Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật Việt Nam về hoạt động Trợ giúp pháp lý hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Pháp luật quốc tế, pháp luật một số quốc gia và pháp luật Việt Nam về hoạt động Trợ giúp pháp lý dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trên thế giới, Trợ giúp pháp lý được hình thành khá sớm, khởi nguồn từ thành cổ A-then vào khoảng thế kỷ thứ V trước Công nguyên. Tiếp đến là Anh (thế kỷ XV), Na Uy (thế kỷ XVII), Pháp (thế kỷ XVIII), Mỹ (nửa cuối thế kỷ XIX). Sau đó, phát triển rộng khắp ở nhiều quốc gia trên thế giới kể từ sau đại chiến thế giới lần thứ 2: Hà Lan (1970), Thụy Sỹ (1972), Hàn Quốc (1972), Đức (1981), Trung Quốc (1996)… Ở khu vực Đông Nam Á, Trợ giúp pháp lý đã xuất hiện ở Singgapore, Inđônêxia, Thái Lan, Malaysia, Philippine và Campuchia. Cùng với tiến trình mở rộng, tăng cường hội nhập, hợp tác kinh tế- quốc tế giữa các quốc gia, Trợ giúp pháp lý đã được quy định trong nhiều Công ước quốc tế như Tuyên ngôn nhân quyền của Liên hợp quốc năm 1948, Công ước Châu Âu về quyền chính trị và dân sự năm 1976, Công ước Châu Âu về nhân quyền năm 1953… và trong nhiều Điều ước quốc tế song phương được ký kết giữa các quốc gia liên quan đến vấn đề tương trợ tư pháp.
Ở Việt Nam, Trợ giúp pháp lý ra đời muộn hơn so với nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới và còn là một khái niệm tương đối mới mẻ.
Việc thành lập mô hình tổ chức thực hiện Trợ giúp pháp lý miễn phí cho người nghèo, người có công với cách mạng và các đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam xuất phát từ chủ trương: “xóa đói, giảm nghèo”, “đền ơn, đáp nghĩa”, đảm bảo công bằng xã hội của Đảng và Nhà nước, thể hiện bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Xuất phát từ yêu cầu, tình hình thực tế đặt ra trong xã hội gắn liền với nhu cầu tìm hiểu pháp luật, Trợ giúp pháp lý của người dân và trên cơ sở nghiên cứu sâu rộng hoạt động của mô hình Trợ giúp pháp lý các nước trên thế giới, trên cơ sở đánh giá kết quả thực hiện Trợ giúp pháp lý thí điểm ở thành phố Cần Thơ và tỉnh Hà Tây (cũ). Ngày 06/9/1997, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 734/QĐ-TTg về việc thành lập tổ chức Trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách, theo đó, Cục Trợ giúp pháp lý thuộc Bộ Tư pháp và các Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước trực thuộc Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố ra đời với chức năng, nhiệm vụ chủ yếu là thực hiện các hoạt động Trợ giúp pháp lý và quản lý nhà nước về Trợ giúp pháp lý.
Trải qua hơn 15 năm xây dựng và phát triển, mô hình Trợ giúp pháp lý nước ta đã có những bước phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng, cơ cấu, tổ chức cơ bản đi vào ổn định, đang từng bước thể hiện tính chuyên nghiệp, hiện đại. Mạng lưới tổ chức thực hiện Trợ giúp pháp lý đã giải quyết trên 1,5 triệu vụ, việc cho gần 1,4 triệu lượt đối tượng được Trợ giúp pháp lý có nhu cầu, qua đó khẳng định vai trò, ý nghĩa của chính sách Trợ giúp pháp lý đối với đời sống xã hội, đặc biệt là vấn đề “xóa đói, giảm nghèo”, nâng cao nhận thức pháp luật cho người dân, hỗ trợ bảo đảm quyền con người trong xã hội qua việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp, đóng góp ý nghĩa vào việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, pháp luật Việt Nam về chính trị- kinh tế- văn hóa- xã hội- an ninh- quốc phòng và vào công tác thực thi, thi hành pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Luận văn: Pháp luật Việt Nam về hoạt động Trợ giúp pháp lý.
Đi cùng với sự thành công trong hoạt động Trợ giúp pháp lý thời gian qua là sự quyết tâm cao của của Đảng và Nhà nước ta trong công tác hoàn thiện thể chế, chính sách điều chỉnh hoạt động này. Với một khối lượng văn bản khá đồ sộ, đặc biệt quan trọng phải kể đến là Luật Trợ giúp pháp lý được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2006, Quyết định số 792/QĐ-TTg ngày 23/6/2008 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án: “Quy hoạch mạng lưới Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước và Chi nhánh của Trung tâm giai đoạn 2008 – 2010, định hướng đến năm 2015” và Quyết định số 678/QĐ-TTg ngày 10/5/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển Trợ giúp pháp lý ở Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 đã tạo hành lang, cơ sở pháp lý vững chắc cho Trợ giúp pháp lý Việt Nam không ngừng lớn mạnh và phát triển ở hiện tại và trong tương lai, là nền tảng định hướng quan trọng để đáp ứng đầy đủ, đạt chất lượng, hiệu quả mọi nhu cầu, nguyện vọng, vướng mắc cần được Trợ giúp pháp lý của người dân đặc biệt là của người nghèo và các đối tượng chính sách.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả đạt được thì Trợ giúp pháp lý Việt Nam vẫn còn gặp nhiều khó khăn, thách thức từ thực trạng tổ chức, bộ máy, nguồn lực phục vụ đến thực tiễn hoạt động. Vì vậy, để Trợ giúp pháp lý nước ta thực sự thể hiện tính chuyên nghiệp và chuyên môn hóa cao, theo kịp với xu thế phát triển Trợ giúp pháp lý trên thế giới nhất là với các nước có mô hình Trợ giúp pháp lý tiên tiến, hiện đại để đáp ứng đầy đủ mọi nhu cầu Trợ giúp pháp lý của người dân với chất lượng cao thì còn nhiều việc phải làm, nhiều biện pháp phải giải quyết liên quan đến yêu cầu tăng cường hợp tác quốc tế về Trợ giúp pháp lý, đẩy mạnh kiện toàn bộ máy tổ chức thực hiện, đổi mới cách thức hoạt động, đầu tư mạnh mẽ về cơ sở vật chất, nguồn kinh phí, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làm việc cùng sự quan tâm ủng hộ, đóng góp tích cực, mạnh mẽ của đông đảo nguồn lực trong xã hội dành cho Trợ giúp pháp lý.
Từ những vấn đề trên, để nhận thức đầy đủ, sâu sắc về một chính sách xã hội nhân đạo, nhân văn gắn với việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam và các quốc gia trên thế giới cả về lý luận và thực tiễn, từ đó xây dựng những luận điểm, giải pháp, kiến nghị khoa học, xác đáng nhằm đẩy mạnh hiệu quả tổ chức, hoạt động Trợ giúp pháp lý nước ta. Tôi chọn đề tài: “Pháp luật quốc tế, pháp luật một số quốc gia và pháp luật Việt Nam về hoạt động Trợ giúp pháp lý” làm luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu và tính mới của Đề tài Luận văn: Pháp luật Việt Nam về hoạt động Trợ giúp pháp lý.
Trước khi nghiên cứu, xây dựng đề tài này đã có một số công trình nghiên cứu khoa học cấp bộ và luận văn thạc sĩ chuyên ngành nghiên cứu về thể chế, chính sách, mô hình tổ chức, hoạt động Trợ giúp pháp lý như: Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Vũ Hồng Tuyến về hoàn thiện pháp luật về người thực hiện Trợ giúp pháp lý ở Việt Nam (năm 2004), Luận văn thạc sĩ luật của tác giả Nguyễn Huỳnh Huyện về thực hiện pháp luật về Trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách ở Việt Nam (năm 2006), Luận văn thạc sĩ luật của tác giả Đỗ Xuân Lân về hoàn thiện các hình thức tiếp cận pháp luật của người nghèo ở Việt Nam hiện nay, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ của Viện nghiên cứu khoa học pháp lý thuộc Bộ Tư pháp về mô hình tổ chức và hoạt động Trợ giúp pháp lý, phương hướng thực hiện trong điều kiện hiện nay (năm 1999), Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ cùng Viện về luận cứ khoa học và thực tiễn xây dựng Pháp lệnh Trợ giúp pháp lý (năm 2004)…
Nội dung của các luận văn, công trình nghiên cứu chủ yếu đi sâu phân tích, làm rõ một số nội dung quan trọng, thiết yếu trong quá trình tổ chức, hoạt động Trợ giúp pháp lý, cơ bản, trọng tâm là tổng hợp, đánh giá thực trạng, đưa ra giải pháp hoàn thiện thể chế, chính sách Trợ giúp pháp lý ở Việt Nam. Tuy nhiên, xét trên phương diện khách quan, hiện vẫn chưa có công trình, luận văn nào tập trung nghiên cứu khái quát, bao trùm hoạt động Trợ giúp pháp lý trên diện rộng, từ những quy định của pháp luật quốc tế, pháp luật một số quốc gia cho đến pháp luật Việt Nam cùng việc chứng minh thực tiễn tổ chức, hoạt động và tìm hiểu quá trình hình thành, phát triển.
Vì vậy, việc xây dựng Luận văn thạc sĩ này sẽ có nhiều điểm mới, mở rộng hơn so với các đề tài nghiên cứu, luận văn thạc sĩ trước đó. Nội dung luận văn là những tổng hợp, nghiên cứu các Điều ước quốc tế đa phương và song phương, cơ bản và chủ yếu là các văn bản mà Việt Nam là thành viên ký kết hoặc gia nhập liên quan đến Trợ giúp pháp lý, những quy định cơ bản trong chính sách, pháp luật và thực tiễn tổ chức, hoạt động Trợ giúp pháp lý ở một số quốc gia trên thế giới và ở tại Việt Nam. Trên cơ sở xác định những điểm tương đồng và khác biệt trong cách thức tổ chức, bộ máy, tác giả đưa ra những giải pháp tích cực với mong muốn đóng góp một phần sức nhỏ vào công cuộc đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động Trợ giúp pháp lý Việt Nam ở giai đoạn hiện nay và các giai đoạn kế tiếp.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn thạc sĩ tập trung nghiên cứu đối tượng chính là Trợ giúp pháp lý, một chính sách nhân đạo, từ thiện, mang đậm bản chất nhân văn đang được các quốc gia đầu tư phát triển. Xoay quanh đối tượng chính là những nội dung được quy định trong pháp luật quốc tế, pháp luật một số quốc gia và pháp luật Việt Nam, cùng với việc tổng hợp, đánh giá tiến trình hình thành, phát triển, cách thức xây dựng, quá trình tổ chức, hoạt động ở một số nước và ở Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu được thực hiện trên phạm vi rộng, bao gồm: Các Điều ước quốc tế đa phương về Trợ giúp pháp lý mà Việt Nam là thành viên ký kết hoặc gia nhập; Hiệp định tương trợ tư pháp được ký kết giữa Việt Nam với các quốc gia có đề cập đến vấn đề này; Pháp luật Việt Nam và một số quốc gia quy định về khái niệm, mô hình Trợ giúp pháp lý, người thực hiện Trợ giúp pháp lý, đối tượng thuộc diện Trợ giúp pháp lý, hình thức, lĩnh vực, kinh phí dành cho Trợ giúp pháp lý và quản lý nhà nước về Trợ giúp pháp lý. Với những điểm tương đồng và khác biệt về Trợ giúp pháp lý giữa Việt Nam với một số quốc gia, qua thực tiễn tổ chức, hoạt động là những vấn đề trọng tâm, cần thiết theo phương diện cá nhân để hoàn thiện tổ chức, đẩy mạnh hoạt động Trợ giúp pháp lý ở Việt Nam trong tiến trình bảo vệ quyền lợi của người nghèo và các đối tượng chính sách.
4. Phương pháp nghiên cứu Luận văn: Pháp luật Việt Nam về hoạt động Trợ giúp pháp lý.
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa khoa học biện chứng và chủ nghĩa khoa học lịch sử trong mối quan hệ tổng hòa, tương hỗ chặt chẽ lẫn nhau để làm sáng tỏ các vấn đề từ góc độ lý luận và thực tiễn.
Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu được vận dụng trong quá trình viết Luận văn là: Phương pháp tư duy trừu tượng; phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp thống kê; phương pháp quy nạp và diễn dịch; phương pháp so sánh và phương pháp hệ thống.
5. Kết cấu của Luận văn
Không bao gồm mục lục, phần mở đầu, kết luận và nguồn tài liệu tham khảo, Luận văn được xây dựng với bố cục gồm 03 Chương:
- Chương 1. Pháp luật quốc tế và pháp luật nước ngoài về hoạt động Trợ giúp pháp lý.
- Chương 2. Pháp luật Việt Nam về Trợ giúp pháp lý.
- Chương 3. So sánh tổ chức và hoạt động Trợ giúp pháp lý giữa Việt Nam với nước ngoài. Một số kiến nghị, giải pháp.
Chương 1 PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI VỀ HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ
1.1. Các Điều ước quốc tế đa phương quy định về hoạt động Trợ giúp pháp lý
Để tăng cường bảo vệ quyền con người, các quốc gia đều quan tâm đến việc xây dựng nhà nước pháp quyền cùng với việc đặt tổ chức và hoạt động của công quyền trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Bên cạnh đó, quyền con người cũng gắn liền với các trào lưu tiến bộ xã hội của nhân loại để không ngừng mở rộng và nâng cao giá trị dân chủ, xác lập vị thế, vai trò quan trọng của các cá thể- con người, chủ thể của mọi hành vi trong xã hội. Pháp luật trở thành một trong các công cụ quan trọng của nhà nước pháp quyền điều chỉnh xã hội để bảo vệ quyền con người ở mỗi quốc gia. Trong đó, pháp luật với công chúng, nhất là những bộ phận dân nghèo, yếu thế, dễ bị tổn thương trong xã hội là một vấn đề mà các chế độ chính trị khác nhau ở tất cả các nước đều quan tâm nghiên cứu và giải quyết theo cách riêng sao cho hiệu quả, phù hợp với truyền thống pháp luật, điều kiện kinh tế-xã hội.
Từ yêu cầu và trong xu thế hội nhập quốc tế, vấn đề bảo vệ quyền con người được ghi nhận trong nhiều Điều ước quốc tế, mà ở đó Trợ giúp pháp lý được khẳng định như một quyền độc lập của con người, đồng thời là công cụ để bảo vệ các quyền công dân khác.
Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền (được thông qua và tuyên bố theo Nghị quyết số 217A (III) ngày 10/12/1948 của Đại hội đồng Liên hợp quốc) đã trịnh trọng tuyên bố:…Tất cả mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền . Mọi con người đều được tạo hoá ban cho lý trí và lương tâm và cần phải đối xử với nhau tro ng tình bằng hữu… và … Tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và có quyền được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào…[21].
Ngày 20/12/2012, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã đưa ra tuyên bố về nguyên tắc và những hướng dẫn về tiếp cận Trợ giúp pháp lý trong hệ thống tư pháp hình sự, trong đó Trợ giúp pháp lý được thừa nhận:…Là một thành tố cơ bản của một hệ thống tư pháp hình sự dựa trên nguyên tắc pháp quyền, là cơ sở cho việc thụ hưởng các quyền khác, bao gồm quyền có phiên toà xét xử công bằng và là một sự bảo đảm quan trọng để bảo đảm sự công bằng cơ bản và niềm tin của công chúng đối với tiến bộ của hệ thống tư pháp hình sự… và Nhà nước cần bảo đảm quyền được Trợ giúp pháp lý trong hệ thống pháp luật quốc gia ở mức độ cao nhất có thể [27]. Luận văn: Pháp luật Việt Nam về hoạt động Trợ giúp pháp lý.
Đồng thời, Tuyên bố xác định rõ nguyên tắc Trợ giúp pháp lý dành cho các đối tượng cụ thể như: người bị tình nghi hoặc phải chịu trách nhiệm hình sự, nạn nhân của tội phạm, nhân chứng, trẻ em, phụ nữ và nhóm người có yêu cầu đặc biệt cùng sự bảo đảm, bảo vệ người thực hiện Trợ giúp pháp lý, thẩm quyền, trách nhiệm của họ trong quá trình thực thi công vụ. Từ những nguyên tắc, nội dung mang tính định hướng này sẽ góp phần hoàn thiện chính sách Trợ giúp pháp lý với tư cách một bộ phận quan trọng, không thể thiếu trong hệ thống tư pháp hình sự ở các quốc gia, từ đó khẳng định, phát huy giá trị mạnh mẽ của Trợ giúp pháp lý cho các đối tượng trong quá trình tố tụng.
Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị được thông qua và để ngỏ cho các quốc gia ký, phê chuẩn và gia nhập theo Nghị quyết số 2200 (XXI) ngày 16/12/1966 của Đại hội đồng Liên hợp quốc và có hiệu lực ngày 23/3/1976 (Việt Nam gia nhập ngày 24/9/1982) đã đặt ra quy định khi xét xử về một tội hình sự, mỗi người đều có quyền đòi hỏi một cách hoàn toàn bình đẳng việc có mặt trong khi xét xử và được tự bào chữa hoặc thông qua sự Trợ giúp pháp lý theo sự lựa chọn của mình, được thông báo về quyền này nếu chưa có sự Trợ giúp pháp lý và được nhận sự Trợ giúp pháp lý theo chỉ định trong trường hợp lợi ích của công lý đòi hỏi và không phải trả tiền cho sự trợ giúp đó nếu không có đủ điều kiện trả. Ngoài ra, Công ước này còn quy định về quyền giúp đỡ khi bị bắt hoặc giam giữ mà bị tước tự do; quyền bình đẳng trước Tòa án và cơ quan tài phán; quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một toà án có thẩm quyền, độc lập, không thiên vị và được lập ra trên cơ sở pháp luật; thủ tục đặc biệt đối với người chưa thành niên; quyền được xem xét lại vụ việc, mức án tại Tòa án cao hơn; quyền được công nhận ở bất kỳ đâu là một con người trước pháp luật; quyền và cơ hội tiếp cận nói chung các dịch vụ công cộng ở đất nước mình; quyền của người dân tộc thiểu số; quyền suy đoán vô tội trước khi có bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án [23]… Đây là những quyền cơ bản của con người trong hoạt động tố tụng, rộng hơn là ở đời sống xã hội liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến quyền Trợ giúp pháp lý.
Công ước quốc tế về quyền trẻ em thông qua và để ngỏ cho các quốc gia ký, phê chuẩn và gia nhập theo Nghị quyết số 44-25 ngày 20/11/1989 của Đại hội đồng Liên hợp quốc và có hiệu lực từ ngày 2/9/1990 (Việt Nam phê chuẩn ngày 20/2/1990), theo điều 49 của Công ước thì trẻ em phải được đặc biệt trao cơ hội nói lên ý kiến của mình trong bất kỳ quá trình tố tụng tư pháp hoặc hành chính nào có liên quan đến trẻ, trực tiếp hoặc thông qua một người đại diện hay một cơ quan thích hợp, theo cách thức phù hợp với những quy tắc thủ tục trong pháp luật quốc gia và các quốc gia thành viên phải bảo đảm trẻ em bị tước tự do có quyền được nhanh chóng tiếp cận sự Trợ giúp pháp lý và những trợ giúp thích hợp khác, cũng như quyền được chất vấn tính chất hợp pháp của việc tước tự do đó trước một Tòa án hay cơ quan có thẩm quyền, độc lập, vô tư khác và có quyền đòi hỏi một quyết định nhanh chóng liên quan đến bất kỳ hành động nào như vậy [24].
Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ được thông qua và để mở cho các nước ký, phê chuẩn và gia nhập theo Nghị quyết 34/180 ngày 18/12/1979 của Đại hội đồng Liên hợp quốc và có hiệu lực từ ngày 3/9/1981 (Việt Nam phê chuẩn ngày 18/12/1982) đã quy định các quyền cơ bản của người phụ nữ được sự bảo vệ của luật pháp nhằm chống lại nạn phân biệt đối xử, bảo đảm bình đằng giới, trong đó cũng đề cập đến vấn đề Trợ giúp pháp lý.
Công ước quốc tế về người khuyết tật được Đại Hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 13/12 /2006 (Việt Nam là thành viên thứ 118 tham gia ký Công ước vào ngày 22/10/2007) quy định các quốc gia thành viên của Công ước này cam kết thực hiện những biện pháp phù hợp để tạo sự tiếp cận cho người khuyết tật đối với những hỗ trợ pháp lý mà họ cần khi thực hiện năng lực pháp lý và đảm bảo khả năng tiếp cận có hiệu quả đối với các dịch vụ tư pháp cho người khuyết tật [26].
Như vậy, các Tuyên bố, Điều ước quốc tế đa phương mà Việt Nam là thành viên ký kết hoặc gia nhập đã quy định một cách trực tiếp hay gián tiếp quyền được Trợ giúp pháp lý nằm trong các quyền cơ bản của con người và là cơ sở để các quốc gia thành viên cụ thể hóa phù hợp trong các văn bản Quy phạm pháp luật nước mình.
Tuy nhiên, tổng hợp tính đến thời điểm hiện tại, nội dung các Điều ước quốc tế đa phương quy định về Trợ giúp pháp lý mới chỉ điều chỉnh vấn đề theo cách chung, khái quát cho một số đối tượng nhất định và hiện chưa có văn bản quy định tập trung, thống nhất, đầy đủ về vấn đề này. Điều này gây ra khó khăn không nhỏ trong việc nghiên cứu, tìm hiểu, nắm vững các quy định về Trợ giúp pháp lý trong các văn bản pháp luật quốc tế cũng như việc pháp điển hóa vào pháp luật các quốc gia thành viên.
Từ thực trạng trên, tác giả nhận thấy các tổ chức quốc tế, các quốc gia cần hợp tác nghiên cứu, xây dựng một Điều ước quốc tế thống nhất điều chỉnh toàn diện, đầy đủ về vấn đề này, tránh những mâu thuẫn, trồng chéo giữa các văn bản đã đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp vấn đề Trợ giúp pháp lý. Nội dung của Điều ước quốc tế chung cần xác định chính xác, hướng trọng tâm vào khái niệm Trợ giúp pháp lý, các đối tượng được Trợ giúp pháp lý, quyền và nghĩa vụ của họ, hình thức, lĩnh vực thực hiện, trình tự, thủ tục khi có yêu cầu và cách thức hợp tác quốc tế giữa các quốc gia về Trợ giúp pháp lý.
1.2. Pháp luật nước ngoài về hoạt động Trợ giúp pháp lý Luận văn: Pháp luật Việt Nam về hoạt động Trợ giúp pháp lý.
1.2.1. Khái quát sự hình thành và phát triển của Trợ giúp pháp lý trên thế giới
Hình thành bắt đầu từ thành cổ A- then vào khoảng thế kỷ thứ X trước Công nguyên. Đến năm 224, Nhà nước Lã Mã ban hành đạo luật cấm những người biện hộ nhận tiền công. Ở nước Anh, từ thế kỷ XV pháp luật Anh quốc đã có quy định: “cần dành cho người nghèo khổ sự giúp đỡ để họ được hưởng quyền lợi mà pháp luật ban cho”. Năm 1495, vua Henry VII trong một nghị án đã có quy định cụ thể hơn về vấn đề này: “Chính nghĩa cần được dành chung cho người nghèo để thực hiện quyền tự do họ được hưởng- điều đó là tự nhiên không gì thay thế”.
Ở Châu Âu lục địa, Trợ giúp pháp lý có nguồn gốc từ quyền được tư vấn và xét xử công bằng của công dân trước pháp luật. Theo đó, người nghèo được miễn án phí, được cung cấp luật sư miễn phí khi không có đủ khả năng tài chính để chi trả thù lao thuê luật sư. Những năm đầu thế kỷ XX, một số nước Châu Âu chưa coi Trợ giúp pháp lý là trách nhiệm của mình mà dựa vào hoạt động Trợ giúp pháp lý mang tính từ thiện của luật sư. Nhà nước sẽ chi trả một khoản thù lao nhất định cho luật sư khi thực hiện Trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để hạn chế việc chi trả thù lao cho luật sư miễn phí trong các vụ việc tố tụng, một số nước đã quy định nghĩa vụ Trợ giúp pháp lý bắt buộc của luật sư trong các văn bản pháp luật.
Giữa các nước theo truyền thống pháp luật thành văn và các nước theo truyền thống án lệ có cách tiếp cận khác nhau về quyền có luật sư miễn phí. Các nước theo truyền thống pháp luật thành văn thường nhấn mạnh về quyền có luật sư trong tố tụng dân sự và đương sự được cung cấp dịch vụ Trợ giúp pháp lý thông qua một luật sư do khách hàng yêu cầu, trong khi các nước theo truyền thống án lệ thường nhấn mạnh đến quyền được tư vấn và cung cấp Trợ giúp pháp lý chủ yếu liên quan đến thủ tục tố tụng pháp luật hình sự. Luận văn: Pháp luật Việt Nam về hoạt động Trợ giúp pháp lý.
Tại Na Uy, từ thế kỷ XVII đã xuất hiện loại hình tranh tụng miễn phí. Trong thời gian này, nhà vua đã ban hành một số Sắc lệnh cho người nghèo nộp đơn xin luật sư Trợ giúp pháp lý tại Tòa án để tránh sự bất công đối với người nghèo và sự bất bình của công chúng. Những luật sư (hoặc công tố viên) được nhà vua chỉ định thực hiện những vụ việc Trợ giúp pháp lý này sẽ được nhận một khoản thù lao theo mức quy định.
Tại Mỹ, ngay từ nửa cuối thế kỷ XIX, khi các bang của Mỹ thành lập Hiệp hội luật sư và các tổ chức tương tự đã quy định rõ quy phạm hành vi đạo đức của luật sư, trong đó có một số nội dung tương đối đầy đủ là: “Quy tắc hành vi Trợ giúp pháp lý của luật sư”. Sau đó không lâu, để làm nổi bật hơn nội dung Trợ giúp pháp lý, một Hiệp hội luật sư của Mỹ đã chuyển hướng tập trung sáng lập một hình thức mới để giải quyết vấn đề Trợ giúp pháp lý cho người nghèo. Hình thức này có tổ chức hơn và mang tính quy phạm hơn, coi đây là một thiên chức của luật sư.
Tại Pháp- một nước tiêu biểu trong số các nước theo hệ thống pháp luật lục địa, sau khi giai cấp tư sản giành được chính quyền, ở các hiệp hội luật sư dần dần hình thành một tập quán là trước Tòa án, luật sư biện hộ cho người nghèo không thu phí. Đến năm 1851, tập quán này trở thành một chính sách trong các quy định pháp luật gọi là “Luật luật sư trợ giúp”. Đối với vụ án bị xử tội danh nặng thì phải chỉ định luật sư biện hộ cho bị cáo, còn những vụ án xử tội danh nhẹ, Chánh án Tòa án cũng có thể chỉ định biện hộ nếu bị cáo yêu cầu và chứng minh được mình thực sự nghèo khó. Ngoài ra, đối với các vụ án tranh chấp liên quan đến tiền dưỡng lão, tội phạm vị thành niên, tai nạn nghề nghiệp, tiền công lao động, thất nghiệp… pháp luật cũng quy định đều phải có sự trợ giúp khi tiến hành xét xử.
Sau đại chiến thế giới lần thứ II, sự tăng trưởng về kinh tế cùng với quan niệm tư tưởng xã hội hóa phúc lợi, các nhà nước đã thúc đẩy Trợ giúp pháp lý phát triển lên giai đoạn mới. Trong giai đoạn này, hệ thống Trợ giúp pháp lý tương đối đầy đủ, chính thức đã được thành lập như: Tại Anh (Năm 1949), Ontario-Canada (1951), Hà Lan (1970), Thụy Sỹ (1972), Đức (1981), Hàn Quốc (1972), Trung Quốc (1996)… Trong khu vực Đông Nam Á, cùng với Việt Nam, Trợ giúp pháp lý đã xuất hiện tại Singgapore, Indonesia, Thái Lan, Malaysia, Philippine, Cămpuchia. Bên cạnh đó, Trợ giúp pháp lý đã trở thành quy phạm chịu sự điều chỉnh của pháp luật quốc tế thể hiện trong Tuyên ngôn nhân quyền của Liên hợp quốc năm 1948, Công ước Châu Âu về quyền chính trị và dân sự năm 1976, Công ước Châu Âu về nhân quyền năm 1953 và nhiều văn bản pháp luật quốc tế khác.
Gần đây, dưới sức ép của công cuộc xóa đói, giảm nghèo, thực thi dân chủ, bảo đảm quyền con người, nhiều Chính phủ đã quan tâm hơn đến việc cung cấp dịch vụ pháp lý thiết yếu cho người nghèo và đối tượng đặc biệt để bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của họ, đặc biệt là quyền đại diện, quyền bào chữa tại các cơ quan tiến hành tố tụng.
Cùng với sự phát triển của nghề luật sư và mạng lưới tổ chức dân sự, ngày càng có nhiều luật sư, tổ chức xã hội cung ứng các dịch vụ pháp lý miễn phí cho người nghèo và một số đối tượng có hoàn cảnh khó khăn. Vì thế, hầu hết pháp luật các nước đều ghi nhận trách nhiệm của nhà nước và xã hội, đặc biệt là luật sư trong việc Trợ giúp pháp lý.
Nhiều nước đã thiết lập mô hình Trợ giúp pháp lý hỗn hợp mà ở đó có sự kết hợp chặt chẽ giữa Trợ giúp pháp lý của nhà nước với Trợ giúp pháp lý mang tính xã hội. Các hình thức Trợ giúp pháp lý cũng đa dạng, phong phú như gặp trực tiếp, qua thư, điện thoại…Người được Trợ giúp pháp lý không chỉ là người nghèo mà còn bao gồm trẻ em, phụ nữ là nạn nhân của nạn buôn bán phụ nữ và bạo lực gia đình, người già cô đơn, người tị nạn, người dân tộc thiểu số. Khái niệm Trợ giúp pháp lý được phát triển theo nghĩa rộng hơn: “tiếp cận công lý”- tiếp cận có hiệu quả nhu cầu pháp luật, không chỉ đại diện, bào chữa, Tư vấn pháp luật mà còn là phổ biến, giáo dục pháp luật, hòa giải nhằm nâng cao ý thức pháp luật của người dân.
Trước nhu cầu phát triển của Trợ giúp pháp lý trong đặc điểm, tình hình mới, pháp luật về Trợ giúp pháp lý ở các nước trên thế giới đã có nhiều chỉnh sửa, hoàn thiện phù hợp với đặc điểm tình hình của mỗi nước và trở thành công cụ, hình thức hữu hiệu trong việc giúp đỡ, hỗ trợ những người nghèo, đối tượng đặc thù cần được quan tâm trong xã hội bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, góp phần đảm bảo được sự bình đẳng giữa các tầng lớp xã hội và vào việc giữ gìn trật tự trị an, thực hiện chính sách an sinh xã hội ở mỗi quốc gia.
1.2.2. Quy định cơ bản của một số quốc gia về Trợ giúp pháp lý Luận văn: Pháp luật Việt Nam về hoạt động Trợ giúp pháp lý.
1.2.2.1 Khái niệm Trợ giúp pháp lý
Với thuật ngữ khởi đầu bằng tiếng Anh là: “legail aid”, thì Trợ giúp pháp lý ở mỗi quốc gia có cách định nghĩa khác nhau. Giới hạn Luận văn này tập trung nghiên cứu khái niệm trong quy định của một số nước.
Theo Luật Trợ giúp pháp lý của Bang Victoria năm 1978 thuộc Australia thì Trợ giúp pháp lý là: Giáo dục, tư vấn, thông tin pháp luật; Bất cứ dịch vụ pháp luật nào do luật sư cung cấp; Các dịch vụ khác trong phạm vi thẩm quyền của Trợ giúp pháp lý, bao gồm dịch vụ của luật sư theo nghĩa vụ, Tư vấn pháp luật và hỗ trợ pháp luật [2].
Là đại diện cho khách hàng trước Tòa án nhằm giúp đỡ những người không có khả năng chi trả cho các dịch vụ pháp lý (Đạo luật về đại diện và tư vấn pháp lý năm 1995 của Singgapore) [43].
Là việc tư vấn và đưa ra ý kiến; soạn thảo các hợp đồng; cung cấp cách dịch vụ pháp lý phục vụ cho hoạt động tranh tụng cho những người nghèo và người bị đối xử bất công (Đạo luật về hành nghề luật B.E 2528 năm 1985 của Thái Lan) [44].
TGPL bao gồm Tư vấn pháp luật, việc đại diện trước Tòa án và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác, các biện pháp cần thiết và việc miễn trừ các chi phí cụ thể cho những người không đủ điều kiện chi trả chi phí dịch vụ pháp lý (Đạo luật Trợ giúp pháp lý của Phần Lan năm 2001) [37].
Sự trợ giúp trong việc sử dụng bất kỳ biện pháp nào mà một người có thể sử dụng, gồm cả biện pháp đối với thủ tục tố tụng, liên quan đến việc áp dụng pháp luật (Luật về Trợ giúp pháp lý năm 1988 của Anh) [1].
Là tạo sự công bằng khi tiếp cận pháp luật của các cá nhân không thể thuê mướn luật sư, tạo cơ hội cho những người có thu nhập thấp (Luật về công ty dịch vụ pháp lý của Hoa Kỳ sửa đổi năm 1977) [29].
Tại Đức: Trợ giúp pháp lý là giúp đỡ một phần hay toàn bộ tài chính cho những người không có khả năng thanh toán các chi phí về Tư vấn pháp luật, đại diện hoặc bào chữa trước Toà án…
Tuy mỗi nước có cách quy định rộng hay mở về Trợ giúp pháp lý, song đặc điểm chung trong quy định khái niệm về Trợ giúp pháp lý đều thể hiện rõ nét bản chất nhân đạo, từ thiện, chính là: Giúp đỡ miễn phí cho những người không có khả năng thanh toán dịch vụ pháp lý được hưởng các hình thức Trợ giúp pháp lý theo quy định. Điều này là điểm khác biệt giữa Trợ giúp pháp lý miễn phí cho đối tượng có hoàn cảnh khó khăn với hoạt động hành nghề có thu phí từ khách hàng của luật sư.
1.2.2.2 Mô hình tổ chức, đối tượng và người thực hiện Trợ giúp pháp lý
- Mô hình tổ chức Trợ giúp pháp lý Luận văn: Pháp luật Việt Nam về hoạt động Trợ giúp pháp lý.
Mô hình tổ chức Trợ giúp pháp lý là các thiết chế được lập ra để thực hiện Trợ giúp pháp lý cho những người thuộc diện được thụ hưởng loại hình dịch vụ này. Các thiết chế đó có thể do Nhà nước hoặc một tổ chức xã hội thành lập hoặc cũng có thể do một cá nhân đảm nhiệm.
Do điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội chi phối nên các nước đã hình thành nhiều mô hình Trợ giúp pháp lý khác nhau với những hoạt động rất đặc thù. Sự khác nhau được thể hiện ở chỗ, đối với các Nhà nước đơn nhất có một hệ thống pháp luật và việc phân chia dân cư theo các đơn vị hành chính lãnh thổ thống nhất trong toàn quốc như Philippine, Trung Quốc, Nepal, Nam Phi, Singapore… thì tổ chức thực hiện Trợ giúp pháp lý về cơ bản là thống nhất. Tuy nhiên, ở các quốc gia liên bang với sự tồn tại của hai hệ thống pháp luật: liên bang và bang, với sự độc lập tương đối của chính quyền bang như Hoa Kỳ, Canada, Anh, Thụy Sỹ, Australia… thì mỗi bang có một mô hình tổ chức Trợ giúp pháp lý riêng biệt của mình.
Nghiên cứu pháp luật về Trợ giúp pháp lý ở một số nước cho thấy, trên thế giới hiện nay tồn tại ba mô hình tổ chức Trợ giúp pháp lý phổ biến là: mô hình từ thiện, mô hình luật sư trợ giúp được trả lương từ ngân sách nhà nước và mô hình hỗn hợp [28].
- Thứ nhất, mô hình từ thiện
Đây là mô hình sơ khai nhất, hình thành sớm nhất vào giữa thế kỷ 19 ở Đức, Hà Lan, Anh và sau này phát triển ở hầu hết các nước trên thế giới. Theo mô hình này, hoạt động Trợ giúp pháp lý chủ yếu do các luật sư tư hành nghề tự do thực hiện trên cơ sở tự nguyện, không bắt buộc, mang tính chất từ thiện. Hiện nay, ở hầu hết các nước trên thế giới đều kết hợp duy trì mô hình này cùng với các mô hình khác, nhưng có tính tổ chức hơn và được pháp luật quy định.
Mô hình này có những đặc điểm sau: Hoạt động Trợ giúp pháp lý hoàn toàn miễn phí, người được trợ giúp không phải đóng góp bất cứ khoản chi phí nào; Hoạt động Trợ giúp pháp lý mang tính tự phát, không phải là nghĩa vụ bắt buộc mà xuất phát từ ý chí của mỗi luật sư, do luật sư hành nghề tự do thực hiện trên cơ sở tự nguyện; Phụ thuộc vào lòng từ thiện của luật sư và các tổ chức tư vấn. Luận văn: Pháp luật Việt Nam về hoạt động Trợ giúp pháp lý.
Hạn chế của mô hình này không mang tính thường xuyên, liên tục, không giúp đỡ được nhiều người, không đáp ứng được tất cả các nhu cầu Trợ giúp pháp lý trong xã hội, chỉ được thực hiện khi có luật sư tình nguyện giúp đỡ miễn phí. Chất lượng vụ việc đôi khi hạn chế do các vụ việc chủ yếu do luật sư trẻ, luật sư tập sự, chưa có nhiều kinh nghiệm thực hiện.
- Thứ hai, mô hình luật sư trợ giúp được trả lương từ ngân sách nhà nước
Đây là mô hình Trợ giúp pháp lý do Nhà nước tài trợ và hoạt động được thực hiện chủ yếu do đội ngũ luật sư công và luật sư tư thực hiện. Nhà nước tuyển dụng các luật sư làm việc thường xuyên cho tổ chức Trợ giúp pháp lý và trả lương họ theo tháng mà không theo vụ việc. Các tổ chức Trợ giúp pháp lý được thành lập và hàng năm được Nhà nước cấp một khoản kinh phí theo dự toán và được phép sử dụng, quản lý nguồn kinh phí này một cách độc lập để thực hiện các hoạt động liên quan đến Trợ giúp pháp lý. Theo mô hình này, tổ chức Trợ giúp pháp lý có thể chủ động đến gặp đối tượng cần trợ giúp mà không cần chờ họ đến gặp mình. Hiện nay, mô hình này được áp dụng ở Mỹ và bang Quebec (Canada) và một số nước khác.
Mô hình này có đặc điểm sau: Hoạt động Trợ giúp pháp lý được thực hiện miễn phí, toàn bộ chi phí cho hoạt động Trợ giúp pháp lý do ngân sách nhà nước cấp, đối tượng trợ giúp không phải đóng góp một khoản tiền nào; đội ngũ luật sư công và luật sư tư thực hiện Trợ giúp pháp lý được Nhà nước trả lương cố định mà không hưởng lương theo vụ việc; đương sự được lựa chọn trong số các luật sư của tổ chức Trợ giúp pháp lý; số vụ việc Trợ giúp pháp lý rất hạn chế, một số tổ chức Trợ giúp pháp lý bó hẹp phạm vi trợ giúp trong lĩnh vực tư vấn, kiến nghị, nếu là đại diện bào chữa thì phải mời luật sư tư.
Điểm yếu có bản của mô hình này là nguồn kinh phí hoàn toàn phụ thuộc vào Chính phủ, do vậy không thể đáp ứng được nhu cầu Trợ giúp pháp lý ngày càng tăng của xã hội.
- Thứ ba, mô hình hỗn hợp
Là một mô hình hữu hiệu và phổ biến nhất hiện nay do kết hợp được tất cả các điểm mạnh của các mô hình khác nhau. Đó là sự kết hợp giữa hoạt động Trợ giúp pháp lý của Nhà nước (luật sư công) với tổ chức luật sư tư được Nhà nước tài trợ hoặc do các luật sư tư thực hiện trên cơ sở tự nguyện mang tính từ thiện, nhưng được pháp luật quy định và bảo đảm thực hiện. Mô hình này được áp dụng phổ biến ở các nước: Anh, Nhật, Hà Lan, Australia, Nam Phi, Thụy Điển, Trung Quốc. Theo mô hình này, ở các nước đều có một Ủy ban Trợ giúp pháp lý Trung ương điều hành. Dưới Ủy ban có các Ban hỗ trợ pháp lý (Thụy Điển) hoặc Văn phòng Trợ giúp pháp lý (Anh, Nam Australia). Dưới Văn phòng Trợ giúp pháp lý là Trung tâm Trợ giúp pháp lý. Hoạt động Trợ giúp pháp lý chủ yếu do luật sư công (Australia, Philipine, Trung Quốc) và luật sư tư hành nghề tự do thực hiện. Đây là mô hình trợ giúp được hầu hết các nước trên thế giới áp dụng. Luận văn: Pháp luật Việt Nam về hoạt động Trợ giúp pháp lý.
Mô hình này có các đặc điểm sau đây: Cơ quan nhà nước đóng vai trò chủ đạo như một cơ quan trung gian giữa khách hàng và luật sư, do vậy tiết kiệm được thời gian và thuận lợi cho khách hàng vì các luật sư không phải làm các công việc hành chính hàng ngày, đối tượng Trợ giúp pháp lý được tự do lựa chọn luật sư theo nguyện vọng; được Nhà nước tài trợ một phần kinh phí để giúp đỡ cho các đối tượng được trợ giúp miễn phí, một phần kinh phí do đối tượng nộp, nghĩa là đối tượng phải nộp một phần chi phí trợ giúp khoảng 10, 20 hoặc 30% chi phí, tùy theo điều kiện, hoàn cảnh khó khăn của đối tượng; trợ giúp được nhiều loại vụ việc khác nhau; việc đưa ra ý kiến sẽ dễ dàng hơn vì khách hàng không nhất thiết phải đến luật sư mà vẫn nhận được sự tư vấn; những người không phải làm chuyên môn có nhiều cơ hội tiếp cận pháp luật khi làm việc ở các tổ chức của Nhà nước.
Như vậy, dù theo bất kỳ mô hình nào, đặc trưng mang tính bản chất của Trợ giúp pháp lý là một loại nghề nghiệp đặc biệt vừa mang tính chính trị – pháp lý, vừa mang tính nhân đạo, từ thiện: “giúp đỡ pháp lý cho những người không có khả năng thanh toán chi phí khi tiếp cận công lý”. Hoạt động này trở thành một trong những chức năng xã hội của bất kỳ Nhà nước nào.
- Đối tượng Trợ giúp pháp lý
Do sự khác biệt về chế độ chính trị, tình hình kinh tế- xã hội nên pháp luật mỗi nước đều có những quy định khác nhau về điều kiện, tiêu chuẩn được Trợ giúp pháp lý, song đều dựa trên một số tiêu chí cơ bản.
Đầu tiên phải kể đến, đối tượng được Trợ giúp pháp lý là những người nghèo, không có hoặc không đủ khả năng tài chính để chi trả cho các dịch vụ pháp lý. Chính vì vậy, khi gặp phải những vướng mắc pháp luật hay khi Tham gia tố tụng, họ thường phải chịu thiệt thòi vì không có tiền mời luật sư. Bản thân họ lại không hiểu biết đầy đủ về pháp luật nên không tự bảo vệ được quyền lợi cho mình. Người nghèo là đối tượng trợ giúp phổ biến ở tất cả các nước, thậm chí là đối tượng duy nhất được Trợ giúp pháp lý theo pháp luật một số nước như Mỹ, Hà Lan, Nam Phi, Nê-pan.
Bên cạnh người nghèo, đối tượng được Trợ giúp pháp lý là những người không có khả năng tự bảo vệ như người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần, người tàn tật, người chưa thành niên, người già, nạn nhân của bạo lực gia đình, người đòi bồi thường trong các vụ án hình sự… cần được Trợ giúp pháp lý về pháp luật (áp dụng ở Trung Quốc, Đức, Singgapore).
Hay là những người có vụ việc liên quan đến cơ quan tiến hành tố tụng như người bị tạm giữ, tạm giam, người bị truy tố theo mức hình phạt chung thân hoặc tử hình,… cần được giúp đỡ để thực hiện các quyền của bị can, bị cáo trước các cơ quan tiến hành tố tụng và bảo đảm rằng các cơ quan này không lạm dụng quyền hạn để có những xử sự bất lợi cho họ (như Anh, Thụy Điển, Úc…). Luận văn: Pháp luật Việt Nam về hoạt động Trợ giúp pháp lý.
Ngoài ra, còn một số đối tượng khác được thụ hưởng chính sách Trợ giúp pháp lý như: người tị nạn, công dân nước ngoài làm thuê, người dân tộc thiểu số, người nước ngoài, người không có quốc tịch (như Trung Quốc, Cămpuchia).
Tuy nhiên, ở một số quốc gia như Thụy Điển, Nam Phi thì đối tượng được Trợ giúp pháp lý là tất cả công dân.
Theo quy định trong pháp luật của đa số các nước thì để được Trợ giúp pháp lý, đối tượng phải chứng minh được mình thuộc diện được trợ giúp. Chẳng hạn, đối với những người nghèo, họ phải chứng minh được điều kiện kinh tế của họ nằm dưới mức quy định. Một số nước có quy định tổ chức Trợ giúp pháp lý phải thực hiện việc xác minh về khả năng kinh tế của đối tượng để biết họ có thuộc diện được trợ giúp pháp hay không.
Về tiêu chí xác định người nghèo, ở mỗi nước đều quy định một mức thu nhập nhất định để làm tiêu chí xác định một người có thuộc diện nghèo hay không. Mức quy định này có thể khác nhau giữa các vùng, miền trong cùng một quốc gia.
Còn đối với các đối tượng khác là những giấy tờ tùy thân, văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà căn cứ vào đó có thể chứng minh là người thuộc diện được Trợ giúp pháp lý.
- Người thực hiện Trợ giúp pháp lý
Tùy từng mô hình Trợ giúp pháp lý khác nhau mà người thực hiện Trợ giúp pháp lý sẽ được quy định khác nhau, điều đó phụ thuộc vào thể chế chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, sự phát triển của nghề luật, đặc biệt là sự can thiệp và quan tâm của nhà nước đối với hoạt động Trợ giúp pháp lý. Tuy vậy, người thực hiện Trợ giúp pháp lý dù ở bất kỳ quốc gia nào cũng đều có những tiêu chí nhất định.
Điểm chung trong pháp luật của các nước đều xác định người thực hiện Trợ giúp pháp lý phải đáp ứng được những điều kiện về kiến thức hiểu biết pháp luật hoặc chí ít là những người có tri thức pháp luật do đặc thù của Trợ giúp pháp lý là một nghề nghiệp chuyên môn sâu gắn với pháp luật. Luận văn: Pháp luật Việt Nam về hoạt động Trợ giúp pháp lý.
Hầu hết các nước khi xác định người thực hiện Trợ giúp pháp lý đều dựa trên sự phát triển của nghề luật, đặc biệt là nghề luật sư và đều thừa nhận luật sư là người thực hiện Trợ giúp pháp lý và hoạt động Trợ giúp pháp lý chủ yếu dựa trên đội ngũ luật sư. Sở dĩ như vậy, vì luật sư là người có tính chất, hoạt động nghề nghiệp thường xuyên tiếp xúc với pháp luật, hành nghề pháp luật và có đủ kiến thức pháp luật nên thường là người có điều kiện nhất để có thể cung ứng dịch vụ Trợ giúp pháp lý. Ngoài luật sư thì người thực hiện Trợ giúp pháp lý cũng có thể là cán bộ chuyên trách của nhà nước được nhà nước giao nhiệm vụ thực hiện Trợ giúp pháp lý. Họ có thể là viên chức trong bộ máy nhà nước, được nhà nước tuyển dụng hoặc ký hợp đồng vào làm việc Trợ giúp pháp lý có trả lương theo vụ việc hoặc trả lương theo tháng.
Mặt khác, người thực hiện Trợ giúp pháp lý phải đáp ứng được những tiêu chuẩn nhất định về phẩm chất đạo đức, công tâm khi thực hiện Trợ giúp pháp lý xuất phát từ đặc thù của Trợ giúp pháp lý là việc cung ứng dịch vụ pháp luật cho những người không có điều kiện kinh tế bằng việc miễn phí hoặc giảm phí.
- Qua nghiên cứu pháp luật các nước có thể khái quát những đối tượng sau đây được thực hiện Trợ giúp pháp lý:
Luật sư công: Là công chức nhà nước hoặc được nhà nước tuyển dụng vào làm việc tại tổ chức Trợ giúp pháp lý để trực tiếp thực hiện Trợ giúp pháp lý, hưởng lương từ ngân sách nhà nước và thực hiện vụ việc theo sự phân công của tổ chức Trợ giúp pháp lý. Luật sư công hiện có ở các nước như: Philippine, Hà Lan, Mỹ, Litva, Israel, Hàn Quốc, Canada, Bang New South Wales của Australia, Phần Lan… Luật sư hành nghề tự do theo pháp luật về luật sư: Các luật sư là thành viên của Hiệp hội luật sư (hoặc Đoàn luật sư) tự nguyện tham gia thực hiện Trợ giúp pháp lý theo yêu cầu của khách hàng hoặc thực hiện Trợ giúp pháp lý theo yêu cầu của Chính phủ và được Chính phủ chi trả một phần thù lao như: Hàn Quốc, Mỹ, Nê-pan, Hà Lan, Mỹ, Singapore, Malaysia, Ailen, Thái Lan, Trung Quốc, Hồng Kông, Đức…
Các cán bộ nhà nước không phải là luật sư nhưng có trình độ tương đương luật sư: Những cán bộ này là viên chức nhà nước, ăn lương từ ngân sách nhà nước và chủ yếu làm Tư vấn pháp luật theo phân công của tổ chức, không tham gia tranh tụng, không được tự do lựa chọn khách hàng và thực hiện Trợ giúp pháp lý đối với các vụ việc Trợ giúp pháp lý đơn giản, mang tính hành chính như: Nam Phi, Hàn Quốc, Nê-pan, bang Ontari của Canada…
Và một số đối tượng khác như: Sinh viên luật, người làm việc trong các cơ sở nghiên cứu và đào tạo về luật như: Trung Quốc, Hà Lan, Canada…; Người tự nguyện làm việc trong các tổ chức đoàn thể xã hội để thực hiện Trợ giúp pháp lý: Trung Quốc; Thành viên của tổ chức Trợ giúp pháp lý cộng đồng: Australia, Hà Lan, Philippine, Mỹ…; Các công chứng viên: Nhật Bản…
1.2.2.3 Hình thức, lĩnh vực và kinh phí Trợ giúp pháp lý
- Hình thức Trợ giúp pháp lý Luận văn: Pháp luật Việt Nam về hoạt động Trợ giúp pháp lý.
Để giúp đỡ cho các đối tượng Trợ giúp pháp lý giải quyết được các vướng mắc pháp luật, các tổ chức, cá nhân thực hiện Trợ giúp pháp lý phải sử dụng một số hình thức Trợ giúp pháp lý nhất định. Tùy thuộc vào loại đối tượng trợ giúp, chủ thể thực hiện trợ giúp, điều kiện, chính sách trợ giúp của mỗi quốc gia… mà pháp luật mỗi nước có quy định những hình thức Trợ giúp pháp lý khác nhau. Song nhìn chung, có một số hình thức Trợ giúp pháp lý cơ bản gồm: Đại diện pháp lý, Tư vấn pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật và hòa giải.
Đại diện pháp lý là việc tổ chức Trợ giúp pháp lý cử người thực hiện đại diện, bào chữa cho đối tượng Trợ giúp pháp lý trước cơ quan tiến hành tố tụng. Đây là hình thức Trợ giúp pháp lý cơ bản nhất, được quy định trong công ước quốc tế và tất cả chế định Trợ giúp pháp lý của các nước. Về thời điểm đại diện, nhìn chung các nước đều cho phép thực hiện đại diện Trợ giúp pháp lý cho đối tượng trong mọi giai đoạn của quá trình tố tụng. Tuy nhiên, phạm vi đại diện và việc bảo đảm đại diện có thể khác nhau tùy theo pháp luật tố tụng của từng nước.
TVPL là hình thức Trợ giúp pháp lý được áp dụng ở hầu hết các nước có hoạt động Trợ giúp pháp lý như: Trung Quốc, Phần Lan, Litva, Slovania, Ạnh…TVPL được coi là một loại dịch vụ pháp luật nhằm giải thích pháp luật và hướng dẫn việc thực hiện pháp luật cho các đối tượng Trợ giúp pháp lý. Tư vấn pháp luật được thực hiện bằng lời nói (tư vấn miệng) hoặc bằng văn bản; có thể tư vấn trực tiếp hoặc gián tiếp (qua thư tín, thư điện tử, fax, điện thoại…). Tư vấn pháp luật bao gồm nhiều nội dung khác nhau: Phân tích tình huống, đưa ra các giải pháp lựa chọn và kết quả dự kiến của các giải pháp đó; giải đáp pháp luật; hướng dẫn soạn thảo, đóng góp ý kiến vào đơn từ, hướng dẫn những thủ tục cần thiết; cung cấp địa chỉ cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ, việc.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là hoạt động giới thiệu, thông tin về các văn bản pháp luật, giải thích nội dung, cơ chế hoạt động và đào tạo, nâng cao nhận thức pháp luật cho cộng đồng của Trợ giúp pháp lý. Đây là hoạt động nhận được sự tham gia của nhiều tổ chức, đoàn thể, thành phần xã hội, đặc biệt tiêu biểu như các sinh viên luật, các tổ chức Trợ giúp pháp lý cộng đồng. Hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật chủ yếu là diễn thuyết, cấp phát tờ gấp pháp luật,…
Hòa giải là việc Trợ giúp pháp lý thực hiện dàn xếp giữa các bên tham gia tranh chấp để các bên đạt được thỏa thuận về giải quyết tranh chấp. Hòa giải là hình thức Trợ giúp pháp lý được áp dụng ở một số nước như: Anh, Ấn Độ, Mỹ, Bỉ…
Trong quá trình thụ lý vụ việc Trợ giúp pháp lý về giải quyết tranh chấp giữa các bên, nếu thấy vụ việc có thể hòa giải được thì tổ chức Trợ giúp pháp lý cử người thực hiện hòa giải. Việc hòa giải có hiệu quả lớn là tôn trọng sự định đoạt của các bên, nâng cao hiệu quả tự thực hiện các quyết định hòa giải, giảm bớt chi phí tranh tụng. Về phạm vi hòa giải, tại một số nước (Ấn Độ), hòa giải được thực hiện trên tất cả các lĩnh vực, tuy nhiên, một số nước như: Anh, Bỉ, hòa giải chỉ được thực hiện đối với tranh chấp hôn nhân- gia đình. Một số lãnh thổ như: Canbera, Australia, đối với các tranh chấp hôn nhân- gia đình, tổ chức Trợ giúp pháp lý bắt buộc phải tổ chức hội nghị hòa giải giữa các bên, trên cơ sở đó các bên tự thương lượng, thỏa thuận về việc giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp. Luận văn: Pháp luật Việt Nam về hoạt động Trợ giúp pháp lý.
- Lĩnh vực Trợ giúp pháp lý
Lĩnh vực Trợ giúp pháp lý là một trong những chế định quan trọng của hệ thống Trợ giúp pháp lý các nước. Trong khi tại một số quốc gia chỉ chấp nhận việc Trợ giúp pháp lý trong lĩnh vực hình sự thì hầu hết các nước lại thực hiện Trợ giúp pháp lý trên cả hai lĩnh vực: Dân sự và hình sự. Trên cơ sở lĩnh vực Trợ giúp pháp lý, một số nước xây dựng hệ thống Trợ giúp pháp lý chung, nhưng một số nước khác lại xây dựng hai bộ phận Trợ giúp pháp lý dân sự và hình sự độc lập.
TGPL trong lĩnh vực hình sự: Hầu hết các nước đều thực hiện Trợ giúp pháp lý đối với tất cả các vụ việc trong lĩnh vực hình sự vì đây là vấn đề cơ bản, gắn liền với quyền chính trị, nhân thân của đối tượng. Đặc biệt, các nước đều có quy định về những vụ việc có mức án tử hình, đối với trẻ vị thành niên, cơ quan tiến hành tố tụng bắt buộc phải thuê luật sư đại diện cho bị cáo trong trường hợp bị cáo không có người đại diện hợp pháp cho mình.
TGPL trong lĩnh vực dân sự: Khái niệm dân sự trong pháp luật Trợ giúp pháp lý các nước được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm nhiều lĩnh vực như hôn nhân-gia đình, đất đai, lao động, việc làm, di cư, kinh doanh thương mại. Từ khái niệm thì phạm vi Trợ giúp pháp lý trong lĩnh vực dân sự tại chế định Trợ giúp pháp lý các nước có nhiều điểm khác nhau, tùy thuộc vào đặc điểm kinh tế, chính trị, văn hóa của từng nước. Theo truyền thống, Trợ giúp pháp lý của Anh tập trung chủ yếu vào luật sư tư và các vấn đề hôn nhân gia đình, tuy nhiên, trong cải cách hệ thống Trợ giúp pháp lý của mình, Trợ giúp pháp lý của Anh đã hướng sang lĩnh vực luật phúc lợi xã hội. Tại các nước khác, đặc biệt là những nước thiết lập hệ thống trung tâm pháp luật cộng đồng thì lĩnh vực phúc lợi xã hội được quan tâm, chú trọng. Điều đó có thể dễ dàng nhận thấy tại Hà Lan, Australia và bang Ontaria. Vấn đề bạo lực gia đình được hầu hết các quốc gia chấp nhận Trợ giúp pháp lý, trong khi đó, một số nước lại chuyển sang Tòa hình sự, luật sư bắt buộc tham gia trong những vụ việc này. Luận văn: Pháp luật Việt Nam về hoạt động Trợ giúp pháp lý.
TGPL trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại: Đa số các nước không Trợ giúp pháp lý trong vụ việc kinh doanh thương mại bởi đối tượng tham gia kinh doanh thương mại là những người giàu có, đủ khả năng chi phí cho dịch vụ pháp lý có thu phí, trong khi bản chất của hoạt động Trợ giúp pháp lý mang tính nhân đạo, dành cho một số đối tượng đặc biệt, có hoàn cảnh khó khăn. Tuy nhiên, trên thực tế, một số nước vẫn chấp nhận thực hiện Trợ giúp pháp lý đối với các vụ việc phá sản. Tại Nhật Bản, năm 2003, số vụ việc trợ giúp đại diện pháp lý dân sự là 27.814 vụ việc, chiếm 68,5% tổng số vụ việc được thực hiện. Trong tổng số vụ việc hỗ trợ soạn thảo văn bản, số vụ việc hỗ trợ liên quan đến phá sản lên tới 95,7% (2.267 vụ việc)[28].
- Việc Trợ giúp pháp lý được thực hiện trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại ở một số nước vì những lý do sau:
Một là, trong pháp luật nội dung của đa số các nước, lĩnh vực kinh doanh, thương mại nằm trong lĩnh vực dân sự. Các quan hệ thương mại vẫn được điều chỉnh bởi các Quy phạm pháp luật dân sự, do đó, các yêu cầu Trợ giúp pháp lý trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại được nằm trong nội dung Trợ giúp pháp lý trong lĩnh vực dân sự.
Hai là, xuất phát từ bản chất Trợ giúp pháp lý nhằm hỗ trợ cho các đối tượng yếu thế để đạt được sự bình đẳng trong việc tiếp cận pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, trong đó có quyền và lợi ích trong lĩnh vực dân sự, kinh doanh, thương mại. Đối với những đối tượng này, đặc biệt là những người nghèo, việc Trợ giúp pháp lý trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại còn đặc biệt có ý nghĩa nhằm giúp họ thoát khỏi điều kiện kinh tế khó khăn để vươn lên thoát nghèo.
- Kinh phí Trợ giúp pháp lý
Chế độ Trợ giúp pháp lý của các nước trên thế giới tồn tại hai mô hình cơ bản: loại thứ nhất là chế độ Trợ giúp pháp lý do luật sư tư cung ứng dịch vụ pháp lý dựa trên việc lấy quỹ công cộng để chi trả các chi phí; loại thứ hai là chế độ Trợ giúp pháp lý do đội ngũ luật sư chuyên trách được hưởng thù lao cung cấp dịch vụ pháp lý, có cơ quan chuyên môn công cộng quản lý và thực hiện Trợ giúp pháp lý. Cho dù hình thức nào thì nguồn gốc chính của loại kinh phí này vẫn là do Chính phủ đầu tư tài chính. Ngoài ra, nguồn kinh phí từ các quỹ chuyên Trợ giúp pháp lý do nhân dân quyên góp và có nguồn gốc khác cũng do tác dụng hỗ trợ quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của chế độ Trợ giúp pháp lý.
- Thứ nhất, kinh phí từ nguồn ngân sách nhà nước Luận văn: Pháp luật Việt Nam về hoạt động Trợ giúp pháp lý.
Đại đa số các nước kinh tế phát triển, kinh phí Trợ giúp pháp lý do nhà nước đầu tư tài chính. Đó là do cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội và sự nâng cao về trình độ dân chủ hóa chế độ chính trị của đất nước, Trợ giúp pháp lý lấy việc phục vụ quần chúng là nội dung chính, có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm nhân quyền, giúp đỡ những người bị tước đoạt quyền lợi xã hội cơ bản đã trở thành một trong những trách nhiệm của nhà nước mà các quốc gia phúc lợi đều phải gánh vác. Vì vậy, nhà nước có nghĩa vụ cung cấp kinh phí cho các hoạt động Trợ giúp pháp lý để đáp ứng nhu cầu về Trợ giúp pháp lý ngày càng tăng.
Tại nhiều quốc gia, Luật Tố tụng dân sự đã xác lập quyền được luật sư giúp đỡ của đương sự, đồng thời quyền này còn được quy định trong Hiến pháp một cách trực tiếp hoặc gián tiếp với số lượng lớn về tài chính để đảm bảo cho những người nghèo trong xã hội được hưởng quyền lợi này.
Sự cấp phát về tài chính đã chiếm một phần lớn trong tổng kim ngạch về Trợ giúp pháp lý của các nước và đã phát huy vai trò quan trọng nhằm thúc đẩy việc mở rộng quy mô sự nghiệp Trợ giúp pháp lý ở các nước, đa dạng hóa hình thức và tăng cường mở rộng các tập đoàn kiếm lời, từ đó trở thành nguồn gốc quan trọng nhất của kinh phí Trợ giúp pháp lý ở các nước.
Ở các nước đang phát triển do hạn chế về điều kiện kinh tế và xã hội khó có thể đáp ứng toàn bộ sự chi trả cần thiết cho kế hoạch Trợ giúp pháp lý mà nhà nước phải đầu tư kinh phí, từ đó việc cấp phát của nhà nước cũng rất có hạn. Phương thức cấp phát của nhà nước bao gồm 02 cách thức chủ yếu: Trực tiếp trích tiền từ ngân sách nhà nước và gián tiếp thông qua việc miễn, giảm chi phí tố tụng.
Trực tiếp cấp kinh phí từ ngân sách: Đại đa số các quốc gia đã thiết lập chế độ Trợ giúp pháp lý đều tự liệt kê ra hạng mục chi phí ngân sách Trợ giúp pháp lý trong dự án Luật Ngân sách nhà nước. Ngoài ra, kinh phí tài chính đã được đưa vào dự toán ngân sách nhà nước, được pháp luật bảo đảm và cơ quan quyền lực giám sát, việc đầu tư và sử dụng mang tính ổn định, đáng tin cậy và có thể kiểm nghiệm, điều này khiến cho việc đầu tư kinh phí có nguồn gốc khác không thể so sánh nổi.
Đầu tư gián tiếp bằng phương thức miễn trừ phí tố tụng: Phí tố tụng bao gồm chi phí Tòa án và chi phí luật định trong quá trình tố tụng. Chi phí luật định trong quá trình tố tụng bao gồm chi phí tư pháp, chi phí nhân chứng, chi phí giám định, chi phí đăng ký xét xử và trong một số trường hợp đặc biệt, người đưa đơn cần phải chi các khoản phí cho người thứ ba đứng ra bảo lãnh. Quy định về điều kiện và phạm vi miễn trừ chi phí tố tụng ở mỗi nước một khác, đa số đều quy định trong Bộ luật Tố tụng (như Nhật Bản, Đan Mạch…) hoặc trong “Luật Miễn phí tố tụng” chuyên môn (như Phần Lan). Đầu tư gián tiếp bằng phương thức miễn trừ phí tố tụng có ưu điểm là chi phí tương đối thấp mà lại hiệu quả, những nước thi hành chế độ này gồm Thụy Sỹ, Áo, Tây Ban Nha, Nhật Bản, Đan Mạch, Na uy, Phần Lan, các nước Đông Âu và thậm chí cả các nước Châu Phi như Ruanđa, Namibia… Điều cần chỉ ra là trong chế độ miễn phí tố tụng ở các nước Đông Âu, do cách xử lý chi phí pháp lý khác nhau, trong một số trường hợp miễn phí tố tụng với điều kiện tiên quyết là do tranh chấp đặc biệt (như lao động, phí cấp dưỡng, tiền bồi thường tai nạn lao động…) mà không liên quan đến tình hình kinh tế của đương sự.
- Thứ hai, kinh phí từ Quỹ Trợ giúp pháp lý Luận văn: Pháp luật Việt Nam về hoạt động Trợ giúp pháp lý.
Để thích ứng với nhu cầu pháp lý ngày càng tăng của người nghèo và bổ sung những thiếu sót trong hoạt động đầu tư của nhà nước và để thể hiện ý nghĩa của Trợ giúp pháp lý với tư cách là một sự nghiệp công ích. Một số quốc gia và khu vực đã thành lập Quỹ Trợ giúp pháp lý, đồng thời dùng thu nhập của Quỹ làm nguồn quan trọng của kinh phí Trợ giúp pháp lý. Nguồn thu nhập của quỹ không thống nhất, có số thu được từ lợi tức trong khoản mục quỹ tín dụng luật sư như Quỹ tín dụng luật sư tranh tụng của Australia và kế hoạch quỹ ủy thác dịch vụ pháp lý của Hiệp hội luật sư Mỹ; có số thu được từ một phần tiền do đương sự được trợ giúp bồi hoàn lại theo nguyên tắc chia sẻ chi phí và cả chi phí bồi thường từ phía đương sự đối phương thua kiện như Quỹ kế hoạch Trợ giúp pháp lý ở Anh; còn một số có nguồn gốc từ kinh phí công cộng, các khoản tiền phạt của nhà nước… Nhà nước thường có những chính sách ưu đãi như miễn thuế đối với loại quỹ riêng này.
- Thứ ba, từ sự ủng hộ, quyên góp của nhân dân
TGPL vừa là một nhiệm vụ của nhà nước và là sự nghiệp công ích xã hội, ngoài đầu tư nhà nước và lợi nhuận thu được từ quỹ chuyên ngành ra, sự quyên góp của nhân dân cũng là một trong những nguồn kinh phí quan trọng đối với sự nghiệp Trợ giúp pháp lý. Sự quyên góp chủ yếu từ hiệp hội luật sư, cá nhân luật sư chuyên nghiệp, quỹ, tập đoàn từ thiện công cộng, các tổ chức nhân dân và cá nhân khác.
- Thứ tư, một số nguồn khác
Chế độ bảo hiểm tố tụng với hình thức bảo hiểm công cộng hoặc tư nhân được tiến hành ở Ý và các nước Bắc Âu như Thụy Điển, Đan Mạch, Phần Lan, Na – uy… được coi là chế độ dịch vụ pháp lý trả trước và là một nguồn mới của kinh phí Trợ giúp pháp lý. Luận văn: Pháp luật Việt Nam về hoạt động Trợ giúp pháp lý.
Trong chế độ bảo hiểm tố tụng các nước, quy định về điều kiện áp dụng và phạm vi trách nhiệm bảo hiểm đối với mỗi vụ án đều khác nhau nhưng nhìn chung do phải chi trả một số lượng tiền bảo hiểm nhất định, chế độ này chỉ phù hợp với những người thuộc tầng lớp có thu nhập ở mức trung bình, cảm thấy mình có đủ khả năng tham gia vào các vụ tranh chấp pháp lý, chứ không thể thỏa mãn nhu cầu pháp lý chính đáng của dân nghèo, cho nên mặt bằng phổ cập tương đối hẹp. Ngoài ra, chế độ bảo hiểm tố tụng làm cho luật sư ỷ lại vào công ty bảo hiểm để nhận được tiền thù lao, dễ gây ra hậu quả xấu là việc công ty bảo hiểm thao túng vụ án.
Bảo hiểm tố tụng không phải là một loại bảo hiểm độc lập, theo quy định không thể tự mua một mình mà phải mua kèm cùng với các loại bảo hiểm khác như: Ở Thụy Sỹ, bảo hiểm tố tụng thường đi liền với bảo hiểm nhà ở, phương tiện giao thông và bảo hiểm thương mại. Ở Thụy Điển, bảo hiểm tố tụng mua kèm bảo hiểm hỏa hoạn và bảo hiểm gia đình. Ở Đan Mạch, bảo hiểm tố tụng được coi là một bộ phận của các loại bảo hiểm khác như bảo hiểm gia đình hoặc bảo hiểm ô tô. Loại thường gặp nhất là kết hợp với bảo hiểm gia đình, bảo hiểm tố tụng được cung cấp cho người mua bảo hiểm.
1.2.2.4 Quản lý nhà nước về Trợ giúp pháp lý
Nghiên cứu Trợ giúp pháp lý các nước cho thấy, Trợ giúp pháp lý đều giao cho một cơ quan trung ương thuộc Chính phủ đảm nhận. Tuy tên gọi của cơ quan quản lý nhà nước có khác nhau những tựu chung lại, việc quản lý nhà nước giao cho Bộ Tư pháp thực hiện.
Ở Trung Quốc, Phiippine, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước và Văn phòng Luật sư công là một đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
Ở Hàn Quốc, trước năm 1987, Hiệp hội Trợ giúp pháp lý đặt trụ sở tại Bộ Tư pháp, Chủ tịch Hiệp hội là Thứ trưởng Bộ Tư pháp. Hiệp hội bao gồm các nhân viên chuyên trách và một số nhân viên kiêm nhiệm. Từ năm 1987 trở lại đây, Cục Trợ giúp pháp lý Hàn Quốc được thành lập thay thế cho Hiệp hội nói trên. Tuy Cục Trợ giúp pháp lý có trụ sở riêng tách khỏi Bộ Tư pháp nhưng tổ chức và hoạt động vẫn chịu sự giám sát, quản lý của Bộ Tư pháp.
Ở Canada, trước năm 1998, hoạt động Trợ giúp pháp lý do Hội Luật gia quản lý. Sau khi đạo luật mới về Trợ giúp pháp lý ra đời năm 1998, Cục Trợ giúp pháp lý được thành lập để thay thế các chức năng quản lý và thực hiện Trợ giúp pháp lý của Hội Luật gia. Theo quy định của đạo luật thì Cục Trợ giúp pháp lý là một tổ chức độc lập nhưng chịu trách nhiệm trước Chính phủ về hoạt động của mình và Bộ trưởng Bộ Tư pháp có chức năng, nhiệm vụ bổ nhiệm hoặc đề cử thành viên trong Ban lãnh đạo Cục TGPL, phê duyệt kế hoạch hoạt động, kế hoạch tài chính của Cục. Cục Trợ giúp pháp lý có trách nhiệm báo cáo hoạt động hàng năm lên Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Luận văn: Pháp luật Việt Nam về hoạt động Trợ giúp pháp lý.
Ở Anh, Văn phòng Tổng chưởng lý quản lý nhà nước về Trợ giúp pháp lý. Tại Singgapore, giao cho Bộ Pháp luật quản lý. Các nước: Pháp, Mỹ, Nhật Bản…đều giao quyền quản lý tổ chức, hoạt động Trợ giúp pháp lý cho Bộ Tư pháp:
Nội dung quản lý nhà nước về Trợ giúp pháp lý nói chung bao gồm: Lập kế hoạch Trợ giúp pháp lý theo từng năm và qua các giai đoạn; Quản lý việc xây dựng, tổ chức, đào tạo đội ngũ những người làm công tác Trợ giúp pháp lý; Tập trung quản lý và sử dụng ngân sách Trợ giúp pháp lý, đồng thời chịu trách nhiệm duy trì và tăng ngân sách Trợ giúp pháp lý, kiểm tra tình hình sử dụng ngân sách và lợi ích xã hội; Triển khai việc nghiên cứu lý luận về Trợ giúp pháp lý, đề xuất ý kiến cải cách và hoàn thiện chế định Trợ giúp pháp lý; Chịu trách nhiệm kiểm tra pháp luật có liên quan đến công tác Trợ giúp pháp lý, tổ chức soạn thảo xây dựng pháp luật về Trợ giúp pháp lý, đưa ra ý kiến đề nghị để xây dựng hoàn thiện pháp luật về Trợ giúp pháp lý; Chịu trách nhiệm thẩm tra các vụ án về Trợ giúp pháp lý, tổ chức kiểm tra hành chính đối với các vụ về Trợ giúp pháp lý có kiến nghị; Thu thập tài liệu, thông tin về công tác Trợ giúp pháp lý, cung cấp dịch vụ thông tin cho cơ cấu Trợ giúp pháp lý trong nước hoặc địa phương; Chịu trách nhiệm liên lạc đối ngoại về công tác Trợ giúp pháp lý của Nhà nước hoặc khu vực, triển khai rộng rãi việc giao lưu Trợ giúp pháp lý giữa khu vực và quốc tế…
Qua quá trình nghiên cứu các chế định Trợ giúp pháp lý ở một số nước, mặc dù tùy đặc điểm, tình hình mỗi nước có cách thức xây dựng mô hình khác nhau, diện người thực hiện, hình thức, lĩnh vực, nguồn kinh phí bảo đảm hoạt động Trợ giúp pháp lý, chế độ quản lý nhà nước về Trợ giúp pháp lý có những nét khác biệt. Song, Trợ giúp pháp lý đều thể hiện bản chất nhân đạo, nhân văn, không vì mục đích lợi nhuận và hướng đến đối tượng được thụ hưởng dịch vụ chủ yếu là người nghèo, đối tượng chính sách và những đối tượng khác cần được xã hội quan tâm. Và Trợ giúp pháp lý đã và đang khẳng định vai trò sâu sắc trong tính xã hội ở nhiều quốc gia, dù ở quốc gia phát triển hay quốc gia đang phát triển. Luận văn: Pháp luật Việt Nam về hoạt động Trợ giúp pháp lý.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Hoạt động pháp lý giữa Việt Nam với nước ngoài