Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng PL tổ chức của hội đồng quản trị ngân hàng hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật Việt Nam về tổ chức của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Pháp luật hiện hành về tổ chức của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần
2.1.1. Hệ thống các văn bản pháp luật hiện hành điều chỉnh tổ chức của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần
Theo quy định pháp luật hiện hành thì Ngân hàng thương mại cổ phần vừa đáp ứng các tiêu chuẩn chung về quản trị công ty được quy định trong Luật Doanh Nghiệp, vừa thể hiện những nét riêng của quản trị công ty trong lĩnh vực ngân hàng được xem là lĩnh vực kinh doanh đặc biệt.
Hiện nay, điều chỉnh về quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần có các văn bản sau: Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2017; Thông tư số 40/2011/TT-NHNN ngày 15 tháng 12 năm 2011 của thống đốc ngân hàng nhà nước Việt Nam quy định về việc cấp giấy phép và tổ chức, hoạt động của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng tại Việt Nam; Thông tư 25/2019/TT-NHNN ngày 02/12/2019 sửa đổi, bổ sung một số điều của thông tư số 40/2011/TT-NHNN ngày 15 tháng 12 năm 2011 của thống đốc ngân hàng nhà nước Việt Nam quy định về việc cấp giấy phép và tổ chức, hoạt động của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng tại Việt Nam; Thông tư 50/2018/TT-NHNN quy định về hồ sơ, trình tự, thủ tục chấp thuận nội dung thay đổi của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành; Thông tư 13/2018/TT-NHNN ngày 18/05/2018 của Ngân hàng nhà nước Quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ của Ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (Thông tư 13/2018/TT-NHNN). Bên cạnh các văn bản trên, do Ngân hàng thương mại cổ phần cũng là Công ty cổ phần nên vẫn phải chịu sự điều chỉnh bởi quy định của Luật Doanh Nghiệp năm 2020. Luận văn: Thực trạng PL tổ chức của hội đồng quản trị ngân hàng.
Đồng thời, các Ngân hàng thương mại cổ phần hiện nay còn là công ty đại chúng nên hoạt động quản trị của Ngân hàng thương mại cổ phần còn chịu sự điều chỉnh của Nghị định 155/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ “Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật chứng khoán” và Thông tư số 116/2020/TT-BTC ngày 31/12/2020 của Bộ Tài chính “Về việc hướng dẫn một số điều về quản trị công ty áp dụng với công ty đại chúng tại Nghị định 155/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật chứng khoán”, …
Nhìn chung các quy định pháp luật hiện hành về quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam là tương đối đầy đủ, cụ thể: Pháp luật đã lựa chọn mô hình tổ chức, quản lý, điều hành khá phù hợp; Có những quy định về bảo vệ lợi ích của cổ đông; Có những quy định cụ thể về tính công khai, minh bạch, hoạt động kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ…Về cơ bản, pháp luật hiện hành điều chỉnh về hoạt động quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần đã đạt được những kết quả sau:
Thứ nhất, pháp luật đã lựa chọn mô hình tổ chức, quản lý, điều hành khá phù hợp cho Ngân hàng thương mại cổ phần. Theo khoản 1 điều 33 Luật sửa đổi, bổ sung 1 số điều của luật các tổ chức tín dụng Theo đó, cơ cấu tổ chức, quản lý, điều hành của Ngân hàng thương mại cổ phần là:
Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị (HĐQT), Ban kiểm soát (BKS), Tổng giám đốc (Giám đốc). Theo giáo trình “Pháp luật về quản trị công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam” của Trường Đại học Kinh tế Luật (2017), việc tổ chức quản lý NHTMCP có sự phân công, phân nhiệm và giám sát giữa các cơ quan quản lý, điều hành và kiểm soát ngân hàng. Mô hình này được đánh giá là mô hình quản lý phù hợp và hiệu quả đối với loại hình công ty đại chúng như là Ngân hàng thương mại cổ phần.
