Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật về tổ chức của hội đồng quản trị ngân hàng hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Pháp luật Việt Nam về tổ chức của Hội đồng quản trị ngân hàng thương mại cổ phần dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Tên đề tài luận văn là “Pháp luật Việt Nam về tổ chức của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần”. Luận văn có các nội dung cơ bản như sau:
Những vấn đề lý luận cơ bản về tổ chức Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần bao gồm: khái niệm, đặc điểm, vai trò của Hội đồng quản trị ngân hàng thương mại cổ phần; cơ cấu tổ chức, hoạt động của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần và mối tương quan giữa Hội đồng quản trị với các thiết chế khác trong cơ cấu tổ chức của Ngân hàng thương mại cổ phần. Từ đó rút ra được tầm quan trọng của tính hiệu quả trong hoạt động của Hội đồng quản trị ảnh hưởng đến hoạt động của các thiết chế khác. Đồng thời, việc xem xét những đặc trưng của pháp luật về Hội đồng quản trị của Ngân hàng thương mại cổ phần ở một số nước trên thế giới để có cơ sở so sánh, đánh giá sự phù hợp, tính tương thích và những yêu cầu đặt ra với pháp luật Việt Nam về Hội đồng quản trị của Ngân hàng thương mại cổ phần.
Phần thực trạng quy định pháp luật Việt Nam với các vấn đề pháp lý về tổ chức Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần tập trung vào các nội dung sau: nguyên tắc hoạt động, thẩm quyền, các loại thành viên Hội đồng quản trị và các hoạt động khác của Hội đồng Quản trị của Ngân hàng thương mại cổ phần cổ phần. Mặt khác, tác giả sẽ phân tích thực trạng thực hiện các nội dung đó tại một số Ngân hàng thương mại cổ phần. Qua đó, sẽ đánh giá và tìm ra những nguyên nhân của những ưu điểm và hạn chế của pháp luật Việt Nam, của việc thực hiện pháp luật về tổ chức của Hội đồng quản trị tại các Ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam hiện nay.
Luận văn đưa một số kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về tổ chức của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam. Trong phần này, tác giả đưa ra những quan điểm về xây dựng, sửa đổi và bổ sung các quy định pháp luật về tổ chức của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần và những giải pháp cụ thể trên phương diện lập pháp cũng như trong quá trình thực hiện pháp luật về tổ chức của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần.
Từ khóa: Tổ chức, Hội đồng quản trị, Ngân hàng thương mại cổ phần
ABSTRACT Luận văn: Pháp luật về tổ chức của hội đồng quản trị ngân hàng.
The title of the thesis is “Vietnamese law on the organization of the Board of Directors of the Joint Stock Commercial Bank“. The thesis has the following main contents:
The basic theoretical issues about the organization of the Board of Directors of a joint-stock commercial bank (JSCB) include: the concept, characteristics, and role of the Board of Directors of the JSCB; the organizational structure and operation of the Board of Directors of the JSCB and the relationship between the Board of Directors and other institutions in the organizational structure of the JSCB. From that, the importance of the effectiveness of the Board of Directors’ performance affects the performance of other institutions. At the same time, considering the characteristics of the law on the Board of Directors of a JSCB in some countries around the world to have a basis for comparison and assessment of suitability, compatibility and requirements. requirements set out with Vietnamese law on the Board of Directors of a JSCB.
The current situation of Vietnam’s legal regulations with legal issues on the organization of the Board of Directors of a JSCB focuses on the following contents: operating principles, competence, types of members of the Board of Directors. management and other activities of the Board of Directors of the JSCB. On the other hand, the author will analyze the actual implementation of such contents at some joint stock commercial banks. Thereby, will evaluate and find out the causes of the advantages and limitations of the law of Vietnam, the implementation of the law on the organization of the Board of Directors at JSCB in Vietnam.
The thesis has given some recommendations and solutions to improve the legal regulations on the organization of the Board of Directors of a JSCB in Vietnam. In this section, the author gives views on building, amending and supplementing legal regulations on organization of the Board of Directors of JSCB and specific solutions in terms of legislation. as well as in the process of implementing the law on organization of the Board of Directors of the JSCB.
Keywords: Organization, Board of Directors, Joint-stock Commercial Bank
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động Ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác nhằm mục tiêu lợi nhuận. Ngân hàng thương mại cổ phần được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần. Để các Ngân hàng thương mại cổ phần có thể tồn tại, phát triển và cung ứng nguồn vốn tốt cho nền kinh tế thì một trong những vấn đề cần quan tâm lớn nhất, đó là hoạt động quản trị. Hoạt động quản trị của Ngân hàng thương mại cổ phần được chú trọng và thực hiện hiệu quả sẽ góp phần giúp cho Ngân hàng tránh được các rủi ro tiềm ẩn trong quá trình hoạt động, giảm thiểu tình trạng mất khả năng chi trả, mất khả năng thanh toán, không gây phương hại cho hoạt động tài chính nói riêng và nền kinh tế nói chung. Hoạt động quản trị trong Ngân hàng thương mại cổ phần là hết sức quan trọng. Vì vậy, việc nghiên cứu quy định pháp luật về quản trị tại Ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam nói chung và tổ chức của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần nói riêng là cần thiết. Luận văn: Pháp luật về tổ chức của hội đồng quản trị ngân hàng.
Nhận thức được tầm quan trọng đó, những năm qua đã có sự thay đổi sâu sắc tổ chức bên trong Ngân hàng thương mại cổ phần. Bên cạnh đó, bởi sự thay đổi của các văn bản quy phạm pháp luật về tổ chức của các tổ chức tín dụng như Luật doanh nghiệp năm 2020, Luật đầu tư năm 2020, Luật sửa đổi luật các Tổ chức tín dụng năm 2017 và nhiều văn bản hướng dẫn được ban hành bởi Ngân hàng nhà nước Việt Nam, khiến các Ngân hàng thương mại cổ phần cũng phải tìm cho mình những cơ hội trong việc chuyển đổi cơ cấu quản trị công ty để phù hợp với thông lệ quốc tế, cũng như tạo nên hành lang pháp lý “an toàn” cho các tổ chức tín dụng, đồng thời tăng cường vai trò hoạt động và quản trị của Hội đồng quản trị công ty.
Tuy nhiên, có thể nói các quy định của pháp luật hiện hành vẫn còn nhiều bất cập trong quy định về tổ chức của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần, các văn bản hiện hành còn thiếu đồng bộ, chưa thống nhất, những văn bản hướng dẫn của Ngân hàng nhà nước còn mang tính khái quát; các quy định nội bộ của tổ chức tín dụng còn mang tính chung chung và chưa đầy đủ, đặc biệt là các nội dung liên quan đến vai trò điều hành của các thành viên Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần.
Đáng chú ý, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, đối chiếu với quy định về tổ chức của Hội đồng quản trị các tổ chức tín dụng của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), thì những quy định của pháp luật của Việt Nam còn nhiều vấn đề chưa tương thích, dẫn đến quá trình áp dụng của các tổ chức tín dụng không rõ ràng. Điều này ảnh hưởng đến chất lượng điều hành của Hội đồng quản trị và hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng nói chung và Ngân hàng thương mại cổ phần nói riêng.
Ngoài ra, thực tiễn việc thực hiện các quy định của pháp luật ở các Ngân hàng thương mại cổ phần vẫn còn nhiều sai phạm dẫn đến nhiều hệ lụy trong hoạt động ở một số Ngân hàng thương mại cổ phần hiện nay như sai phạm trong hoạt động cho vay hàng nghìn tỷ đồng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đại Dương (Oceanbank); vi phạm quy định cho vay trong hoạt động của tổ chức tín dụng, gây thiệt hại khoảng 9 nghìn tỷ đồng tại Ngân hàng Xây dựng (VNCB); công tác quản trị, điều hành của Ngân hàng Xây dựng (VNCB) trong khi thực hiện phương án tái cơ cấu còn nhiều yếu kém, hệ thống kiểm soát nội bộ không phát huy tác dụng, dẫn đến tiếp tục có nhiều sai phạm, tình hình tài chính ngày càng xấu, thua lỗ kéo dài, nguy cơ mất vốn lớn, … và nhiều sai phạm nghiệm trọng khác xuất phát từ điều hành yếu kém của Hội đồng quản trị ở một số Ngân hàng.
Từ những vụ việc xảy ra trên, có thể thấy hiệu quả hoạt động của Hội đồng quản trị, là cơ quan quản lý khả năng quản trị Ngân hàng, còn yếu kém, thiếu kinh nghiệm và kiến thức chuyên môn ngành. Nhiều tổ chức tín dụng vẫn chưa phân định rõ chức năng giám sát của Hội đồng quản trị và Ban điều hành, quy chế hoạt động trong điều lệ công ty chưa được ban hành đầy đủ, nội dung chưa phù hợp với các quy định pháp luật hiện hành. Mặt khác, số lượng các Tổ chức tín dụng hiện nay tăng lên, do sự phát triển của thị trường chứng khoán, trong khi đó trình độ quản trị Ngân hàng không theo kịp, khiến chất lượng quản trị trở thành vấn đề lớn trong quản lý và điều hành Ngân hàng, gây ra những hậu quả như chất lượng tín dụng kém, rủi ro tín dụng cao.
