêu chí, 2 xã đạt 9 – 10 tiêu chí.
Từ thực tiễn quản lý nhà nước về Xây dựng nông thôn mới của huyện Kiến Xương rút ra một số kinh nghiệm sau:
Thứ nhất: Cấp ủy và chính quyền xã đã tích cực cải cách thủ tục hành chính, cụ thể hoá những nội dung, mục tiêu quan trọng của phong trào Xây dựng nông thôn mới ở địa phương mình bằng việc ra các Nghị quyết chuyên đề để chỉ đạo, điều hành như: Nghị quyết về dồn điển đổi thửa, Nghị quyết về xây dựng đường làng ngõ xóm “xanh, sạch, đẹp”. Bên cạnh đó, kiện toàn tổ chức bộ máy Ban chỉ đạo các cấp vàBan quản lý các xã cho phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương. Qua đó, tăng cường công tác tuyên truyền xem đây là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên của cả hệ thống chính trị, của mọi cấp, mọi ngành và của mọi người dân. Hình thức tuyên truyền phải phong phú, đa dạng, thường xuyên và liên tục.
Thứ hai: Công tác ban hành các văn bản quy phạm pháp luật được chú trọng, nhất là công tác lập quy hoạch và quản lý quy hoạch được cấp ủy và chính quyền vào cuộc, sâu sát, cho ý kiến cụ thể ngay từ khi bắt đầu xây dựng để công ty tư vấn xây dựng đề án, đồ án quy hoạch đảm bảo phù hợp với tình hình thực tiễn ở địa phương.
Thứ ba: Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ được chính quyền xã rất coi trọng, đến nay đã đạt chuẩn theo quy định, đặc biệt là cán bộ làm công tác tài chính, địa chính xây dựng và công an xã, để qua đó xây dựng một “chính quyền khoẻ” đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới.
Thứ tư: Công tác kiểm tra, giám sát, kịp thời điều chỉnh những sai sót, khắc phục những hạn chế để thực hiện quản lý một cách hiệu quả.
Thành lập đoàn cán bộ của xã đi kiểm tra việc thực hiện các tiêu chí tại các thôn trên cơ sở đó xã bình xét hỗ trợ kinh phí; thôn nào làm tốt hơn, nhân dân đóng góp nhanh hơn sẽ được hỗ trợ trước, tạo nên không khí thi đua, kích thích các thôn xóm phấn đấu quyết liệt hơn với nhau.
1.3.2.3. Kinh nghiệm từ huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng
Huyện Đơn Dương nằm ở phía Đông của tỉnh Lâm Đồng, cách thành phố Đà Lạt 30 km, cách thành phố Hồ Chí Minh 300 km có ranh giới phía Tây và phía Tây Bắc giáp với Thành phố Đà Lạt; phía Nam và Tây Nam giáp với huyện Đức Trọng; phía Bắc giáp huyện Lạc Dương; phía Đông giáp huyện Ninh Sơn – tỉnh Ninh Thuận.
Huyện có tổng diện tích tự nhiên 61.032ha. Trong đó, diện tích đất sản xuất nông nghiệp 17.510 ha, diện tích gieo trồng 32.000 ha/năm; diện tích đất lâm nghiệp 38.967 ha. Toàn huyện có 10 đơn vị hành chính gồm 08 xã và 02 thị trấn; trong đó có 03 xã và 14 thôn đặc biệt khó khăn thuộc chương trình 135, 01 xã nghèo và 16 thôn nghèo theo Nghị quyết 30a. Dân số toàn huyện là 99.796 người, đồng bào dân tộc thiểu số là 30.220 người chiếm 30% dân số toàn huyện.
Năm 2015, Thủ tướng Chính phủ công nhận huyện Đơn Dương đạt chuẩn nông thôn mới, là huyện đầu tiên của khu vực Tây Nguyên đạt danh hiệu này. Luận văn: Quản lý nhà nước xây dựng nông thôn mới tại Đắk Nông.
Qua 5 năm thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia Xây dựng nông thôn mới (2011 – 2015), huyện Đơn Dương đã huy động được tổng số vốn là 4.311 tỷ đồng, trong đó, nhân dân đóng góp hơn 73 tỷ đồng. Đến nay, huyện Đơn Dương có 7/8 xã đạt chuẩn xã nông thôn mới, riêng xã Pró đạt 17/19 tiêu chí. Toàn huyện hiện có 94,5 km đường trục xã, liên xã được nhựa hoá hoặc bê tông hoá đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ giao thôn vận tải, chiếm 100%; 77,4 km kênh mương đã được kiên cố hóa, chiếm 68,7%; 100% số thôn có điện lưới quốc gia; 100% số xã, thôn trên địa bàn huyện có đường truyền internet băng thông rộng; tỷ lệ hộ nghèo chỉ còn 1,3%.
Toàn huyện Đơn Dương có 17.510 ha đất sản xuất nông nghiệp, giá trị sản xuất năm 2014 đạt 150 triệu đồng/ha (năm 2010 đạt 76 triệu đồng/ha), tính riêng diện tích nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đạt trên 500 triệu đồng/ha/năm. Thu nhập bình quân đầu người năm 2014 đạt 48 triệu đồng (năm 2010 đạt hơn 17 triệu đồng/người).