Thứ hai, Theo Nguyễn Hữu Long (2010), “Để hiểu thêm về thành viên độc lập và những vấn liên quan”, pháp luật đã có những quy định nhằm bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số và đảm bảo tính khách quan, bảo vệ lợi ích tổng thể của ngân hàng thông qua quy định về số lượng, tiêu chuẩn thành viên độc lập.
Thứ ba, pháp luật đã có những quy định cụ thể hơn về đảm bảo tính công khai, minh bạch trong quá trình hoạt động của ngân hàng, ngăn ngừa và góp phần hạn chế các xung đột lợi ích trong quá trình hoạt động của ngân hàng.
Thứ tư, pháp luật đã có những quy định cụ thể về hoạt động của kiểm toán nội bộ và kiểm soát nội bộ nhằm giảm thiểu rủi ro trong hoạt động của Ngân hàng thương mại cổ phần. Đây cũng chính là đặc thù của Ngân hàng thương mại cổ phần so với các công ty đại chúng khác. Các quy định này nhằm cụ thể hóa các trụ cột của Basel II vào trong hoạt động của Ngân hàng thương mại cổ phần nói riêng và các Tổ chức tín dụng nói chung. Luận văn: Thực trạng PL tổ chức của hội đồng quản trị ngân hàng.
Thứ năm, pháp luật đã có những định hướng cơ bản nội dung của đạo đức nghề nghiệp của những chủ thể trong thành viên Ban kiểm soát, kiểm toán viên nội bộ và cán bộ nhân viên của Ngân hàng thương mại cổ phần. Theo đó, về cơ bản khoản 1 Điều 67 Thông tư 13/2018/TT-NHNN của Ngân hàng nhà nước đã xác định những nội dung cơ bản cho quy tắc đạo đức nghề nghiệp của thành viên Ban kiểm soát, kiểm toán viên nội bộ trong Ngân hàng thương mại cổ phần. Trên cơ sở đó, bộ phận kiểm toán nội bộ của Ngân hàng thương mại cổ phần xây dựng để trình Ban kiểm soát ban hành, sửa đổi, bổ sung chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của thành viên Ban kiểm soát, kiểm toán viên nội bộ.
Tương tự khoản 3 Điều 15 của Thông tư 13/2018/TT-NHNN cũng xác định rằng Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần phải ban hành chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp đảm bảo nguyên tắc: (i) Cán bộ, nhân viên ở các cấp thực hiện nhiệm vụ, thẩm quyền được giao một cách trung thực vì lợi ích của Ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; không lợi dụng địa vị, chức vụ, sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh và tài sản của Ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài để thu lợi cá nhân hoặc làm tổn hại tới lợi ích của Ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; (ii) Các cá nhân, bộ phận có trách nhiệm báo cáo kịp thời với cấp có thẩm quyền khi phát hiện hành vi quy định trên và các hành vi vi phạm quy định nội bộ, quy định của pháp luật. Điều này vừa tạo cơ sở cho các Ngân hàng thương mại cổ phần xây dựng chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp cho phù hợp cũng như tạo cơ sở pháp lý cho việc Ngân hàng nhà nước xác định chuẩn mực đạo đức do Ngân hàng thương mại cổ phần ban hành đã đạt hay chưa đạt, đã phù hợp hay chưa phù hợp.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
2.1.2. Thực trạng pháp luật Việt Nam hiện nay về tổ chức của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần
- Về chức năng thực hiện nhiệm vụ của Hội đồng quản trị trong Ngân hàng thương mại cổ phần
Về chức năng của Hội đồng quản trị trong Ngân hàng thương mại cổ phần được quy định chung tại Luật Doanh Nghiệp năm 2020 đồng thời quy định tại Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Theo đó, Hội đồng quản trị có những chức năng như: Quyết định về cơ cấu tổ chức, quản lý nội bộ của công ty: Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý do Điều lệ công ty quy định; Quyền quyết định các vấn đề tài chính của công ty như: Kiến nghị loại cổ phần và tổng số cổ phần được quyền chào bán, bán cổ phần chưa bán trong phạm vi số cổ phần được quyền chào bán, huy động thêm vốn theo các hình thức khác, …
- Về số lượng thành viên Hội đồng quản trị của Ngân hàng thương mại cổ phần
Theo khoản 1, Điều 62, LCTCTD 2010 số lượng thành viên Hội đồng quản trị của NHTMCP phải nằm trong giới hạn được quy định trong Luật các Tổ chức tín dụng 2010. Theo đó, Hội đồng quản trị của Ngân hàng thương mại cổ phần phải có tối thiểu 5 và tối đa là 11 thành viên, trong đó có ít nhất một thành viên độc lập, Hội đồng quản trị phải có ít nhất một phần hai tổng số là thành viên độc lập và thành viên không phải là người điều hành tổ chức tín dụng.