Nhằm góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật về tổ chức của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam trong thời gian tới, học viên lựa chọn đề tài: “Pháp luật Việt Nam về tổ chức của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần” làm luận văn tốt nghiệp thạc sỹ chuyên ngành Luật kinh tế của mình.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài Luận văn: Pháp luật về tổ chức của hội đồng quản trị ngân hàng.
2.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là hoàn thiện các quy định pháp luật về tổ chức của Hội đồng quản trị ở các Ngân hàng thương mại cổ phần, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành của hội đồng quản trị tại các Ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam trong thời gian tới.
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để hoàn thiện mục đích nghiên cứu ở trên. Luận văn tập trung nghiên cứu làm rõ những nội dung cụ thể như sau:
- Phân tích làm rõ cơ sở lý luận về tổ chức của Hội đồng quản trị ở các Ngân hàng thương mại cổ phần như các khái niệm, đặc điểm, vai trò, nguyên tắc trong tổ chức của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần theo quy định của pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế;
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về tổ chức của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam; phân tích những ưu điểm, những hạn chế và nguyên nhân của thực trạng đó khi thực hiện các quy định của pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế về tổ chức của Hội đồng quản trị tại Ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam hiện nay;
- Đề xuất phương hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật về tổ chức của Hội đồng quản trị tại các Ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam trong thời gian tới. Luận văn: Pháp luật về tổ chức của hội đồng quản trị ngân hàng.
3. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Công ty cổ phần (CTCP) nói chung là một loại hình doanh nghiệp phổ biến ở trên thế giới và chính thức được thừa nhận trong các quy định của luật doanh nghiệp Việt Nam từ rất sớm. Công ty cổ phần luôn thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu kinh tế cũng như luật học bởi những đặc điểm, sự hình thành, vận động, phát triển và chấm dứt hoạt động của nó.
Trong những năm gần đây, bên cạnh sự xuất hiện các công trình phổ biến về loại hình công ty cổ phần thì đã có sự nổi lên của một số nghiên cứu về loại hình công ty thương mại cổ phần. Các công trình nghiên cứu được thể hiện ở những phạm vi khác nhau, đối tượng và quy mô nghiên cứu khác nhau, bao gồm các công trình sách, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, các bài báo, bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí chuyên ngành. Các công trình nghiên cứu được tham khảo trong luận văn này gồm: Sách Luật doanh nghiệp bảo vệ cổ đông pháp luật và thực tiễn (2011) của tác giả Bùi Xuân Hải; Giáo trình Quản trị Ngân hàng (2011) của tác giả Nguyễn Thị Mỹ – Trần Cảnh Toàn; các luận văn thạc sĩ luật học tại Trường Đại học Luật Hà Nội là “Bảo vệ quyền lợi của cổ đông trong Công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn” (2010) của các tác giả Bùi Minh Nguyệt, “Tổ chức quản lý nội bộ Công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp năm 2014” (2015) của tác giả Lưu Thị Dung, “Các hình thức huy động vốn của Công ty cổ phần ở Việt Nam theo Luật Doanh nghiệp năm 2014” (2016) của tác giả Đỗ Kỳ Anh, “Rủi ro pháp lý trong tổ chức, quản lý Công ty cổ phần theo Luật doanh nghiệp năm 2014” (2017) của tác giả Phan Trung Hiếu, …
Các công trình này chứa đựng nhiều thông tin cũng như có nhận định rõ nét về các vấn đề liên quan đến quá trình thành lập, phát triển và chấm dứt hoạt động của Công ty cổ phần. Các công trình trên nghiên cứu chung về tất cả các loại công ty. Một số công trình nghiên cứu ở một khía cạnh riêng về vấn đề huy động vốn hay về vấn đề tổ chức quản trị công ty, … Ngoài ra, trên các tạp chí chuyên ngành cũng đã đăng một số bài viết của nhiều nhà nghiên cứu về các quy định của Luật Doanh Nghiệp Việt Nam cũng như một số quốc gia trên thế giới về Công ty cổ phần. Trong đó, có thể kể đến các bài viết của các tác giả Nguyễn Thị Lan Hương “Một số so sánh về Công ty cổ phần theo Luật công ty Nhật Bản và Luật Doanh nghiệp Việt Nam”, Tạp chí Luật học, số 25, năm 2009; Lê Thị Lợi, “Những quy định của Luật Doanh nghiệp 2005 về Công ty cổ phần cần được tiếp tục sửa đổi, bổ sung”, Tạp chí Luật học, số 10, năm 2009; Từ Thanh Thảo, “Pháp luật về vốn điều lệ Công ty cổ phần: Một số bất cập và định hướng hoàn thiện”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 12, năm 2013; Trần Ngọc Dũng, “Hoàn thiện quy định về cơ chế giám sát hoạt động quản lý, điều hành trong Công ty cổ phần theo Luật Doanh Nghiệp năm 2014”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 5, năm 2016 và các bài báo, bài tạp chí liên quan đến đề tài Công ty cổ phần trên các báo mạng khác…
Do quá trình phát triển kinh tế của đất nước và quá trình hội nhập quốc tế trong những năm qua diễn ra rất nhanh nên Luật Doanh Nghiệp năm 2014 đã không còn phù hợp với thực tế nữa. Bởi vậy, Quốc hội khóa XIV đã chính thức thông qua Luật Doanh Nghiệp năm 2020 thay thế Luật Doanh Nghiệp năm 2014. Theo đó, về tổ chức và hoạt động của các loại hình doanh nghiệp trong đó có Công ty cổ phần cũng có nhiều sự thay đổi. Luận văn: Pháp luật về tổ chức của hội đồng quản trị ngân hàng.
Qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy chưa có nhiều công trình nghiên cứu cụ thể về vấn đề tổ chức của Hội đồng quản trị tại các công ty Thương mại cổ phần nói chung và đặc biệt là tại các Ngân hàng thương mại cổ phần nói riêng, dưới góc nhìn luật học. Vì thế, tác giả lựa chọn đề tài: “Pháp luật về tổ chức của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần” với mong muốn đóng góp một góc nhìn mới trong cả lý luận và thực tiễn đối với quy định của pháp luật về lĩnh vực này, đồng thời đề xuất bổ sung và hoàn thiện các quy định của pháp luật cũng như áp dụng pháp luật về tổ chức của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam trong thời gian tới.
4. Câu hỏi nghiên cứu
4.1 Về lý luận:
Thông qua những quy định của pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế hiện nay, đặc điểm, nguyên tắc, vai trò Hội đồng quản trị của Ngân hàng thương mại cổ phần được thể hiện như thế nào?
4.2 Về thực tiễn:
Thực tiễn áp dụng những quy định của pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế về tổ chức của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần có hạn chế, vướng mắc, bất cập gì?
4.3 Về giải pháp hoàn thiện pháp luật về tổ chức Hội đồng quản trị của Ngân hàng thương mại cổ phần:
Cần phải có những giải pháp gì để khắc phục những hạn chế, vướng mắc và bất cập trong quy định pháp luật, thực hiện pháp luật về tổ chức của Hội đồng quản trị ở Ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam hiện nay?
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: Các quy định của pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế về tổ chức của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần trong những năm gần đây, từ đó làm cơ sở cho việc đánh giá hiệu quả thực thi những quy định của pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế về tổ chức của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần. Sau đó đề xuất những định hướng nhằm đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật về tổ chức của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam trong thời gian tới.
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay và thông lệ quốc tế trong tổ chức của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần. Cụ thể là nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về tổ chức của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần, được thực hiện thông qua việc tìm hiểu, đánh giá nội dung của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi bổ sung năm 2017, Luật Doanh Nghiệp năm 2020, các văn bản hướng dẫn của Ngân hàng nhà nước. Hơn nữa, luận văn tập trung đi sâu vào nghiên cứu cách thức tổ chức điều hành của Hội đồng quản trị tại Ngân hàng thương mại cổ phần, nhất là chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền thông qua một số Ngân hàng thương mại cổ phần cụ thể.
- Về không gian: Thực tiễn áp dụng tại các Ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam.
- Về thời gian: Nghiên cứu đánh giá pháp luật và việc thực hiện pháp luật về Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần từ năm 2010 đến năm nay. Luận văn: Pháp luật về tổ chức của hội đồng quản trị ngân hàng.
6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu cụ thể
6.1 Phương pháp luận nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành, đa ngành khoa học xã hội. Trong đó về phương pháp luận, luận văn nghiên cứu dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – LêNin; dựa trên quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vai trò chủ đạo của các tổ chức kinh tế đối với sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay. Đồng thời, các nguyên lý chung về tổ chức và quản lý công ty Thương mại cổ phần, lý thuyết về quản trị doanh nghiệp,… cũng được vận dụng để giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu.
6.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Để hoàn thành luận văn, tác giả đã sử dụng đồng bộ các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
Phương pháp phân tích: đây là phương pháp quan trọng được áp dụng xuyên suốt trong nội dung luận văn, để phân tích các quy phạm pháp luật có liên quan đến tên đề tài.
Phương pháp tổng hợp: Từ những vấn đề được phân tích, phương pháp tổng hợp được dùng trong tất cả các chương của luận văn để tổng hợp các quan điểm khác nhau về nhận thức khoa học xung quanh các khái niệm, quy phạm pháp luật liên quan đến pháp luật về tổ chức của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam.
