Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Hoạt động pháp lý giữa Việt Nam với nước ngoài hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: So sánh tổ chức và hoạt động Trợ giúp pháp lý giữa Việt Nam với nước ngoài. Một số kiến nghị, giải pháp dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1. So sánh tổ chức và hoạt động Trợ giúp pháp lý giữa Việt Nam với nước ngoài
Trên cơ sở tổng hợp, phân tích pháp luật Việt Nam, pháp luật một số quốc gia trên thế giới về chính sách Trợ giúp pháp lý, cùng việc đánh giá tình hình, thực tiễn tổ chức, hoạt động. Tác giả đưa ra những điểm tương đồng và khác biệt dựa trên những tiêu chí cụ thể theo quan điểm cá nhân nhằm làm sáng tỏ công trình nghiên cứu và thuận tiện khi nghiên cứu, áp dụng.
3.2. Một số kiến nghị, giải pháp để hoàn thiện tổ chức, hoạt động TGPL ở Việt Nam
Bên cạnh những kết quả đã đạt được trong tổ chức, hoạt động Trợ giúp pháp lý ở Việt Nam trong thời gian qua, thì Trợ giúp pháp lý Việt Nam vẫn còn những vấn đề tồn tại, hạn chế liên quan trực tiếp đến tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực, nguồn kinh phí bảo đảm hoạt động, quan hệ phối hợp và công tác quản lý nhà nước về Trợ giúp pháp lý. Điều này đã và đang làm ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả, chất lượng trong công tác Trợ giúp pháp lý nói chung và vấn đề bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho người nghèo và đối tượng chính sách nói riêng trong tiến trình “xóa đói, giảm nghèo” về nhận thức pháp luật. Do vậy, việc đưa ra những kiến nghị, giải pháp để hoàn thiện tổ chức, hoạt động Trợ giúp pháp lý ở Việt Nam là việc làm quan trọng và cần thiết nhằm có những định hướng xây dựng chính sách Trợ giúp pháp lý nước ta ngày càng mở rộng và phát triển, hướng dần đến tính chuyên nghiệp, hiện đại hóa cao trong tình hình mới. Những kiến nghị, giải pháp tập trung chủ yếu vào những vấn đề chính sau:
Thứ nhất, tăng cường hợp tác quốc tế về Trợ giúp pháp lý
Trong xu thế hội nhập, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trên mọi lĩnh vực, vấn đề hợp tác quốc tế về Trợ giúp pháp lý là một trong những vấn đề cần phải luôn được quan tâm và chú trọng, bởi không một quốc gia có thể nằm ngoài, hoạt động độc lập mà không nằm trong mối quan hệ tương hỗ, gắn bó chặt chẽ với các quốc gia khác ở các lĩnh vực trong xã hội và Trợ giúp pháp lý cũng không ở ngoài quy luật đó.
Việc tăng cường gia nhập hoặc ký kết các Điều ước quốc tế đa phương liên quan đến Trợ giúp pháp lý sẽ là cơ sở để chúng ta đẩy nhanh quá trình hoàn thiện chính sách Trợ giúp pháp lý trong nước, tạo cơ sở mở rộng quan hệ hợp tác về Trợ giúp pháp lý, có định hướng nghiên cứu, tìm hiểu rộng rãi và tiếp tục áp dụng có chọn lọc mô hình, cách thức tổ chức Trợ giúp pháp lý ở các quốc gia phát triển. Tuy nhiên, như đã phân tích trong phần I của Luận văn, vấn đề Trợ giúp pháp lý hiện mới chỉ là chế định nhỏ nằm trong các văn bản pháp luật quốc tế với những cách hiểu về nội dung còn khác nhau, đôi khi áp dụng chưa thể mang tính tập trung, thống nhất. Vì vậy, chúng ta với tư cách là thành viên của Liên hợp quốc, WTO, ASEAN và nhiều tổ chức quốc tế khác, Việt Nam nên có những kiến nghị trên các diễn đàn quốc tế đa phương để các tổ chức quốc tế hoạch định xây dựng một bộ quy định chuẩn, đầy đủ về vấn đề Trợ giúp pháp lý. Luận văn: Hoạt động pháp lý giữa Việt Nam với nước ngoài.
