Luận văn: Giải pháp PL về tổ chức của hội đồng quản trị ngân hàng

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp PL về tổ chức của hội đồng quản trị ngân hàng hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Một số kiến nghị và giải pháp hoàn thiện pháp luật về tổ chức của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần hiện nay dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1. Quan điểm hoàn thiện quy định pháp luật về tổ chức của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần

3.1.1. Pháp luật về tổ chức của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần phải đáp ứng mô hình quản trị của Công ty cổ phần nói chung và đặc thù hoạt động của Ngân hàng thương mại cổ phần nói riêng trong bối cảnh thách thức mới của nền kinh tế 

Hiện nay, khi Việt Nam đang chịu tác động rất lớn từ kinh tế toàn cầu, đặc biệt khi Việt Nam tham gia các hiệp ước thương mại tự do thế hệ mới thì các quy định pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh thương mại nói chung, hoạt động ngân hàng nói riêng bắt buộc phải được xây dựng, sửa đổi phù hợp. Với đặc thù riêng biệt của hoạt động ngân hàng thì tổ chức Hội đồng quản trị của các Ngân hàng thương mại cổ phần cũng phải được quy

định theo hướng đổi mới, tương đồng với các quốc gia đặc biệt phải đặt quyền lợi của cổ đông lên hàng đầu. Những quy định phải đáp ứng các chuẩn mực quốc tế đồng thời thể hiện rõ được chức năng quản trị các hoạt động của ngân hàng thương mại vừa tạo hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại cổ phần, vừa đáp ứng được kỳ vọng của cổ động. Điều đó đòi hỏi, mô hình quản lý phải chặt chẽ nhưng cũng phải tương thích với những điều kiện mới của nền kinh tế, ngăn chặn tình trạng độc đoán, vô trách nhiệm của Hội đồng quản trị hay lợi dụng sự thay đổi của chính sách kinh tế để mang lại lợi ích cho bản thân mà không phải cho các cổ đông.

3.1.2. Pháp luật về tổ chức của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần phải kịp thời thể chế hoá chính sách, đường lối của Đảng phù hợp trong từng giai đoạn  

Bên cạnh nội luật hoá các văn kiện quốc tế mà Việt Nam là thành viên thì một định hướng quan trọng trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật nói chung, tổ chức của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần nói riêng đó chính là việc thể chế hoá kịp thời các chính sách, đường lối lãnh đạo có liên quan của Đảng. Thông thường, trong chiến lược phát triển kinh tế, xã hội, trong Nghị quyết của các kỳ đại hội, các hội nghị Trung ương Đảng thì vấn đề quản lý tiền tệ, tín dụng và các hoạt động ngân hàng khác luôn được đề cập. Vì vậy, để đạt được những yêu cầu, mục tiêu đó thì các quy định pháp luật có liên quan phải nhanh chóng được thể chế hoá. Sự kịp thời này sẽ tạo ra cơ sở pháp lý để các Ngân hàng thương mại cổ phần có các chiến lược trong quản trị, kinh doanh đạt hiệu quả nhằm đạt được các mục tiêu đề ra. Sự giám sát chặt chẽ của các cơ quan nhà nước trong việc thể chế hoá cũng như thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng sẽ tạo ra sự tuân thủ cho các Ngân hàng thương mại cổ phần. Các thành viên của Hội đồng quản trị cũng nhận thấy rõ vai trò, trách nhiệm của mình trong việc thực hiện các chức năng đó.

3.1.3. Pháp luật về tổ chức của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần phải đảm bảo được tính công khai, minh bạch trong hoạt động của Hội đồng quản trị

Như đã đề cập ở các nội dung trên, Hội đồng quản trị có vai trò quan trọng trong việc quản lý hoạt động ngân hàng của Ngân hàng thương mại cổ phần. Nếu Hội đồng quản trị thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình thì quyền lợi của khách hàng, quyền lợi của cổ đông sẽ được đảm bảo. Đây là yếu tố then chột mà các Ngân hàng thương mại cổ phần phải thực hiện. Tuy nhiên, không phải NHTMCP nào cũng thực hiện tốt tại khâu này, vấn đề công khai, minh bạch trong hoạt động của Hội đồng quản trị tạo ra những hành vi gian lận, thao túng tiền tệ gây ra những rủi ro cho các cổ động, cho các khách hàng. Do đó, pháp luật về tổ chức của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần phải được xây dựng và thường xuyên sửa đổi để đảm bảo tính chặt chẽ đủ sức răn đe, có cơ chế giám sát chặt chẽ nhằm ngăn chặn những hành vi vi phạm của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Luật

3.2. Giải pháp cụ thể góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật về tổ chức của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần Luận văn: Giải pháp PL về tổ chức của hội đồng quản trị ngân hàng.

Xuất phát từ những thực trạng về tổ chức của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần cũng như từ quan điểm hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này có thể đưa ra những giải pháp cụ thể góp phần hoàn thiện pháp luật về tổ chức của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam như sau:

3.2.1. Tăng cường tính đồng bộ trong các quy định pháp luật có liên quan về tổ chức của Hội đồng quản trị ngân hàng thương mại cổ phẩn

Về mặt bản chất, Ngân hàng thương mại cổ phần hoạt động theo quy định của Luật Doanh Nghiệp và Luật các Tổ chức tín dụng, do đó quy định về tổ chức của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần cũng chịu sự điều chỉnh của những văn bản đó. Do vậy, sự đồng bộ hay có tính phân định về tổ chức Hội đồng quản trị của Ngân hàng thương mại cổ phần giữa các văn bản điều chỉnh là vấn đề quan trọng.