Phương pháp so sánh: Nhằm góp phần và việc đánh giá được những điểm tiến bộ của pháp luật cũng như sự phù hợp của pháp luật về tổ chức của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam hiện nay. Tác giả sử dụng phương pháp so sánh để đối chiếu các quy định pháp luật qua các thời kỳ, đồng thời so sánh với quy định của thông lệ quốc tế để làm rõ bản chất của vấn đề được đề cập tới.
Phương pháp đánh giá: Phương pháp này được sử dụng chủ yếu ở chương 2 và 3 của luận văn. Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích thực trạng của pháp luật Việt Nam về tổ chức của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần, tác giả đưa ra nhận xét, đánh giá về những ưu điểm, hạn chế, những bất cập trong các quy định cũng như quá trình áp dụng pháp luật tại các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam hiện nay. Từ đó làm có sở khoa học cho việc đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật ở chương 3 của luận văn.
7. Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài Luận văn: Pháp luật về tổ chức của hội đồng quản trị ngân hàng.
Về mặt khoa học, luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm các vấn đề lý luận của pháp luật về tổ chức của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế, đặc biệt là sự thay đổi trong quy định của Luật Doanh Nghiệp năm 2020; đảm bảo sự thống nhất giữa quy định của Luật Doanh Nghiệp năm 2020 và Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi bổ sung năm 2017, các văn bản hướng dẫn của Ngân hàng nhà nước, thông lệ quốc tế.
Những nghiên cứu, đề xuất của luận văn góp phần vào việc hoàn thiện các quy định của pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về tổ chức của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam hiện nay.
Về thực tiễn, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các sinh viên, học viên ngành luật khi nghiên cứu về lĩnh vực này.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được kết cấu thành 3 chương:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận về tổ chức của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần theo pháp luật Việt Nam.
- Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về tổ chức của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần
- Chương 3: Một số kiến nghị và giải pháp hoàn thiện pháp luật về tổ chức của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần hiện nay.
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC CỦA HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
1.1. Khái quát về tổ chức của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần
1.1.1. Khái niệm Hội đồng quản trị trong Công ty cổ phần
Để hiểu khái niệm Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần trước hết cần phải tiếp cận khái niệm Hội đồng quản trị của Công ty cổ phần (CTCP) bởi Ngân hàng thương mại cổ phần trước hết phải tuân thủ quy định về Công ty cổ phần theo Luật Doanh Nghiệp. Đối với các Công ty cổ phần, cổ đông là những người đầu tư mua cổ phần công ty, nhưng không trực tiếp thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh. Khi số lượng cổ đông lớn, để đại diện cho tập hợp tất cả các cổ động của Công ty cổ phần (gọi là Đại hội đồng cổ đông) cần thiết phải có một cơ quan thường trực điều tiết các hoạt động của Công ty cổ phần nhằm đưa ra những quyết định và điều hành hoạt động của doanh nghiệp đó chính là Hội đồng quản trị. Hội đồng quản trị là một thiết chế quan trọng, từng được ví là “khối óc” của doanh nghiệp. Hội đồng quản trị chịu trách nhiệm chỉ đạo và xây dựng chiến lược, giám sát kết quả quản trị, đảm bảo sự trung thực của báo cáo tài chính, có kế hoạch đào tạo nhân sự kế nhiệm cho các vị trí quản lý cấp cao. Hội đồng quản trị hoạt động vì lợi ích của chung của Công ty cổ phần, bảo vệ quyền lợi của tất cả các cổ đông. Do đó, một Hội đồng quản trị độc lập, chuyên nghiệp và hiệu quả đóng vai trò thiết yếu trong việc thực thi những biện pháp quản trị Công ty cổ phần hiệu quả. Luận văn: Pháp luật về tổ chức của hội đồng quản trị ngân hàng.
Do đó, có thể khẳng định Hội đồng quản trị của Công ty cổ phần là một trong các thiết chế của Công ty cổ phần nhằm thực hiện hoạt động quản lý công ty, nhân danh công ty thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty mà không thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông.
1.1.2. Khái niệm Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần
Trong Ngân hàng thương mại cổ phần, việc quản trị sẽ là một cơ chế nhằm điều khiển và kiểm soát hoạt động của ngân hàng. Nói đến quản trị, các nhà kinh tế học và các chuyên gia ngân hàng sẽ hình dung không những là việc quản trị, thực hiện quyết định và tổ chức nội bộ của các ngân hàng mà còn là việc quản trị thanh khoản (khả năng thanh toán và quy mô của ngân hàng), quản trị tài sản có, tài sản nợ, quản trị vốn, quản trị tín dụng. Như vậy, mặc dù mô hình tổ chức của Ngân hàng thương mại cổ phần chính là loại hình doanh nghiệp Công ty cổ phần. Tuy nhiên, giữa Ngân hàng thương mại cổ phần và các doanh nghiệp là Công ty cổ phần nói chung có sự khác biệt đáng kể về lĩnh vực hoạt động đặc thù là hoạt động ngân hàng. Sự tách biệt quyền sở hữu với quyền quản lý kinh doanh là một đặc trưng mang tính bản chất của Ngân hàng thương mại cổ phần so với các loại hình doanh nghiệp khác. Từ đặc điểm này đã đưa ra một vấn đề mang tính trọng yếu và then chốt đó chính là cơ cấu tổ chức quản lý Ngân hàng thương mại cổ phần. Do vây, Hội đồng quản trị của Ngân hàng thương mại cổ phần sẽ chịu sự chi phối của những quy định chung và những quy định riêng. Quy định chung tại các văn bản quy định về hoạt động của loại hình Công ty cổ phần, quy định riêng tại các văn bản quy định hoạt động ngân hàng.
Cơ cấu tổ chức của một Ngân hàng thương mại cổ phần là một tổ chức bị ảnh hưởng lớn bởi tư tưởng “phân quyền và chế ước” của lý luận chính trị dân chủ phương tây để xây dựng nền dân chủ pháp quyền. Ngân hàng thương mại cổ phần của các nước tuy có thể có bộ máy quản lý khác nhau nhưng tư tưởng lập pháp cũng như các điều luật lại có điểm giống nhau xét ở góc độ pháp lý. Điểm nổi bật là ba cơ quan quyền lực và chức năng (Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và tổng giám đốc, ban kiểm soát) phân chia các quyền năng quyết định, quản lý điều hành và kiểm soát mà ẩn sau nó chính là nguyên tắc mỗi bên có quyền, trách nhiệm rõ ràng, chế ước lẫn nhau. Phân quyền và chế ước là vấn đề trọng tâm, then chốt của mỗi ngân hàng nói chung, trong đó mạnh mẽ nhất, nổi bật nhất là Ngân hàng thương mại cổ phần – loại hình công ty đối vốn triệt để. Trong Ngân hàng thương mại cổ phần, Hội đồng quản trị là một trong ba tổ chức quan trọng nhất của Ngân hàng thương mại cổ phần. Đây là cơ quan đại diện cho chủ sở hữu thực hiện quyền quản lý ngân hàng. Điều này có nghĩa là quyền lực của đông người (ngân hàng có số lượng cổ đông có thể lên tới hàng trăm ngàn người) nay tập trung cho một số người. Số người này tập hợp thành một cơ quan, gọi là Hội đồng quản trị. Đi theo sự phát triển của Ngân hàng thương mại cổ phần, quyền lực của ngân hàng ngày càng tập trung vào cơ quan quản lý của ngân hàng là Hội đồng quản trị. Điều này về khía cạnh lập pháp chính là tư tưởng Hội đồng quản trị nằm ở vị trí trung tâm của ngân hàng – có vai trò trọng yếu và quyền lực to lớn. Hội đồng quản trị là cơ quan điều hành, liên quan đến sự thắng bại, suy thịnh của ngân hàng. Nói một cách khác, Hội đồng quản trị là cơ quan then chốt trong cơ cấu quản lý ngân hàng. Xét về vị trí này, người ta phát hiện quyền lực của ngân hàng cội nguồn từ quyền lực Hội đồng quản trị. Rồi sau đó, một phần quyền lực sẽ được chuyển giao cho tổng giám đốc.
Theo quan điểm của tác giả: “HĐQT của Ngân hàng thương mại cổ phần là cơ quan quản lý thường xuyên các hoạt động quản trị, có toàn quyền nhân danh Ngân hàng để quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của Ngân hàng thương mại cổ phần trong việc quản trị doanh nghiệp trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông”.
1.1.3. Khái niệm – Đặc điểm về tổ chức của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần Luận văn: Pháp luật về tổ chức của hội đồng quản trị ngân hàng.
HĐQT Ngân hàng thương mại cổ phần ngoài những đặc điểm cơ bản của Hội đồng quản trị Công ty cổ phần nói chung, còn có những đặc điểm riêng của Ngân hàng thương mại cổ phần, cụ thể các đặc điểm riêng đó như sau:
Thứ nhất, sự tách bạch giữa người sở hữu vốn và người sử dụng vốn. Hội đồng quản trị do các cổ đông bầu ra, thay mặt các cổ đông thực hiện giám sát hoạt động của những người quản lý điều hành, ngăn ngừa mâu thuẫn và xung đột lợi ích giữa các cổ đông và ban lãnh đạo ngân hàng, nhằm bảo vệ quyền lợi, đồng vốn của các cổ đông.