Tuy nhiên, số lượng cụ thể sẽ do Đại hội đồng cổ đông quyết định và ghi vào điều lệ Ngân hàng thương mại cổ phần.
- Về các loại thành viên và tiêu chuẩn thành viên Hội đồng quản trị trong các mô hình tổ chức Hội đồng quản trị của Ngân hàng thương mại cổ phần Luận văn: Thực trạng PL tổ chức của hội đồng quản trị ngân hàng.
Vai trò của thành viên Hội đồng quản trị không điều hành được chú trọng vì họ ở vị trí độc lập để giám sát còn thành viên Hội đồng quản trị kiêm thành viên ban điều hành không thể đủ khách quan để nói về công việc của họ. Ngân hàng thương mại cổ phần là trung gian tài chính quan trọng của nền kinh tế, do đó, công chúng và thị trường có sự nhạy cảm lớn đối với bất kỳ khó khăn nào nảy sinh từ những hạn chế nhỏ trong ngân hàng. Ngân hàng quản trị kém có thể gây ra sự sụp đổ của chính nó và khiến cho công chúng mất niềm tin. Chính vì lý do đó, pháp luật điều chỉnh về tổ chức Hội đồng quản trị của loại hình tổ chức tín dụng nói chung và Ngân hàng thương mại cổ phần nói riêng đặt ra những điều kiện cao hơn so với các loại hình doanh nghiệp khác. Hiện tại các quy định về thành viên độc lập Hội đồng quản trị đã đưa vào Luật Doanh Nghiệp 2020, Luật Chứng khoán (LCK) 2019, Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
LDN 2020, Luật Chứng Khoán 2019 đều không đưa ra định nghĩa mà chỉ quy định điều kiện và tiêu chuẩn cần đáp ứng đối với thành viên độc lập Hội đồng quản trị. Cụ thể, theo khoản 2 Điều 155 Luật Doanh Nghiệp 2020, thành viên độc lập Hội đồng quản trị phải có các tiêu chuẩn và điều kiện sau:
Không phải là người đang làm việc cho công ty, công ty mẹ hoặc công ty con của công ty; không phải là người đã từng làm việc cho công ty, công ty mẹ hoặc công ty con của công ty ít nhất trong 03 năm liền trước đó;
Không phải là người đang hưởng lương, thù lao từ công ty, trừ các khoản phụ cấp mà thành viên Hội đồng quản trị được hưởng theo quy định;
Không phải là người có vợ hoặc chồng, bố đẻ, bố nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, anh ruột, chị ruột, em ruột là cổ đông lớn của công ty; là người quản lý của công ty hoặc công ty con của công ty;
Không phải là người trực tiếp hoặc gián tiếp sở hữu ít nhất 01% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết của công ty;
Không phải là người đã từng làm thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát của công ty ít nhất trong 05 năm liền trước đó, trừ trường hợp được bổ nhiệm liên tục 02 nhiệm kỳ.
Để đảm bảo giám sát hiệu quả, LCTCTD năm 2010 quy định: “HĐQT của Tổ chức tín dụng là Công ty cổ phần phải có không ít hơn 05 thành viên và không quá 11 thành viên, trong đó có ít nhất 01 thành viên độc lập. Hội đồng quản trị phải có ít nhất một phần hai tổng số thành viên là thành viên độc lập và thành viên không phải là người điều hành tổ chức tín dụng”.