Cũng giống như các điều ước quốc tế đa phương có quy định về Trợ giúp pháp lý mà Việt Nam là thành viên ký kết hoặc gia nhập, chế định Trợ giúp pháp lý chỉ là quy phạm nhỏ nằm trong vấn đề hợp tác tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với các nước, và tập trung chủ yếu vào vấn đề miễn, giảm án phí, chi phí liên quan đến tố tụng, chi phí thuê luật sư theo nguyên tắc đối xử quốc gia, có nghĩa là người nước ngoài được Trợ giúp pháp lý, có các quyền và nghĩa vụ về Trợ giúp pháp lý giống như công dân ở nước sở tại. Và trên thực tế, từ khi hệ thống tổ chức thực hiện Trợ giúp pháp lý Việt Nam thành lập và đi vào hoạt động cho đến nay, chúng ta vẫn chưa thực hiện các vụ, việc Trợ giúp pháp lý nào cho người nước ngoài. Vấn đề tồn tại này một phần nguyên nhân là do những quy định về Trợ giúp pháp lý trong hợp tác về tương trợ tư pháp còn mang tính chất chung, chưa cụ thể.
Từ những thực trạng trên, để vấn đề hợp tác quốc tế về Trợ giúp pháp lý của Việt Nam có chiều sâu và thực sự đạt được hiệu quả trong thực tiễn, thì bên cạnh việc tăng cường tham gia ký kết hoặc gia nhập các Điều ước quốc tế, cần phải có định hướng trao đổi, thảo luận với các quốc gia sửa đổi, bổ sung hoặc kiến nghị trên các diễn đàn để sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện nội dung Trợ giúp pháp lý trong các Điều ước quốc tế đa phương và song phương. Trong đó, những nội dung cần phải được thể chế hóa đầy đủ, chi tiết chính là khái niệm nội hàm về Trợ giúp pháp lý, đối tượng nào là người nước ngoài được Trợ giúp pháp lý ở nước sở tại, quyền và nghĩa vụ Trợ giúp pháp lý của họ, hình thức, lĩnh vực Trợ giúp pháp lý, trình tự, thủ tục yêu cầu Trợ giúp pháp lý và cách thức hợp tác tác quốc tế giữa các quốc gia về Trợ giúp pháp lý. Có như vậy, khi tìm hiểu, nghiên cứu, áp dụng các văn bản pháp luật quốc tế sẽ thuận tiện, chính xác và có tính khả thi cao.
Mặt khác, trong điều kiện kinh tế đất nước ta còn nhiều khó khăn, nguồn ngân sách nhà nước cấp cho hoạt động Trợ giúp pháp lý còn hạn hẹp thì việc huy động đầu tư của các tổ chức quốc tế chính phủ, phi chính phủ dành cho Trợ giúp pháp lý Việt Nam thông qua các Dự án tài trợ là việc làm hết sức cần thiết. Thực tế chứng minh, kể từ khi một số nguồn Dự án tài trợ của nước ngoài ngừng hỗ trợ, chúng ta đã gặp không ít những khó khăn, thách thức, ảnh hưởng trực tiếp đến tiến trình hoạt động. Vì vậy, cần phải tiếp tục huy động sự hỗ trợ mạnh mẽ từ các tổ chức quốc tế dành cho Trợ giúp pháp lý trong giai đoạn hiện tại và kế tiếp với những cam kết hỗ trợ theo lộ trình cụ thể để chúng ta có thể dự liệu những khó khăn, hạn chế phát sinh khi nguồn kinh phí từ các Dự án chấm dứt nhằm có những biện pháp, chính sách điều chỉnh cho phù hợp.
Một vấn đề cần được quan tâm là cần phải tiếp tục học tập kinh nghiệm về hoạt động Trợ giúp pháp lý ở các quốc gia nền Trợ giúp pháp lý phát triển (như Mỹ, Phần Lan, Ailen…), áp dụng có chọn lọc, phù hợp những kinh nghiệm hay, có giá trị vào tổ chức, hoạt động Trợ giúp pháp lý trong nước.
Thứ hai, hoàn thiện thể chế, chính sách về Trợ giúp pháp lý trong nước Luận văn: Hoạt động pháp lý giữa Việt Nam với nước ngoài.
Hiện tại, Việt Nam đã xây dựng một khối lượng văn bản pháp luật khá đồ sộ điều chỉnh trực tiếp về lĩnh vực Trợ giúp pháp lý, từ Luật Trợ giúp pháp lý đến các Nghị định, Thông tư, Quyết định….Ngoài ra, chúng ta còn có Đề án Quy hoạch, Chiến lược phát triển Trợ giúp pháp lý qua các giai đoạn.
Đây chính là sự khẳng định quyết tâm to lớn của Đảng và Nhà nước ta trong tiến trình mở rộng, phát triển hoạt động Trợ giúp pháp lý trong xã hội và cũng là sự cố gắng, nỗ lực của các Bộ, ngành, chính quyền từ trung ương đến địa phương trong công tác hoàn thiện chính sách về Trợ giúp pháp lý. Các văn bản pháp lý được các nhà nghiên cứu lập pháp đánh giá khi đi vào thực hiện đã có tính khả thi cao với những kết quả tích cực.