Thứ hai, trên cương vị chính thức, Hội đồng quản trị tách biệt với ban điều hành. Hội đồng quản trị không can thiệp vào hoạt động hàng ngày mà chỉ tư vấn và giám sát hoạt động của ban điều hành, dựa trên các chiến lược kinh doanh đã được Hội đồng quản trị đề ra và được đại hội đồng cổ đông thông qua. Sự phân bổ quyền lực Hội đồng quản trị và ban điều hành, về pháp lý giữa họ chính thức chia toàn bộ những quyết định của ngân hàng mà không đòi hỏi sự chấp thuận của cổ đông ra thành những quyết định đòi hỏi sự phê chuẩn của Hội đồng quản trị và những quyết định thuộc thẩm quyền của.
Thứ ba, Hội đồng quản trị được phân biệt chính thức với các cổ đông của ngân hàng. Sự tách biệt này giúp tiết kiệm chi phí của việc ra quyết định để quản lý các hoạt động của ngân hàng. Ngoài ra, khi Hội đồng quản trị được thành lập một cách tách biệt còn có thể giúp kiểm tra về những hành vi cơ hội chủ nghĩa của các cổ đông nắm quyền kiểm soát – hoặc là đối với các cổ đông khác, hoặc là đối với các đối tác khác liên quan đến công ty như người gửi tiền hay người lao động. Cũng như thế, Hội đồng quản trị có thể mang đến cho cổ đông nhỏ hay các thành phần khác như người lao động và người gửi tiền một cơ hội tiếp cận thông tin đáng tin cậy hay tham gia trực tiếp vào việc ra quyết định của ngân hàng. Đồng thời, thông qua việc giao phó cho các cá nhân được bổ nhiệm một vai trò cụ thể là người ra quyết định đại diện cho ngân hàng. Điều này giúp đẩy mạnh khả năng Hội đồng quản trị sẽ hành động chủ yếu vì lợi ích của tất cả các thành phần có liên quan trong ngân hàng thông qua các nguyên tắc và áp lực xã hội.
Thứ tư, Hội đồng quản trị là cơ quan làm việc theo chế độ tập thể. Mặc dù, các thành viên Hội đồng quản trị có nhiệm vụ riêng và phải chịu trách nhiệm cá nhân về những công việc đó nhưng vai trò của Hội đồng quản trị lại thuộc về thẩm quyền của tập thể. Có nghĩa là các thành viên Hội đồng quản trị không được trực tiếp chỉ đạo cán bộ quản lý làm bất kỳ điều gì với tư cách là cá nhân. Không một thành viên Hội đồng quản trị nào có thể thay mặt công ty để cung cấp một sự đảm bảo hoặc cam kết điều gì. Vì thế, sẽ không có thẩm quyền riêng của từng cá nhân trừ khi cá nhân này được Hội đồng quản trị uỷ quyền thực hiện một số nhiệm vụ nhất định thuộc quyền hạn của Hội đồng quản trị và cũng trừ trường hợp một số quyền riêng của Chủ tịch Hội đồng quản trị. Luận văn: Pháp luật về tổ chức của hội đồng quản trị ngân hàng.
Thứ năm, Hội đồng quản trị thường có nhiều thành viên và là một cơ cấu đa dạng. Cơ cấu này trái với cơ cấu tập trung quyền lực trong một người được uỷ thác, như trong nhiều công ty tín thác tư nhân – tạo thuận lợi cho việc giám sát lẫn nhau và kiểm tra việc ra quyết định theo phong cách riêng. Mức độ đáp ứng hữu ích của cơ cấu hội đồng lại phụ thuộc vào cơ cấu sở hữu của ngân hàng. Ví dụ, khi sự sở hữu ngân hàng chỉ tập trung vào tay một hay một vài cổ đông, hội đồng sẽ có vai trò quan trọng để bảo vệ quyền lợi của những cổ đông không nắm quyền kiểm soát thoát khỏi sự áp đặt hoặc gây phương hại từ cổ đông nắm quyền kiểm soát; hơn là để bảo vệ các cổ đông thoát khỏi sự lạm quyền của tổng giám đốc. Đa dạng là một nhân tố quan trọng trong việc xây dựng một Hội đồng quản trị. Tất cả các thành viên phải là các cá nhân đủ điều kiện, nhưng cần chú ý đến sự đa dạng của kinh nghiệm, giới tính, chủng tộc và độ tuổi.
Thứ sáu, tổ chức Hội đồng quản trị của Ngân hàng thương mại cổ phần còn phải chịu sự quy định và điều chỉnh của Luật Doanh Nghiệp và các văn bản quy phạm pháp luật chuyên biệt trong lĩnh vực tài chính ngân hàng.
1.1.4. Các mô hình pháp lý tổ chức của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần
Mô hình pháp lý tổ chức của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần dựa trên mô hình pháp lý tổ chức của Công ty cổ phần. Theo luật doanh nghiệp 2020, Công ty cổ phần được quyền lựa chọn một trong hai mô hình tổ chức như sau:
Mô hình thứ nhất là mô hình một cấp bao gồm, Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, giám đốc hoặc tổng giám đốc, ban kiểm soát
Mô hình thứ hai là mô hình hai cấp bao gồm. Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, giám đốc hoặc tổng giám đốc, trong hội đồng quản trị có hai thành viên độc lập và ban kiểm soát nội bộ.
Trong hai mô hình trên có sự khác nhau về cấu tổ chức, nhưng cơ bản về chức năng nhiệm vụ cơ bản gần giống nhau.
Mô hình tổ chức và quản lý tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam được phân biệt chủ yếu theo chức năng với hai cơ cấu quyền lực là cấp quản trị điều hành và cấp quản lý kinh doanh.
Cấp quản trị điều hành là Hội đồng quản trị gồm chủ tịch Hội đồng quản trị và một số thành viên chuyên trách, làm việc theo chế độ tập thể, giúp việc Hội đồng quản trị có ban chuyên viên và ban kiểm soát. Hội đồng quản trị thực hiện chức năng quản lý đối với mọi hoạt động của ngân hàng, chịu trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn; ban hành điều lệ, qui chế tổ chức và hoạt động của ngân hàng.
Cấp quản lý kinh doanh gồm tổng giám đốc, các phó tổng giám đốc, kế toán trưởng và các phòng ban tham mưu giúp vịêc tại hội sở chính. Cấp trực tiếp kinh doanh gồm các đơn vị hạch toán độc lập, các chi nhánh hạch toán phụ thuộc, các đơn vị sự nghiệp và đơn vị hùn vốn kinh doanh. Luận văn: Pháp luật về tổ chức của hội đồng quản trị ngân hàng.
Mô hình hiện tại theo hai cấp như trên bộc lộ một số nhược điểm: Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý cao nhất, nhưng không tập trung được các luồng thông tin về hoạt động ngân hàng để xây dựng, kiểm tra các mục tiêu chiến lược và ra quyết định nhằm phòng ngừa rủi ro. Các phòng ban nghiệp vụ từ trụ sở chính đến chi nhánh được phân nhiệm theo chức năng nghiệp vụ và cắt khúc theo địa giới hành chính, chưa chú trọng phân nhiệm theo nhóm khách hàng và loại dịch vụ. Thiếu các bộ phận liên kết hoạt động và các quyết định giữa các phòng ban nghiệp vụ để Hội đồng quản trị và ban điều hành bao quát toàn dịên hoạt động và tập trung nguồn lực vào những định hướng chiến lược. Mô hình 2 cấp như hiện nay chỉ phù hợp trong điều kiện hoạt động qui mô nhỏ và mức độ tập trung quyền lực cao, trong khi xu hướng chung là các Ngân hàng thương mại ngày càng tăng qui mô hoạt động.
Ngoài mô hình quản trị hai cấp có sự kiểm soát của Ban kiểm soát, thực tiễn quản trị tại công ty cổ phần cho thấy, các cổ đông lớn không chỉ chi phối các quyết định của ĐHĐCĐ mà còn tác động toàn diện trong quá trình chỉ đạo, giám sát điều hành của Hội đồng quản trị. Đòi hỏi tính minh bạch, khách quan trong hoạt động của Hội đồng quản trị, bản thân HĐQT phải có thành viên độc lập Hội đồng quản trị giám sát và tổ chức thực hiện kiểm soát đối với việc quản lý điều hành công ty, cụ thể:
Thứ nhất, thành viên độc lập Hội đồng quản trị là những người không có quan hệ lợi ích với công ty (ngoài thù lao). Các ý kiến của họ sẽ đảm bảo tính khách quan, công bằng, minh bạch nhằm vào lợi ích tổng thể của công ty chứ không nhằm vào lợi ích riêng của một hoặc một số cổ đông lớn. Nhờ tiếng nói khách quan này, Hội đồng quản trị tránh được những quyết định mang tính chất tư lợi, có thể gây xung đột lợi ích trong cổ đông, hoặc ngay trong Hội đồng quản trị.