Đồng thời, hiện nay pháp luật cũng quy định việc thành lập một số Ủy ban/ Hội đồng để tham mưu, hỗ trợ cho các hoạt động của Hội đồng quản trị. Luật Doanh Nghiệp 2020 và Luật các Tổ chức tín dụng 2010 chỉ bắt buộc Hội đồng quản trị của Ngân hàng thương mại cổ phần thành lập 2 ủy ban là Ủy ban nhân sự và Ủy ban quản lý rủi ro, nhưng theo thống kê ở tất cả các Luật chuyên ngành và quy định riêng áp dụng cho công ty đại chúng thì hiện nay các Ngân hàng thương mại cổ phần bắt buộc phải thành lập ít nhất 7 Ủy ban như Hội đồng xử lý rủi ro tổn thất, Ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng và tội phạm, Hội đồng đầu tư và thanh lý tài sản, Hội đồng mua nợ, Ủy ban nhân sự, Ủy ban thù lao và đãi ngộ, Ủy ban quản lý rủi ro. Theo quy định tại Điều 31 Thông tư 116/2020/TT-BTC thì các tiểu ban nên bố trí các thành viên Hội đồng quản trị độc lập hoặc các thành viên HĐQT không điều hành chiếm đa số và một trong số đó làm trưởng tiểu ban. Đây là một quy định được đánh giá tạo ra sự cân bằng về vị trí pháp lý giữa các thành viên Hội đồng quản trị với nhau. Tuy nhiên, tại Điều 25 – Thông tư 40/2011/TTNHNN lại quy định, uỷ ban quản lý rủi ro phải có ít nhất một thành viên Hội đồng quản trị độc lập mà không đề cập đến thành viên Hội đồng quản trị không điều hành.
- Đối với thành viên Hội đồng quản trị độc lập: Luận văn: Thực trạng PL tổ chức của hội đồng quản trị ngân hàng.
Theo quy định tại Điều 26 Thông tư 116/2020/TT-BTC, số lượng thành viên Hội đồng quản trị đối với công ty niêm yết ít nhất là 03 người và nhiều nhất là 11 người, trong đó tối thiếu 01 đến 03 thành viên Hội đồng quản trị độc lập tương ứng với các số lượng thành viên Hội đồng quản trị.
Thành viên Hội đồng quản trị độc lập được giao vai trò giám sát hoạt động của Ban điều hành, cố vấn chiến lược và hỗ trợ kinh nghiệm cho Ban điều hành, làm giảm nguy cơ lạm dụng quyền hạn của những người quản lý công ty, góp phần bảo vệ lợi ích chính đáng của cổ đông, nhất là những cổ đông nhỏ.
Nhận thức được điều này, các ngân hàng hoặc các công ty lớn tại Việt Nam cũng có quan tâm tới việc bổ nhiệm các thành viên độc lập vào trong thành phần Hội đồng quản trị, nhằm tận dụng năng lực và kinh nghiệm của họ vào việc xây dựng các chiến lược kinh doanh, tìm ra các cách thức phù hợp nhằm phát huy lợi thế của doanh nghiệp trước các đối thủ, qua đó làm tăng giá trị doanh nghiệp. Ví dụ, để tập trung đẩy mạnh quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng, Eximbank đã từng bổ nhiệm ông Lawrence Justin Wolfe (với 22 năm kinh nghiệm làm việc tại Deutsche Bank) là thành viên độc lập của Ngân hàng; ông Michael Knight Ipson (với nhiều năm kinh nghiệm tại ngân hàng bán lẻ tại Hồng Kông International Bank of Asia) được bầu làm thành viên độc lập của Viettinbank.
Tuy nhiên, nhiều Công ty cổ phần chỉ thực hiện bổ nhiệm các thành viên độc lập là nhằm tuân thủ quy định của Thông tư 121/2012/TT-BTC, không quan tâm tới chất lượng của các thành viên độc lập hay sự phù hợp của họ đối với mục tiêu phát triển của công ty. Luận văn: Thực trạng PL tổ chức của hội đồng quản trị ngân hàng.
Việc bổ nhiệm này thực sự sẽ không ý nghĩa, làm mất đi cơ hội học hỏi kinh nghiệm quản lý từ các chuyên gia thực thụ. Thực tế vẫn còn nhiều vướng mắc về vai trò của thành viên Hội đồng quản trị độc lập trong các Công ty cổ phần, đặc biệt là các Công ty cổ phần đại chúng qui mô lớn, công ty niêm yết trong thực tế tại Việt Nam.
- Về chủ tịch Hội đồng quản trị trong Ngân hàng thương mại cổ phần
Theo Quy chế tổ chức và hoạt động của Ngân hang VCB ban hành ngày 11/5 2021 và quy định của Luật Doanh Nghiệp hiện hành cũng như các văn bản luật chuyên ngành, Điều lệ của các ngân hàng Thương mại cổ phần cũng quy định “Chủ tịch Hội đồng quản trị được bầu trong số các thành viên Hội đồng quản trị theo nguyên tắc đa số quá bán. Quy chế tổ chức và hoạt động của Ngân hàng VCB ban hàng ngày 11/05/2021Chủ tịch Hội đồng quản trị là người đại diện theo pháp luật của ngân hàng”. Khoản 1 Điều 12 Luật Doanh Nghiệp 2020 quy định “người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là cá nhân đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách người yêu cầu giải quyết việc dân sự, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án và các quyền, nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật”.
Căn cứ Điều 12 Luật các Tổ chức tín dụng 2010 có quy định về Người đại diện theo pháp luật của Tổ chức tín dụng cụ thể như sau:
Người đại diện theo pháp luật của Tổ chức tín dụng được quy định tại Điều lệ của Tổ chức tín dụng và phải là một trong những người sau đây:
- Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Chủ tịch Hội đồng thành viên của Tổ chức tín dụng;
- Tổng giám đốc (Giám đốc) của Tổ chức tín dụng.
Người đại diện theo pháp luật của Tổ chức tín dụng phải cư trú tại Việt Nam, trường hợp vắng mặt ở Việt Nam phải ủy quyền bằng văn bản cho người khác là người quản lý, người điều hành của Tổ chức tín dụng đang cư trú tại Việt Nam để thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình.
Như vậy căn cứ quy định của pháp luật thì về bản chất Ngân hàng thương mại cổ phần chính là một hình thức Tổ chức tín dụng do vậy chế định về người đại diện của Ngân hàng thương mại cổ phần là tương ứng với quy định tại Khoản 1 Điều 12 Luật các Tổ chức tín dụng 2010 và văn bản pháp luật chuyên ngành.
2.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về tổ chức của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần Luận văn: Thực trạng PL tổ chức của hội đồng quản trị ngân hàng.
2.2.1. Thực tiễn áp dụng quy định về số lượng thành viên Hội đồng quản trị trong Ngân hàng thương mại cổ phần
Trong thực tế, việc ứng cử, đề cử để trở thành thành viên Hội đồng quản trị của Ngân hàng thương mại cổ phần được thực hiện theo văn bản luật chuyên ngành và điều lệ hoạt động của ngân hàng. Cụ thể: Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thương Tín Ban hành quy chế đề cử, ứng cử và bầu cử bổ sung thành viên Hội đồng quản trị, ban kiểm soát ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam Thương Tín nhiệm kỳ 2016-2020, cụ thể như sau:
Số lượng thành viên Hội đồng quản trị: Theo quy định tại Điều 43 Điều lệ Vietbank thì Hội đồng quản trị có ít nhất 05 thành viên và không quá 11 thành viên, trong đó có ít nhất 01 thành viên độc lập. Hội đồng quản trị phải có ít nhất ½ tổng số thành viên độc lập và thành viên không phải là người điều hành ngân hàng. Cá nhân và người có liên quan của cá nhân đó hoặc những người đại diện vốn góp của một cổ đông là tổ chức và người có liên quan của những người này được tham gia Hội đồng quản trị, nhưng không được vượt quá 1/3 tổng số thành viên Hội đồng quản trị của ngân hàng, trừ trường hợp là người đại diện phần vốn góp của nhà nước.