Tuy nhiên, trong xu thế không ngừng mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế với các quốc gia về Trợ giúp pháp lý cũng như để phù hợp với đặc điểm, tình hình của đất nước ở mỗi thời kỳ phát triển, tiếp tục khẳng định vai trò, vị thế của Trợ giúp pháp lý đối với đời sống xã hội. Cần thiết phải sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật trong đó phải kể đến là Luật Trợ giúp pháp lý và tiếp đến là các văn bản hướng dẫn thi hành luật.
Hiện nay, Luật Trợ giúp pháp lý quy định 5 nhóm đối tượng chính được hưởng chính sách Trợ giúp pháp lý, nhưng dự báo trong tương lai, các đối tượng được hưởng Trợ giúp pháp lý sẽ mở rộng do nhu cầu của xã hội (như người khuyết tật, người nằm trong hộ cận nghèo hay người dân tộc thiểu số…). Trên thực tế, đa số những nhóm người này đều là những đối tượng gặp nhiều hoàn cảnh khó khăn trong đời sống, nếu đặt ra những điều kiện về nơi cư trú như ở vùng có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn hay không nơi nương tựa thì rất khó để họ đủ điều kiện tiếp cận và thụ hưởng chính sách Trợ giúp pháp lý. Còn về đối tượng là người cận nghèo, hiện chúng ta đang tăng cường xóa đói, giảm nghèo với nhiều chính sách mạnh mẽ, nên số người nghèo sẽ ngày càng giảm dần, đồng thời sẽ có nhiều đối tượng nằm trong hộ cận nghèo với nhu cầu cần được trợ giúp pháp lý là rất lớn.
Do vậy, cần sớm bổ sung trong Luật đối tượng là người nằm trong hộ cận nghèo và sửa đổi đối tượng là người dân tộc thiểu số không phụ thuộc ở nơi thường trú, người khuyết tật, trẻ em mồ côi, người già cô đơn mà không cần xác định phải không có nơi nương tựa. Luận văn: Hoạt động pháp lý giữa Việt Nam với nước ngoài.
Hoạt động Trợ giúp pháp lý hiện nay vẫn chủ yếu dựa vào các tổ chức thực hiện Trợ giúp pháp lý (gồm Trung tâm Trợ giúp pháp lý và các tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật có đăng ký tham gia Trợ giúp pháp lý). Việc quy định mở rộng là yếu tố cần thiết để giúp hoạt động Trợ giúp pháp lý thể hiện tính chất xã hội hóa trong khi nguồn lực của Nhà nước để đáp ứng nhu cầu còn hạn chế. Song chính vấn đề này làm cho công tác quản lý nhà nước gặp phải khó khăn, dễ dẫn đến mâu thuẫn, trồng chéo về phân cấp quản lý ở các cơ quan, ban, ngành. Thực tại ở các địa phương, công tác quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Sở Tư pháp thực hiện, một phần nhiệm vụ do Trung tâm Trợ giúp pháp lý đảm nhận.
Vì vậy, nên dần xây dựng cơ chế để Trung tâm Trợ giúp pháp lý trở thành cơ quan chủ yếu có chức năng quản lý hoạt động Trợ giúp pháp lý chuyên trách ở địa phương với nhiệm vụ kiểm tra, đánh giá chất lượng hoạt động các tổ chức tham gia Trợ giúp pháp lý; chi trả thù lao vụ việc Trợ giúp pháp lý; đào tạo nguồn nhân lực làm công tác Trợ giúp pháp lý; là đầu mối chính báo cáo, thống kê tình hình Trợ giúp pháp lý ở địa phương với Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Bộ Tư pháp và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền; xử lý khiếu nại, tố cáo về Trợ giúp pháp lý và thực hiện một số công tác Trợ giúp pháp lý đặc thù như giải quyết vụ việc Trợ giúp pháp lý phức tạp, khảo sát nhu cầu Trợ giúp pháp lý, tổ chức Trợ giúp pháp lý lưu động, tuyên truyền về chính sách Trợ giúp pháp lý. Còn nhiệm vụ Trợ giúp pháp lý cụ thể sẽ do tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật thuộc các tổ chức chính trị – xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội – nghề nghiệp đảm nhận.