Thứ hai, với góc nhìn của người ngoài công ty, thành viên độc lập Hội đồng quản trị có thể có nhiều thông tin hơn về thị trường, môi trường kinh doanh để đưa ra những phân tích, nhận định sáng suốt hơn, giúp cho Hội đồng quản trị có thêm góc nhìn để đưa ra các quyết định đúng đắn mà không bị lệ thuộc vào tiền lệ công ty;
Thứ ba, thành viên độc lập Hội đồng quản trị sẽ đóng góp ý kiến phản biện trong các quyết sách của Hội đồng quản trị từ chính kiến thức, kinh nghiệm tổng hợp của mình, để đảm bảo tính đa chiều, đa diện của Hội đồng quản trị, thúc đẩy sự công bằng, minh bạch trong hoạt động quản trị của công ty.
1.1.5. Vai trò của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần Luận văn: Pháp luật về tổ chức của hội đồng quản trị ngân hàng.
Ở bất cứ nền kinh tế nào, vai trò của đội ngũ Hội đồng quản trị ngân hàng luôn rất quan trọng bởi nếu có người quản trị đủ năng lực, ngân hàng sẽ thực hiện tốt mục tiêu chiến lược đã đề ra, bảo đảm sự phát triển của ngân hàng.
Có thể nói, Hội đồng quản trị của Ngân hàng thương mại cổ phần là một vấn đề vô cùng quan trọng vì nhiều lý do:
Một là, Ngân hàng thương mại cổ phần chiếm vị trí chủ đạo trong hệ thống tài chính của các nền kinh tế đang phát triển và là công cụ cực kỳ quan trọng của tăng trưởng kinh tế.
Hai là, do thị trường tài chính tại các nền kinh tế đang phát triển thường phát triển chậm, Ngân hàng thương mại cổ phần thường được coi là nguồn cung cấp tài chính quan trọng nhất đối với phần lớn các doanh nghiệp.
Ba là, ngoài việc cung cấp phương tiện thanh toán, Ngân hàng thương mại cổ phần ở các nước đang phát triển còn là kênh nhận tiền gửi tiết kiệm chính của nền kinh tế.
Có thể thấy Ngân hàng thương mại cổ phần là trung gian tài chính quan trọng của nền kinh tế, do đó, công chúng và thị trường có sự nhảy cảm rất lớn đối với bất kỳ khó khăn nào nảy sinh từ những hạn chế rất nhỏ trong ngân hàng. Hội đồng quản trị công ty yếu kém có thể dẫn đến sự sụp đổ của các ngân hàng, gây nên những tổn thất kinh tế và xã hội cực kỳ nghiêm trọng do những ảnh hưởng tiêu cực lên hệ thống bảo hiểm tiền gửi, cũng như gây tác động lớn về kinh tế vĩ mô, ví dụ như rủi ro dây chuyền, làm ảnh hưởng xấu đến các hệ thống thanh toán. Điều này đã được minh chứng qua cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu giữa năm 2007. Ngoài ra, hoạt động của Hội đồng quản trị yếu kém có thể khiến thị trường mất niềm tin vào khả năng quản lý hiệu quả tài sản và nợ phải trả của ngân hàng, kể cả tài sản tiền gửi. Điều này có thể châm ngòi cho việc rút tiền gửi đột biến và dẫn đến khủng hoảng khả năng thanh toán của ngân hàng.
Thực tế, ngoài trách nhiệm với cổ đông, các ngân hàng còn có trách nhiệm với các khách hàng gửi tiền của mình và với các bên có quyền lợi liên quan khác. Bởi vậy, hoạt động Hội đồng quản trị của Ngân hàng thương mại cổ phần luôn chịu sự điều chỉnh của hệ thống luật định chặt chẽ và sự giám sát thường xuyên.
Xuất phát từ những yêu cầu ở trên, Hội đồng quản trị của Ngân hàng thương mại cổ phần có ba vai trò chủ yếu: (1) Vai trò kiểm soát; (2) Vai trò hỗ trợ; (3) vai trò chiến lược. Vai trò của Hội đồng quản trị trong Ngân hàng thương mại cổ phần gắn với vấn đề quản trị của ngân hàng. Luận văn: Pháp luật về tổ chức của hội đồng quản trị ngân hàng.
Vai trò kiểm soát của Hội đồng quản trị trong Ngân hàng thương mại cổ phần: Trong ba vai trò của Hội đồng quản trị của Ngân hàng thương mại cổ phần, vai trò kiểm soát được xem là vai trò quan trọng nhất. Vai trò kiểm soát được chia thành hai phần: Kiểm soát tài chính và kiểm soát chiến lược. Kiểm soát tài chính sẽ dẫn đến việc tối đa hóa lợi nhuận trong ngắn hạn dựa trên việc đánh giá hiệu quả hoạt động của các nhà quản lý; trong khi đó kiểm soát chiến lược tập trung vào sinh lợi và sự phát triển bền vững của ngân hàng trong dài hạn. Vai trò kiểm soát được thể hiện ở việc đánh giá hiệu quả hoạt động của các nhà quản lý cấp cao; liên quan đến trách nhiệm của các thành viên Hội đồng quản trị trong Ngân hàng thương mại cổ phần với việc chỉ định tổng giám đốc, giám sát công việc, giải trình các báo cáo kiểm toán và phê duyệt các quyết định. Ngoài ra, vai trò kiểm soát còn liên quan đến việc tuyển dụng, sa thải các nhà quản lý, hoặc liên quan đến việc giám sát, kiểm soát và xem xét lại hiệu quả công việc thuộc cấp quản lý, đảm bảo những người điều hành này sẽ hành động vì lợi ích cho cổ đông.
Vai trò hỗ trợ của Hội đồng quản trị trong Ngân hàng thương mại cổ phần: Vai trò hỗ trợ của Hội đồng quản trị trong Ngân hàng thương mại cổ phần khởi nguồn trước tiên từ quan điểm ràng buộc các nguồn lực và sau đó từ lý thuyết quản trị. Tuy nhiên, hai lý thuyết này thể hiện cách tiếp cận vai trò hỗ trợ của Hội đồng quản trị trong Ngân hàng thương mại cổ phần khác nhau: Theo quan điểm ràng buộc các nguồn lực, Hội đồng quản trị trong Ngân hàng thương mại cổ phần có vai trò hỗ trợ liên quan đến các hoạt động ra quyết định quản lý như: Lựa chọn các yếu tố ảnh hưởng bên ngoài; nhận ra các mối liên hệ giữa thành viên Hội đồng quản trị trong Ngân hàng thương mại cổ phần và các nhân tố có liên quan để đảm bảo ngân hàng có các nguồn lực then chốt; gia tăng danh tiếng cho ngân hàng và tư vấn cho cấp quản lý trong suốt quá trình ra quyết định chiến lược. Ngược lại, một hướng tiếp cận khác về vai trò hỗ trợ của Hội đồng quản trị trong Ngân hàng thương mại cổ phần chủ yếu dựa vào lý thuyết quản trị. Theo đó, Hội đồng quản trị trong Ngân hàng thương mại cổ phần tư vấn cho các nhà quản lý cấp cao từ việc khởi xướng, hình thành đến thực hiện đầy đủ chiến lược. Hội đồng quản trị trong Ngân hàng thương mại cổ phần hỗ trợ và giúp đỡ các nhà quản lý hướng đến và đạt được mục tiêu của tổ chức chứ không phải kiểm soát các nhà quản lý đó. Tuy nhiên, hướng tiếp cận này một mặt sẽ làm phai mờ sự khác biệt rõ ràng giữa vai trò hỗ trợ và vai trò chiến lược của Hội đồng quản trị trong Ngân hàng thương mại cổ phần. Luận văn: Pháp luật về tổ chức của hội đồng quản trị ngân hàng.
Vai trò chiến lược của Hội đồng quản trị trong Ngân hàng thương mại cổ phần: Có một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng, chiến lược là những yếu tố ảnh hưởng đến mục tiêu cơ bản dài hạn của ngân hàng. Việc ra quyết định chiến lược rất quan trọng vì nó đảm bảo rất nhiều các quyết định nền tảng như: các công việc cần được thực hiện, các nguồn lực được cam kết và việc thiết lập các tiền lệ đã có trước đây. Quyết định chiến lược quyết định phương hướng hoạt động trong tương lai của ngân hàng. Các quyết định chiến lược liên quan đến những vấn đề cơ bản như địa điểm phân phối sản phẩm, sản xuất, vấn đề tài chính, yếu tố thời điểm… Tất cả những vấn đề này sẽ quyết định sự thành công hay thất bại của một ngân hàng. Cách tiếp cận vai trò chiến lược của Hội đồng quản trị cũng được giải thích theo hai quan điểm khác nhau. Quan điểm tiêu cực dựa trên lý thuyết chuyên quyền quản lý cho rằng: Hội đồng quản trị không được quyết định mà chỉ là một công cụ quản trị. Trách nhiệm của Hội đồng quản trị chỉ đơn thuần đánh giá phạm vi chiến lược, xem xét và phê chuẩn chiến lược; còn chiến lược được thực hiện chủ yếu thông qua Tổng giám đốc. Theo Phan Bùi Gia Thủy (2012) “Tác động của đặc điểm Hội đồng quản trị đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp”. Do đó, Hội đồng quản trị ảnh hưởng rất ít đến quá trình phát triển chiến lược công ty. Ngược lại, quan điểm tích cực cho rằng, Hội đồng quản trị là một cơ chế quản trị chiến lược quan trọng trong công ty. Hội đồng quản trị cần tích cực tham gia vào quy trình ra quyết định chiến lược và bao quát hết các giai đoạn của việc ra quyết định chiến lược. Hội đồng quản trị phải chịu trách nhiệm mang tính pháp lý với chiến lược của mình, và phải luôn ở trạng thái tốt nhất để đóng góp chiến lược cho công ty.
Nhìn chung, các Ngân hàng thương mại cổ phần nói riêng và Công ty cổ phần nói chung thực hiện tốt việc quản trị sẽ đóng góp nhiều hơn cho nền kinh tế quốc dân và cho xã hội. Những ngân hàng này thường là những ngân hàng vững mạnh có thể tạo ra của cải vật chất và giá trị khác cho các cổ đông, người lao động, cộng đồng và quốc gia; trái lại, những ngân hàng có hệ thống quản trị yếu kém sẽ dẫn đến việc người lao động bị mất công ăn việc làm, mất tiền trợ cấp và thậm chí có thể còn làm giảm niềm tin trên thị trường chứng khoán.
1.2. Mối quan hệ giữa Hội đồng quản trị trong mối tương quan với các thiết chế quản lý khác trong Ngân hàng thương mại cổ phần Luận văn: Pháp luật về tổ chức của hội đồng quản trị ngân hàng.
1.2.1 Hội đồng quản trị với Đại hội đồng cổ đông
Đều là thiết chế phục vụ của Ngân hàng thương mại cổ phần, Hội đồng quản trị và đại hội đồng cổ đông có mối tương quan qua lại với nhau. Trong khi Đại hội đồng cổ đông gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết, còn thành viên của Hội đồng quản trị lại do Đại hội đồng cổ đông bầu ra. Đại hội đồng cổ đông thông qua định hướng phát triển của công ty. Hội đồng quản trị quyết định chiến lược, kế hoạch phát triển trung hạn và kế hoạch kinh doanh hằng năm của công ty; quyết định phương án đầu tư và dự án đầu tư trong thẩm quyền và giới hạn theo quy định của pháp luật; quyết định giải pháp phát triển thị trường, tiếp thị và công nghệ. Hội đồng quản trị có nhiệm vụ kiến nghị các loại cổ phần và tổng số cổ phần được quyền chào bán, quyết định mức cổ tức, … Có thể thấy rõ, Hội đồng quản trị hoạt động dưới sự giám sát cũng như quyết định của Đại hội đồng cổ đông, việc bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị cũng do đại hội đồng cổ đông quyết định. Việc xác định mối tương quan này sẽ tạo cơ sở cho những nhận xét về quy định của đại hội đồng cổ đông hiện nay đối với hoạt động của Hội đồng quản trị.
1.2.2 Hội đồng quản trị với Ban giám đốc
Theo thông lệ của hầu hết các nước trên thế giới, Giám đốc hay Tổng giám đốc của Công ty cổ phần đều do Hội đồng quản trị lựa chọn và bổ nhiệm. Ở Anh, Mỹ, Pháp, Hội đồng quản trị lựa chọn trong số các thành viên của mình hoặc người khác đảm nhiệm công việc điều hành hoạt động kinh doanh hằng ngày của công ty mà người đứng đầu của bộ phận điều hành này là Giám đốc (Tổng giám đốc) theo Bùi Xuân Hải (2008). Có thể nói, mối quan hệ giữa Hội đồng quản trị và Giám đốc (Tổng giám đốc) là điển hình cho mối quan hệ giữa quản lý và điều hành trong Công ty cổ phần. Trong khi Hội đồng quản trị phải chịu trách nhiệm trước cổ đông và Đại hội đồng cổ đông thì Giám đốc (Tổng giám đốc) lại phải chịu trách nhiệm về hoạt động điều hành của mình trước Hội đồng quản trị. Theo cơ cấu quản trị của Công ty cổ phần, Hội đồng quản trị thực hiện việc quản trị, đặc biệt tập trung vào hoạch định chiến lược còn Giám đốc (Tổng giám đốc) thực hiện việc điều hành, thực hiện chiến lược. Do đó, Hội đồng quản trị có thẩm quyền trong việc kiểm tra, giám sát, chỉ đạo Giám đốc (Tổng giám đốc) thực hiện nhiệm vụ của mình và đánh giá hằng năm về hiệu quả làm việc của Giám đốc (Tổng giám đốc). Luận văn: Pháp luật về tổ chức của hội đồng quản trị ngân hàng.
Theo Bộ Nguyên tắc Quản trị của OECD, Hội đồng quản trị có vai trò then chốt trong việc thiết lập chuẩn mực đạo đức, không chỉ bằng hành động của mình mà còn bằng việc bổ nhiệm và giám sát các cán bộ quản lý chủ chốt, trong đó bao gồm việc bổ nhiệm chức danh Giám đốc (Tổng giám đốc) của Công ty cổ phần. Theo Lê Thị Kim Xuyến (2010), “Pháp luật về Hội đồng quản trị của công ty cổ phần và thực tiễn áp dụng tại Công ty hóa chất Việt Trì” Đặc biệt, sự có mặt của thành viên độc lập trong Hội đồng quản trị, một xu hướng được nhiều tổ chức quốc tế hàng đầu khuyến nghị, chủ yếu để đảm bảo sao cho Giám đốc (Tổng giám đốc) là người có năng lực và đạo đức. Bên cạnh đó, mối quan hệ giữa Chủ tịch Hội đồng quản trị và Giám đốc (Tổng giám đốc) cũng là một vấn đề ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của Hội đồng quản trị và Công ty cổ phần. Các nghiên cứu cho thấy, kỹ năng và kinh nghiệm của Chủ tịch Hội đồng quản trị và Giám đốc (Tổng giám đốc) nếu bổ sung và tương hỗ cho nhau thì sẽ tạo nên hiệu quả hoạt động cao nhất. Ngược lại, nếu xảy ra sự cạnh tranh về kiến thức và ảnh hưởng quyền lực giữa Chủ tịch Hội đồng quản trị và Giám đốc (Tổng giám đốc), hậu quả sẽ rất khó lường. Ở Anh, khoảng 95% trên tổng số 350 công ty trên Sàn Giao dịch Chứng khoán Luân Đôn tuân thủ theo nguyên tắc Chủ tịch Hội đồng quản trị và Giám đốc phải là hai người khác nhau. Theo Phạm Trí Hùng & Nguyễn Trung Thắng (2021), “CEO và Hội đồng quản trị”. Trong khi đó, ở Mỹ trong vòng 15 năm qua, gần 80% trên tổng số 500 công ty trong danh sách của Standard & Poor’s (S&P500) kết hợp hai vị trí này làm một. Ở Việt Nam, ngoại trừ một số trường hợp đặc biệt thì pháp luật cho phép Chủ tịch Hội đồng quản trị trong Công ty cổ phần có thể kiêm nhiệm chức danh Tổng giám đốc.
1.2.3. Hội đồng quản trị với Ban kiểm soát Luận văn: Pháp luật về tổ chức của hội đồng quản trị ngân hàng.
Cổ đông là chủ sở hữu công ty, nhưng để công ty tồn tại và phát triển phải có sự quản lý của Hội đồng quản trị, sự điều hành của Ban giám đốc và sự đóng góp của người lao động. Nhưng những người này không phải lúc nào cũng có chung ý chí và quyền lợi cùng với các cổ đông. Do vậy, cần phải có một cơ chế để nhà đầu tư và cổ đông có thể kiểm soát việc điều hành công ty nhằm đem lại hiệu quả cao nhất. Các mô hình quản trị Công ty cổ phần trên thế giới có sự khác biệt rõ nét về sự tồn tại của Ban kiểm soát trong bộ máy quản trị. Ở cấu trúc hội đồng đơn kiểu Anh – Mỹ không có việc thành lập một cơ quan có chức năng giám sát là Ban kiểm soát. Chức năng xem xét, đánh giá, giám sát này được giao cho các thành viên độc lập trong Hội đồng quản trị không điều hành. Theo Bùi Xuân Hải (2012) trong cấu trúc hội đồng hai tầng như ở Đức thì Hội đồng giám sát do Đại hội đồng cổ đông hoặc người lao động lựa chọn ra, tham gia trực tiếp vào việc đưa ra các quyết định quan trọng trong việc quản trị công ty và giám sát các hoạt động của Ban quản trị (HĐQT). Theo Nguyễn Thị Lan Hương (2009), “Một số so sánh về công ty cổ phần theo Luật Công ty Nhật Bản và Luật Doanh nghiệp Việt Nam”. Còn trong pháp luật công ty ở Nhật Bản thì về nguyên tắc, các Công ty cổ phần không cần thiết lập Hội đồng quản trị mà chỉ có ba loại công ty phải thành lập Hội đồng quản trị, một trong số đó là trường hợp công ty có thiết lập Ban kiểm soát thì phải thiết lập Hội đồng quản trị.
1.3. Pháp luật về tổ chức Hội đồng quản trị của Ngân hàng thương mại cổ phần
Pháp luật về tổ chức của Hội đồng quản trị trong Ngân hàng thương mại cổ phần bao gồm các nội dung là những quy định pháp luật về chức năng và cơ cấu tổ chức của Hội đồng quản trị.