LDN 2020 đã xây dựng khung pháp lý làm nền tảng cho cơ chế quản lý của Hội đồng quản trị trong Ngân hàng thương mại cổ phần. So với Luật Doanh Nghiệp 2014, Luật Doanh Nghiệp 2020 đã có những quy định đầy đủ, toàn diện hơn, phù hợp và góp phần tạo lập khung pháp lý để hình thành một cơ chế quản trị có hiệu quả cho các doanh nghiệp nói chung, đặc biệt là đối với loại hình Công ty cổ phần như các Ngân hàng thương mại cổ phần hiện nay. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, pháp luật vẫn còn những bất cập và hạn chế nhất định. Việc hoàn thiện pháp luật về tổ chức của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần cần hướng đến việc thống nhất rằng: Về một vấn đề chỉ có một cách hiểu trong toàn bộ hệ thống các văn bản pháp luật chung như Luật Doanh Nghiệp và hệ thống văn bản pháp luật chuyên ngành như Luật các Tổ chức tín dụng, Luật ngân hàng, Luật chứng khoán…. Điều này tạo điều kiện cho doanh nghiệp, nhà đầu tư dễ dàng hơn trong việc thực thi pháp luật, tránh tình trạng mỗi người có cách hiểu và cách áp dụng luật khác nhau. Để đảm bảo tính đồng bộ của hệ thống pháp luật, cần đề cao vai trò của luật với tư cách là văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất trong việc điều chỉnh vấn đề quản trị doanh nghiệp nói chung và Hội đồng quản trị trong Ngân hàng thương mại cổ phần nói riêng.

 Cần tăng cường việc ban hành luật để thay thế dần các hình thức văn bản quy phạm dưới luật khác. Cần quán triệt nguyên tắc “luật càng cụ thể càng tốt” để trên cơ sở đó, giảm dần và tiến tới xóa bỏ việc ban hành các văn bản dưới luật, khắc phục tình trạng hệ thống pháp luật cồng kềnh, không đồng bộ và khó tiếp cận. Do vậy, Luật Doanh Nghiệp cần được hoàn thiện theo hướng quy định chi tiết các điều khoản và đưa các điều khoản thường được quy định trong nghị định hướng dẫn vào trong luật để tạo sự minh bạch, rõ ràng và dễ hiểu ngay trong Luật. Bên cạnh đó, việc hoàn thiện pháp luật cũng cần hướng đến những quy định đảm bảo tính hợp lý, giúp doanh nghiệp giải quyết được những vấn đề mà họ còn gặp vướng mắc do chưa được pháp luật điều chỉnh.

3.2.2. Rà soát, chỉnh sửa và bổ sung những quy định pháp luật về các yếu tố tổ chức Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần Luận văn: Giải pháp PL về tổ chức của hội đồng quản trị ngân hàng.

3.2.2.1. Rà soát, chỉnh sửa và bổ sung những quy định pháp luật tiêu chuẩn và điều kiện làm thành viên Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần

Cần bổ sung quy định tư cách thành viên Hội đồng quản trị cho cổ đông là tổ chức: Theo quy định tại Luật Doanh Nghiệp 2020, thành viên Hội đồng quản trị chỉ có thể là cá nhân, cổ đông là tổ chức phải đề cử cá nhân đại diện cho mình tham gia Hội đồng quản trị của Công ty cổ phần. Điều đó có nghĩa là cổ đông là tổ chức không có quyền trực tiếp tham gia Hội đồng quản trị với tư cách thành viên Hội đồng quản trị. Quy định này làm nảy sinh nhiều bất cập, trong đó có việc cổ đông là tổ chức mất quyền kiểm soát đối với thành viên Hội đồng quản trị đại diện cho mình, quyền tham gia Hội đồng quản trị của cổ đông là tổ chức không được bảo đảm trong rất nhiều trường hợp; thí dụ như người đại diện uỷ quyền tham gia Hội đồng quản trị từ chức, chuyển công tác; hoặc cổ đông pháp nhân mong muốn cử người đại diện uỷ quyền khác thay người đại diện uỷ quyền đang tham gia thành viên Hội đồng quản trị…. Vì vậy, để bảo đảm quyền và lợi ích của các cổ đông là tổ chức cũng như bảo đảm quyền và lợi ích của các Công ty cổ phần có cổ đông là tổ chức tham gia Hội đồng quản trị, Luật Doanh Nghiệp cần cho phép thành viên Hội đồng quản trị là tổ chức. Sau khi được bầu làm thành viên Hội đồng quản trị thì tổ chức được bầu sẽ ủy quyền cho một cá nhân thay mặt và đại diện cho tổ chức đó thực hiện các quyền và nghĩa vụ của một thành viên Hội đồng quản trị. Thành viên Hội đồng quản trị là tổ chức có thể thay thế người đại diện theo ủy quyền bất kỳ lúc nào. Hiện nay trên thế giới đã có một số nước cho phép thành viên Hội đồng quản trị là pháp nhân, ví dụ như Pháp và Bỉ. Bộ luật Thương mại của Pháp (Điều L225-20) quy định: “Một pháp nhân có thể được bầu làm thành viên Hội đồng quản trị. Ngay sau khi được bầu, pháp nhân đó phải chỉ định một người đại diện thường trực và người đó có các quyền và nghĩa vụ như một thành viên Hội đồng quản trị là cá nhân. Khi pháp nhân đó rút đại diện thường trực thì (pháp nhân đó) phải cử người thay thế ngay lập tức.” theo Vũ Văn Tính (2014).

3.2.2.2. Cần xây dựng những quy định chi tiết hơn về vai trò của thành viên độc lập Hội đồng quản trị trong Ngân hàng thương mại cổ phần

Hiện tại các quy định về thành viên độc lập Hội đồng quản trị đã đưa vào Luật Doanh Nghiệp 2020, Luật Chứng Khoán 2019, Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và các văn bản hướng dẫn thi hành.