Tính chất Trợ giúp pháp lý chủ yếu là tính chất nhân đạo, từ thiện, không thu bất kỳ lệ phí, thù lao nào từ người được Trợ giúp pháp lý và hoạt động Trợ giúp pháp lý vẫn chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế-xã hội của đất nước còn gặp nhiều khó khăn, nếu hoạt động Trợ giúp pháp lý vẫn chủ yếu dựa vào nguồn ngân sách nhà nước, trong khi Dự án tài trợ của các tổ chức quốc tế lại giảm dần và tiến tới ngừng tài trợ thì sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả hoạt động Trợ giúp pháp lý, cũng như khả năng mở rộng và phát triển theo chiến lược đề ra.
Vì vậy, nên hướng dần việc Trợ giúp pháp lý có thu một phần thu lao từ một số đối tượng có điều kiện, khả năng kinh tế là việc làm cần thiết nhưng cần phải có lộ trình phù hợp, nhằm giúp giảm dần gánh nặng từ nguồn ngân sách nhà nước, tạo tính cạnh tranh giữa hoạt động của luật sư công với luật sư tư và đảm bảo điều kiện triển khai toàn diện, đầy đủ các nhiệm vụ, hướng đến sự phát triển Trợ giúp pháp lý manh tính bền vững trong tương lai.
Pháp luật Trợ giúp pháp lý đã có quy định cụ thể về trách nhiệm phối hợp của các cơ quan, tổ chức với mạng lưới tổ chức thực hiện Trợ giúp pháp lý gắn với các hoạt động cụ thể như Trợ giúp pháp lý lưu động, giải quyết vụ việc Trợ giúp pháp lý theo yêu cầu của tổ chức thực hiện, quản lý hoạt động của Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý ở cơ sở. Tuy nhiên, lại không đặt ra chế tài xử lý vi phạm các trường hợp không tiến hành phối hợp, nên việc phối hợp này chủ yếu dựa vào “ý chí chủ quan” của các cơ quan, tổ chức mà không có sự ràng buộc trách nhiệm cụ thể, điều này cho thấy có những cơ quan, tổ chức nhiệt tình tham gia phối hợp nhưng cũng có một số cơ quan, tổ chức lại không hoặc phối hợp còn mang tính hình thức, chiếu lệ.
Nên, cần thiết phải bổ sung các chế tài xử lý vi phạm cụ thể các cơ quan, tổ chức không tiến hành các nhiệm vụ phối hợp vào trong quy định của pháp luật Trợ giúp pháp lý và các văn bản pháp luật có liên quan, tạo cơ sở ràng buộc trách nhiệm phối hợp chặt chẽ, đồng bộ. Luận văn: Hoạt động pháp lý giữa Việt Nam với nước ngoài.
Ngoài ra, bên cạnh việc sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật về trợ giúp, chúng ta cũng cần phải nghiên cứu, xây dựng một Đề án trung ương về đổi mới hoạt động Trợ giúp pháp lý trong giai đoạn từ nay đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 với nội dung dự liệu đúng, đủ tình hình Trợ giúp pháp lý ở thực tại và tương lai, mục tiêu phát triển và những giải pháp trọng điểm phải thực hiện cũng như trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan trong quá trình thực hiện Đề án. Đây được coi là sợi chỉ xuyên suốt không chỉ góp phần xây dựng lộ trình hoàn thiện thể chế, chính sách về Trợ giúp pháp lý mà còn hoạch định những biện pháp đúng đắn, phù hợp để tăng cường mở rộng, thúc đẩy phát triển Trợ giúp pháp lý Việt Nam hiện nay và mai sau.
Thứ ba, tăng cường kiện toàn tổ chức, bộ máy Trợ giúp pháp lý
Dựa trên cơ sở những quy định của Luật Trợ giúp pháp lý được Quốc hội ban hành, Đề án “Quy hoạch mạng lưới Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước và Chi nhánh của Trung tâm giai đoạn 2008 – 2010, định hướng đến năm 2015” và Chiến lược phát triển Trợ giúp pháp lý ở Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 của Thủ tướng Chính phủ. Hiện nay, hệ thống tổ chức thực hiện Trợ giúp pháp lý đã phát triển rộng khắp ở 63 tỉnh, thành trong cả nước. Nguồn lực thực hiện bên cạnh 63 Trung tâm Trợ giúp pháp lý còn có 277 tổ chức hành nghề luật sư, 40 Trung tâm tư vấn pháp luật thuộc các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức chính trị-xã hội-nghề nghiệp, tổ chức xã hội-nghề nghiệp đăng ký tham gia Trợ giúp pháp lý. Ngoài ra, mạng lưới Trợ giúp pháp lý ở cơ sở đang ngày càng mở rộng với 199 Chi nhánh thuộc Trung tâm, 4.345 Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý thành lập tại 39% xã, phường, thị trấn trong toàn quốc, 293 Tổ Cộng tác viên, 230 điểm Trợ giúp pháp lý đặt tại phòng Tư pháp cấp huyện, Ủy ban nhân dân xã, Hội phụ nữ[1].