1.3.1. Quy định về chức năng của Hội đồng quản trị trong Ngân hàng thương mại cổ phần
Chức năng định hướng chiến lược, kế hoạch của ngân hàng: Hội đồng quản trị đóng vai trò then chốt trong việc quyết định chiến lược, kế hoạch phát triển trung hạn, dài hạn và kế hoạch kinh doanh hằng năm của ngân hàng. Sau khi Ban điều hành trình lên Hội đồng quản trị và Đại hội đồng cổ đông những phương hướng nhiệm vụ phát triển và kế hoạch hàng năm. Hội đồng quản trị có trách nhiệm xem xét kĩ lưỡng và ra quyết định cuối cùng cho chiến lược và kế hoạch phát triển kinh doanh. Vai trò của Hội đồng quản trị là vô cùng quan trọng trong ngân hàng, chiến lược và kế hoạch của ngân hàng nếu không được Hội đồng quản trị thông qua thì cũng không được thực thi. Ngược lại, nếu Hội đồng quản trị không thực hiện tốt vai trò đôn đốc, định hướng rà soát lại chiến lược thì cũng không đạt được một chính sách chiến lược và kế hoạch tốt cho sự phát triển. Vì vậy, có thể nói Hội đồng quản trị có nhiệm vụ là trung tâm quyết định chiến lược phát triển. Quyết định chiến lược đặt ra mục tiêu cho toàn bộ ngân hàng, giữ cho tất cả các bộ phận trong ngân hàng phối hợp với nhau hướng về mục tiêu chung. Mục tiêu phấn đấu của Hội đồng quản trị là chỉ đạo, quản lý đạt các chỉ tiêu đã cam kết trước Đại hội đồng cổ đông, đặc biệt là chỉ tiêu lợi nhuận.
Chức năng giám sát của Hội đồng quản trị Đây là một chức năng quan trọng của Hội đồng quản trị, giám sát ở đây không có nghĩa là hậu kiểm mà giám sát được hiểu là HĐQT phải biết rõ, nắm bắt từ đó điều chỉnh kịp thời chức năng định hướng của Hội đồng quản trị các vấn đề hoạt động của ngân hàng. Hội đồng quản trị giám sát hoạt động của Tổng giám đốc – người được Hội đồng quản trị bổ nhiệm để điều hành hoạt động hàng ngày của ngân hàng. Để làm được điều này, Hội đồng quản trị cần: Giám sát liệu các hoạt động của ban điều hành có phù hợp với chiến lược và chính sách mà Hội đồng quản trị đã thông qua không, bao gồm cả mức độ chấp nhận rủi ro/ khẩu vị rủi ro; Họp thường xuyên với ban điều hành; Chất vấn và rà soát có tính phê phán những giải thích và thông tin mà Ban điều hành cung cấp; Xây dựng chuẩn mực hoạt động chính thức cho Ban điều hành phù hợp với mục tiêu dài hạn, chiến lược và sự vững mạnh tài chính của ngân hàng và giám sát hoạt động của Ban điều hành dựa trên những chuẩn mực này; Đảm bảo rằng kiến thức và chuyên môn của Ban điều hành vẫn phù hợp căn cứ vào tính chất kinh doanh và mức độ cũng như loại hình rủi ro của ngân hàng. Luận văn: Pháp luật về tổ chức của hội đồng quản trị ngân hàng.
Hai chức năng định hướng và giám sát của Hội đồng quản trị có mối quan hệ lẫn nhau; để chức năng định hướng được thực hiện tốt cần có chức năng giám sát. Qua giám sát, biết rõ thực trạng hoạt động của ngân hàng để điều chỉnh việc định hướng. Định hướng và giám sát phải luôn đi đôi với nhau thì Hội đồng quản trị mới phát huy được đúng và đủ vai trò của mình trong sự phát triển của ngân hàng.
1.3.2. Quy định về cơ cấu tổ chức của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần
Để thực hiện chức năng đã nêu ở phần trên của Hội đồng quản trị trong Ngân hàng thương mại cổ phần thì các quy định pháp luật về cơ cấu tổ chức có vai trò quan trọng bởi số lượng thành viên, điều kiện của thành viên Hội đồng quản trị đến vấn đề miễn nhiệm, bãi nhiệm, các quy định về chức danh trong Hội đồng quản trị sẽ liên quan mật thiết đến hiệu quả hoạt động của Hội đồng quản trị trong việc định hướng giám sát các hoạt động của Ngân hàng thương mại cổ phần.
- Về số lượng thành viên Hội đồng quản trị
Số lượng thành viên Hội đồng quản trị của Ngân hàng thương mại cổ phần phải nằm trong giới hạn được quy định trong các văn bản chuyên ngành và số lượng cụ thể sẽ do Đại hội đồng cổ đông quyết định và ghi vào điều lệ Ngân hàng thương mại cổ phần. Về cơ bản, pháp luật các quốc gia quy định số lượng thành viên Hội đồng quản trị nhắm tới một quy mô sao cho ngân hàng có thể tổ chức các cuộc thảo luận có hiệu quả và có tính chất xây dựng. Đồng thời, Hội đồng quản trị phải luôn đưa ra quyết định kịp thời, hợp lý cũng như tổ chức một cách hiệu quả công việc của các Uỷ ban trực thuộc Hội đồng quản trị, nếu những Uỷ ban này được thành lập. Số lượng thành viên Hội đồng quản trị cần được quyết định dựa trên yêu cầu của pháp luật, cũng như nhu cầu cụ thể của ngân hàng và cổ đông. Việc có quá ít hay quá nhiều thành viên Hội đồng quản trị đều có thể làm giảm hiệu quả của quá trình ra quyết định. Một Hội đồng quản trị có quy mô quá nhỏ có thể khiến ngân hàng không được hưởng lợi ích từ các kỹ năng đa dạng và kinh nghiệm phù hợp do các thành viên đem lại. Trong khi đó, một Hội đồng quản trị có quy mô quá lớn sẽ gây khó khăn cho việc quản lý và khiến cho việc tìm kiếm sự đồng thuận trở thành một công việc khó khăn và mất nhiều thời gian. Thách thức trong việc lựa chọn một Hội đồng quản trị có quy mô phù hợp nằm ở chổ phải tạo được sự cân bằng phù hợp
- Về các loại thành viên và tiêu chuẩn thành viên Hội đồng quản trị
Theo báo cáo của Nhóm các chuyên gia cấp cao trong lĩnh vực Luật Công ty về khuôn khổ luật pháp hiện đại cho Luật Công ty tại châu Âu, thông lệ quốc tế việc phân biệt các dạng thành viên Hội đồng quản trị tuỳ theo mức độ liên quan của thành viên Hội đồng quản trị đối với công việc của lĩnh vực ngân hàng, theo họ xếp các thành viên Hội đồng quản trị vào ba nhóm: nhóm điều hành, nhóm không điều hành và nhóm độc lập. Luận văn: Pháp luật về tổ chức của hội đồng quản trị ngân hàng.
Theo quy định của một số quốc gia trên thế giới, thành viên Hội đồng quản trị không điều hành của một công ty thường được hiểu là những thành viên Hội đồng quản trị không nắm giữ một vị trí điều hành trong công ty, tức là không phải thành viên trong ban điều hành. Thành viên Hội đồng quản trị không điều hành cần có những phẩm chất sau đây để hoạt động một cách có hiệu quả:
- Liêm chính và có tiêu chuẩn đạo đức cao.
- Phán quyết chuẩn xác.
- Khả năng và ý chí đương đầu với thách thức và tìm tòi cái mới.
- Khả năng giao tiếp tốt.
Phần lớn các bộ quy tắc quốc gia và quốc tế về tổ chức quản trị công ty khuyến nghị Hội đồng quản trị nên được hợp thành từ đa số thành viên không điều hành. Bởi vì những thành viên này là những người có thể cung cấp cái nhìn khách quan từ bên ngoài và phán quyết không thiên vị. Đồng thời, họ có thể bổ sung các kinh nghiệm và kiến thức từ bên ngoài cho các thành viên Hội đồng quản trị còn lại cũng như cung cấp các mối quan hệ hữu ích cho sự phát triển của ngân hàng.
Theo báo cáo của Nhóm các chuyên gia cấp cao trong lĩnh vực Luật Công ty về khuôn khổ luật pháp hiện đại cho Luật Công ty tại châu Âu, tại phần lớn các quốc gia trong Liên minh Châu Âu (EU), thành viên Hội đồng quản trị không điều hành thường thực hiện công việc giám sát chức năng tài chính và ra quyết định chiến lược của công ty. Ngoài các lĩnh vực trên, có ba mảng công việc cần đến sự giám sát khách quan của thành viên Hội đồng quản trị không điều hành như là:
- Bổ nhiệm thành viên Hội đồng quản trị. Luận văn: Pháp luật về tổ chức của hội đồng quản trị ngân hàng.
- Thù lao cho các cán bộ quản lý cấp cao và thành viên Hội đồng quản trị.
- Kiểm toán nội bộ và kiểm toán độc lập.
Theo Derek Higgs (2003), “Báo cáo về vai trò và hiệu quả của các thành viên
HĐQT độc lập” Tại Anh Quốc, báo cáo Higgs phân chia vai trò của một thành viên Hội đồng quản trị không điều hành gồm bốn vấn đề như sau:
- Chiến lược: các thành viên Hội đồng quản trị không điều hành cần phải đóng góp vào việc xây dựng chiến lược của ngân hàng.