Điều lệ Vietbank nhiệm kỳ 2016-2020 qui định quyền đề cử làm thành viên HĐQT như sau: (i) Cổ đồng, nhóm cổ đông sở hữu từ 10 % tổng số cổ phần phổ thông trở lên trong thời hạn liên tục ít nhất 06 tháng có quyền tự ứng cử, lập nhóm đề cử thành viên Ban kiểm soát; (ii) Trường hợp số lượng ứng cử viên được cổ đông, nhóm cổ đông đề cử thấp hơn số ứng cử viên mà họ được quyền đề cử hoặc các ứng cử viên được đề cử không đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định thì số ứng cử viên còn lại do Hội đồng quản trị hoặc Ban kiểm soát các cổ đông khác đề cử.
Nguyên tắc bầu bổ sung thành viên Hội đồng quản trị ngân hàng Thương mại cổ phần: (i) Phương thức bầu dồn phiếu quy định tại khoản 3 Điều 148 của Luật Doanh Nghiệp năm 2020 được áp dụng đối với việc bầu bổ sung thành viên Hội đồng quản trị Vietbank nhiệm kỳ 2016-2020; (ii) Mỗi cổ đông có tổng số phiếu biểu quyết tương ứng với tổng số cổ phần sở hữu nhân với số thành viên được bầu. Cổ đông có quyền dồn hết hoặc một phần tổng số phiếu bầu của mình cho một hoặc một số ứng cử viên; (iii) Tổng số phiếu bầu cho các ứng viên của một cổ đông không vượt quá tổng số phiếu bầu được phép của cổ đông đó.
Nguyên tắc trúng cử thành viên Hội đồng quản trị: Danh sách ứng viên trúng cử vào Hội đồng quản trị được xác định theo số phiếu bầu tính từ cao xuống thấp, bắt đầu từ ứng cử viên có số phiếu bầu cao nhất cho đến khi đủ số lượng thành viên theo quy định tại Điều lệ Vietbank và tỉ lệ phiếu bầu đạt tỷ lệ trên 51 % tổng số phiếu bầu cho từng ứng cử viên trên tổng số cổ phần có quyền biểu quyết của cổ đông tham dự họp Đại hội đồng cổ đông; Trường hợp có từ hai ứng cử viên trở lên đạt số phiếu bầu như nhau thì sẽ tiến hành bầu lại trong số các ứng cử viên có số phiếu bầu ngang nhau; Trường hợp không có thành viên Hội đồng quản trị trúng cử theo nguyên tắc quy định ở trên thì Đại hội đồng cổ đông quyết định thông qua mà không cần bầu bổ sung ngay tại Đại hội…. Luận văn: Thực trạng PL tổ chức của hội đồng quản trị ngân hàng.
Theo Khoản 6 Điều 43 Điều lệ của VCB được ban hành ngày 30/03/2021, đối tượng được đề cử gồm: Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông của VCB trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng có quyền giới thiệu bản thân mình hoặc đại diện của tổ chức mình hoặc cá nhân khác hoặc đại diện của tổ chức khác vào chức danh thành viên Hội đồng quản trị. Ngoài ra, người được đề cử làm thành viên Hội đồng quản trị VCB phải được Ngân hàng nhà nước Việt Nam chấp thuận bằng văn bản và luôn đảm bảo tuân thủ các tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định của pháp luật và Điều lệ VCB trong suốt thời gian đảm nhiệm chức vụ.
Theo Điều 43 Điều lệ VCB về Hội đồng quản trị và nguyên tắc đề cử: Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 10% đến dưới 20% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết trong thời hạn liên tục ít nhất sáu tháng được đề cử tối đa 01 ứng cử viên; từ 20% đến dưới 30% được đề cử tối đa 02 ứng cử viên; từ 30% đến dưới 40 % được đề cử tối đa 03 ứng cử viên; từ 40% đến dưới 50% được đề cử tối đa 04 ứng cử viên từ 50% đến dưới 60% được đề cử tối đa 05 ứng cử viên; từ 60% đến dưới 70% được đề cử tối đa 06 ứng cử viên; từ 70% đến dưới 80% được đề cử tối đa 07 ứng cử viên; từ 80% đến dưới 90% được đề cử tối đa 08 ứng cử viên.