Với hệ thống, mô hình ngày càng mở rộng, hoạt động từng bước ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, đặc biệt là đối tượng được hưởng chính sách Trợ giúp pháp lý nhanh chóng tiếp cận và thụ hưởng kịp thời chính sách Trợ giúp pháp lý miễn phí, hướng tới việc bảo đảm mục tiêu 98% yêu cầu Trợ giúp pháp lý sẽ được giải quyết triệt để, trong đó 95% vụ, việc hoàn thành đạt chất lượng tốt theo các tiêu chí trong Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ việc Trợ giúp pháp lý do Bộ Tư pháp ban hành. Luận văn: Hoạt động pháp lý giữa Việt Nam với nước ngoài.
Tuy nhiên, tùy theo đặc điểm, tình hình mà ở các địa phương có các cách thức tổ chức bộ máy Trợ giúp pháp lý khác nhau, có những nơi tổ chức của Trung tâm thành lập ra phòng chuyên môn gồm Văn phòng, phòng Nghiệp vụ (Quảng Bình) hay phòng Hành chính – Tổng hợp (chức năng giống Văn phòng) và phòng Nghiệp vụ (Phú Thọ), có nơi phòng Nghiệp vụ chia tách thành các phòng có nhiệm vụ giải quyết vụ việc Trợ giúp pháp lý theo các lĩnh vực pháp luật (Vĩnh Phúc), có nơi lại chưa thành lập các phòng chuyên môn (như Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu). Ngay về mô hình hoạt động của Chi nhánh thuộc Trung tâm đặt ở cấp huyện cũng có cách thức tổ chức khác nhau, có nơi không thành lập Chi nhánh vì nguồn lực ngay ở Trung tâm có đủ khả năng đáp ứng nhu cầu Trợ giúp pháp lý (Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nam, Thái Bình, Hà Tỉnh), có nơi thành lập Chi nhánh có Trưởng Chi nhánh làm việc chuyên trách (Thành phố Hà Nội, Vĩnh Phúc, Phú Thọ) nhưng có nơi Trưởng Chi nhánh là chức danh kiêm nhiệm do Trưởng phòng Tư pháp đảm nhận (Hòa Bình).
Việc xây dựng mô hình Trợ giúp pháp lý linh hoạt, phù hợp với đặc điểm của địa phương và thực trạng bộ máy là việc làm cần thiết, hướng tới mục đích duy nhất là làm sao để cung ứng dịch vụ pháp lý miễn phí tốt nhất, kịp thời nhất cho người nghèo và các đối tượng chính sách. Tuy nhiên, về lộ trình lâu dài cần phải có việc tổ chức bộ máy thống nhất chung dựa trên những quy định của pháp luật, đề án quy hoạch, chiến lược Trợ giúp pháp lý.
Theo quan điểm của tôi, bước đầu, ở Trung tâm vẫn cần có hai phòng chuyên môn là Hành chính – Tổng hợp và Nghiệp vụ với chức năng, nhiệm vụ được xác định rõ ràng trong Quy chế tổ chức, hoạt động, Quy chế làm việc của Trung tâm, sau đó tính toán hợp lý để chia nhỏ chức năng phòng Nghiệp vụ thành các bộ phận Trợ giúp pháp lý theo các lĩnh vực pháp luật được Trợ giúp pháp lý, nhưng vẫn phải có cán bộ quản lý cấp phòng tổ chức quản lý và chịu trách nhiệm chung hoạt động của các bộ phận.
Còn về các Chi nhánh, cần phải có lộ trình thành lập theo các giai đoạn: Giai đoạn đầu, trọng tâm từ năm 2015 đến 2020 khi nguồn lực chưa đủ thì nên thành lập Chi nhánh hướng đến vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn và ở địa bàn tập trung đông nhu cầu Trợ giúp pháp lý và có biện pháp duy trì hoạt đổng ổn định, thường xuyên của các Chi nhánh này. Đến giai đoạn từ 2020 trở đi, khi đã có đủ nguồn nhân lực cung cấp cho các Chi nhánh thì mở rộng mạng lưới Chi nhánh ở những điểm cách trụ sở Trung tâm từ 30km trở lên và để Chi nhánh hoạt động độc lập, nâng cao trách nhiệm thì phải có Trưởng Chi nhánh làm việc chuyên trách. Luận văn: Hoạt động pháp lý giữa Việt Nam với nước ngoài.
Việc tiếp tục huy động, khuyến khích các tổ chức hành nghề luật sư, tư vấn pháp luật đăng ký tham gia Trợ giúp pháp lý là việc làm cần thiết nhưng cũng có bước đi phù hợp, tập trung chủ yếu ở các chính sách khuyến khích, thu hút hợp lý thông qua tuyên truyền nâng cao nhận thức về vai trò, ý nghĩa nhân văn của chính sách Trợ giúp pháp lý, có cơ chế xác định trách nhiệm của người luật sư, tư vấn viên pháp luật với công tác trợ giúp vì lợi ích cộng đồng, nâng cao chế độ chi trả thù lao cho những người tham gia cộng tác và mời tham dự các lớp đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn về Trợ giúp pháp lý thường xuyên.
Đối với các Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý, Tổ, điểm cộng tác được coi là cánh tay dài nối liền hệ thống Trợ giúp pháp lý về với cơ sở, trước mắt vẫn duy trì hoạt động khi các Chi nhánh chưa đi vào ổn định, sau đó dần thực hiện việc kiện toàn, duy trì hoạt động ở những Câu lạc bộ, Tổ, điểm cộng tác hoạt động hiệu quả phục vụ cho hoạt động của các Chi nhánh, loại bỏ những mô hình còn yếu kém, thành lập mang tính hình thức.
Nhìn chung, để hệ thống tổ chức thực hiện Trợ giúp pháp lý đạt được tính chuyên nghiệp, hiện đại thì cần phải có chiến lược dài hạn với những bước đi đúng đắn, chính xác. Trong đó, vấn đề kiện toàn tổ chức, bộ máy là vấn đề trung tâm, giữ vai trò then chốt.
Thứ tư, bảo đảm nguồn kinh phí, đầu tư cơ sở vật chất Luận văn: Hoạt động pháp lý giữa Việt Nam với nước ngoài.
Hiện nay, ngoài một số Dự án tài trợ chung cho Trợ giúp pháp lý, hoạt động Trợ giúp pháp lý vẫn chủ yếu dựa vào nguồn ngân sách nhà nước ở địa phương để chi lương cho cán bộ, viên chức và tiến hành các hoạt động nghiệp vụ thường niên cùng nguồn bổ sung từ ngân sách trung ương để tiến hành các hoạt động nghiệp vụ theo Chương trình mục tiêu quốc gia về Trợ giúp pháp lý.
Tuy nhiên, ở nhiều tỉnh miền núi, vùng cao còn gặp nhiều khó khăn (như Phú Thọ, Sơn La, Tuyên Quang…) thì việc dành sự quan tâm đầu tư cho Trợ giúp pháp lý về kinh phí hoạt động còn hạn hẹp, không đủ khả năng triển khai toàn diện, đầy đủ các nhiệm vụ đặt ra. Điều này là một phần nguyên nhân làm ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả của hoạt động Trợ giúp pháp lý trong thời gian qua.
Mặt khác, cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc ở Trung tâm Trợ giúp pháp lý và các Chi nhánh tuy đã được tăng cường song nhìn chung còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng đủ nhu cầu. Theo đánh giá, nhiều thiết bị ở các đơn vị thường xuyên hỏng hóc, không còn khả năng sửa chữa để tái sử dụng (như máy tính, máy photo, máy in…).
Vì vậy, cần tích cực tăng cường đầu tư mạnh mẽ cho Trợ giúp pháp lý về kinh phí hoạt động, trang thiết bị từ ngân sách trung ương và cấp tỉnh theo lộ trình từng bước tăng lên, phù hợp với thực trạng bộ máy và năng lực tổ chức, hoạt động. Đồng thời, để giảm tải những khó khăn từ nguồn ngân sách, việc xây dựng và thực hiện các biện pháp huy động sự ủng hộ, đóng góp mạnh mẽ về tài chính của các nguồn lực xã hội tại chỗ dành cho chính sách Trợ giúp pháp lý là việc làm cần thiết. Việc huy động này có thể thông qua quan hệ hợp tác như quảng bá hình ảnh, cung cấp dịch vụ pháp lý và hoạt động tài trợ.
Có như vậy, Trợ giúp pháp lý mới khắc phục được những khó khăn về kinh phí, tạo đà phát triển tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ và tổ chức, bộ máy ở mỗi giai đoạn. Luận văn: Hoạt động pháp lý giữa Việt Nam với nước ngoài.
Thứ năm, đầu tư phát triển nguồn nhân lực góp phần nâng cao chất lượng giải quyết vụ việc Trợ giúp pháp lý
Nguồn lực thực hiện Trợ giúp pháp lý hiện nay là trợ giúp viên pháp lý, luật sư tham gia cộng tác và các Cộng tác viên làm nhiệm vụ tư vấn pháp luật. Trong đó, nòng cốt chủ yếu vẫn là trợ giúp viên pháp lý và luật sư tham gia cộng tác.