LDN 2020, Luật Chứng Khoán 2019 đều không đưa ra định nghĩa mà chỉ quy định điều kiện và tiêu chuẩn cần đáp ứng đối với thành viên độc lập Hội đồng quản trị. Cụ thể, theo khoản 2 Điều 155 Luật Doanh Nghiệp 2020, thành viên độc lập Hội đồng quản trị phải có các tiêu chuẩn và điều kiện sau: Luận văn: Giải pháp PL về tổ chức của hội đồng quản trị ngân hàng.

Không phải là người đang làm việc cho công ty, công ty mẹ hoặc công ty con của công ty; không phải là người đã từng làm việc cho công ty, công ty mẹ hoặc công ty con của công ty ít nhất trong 03 năm liền trước đó;

Không phải là người đang hưởng lương, thù lao từ công ty, trừ các khoản phụ cấp mà thành viên Hội đồng quản trị được hưởng theo quy định;

Không phải là người có vợ hoặc chồng, bố đẻ, bố nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, anh ruột, chị ruột, em ruột là cổ đông lớn của công ty; là người quản lý của công ty hoặc công ty con của công ty;

Không phải là người trực tiếp hoặc gián tiếp sở hữu ít nhất 01% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết của công ty;

Không phải là người đã từng làm thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát của công ty ít nhất trong 05 năm liền trước đó, trừ trường hợp được bổ nhiệm liên tục 02 nhiệm kỳ.

Các dấu hiệu nhận diện quan trọng nhất của thành viên độc lập Hội đồng quản trị chính là sự “độc lập” trong quan hệ với (i) Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban Kiểm soát, người quản lý công ty; và (ii) Không có mối quan hệ nhân thân với các vị trí quản lý, cổ đông lớn và có quyền kiểm soát. Từ sự “độc lập” về tiêu chuẩn, sẽ đảm bảo sự khách quan, minh bạch trong quá trình thực hiện quyền hạn, nhiệm vụ của thành viên độc lập Hội đồng quản trị. Do đó, cần phải xác định rõ định nghĩa thành viên độc lập của Hội đồng quản trị.

Theo Điều 137 Luật Doanh Nghiệp 2020, Công ty cổ phần được quyền lựa chọn một trong hai mô hình tổ chức như sau:

  • Mô hình quản trị hai cấp (two tier board) bao gồm: Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban Kiểm soát (BKS) và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc.
  • Mô hình quản trị một cấp (one tier board) bao gồm: Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Trong thành phần của Hội đồng quản trị, phải có thêm thành viên độc lập.

Ngoài mô hình quản trị hai cấp có sự kiểm soát của Ban kiểm soát, thực tiễn quản trị tại Công ty cổ phần cho thấy, các cổ đông lớn không chỉ chi phối các quyết định của Đại hội đồng cổ đông mà còn tác động toàn diện trong quá trình chỉ đạo, giám sát điều hành của Hội đồng quản trị. Đòi hỏi tính minh bạch, khách quan trong hoạt động của Hội đồng quản trị, bản thân Hội đồng quản trị phải có thành viên độc lập Hội đồng quản trị giám sát và tổ chức thực hiện kiểm soát đối với việc quản lý điều hành công ty, cụ thể: Luận văn: Giải pháp PL về tổ chức của hội đồng quản trị ngân hàng.

Thứ nhất, thành viên độc lập Hội đồng quản trị là những người không có quan hệ lợi ích với công ty (ngoài thù lao). Các ý kiến của họ sẽ đảm bảo tính khách quan, công bằng, minh bạch nhằm vào lợi ích tổng thể của công ty chứ không nhằm vào lợi ích riêng của một hoặc một số cổ đông lớn. Nhờ tiếng nói khách quan này, Hội đồng quản trị tránh được những quyết định mang tính chất tư lợi, có thể gây xung đột lợi ích trong cổ đông, hoặc ngay trong Hội đồng quản trị.

Thứ hai, với góc nhìn của người ngoài công ty, thành viên độc lập Hội đồng quản trị có thể có nhiều thông tin hơn về thị trường, môi trường kinh doanh để đưa ra những phân tích, nhận định sáng suốt hơn, giúp cho Hội đồng quản trị có thêm góc nhìn để đưa ra các quyết định đúng đắn mà không bị lệ thuộc vào tiền lệ công ty;

Thứ ba, thành viên độc lập Hội đồng quản trị sẽ đóng góp ý kiến phản biện trong các quyết sách của Hội đồng quản trị từ chính kiến thức, kinh nghiệm tổng hợp của mình, để đảm bảo tính đa chiều, đa diện của Hội đồng quản trị, thúc đẩy sự công bằng, minh bạch trong hoạt động quản trị của công ty.