Kinh nghiệm quản lý nhà nước về Xây dựng nông thôn mới của huyện Đơn Dương:
Thứ nhất, ý kiến đóng góp của người dân trong công tác quy hoạch, xây dựng đề án, lộ trình hoàn thiện các tiêu chí nông thôn mới là rất quan trọng. Tiêu chí nào người dân cần làm trước, cái nào hợp lý hay chưa phù hợp và điều chỉnh ra sao đều có sự thống nhất của chính quyền địa phương và người dân sau đó mới triển khai thực hiện;
Thứ hai, nâng cao nhận thức của bộ máy chính quyền và quan trọng hơn cả là của nhân dân. Từ đó lan tỏa trong nhân dân, để họ hiểu được rằng trách nhiệm, ngh a vụ và quyền lợi của mình trong Xây dựng nông thôn mới;
Thứ ba, trên cơ sở tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy, phát huy vai trò của Ban chỉ đạo, sự điều hành của chính quyền, sự phối hợp chặt chẽ của Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể, nhân dân, huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị từ huyện tới cơ sở là nền tảng của phong trào Xây dựng nông thôn mới;
Thứ tư, trong lãnh đạo và tổ chức thực hiện phải toàn diện, đồng bộ, chỉ đạo chặt chẽ giữa xây dựng đề án, quy hoạch gắn với tuyên truyền, vận động, giữa phát động với tổ chức các phong trào thi đua…Có chương trình kế hoạch và bước đi cụ thể, phân công rõ ràng.
Thứ năm, phát huy tốt các tiềm năng, lợi thế gắn với huy động nguồn lực một cách rộng rãi và phù hợp. Đẩy mạnh phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân gắn với phát huy vai trò chủ thể của nhân dân trong Xây dựng nông thôn mới tạo ra sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, các thành phần kinh tế và toàn xã hội.
1.3.3. Bài học kinh nghiệm về quản lý nhà nước về Xây dựng nông thôn mới có thể vận dụng cho huyện Đắk R’lấp, tỉnh Đắk Nông
Từ những tổng quan đã trình bày ở trên, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm quan trọng cho huyện Đắk R’lấp, tỉnh Đắk Nông như sau: Luận văn: Quản lý nhà nước xây dựng nông thôn mới tại Đắk Nông.
Cần coi trọng công tác đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý nòng cốt ở các cấp, nhất là đội ngũ cán bộ quản lý ở cơ sở. Có chính sách thu hút đãi ngộ nhân tài, đảm bảo đội ngũ cán bộ, công chức ngày càng đáp ứng nhu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ, tác phong, thái độ làm việc và trách nhiệm hoàn thành công vụ.
- Các cấp phải đưa ra chính sách, giải pháp và quản lý nhà nước về Xây dựng nông thôn mới một cách thống nhất, đồng bộ, ít thay đổi, cụ thể, rõ ràng, phù hợp tình hình thực tế. Bộ máy quản lý nhà nước về Xây dựng nông thôn mới phải hoạt động hiệu quả trên cơ sở phối hợp nhịp nhàng thống nhất từ Trung ương đến địa phương.
- Cần tăng cường công tác kiểm tra giám sát quá trình khai thác và sử dụng các nguồn lực triển khai thực hiện Xây dựng nông thôn mới; vai trò giám sát của cộng đồng với các dự án, công trình đầu tư xây dựng cơ bản để kịp thời phát hiện những thiếu sót cũng như những hạn chế trong qúa trình triển khai xây dựng các tiêu chí nông thôn mới.
- Cần kết hợp tốt với các hệ thống chức sắc tôn giáo trên địa bàn trong công tác tuyên truyền, vận động cộng đồng tôn giáo để góp công sức Xây dựng nông thôn mới;
- Cần xác định vấn đề cốt lõi trong Xây dựng nông thôn mới đó là phát triển sản xuất nông nghiệp, nâng cao thu nhập và đời sống cho nhân dân; biết cách phát huy nội lực trong cộng đồng; hướng dẫn, hỗ trợ nông dân tiếp cận thông tin thì sẽ phát huy được công sức, trí tuệ, sáng tạo của nhân dân;
- Tăng cường công tác tuyên truyền, vận động, đào tạo, tập huấn phải thường xuyên liên tục bằng nhiều hình thức khác nhau, cụ thể hóa việc gì phải làm, lộ trình bước đi, ai làm và làm như thế nào, trách nhiệm của các cấp, các ngành và vai trò của người dân trong Xây dựng nông thôn mới;
- Cần lựa chọn, xác định các tiêu chí, nội dung làm phù hợp cho từng giai đoạn, dễ làm trước, khó làm sau; ít tiền và không cần tiền làm trước, nhiều tiền làm sau để mang lại hiệu quả thiết thực cho người dân;
- Xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ lâu dài, khó khăn nhưng hợp với lòng dân, được nhân dân nhiệt tình ủng hộ. Vì vậy mọi việc làm phải dựa trên cơ sở nguyện vọng chính đáng của nhân dân, phát huy tốt nhất vai trò của cộng đồng với nguyên tắc “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân hưởng thụ”, tránh tư tưởng nóng vội chạy theo thành tích, Nhà nước chỉ đóng vai trò hỗ trợ, tổ chức.
Tóm tắt chương 1
Ở chương này, tác giả đã tiến hành hệ thống hoá những vấn đề cơ bản, đi sâu nghiên cứu và cụ thể hóa những vấn đề lý luận cơ bản về: nội hàm niệm nông thôn mới; vai trò Xây dựng nông thôn mới trong phát triển kinh tế – xã hội; nội dung quản lý nhà nước về Xây dựng nông thôn mới. Tác giả đưa ra bài học thực tiễn rút ra từ kinh nghiệm của một số quốc gia và một số địa phương trên cả nước trong việc Xây dựng nông thôn mới, làm tiền đề cho việc đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về Xây dựng nông thôn mới tại huyện Đắk R’lấp, tỉnh Đăk Nông ở chương 2 và đưa ra một số giải pháp, kiến nghị chương 3. Luận văn: Quản lý nhà nước xây dựng nông thôn mới tại Đắk Nông.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước xây dựng nông thôn mới

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho lao động
Pingback: Luận văn: Giải pháp quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới