Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật Việt Nam về Trợ giúp pháp lý hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Pháp luật Việt Nam về Trợ giúp pháp lý dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Khái quát sự hình thành và phát triển Trợ giúp pháp lý ở Việt Nam
TGPL ở nước ta ra đời và phát triển gắn với sự ra đời của chế định tư pháp bảo trợ của nền tư pháp nhân dân dưới chế độ mới, gắn liền với yêu cầu bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội nhằm thực thi tốt nhất các quyền tự do, dân chủ của công dân. Trong mỗi giai đoạn lịch sử, cùng với sự phát triển của điều kiện kinh tế-xã hội, chế định này từng bước hoàn thiện gắn với nhận thức mới về sự phát triển của thị trường dịch vụ pháp lý và nghề luật sư cũng như thể hiện trách nhiệm của Nhà nước đối với người nghèo và các đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khác. Có thể khái quát quá trình hình thành, phát triển như sau:
2.1.1. Giai đoạn trước năm 1987
Dưới chế độ phong kiến, vấn đề giúp đỡ, hỗ trợ, bảo vệ quyền lợi của những người nghèo khổ đã được nhiều triều đại quan tâm giải quyết và tổ chức thực hiện khá tốt, đặc biệt là các chế độ gần dân, thân dân.
“Quốc triều hình luật” đã có những quy định về việc phải quan tâm, giúp đỡ người nghèo, đồng thời đưa ra đường lối xử lý đối với quan lại không thực hiện tốt chính sách đối với người nghèo. Chương Hộ hôn quy định quan sở tại có trách nhiệm thu nuôi, bảo vệ người góa vợ, góa chồng, mồ côi và người tàn tật nặng, nghèo khổ không có người thân tích để nương tự, không thể tự mình mưu sống được, nếu không thực hiện sẽ bị xử phạt; ưu tiên người nghèo, kẻ yếu thế trong đánh thuế hay bắt đi sau dịch (trước phải phân bổ người giàu, người khỏe, sau đến người nghèo, người yếu), nếu không thực hiện hoặc thực hiện không công bằng, quan sở tại sẽ bị phạt.
Bên cạnh đó, các quy định về cứu tế, tương bần, thành lập phường, hội để hỗ trợ, giúp đỡ người nghèo khi khó khăn đột xuất do thiên tai, địch họa, đói kém, mất mùa đã được thể hiện và trở thành truyền thống “lá lành đùm lá rách”, “tương thân, tương ái” của dân tộc ta.
Đáng tiếc sau đó, chính quyền và pháp luật Việt Nam thời Pháp thuộc lại là công cụ chính trị để đế quốc Pháp duy trì chế độ thuộc địa nửa phong kiến; tư bản và đế quốc chủ nghĩa “lấy tôn giáo và văn hóa làm cho ngu dân, lấy pháp luật buộc dân lại, lấy sức mạnh làm cho dân sợ, lấy phú quý làm cho dân tham”. Vì thế, pháp luật không còn là công cụ để duy trì trật tự pháp luật có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân mà là công cụ để trấn áp, cai trị. Vì vậy, những tư tưởng về giúp đỡ, hỗ trợ người nghèo gần như không được đề cập theo tinh thần dân chủ, tiến bộ.
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời, với phương châm: “Muốn giữ vững nền độc lập, muốn làm cho dân mạnh, nước giàu, mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà”. Vì vậy, Nhà nước ta rất chú trọng nâng cao dân chí, tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục cho nhân dân về quyền làm chủ, trách nhiệm của người làm chủ đất nước và chuẩn bị các điều kiện cần thiết để nhân dân trực tiếp thực hiện được quyền làm chủ, tham gia kiến quốc, bảo vệ Tổ quốc và xây dựng nước nhà. Cùng với việc diệt giặc đói, diệt giặc ngoại xâm, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ rất quan tâm diệt giặc dốt, bởi: “Nạn dốt là một trong những phương pháp độc ác mà bọn thực dân dùng để cai trị chúng ta”; “Phải làm sao cho mọi người dân ai cũng ăn no, mặc ấm, ai cũng được học hành”; “Làm cho người nghèo thì đủ ăn. Người đủ ăn thì khá giàu, người khá giàu thì giàu thêm” và “Phải giáo dục lại nhân dân chúng ta”. Luận văn: Pháp luật Việt Nam về Trợ giúp pháp lý.
Trong bối cảnh đó, các quy định về bảo trợ tư pháp gắn với quyền bào chữa và bảo đảm quyền bào chữa đã được ghi nhận trong Hiến pháp để thực hiện tốt nhất các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân không phân biệt giàu nghèo. Theo Hiến pháp năm 1946: “Người bị cáo được quyền tự bào chữa lấy hoặc mượn luật sư”.
Sắc lệnh số 13 ngày 24/01/1946 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời về việc tổ chức các Tòa án và ngạch thẩm phán (được sửa đổi bởi Sắc lệnh số 111 ngày 28/6/1946 và Sặc lệnh số 88/SL ngày 22/5/1950) quy định: “Trong việc đại hình, nếu trước Tòa Thượng thẩm một bị can không có ai bênh vực, ông Chánh án sẽ cử một luật sư để bào chữa cho hắn”; “Các Luật sư có quyền biện hộ trước tất cả các Tòa án, trừ những Tòa sơ cấp”. Đồng thời, Hội thẩm nhân dân có nhiệm vụ:
Giáo dục nhân dân tham dự chính quyền nói chung và tư pháp nói riêng; tuyên truyền giải thích chính sách của Chính phủ cho dân trong xã và gửi cho Tòa án nhân dân…vì Hội thẩm nhân dân có điều kiện gần dân hơn…sát dân, hiểu biết dư luận, nguyện vọng, tình hình của dân làng thì mới giúp được cho Tòa án nhận định và chủ trương sát với quyền lợi nhân dân địa phương” [17].
Theo Sắc lệnh số 46 ngày 10/10/1945 của Chủ tịch lâm thời về việc quy định tổ chức các đoàn thể luật sư: “Các luật sư có quyền bào chữa ở trước tất cả các Tòa án hàng tỉnh trở lên và trước các Tòa quân sự” [16] và quyền bào chữa này được mở rộng cho công dân theo quy định tại Sắc lệnh số 69/SL ngày 18/6/1949.
Một công dân muốn được “tư pháp bảo trợ” thì phải làm đơn. Nếu “người đương sự” được kiện thì việc được hưởng “tư pháp bảo trợ” có hiệu lực cho đến khi thi hành xong hẳn bản án mà “người đương sự” không phải nộp một khoản lệ phí nào, kể cả việc cấp trích lục án, phí tổn này sẽ do công khố chịu. Các quy định này đã thể hiện nhận thức đúng đắn của chế độ ta về vị trí của quyền tự do bào chữa của công dân là “thành trì cần thiết cho các quyền tự do khác”. Nhà nước ta đã ghi nhận quyền bào chữa và bảo đảm thực hiện quyền bào chữa cho bị cáo không phân biệt họ giàu hay nghèo khi cho phép họ được nhờ luật sư hoặc người công dân khác không phải luật sư đứng ra bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và coi đây là nguyên tắc Hiến pháp. Nó giúp cho công tác xét xử được tiến hành toàn diện và khách quan, bênh vực được các quyền và lợi ích hợp pháp của người bị can, đồng thời bảo vệ pháp luật của Nhà nước, hơn nữa, trong chế độ dân chủ nhân dân, “nếu bị can không được sử dụng đầy đủ quyền bào chữa thì không gọi là có công lý”. Luận văn: Pháp luật Việt Nam về Trợ giúp pháp lý.
Thực hiện tốt quyền bào chữa không chỉ nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật của Nhà nước ta mà còn bảo đảm thực hiện tốt nguyên tắc quan trọng của tố tụng là: “trước khi tuyên án, bị can phải được coi như người vô tội”. Sắc lệnh số 69/SL ngày 18/6/1949 và Sắc lệnh số 144/SL ngày 22/12/1949 về việc mở rộng tổ chức bào chữa, cho phép người công dân không phải là luật sư có thể bào chữa cho đương sự trước các Tòa án xử việc hộ và thương mại cho bị can trước các Tòa án xử việc hình.
Ngày 12/01/1950, Bộ Tư pháp đã ban hành Nghị định số 1/NĐ-VY ấn định điều kiện để làm bào chữa viên nhân dân và phụ cấp của bào chữa viên nhân dân và Thông tư số 101/HCTP ngày 28/9/1957 của Bộ Tư pháp quy định về việc tổ chức bào chữa viên nhân dân. Thông tư số 101/HCTP nêu rõ: “Trong lúc chưa có sự sửa đổi gì về chế định bào chữa viên nhân dân của ta, thì vẫn phải thi hành các Sắc lệnh số 69/SL ngày 18/6/1949 và Nghị định số 1/NĐ-VY ngày 12/01/1950 quy định về tổ chức bào chữa viên nhân dân” [3].
Năm 1951, vì nhu cầu kháng chiến, đoàn thể luật sư tạm ngừng hoạt động. Sau ngày tiếp quản thủ đô, đoàn thể luật sư đã hoạt động trở lại với một Hội đồng luật sư ở Hà Nội.
Năm 1963, Văn phòng Luật sư thí điểm được thành lập và có nhiệm vụ: “giải đáp pháp luật cho nhân dân và cán bộ; làm giúp cho đương sự những đơn từ và các văn kiện pháp luật như hợp đồng, khế ước”. Lúc đầu, Văn phòng Luật sư nhận bào chữa những vụ án do Tòa án yêu cầu.
Năm 1972, Ủy ban pháp chế của Chính phủ được thành lập. Ngày 22/11/1981, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 143-HĐBT quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Bộ Tư pháp. Theo văn bản này, Bộ Tư pháp có nhiệm vụ quản lý hoạt động hành chính tư pháp trong đó có nhiệm vụ quản lý công tác Luật sư, Tư vấn pháp luật.
Trên nền tảng Hiến pháp năm 1946, ở các bản Hiến pháp năm 1959, 1980, vấn đề “tư pháp bảo trợ” được tiếp tục thể hiện gắn với nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo. Luận văn: Pháp luật Việt Nam về Trợ giúp pháp lý.
Năm 1982, Việt Nam tham gia Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị. Theo Điều 14, điểm 3 phần d Công ước, quá trình xét xử một tội hình sự, mỗi người đều có quyền đòi hỏi một cách hoàn toàn bình đẳng những bảo đảm tối thiểu như là:
Được có mặt trong khi xét xử và được tự bào chữa hoặc nhờ sự giúp đỡ về pháp lý do mình chọn; nếu chưa có sự giúp đỡ về pháp lý thì phải được thông báo về quyền này; trong trường hợp do lợi ích của công lý đòi hỏi, phải bố trí cho người đó một sự giúp đỡ pháp lý mà người đó không phải trả tiền nếu không có đủ điều kiện trả” [23].
Việc tham gia Công ước này đòi hỏi Nhà nước ta phải đổi mới tư duy về quyền được tiếp cận luật sư, người có kiến thức pháp luật của mọi công dân không phân biệt giàu nghèo, tạo tiền đề cho việc nghiên cứu và hoàn thiện chế định tư pháp bảo trợ với nội dung và phương thức mới, không chỉ dừng lại ở bảo đảm quyền bào chữa mà còn gắn với quyền được tiếp cận và sử dụng pháp luật của công dân, nhất là những người có hoàn cảnh đặc biệt (không có đủ điều kiện trả tiền) nhằm đảm bảo công bằng xã hội.
Như vậy, trong giai đoạn này, Trợ giúp pháp lý chưa ra đời với tư cách là chế định pháp luật, chưa gắn với người nghèo và các đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt mà nằm chung trong cơ chế bao cấp pháp lý của Nhà nước. Ngân sách nhà nước chi trả mọi chi phí cho hoạt động Tư vấn pháp luật, đại diện, bào chữa trong các vụ án hình sự, dân sự… Các đương sự hầu như không phải bỏ một khoản chi nào (kể cả chi phí cho luật sư). Những hoạt động mang tính chất Trợ giúp pháp lý đã ra đời dưới hình thức: “tư pháp bảo trợ”, gắn liền với yêu cầu bảo đảm quyền bào chữa của người bị can, bị cáo. Còn trong các lĩnh vực như hành chính, lao động, việc làm và một số lĩnh vực pháp luật khác ít được đề cập đến. Thời kỳ này, chưa có hệ thống cơ quan Trợ giúp pháp lý chuyên trách cho người nghèo và các đối tượng chính sách. Hoạt động này chủ yếu do luật sư, cán bộ, công chức nhà nước và các công dân khác không phải là luật sự thực hiện để bảo đảm quyền bào chữa cho bị can, bị cáo mà chưa được mở rộng quyền tiếp cận pháp luật cho các đối tượng đặc thù như một số nước, đặc biệt là người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số.
2.1.2. Giai đoạn từ năm 1987 đến năm 1997 Luận văn: Pháp luật Việt Nam về Trợ giúp pháp lý.
Thực hiện đường lối đổi mới, cơ chế tập trung, bao cấp từng bước bị xóa bỏ, nền kinh tế thị trường được hình thành, phát triển. Hoạt động luật sư, Tư vấn pháp luật được coi là một hoạt động nghề nghiệp.
Pháp lệnh Tổ chức luật sư năm 1987 và Nghị định số 15/HĐBT ngày 21/02/1989 của Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quy chế Đoàn Luật sư đã xác định một số vụ việc Luật sư thực hiện giúp đỡ cho đối tượng mà không được thu phí như bào chữa cho bị can, bị cáo theo chỉ định của các cơ quan tiến hành tố tụng (trường hợp này luật sư được nhận thù lao do Tòa án chỉ định thanh toán). Quy chế xác định rõ các đối tượng được miễn trả thù lao khi nhờ luật sư giúp đỡ pháp lý, đó là: Nguyên đơn ở các Tòa án trong các vụ việc đòi tiền cấp dưỡng nuôi con, đòi bồi thường thiệt hại do tai nạn lao động, bồi thường thiệt hại do tai nạn làm chết người trụ cột của gia đình, khiếu nại về việc bầu cử Hội đồng nhân dân theo quy định của Luật Bầu cử Hội đồng nhân dân; thương binh hạng nặng (loại 1, 2/4); đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp khi nhờ luật sư giải thích pháp luật, hướng dẫn cho cử tri; thành viên của tổ hòa giải khi nhờ luật sư giải thích pháp luật những vấn đề có liên quan đến hoạt động xã hội của họ. Ngoài ra, với những công dân có hoàn cảnh kinh tế khó khăn hoặc các trường hợp đặc biệt khác nếu có đơn yêu cầu thì Ban chủ nhiệm Đoàn Luật sư có thể xét miễn hoặc giảm thù lao cho họ.
Do luật sư quá ít nên việc Tư vấn pháp luật miễn phí của những người không phải là luật sư cũng được đề cập tại Thông tư số 1119/QLTPK ngày 24/12/1987 và Công văn số 870/CV-LSTV ngày 23/10/1989 của Bộ tư pháp cho phép Hội luật gia và các Đoàn luật sư được mở Văn phòng Tư vấn pháp luật nhằm giúp đỡ pháp luật cho các đối tượng, trong đó có một số vụ việc giúp đỡ miễn phí.
Sự ra đời của các văn bản trên đây về cơ bản đã tạo lập cơ sở pháp lý tương đối cụ thể cho sự ra đời và phát triển của dịch vụ pháp lý miễn phí ở Việt Nam. Giai đoạn này, yếu tố “dịch vụ” chỉ mang tính chất của hoạt động phục vụ mà chưa có yếu tố “thị trường” của “cung” và “cầu”. Các văn bản này đã tạo cơ chế pháp lý cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của hoạt động Trợ giúp pháp lý xã hội do luật sư thực hiện theo nghĩa vụ theo yêu cầu của cơ quan nhà nước (do ngân sách nhà nước chi trả) và tự nguyện, miễn phí với một số đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt.
Theo thống kê, đến năm 1996, ở nước ta đã có 61 Hội luật gia cấp tỉnh với 37 Văn phòng Tư vấn pháp luật (tại thành phố Hồ Chí Minh có 15 Văn phòng; tại Hà Nội có 11 văn phòng); 61 Đoàn luật sư cấp tỉnh với 46 Chi nhánh Đoàn luật sư; 12 Văn phòng hoặc Trung tâm Tư vấn pháp luật của các tổ chức chính trị- xã hội; 04 Văn phòng Tư vấn pháp luật của Liên đoàn Lao động Việt Nam; 03 Văn phòng Tư vấn pháp luật của Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ; 02 Văn phòng Tư vấn pháp luật của Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, và 24 Công ty Luật hoạt động dưới hình thức Công ty trách nhiệm hữu hạn. Các tổ chức này đã trực tiếp hoặc phối hợp với các Trung tâm Trợ giúp pháp lý được thành lập thí điểm để thực hiện Trợ giúp pháp lý mang tính nhân đạo, từ thiện. Luận văn: Pháp luật Việt Nam về Trợ giúp pháp lý.
Trước bối cảnh Việt Nam tham gia ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, việc mở rộng quan hệ đầu tư, hợp tác với nước ngoài đòi hỏi phải phát triển thị trường dịch vụ pháp lý của Luật sư. Yêu cầu đó đặt ra vấn đề cần phải tạo môi trường, hành lang pháp lý thuận lợi cho hoạt động của tổ chức luật sư nước ngoài vào hành nghề tại Việt Nam nhằm góp phần thúc đẩy đầu tư và phát triển kinh tế đối ngoại trong thời kỳ đổi mới. Ngày 18/5/1995, tại phiên họp Ban Bí thư, Tổng Bí thư Đỗ Mười khẳng định:
Chúng ta cần chú ý các biện pháp để tăng cường hoạt động pháp lý mang tính kinh doanh, dịch vụ phục vụ đầu tư nhưng cũng cần chú trọng công tác tư vấn, hướng dẫn pháp luật cho nhân dân, mà đặc biệt là người nghèo, đồng bào dân tộc ít người. Công tác này chưa được quan tâm đúng mức. Đây là vấn đề cần được nghiên cứu và làm ngay trong thời gian tới” [44].
Tiếp đó, Nghị quyết Trung ương 3 khóa VII đã chỉ đạo cần phải tổ chức hình thức Tư vấn pháp luật cho các cơ quan, tổ chức và nhân dân, tạo điều kiện cho người nghèo được hưởng dịch vụ Tư vấn pháp luật miễn phí.
Ngày 31/5/1995, Văn phòng Trung ương Đảng có Công văn số 485/CV-VPTW thông báo ý kiến chỉ đạo của Ban Bí thư gửi Ban cán sự Đảng Chính phủ, Ban cán sự Đảng Bộ Tư pháp đề nghị: “xác định phạm vi thích hợp hoạt động Tư vấn pháp luật của tổ chức nhà nước, tổ chức xã hội và cá nhân, trước hết chú trọng tổ chức Tư vấn pháp luật của nhà nước…; cần nghiên cứu lập hệ thống dịch vụ Tư vấn pháp luật không lấy tiền để hướng dẫn nhân dân sống và làm việc theo pháp luật”[48].
Trong thư ngày 20/12/1995 gửi cán bộ, nhân viên ngành Tư pháp nhân dịp kỷ niệm 50 năm thành lập ngành, nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười nhấn mạnh: “Nhà nước phải nghiên cứu sớm thành lập một hệ thống các tổ chức Tư vấn pháp luật không mất tiền dành cho người nghèo; các gia đình thuộc diện chính sách và đồng bào dân tộc thiểu số”[34]. Chỉ đạo này đã định hướng để đổi mới tư duy về công tác cung ứng dịch vụ pháp lý, đặt mốc cho quá trình chuyển biến sâu sắc, mạnh mẽ và toàn diện trong nhận thức và hoạt động của đời sống pháp luật, tạo tiền đề về mặt chính trị- pháp lý cho sự ra đời và phát triển của công tác Trợ giúp pháp lý. Luận văn: Pháp luật Việt Nam về Trợ giúp pháp lý.
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Ban Bí thư, Bộ Tư pháp đã chủ động nghiên cứu, tham mưu giúp Chính phủ triển khai thí điểm thành lập các Trung tâm Trợ giúp pháp lý của nhà nước tại một số tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (Cần Thơ ngày 13/7/1996, Hà Tây ngày 28/01/1997). Hoạt động Trợ giúp pháp lý thí điểm ở 02 tỉnh đã được nhân dân Cần Thơ và Hà Tây đón nhận như một chính sách xã hội rộng lớn. Do được Ủy ban nhân dân các cấp nhiệt tình hưởng ứng, nhân dân biết đến nhanh nên hoạt động Trợ giúp pháp lý đã thu được một số kết quả đáng khích lệ (trên 700 vụ/02 địa phương), số vụ việc ngày càng tăng, nhiều đối tượng đã gửi thư cảm ơn. Lãnh đạo hai tỉnh đánh giá cao và coi đây là một trong những loại hình đưa chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống hiệu quả nhất. Kết quả thí điểm là tiền đề quan trọng cho sự ra đời của hệ thống Trợ giúp pháp lý nhà nước.
Ngày 13/3/1997, tại buổi làm việc với Bộ Tư pháp, đồng chí Võ Văn Kiệt, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Thủ tướng Chính phủ đã nhấn mạnh:
Chúng ta không sợ dân đi kiện, vấn đề là làm sao để dân kiện đúng, kiện đúng người, đúng việc, đúng chỗ nếu họ bị oan, giúp nhà nước phát hiện những vi phạm công vụ, những “con sâu làm dầu nồi canh”, khắc phục bất cập của nhà nước đối với những vướng mắc của người dân. Các tổ chức Trợ giúp pháp lý ra đời sẽ giúp dân và nhà nước giải quyết vấn đề này” [35].
Có thể khẳng định, giai đoạn này, chế định Trợ giúp pháp lý mang tính chất từ thiện, nhân đạo đã ra đời, tồn tại và phát triển gắn với sự phát triển của nghề luật sư và nghề Tư vấn pháp luật ở nước ta những năm đầu đổi mới. Hoạt động Trợ giúp pháp lý giai đoạn này đã thể hiện rõ tính chất từ thiện, nhân đạo, vừa gắn với bảo đảm quyền bào chữa của đương sự, vừa tính đến người nghèo, các đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt. Các hoạt động Trợ giúp pháp lý của Nhà nước chưa hình thành với tư cách một hệ thống mà mới hình thành ở những quan điểm, chủ trương, định hướng lớn của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, được thể hiện dưới hình thức thí điểm, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, vừa học hỏi các nước đi trước, gắn với việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người nghèo, đối tượng chính sách. Nguồn kinh phí bảo đảm cho hoạt động Trợ giúp pháp lý do các Trung tâm Trợ giúp pháp lý của Nhà nước thực hiện do ngân sách nhà nước bảo đảm và một phần từ sự hỗ trợ, giúp đỡ của các tổ chức quốc tế.
Tuy nhiên, hoạt động Trợ giúp pháp lý trong giai đoạn này của các cơ quan nhà nước chỉ mang tính chất công vụ. Hoạt động Trợ giúp pháp lý của Hội Luật sư, các Đoàn Luật sư chưa phải là hoạt động Trợ giúp pháp lý chính thức của các luật sư, chưa có cơ chế bảo đảm trong quy định của pháp luật và chưa có sự hỗ trợ từ phía Nhà nước, mà mới chỉ mang tính chất trợ giúp, phục vụ nhiệm vụ chính trị-xã hội hoặc mang tính tự nguyện, từ thiện và nhân đạo, ngay cả khi các trường hợp miễn, giảm thù lao luật sư được quy định trong Quy chế Đoàn luật sư và trong thời đó đã được các Đoàn luật sư tỉnh, thành phố thực hiện, thì các công việc Trợ giúp pháp lý miễn phí đó rất hạn chế, vẫn chưa thực sự được tiến hành một cách chính quy, có tổ chức, có hệ thống, chưa được pháp luật quy định như một nghĩa vụ, trách nhiệm của luật sư hành nghề đối với cộng đồng. Mặt khác, đối tượng Trợ giúp pháp lý theo Điều 33 Quy chế Đoàn luật sư là một số vụ việc cụ thể chứ không nhằm vào đối tượng người nghèo, những đối tượng không có khả năng chi trả thù lao cho luật sư trong bất kỳ trường hợp nào.
Trong khi đó, theo tính chất hoạt động của Trợ giúp pháp lý thì người nghèo và đối tượng chính sách là những đối tượng chủ yếu được Trợ giúp pháp lý miễn phí. Thực tế cho thấy rằng, nếu vẫn duy trì công tác Trợ giúp pháp lý với phương thức và hình thức như đã phân tích, đánh giá nêu trên thì không thể giải quyết được một cách thỏa đáng, sâu rộng và đồng thời nhu cầu về Trợ giúp pháp lý của người nghèo và các đối tượng chính sách. Đặc biệt là trong điều kiện xu hướng phân hóa giàu nghèo, sự phát triển không đồng đều giữa các vùng và tầng lớp dân cư, sự khác nhau về trình độ dân trí đang tạo nên sự chênh lệch về điều kiện tiếp cận với pháp luật. Do đó, cùng với việc củng cố và hoàn thiện hoạt động luật sư theo hướng chuyên nghiệp hóa nhằm xây dựng một đội ngũ luật sư có kiến thức và kỹ năng hành nghề phù hợp với trình độ phát triển kinh tế-xã hội trong thời kỳ mới, thì việc hình thành hệ thống tổ chức Trợ giúp pháp lý miễn phí của Nhà nước cho người nghèo và các đối tượng chính sách là yêu cầu cấp thiết, khách quan.
2.1.3. Giai đoạn từ năm 1997 đến nay Luận văn: Pháp luật Việt Nam về Trợ giúp pháp lý.
Tổng kết hoạt động Trợ giúp pháp lý thí điểm ở thành phố Cần Thơ và tỉnh Hà Tây. Ngày 06/9/1997, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 734/QĐ-TTg về việc thành lập hệ thống Trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách. Theo Quyết định này, hệ thống tổ chức Trợ giúp pháp lý, bao gồm Cục Trợ giúp pháp lý thuộc Bộ Tư pháp và Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước trực thuộc Sở Tư pháp ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã ra đời.
Tiếp đó, để tăng cường hoàn thiện thể chế, chính sách về Trợ giúp pháp lý, nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh trực tiếp hoặc có liên quan đến Trợ giúp pháp lý lần lượt được ban hành như: Pháp lệnh Luật sư năm 2001 sau đó là Luật Luật sư với quy định về quyền và nghĩa vụ của luật sư khi tham gia Trợ giúp pháp lý; Thông tư liên tịch số 52/TTLT-TP-TCCP-LĐTBXH ngày 14/1/1998 của liên bộ Tư pháp-Tài chính- Tổ chức Cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ)- Lao động, Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện Quyết định số 734/QĐ-TTg; Thông tư liên tịch số 187/1998/TTLT-TCCP-TC-TP ngày 30/3/1998 của liên bộ Tài Chính, Tư pháp, Tổ chức cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ) hướng dẫn chế độ Cộng tác viên Trợ giúp pháp lý. Mặt khác, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành các văn bản như: Thông tư số 07/1998/TT-BTP ngày 5/12/1998 hướng dẫn về công tác quản lý và thực hiện Trợ giúp pháp lý; Quyết định số 458/QĐ-BTP ngày 3/6/1998 ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Cục Trợ giúp pháp lý; Quyết định số 459/QĐ-BTP ngày 3/6/1998 ban hành Quy chế Cộng tác viên Trợ giúp pháp lý; Quyết định số 224/QĐ-BTP ngày 05/8/1999 ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước; Quyết định số 2257/2002/QĐ-BTP thành lập Quỹ Trợ giúp pháp lý Việt Nam trực thuộc Cục Trợ giúp pháp lý và Quyết định số 258/2002/QĐ-BTP về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Quỹ Trợ giúp pháp lý Việt Nam…
Với sự quyết tâm của Đảng và Nhà nước ta trong công tác hoàn thiện thể chế, chính sách về Trợ giúp pháp lý, sự ủng hộ, tạo điều kiện tích cực của các cấp ủy Đảng, chính quyền và mọi tầng lớp nhân dân cùng với sự nỗ lực cố gắng trong quá trình hoạt động, hệ thống Trợ giúp pháp lý nước ta ngày càng mở rộng và phát triển, đội ngũ làm công tác trợ giúp pháp lý không ngừng được tăng lên, nhiều nhu cầu, vướng mắc của người dân đã được giải quyết thấu đáo, kịp thời, quan hệ phối hợp giữa mạng lưới tổ chức Trợ giúp pháp lý với nhiều cơ quan, ban, ngành, đoàn thể xã hội ngày càng có sự gắn kết chặt chẽ. Từ những thành công ở bước đi đầu tiên đó đặt ra yêu cầu, đòi hỏi cần phải đưa hoạt động Trợ giúp pháp lý khẳng định vai trò mạnh mẽ, sâu rộng trong đời sống xã hội, ở sự phát triển trên tầm cao mới. Luận văn: Pháp luật Việt Nam về Trợ giúp pháp lý.
Và dấu mốc quan trọng phải kể đến là Luật Trợ giúp pháp lý được Quốc hội khóa XI kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2006 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2007 đánh dấu 10 năm hệ thống tổ chức Trợ giúp pháp lý đi vào hoạt động. Có thể thấy, sự ra đời của Luật Trợ giúp pháp lý có ý nghĩa quan trọng trong đời sống pháp luật nước nhà, không chỉ khẳng định quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước trong việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật mà còn từng bước hoàn thiện cơ chế tổ chức thực hiện pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống, đáp ứng yêu cầu quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân.
Luật Trợ giúp pháp lý ra đời thể hiện sự nhất quán và đồng bộ trong việc xây dựng và hoàn thiện chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước ta để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho những người có hoàn cảnh đặc biệt cần được nhà nước và xã hội quan tâm giúp đỡ, gắn phát triển kinh tế với đảm bảo công bằng xã hội, phấn đấu vì một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện, đồng thời khẳng định sự phát triển về chất của công tác Trợ giúp pháp lý nói riêng và công tác tư pháp nói chung. Bởi lẽ, Luật Trợ giúp pháp lý là văn bản pháp lý đầu tiên có hiệu lực pháp lý cao nhất điều chỉnh toàn diện về tổ chức và hoạt động của một lĩnh vực quản lý chuyên môn của ngành tư pháp- lĩnh vực Trợ giúp pháp lý, tạo hành lang pháp lý đồng bộ trong bảo đảm quyền được tiếp cận và sử dụng pháp luật của công dân, giúp người được Trợ giúp pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, góp phần phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật, thể hiện tính ưu việt của pháp luật và chế độ ta.
Luật Trợ giúp pháp lý ra đời đã điều chỉnh một cách toàn diện và có hệ thống các vấn đề về người được Trợ giúp pháp lý, tổ chức thực hiện Trợ giúp pháp lý, người thực hiện Trợ giúp pháp lý và quản lý nhà nước về Trợ giúp pháp lý. Lần đầu tiên, khái niệm Trợ giúp pháp lý được thể hiện tại điều 3 của Luật đã tạo cơ sở nhận thức thống nhất trong nghiên cứu lý luận và chỉ đạo thực tiễn. Nhiều vấn đề mới liên quan tổ chức và hoạt động Trợ giúp pháp lý lần đầu tiên được đề cập, bao gồm: Các nguyên tắc hoạt động Trợ giúp pháp lý; vụ việc Trợ giúp pháp lý; chính sách Trợ giúp pháp lý; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong hoạt động Trợ giúp pháp lý; các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động Trợ giúp pháp lý; đăng ký tham gia Trợ giúp pháp lý của tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức Tư vấn pháp luật và quyền và nghĩa vụ khi tham gia; các chế định về trợ giúp viên pháp lý, luật sư, tư vấn viên pháp luật; quản lý nhà nước về Trợ giúp pháp lý; khen thưởng, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại tố cáo về Trợ giúp pháp lý…Ngoài ra, các vấn đề khác cũng đã được pháp điển hóa và nâng cấp lên một tầm cao mới đáp ứng yêu cầu của thực tiễn phát triển đất nước cũng như yêu cầu phát triển của công tác Trợ giúp pháp lý trong tình hình mới.
Trên cơ sở Luật Trợ giúp pháp lý, nhiều văn bản pháp luật hướng dẫn, cụ thể hóa luật được ban hành như: Nghị định số 07/2007/NĐ-CP ngày 12/01/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý; Nghị định số 14/2013/NĐ-CP ngày 5/02/2013 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 07/2007/NĐ-CP ngày 12/01/2007 của Chính phủ; Thông tư số 05/2008/TT-BTP ngày 23/9/2008 của Bộ Tư pháp hướng dẫn về nghiệp vụ Trợ giúp pháp lý và quản lý nhà nước về Trợ giúp pháp lý; Thông tư số 07/2012/TT-BTP ngày 30/7/2012 của Bộ Tư pháp hướng dẫn về CTV Trợ giúp pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước; Thông tư liên tịch số 11/2013/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC ngày 4/7/2013 của Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thực hiện một số quy định về Trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng; Thông tư liên tịch số 08/2008/TTLT-BTP-BNV ngày 7/11/2008 của Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ hướng dẫn về tổ chức và biên chế của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước; Thông tư liên tịch số 01/2012/TTLT-BTP-UBDT ngày 17/01/2012 của Bộ Tư pháp, Ủy ban Dân tộc hướng dẫn thực hiện Trợ giúp pháp lý đối với người dân tộc thiểu số; Quyết định 02/2008/QĐ-BTP ngày 28/02/2008 của Bộ Tư pháp về việc ban hành Quy chế mẫu về tổ chức và hoạt động của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước; Quyết định 03/2008/QĐ-BTP ngày 28/02/2008 của Bộ Tư pháp về việc ban hành Điều lệ mẫu về tổ chức và hoạt động của Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý…
Để định hướng phát triển về mạng lưới tổ chức Trợ giúp pháp lý đáp ứng yêu cầu phát triển của công tác này trong tình hình mới. Ngày 29/6/2008, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 792/QĐ-TTg ngày 23/6/2008 phê duyệt Đề án: “Quy hoạch mạng lưới Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước và Chi nhánh của Trung tâm giai đoạn 2008 – 2010, định hướng đến năm 2015” với các mục tiêu quy hoạch và cụ thể phát triển mạng lưới Trung tâm và Chi nhánh đến năm 2015; những nhiệm vụ, giải pháp phải triển khai thực hiện và trách nhiệm tổ chức thực hiện Đề án của các Bộ, ngành, chính quyền địa phương có liên quan.
Tiếp đó, để đầu tư cho công tác pháp lý phát triển theo chiều sâu với tính chất dài hạn, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược phát triển Trợ giúp pháp lý ở Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 tại Quyết định số 678/QĐ-TTg ngày 10/5/2011. Chiến lược đã xác định các quan điểm, mục tiêu phát triển, các giải pháp để thực hiện các mục tiêu được đề ra và các biện pháp tổ chức thực hiện Chiến lược, đặc biệt là các điều kiện đảm bảo về kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện làm việc và chất lượng nguồn nhân lực. Sự ra đời của Chiến lược đánh dấu bước phát triển quan trọng về chất của Trợ giúp pháp lý. Lần đầu tiên, một lĩnh vực hoạt động chuyên ngành thuộc phạm vi quản lý nhà nước của ngành tư pháp có Chiến lược phát triển, cùng với Luật Trợ giúp pháp lý, quy hoạch mạng lưới đã góp phần hoàn thiện thể chế pháp lý điều chỉnh toàn diện về tổ chức và hoạt động Trợ giúp pháp lý, đưa công tác Trợ giúp pháp lý hướng đến phát triển bền vững.
Như vậy, từ năm 1997 cho đến nay, cùng với sự hoàn thiện mạnh mẽ về thể chế, chính sách Trợ giúp pháp lý, mô hình Trợ giúp pháp lý đã được hình thành và phát triển rõ nét ở các địa phương trong cả nước.
Tổng kết sau hơn 15 năm đi cùng và giải quyết những vướng mắc pháp luật của người dân với gần 1,5 triệu vụ việc được thực hiện cho gần 1,4 triệu lượt người có nhu cầu (trong đó, 40,7% người nghèo, 14,3% đối tượng chính sách, 14,9% người dân tộc thiểu số, 4,6% trẻ em…)[19]. Công tác Trợ giúp pháp lý ở Việt Nam đã khẳng định được vị trí, vai trò của mình và thực sự bám rễ trong đời sống pháp luật, góp phần tích cực vào quá trình tổ chức thực hiện pháp luật, bảo đảm quyền con người, tăng cường dân trí pháp lý, thực hiện dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ổn định đời sống xã hội, xóa đói giảm nghèo, thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế trong điều kiện đổi mới của đất nước, được đông đảo nhân dân đồng tình ủng hộ, tin cậy, được Đảng và Nhà nước quan tâm đầu tư. Luận văn: Pháp luật Việt Nam về Trợ giúp pháp lý.
Công tác Trợ giúp pháp lý đã và đang có tác động tích cực đến đời sống pháp luật của người nghèo, đối tượng chính sách, tác động đến chất lượng thực thi công vụ, hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế thực thi, áp dụng pháp luật, góp phần quan trọng vào công cuộc cải cách tư pháp, cải cách hành chính và tổ chức thực hiện pháp luật, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Cụ thể:
Thứ nhất, Trợ giúp pháp lý đã góp phần thiết thực bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho hàng triệu người nghèo và các đối tượng chính sách có vướng mắc pháp luật, giúp họ nâng cao hiểu biết pháp luật để mỗi người dân đều có thể lựa chọn những hành vi xử sự đúng pháp luật, quyền và lợi ích hợp pháp của họ được bảo vệ, tạo niềm tin vào pháp luật; góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, giữ vững trật tự an toàn xã hội và ổn định tình hình chính trị. Đồng thời, Trợ giúp pháp lý cũng đóng góp vai trò quan trọng trong việc đẩy mạnh công tác tổ chức, thực hiện pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống, khắc phục những bất cập trong giải quyết công việc của dân.
Thứ hai, thông qua các vụ việc Trợ giúp pháp lý cụ thể ở địa bàn, hoạt động này đã tạo được sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, các cơ quan, ban, ngành, tổ chức và nhân dân về việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, qua đó nâng cao tinh thần trách nhiệm trong hoạt động công vụ.
Chính sách Trợ giúp pháp lý đã và đang tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của toàn xã hội về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của pháp luật trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền, gắn tăng trưởng kinh tế với bảo đảm công bằng xã hội, hạn chế những vấn đề tiêu cực phát sinh từ nền kinh tế thị trường. Hiện nay, công tác này đã khẳng định thuộc trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trong đó Nhà nước giữ vai trò nòng cốt trong việc thực hiện và tổ chức thực hiện Trợ giúp pháp lý; khuyến khích, tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, tổ chức hành nghề luật sư và luật sư, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác tham gia đóng góp, hỗ trợ cho Trợ giúp pháp lý.
Thứ ba, công tác Trợ giúp pháp lý đã góp phần quan trọng vào công cuộc cải cách hành chính, cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Công tác này không chỉ nâng cao ý thức pháp luật, trình độ dân trí pháp lý, tạo lập thói quen, nếp sống và làm việc theo pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được Trợ giúp pháp lý, tạo lập và củng cố niềm tin của nhân dân vào chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước mà còn tăng cường nhận thức trách nhiệm pháp lý của cán bộ, công chức đối với nhân dân. Do đó, Trợ giúp pháp lý đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong đời sống pháp luật của xã hội. Hoạt động này đã góp phần đưa pháp luật vào cuộc sống, trở thành cầu nối giữa nhà nước với nhân dân, góp phần khắc phục những vướng mắc, bất cập trong hoạt động công vụ, giữ gìn trật tự an toàn xã hội và ổn định chính trị, giảm thiểu các khiếu kiện sai trái, vượt cấp. Đồng thời, góp phần thực hiện chủ trương xóa đói, giảm nghèo toàn diện của Đảng ta cũng như tham gia tích cực vào các hoạt động đền ơn, đáp nghĩa, giữ gìn đoàn kết cộng đồng, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật, thể hiện tính ưu việt của pháp luật và chế độ ta. Qua đó, từng bước nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế trong việc bảo vệ nhân quyền, bảo đảm công lý với phong trào giảm nghèo toàn cầu phù hợp với xu thế phát triển của thế giới. Luận văn: Pháp luật Việt Nam về Trợ giúp pháp lý.
Bằng các hoạt động thiết thực và có hiệu quả của mình, các tổ chức Trợ giúp pháp lý đã đóng góp tích cực trong việc thực hiện chiến lược xóa đói giảm nghèo, thực hiện bình đẳng của dân tộc, mang lại công bằng cho người nghèo và đối tượng chính sách trong việc tiếp cận với pháp luật, tạo niềm tin của người dân nói chung và người nghèo nói riêng vào pháp luật.
Đồng hành cùng với sự thành công đó là sự ủng hộ, hỗ trợ tích cực của các tổ chức quốc tế dành cho Trợ giúp pháp lý ở Việt Nam. OXFAM NOVID Hà Lan là nhà tài trợ đầu tiên hỗ trợ dự án cho hệ thống Trợ giúp pháp lý ở Việt Nam, đầu tiên là đối với Cục Trợ giúp pháp lý và 6 Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh, thành phố được thành lập vào năm 1997. Tiếp đến là các nhà tài trợ quốc tế khác như SIDA Thụy Điển, SDC Thụy Sỹ, Tổ chức Cứu trợ trẻ em Thụy điển (SCS), Viện Nhân quyền Đan Mạch, Quỹ Châu Á, CIDA Ca na đa, Nzaid Niu Dilân và UNDP. Từ năm 1997 đến năm 2005, các nhà tài trợ đã hỗ trợ thông qua các dự án Trợ giúp pháp lý riêng lẻ được thực hiện ở các tỉnh khác nhau. Năm 2005, 04 nhà tài trợ OXFAM NOVID, SIDA, SDC và SCS đã cùng với Cục Trợ giúp pháp lý xây dựng một dự án chung về: “Hỗ trợ hệ thống Trợ giúp pháp lý ở Việt Nam, 2005-2009” để hỗ trợ cho tất các các tổ chức Trợ giúp pháp lý trong toàn quốc. Bên cạnh đó, Viện nhân quyền Đan Mạch vẫn tiếp tục tài trợ một dự án riêng cho Cục Trợ giúp pháp lý giai đoạn 2007-2009.
Tài trợ của các tổ chức quốc tế thông qua dự án đã có những đóng góp quan trọng đối với sự phát triển của hệ thống Trợ giúp pháp lý ở Việt Nam. Các Dự án đã cung cấp rất nhiều hỗ trợ kỹ thuật có giá trị để nâng cao năng lực của Cục Trợ giúp pháp lý, các Trung tâm Trợ giúp pháp lý và các tổ chức tham gia Trợ giúp pháp lý trong việc quản lý và thực hiện Trợ giúp pháp lý. Cục Trợ giúp pháp lý và các Trung tâm cũng đã có cơ hội để khảo sát, học hỏi kinh nghiệm của các nước có hệ thống Trợ giúp pháp lý phát triển giúp bảo đảm sự phát triển Trợ giúp pháp lý ở Việt Nam phù hợp với xu hướng phát triển chung của Trợ giúp pháp lý trên thế giới. Tài trợ qua dự án đã tập trung vào các hoạt động chính như tập huấn, tạo đàm nghiệp vụ để nâng cao trình độ, kinh nghiệm Trợ giúp pháp lý cho cán bộ quản lý nhà nước và những người thực hiện Trợ giúp pháp lý, tổ chức khảo sát đánh giá nhu cầu, thực trạng, xu hướng vận động, phát triển của hoạt động Trợ giúp pháp lý tại các địa phương, hỗ trợ chi phí và thanh toán thù lao cho những người thực hiện trong quá trình cung ứng dịch vụ pháp lý miễn phí, tổ chức Trợ giúp pháp lý lưu động, sinh hoạt chuyên đề các Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý, truyền thông, thông tin tuyền truyền Trợ giúp pháp lý (in ấn panô, tờ cấp phát luật, băngzôn, khẩu hiểu… để quảng bá cho hoạt động), đầu tư trang thiết bị làm việc cần thiết cho hoạt động của Cục Trợ giúp pháp lý và các Trung tâm tỉnh, thành phố (Xe máy, máy vi tính, máy photocoppy, tài liệu học tập…). Có thể thấy, sự tài trợ của các tổ chức quốc tế đã tạo nên cơ sở, nền tảng để Trợ giúp pháp lý có những bước phát triển bền vững như ngày hôm nay.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tích và kết quả đã đạt được thì Trợ giúp pháp lý ở Việt Nam hiện vẫn còn những khó khăn, thách thức liên quan đến thể chế, chính sách, tổ chức bộ máy, con người, nguồn kinh phí hoạt động, sự quan tâm của các cấp, các ngành, mối quan hệ phối hợp từ các cơ quan, ban ngành, đoàn thể…Từ đó đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ phải có những giải pháp để tháo gỡ những vướng mắc, đưa Trợ giúp pháp lý nước ta ngày càng phát triển hơn nữa trong giai đoạn hiện nay và những giai đoạn kế tiếp, vì mục tiêu, ý nghĩa dành cho người nghèo và các đối tượng chính sách trong đời sống xã hội.
2.2. Một số quy định cơ bản của pháp luật Việt Nam về Trợ giúp pháp lý Luận văn: Pháp luật Việt Nam về Trợ giúp pháp lý.
2.2.1. Khái niệm Trợ giúp pháp lý
Ở Việt Nam, thuật ngữ “TGPL” được sử dụng trong các tài liệu từ năm 1995, khi bắt đầu nghiên cứu xây dựng Đề án về hoạt động Trợ giúp pháp lý ở Việt Nam. Đến năm 1996, thuật ngữ “TGPL” được sử dụng trong Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của Viện nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp: “Mô hình tổ chức và hoạt động Trợ giúp pháp lý, phương hướng thực hiện trong điều kiện hiện nay”.
Và thuật ngữ này được sử dụng chính thức trong Quyết định số 734/QĐ-TTg ngày 6/9/1997 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập tổ chức Trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách. Tiếp đó, đã có hệ thống văn bản pháp luật quy định về lĩnh vực này và một số văn bản pháp luật thuộc lĩnh vực khác cũng đề cấp đến khái niệm “TGPL” như: Pháp lệnh Luật sư năm 2001, Quy tắc mẫu về đạo đức nghề nghiệp luật sư ban hành kèm theo Quyết định số 356b/2002/QĐ-BT ngày 5/8/2002 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp… Ngoài ra, trong nhiều văn bản, chính sách của Nhà nước đã nhắc đến thuật ngữ “TGPL”.
Tuy nhiên, chỉ đến khi Luật Trợ giúp pháp lý được ban hành năm 2006 mới quy định rõ ràng, đầy đủ về khái niệm Trợ giúp pháp lý:
TGPL là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được Trợ giúp pháp lý, giúp người được Trợ giúp pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật[42].
Quy định khái niệm Trợ giúp pháp lý của Luật Trợ giúp pháp lý đã khái quát hóa được bản chế, thể hiện đặc thù của hoạt động Trợ giúp pháp lý ở Việt Nam nhằm phân biệt với các hoạt động nghiệp vụ pháp lý khác.
Thứ nhất, “TGPL là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được Trợ giúp pháp lý…”.
Dịch vụ pháp lý miễn phí có chủ thể cung cấp (tổ chức thực hiện Trợ giúp pháp lý, người thực hiện Trợ giúp pháp lý) và đối tượng cung cấp (người được Trợ giúp pháp lý); dịch vụ được cung cấp là Tư vấn pháp luật, Tham gia tố tụng, Đại diện ngoài tố tụng, hòa giải và thực hiện các công việc khác liên quan đến thủ tục hành chính, khiếu nại và các hoạt động khác theo quy định của pháp luật. Luận văn: Pháp luật Việt Nam về Trợ giúp pháp lý.
Tuy nhiên, đây là dịch vụ pháp lý miễn phí, đối tượng thụ hưởng dịch vụ không phải trả bất kỳ một khoản lệ phí nào, kể cả lệ phí giấy tờ khi yêu cầu trợ giúp và việc thuê luật sư. Các chi phí sẽ do ngân sách Nhà nước bảo đảm hoặc được huy động trong cộng đồng, sự hỗ trợ của các tổ chức nước ngoài và quốc tế thông qua các Dự án hoặc Quỹ Trợ giúp pháp lý.
TGPL miễn phí đã trở thành nguyên tắc hoạt động Trợ giúp pháp lý được quy định trong Luật Trợ giúp pháp lý. Đây là điểm đặc thù của Trợ giúp pháp lý ở Việt Nam và là sự nỗ lực lớn của chúng ta trong điều kiện đất nước còn khó khăn (ở nhiều nước trên thế giới, người được Trợ giúp pháp lý phải trả một số khoản chi phí hành chính nhất định hoặc phải trả một phần chi phí hoặc phải trả chi phí khi thắng kiện trong các vụ việc tranh tụng). Tính chất này xuất phát từ quan điểm của Đảng là thực hiện công bằng xã hội trong từng bước phát triển. mặc dù điều kiện kinh tế của Việt Nam còn khó khăn nhưng Nhà nước vẫn dành khoản ngân sách nhất định để chi cho hoạt động Trợ giúp pháp lý. Bởi lẽ những người được xác định là người nghèo thì trong cuộc sống, họ không đủ kinh phí để trang trải cho cái ăn, cái mặc, học hành nên không thể bắt buộc người đó phải trả một phần kinh phí cho các dịch vụ pháp lý mà họ được hưởng.
Thứ hai, Trợ giúp pháp lý có mục đích “…giúp người được Trợ giúp pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật”.
Mục đích ở đây bao hàm cả mục đích trực tiếp: “…giúp người được Trợ giúp pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật…” và mục đích gián tiếp (mục đích chung) là “…góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật”.
Như vậy, cách tiếp cận trên của Luật Trợ giúp pháp lý về khái niệm Trợ giúp pháp lý cũng phù hợp với tính chất của hoạt động này trong lịch sử thế giới. Đó là giúp đỡ những đối tượng gặp khó khăn (chủ yếu về kinh tế) tiếp cận với các dịch vụ pháp lý để nâng cao nhận thức pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.
Đồng thời, qua khái niệm này (dẫn chiếu tới các quy định của Luật Trợ giúp pháp lý) cũng nêu lên đặc thù của Trợ giúp pháp lý ở Việt Nam. Hoạt động Trợ giúp pháp lý mở rộng và vươn tới không chỉ người nghèo mà còn đối với người có công với cách mạng, người dân tộc thiểu số thường trú ở vùng có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn, người già cô đơn, người khuyết tật, trẻ em không nơi nương tựa, người được Trợ giúp pháp lý theo các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Những vụ việc về tố tụng (hình sự, dân sự, lao động, đất đai, hành chính…) liên quan đến quyền và lợi ích của người nghèo và đối tượng chính sách nhưng họ không có luật sư đại diện, bào chữa bảo vệ hoặc những vụ việc do cơ quan, cán bộ nhà nước giải quyết nhưng chưa thỏa đáng, có vi phạm pháp luật làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người dân đã được Trợ giúp pháp lý thông qua nhiều hình thức. Ngoài ra, Trợ giúp pháp lý ở Việt Nam còn có điểm đặc thù là kiến nghị thi hành pháp luật (gồm: kiến nghị giải quyết vụ việc Trợ giúp pháp lý, kiến nghị hành vi công vụ và kiến nghị sửa đổi, bổ sung văn bản pháp luật).
2.2.2. Mô hình tổ chức, đối tượng và người thực hiện Trợ giúp pháp lý Luận văn: Pháp luật Việt Nam về Trợ giúp pháp lý.
- Mô hình tổ chức Trợ giúp pháp lý
Trên cơ sở đầu tư nghiên cứu và áp dụng có chọn lọc kinh nghiệm, hiệu quả về tổ chức Trợ giúp pháp lý ở các quốc gia phát triển trên thế giới cùng sự điều chỉnh để phù hợp với đặc điểm, tình hình thực tế của đất nước ta. Pháp luật Việt Nam xây dựng mô hình tổ chức Trợ giúp pháp lý có những điểm tương đồng, nhưng cũng có những nét khác biệt so với cách thức tổ chức mô hình Trợ giúp pháp lý ở nhiều quốc gia và thuộc mô hình mang tính hỗn hợp.
Tổ chức thực hiện Trợ giúp pháp lý ở Việt Nam bao gồm: Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các Chi nhánh của Trung tâm đặt ở cấp huyện; tổ chức hành nghề luật sư và tổ chức Tư vấn pháp luật thuộc tổ chức chính trị- xã hội, tổ chức chính trị xã hội- nghề nghiệp, tổ chức xã hội – nghề nghiệp (sau đây gọi chung là tổ chức Tư vấn pháp luật).
- Đầu tiên phải kể đến là: Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh, thành phố và Chi nhánh của Trung tâm
Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở Tư pháp, có tư cách pháp nhân, có con dấu, trụ sở và tài khoản riêng. Biên chế và kinh phí hoạt động của Trung tâm do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định [42].
Tổ chức của Trung tâm gồm có: Giám đốc, Phó Giám đốc, Trợ giúp viên pháp lý, viên chức làm nghiệp vụ Trợ giúp pháp lý và cán bộ làm các nhiệm vụ chuyên môn phục vụ cho hoạt động của Trung tâm. Giám đốc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, Phó Giám đốc Trung tâm do Giám đốc Sở Tư pháp bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức. Luận văn: Pháp luật Việt Nam về Trợ giúp pháp lý.
Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước có thể mạng lưới Chi nhánh được thành lập ở cấp huyện để thực hiện chức năng Trợ giúp pháp lý trong phạm vi địa bàn được phân công. Ưu tiên thành lập Chi nhánh ở các huyện vùng sâu, vùng xa, hải đảo, biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nơi chưa có tổ chức hành nghề luật sư, Tư vấn pháp luật đăng ký tham gia Trợ giúp pháp lý.
Chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của Trung tâm Trợ giúp pháp lý, có Trưởng Chi nhánh và Trợ giúp viên pháp lý chuyên trách. Trưởng Chi nhánh là người đứng đầu Chi nhánh, thực hiện các nhiệm vụ của Chi nhánh theo quy định tại Quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm, chịu trách nhiệm trước Giám đốc Trung tâm về nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Trưởng Chi nhánh do Giám đốc Sở Tư pháp bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo đề nghị của Giám đốc Trung tâm.
Theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước có các quyền hạn và nghĩa vụ như sau: Thực hiện Trợ giúp pháp lý; đề nghị cơ quan, tổ chức hữu quan phối hợp, cung cấp thông tin, tài liệu về vụ việc Trợ giúp pháp lý; bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra trong khi thực hiện Trợ giúp pháp lý; thực hiện chế độ báo cáo, thống kê về Trợ giúp pháp lý; giải quyết khiếu nại và tranh chấp trong Trợ giúp pháp lý; Kiến nghị về những vấn đề liên quan đến thi hành pháp luật[42].
Từ những nhiệm vụ, quyền hạn chung của Trung tâm được quy định trong Luật Trợ giúp pháp lý nêu trên, Trung tâm thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể như sau[14]:
Một là, căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch dài hạn và hàng năm của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Trung tâm thực hiện việc xây dựng chương trình, kế hoạch Trợ giúp pháp lý dài hạn và hàng năm ở địa phương trình Giám đốc Sở Tư pháp phê duyệt và tổ chức thực hiện các chương trình, kế hoạch đó.
Hai là, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ và hoạt động nghiệp vụ Trợ giúp pháp lý bao gồm: Thực hiện Tư vấn pháp luật, cử người Tham gia tố tụng, Đại diện ngoài tố tụng và thực hiện các hình thức Trợ giúp pháp lý khác cho người được Trợ giúp pháp lý theo các lĩnh vực Trợ giúp pháp lý; thực hiện Trợ giúp pháp lý lưu động và các hoạt động Trợ giúp pháp lý khác; chịu trách nhiệm và phối hợp với cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện công tác truyền thông về Trợ giúp pháp lý cho nhân dân; quản lý, hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng Trợ giúp pháp lý cho Chi nhánh. Hướng dẫn hoạt động đối với Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý và các hoạt động nghiệp vụ Trợ giúp pháp lý khác; tổ chức bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và quy tắc nghề nghiệp Trợ giúp pháp lý cho Trợ giúp viên pháp lý, Cộng tác viên của Trung tâm và Chi nhánh. Hỗ trợ bồi dưỡng nghiệp vụ cho tổ chức tham gia Trợ giúp pháp lý; tổ chức nghiên cứu, khảo sát, tổ chức hội thảo, toạ đàm, trao đổi kinh nghiệm liên quan đến hoạt động Trợ giúp pháp lý cho Trợ giúp viên pháp lý, Cộng tác viên của Trung tâm và Chi nhánh; quản lý, theo dõi, kiểm tra hoạt động Trợ giúp pháp lý của Trợ giúp viên pháp lý, Cộng tác viên và các cán bộ khác của Trung tâm và Chi nhánh theo thẩm quyền. Luận văn: Pháp luật Việt Nam về Trợ giúp pháp lý.
Ba là, đề nghị cơ quan, tổ chức hữu quan phối hợp, cung cấp thông tin, tài liệu về vụ việc Trợ giúp pháp lý; thực hiện chế độ bồi dưỡng đối với Cộng tác viên tham gia Trợ giúp pháp lý; phối hợp với các tổ chức thực hiện Trợ giúp pháp lý khác để xác minh vụ việc Trợ giúp pháp lý.
Và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn khác như: Chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện Trợ giúp pháp lý của Trợ giúp viên pháp lý, Cộng tác viên của Trung tâm và Chi nhánh; chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra trong quá trình thực hiện Trợ giúp pháp lý cho người được Trợ giúp pháp lý; giải quyết khiếu nại theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý và pháp luật về khiếu nại, tố cáo. Giải quyết tranh chấp về Trợ giúp pháp lý theo thẩm quyền; kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những vấn đề liên quan đến thi hành pháp luật theo quy định; thực hiện sơ kết, tổng kết chế độ báo cáo, thống kê về tổ chức, hoạt động Trợ giúp pháp lý ở địa phương với cơ quan quản lý nhà nước về Trợ giúp pháp lý; đề xuất việc khen thưởng tập thể, cá nhân có thành tích trong công tác Trợ giúp pháp lý ở địa phương; thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật đối với đơn vị sự nghiệp và quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Kế tiếp là: tổ chức hành nghề luật sư, Tư vấn pháp luật đăng ký tham gia Trợ giúp pháp lý Tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức Tư vấn pháp luật có nguyện vọng tham gia Trợ giúp pháp lý phải đăng ký bằng văn bản về phạm vi, hình thức, lĩnh vực Trợ giúp pháp lý với Sở Tư pháp nơi đã cấp Giấy đăng ký hoạt động. Trong thời hạn 7 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ đăng ký, Sở Tư pháp cấp Giấy đăng ký tham gia Trợ giúp pháp lý cho tổ chức đã đề nghị và thông báo cho Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước để phối hợp hoạt động. Trong thời hạn 7 ngày làm việc, kể từ ngày được cấp Giấy đăng ký tham gia Trợ giúp pháp lý, tổ chức được cấp Giấy đăng ký thực hiện công bố công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương về các nội dung của Giấy đăng ký tham gia Trợ giúp pháp lý. Việc thực hiện Trợ giúp pháp lý được tính từ khi đã thực hiện việc công bố công khai Giấy đăng ký tham gia Trợ giúp pháp lý[14].
Khi đã hoàn thành xong các thủ tục theo quy định, tổ chức đã đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý sẽ được hưởng các quyền lợi sau: Thực hiện Trợ giúp pháp lý trong phạm vi Giấy đăng ký tham gia Trợ giúp pháp lý. Phối hợp với Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước hoặc Chi nhánh của Trung tâm để thực hiện có hiệu quả vụ việc Trợ giúp pháp lý; đề nghị cơ quan, tổ chức hữu quan cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến vụ việc Trợ giúp pháp lý để phục vụ thực hiện Trợ giúp pháp lý; giới thiệu người có yêu cầu Trợ giúp pháp lý đến Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước hoặc Chi nhánh của Trung tâm để được Trợ giúp pháp lý; từ chối hoặc không tiếp tục thực hiện Trợ giúp pháp lý trong những trường hợp theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý; Nhà nước hỗ trợ bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng Trợ giúp pháp lý cho đội ngũ người tham gia Trợ giúp pháp lý; kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những vấn đề liên quan đến thi hành pháp luật phát sinh trong quá trình thực hiện Trợ giúp pháp lý; giải quyết tranh chấp trong Trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý và quy định khác của pháp luật có liên quan; được biểu dương, khen thưởng khi có thành tích trong hoạt động Trợ giúp pháp lý hoặc có đóng góp, hỗ trợ tích cực cho việc mở rộng và phát triển công tác Trợ giúp pháp lý ở địa phương[14].
Đồng thời, phải thực hiện các nghĩa vụ sau: Bảo đảm tuân thủ các nguyên tắc hoạt động Trợ giúp pháp lý và các quy định của pháp luật về Trợ giúp pháp lý khi người của tổ chức mình tham gia Trợ giúp pháp lý; chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện Trợ giúp pháp lý của Luật sư, Tư vấn viên pháp luật thuộc quyền quản lý của mình và chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra trong quá trình thực hiện Trợ giúp pháp lý cho người được Trợ giúp pháp lý; chịu sự quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Thực hiện chế độ báo cáo, thống kê về Trợ giúp pháp lý cho Sở Tư pháp nơi đăng ký [14].
Nhìn chung, việc xây dựng mô hình Trợ giúp pháp lý hỗn hợp theo ngành dọc và có sự huy động tham gia của tổ chức hành nghề luật sư, tư vấn pháp luật thuộc các tổ chức chính trị – xã hội vào công tác Trợ giúp pháp lý là phù hợp và cần thiết trong tình hình, điều kiện ở nước ta hiện nay. Luận văn: Pháp luật Việt Nam về Trợ giúp pháp lý.
Tuy nhiên, để hệ thống tổ chức Trợ giúp pháp lý, chủ yếu là các Trung tâm thực sự hoạt động mang tính nghề nghiệp chuyên môn hóa cao thì cũng cần phải có sự đổi mới về cách thức tổ chức hoạt động, tập trung chủ yếu vào nhiệm vụ thực hiện Trợ giúp pháp lý và hạn chế tối đa việc giải quyết các công việc mang tính chất hành chính.
- Đối tượng Trợ giúp pháp lý
Cũng giống như pháp luật nhiều quốc gia trên thế giới với mục đích, ý nghĩa mang tính nhân văn, nhân đạo. Chính sách Trợ giúp pháp lý ở Việt Nam hướng tới cơ bản, chủ yếu là những đối tượng gặp phải hoàn cảnh khó khăn, yếu thế trong đời sống xã hội không có điều kiện, khả năng tiếp cận với các dịch vụ pháp lý hoặc những đối tượng được Nhà nước quan tâm dành nhiều chính sách ưu đãi xuất phát từ truyền thống, đạo lý “uống nước nhớ nguồn” tốt đẹp của dân tộc.
Theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý và các văn bản hướng dẫn thi hành thì người được Trợ giúp pháp lý ở Việt Nam bao gồm [15]:
- Người nghèo
Người nghèo là người nằm trong hộ nghèo và hộ nghèo là hộ được xác định theo chuẩn nghèo căn cứ vào mức thu nhập do Thủ tướng Chính phủ quy định.
Theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ, trong giai đoạn 2011-2015, hộ nghèo là hộ được xác định có mức thu nhập bình quân đầu người trong hộ từ 400.000 đồng/người/tháng (4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống áp dụng đối với khu vực nông thôn và từ 500.000 đồng/người/tháng (6.000.000 đồng/người/năm) đối với khu vực thành thị.
Hộ nghèo được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận hộ nghèo để làm cơ sở được hưởng các chính sách ưu đãi của Nhà nước. Hiện nay, cả nước có khoảng 17% – 18% dân số là người nghèo.
- Người có công với cách mạng
Đây là những người có những công lao, đóng góp to lớn trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập của dân tộc và sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Luận văn: Pháp luật Việt Nam về Trợ giúp pháp lý.
Những người có công với cách mạng được quy định trong Luật Trợ giúp pháp lý và được hướng dẫn, cụ thể hóa trong Nghị định số 07/2007/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 14/2013/NĐ-CP ngày 5/02/2013 của Chính phủ). Bao gồm những người sau: Người hoạt động cách mạng trước Tổng khởi nghĩa 19/8/1945; Bà mẹ Việt Nam anh hùng; Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động; Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; Bệnh binh; Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học; Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày; Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế; Người có công giúp đỡ cách mạng; Cha, mẹ, vợ, chồng của liệt sĩ; con của liệt sĩ; người có công nuôi dưỡng liệt sĩ.
- Người già cô đơn không nơi nương tựa
Là người từ đủ 60 tuổi trở lên, sống độc thân, không nơi nương tự, không có người chăm sóc, phụng dưỡng. Những người này sinh sống ở cộng đồng dân cư được cộng đồng đùm bọc, giúp đỡ hoặc những người đang nhận được sự chăm sóc từ các cơ sở bảo trợ xã hội.
- Người khuyết tật không nơi nương tựa
Là người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn hoặc là những người bị nhiễm chất độc hóa học, nhiễm HIV/AIDS hoặc bị các bệnh khác làm mất năng lực hành vi dân sự mà không có nơi nương tựa. Theo quy định của ở Luật Trợ giúp pháp lý và Luật Người khuyết tật thì những người này thuộc diện được Trợ giúp pháp lý.
- Trẻ em không nơi nương tựa
Là những người dưới mười sáu tuổi, không nơi nương tựa. Đó là trẻ em không có gia đình hoặc bị gia đình bỏ rơi, tự kiếm sống hoặc có hoàn cảnh không bình thường về thể chất hoặc tinh thần, không có đủ điều kiện để thực hiện quyền cơ bản và hòa nhập với gia đình, cộng đồng.
- Người dân tộc thiểu số được Trợ giúp pháp lý Luận văn: Pháp luật Việt Nam về Trợ giúp pháp lý.
Là người thường xuyên sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật. Những vùng này thường được xác định trong Chương trình phát triển kinh tế – xã hội ở những xã thuộc vùng sâu, vùng sa, vùng ven biển và hải đảo của Chính phủ. Hiện nay, cả nước có gần 1.800 xã thuộc vùng có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn và những ai là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng này sẽ được Trợ giúp pháp lý.
Ngoài ra, các đối tượng được hưởng Trợ giúp pháp lý còn có nạn nhận của tội phạm mua bán người theo quy định của Luật Phòng, chống mua bán người năm 2011 và các đối tượng khác trong các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên ký kết hoặc gia nhập. Những đối tượng cụ thể được Trợ giúp pháp lý theo Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập được trình bày cụ thể tại Mục 1.1 Chương 1 và Mục 2.3 Chương 2 của Luận văn này.
Khi thuộc một trong những người trên, nếu có nhu cầu Trợ giúp pháp lý thì họ sẽ được: Tự mình hoặc thông qua người thân thích, người đại diện yêu cầu Trợ giúp pháp lý; lựa chọn người thực hiện Trợ giúp pháp lý, yêu cầu thay đổi người thực hiện Trợ giúp pháp lý; thay đổi, rút yêu cầu Trợ giúp pháp lý; yêu cầu giữ bí mật về nội dung vụ việc Trợ giúp pháp lý; được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật; khiếu nại, tố cáo về Trợ giúp pháp lý[42]. Tuy nhiên, để được cung ứng dịch vụ pháp lý miễn phí, đối tượng có nhu cầu phải đảm bảo các điều kiện, nghĩa vụ sau đây: Cung cấp giấy tờ chứng minh là người được Trợ giúp pháp lý; cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến vụ việc Trợ giúp pháp lý và chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin, tài liệu đó; tôn trọng tổ chức thực hiện Trợ giúp pháp lý, người thực hiện Trợ giúp pháp lý và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc Trợ giúp pháp lý; không yêu cầu tổ chức thực hiện Trợ giúp pháp lý khác Trợ giúp pháp lý cho mình về một vụ việc đang được tổ chức thực hiện Trợ giúp pháp lý trợ giúp; chấp hành pháp luật về Trợ giúp pháp lý và nội quy nơi thực hiện Trợ giúp pháp lý[42].
- Người thực hiện Trợ giúp pháp lý
Các quy định của pháp luật về người thực hiện Trợ giúp pháp lý đã tạo cơ sở pháp lý cho việc hình thành, phát triển và củng cố một bước đội ngũ người thực hiện Trợ giúp pháp lý ở Việt Nam, khắc phục những vướng mắc, bất cập trong các quy định pháp luật hiện hành về người thực hiện Trợ giúp pháp lý và thực tiễn áp dụng trong thời gian qua, từng bước chuẩn hóa người thực hiện Trợ giúp pháp lý, đáp ứng yêu cầu xã hội hóa Trợ giúp pháp lý. Tiêu chuẩn hóa, chuyên môn hóa chức danh người thực hiện Trợ giúp pháp lý thể hiện vai trờ nòng cốt của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước và trách nhiệm của Nhà nước trong việc thực hiện Trợ giúp pháp lý, nâng cao chất lượng, hiệu quả Trợ giúp pháp lý.
Người thực hiện Trợ giúp pháp lý bao gồm là Trợ giúp viên pháp lý và người tham gia Trợ giúp pháp lý.
- Đầu tiên phải kể đến là: Trợ giúp viên pháp lý Luận văn: Pháp luật Việt Nam về Trợ giúp pháp lý.
Đây được xác định là lực lượng của Nhà nước giữ vị trí trung tâm, nòng cốt trong chế định người thực hiện Trợ giúp pháp lý và là lực lượng được Nhà nước giao nhiệm vụ chịu trách nhiệm chính trong việc thực hiện Trợ giúp pháp lý.
Trợ giúp viên pháp lý là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, đáp ứng đủ tiêu chuẩn: Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; có phẩm chất đạo đức tốt; Có bằng cử nhân luật; Có Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ Trợ giúp pháp lý; Có thời gian làm công tác pháp luật từ hai năm trở lên; Có sức khoẻ bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao[42].
Trợ giúp viên pháp lý là viên chức nhà nước, làm việc tại Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước, được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương bổ nhiệm và cấp thẻ Trợ giúp viên pháp lý theo đề nghị của Giám đốc Sở Tư pháp.
Trợ giúp viên pháp lý thực hiện Trợ giúp pháp lý bằng các hình thức sau đây: Tư vấn pháp luật; Tham gia tố tụng với tư cách người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo để thực hiện việc bào chữa; người bảo vệ quyền lợi của đương sự trong vụ án hình sự; người đại diện hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự, vụ án hành chính; Đại diện ngoài tố tụng cho người được Trợ giúp pháp lý để thực hiện các công việc có liên quan đến pháp luật; Thực hiện các hình thức Trợ giúp pháp lý khác[42].
Hiện nay, theo Chiến lược phát triển Trợ giúp pháp lý ở Việt Nam, đội ngũ trợ giúp viên pháp lý không ngừng tăng lên về số lượng (hiện tại có khoảng hơn 480 người), từng bước được đầu tư chuẩn hóa về chất lượng để đáp ứng được tốt hơn, chuyên nghiệp hóa hoạt động Trợ giúp pháp lý cho người dân.
Tuy nhiên, xét trên khả năng, năng lực hoạt động của các trợ giúp viên pháp lý hiện nay thì cũng cần phải có chính sách chuyển đổi chức danh từ trợ giúp viên pháp lý sang luật sư công và hướng lộ trình xây dựng đội ngũ người thực hiện Trợ giúp pháp lý theo hướng chuyên trách ở từng lĩnh vực pháp luật, nhằm đảm bảo phù hợp với nhu cầu, đòi hỏi Trợ giúp pháp lý có chất lượng từ người dân.
- Tiếp theo là: Người tham gia Trợ giúp pháp lý Luận văn: Pháp luật Việt Nam về Trợ giúp pháp lý.
Trong điều kiện đội ngũ trợ giúp viên pháp lý trong cả nước còn ít, chưa đủ điều kiện, khả năng đáp ứng đủ nhu cầu Trợ giúp pháp lý cho người dân thì việc xây dựng và phát triển đội ngũ tham gia vào Trợ giúp pháp lý là một quy định và việc làm hết sức cần thiết, đồng thời cũng thể hiện tính chất xã hội hóa, huy động các nguồn lực xã hội đóng góp cho hoạt động Trợ giúp pháp lý.
Người tham gia Trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý bao gồm: Cộng tác viên của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước; Luật sư làm việc trong tổ chức hành nghề luật sư, Tư vấn viên pháp luật làm việc trong tổ chức Tư vấn pháp luật đăng ký tham gia Trợ giúp pháp lý có ký kết hợp đồng cộng tác với Trung tâm (sau đây gọi chung là Cộng tác viên) [42].
Công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có phẩm chất đạo đức tốt, có sức khoẻ bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao, tự nguyện tham gia Trợ giúp pháp lý thì được Giám đốc Sở Tư pháp xem xét, công nhận và cấp thẻ Cộng tác viên khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
Một là, người có bằng cử nhân luật; người có bằng đại học khác làm việc trong các ngành, nghề có liên quan đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.
Đây là trường hợp những người có bằng cử nhân luật hoặc không phải tốt nghiệp cử nhân luật mà tốt nghiệp ở trường đại học chuyên ngành khác thì phải đáp ứng thêm điều kiện là đang làm việc trong các ngành, nghề có liên quan đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân như: địa chính, tài chính, môi trường, văn hóa, giáo dục, lao động và thương binh, làm việc trong cơ quan bảo vệ pháp luật, trong các tổ chức chính trị-xã hội…
Hai là, người thường trú ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số và miền núi có bằng trung cấp luật hoặc có thời gian làm công tác pháp luật từ ba năm trở lên hoặc có kiến thức pháp luật và có uy tín trong cộng đồng.
Một người được coi là thuộc trường hợp này khi họ có hộ khẩu thường trú tại vùng có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số và miền núi theo quy định của pháp luật cộng thêm một trong các điều kiện: có bằng trung cấp luật hoặc có thời gian làm công tác pháp luật từ ba năm trở lên hoặc có kiến thức pháp luật và có uy tín trong cộng đồng.
Người có thời gian làm công tác pháp luật là người đã hoặc đang đảm nhiệm các chức danh như: Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký tòa án, Kiểm sát viên, Điều tra viên, Thanh tra viên, Chấp hành viên, Công chứng viên, Thẩm tra viên ngành Tòa án, Kiểm tra viên ngành Kiểm sát, Chuyên viên pháp lý, cán sự pháp lý trong ngành Tư pháp hoặc tổ chức pháp chế các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, đơn vị lực lượng vũ trang, công chức tư pháp hộ tịch xã, phường, thị trấn.
Người có kiến thức pháp luật và có uy tín trong cộng đồng là người đã hoặc đang là thành viên của Tổ hòa giải ở cơ sở, thành viên Ban chủ nhiệm Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý ở xã, già làng, trưởng bản, trưởng thôn, trưởng các dòng họ, đại diện tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp ở cơ sở. Luận văn: Pháp luật Việt Nam về Trợ giúp pháp lý.
- Ba là, Luật sư, Tư vấn viên pháp luật.
Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được cấp thẻ Cộng tác viên, Cộng tác viên đến Trung tâm hoặc Chi nhánh để ký kết hợp đồng cộng tác. Giám đốc Trung tâm ký hợp đồng cộng tác với Cộng tác viên thực hiện Trợ giúp pháp lý tại Trung tâm. Giám đốc Trung tâm ký hoặc uỷ quyền bằng văn bản cho Trưởng Chi nhánh thừa ủy quyền ký hợp đồng cộng tác với Cộng tác viên thực hiện Trợ giúp pháp lý tại Chi nhánh. Trưởng Chi nhánh chịu trách nhiệm trước Giám đốc Trung tâm về việc ký hợp đồng cộng tác với Cộng tác viên.
Hợp đồng cộng tác thực hiện Trợ giúp pháp lý là cơ sở để xác định trách nhiệm và quyền hạn của Trung tâm và Cộng tác viên trong quan hệ cộng tác. Hợp đồng cộng tác có hiệu lực kể từ thời điểm hai bên cùng ký vào hợp đồng, trừ trường hợp trong hợp đồng có thoả thuận khác. Cộng tác viên được thực hiện Trợ giúp pháp lý từ thời điểm hợp đồng cộng tác có hiệu lực.
Khi một người trở thành Cộng tác viên Trợ giúp pháp lý thì họ sẽ được hưởng các quyền lợi sau: Được cấp thẻ Cộng tác viên và sử dụng thẻ Cộng tác viên theo quy định của pháp luật; thực hiện vụ việc Trợ giúp pháp lý phù hợp với phạm vi, hình thức, lĩnh vực Trợ giúp pháp lý thể hiện trong hợp đồng cộng tác ký kết với Trung tâm hoặc Chi nhánh của Trung tâm; yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu để thực hiện vụ việc Trợ giúp pháp lý; từ chối hoặc không tiếp tục thực hiện Trợ giúp pháp lý trong các trường hợp quy định của Luật Trợ giúp pháp lý và theo quy định của pháp luật tố tụng; bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng Trợ giúp pháp lý; hưởng chế độ bồi dưỡng và các chi phí hành chính hợp lý khác theo quy định của pháp luật; đề xuất, kiến nghị về việc mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động của Trung tâm và Chi nhánh của Trung tâm; biểu dương, khen thưởng khi có thành tích trong công tác Trợ giúp pháp lý; khiếu nại về việc cấp, thu hồi thẻ Cộng tác viên, việc thực hiện chế độ, chính sách và các quyết định hành chính, hành vi hành chính khác trong lĩnh vực Trợ giúp pháp lý [8].
Đồng thời, có các nghĩa vụ sau: Thực hiện Trợ giúp pháp lý theo đúng các quy định của pháp luật về Trợ giúp pháp lý và hợp đồng cộng tác được ký kết với Trung tâm và Chi nhánh của Trung tâm; sử dụng và bảo quản thẻ Cộng tác viên khi thực hiện Trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật; nộp lại thẻ Cộng tác viên khi bị thu hồi; tuân thủ nguyên tắc hoạt động Trợ giúp pháp lý và các quy tắc nghề nghiệp Trợ giúp pháp lý. Tuân thủ nội quy, quy chế của Trung tâm; chịu trách nhiệm trước Giám đốc Trung tâm hoặc Trưởng Chi nhánh và trước pháp luật về việc Trợ giúp pháp lý. Thực hiện việc bồi hoàn cho Trung tâm hoặc Chi nhánh của Trung tâm trong trường hợp Trợ giúp pháp lý sai gây thiệt hại cho người được Trợ giúp pháp lý; báo cáo định kỳ và đột xuất theo yêu cầu của Trung tâm, Chi nhánh; kịp thời báo cáo với Giám đốc Trung tâm, Trưởng Chi nhánh những vấn đề phát sinh làm ảnh hưởng đến kết quả thực hiện Trợ giúp pháp lý và đề xuất biện pháp giải quyết; thông báo cho Trung tâm về việc thay đổi nơi cư trú, nơi công tác[8]. Luận văn: Pháp luật Việt Nam về Trợ giúp pháp lý.
Khi thực hiện Trợ giúp pháp lý, Cộng tác viên tiến hành theo phân công của Giám đốc Trung tâm, Trưởng Chi nhánh hoặc trực tiếp nhận vụ việc do người được Trợ giúp pháp lý yêu cầu theo hướng dẫn của Trung tâm, Chi nhánh. Trong quá trình thực hiện Trợ giúp pháp lý, nếu xét thấy cần thiết phải có sự hỗ trợ, giúp đỡ về chuyên môn, nghiệp vụ, Cộng tác viên được phối hợp với người thực hiện Trợ giúp pháp lý khác để cùng trao đổi kinh nghiệm, cùng nhau tháo gỡ vướng mắc khi thực hiện vụ việc Trợ giúp pháp lý. Cộng tác viên hoạt động với tư cách cá nhân hoặc được tổ chức thành Tổ CTV, hoạt động trong phạm vi hợp đồng cộng tác đã ký với Trung tâm hoặc Chi nhánh.
CTV là luật sư được thực hiện Trợ giúp pháp lý thông qua các hình thức Trợ giúp pháp lý: Tư vấn pháp luật, Tham gia tố tụng, Đại diện ngoài tố tụng, các hình thức Trợ giúp pháp lý khác phù hợp với hình thức Trợ giúp pháp lý được thể hiện trong hợp đồng cộng tác mà Cộng tác viên đã ký kết với Trung tâm. Cộng tác viên không phải là luật sư chỉ thực hiện Trợ giúp pháp lý bằng hình thức Tư vấn pháp luật. Trong trường hợp Cộng tác viên đã thực hiện vụ việc Trợ giúp pháp lý bằng hình thức Tư vấn pháp luật mà đối tượng có nhu cầu cử chính Cộng tác viên đó tham gia hoà giải gắn với vụ việc đã tư vấn thì Giám đốc Trung tâm hoặc Trưởng Chi nhánh có thể cử Cộng tác viên đó tiếp tục thực hiện hòa giải.
Hiện nay, số lượng người tham gia Trợ giúp pháp lý ngày càng tăng lên, một bộ phận Cộng tác viên nhiệt tình, trách nhiệm tham gia cộng tác với nhiều việc làm đóng góp tích cực cho hoạt động Trợ giúp pháp lý qua tuyên truyền pháp luật, tư vấn pháp lý, tham gia Trợ giúp pháp lý lưu động… Tuy nhiên, vẫn có một số Cộng tác viên hoạt động mang tính hình thức, kém hiệu quả do tính chất hoạt động kiêm nghiệm và chế độ chi trả thù lao thấp.
Do vậy, bên cạnh chính sách khuyến khích, thu hút mới nguồn lực giỏi tham gia vào công tác Trợ giúp pháp lý thì cần có biện pháp để Cộng tác viên gắn bó chặt chẽ, trách nhiệm với Trợ giúp pháp lý, có chế độ chi trả thù lao theo vụ việc thỏa đáng cho các Cộng tác viên cùng với việc bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, kinh nghiệm Trợ giúp pháp lý cho đội ngũ này một cách thường xuyên.
2.2.3. Hình thức, lĩnh vực và kinh phí Trợ giúp pháp lý Luận văn: Pháp luật Việt Nam về Trợ giúp pháp lý.
- Hình thức Trợ giúp pháp lý
Hoạt động Trợ giúp pháp lý được thực hiện thông qua các hình thức sau đây:
- Thứ nhất, tư vấn pháp luật
Đây là một loại hình dịch vụ trí tuệ, trong đó người có trình độ hiểu biết pháp luật sâu rộng đưa ra những ý kiến pháp lý của mình về một vấn đề cụ thể nào đó liên quan đến pháp luật.
Theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý thì trợ giúp viên pháp lý, luật sư, Cộng tác viên, tư vấn viên pháp luật tiến hành Tư vấn pháp luật thông qua hướng dẫn, giải đáp, đưa ra ý kiến, cung cấp thông tin pháp luật, giúp soạn thảo văn bản liên quan đến vụ việc Trợ giúp pháp lý.
Hình thức Tư vấn pháp luật được thực hiện bằng miệng hoặc bằng văn bản; tư vấn trực tiếp, bằng thư tín, điện tín hoặc thông qua phương tiện thông tin khác; thông qua Trợ giúp pháp lý lưu động, sinh hoạt chuyên đề pháp luật, Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý và các phương thức khác.
Đối với vụ việc đơn giản, người thực hiện Trợ giúp pháp lý phải tư vấn ngay và ghi chép những nội dung chính trong phiếu thực hiện Trợ giúp pháp lý. Phiếu thực hiện Trợ giúp pháp lý được lập thành hai bản, một bản giao cho người được Trợ giúp pháp lý, một bản được lưu giữ trong hồ sơ vụ việc.
Đối với vụ việc phức tạp, cần có thời gian nghiên cứu, xác minh hoặc vụ việc thiếu những giấy tờ, tài liệu có liên quan thì người thực hiện Trợ giúp pháp lý phải viết phiếu hẹn hoặc yêu cầu bổ sung các giấy tờ, tài liệu còn thiếu.
Trong thời hạn không quá mười lăm ngày, kể từ ngày thụ lý vụ việc hoặc nhận đủ các giấy tờ, tài liệu cần bổ sung, người thực hiện Trợ giúp pháp lý có trách nhiệm nghiên cứu và trả lời bằng văn bản cho người được Trợ giúp pháp lý; trong trường hợp vụ việc cần có thời gian để xác minh thì thời hạn này có thể kéo dài nhưng không quá ba mươi ngày.
Đối với vụ việc yêu cầu tư vấn được chuyển đến bằng thư tín, người thực hiện Trợ giúp pháp lý có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời hạn không quá mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu Trợ giúp pháp lý.
- Thứ hai, cử người tham gia tố tụng Luận văn: Pháp luật Việt Nam về Trợ giúp pháp lý.
Trợ giúp viên pháp lý, luật sư là Cộng tác viên Tham gia tố tụng hình sự để bào chữa cho người được Trợ giúp pháp lý là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc để bảo vệ quyền lợi của người được Trợ giúp pháp lý là người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Tham gia tố tụng dân sự, tố tụng hành chính để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được Trợ giúp pháp lý trong vụ việc dân sự, vụ án hành chính.
Trong thời hạn không quá ba ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu cử người Tham gia tố tụng. Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước hoặc tổ chức hành nghề luật sư đăng ký tham gia Trợ giúp pháp lý có trách nhiệm cử người Tham gia tố tụng. Việc cử người Tham gia tố tụng phải lập được thành văn bản và gửi cho người được Trợ giúp pháp lý, cơ quan tiến hành tố tụng có liên quan.
Cơ quan tiến hành tố tụng cấp giấy chứng nhận bào chữa, giấy chứng nhận người bảo vệ quyền lợi của đương sự trong vụ án hình sự hoặc giấy chứng nhận người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án dân sự, vụ án hành chính cho trợ giúp viên pháp lý, luật sư là Cộng tác viên của Trung tâm Trợ giúp pháp lý trong thời hạn không quá ba ngày, kể từ ngày nhận được văn bản của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước cử người Tham gia tố tụng, trừ trường hợp pháp luật tố tụng có quy định khác.
Việc cấp giấy chứng nhận Tham gia tố tụng cho luật sư tham gia Trợ giúp pháp lý do tổ chức hành nghề luật sư cử hoặc luật sư hành nghề với tư cách cá nhân tham gia Trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật tố tụng và pháp luật về luật sư.
Giấy chứng nhận Tham gia tố tụng của trợ giúp viên pháp lý, luật sư có giá trị trong các giai đoạn tố tụng, trừ trường hợp bị thu hồi hoặc trợ giúp viên pháp lý, luật sư bị thay đổi, không Tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.
Khi Tham gia tố tụng, trợ giúp viên pháp lý, luật sư xuất trình giấy chứng nhận Tham gia tố tụng, thẻ trợ giúp viên pháp lý hoặc thẻ luật sư; có các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng; được sử dụng các biện pháp tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người được Trợ giúp pháp lý.
- Thứ ba, cử người tham gia đại diện ngoài tố tụng Luận văn: Pháp luật Việt Nam về Trợ giúp pháp lý.
Trợ giúp viên pháp lý, luật sư thực hiện Đại diện ngoài tố tụng cho người được Trợ giúp pháp lý khi họ không thể tự bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Việc Đại diện ngoài tố tụng được thực hiện trong phạm vi yêu cầu của người được Trợ giúp pháp lý.
Trong thời gian không quá ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu của người được Trợ giúp pháp lý hoặc người đại diện hợp pháp của họ. Giám đốc Trung tâm, Trưởng Chi nhánh ra quyết định cử trợ giúp viên pháp lý hoặc luật sư là Cộng tác viên thực hiện Đại diện ngoài tố tụng theo quy định và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc của người thực hiện Đại diện ngoài tố tụng, bảo đảm tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật về Trợ giúp pháp lý.
Trong thời hạn không quá ba ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định cử người thực hiện Đại diện ngoài tố tụng, Giám đốc Trung tâm, Trưởng Chi nhánh phải gửi quyết định cho người được Trợ giúp pháp lý, người thực hiện Trợ giúp pháp lý và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến vụ việc yêu cầu đại diện.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến vụ việc đại diện có trách nhiệm phối hợp, tạo điều kiện và cộng tác với người được cử đại diện để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Đồng thời, phối hợp với Trung tâm, Chi nhánh theo dõi, quản lý quá trình thực hiện Trợ giúp pháp lý của trợ giúp viên pháp lý hoặc luật sư là Cộng tác viên, bảo đảm hoạt động của họ có chất lượng, hiệu quả, tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc hoạt động Trợ giúp pháp lý và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Trong trường hợp phải thay đổi người thực hiện Trợ giúp pháp lý, Trung tâm và Chi nhánh có trách nhiệm cử người có đủ tiêu chuẩn để tiếp tục thực hiện vụ việc Trợ giúp pháp lý.
Khi thực hiện Đại diện ngoài tố tụng, người đại diện có trách nhiệm sử dụng các biện pháp phù hợp với quy định của pháp luật để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người được Trợ giúp pháp lý.
- Thứ tư, thực hiện các hình thức Trợ giúp pháp lý khác
Trợ giúp viên pháp lý, luật sư thực hiện việc giúp đỡ cho người được Trợ giúp pháp lý bằng việc giúp đỡ họ hòa giải, thực hiện những công việc liên quan đến thủ tục hành chính, khiếu nại và các hoạt động khác theo quy định của pháp luật.
Khi có yêu cầu hoặc được sự đồng ý của một hoặc các bên, tổ chức thực hiện Trợ giúp pháp lý cử người thực hiện Trợ giúp pháp lý làm trung gian để phân tích các tình tiết của vụ việc, giải thích quy định của pháp luật, hướng dẫn để các bên tự thương lượng, thống nhất hướng giải quyết vụ việc mà không phải đưa vụ việc ra Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền, tự nguyện rút đơn kiện, tự giải quyết các tranh chấp và tự nguyện chấp hành kết quả giải quyết vụ việc.
Việc hòa giải được tiến hành trong trường hợp cần thiết để giữ gìn đoàn kết cộng đồng, duy trì trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, trừ trường hợp pháp luật quy định không được hòa giải.
Việc hòa giải phải được lập thành biên bản. Biên bản hòa giải phải thể hiện đầy đủ kết quả của quá trình hòa giải, ý kiến của người thực hiện Trợ giúp pháp lý và của các bên về nội dung vụ việc, có chữ ký của các bên tham gia để họ tự nguyện thi hành kết quả hòa giải. Biên bản hòa giải phải được lưu giữ trong hồ sơ vụ việc.
Ngoài ra, còn có hình thức thực hiện Trợ giúp pháp lý mới so với các nước khác là kiến nghị thi hành pháp luật. Đây là trường hợp tổ chức thực hiện Trợ giúp pháp lý kiến nghị bằng văn bản đến các cơ quan nhà nước, tổ chức có liên quan khi có cơ sở, căn cứ cho rằng kết quả giải quyết vụ việc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hay tổ chức có liên quan chưa phù hợp với quy định của pháp luật, gây thiệt hại cho người được Trợ giúp pháp lý hoặc phát hiện cán bộ, công chức nhà nước cố tình làm sai, vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho người được trợ giúp pháp lý hoặc quá trình thực hiện hoạt động nghiệp vụ phát hiện có văn bản Quy phạm pháp luật có mâu thuẫn, chồng chéo hoặc không còn phù hợp với thực tiễn.
Cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết vụ việc khi nhận được văn bản kiến nghị của tổ chức thực hiện Trợ giúp pháp lý có trách nhiệm xem xét, giải quyết và trả lời bằng văn bản trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được kiến nghị; trong trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn trên có thể kéo dài nhưng không quá bốn mươi lăm ngày, trừ trường hợp pháp luật có quy định về thời hạn trả lời. Trong trường hợp quá thời hạn nói trên mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết vụ việc không trả lời thì tổ chức thực hiện Trợ giúp pháp lý được kiến nghị với lãnh đạo cấp trên trực tiếp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đó để có biện pháp chỉ đạo, xử lý. Luận văn: Pháp luật Việt Nam về Trợ giúp pháp lý.
Việc quy định nhiều hình thức thực hiện Trợ giúp pháp lý sẽ đáp ứng tốt nhu cầu Trợ giúp pháp lý đa dạng, phong phú của người dân, tạo sự linh hoạt trong quá trình triển khai hoạt động. Hiện nay, qua đánh giá, tất cả các hình thức này đã được áp dụng trong thực tiễn nhưng cơ bản và chủ yếu vẫn là Tư vấn pháp luật và cử người tham gia vào quá trình tố tụng để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đương sự là người được Trợ giúp pháp lý (chiếm khoảng hơn 90% số lượng vụ việc).
- Lĩnh vực Trợ giúp pháp lý
Lĩnh vực Trợ giúp pháp lý là lĩnh vực pháp luật mà tổ chức thưc hiện Trợ giúp pháp lý được quyền cung ứng các dịch vụ pháp lý miễn phí. Lĩnh vực Trợ giúp pháp lý ở Việt Nam được thể hiện trên phạm vi rất rộng, bao trùm ở hầu hết các lĩnh vực, bao gồm: Pháp luật hình sự, tố tụng hình sự và thi hành án hình sự; Pháp luật dân sự, tố tụng dân sự và thi hành án dân sự; Pháp luật hôn nhân – gia đình và pháp luật trẻ em; Pháp luật hành chính, khiếu nại, tố cáo và tố tụng hành chính; Pháp luật đất đai, nhà ở, môi trường và bảo vệ người tiêu dùng; Pháp luật lao động, việc làm, bảo hiểm; Pháp luật Ưu đãi người có công với cách mạng và pháp luật về chính sách xã hội khác; Các lĩnh vực pháp luật khác liên quan đến chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói, giảm nghèo hoặc liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của công dân.
Việc quy định các lĩnh vực pháp luật trên phạm vi rộng là hoàn toàn phù hợp xét trên nhu cầu Trợ giúp pháp lý đa dạng, phong phú của các đối tượng được hưởng chính sách.
Tuy nhiên, cũng giống như pháp luật của một số quốc gia thì pháp luật Trợ giúp pháp lý Việt Nam không đưa lĩnh vực kinh doanh-thương mại vào lĩnh vực được Trợ giúp pháp lý dù cho người có nhu cầu thuộc đối tượng Trợ giúp pháp lý vì những lý do sau:
Một là, bản chất của chính sách Trợ giúp pháp lý là chính sách nhân đạo, từ thiện, không vì mục đích lợi nhuận dành cho những đối tượng không có khả năng tiếp cận với dịch vụ pháp lý có thu phí và mục tiêu Trợ giúp pháp lý của chúng ta chủ yếu là hỗ trợ bảo vệ quyền lợi hợp pháp và nâng cao nhận thức pháp luật, tăng cường ý thức chấp hành pháp luật cho các đối tượng được Trợ giúp pháp lý. Luận văn: Pháp luật Việt Nam về Trợ giúp pháp lý.
Hai là, lĩnh vực kinh doanh-thương mại thường điều chỉnh những quan hệ hợp tác, làm ăn, hoạt động kinh doanh có phát sinh lợi nhuận của các chủ thể kinh doanh và nếu khi có nảy sinh những tranh chấp cần sự trợ giúp hoặc chủ thể có nhu cầu tìm hiểu, Tư vấn pháp luật thì hoàn toàn có điều kiện, khả năng thuê luật sư hoặc những người có trình độ, kiến thức pháp luật cung ứng dịch vụ pháp lý có thu phí.
Vì vậy, nếu quy định lĩnh vực kinh doanh thương mại là một lĩnh vực Trợ giúp pháp lý thì sẽ ảnh hướng trực tiếp tới mục đích, ý nghĩa, tính chất của hoạt động Trợ giúp pháp lý. Do vậy, pháp luật Việt Nam không quy định lĩnh vực kinh doanh thương mại thuộc lĩnh vực trợ giúp pháp là hoàn toàn phù hợp và cần thiết với điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước. Và khi tổ chức thực hiện Trợ giúp pháp lý nhận được yêu cầu thuộc lĩnh vực này thì phải có trách nhiệm từ chối không cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí theo quy định.
- Kinh phí Trợ giúp pháp lý
Nguồn kinh phí bảo đảm hoạt động Trợ giúp pháp lý bao gồm: Nguồn kinh phí do ngân sách Nhà nước cấp; nguồn kinh phí của Quỹ Trợ giúp pháp lý Việt Nam; nguồn kinh phí từ các Chương trình Mục tiêu quốc gia giảm nghèo và nguồn tài trợ của tổ chức quốc tế và nước ngoài thông qua các Dự án hợp tác quốc tế.
Nguồn kinh phí ngân sách được cấp hàng năm cho các Trung tâm Trợ giúp pháp lý để bảo đảm mua sắm cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc, chi lương cho cán bộ và các hoạt động nghiệp vụ Trợ giúp pháp lý ở địa phương như thông tin, tuyên truyền, phổ biến pháp luật Trợ giúp pháp lý, Trợ giúp pháp lý lưu động, sinh hoạt Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý, sinh hoạt chuyên đề pháp luật, chi bồi dưỡng cho Cộng tác viên, chi đánh giá chất lượng vụ việc Trợ giúp pháp lý, chi cho các hoạt động phối hợp Trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng, chi tập huấn, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng Trợ giúp pháp lý và quy tắc nghề nghiệp Trợ giúp pháp lý, nghiên cứu, điều tra, khảo sát, tổ chức hội thảo, tọa đàm, trao đổi kinh nghiệm liên quan đến hoạt động Trợ giúp pháp lý…Hàng năm, căn cứ vào nhiệm vụ, quyền hạn của Trung tâm và Chi nhánh, Giám đốc Trung tâm lập dự toán kinh phí của Trung tâm và Chi nhánh bao gồm kinh phí bảo đảm hoạt động thường xuyên, kinh phí chi không thường xuyên và dự trù kinh phí nghiệp vụ Trợ giúp pháp lý trong tổng dự toán kinh phí hoạt động hàng năm, báo cáo Giám đốc Sở Tư pháp, đồng thời gửi Sở Tài chính để trình Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định.
Kinh phí từ các Chương trình Mục tiêu quốc gia giảm nghèo được cấp để thực hiện một số hoạt động Trợ giúp pháp lý (truyền thông, tập huấn nghiệp vụ, Trợ giúp pháp lý lưu động, sinh hoạt Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý…) tại các huyện nghèo, xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn. Luận văn: Pháp luật Việt Nam về Trợ giúp pháp lý.
Bên cạnh đó, trong thời gian qua, Việt Nam đã nhận được sự hỗ trợ to lớn của các tổ chức quốc tế và nước ngoài như: Tổ chức phi chính phủ về hợp tác và phát triển quốc tế Hà Lan (OXFAM NOVID), Tổ chức phát triển quốc tế Thụy Điển (SIDA), Tổ chức hợp tác và phát triển Thụy Sỹ (SDC), Tổ chức Cứu trợ trẻ em Thụy điển (SCS), Viện Nhân quyền Đan Mạch (DIHR), Quỹ Châu Á (The Asia Foundation), Tổ chức phát triển quốc tế Canada – Newzeland (Cida – NZAID), Tổ chức phát triển quốc tế của Liên hợp quốc (UNDP)… dành cho hệ thống Trợ giúp pháp lý nhằm tăng cường trang thiết bị làm việc, hỗ trợ kinh phí tổ chức các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ (chi trả thù lao cho Cộng tác viên, sinh hoạt chuyên đề pháp luật, sinh hoạt ở Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý, Trợ giúp pháp lý lưu động, tuyên truyền về chính sách Trợ giúp pháp lý…) và thực hiện Trợ giúp pháp lý cho một số đối tượng đặc thù như: Phụ nữ là nạn nhân của bạo lực gia đình, bị buôn bán, người chưa thành niên phạm tội. Tuy nhiên, nguồn hỗ trợ từ các tổ chức quốc tế dành cho Trợ giúp pháp lý Việt Nam đã tạm ngừng từ năm 2011 trở lại đây. Đây là khó khăn không nhỏ đối với chính sách Trợ giúp pháp lý trong khi ngân sách nhà nước vẫn còn hạn hẹp.
Nguồn kinh phí từ Quỹ Trợ giúp pháp lý Việt Nam để hỗ trợ nâng cao chất lượng hoạt động nghiệp vụ Trợ giúp pháp lý; hỗ trợ trang thiết bị, phương tiện làm việc cho tổ chức thực hiện Trợ giúp pháp lý ở các tỉnh thuộc diện ngân sách trung ương phải hỗ trợ, có khó khăn đột xuất và một số trường hợp đặc biệt khác. Nguồn tài chính của Quỹ Trợ giúp pháp lý Việt Nam hình thành từ sự đóng góp tự nguyện, tài trợ của cơ quan, tổ chức, cá nhân, hỗ trợ từ ngân sách nhà nước và các nguồn hợp pháp khác.
Nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước cấp cho công tác Trợ giúp pháp lý trong những năm qua đã được tăng lên đáng kể, tuy vậy, nguồn kinh phí hỗ trợ từ phía các Dự án hợp tác quốc tế vẫn chiếm tỷ lệ khá lớn, đòi hỏi Nhà nước phải có chính sách thích hợp để kịp thời chuẩn bị các nguồn kinh phí bảo đảm cho hoạt động Trợ giúp pháp lý trong trường hợp nguồn kinh phí hỗ trợ từ phía các Dự án giảm đi và kết thúc.
2.2.4. Quản lý nhà nước về Trợ giúp pháp lý Luận văn: Pháp luật Việt Nam về Trợ giúp pháp lý.
Quản lý nhà nước về Trợ giúp pháp lý là sự tác động có tổ chức của các cơ quan quản lý nhà nước về Trợ giúp pháp lý đối với tổ chức và hoạt động Trợ giúp pháp lý để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội về Trợ giúp pháp lý và trật tự pháp luật, bảo đảm thực hiện chức năng xã hội của Nhà nước trong việc giúp đỡ pháp luật cho người nghèo và đối tượng chính sách.
- Chủ thể và nội dung quản lý nhà nước về Trợ giúp pháp lý Chính phủ thống nhất thực hiện quản lý nhà nước về Trợ giúp pháp lý.
Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về Trợ giúp pháp lý, chịu trách nhiệm quản lý mang tầm vĩ mô. Bộ Tư pháp có các nhiệm vụ và quyền hạn sau: Xây dựng, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, hướng dẫn, tổ chức và theo dõi việc thực hiện các văn bản Quy phạm pháp luật về Trợ giúp pháp lý. Nghiên cứu, xây dựng chiến lược, kế hoạch, quy hoạch phát triển Trợ giúp pháp lý và tổ chức triển khai thực hiện; ban hành các quy định hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ, quy tắc nghề nghiệp Trợ giúp pháp lý, quy chế mẫu về tổ chức và hoạt động của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước, quy chế Cộng tác viên, nội quy nơi thực hiện Trợ giúp pháp lý, bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ việc Trợ giúp pháp lý; quản lý, hướng dẫn về tổ chức và hoạt động của Trung tâm, Chi nhánh của Trung tâm, của tổ chức tham gia Trợ giúp pháp lý. Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước. Xây dựng các biện pháp hỗ trợ phát triển hoạt động Trợ giúp pháp lý; tổ chức tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho người thực hiện Trợ giúp pháp lý và cấp Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ Trợ giúp pháp lý. Quy định các biểu mẫu như: Giấy đăng ký tham gia Trợ giúp pháp lý, thẻ Trợ giúp viên pháp lý, thẻ Cộng tác viên, đơn đề nghị làm Cộng tác viên, hợp đồng cộng tác, đơn yêu cầu Trợ giúp pháp lý, phiếu thực hiện Trợ giúp pháp lý và các biểu mẫu, giấy tờ khác. Ấn hành các tài liệu về Trợ giúp pháp lý; thực hiện chế độ báo cáo, thống kê về Trợ giúp pháp lý; chỉ đạo, hướng dẫn, xây dựng và thực hiện quản lý Quỹ Trợ giúp pháp lý; thanh tra, kiểm tra tổ chức thực hiện Trợ giúp pháp lý và hoạt động Trợ giúp pháp lý. Trong các trường hợp cần thiết tổ chức kiểm tra, đánh giá lại chất lượng vụ việc Trợ giúp pháp lý. Thực hiện việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về Trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật. Khen thưởng, kỷ luật và xử lý vi phạm trong hoạt động Trợ giúp pháp lý; thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực Trợ giúp pháp lý; thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật [14].
Cục Trợ giúp pháp lý thuộc Bộ Tư pháp là cơ quan quản lý nhà nước và quản lý chuyên ngành về Trợ giúp pháp lý, có chức năng giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn về Trợ giúp pháp lý theo quy định.
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình phối hợp với Bộ Tư pháp thực hiện quản lý nhà nước về Trợ giúp pháp lý và có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: Quản lý nhà nước về Trợ giúp pháp lý trong phạm vi lĩnh vực được phân công phụ trách; hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra các cơ quan, đơn vị trực thuộc trong việc thực hiện pháp luật về Trợ giúp pháp lý; chỉ đạo các đơn vị trực thuộc thực hiện việc phối hợp giải quyết dứt điểm các kiến nghị về việc thi hành pháp luật [14]. Luận văn: Pháp luật Việt Nam về Trợ giúp pháp lý.
UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về Trợ giúp pháp lý tại địa phương, có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình Hội đồng nhân dân cùng cấp ban hành các văn bản Quy phạm pháp luật về Trợ giúp pháp lý. Hướng dẫn, tổ chức và theo dõi việc thực hiện pháp luật về Trợ giúp pháp lý ở địa phương; quyết định thành lập Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước và ban hành Quy chế tổ chức, hoạt động của Trung tâm trên cơ sở Quy chế mẫu về tổ chức và hoạt động của Trung tâm do Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành; quản lý về tổ chức và hoạt động Trợ giúp pháp lý của Trung tâm và Chi nhánh, hoạt động tham gia Trợ giúp pháp lý của các Văn phòng luật sư, Công ty luật, Trung tâm Tư vấn pháp luật ở địa phương; quản lý người thực hiện Trợ giúp pháp lý ở địa phương; trình Hội đồng nhân dân cùng cấp phê duyệt biên chế của Trung tâm và Chi nhánh. Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho người thực hiện Trợ giúp pháp lý trong phạm vi địa phương; chỉ đạo Sở Tư pháp thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật về Trợ giúp pháp lý. Chỉ đạo các cơ quan chuyên môn trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân, cơ quan tư pháp cấp dưới phối hợp với Trung tâm và Chi nhánh trong công tác Trợ giúp pháp lý ở địa phương; lập kế hoạch xây dựng nguồn cán bộ, bảo đảm biên chế, cơ sở vật chất, kinh phí hoạt động, trang thiết bị, phương tiện làm việc của Trung tâm và Chi nhánh ở địa phương; kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, khen thưởng và xử lý vi phạm pháp luật về Trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật; thực hiện chế độ báo cáo, thống kê, chế độ sơ kết, tổng kết về tổ chức, hoạt động Trợ giúp pháp lý ở địa phương[14].
Sở Tư pháp tỉnh, thành phố là cơ quan chuyên môn có trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quản lý công tác Trợ giúp pháp lý của Trung tâm và Chi nhánh, các tổ chức tham gia Trợ giúp pháp lý ở địa phương. Sở Tư pháp chủ động phối hợp với các Sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện quản lý nhà nước, các chế độ thống kê, báo cáo, lưu trữ về Trợ giúp pháp lý ở địa phương; chỉ đạo Trung tâm, Chi nhánh trong việc xây dựng và phát triển mạng lưới Cộng tác viên của Trung tâm, Chi nhánh; chỉ đạo việc thành lập và hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ của các Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý ở địa phương.
Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước là đơn vị sự nghiệp, tham gia đảm nhiệm một số hoạt động mang tính quản lý đối với các Chi nhánh, Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý và đội ngũ người thực hiện Trợ giúp pháp lý ở địa bàn.
- Đối tượng quản lý nhà nước về Trợ giúp pháp lý
Cơ quan quản lý nhà nước về Trợ giúp pháp lý cấp dưới (Cơ quan có thẩm quyền chung: Ủy ban nhân dân, Cơ quan chuyên môn: Sở Tư pháp, các Sở, ngành có liên quan).
Các tổ chức thực hiện Trợ giúp pháp lý (Trung tâm Trợ giúp pháp lý và các tổ chức hành nghề luật sư, Tư vấn pháp luật đăng ký tham gia Trợ giúp pháp lý).
Người thực hiện Trợ giúp pháp lý: Trợ giúp viên pháp lý, Cộng tác viên Trợ giúp pháp lý.
Các hoạt động Trợ giúp pháp lý: Giải quyết vụ việc Trợ giúp pháp lý, đánh giá chất lượng vụ việc, phát triển mạng lưới Cộng tác viên, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, thực hiện chế độ thông tin, báo cáo, thống kê…
Người được Trợ giúp pháp lý: Người nghèo và các đối tượng chính sách theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý.
Trong thời gian qua, công tác quản lý nhà nước đã đóng góp vai trò quan trọng trong sự lớn mạnh của Trợ giúp pháp lý Việt Nam. Tuy nhiên, hoạt động quản lý nhà nước đôi lúc, đôi chỗ còn có sự chồng chéo, ảnh hưởng đến năng lực hoạt động nghề nghiệp Trợ giúp pháp lý. Nên việc tăng cường và đổi mới công tác quản lý nhà nước về Trợ giúp pháp lý theo hướng đơn giản hóa và hiện đại là việc cần làm nhằm tạo cơ chế và tính chủ động cho các tổ chức thực hiện Trợ giúp pháp lý triển khai các việc làm đạt hiệu quả.
2.3. Các Hiệp định tương trợ tư pháp ký kết giữa Việt Nam với một số quốc gia liên quan đến vấn đề Trợ giúp pháp lý Luận văn: Pháp luật Việt Nam về Trợ giúp pháp lý.
Bên cạnh những Điều ước quốc tế đa phương được các quốc gia phê chuẩn hoặc gia nhập thì giữa các quốc gia cũng không ngừng tăng cường ký kết các Điều ước quốc tế song phương thể hiện sự quan tâm, hợp tác về Trợ giúp pháp lý trong lĩnh vực tương trợ tư pháp. Nội dung của luận văn chỉ giới hạn đề cập một số văn bản pháp luật được ký kết giữa Việt Nam với một số quốc gia trong khu vực và trên thế giới có quy định về vấn đề Trợ giúp pháp lý.
Hiệp định tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự và hình sự giữa Việt Nam và Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được ký kết ngày 19/10/1988 quy định công dân của Bên ký kết này được miễn, giảm án phí và được Trợ giúp pháp lý miễn phí trên lãnh thổ của Bên ký kết kia theo cùng những điều kiện và mức độ như công dân của Bên ký kết kia.
Nếu việc miễn, giảm án phí hoặc Trợ giúp pháp lý miễn phí được quyết định căn cứ vào tình trạng tài chính của người làm đơn, thì giấy xác nhận tình trạng tài chính sẽ do các cơ quan có thẩm quyền ở nơi người làm đơn có nơi thường trú hoặc tạm trú cấp. Trường hợp người đó không có nơi thường trú hoặc tạm trú thì giấy xác nhận sẽ do cơ quan đại diện ngoại giao hoặc cơ quan lãnh sự của nước người đó là công dân cấp.
Công dân của Bên ký kết này khi làm đơn xin miễn, giảm án phí hoặc xin Trợ giúp pháp lý miễn phí theo quy định, có thể nộp đơn cho cơ quan có thẩm quyền của Bên ký kết nơi người này thường trú hoặc tạm trú. Cơ quan có thẩm quyền này sẽ chuyển đơn kèm theo giấy xác nhận được cấp theo quy định sang cơ quan có thẩm quyền của Bên ký kết kia. Người làm đơn cũng có thể nộp đơn trực tiếp cho cơ quan có thẩm quyền của Bên ký kết kia [51].
Hiệp định tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự giữa Việt Nam và Cộng hòa Pháp được ký kết ngày 24/02/1999 quy định công dân của Nước ký kết này trên lãnh thổ của Nước ký kết kia được Trợ giúp pháp lý như công dân của Nước ký kết kia, phù hợp với pháp luật của Nước ký kết được yêu cầu Trợ giúp pháp lý.
TGPL trong Hiệp định này bao gồm cả miễn hoặc giảm án phí, cũng như miễn hoặc giảm thù lao bổ trợ tư pháp và khi một người đã được Trợ giúp pháp lý trên lãnh thổ của Nước ký kết này trong quá trình tố tụng để Toà án ra quyết định, thì người đó cũng được Trợ giúp pháp lý trên lãnh thổ của Nước ký kết kia mà không cần phải xem xét lại, khi yêu cầu công nhận và cho thi hành quyết định đó. Luận văn: Pháp luật Việt Nam về Trợ giúp pháp lý.
Về trình tự, thủ tục để xét được hưởng Trợ giúp pháp lý, công dân phải có đơn yêu cầu Trợ giúp pháp lý gửi cho cơ quan có thẩm quyền của Nước ký kết được yêu cầu thông qua Cơ quan trung ương. Kèm theo Đơn yêu cầu là giấy chứng nhận về thu nhập của người yêu cầu trợ giúp pháp được dịch ra ngôn ngữ của Nước ký kết được yêu cầu [52].
Hiệp định tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự, gia đình và hình sự giữa Việt Nam và Mông Cổ được ký kết ngày 19/10/1988 quy định công dân của Bên ký kết này được miễn trả án phí trên lãnh thổ Bên ký kết kia, cũng như được hưởng sự giúp đỡ pháp lý miễn phí theo cùng những điều kiện và mức độ như đối với công dân của Bên ký kết kia. Những ưu đãi này được áp dụng đối với tất cả các hành vi tố tụng được thực hiện theo vụ việc đó, kể cả việc thi hành quyết định của cơ quan xét xử.
Để được hưởng ưu đãi, công dân phải làm đơn yêu cầu cùng với giấy chứng nhận về nhân thân, tình trạng gia đình và tài sản của người đó. Giấy chứng nhận này do cơ quan có thẩm quyền của Bên ký kết, nơi người làm đơn yêu cầu thường trú hoặc tạm trú cấp. Nếu người làm đơn yêu cầu không có nơi thường trú hoặc tạm trú trên lãnh thổ của các Bên ký kết thì chỉ cần giấy chứng nhận do Cơ quan đại diện ngoại giao hoặc Cơ quan lãnh sự của Bên ký kết mà người đó là công dân cấp [50].
- Hiệp định tương trợ tư pháp về dân sự và hình sự giữa Việt Nam và Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào được ký kết ngày 6/7/1998 quy định công dân của Nước ký kết này không phải nộp một khoản tiền cược án phí nào chỉ vì họ là nguyên đơn hoặc là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ việc hoặc là người đại diện hợp pháp của những người đó trước Toà án của Nước Ký kết kia mà không cư trú tại lãnh thổ của Nước ký kết đó [52].
- Hiệp định tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự, gia đình, lao động và hình sự giữa Việt Nam và Cộng hòa Bêlarút ký kết ngày 14/9/2000 quy định công dân của bên kỳ kết này trên lãnh thổ bên ký kết kia được miễn nộp các án phí và lệ phí luật sư bào chữa theo cùng những điều kiệu và mức độ như công dân của bên ký kết kia [54].
- Hiệp định tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự, gia đình và hình sự giữa Việt Nam và Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết (Liên bang Nga kế thừa) ký kết ngày 10/12/1981 quy định: Công dân của một nước ký kết được miễn trên lãnh thổ của nước ký kết kia các khoản lệ phí và chi phí liên quan đến việc giải quyết vụ án, cũng như được hưởng sự giúp đỡ pháp lý không mất tiền theo cùng những điều kiện và mức độ như đối với công dân của nước ký kết kia. Những ưu đãi này được áp dụng đối với tất cả các hành vi tố tụng, kể cả việc thi hành quyết định của Tòa án.
Cơ sở để xét hưởng ưu đãi là giấy tờ về tình trạng nhân thân, gia đình và tài sản của người được ưu đãi. Giấy tờ này do cơ quan có thẩm quyền của nước ký kết nơi cư trú hoặc tạm trú của người xin ưu đãi cấp. Nếu người xin ưu đãi không có nơi cư trú hoặc nơi tạm trú trên lãnh thổ của hai nước ký kết, thì chỉ cần giấy chứng nhận do cơ quan đại diện ngoại giao hoặc cơ quan lãnh sự của nước ký kết mà người ấy là công dân cấp [49]. Luận văn: Pháp luật Việt Nam về Trợ giúp pháp lý.
- Hiệp định về tương trợ tư pháp và pháp lý trong các vấn đề dân sự và hình sự giữa Việt Nam và Cộng hòa Dân chủ nhân dân Triều Tiên ký kết ngày 3/5/2002 quy định Công dân của Bên ký kết này được miễn án phí trên lãnh thổ của Bên ký kết kia theo cùng những điều kiện như công dân và pháp nhân của Bên ký kết kia.
Các Bên ký kết không được đòi hỏi bất cứ nghĩa vụ hoặc khoản chi phí nào về việc gửi, nhận và giải quyết văn bản yêu cầu tương trợ tư pháp. Bên ký kết yêu cầu phải chịu các khoản chi phí về đi lại, tiền ăn, tiền lưu trú ở nước ngoài của người được yêu cầu có mặt để làm chứng hoặc giám định, cũng như khoản tiền lương không được nhận trong khoảng thời gian họ nghỉ việc [55].
- Hiệp định tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự giữa Việt Nam và nước Cộng hòa Ca-Dắc-Xtan ký kết ngày 31/10/2011 quy định Công dân của một Bên được miễn, giảm án phí và được Trợ giúp pháp lý miễn phí trên lãnh thổ của Bên kia theo cùng những điều kiện áp dụng đối với công dân của Bên kia. Thuật ngữ “án phí” theo quy định của Hiệp định này được hiểu là lệ phí tòa án và các chi phí khác trả cho nhà nước phù hợp với pháp luật của nước nơi Tòa án có thẩm quyền xét xử.
Trong trường hợp việc miễn, giảm án phí hoặc Trợ giúp pháp lý miễn phí được quyết định căn cứ vào mức thu nhập của người nộp đơn thì giấy xác nhận mức thu nhập của người nộp đơn sẽ do cơ quan có thẩm quyền của Bên nơi người nộp đơn thường trú hoặc tạm trú cấp.
Công dân của một Bên có thể làm đơn xin miễn, giảm án phí hoặc Trợ giúp pháp lý miễn phí gửi cơ quan có thẩm quyền của Bên nơi người này thường trú hoặc tạm trú. Cơ quan có thẩm quyền này sẽ chuyển đơn kèm theo giấy xác nhận mức thu nhập tới cơ quan có thẩm quyền của Bên kia thông qua các Cơ quan Trung ương. Cơ quan có thẩm quyền sẽ quyết định về việc miễn, giảm án phí và Trợ giúp pháp lý miễn phí hoặc có thể yêu cầu người nộp đơn bổ sung thêm thông tin [55].
- Hiệp định về tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự và hình sự giữa Việt Nam và Ucraina ký kết ngày 6/4/2000 quy định công dân bên ký kết này được hưởng sự Trợ giúp pháp lý không mất tiền và được miễn án phí tại Tòa án và lệ phí tại các cơ quan khác của bên ký kết kia theo cùng những điều kiện và mức độ như công dân bên ký kết kia căn cứ theo quy định pháp luật của các bên ký kết [56]. Luận văn: Pháp luật Việt Nam về Trợ giúp pháp lý.
Như vậy, vấn đề Trợ giúp pháp lý trong các Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với các quốc gia tập trung vào đối tượng được hưởng Trợ giúp pháp lý là người nước ngoài sinh sống, làm ăn ở nước đã ký kết trên nguyên tắc hưởng quyền trợ giúp pháp lý như công dân ở nước sở tại. Nội dung Trợ giúp pháp lý hướng tới chủ yếu là việc miễn, giảm án phí hoặc tùy từng quy định trong các Hiệp định là các chi phí khác có liên quan, chi phí thuê luật sư. Tuy nhiên, Trợ giúp pháp lý trong các Hiệp định tương trợ tư pháp đã nêu chỉ là một chế định nhỏ với những quy định nhiều khi còn chưa cụ thể và việc quá trình nghiên cứu, áp dụng nhiều khi còn khó khăn.
Bên cạnh các quy định về trợ giúp pháp lý trong các Hiệp định tương trợ tư pháp pháp song phương. Tùy từng điều kiện, hoàn cảnh ở mỗi quốc gia, việc Trợ giúp pháp lý còn được thực hiện thông qua các Chương trình, Dự án hợp tác quốc về Trợ giúp pháp lý trong phạm vi thời gian, địa bàn, đối tượng do Chương trình, Dự án đó quy định. Như ở Việt Nam, Quỹ hỗ trợ phụ nữ và trẻ em bị mua bán (do Tổ chức di cư quốc tế IOM tài trợ) đang hỗ trợ kinh phí cho các vụ việc Trợ giúp pháp lý cho phụ nữ và trẻ em là nạn nhân của tội mua bán người. Dự án: “Tăng cường năng lực cho các cơ quan hành pháp và tư pháp chống bạo lực gia đình ở Việt Nam” do Cơ quan phòng, chống ma túy và tội phạm của Liên hợp quốc (UNODC) hỗ trợ triển khai một số hoạt động tăng cường năng lực cho cán bộ Trợ giúp pháp lý trong việc Trợ giúp pháp lý cho nạn nhân của bạo lực gia đình.
Trong xu thế mở rộng và phát triển các đối tượng được Trợ giúp pháp lý và nhu cầu cần được Trợ giúp pháp lý, cùng sự hợp tác mạnh mẽ giữa các quốc gia hướng đến vấn đề thực thi và bảo đảm tốt quyền con người trong lĩnh vực tư pháp thì Trợ giúp pháp lý sẽ được quy định ngày càng đầy đủ, rõ nét hơn trong các Quy phạm pháp luật quốc tế cũng như trong nỗ lực hợp tác của các quốc gia, để trở thành công cụ thực sự đặc lực, hữu hiệu bảo vệ quyền lợi cho người nghèo và các đối tượng yếu thế trong xã hội.
Vì vậy, vấn đề Trợ giúp pháp lý trong các Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với các quốc gia cần có sự chi tiết, cụ thể hóa hơn để thuận tiện cho việc áp dụng đạt kết quả tốt. Cũng như, tạo cơ chế tăng cường hợp tác, đầu tư, trao đổi kinh nghiệm Trợ giúp pháp lý ở Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới. Luận văn: Pháp luật Việt Nam về Trợ giúp pháp lý.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Hoạt động pháp lý giữa Việt Nam với nước ngoài

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Pháp luật Việt Nam về hoạt động Trợ giúp pháp lý