3.2.2.3. Hoàn thiện quy định về số lượng, nhiệm kỳ và quyền hạn của HĐQT Ngân hàng thương mại cổ phần

Thứ nhất: Cần phân định rõ ràng nhiệm vụ, quyền hạn của chủ tịch Hội đồng quản trị trong ngân hàng thương mại Cổ phần căn cứ theo điều 153 Luật doanh nghiệp năm 2020 để bảo đảm vị trí Hội đồng quản trị được điều chỉnh đúng với văn bản Luật các tổ chức tín dụng. Theo Tác giả, nếu không quy định rõ ràng thì dẫn đến hậu quả là Hội đồng quản trị và Chủ tịch Hội đồng quản trị can thiệp sâu vào hoạt động điều hành của Tổng giám đốc hoặc Giám đốc. Nói cách khác, pháp luật quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần chưa phân định rõ chức năng quản lý với chức năng điều hành. Tại khoản 2 điều 153 Luật doanh nghiệp 2020 quy định quyền và nghĩa vụ của Hội đồng quản trị trong công ty Cổ phần: i) Quyết định chiến lược, kế hoạch phát triển trung hạn và kế hoạch kinh doanh hằng năm của công ty; ii) Kiến nghị loại cổ phần và tổng số cổ phần được quyền chào bán của từng loại; iii) Quyết định bán cổ phần chưa bán trong phạm vi số cổ phần được quyền chào bán của từng loại; quyết định huy động thêm vốn theo hình thức khác; iv) Quyết định giá bán cổ phần và trái phiếu của công ty; v) Quyết định mua lại cổ phần theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 133 của Luật này; vi) Quyết định phương án đầu tư và dự án đầu tư trong thẩm quyền và giới hạn theo quy định của pháp luật; vii ) Quyết định giải pháp phát triển thị trường, tiếp thị và công nghệ; viii ) Thông qua hợp đồng mua, bán, vay, cho vay và hợp đồng, giao dịch khác có giá trị từ 35% tổng giá trị tài sản trở lên được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty, trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định tỷ lệ hoặc giá trị khác và hợp đồng, giao dịch thuộc thẩm quyền quyết định của Đại hội đồng cổ đông theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 138, khoản 1 và khoản 3 Điều 167 của Luật này; ĩx) Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch Hội đồng quản trị; bổ nhiệm, miễn nhiệm, ký kết hợp đồng, chấm dứt hợp đồng đối với Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý quan trọng khác do Điều lệ công ty quy định; quyết định tiền lương, thù lao, thưởng và lợi ích khác của những người quản lý đó; cử người đại diện theo ủy quyền tham gia Hội đồng thành viên hoặc Đại hội đồng cổ đông ở công ty khác, quyết định mức thù lao và quyền lợi khác của những người đó; x) Giám sát, chỉ đạo Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác trong điều hành công việc kinh doanh hằng ngày của công ty; xi) Quyết định cơ cấu tổ chức, quy chế quản lý nội bộ của công ty, quyết định thành lập công ty con, chi nhánh, văn phòng đại diện và việc góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp khác; xii) Duyệt chương trình, nội dung tài liệu phục vụ họp Đại hội đồng cổ đông, triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông hoặc lấy ý kiến để Đại hội đồng cổ đông thông qua nghị quyết; xiii) Trình báo cáo tài chính hằng năm lên Đại hội đồng cổ đông; xiv) Kiến nghị mức cổ tức được trả; quyết định thời hạn và thủ tục trả cổ tức hoặc xử lý lỗ phát sinh trong quá trình kinh doanh; xv) Kiến nghị việc tổ chức lại, giải thể công ty; yêu cầu phá sản công ty; xvi) Quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty. Luận văn: Giải pháp PL về tổ chức của hội đồng quản trị ngân hàng.

Vậy trong Ngân hàng Thương mại Cổ phần là một tổ chức kinh tế hoạt động mang tính đặc thù thì Hội đồng quản trị sẽ có chức năng nhiệm vụ theo điều 63 để quản trị ngân hàng có hiệu quả. Tại khoản 5 điều 63 lại quy định rất cụ thể:  Bổ nhiệm, miễn nhiệm, kỷ luật, đình chỉ và quyết định mức lương, lợi ích khác đối với các chức danh Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó giám đốc), Kế toán trưởng, Thư ký Hội đồng quản trị và người quản lý, người điều hành khác theo quy định nội bộ của Hội đồng quản trị. Nhưng tại điều 64 của văn bản hợp nhất Luật các tổ chức tín dụng năm 2017 lại không quy định chức năng của ai sẽ ký hợp đồng làm việc với các vị trí này trong trường hợp Ngân hàng thương mại cổ phần thuê họ về làm việc. Do vậy Tác giả kiến nghị bổ sung quyền và nghĩa vụ cụ thể của Chủ tịch Hội đồng quản trị trong Ngân hàng thương mại cổ phần thành một khoản riêng biệt tại điều 64 văn bản hợp nhất Luật các tổ chức tín dụng năm 2017 để khoa học hơn và làm cơ sở điều chỉnh tốt hơn trong thực tiễn: thay mặt Hội đồng quản trị ban hành quyết định Bổ nhiệm, miễn nhiệm, kỷ luật, đình chỉ và quyết định mức lương, lợi ích khác đối với các chức danh Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó giám đốc), Kế toán trưởng, Thư ký Hội đồng quản trị và người quản lý, người điều hành khác theo quy định nội bộ của Hội đồng quản trị

Thứ hai: Căn cứ theo quy định tại điểm b – khoản 1 – Điều 137 Luật Doanh Nghiệp 2020, công ty phải có ít nhất 20% số thành viên Hội đồng quản trị phải là thành viên độc lập, Tác giả kiến nghị bổ sung quy định về số lượng, tiêu chuẩn, quyền hạn của thành viên độc lập tại điều 65 quyền và nghĩa vụ của thành viên Hội đồng quản trị tại văn bản hợp nhất Luật các tổ chức tín dụng năm 2017 để khoa học hơn và làm cơ sở điều chỉnh tốt hơn trong thực tiễn: Có tối thiểu 01 thành viên độc lập trong trường hợp công ty có số thành viên Hội đồng quản trị từ 03 đến 05 thành viên; (ii) Có tối thiểu 02 thành viên độc lập trong trường hợp công ty có số thành viên Hội đồng quản trị từ 06 đến 08 thành viên; (iii) Có tối thiểu 03 thành viên độc lập trong trường hợp công ty có số thành viên Hội đồng quản trị từ 09 đến 11 thành viên.

Thứ ba: Tác giả kiến nghị nhiệm kỳ và số lượng thành viên Hội đồng quản trị trong Ngân hàng thương mại cổ phần căn cứ quy định tại Điều 154 Luật Doanh Nghiệp 2020, Hội đồng quản trị có từ 03 đến 11 thành viên. Theo điều lệ công ty quy định cụ thể số lượng thành viên Hội đồng quản trị. Nhiệm kỳ thành viên Hội đồng quản trị không quá 5 năm và có thể được bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế. Một cá nhân chỉ được bầu làm thành viên độc lập Hội đồng quản trị của một công ty không quá 02 nhiệm kỳ liên tục một cá nhân chỉ được bầu làm thành viên độc lập Hội đồng quản trị của một công ty không quá 02 nhiệm kỳ liên tục. Theo Tác giả, việc giới hạn nhiệm kỳ để bảo đảm tính độc lập, khách quan của thành viên độc lập Hội đồng quản trị. Hạn chế tình trạng sau một thời gian tham gia sâu vào quản trị, bản thân họ cũng phát sinh các trách nhiệm liên quan, hoặc phát sinh các lợi ích liên quan với các thành viên Hội đồng quản trị, cổ đông khác.

Thứ tư: Kiến nghị đối với các Ngân hàng thương mại cổ phần: Luận văn: Giải pháp PL về tổ chức của hội đồng quản trị ngân hàng.

Quyền hạn của thành viên độc lập Hội đồng quản trị: Hiện Luật doanh nghiệp 2020 không có sự tách bạch khi quy định quyền hạn và nghĩa vụ của các thành viên độc lập Hội đồng quản trị so với thành viên Hội đồng quản trị khác. Điều này có thể lý giải do Hội đồng quản trị làm việc theo nguyên tắc tập thể nên các thành viên đều có quyền hạn và nghĩa vụ như nhau. Tuy nhiên, xuất phát từ chức năng của thành viên độc lập Hội đồng quản trị, cách tiếp cận này chưa phù hợp với thực tiễn với hoạt động của tổ chức tín dụng nhất là Ngân hàng thương mại cổ phần. Do đó, tùy thuộc vào tình hình quản trị của từng Ngân hàng thương mại cổ phần mà cần có những quy định rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của các thành viên này tại Điều lệ, Quy chế quản lý nội bộ của Ngân hàng thương mại cổ phần.

Do vậy, pháp luật cần điều chỉnh theo hướng:

Một là, cần có những quy định riêng cho việc bầu cử thành viên độc lập Hội đồng quản trị. Việc “độc lập” trong công tác đề cử, bầu thành viên độc lập Hội đồng quản trị sẽ là nhân tố quan trọng để đảm bảo tính “độc lập” trong chức năng của thành viên độc lập Hội đồng quản trị về sau. Việc đề cử, bầu thành viên độc lập Hội đồng quản trị phải đảm bảo có sự tham gia ý kiến của các cổ đông thiểu số trong công ty.

Hai là, cần xây dựng khung tiêu chuẩn của thành viên độc lập Hội đồng quản trị. Với vai trò đại diện trách nhiệm và bảo vệ quyền lợi cho cổ đông thiểu số thì thành viên này cần có chuyên môn cao trong lĩnh vực quản trị doanh nghiệp. Thời gian vừa qua, Hiệp hội Kinh doanh chứng khoán đã đề xuất Uỷ ban chứng khoán nhà nước nghiên cứu thêm việc quản lý hành nghề đối với đối tượng này như một giải pháp hoàn thiện.

Ba là, pháp luật chỉ quy định các nguyên tắc chung, các điều kiện hay tiêu chuẩn cơ bản của thành viên độc lập Hội đồng quản trị. Bản thân mỗi doanh nghiệp phải chủ động chi tiết về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của thành viên độc lập Hội đồng quản trị trong Điều lệ hoặc Quy chế nội bộ của mình phù hợp với đặc thù công ty.

3.2.3. Thiết lập cơ chế giám sát chặt chẽ đối với hoạt động của Hội đồng quản trị  tại các Ngân hàng thương mại cổ phần và nâng cao chế tài xử lý đối với những vi phạm

Năng lực quản trị của Hội đồng quản trị trong các Ngân hàng thương mại cổ phần là yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại trong hoạt động của Ngân hàng thương mại cổ phần. Do đó, để đảm bảo cho Hội đồng quản trị phát huy tối đa năng lực của mình thì pháp luật nên thay đổi theo hướng tập trung quyền lực cho Hội đồng quản trị trong bộ máy quản lý điều hành tại các Ngân hàng thương mại cổ phần. Tại mỗi Ngân hàng thương mại cổ phần nên thiết lập cơ chế giám sát phù hợp, không quá lạm quyền gây ảnh hưởng đến việc ra quyết định của Hội đồng quản trị nhưng cũng phải đảm bảo kiểm soát chặt chẽ hoạt động của Hội đồng quản trị để các quyết định của cơ quan này không vượt quá phạm vi thẩm quyền cũng như nhằm vụ lợi cá nhân, gây thiệt hại cho ngân hàng. Luận văn: Giải pháp PL về tổ chức của hội đồng quản trị ngân hàng.