- Kết quả hoạt động: các thành viên Hội đồng quản trị không điều hành cần phải xem xét kỹ lưỡng kết quả hoạt động của Ban điều hành trong việc đạt được những mục đích và mục tiêu đã đề ra và giám sát việc báo cáo kết quả hoạt động.
- Rủi ro: các thành viên Hội đồng quản trị không điều hành cần kiểm tra để đảm bảo rằng các thông tin tài chính được công bố là chính xác, và việc kiểm soát tài chính cùng hệ thống quản trị rủi ro trong ngân hàng là vững mạnh và không thể xâm phạm.
- Nhân sự: các thành viên Hội đồng quản trị không điều hành chịu trách nhiệm xác định mức thù lao phù hợp dành cho các thành viên Hội đồng quản trị điều hành, có vai trò chính trong việc bổ nhiệm, và đôi khi là miễm nhiệm, các cán bộ quản lý cấp cao, cũng như trong việc quy hoạch cán bộ quản lý.
IFC định nghĩa “thành viên Hội đồng quản trị độc lập” là thành viên Hội đồng quản trị đáp ứng được tất cả các yêu cầu sau: Không phải là nhân viên của công ty hay nhân viên của các bên liên quan của công ty trong 5 năm gần nhất; Không phải là, và không liên quan tới doanh nghiệp đóng vai trò tư vấn cho công ty hoặc các bên có liên quan của công ty; Không liên quan tới một khách hàng hoặc một nhà cung cấp quan trọng của công ty hoặc các bên liên quan của công ty; Không có hợp đồng dịch vụ cá nhân với công ty, các bên liên quan của công ty hoặc các chức năng quản lý cấp cao của công ty; Không liên quan tới một tổ chức phi lợi nhuận nhận những khoản tiền đóng góp lớn từ công ty hoặc các bên liên quan của công ty; Không phải là cán bộ điều hành của một công ty nơi có một giám đốc nào đó của công ty có chân trong Hội đồng quản trị của công ty đó; Không phải là thành viên trong gia đình trực hệ của một cá nhân đang là, hoặc trong 5 năm gần nhất đã là, một cán bộ điều hành của công ty hoặc các bên liên quan của công ty; Hiện tại, và trong 5 năm gần nhất, không có liên quan tới và không phải là nhân viên của một công ty kiểm toán hiện nay hay trước kia của công ty hoặc của các bên liên quan của công ty; Không phải là cá nhân kiểm soát của công ty (hoặc là thành viên của một nhóm các cá nhân và/hoặc các pháp nhân kiểm soát công ty) hoặc là anh chị em, cha mẹ, ông bà, con cái, cô, dì, chú, bác, anh chị em họ, cháu của cá nhân đó hoặc là vợ, chồng, vợ goá, chồng goá, người thừa kế, người có quan hệ hôn nhân hoặc người thừa kế của những người kể trên (hoặc một uỷ thác hay dàn xếp mà những cá nhân đã kể trên là người thụ hưởng duy nhất) hoặc là nhà điều hành, nhà quản lý hoặc đại diện cá nhân của bất kỳ cá nhân nào được nói đến trong mục này hiện đã chết hoặc mất năng lực hành vi. Trong định nghĩa này, một cá nhân được xem là “có liên quan” với một bên nào đó nếu cá nhân ấy: (i) có quyền sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp đối với bên đó; hoặc (ii) là nhân viên của bên đó; “các bên liên quan” đối với công ty là một cá nhân hoặc một pháp nhân nào đó kiểm soát công ty, bị kiểm soát bởi công ty, hoặc nằm dưới sự kiểm soát chung với công ty. Luận văn: Pháp luật về tổ chức của hội đồng quản trị ngân hàng.
Các bộ quy tắc quốc gia và quốc tế về tổ chức quản trị công ty có những định nghĩa tương tự về thành viên Hội đồng quản trị độc lập. Chẳng hạn, tại Anh Quốc, một thành viên Hội đồng quản trị không điều hành được xem là độc lập khi Hội đồng quản trị xác định rằng thành viên Hội đồng quản trị đó độc lập về tính chất và độc lập trong phán quyết, và không có các mối quan hệ hay các tình huống có thể ảnh hưởng tới, hoặc có vẻ như ảnh hưởng tới, phán quyết của thành viên Hội đồng quản trị đó.
Theo Bộ luật quản trị công ty của Vương quốc Anh (2016), những mối quan hệ hoặc những tình huống như vậy bao gồm những mối quan hệ hoặc những tình huống trong đó một thành viên Hội đồng quản trị.
- Là một nhân viên cũ của công ty hoặc tập đoàn, và công việc của cá nhân đó (hoặc các mối quan hệ vật chất của cá nhân đó với công ty) kết thúc chưa đầy 5 năm trước đó.
- Có, hoặc tự có trong vòng ba năm qua, quan hệ kinh doanh quan trọng với công ty, hoặc trực tiếp, hoặc có tư cách là đối tác, cổ đông, thành viên HĐQT, hay cán bộ cao cấp của một tổ chức từng có mối quan hệ như vậy với công ty.
- Đã từng hoặc đang được nhận thù lao từ công ty ngoài khoản thù lao dành cho thành viên Hội đồng quản trị, tham gia vào quyền chọn cổ phần của công ty hoặc một hoạt động chương trình nào đó liên quan đến kế hoạch trả lương, hoặc là thành viên trong chương trình hưu bổng của công ty.
- Có mối quan hệ gia đình gần gũi với một cố vấn, một thành viên Hội đồng quản trị hoặc một cán bộ cấp cao trong công ty.
- Là thành viên Hội đồng quản trị của công ty khác, hoặc có mối quan hệ mật thiết với các thành viên Hội đồng quản trị khác thông qua hoạt động ở một công ty, tổ chức khác.
- Đại diện cho một cổ đông lớn.
- Đã là thành viên Hội đồng quản trị quá mười năm.
Có thể thấy, để đảm bảo hoàn thành những chức năng nhiệm vụ quan trọng của mình, Hội đồng quản trị phải đáp ứng được những yêu cầu về năng lực, kinh nghiệm, có bộ máy giúp việc đủ khả năng tổng hợp báo cáo, dữ liệu cần thiết và trên hết là yêu cầu về tính độc lập khách quan trong việc ra quyết định của Hội đồng quản trị.Tính độc lập khách quan trong việc ra quyết định của Hội đồng quản trị trước hết phụ thuộc vào nhận thức của mỗi cá nhân trong hội đồng, sau là phụ thuộc và cơ cấu số lượng thành viên Hội đồng quản trị độc lập. Khi nhận thức, hành vi thái độ của mỗi thành viên trong hội đồng không khách quan, tính độc lập trong mỗi quyết định của cả hội đồng phụ thuộc nhiều vào các thành viên Hội đồng quản trị độc lập.
Quy định này được xây dựng dựa trên nguyên tắc về quản trị ngân hàng lành mạnh của Ủy ban Basel và được áp dụng tại nhiều quốc gia tiên tiến trên thế giới. Mục đích của việc đưa ra quy định về thành viên Hội đồng quản trị độc lập nhằm tạo cơ sở pháp lý để các ngân hàng có thể lựa chọn những người có năng lực quản trị mà không nhất thiết là người có vốn hoặc là người có lợi ích không đáng kể tại ngân hàng, đồng thời đạt được một số yêu cầu quan trọng về quản trị ngân hàng, như: tăng tính trách nhiệm trong quá trình đưa ra quyết định của các thành viên Hội đồng quản trị; giảm khả năng xung đột lợi ích giữa việc đưa ra quyết định và việc điều hành công việc hàng ngày của ngân hàng; tạo sự kiểm tra và cân bằng quyền lực, đảm bảo ngân hàng hoạt động lành mạnh, đảm bảo các quyền quyết định của Hội đồng quản trị là khách quan, vì lợi ích tốt nhất của ngân hàng. Áp dụng quy định này, các Ngân hàng thương mại cổ phần sẽ có một Hội đồng quản trị với những thành viên giám sát đắc lực, nâng cao tiêu chí khách quan cho hoạt động quản trị của ngân hàng. Nhận thức được vấn đề này, một số Ngân hàng thương mại Việt Nam đã mạnh dạn đổi mới mô hình quản trị bằng việc đưa vào Hội đồng quản trị những thành viên độc lập.
Kết luận chương 1 Luận văn: Pháp luật về tổ chức của hội đồng quản trị ngân hàng.
Như vậy, có thể thấy việc tìm hiểu khái quát về những vấn đề lý luận về tổ chức của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần có vai trò to lớn trong việc xác định những nội dung cơ bản trong quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành. Ngoài ra, với việc phân tích, đánh giá về đặc điểm và vai trò của tổ chức của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam góp phần vào việc phân tích và làm rõ những tác động của các chính sách pháp luật về tổ chức của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần hiện nay, từ đó làm có sở cho việc đánh giá chính xác được thực tiễn của quy định pháp luật. Qua việc tìm hiểu mô hình tổ chức của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại của một số quốc gia trên thế giới sẽ giúp chúng ta nhìn nhận, xem xét khía cạnh pháp lý liên quan cũng như quá trình vận dụng của Việt Nam trong việc tổ chức của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần như hiện nay. Luận văn: Pháp luật về tổ chức của hội đồng quản trị ngân hàng.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực trạng PL tổ chức của hội đồng quản trị ngân hàng

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