Tuy nhiên, số lượng các trợ giúp viên pháp lý của cả nước hiện nay vẫn còn ít (khoảng hơn 480 người) nên chưa thể đáp ứng toàn bộ nhu cầu Trợ giúp pháp lý của người được Trợ giúp pháp lý mà cần phải có sự hỗ trợ, tham gia từ các luật sư ký kết hợp đồng cộng tác và mạng lưới Cộng tác viên, chủ yếu ở cơ sở.
Từ thực trạng đó, việc phát triển nguồn nhân lực không chỉ tăng cường chỉ tiêu các trợ giúp viên pháp lý ở từng giai đoạn mà còn phải tiếp tục bổ sung đội ngũ luật sư, đặc biệt là các luật sư giỏi, có nhiều kinh nghiệm tham gia cộng tác. Đồng thời, việc thu hút nguồn nhân lực tham gia làm Cộng tác viên tư vấn pháp luật cần được chú trọng, hướng đến chủ yếu là những người làm công tác pháp luật đang làm việc hoặc đã nghỉ hưu, những người dân tộc thiểu số, già làng, trưởng bản, trưởng dòng họ và người có uy tín trong cộng đồng.
Bên cạnh chính sách thu hút nguồn lực tham gia vào Trợ giúp pháp lý thì cũng cần phải xây dựng chính sách, khuyến khích, đãi ngộ hợp lý những người giỏi về trình độ, tâm huyết với nghề gắn bó lâu dài với công tác Trợ giúp pháp lý
Ngoài việc phát triển về số lượng thì vấn đề đặc biệt quan tâm là phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đảm bảo hoạt động có tính chuyên nghiệp, hiện đại. Muốn làm được điều này thì phải xây dựng đội ngũ người thực hiện Trợ giúp pháp lý có lương tâm, đạo đức nghề nghiệp trong sáng, đảm bảo có đủ năng lực trình độ chuyên môn và kinh nghiệm công tác thông qua công tác giáo dục chính trị- tư tưởng, đào tạo, tập huấn kiến thức nghiệp vụ, kỹ năng làm việc.
Thứ sáu, nâng cao nhận thức của các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể xã hội các cấp và mọi người dân về chính sách Trợ giúp pháp lý Luận văn: Hoạt động pháp lý giữa Việt Nam với nước ngoài.
Sự hợp tác, phối hợp chặt chẽ của các cơ quan, ban, ngành từ trung ương đến địa phương với hệ thống tổ chức thực hiện Trợ giúp pháp lý là việc làm cần thiết gắn với tiến tình mở rộng, xã hội hóa công tác Trợ giúp pháp lý. Trong thời gian qua, nhiều cơ quan, ban, ngành, tổ chức xã hội đã có nhiều việc làm thiết thực, cụ thể đóng góp cho công tác Trợ giúp pháp lý như: Xây dựng thể chế, chính sách, giải quyết vụ việc Trợ giúp pháp lý theo yêu cầu của tổ chức thực hiện, phối hợp tham gia Trợ giúp pháp lý lưu động, cử cán bộ tham gia làm Cộng tác viên Trợ giúp pháp lý… Tuy nhiên, các hoạt động này không đồng bộ, thông suốt và thể hiện tính thường xuyên, liên tục, dù cho Luật Trợ giúp pháp lý đã có quy định một số trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức đối với hoạt động Trợ giúp pháp lý.
Bên cạnh đó, đối tượng được hưởng chính sách Trợ giúp pháp lý ở Việt Nam đông với nhu cầu Trợ giúp pháp lý là rất lớn, song khả năng tiếp cận và đưa ra yêu cầu Trợ giúp pháp lý với tổ chức thực hiện còn ít, chỉ chiếm khoảng 60%, do việc hiểu biết về chính sách Trợ giúp pháp lý và thông tin về tổ chức, hoạt động trợ giúp còn chưa đầy đủ, kịp thời.
Do đó, việc đẩy mạnh hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức về Trợ giúp pháp lý đến với các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể các cấp và mọi tầng lớp nhân dân cần phải được chú trọng và thực hiện nghiêm túc, thường xuyên gắn với trách nhiệm chính của các tổ chức thực hiện Trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để tránh việc truyền thông mang tính hình thức, không đạt chất lượng thì cần phải đổi mới về nội dung, đa dạng hóa các cách thực hiện nhưng phải linh hoạt, phù hợp với từng thành phần, đối tượng. Thực tế cho thấy từ nâng cao nhận thức sẽ tạo đà thúc đẩy, tăng cường hoạt động hợp tác bằng nhiều việc làm có ý nghĩa và người dân, đặc biệt là người được Trợ giúp pháp lý có nhu cầu sẽ thực hiện đầy đủ, chính xác và nhanh chóng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật Trợ giúp pháp lý khi có có nhu cầu, vướng mắc pháp luật.
Thứ bảy, tăng cường công tác quản lý về Trợ giúp pháp lý
Hiện nay, Bộ Tư pháp Việt Nam thống nhất quản lý chung công tác Trợ giúp pháp lý trong đó Cục Trợ giúp pháp lý được giao là đầu mối trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến quản lý nhà nước về Trợ giúp pháp lý ở các địa phương. Đồng thời, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước các tỉnh, thành phố và các tổ chức đăng ký tham gia Trợ giúp pháp lý còn chịu sự quản lý của Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Tư pháp.
Để công tác quản lý nhà nước về Trợ giúp pháp lý đảm bảo hiệu quả cần phải tăng cường năng lực, đổi mới công tác quản lý theo hướng thu gọn đầu mối, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin, thống kê theo chỉ tiêu quốc gia, ngành Tư pháp vào hệ thống quản lý, xây dựng cơ chế thích hợp đảm bảo sự kiểm tra, giám sát, đánh giá và báo cáo tình thực hiện Trợ giúp pháp lý thường xuyên, chính xác.
KẾT LUẬN Luận văn: Hoạt động pháp lý giữa Việt Nam với nước ngoài.
Thông qua việc nghiên cứu và xây dựng luận văn thạc sĩ: “Pháp luật quốc tế, pháp luật một số quốc gia và pháp luật Việt Nam về hoạt động Trợ giúp pháp lý” đã giúp cho chúng ta có được cái nhìn tổng quan, biện chứng về một chính sách nhân đạo, từ thiện đang được cộng đồng quốc tế và các quốc gia trong đó có Việt Nam quan tâm đầu tư phát triển. Nghiên cứu cách thức tổ chức mô hình Trợ giúp pháp lý Việt Nam so với mô hình ở một số quốc gia, chúng ta thấy được những nét tương đồng nhưng cũng có những điểm khác biệt tùy vào điều kiện chính trị-kinh tế-xã hội, đặc trưng tình hình của mỗi quốc gia nhưng xét về vai trò, ý nghĩa và tính chất hoạt động của Trợ giúp pháp lý đều hướng đến một vấn đề trọng tâm là bảo đảm quyền con người trong xã hội.
Dù cho tổ chức, hoạt động Trợ giúp pháp lý ở Việt Nam ra đời muộn hơn so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới song về cơ bản hiện nay đã theo kịp được xu hướng vận động và phát triển chung, phù hợp với đặc điểm, tình hình thực tế của đất nước. Những kết quả đạt được đã góp phần bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người dân nói chung và đối tượng được hưởng chính sách Trợ giúp pháp lý nói riêng trong tiếp cận pháp luật và thụ hưởng các dịch vụ pháp lý, đóng góp ý nghĩa vào thực thi công lý, tăng cường pháp chế, đảm bảo công bằng xã hội và vào công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Thành công đạt được chính là nền tảng quan trọng để chúng ta tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả hoạt động Trợ giúp pháp lý trong những giai đoạn tiếp theo, hướng đến sự phát triển lớn mạnh và bền vững.
Tuy nhiên, thực tế vẫn còn tồn tại những khó khăn, hạn chế trong hoạt động này bắt nguồn từ cả những nguyên nhân chủ quan và khách quan. Điều này đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta cần phải không ngừng hoàn thiện thể chế, chính sách Trợ giúp pháp lý, nâng cao tính chuyên nghiệp và hiện đại trong mô hình tổ chức, hoạt động, đảm bảo nguồn kinh phí thường xuyên tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ, chú trọng đầu tư nhân lực làm việc, tăng cường hợp tác quốc tế về Trợ giúp pháp lý, có chính sách khuyến khích, thu hút sự quan tâm, đầu tư mạnh mẽ của các tổ chức quốc tế, các quốc gia và mọi nguồn lực xã hội dành cho hoạt động… Để Trợ giúp pháp lý Việt Nam thực sự khẳng định được vai trò, ý nghĩa của mình trong công cuộc “xóa đói, giảm nghèo về pháp luật”, hướng trọn mục tiêu, lợi ích nhân văn tốt đẹp dành cho người nghèo và các đối tượng chính sách trong xã hội./. Luận văn: Hoạt động pháp lý giữa Việt Nam với nước ngoài.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Pháp luật Việt Nam về hoạt động Trợ giúp pháp lý

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