 Bên cạnh đó, mỗi Ngân hàng thương mại cổ phần cũng cần chú trọng nâng cao nhận thức về trách nhiệm và đạo đức của thành viên Hội đồng quản trị bởi Hội đồng quản trị là người nắm giữ tiền của nhà đầu tư, phải là người có hiểu biết, trung thực, có tầm nhìn và công bằng với quyền lợi của cổ đông. Thành viên của Hội đồng quản trị phải có năng lực phán xét độc lập để có thể giám sát hoạt động của ban quản lý; phải giải quyết được những mâu thuẫn tiềm tàng về lợi ích của các thành viên; đảm bảo tính chính trực của hệ thống tài chính và kế toán; lựa chọn các thành viên chủ chốt của ban quản trị. Về phía các Ngân hàng thương mại cổ phần, bản thân mỗi ngân hàng cần tiếp tục đẩy mạnh kiện toàn bộ máy hoạt động, quản trị điều hành nói chung và Hội đồng quản trị nói riêng, tiếp tục áp dụng các thông lệ quản trị tốt được OECD khuyến nghị.

Ngoài ra, cần thiết xây dựng chế tài xử lý kỷ luật nghiêm khắc đối với những vi phạm trong hoạt động của Hội đồng quản trị, cũng như nâng các mức xử phạt đối với những vi phạm đó trong các văn bản xử lý vi phạm hành chính, hình sự có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp, hoạt động ngân hàng.

3.2.4. Nâng cao nhận thức và các chiến lược của các Ngân hàng thương mại cổ phần trong việc phát huy hiệu quả hoạt động của Hội đồng quản trị

Thứ nhất,  Trong quá trình tổ chức Hội đồng quản trị các Ngân hàng thương mại cổ phần cần xác định rõ vai trò của Thư ký cho Hội đồng quản trị và Chủ tịch Hội đồng quản trị Trong cơ cấu của điều khoản về Chủ tịch Hội đồng quản trị có quy định về Thư ký công ty là không phù hợp. Luật Doanh Nghiệp nên tách quy định về Thư ký công ty thành một điều khoản riêng biệt, đồng thời phải phân định rõ vai trò, trách nhiệm của chức danh này. Thư ký công ty được Chủ tịch Hội đồng quản trị quyết định thuê làm tư vấn, hỗ trợ Hội đồng quản trị và Chủ tịch Hội đồng quản trị thực hiện các nhiệm vụ thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty khi xét thấy cần thiết. Rõ ràng đây là Thư ký của Hội đồng quản trị chứ không phải thư ký của công ty. Vì vậy, nên sửa đổi tên chức danh này là “Thư ký Hội đồng quản trị”, đồng thời bãi bỏ những chức năng hỗ trợ của Thư ký không thuộc thẩm quyền của Hội đồng quản trị, bao gồm nhiệm vụ liên quan đến hoạt động của công ty là hỗ trợ công ty trong xây dựng quan hệ cổ đông và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cổ đông; hỗ trợ công ty trong việc tuân thủ đúng các nghĩa vụ cung cấp thông tin, công khai hóa thông tin và thủ tục hành chính.

Thứ hai, các Ngân hàng thương mại cổ phần cần tách bạch chức danh Chủ tịch Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc Những bất cập về vấn đề Chủ tịch Hội đồng quản trị có thể kiêm nhiệm Giám đốc (Tổng giám đốc) công ty cho thấy quy định này là không hợp lý, gây cản trở cho hoạt động quản trị công ty. Theo các thông lệ quản trị tốt nhất được hướng dẫn bởi Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), Ngân hàng Thế giới (World Bank), Ủy ban Chứng khoán Mỹ (SEC)…, chức danh Chủ tịch Hội đồng quản trị và Giám đốc (Tổng giám đốc) nên được nắm giữ bởi các cá nhân khác nhau và được quy định rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ của mỗi vị trí. Giải thích về lý do khuyến nghị này, các tổ chức trên cho rằng, việc tách rời vai trò của Chủ tịch Hội đồng quản trị và Giám đốc (Tổng giám đốc) là để tránh các mâu thuẫn về lợi ích có thể phát sinh, đồng thời tránh sự tập trung quyền lực quá cao, cũng như đảm bảo tính công tâm trong các quá trình ra quyết định.

Do đó, việc sửa đổi bổ sung Luật Doanh Nghiệp theo hướng tạo ra sự tách bạch giữa chức danh Chủ tịch Hội đồng quản trị và Giám đốc (Tổng giám đốc) là cần thiết để đảm bảo cân bằng quyền lực trong công ty. Mặt khác, sự tách bạch giữa chức danh Chủ tịch HĐQT và Giám đốc (Tổng giám đốc) cũng nhằm đảm bảo sự thống nhất giữa LDN và các luật chuyên ngành cũng như các văn bản dưới luật khác. Điều 34, Khoản 1, Luật các Tổ chức tín dụng quy định: “Chủ tịch Hội đồng quản trị, Chủ tịch Hội đồng thành viên của tổ chức tín dụng không được đồng thời là người điều hành của tổ chức tín dụng đó và của tổ chức tín dụng khác, trừ trường hợp Chủ tịch Hội đồng quản trị của quỹ tín dụng nhân dân đồng thời là thành viên Hội đồng quản trị của ngân hàng hợp tác xã”. Tổng giám đốc là người điều hành của Tổ chức tín dụng, do đó, Chủ tịch Hội đồng quản trị không được kiêm nhiệm chức danh Tổng giám đốc của một ngân hàng. Nghị định số 71/2017/NĐ-CP cũng quy định “Chủ tịch Hội đồng quản trị không được kiêm nhiệm chức danh Giám đốc (Tổng giám đốc) của cùng một công ty đại chúng”. Vì vậy, Luật doanh nghiệp 2020 cần được sửa đổi theo hướng bãi bỏ hoàn toàn quy định Chủ tịch Hội đồng quản trị có thể kiêm Giám đốc (Tổng giám đốc) công ty, chứ không phải chỉ loại trừ một số trường hợp như hiện nay. Luận văn: Giải pháp PL về tổ chức của hội đồng quản trị ngân hàng.

Thứ ba, Nâng cao nhận thức của thành viên Hội đồng quản trị tại Ngân hàng thương mại cổ phần: Bản thân mỗi Ngân hàng thương mại cổ phần cần có nhận thức về những lợi ích mà quản trị công ty tốt đem lại. Đối với những Ngân hàng thương mại cổ phần chưa có hệ thống nguyên tắc quản trị ngân hàng thì cần cập nhật và bắt tay ngay vào công tác xây dựng. Ngay từ đầu nên kết hợp luật pháp quốc gia với chuẩn mực quốc tế, nhất là bộ nguyên tắc quản trị công ty do OECD ban hành. Đối với những ngân hàng đã có hệ thống nguyên tắc quản trị công ty, cần tiếp tục cải thiện chất lượng và cải tổ hoạt động quản trị  tại ngân hàng mình thông qua việc tham khảo thông lệ quốc tế, những bài học kinh nghiệm từ các nước tiên tiến hoặc những nước có nhiều bước tiến bộ về quản trị công ty như Thái Lan, Singapore.  Ngoài ra, các ngân hàng cần thành lập các phòng, ban chức năng chuyên trách về quản trị công ty, như: phòng Quan hệ Nhà đầu tư, phòng Trách nhiệm xã hội…; Xây dựng chế tài (cấp ngân hàng) xử lý các hành vi vi phạm quản trị ngân hàng ngoài các quy định xử phạt của luật pháp để tăng cường hiệu quả và trách nhiệm của các nhà quản trị.

Các ngân hàng nên xây dựng, ban hành các bộ quy tắc ứng xử, bộ quy tắc hướng dẫn công tác quản trị công ty tại ngân hàng; Cần thành lập các Ủy ban chuyên môn để hỗ trợ hoạt động của Hội đồng quản trị. Để có một Hội đồng quản trị làm việc chuyên nghiệp và có hiệu quả, cần bảo đảm yếu tố then chốt là phẩm chất đạo đức và quan điểm của bản thân các thành viên Hội đồng quản trị nói chung và của các thành viên độc lập nói riêng về vai trò, vị thế và trách nhiệm của mình đối với doanh nghiệp, cổ đông và các bên có liên quan một cách chuyên nghiệp, độc lập nhất. Hội đồng quản trị phải là đại diện cho lợi ích của doanh nghiệp và của toàn thể cổ đông. Một thành viên Hội đồng quản trị chuyên nghiệp phải bảo vệ quyền lợi chung của doanh nghiệp, chứ không phải bảo vệ quyền lợi của những người đề cử và/hoặc dồn phiếu cho họ vào vị trí đó. Thành viên Hội đồng quản trị cần hiểu rõ trách nhiệm, nhiệm vụ của mình; hàng năm cần xem xét lại sứ mệnh, tầm nhìn, mục tiêu của công ty, các chính sách liên quan tới quản trị công ty. Chỉ khi Hội đồng quản trị hiểu rõ và thực hiện đúng chức trách của mình một cách trung thực, thì các tiêu chí khác về quản trị công ty mới được thực thi tốt, khi đó quyền lợi của cổ đông và các bên liên quan mới được bảo đảm. Luận văn: Giải pháp PL về tổ chức của hội đồng quản trị ngân hàng.

Thứ tư, tích cực tuyên truyền, phổ biến pháp luật về quản trị công ty và các thông lệ quản trị tốt: Quản trị công ty tốt giúp nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng và góp phần vào sự thịnh vượng của nền kinh tế nói chung. Để nâng cao nhận thức của doanh nghiệp nói chung và thành viên Hội đồng quản trị nói riêng, các cơ quan quản lý, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cùng hai Sở giao dịch Chứng khoán cần tăng cường phổ biến pháp luật về quản trị công ty cho các ngân hàng, tích cực tuyên truyền, phổ cập kiến thức về quản trị công ty cho thành viên thị trường và nhà đầu tư, đồng thời khuyến khích các ngân hàng áp dụng thông lệ quản trị công ty tốt. Cần tiến hành các chương trình đánh giá công bố thông tin minh bạch; vinh danh các ngân hàng có tiến bộ về quản trị công ty, tổ chức các chương trình đào tạo, khảo sát thực tế, tuần lễ quản trị công ty, phát hành ấn phẩm hướng dẫn ngân hàng niêm yết và triển khai đánh giá công bố thông tin minh bạch đối với hoạt động của ngân hàng.

Bên cạnh đó, các cơ quan nhà nước cần tích cực phối hợp với các tổ chức quốc tế triển khai các hoạt động nhằm xây dựng và chuẩn hóa hệ thống văn bản pháp quy về quản trị công ty theo thông lệ quốc tế và nâng cao chất lượng quản trị ngân hàng tại Việt Nam. Việc tổ chức các chương trình hội nghị, hội thảo, đào tạo nâng cao nhận thức về quản trị ngân hàng  nhằm chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm xây dựng một khuôn khổ quản trị ngân hàng  hiệu quả, nâng cao năng lực quản trị ngân hàng cho các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam cũng rất cần thiết. Các hội thảo này thảo luận về các vấn đề còn bất cập trên thực tế, đưa ra các tình huống, các kinh nghiệm quốc tế; đồng thời cập nhập và phổ biến các thông lệ quản trị tốt cho các ngân hàng, đặc biệt là Bộ nguyên tắc quản trị công ty của OECD.

Ngoài ra, liên quan đến quản trị nội bộ của Ngân hàng thương mại cổ phần cần sửa đổi, bổ sung các quy định sau:

  • HĐQT của Ngân hàng thương mại cổ phần phải nâng số lượng thành viên độc lập từ 01 người lên 02 người. Đồng thời, Hội đồng quản trị phải có nghĩa vụ xây dựng chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của thành viên Hội đồng quản trị, những người lãnh đạo, điều hành trong Ngân hàng thương mại cổ phần.
  • Đối với Ban kiểm soát, Luật Các Tổ chức tín dụng cần bổ sung thêm quyền của Ban kiểm soát trong việc quản lý nhân sự thuộc bộ phận kiểm toán nội bộ nhằm tăng cường vai trò của Ban kiểm soát khi kiểm tra, giám sát các định hướng, chỉ đạo điều hành của Ngân hàng Nhà nước, Nghị quyết của Hội đồng quản trị… Bên cạnh đó, phải nâng cao tính khách quan, độc lập của Ban kiểm soát.

Kết luận chương 3 Luận văn: Giải pháp PL về tổ chức của hội đồng quản trị ngân hàng.

Có thể thấy, quản trị tại các Ngân hàng thương mại cổ phần là một trong những hoạt động đóng vai trò quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng thương mại cổ phần nói riêng và sự phát triển của nền kinh tế nói chung. Do vậy, nếu những quy định trong hoạt động quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần có những bất cập, hạn chế thì sẽ làm ảnh hưởng đến tính hiệu quả của công tác quản trị và hoạt động của chính Ngân hàng thương mại cổ phần. Vì vậy, việc đánh giá, xác định hạn chế, bất cập và đưa ra kiến nghị giải pháp nhằm góp phần bảo đảm các quy định pháp luật ngày càng hoàn thiện và góp phần tác động tích cực vào hoạt động của Ngân hàng thương mại cổ phần, để nó thực sự là kênh trung gian tài chính tốt, đáp ứng được nhu cầu về vốn cho nền kinh tế.

Ở trên chỉ mới là những gợi mở cho việc tiếp tục nghiên cứu các giải pháp về chính sách từ phía cơ quan quản lý nhà nước, ngân hàng trung ương, điều hành quản lý các Ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam trong thời gian tới.

KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp PL về tổ chức của hội đồng quản trị ngân hàng.

Việc hoàn thiện tổ chức của Hội đồng quản trị trong Ngân hàng thương mại cổ phần có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của các cổ đông, phòng ngừa rủi ro, đảm bảo sự phát triển bền vững của các Ngân hàng thương mại cổ phần nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung. Để đạt được kết quả đó, cần có sự tác động không chỉ từ phía các quy định của pháp luật và từ phía cơ quan nhà nước, mà còn xuất phát từ chính các Ngân hàng thương mại cổ phần. Thời gian tới, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chắc chắn những đòi hỏi về công tác quản trị doanh nghiệp sẽ càng gay gắt hơn đối với doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là các Ngân hàng thương mại cổ phần với xu hướng ngày càng tăng trong hệ thống doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay.

Luận văn đã đạt được các kết quả nghiên cứu chủ yếu như sau:

Thứ nhất, Luận văn đã đề cập một cách có hệ thống cơ sở lý luận về tổ chức của Hội đồng quản trị trong Ngân hàng thương mại cổ phần, mối quan hệ giữa Hội đồng quản trị trong Ngân hàng thương mại cổ phần và các thiết chế quản lý khác trong Công ty cổ phần, quá trình hình thành và phát triển của pháp luật Việt Nam về tổ chức của Hội đồng quản trị trong Ngân hàng thương mại cổ phần, cũng như nội dung pháp luật về Hội đồng quản trị trong Ngân hàng thương mại cổ phần theo pháp luật của một số nước trên thế giới và các thông lệ quốc tế về quản trị Công ty cổ phần.

Thứ hai, Luận văn đã trình bày và phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về tổ chức của Hội đồng quản trị của Ngân hàng thương mại cổ phần  bao gồm các vấn đề như: bầu cử, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị; tiêu chuẩn và điều kiện của thành viên Hội đồng quản trị; thành phần Hội đồng quản trị; quyền và nghĩa vụ của Hội đồng quản trị, cuộc họp Hội đồng quản trị… Luận văn tập trung phân tích những hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật hiện hành, đồng thời đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật về tổ chức của Hội đồng quản trị trong Ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam trong thời gian qua.

Thứ ba, Luận văn đã trình bày được các nguyên tắc và phương hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật hiện hành về tổ chức của Hội đồng quản trị trong Ngân hàng thương mại cổ phần. Trên cơ sở đó, tác giả Luận văn cũng đã trình bày một số giải pháp cụ thể nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập hiện có, đảm bảo cho việc hoàn thiện chức quản trị trong Ngân hàng thương mại cổ phần nói chung.

Nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn pháp luật, thực tiễn áp dụng pháp luật nhằm hiểu đúng, đầy đủ các quy định về Hội đồng quản trị trong Ngân hàng thương mại cổ phần là một việc làm cần thiết. Với kết quả từ nghiên cứu này, tác giả hy vọng đóng góp tích cực vào việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quản trị Công ty cổ phần nói chung và về  tổ chức của Hội đồng quản trị trong Ngân hàng thương mại cổ phần nói riêng, từ đó nâng cao chất lượng quản trị công ty, thu hút các nhà đầu tư tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, góp phần phát triển kinh tế đất nước.

Tổ chức của Hội đồng quản trị trong Ngân hàng thương mại cổ phần là một vấn đề phức tạp và đa dạng nên Luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế. Vì vậy, tác giả mong nhận được sự nhận xét và ý kiến quý báu từ các nhà khoa học, thầy giáo, cô giáo và các bạn để Luận văn được hoàn thiện hơn. Luận văn: Giải pháp PL về tổ chức của hội đồng quản trị ngân hàng.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Luận văn: Pháp luật về tổ chức của hội đồng quản trị ngân hàng

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464