Như vậy, việc ứng cử, đề cử bổ sung thành viên Hội đồng quản trị của các ngân hàng Thương mại cổ phần chủ yếu dựa vào quy định Điều lệ của ngân hàng nên về cơ bản cũng phù hợp với quy định của Luật Doanh Nghiệp cũng như hệ thống các văn bản chuyên ngành hiện hành.
2.2.2. Thực tiễn áp dụng quy định về tiêu chuẩn về điều kiện thành viên Hội đồng quản trị theo các mô hình tổ chức Hội đồng quản trị của ngân hàng thương mại cổ phần
Theo quy định tại Luật Doanh Nghiệp 2020, thành viên Hội đồng quản trị phải có các tiêu chuẩn và điều kiện sau đây: (i) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, không thuộc đối tượng không được quản lý doanh nghiệp theo quy định tại khoản 2 Điều 17 của Luật Doanh Nghiệp 2020. Khi Công ty cổ phần được tổ chức theo mô hình quy định tại khoản 1 Điều 137 Luật Doanh Nghiệp 2020.
Thành viên Hội đồng quản trị, thành viên độc lập Hội đồng quản trị khi đáp ứng đủ các điều kiện quy định như trên không đương nhiên trở thành thành viên Hội đồng quản trị. Cá nhân muốn trở thành viên Hội đồng quản trị hoặc Thành viên độc lập Hội đồng quản trị phải tự ứng cử hoặc được đề cử sau đó được Đại hội đồng cổ đông bầu tại Cuộc họp đại hội đồng cổ đông. Theo quy định tại Điều 115 Luật Doanh Nghiệp 2020, Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên trong thời hạn liên tục ít nhất 06 tháng hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty có các quyền đề cử người vào Hội đồng quản trị. Trường hợp Điều lệ công ty không có quy định khác thì việc đề cử người vào Hội đồng quản trị quy định tại Điều 115 Luật Doanh Nghiệp 2020 được thực hiện như sau: Luận văn: Thực trạng PL tổ chức của hội đồng quản trị ngân hàng.
- Các cổ đông phổ thông hợp thành nhóm để đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát phải thông báo về việc họp nhóm cho các cổ đông dự họp biết trước khi khai mạc Đại hội đồng cổ đông;
- Căn cứ số lượng thành viên Hội đồng quản trị, cổ đông hoặc nhóm cổ đông được quyền đề cử một hoặc một số người theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông làm ứng cử viên Hội đồng quản trị. Trường hợp số ứng cử viên được cổ đông hoặc nhóm cổ đông đề cử thấp hơn số ứng cử viên mà họ được quyền đề cử theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông thì số ứng cử viên còn lại do Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và các cổ đông khác đề cử.
Ví dụ: Theo thông báo của Ngân hàng thương mại cổ phần VCB ngày 30/03/2021 thì, tiêu chuẩn và điều kiện trở thành thành viên Hội đồng quản trị được chia thành: (i) Những trường hợp không được là thành viên Hội đồng quản trị như: Người chưa thành niên, người bị hạn chế hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự; Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đang chấp hành bản án, quyết định về hình sự của Tòa án; Cán bộ, công chức, người quản lý từ cấp phòng trở lên trong các doanh nghiệp mà nhà nước nắm giữ từ 50% vốn điều lệ trở lên, trừ người được cử làm đại diện quản lý phần vốn góp của nhà nước tại Tổ chức tín dụng….(ii) Những trường hợp không cùng đảm nhiệm chức vụ thành viên Hội đồng quản trị như: Thành viên Hội đồng quản trị không được đồng thời là Người quản lý của Tổ chức tín dụng khác trừ trường hợp tổ chức này là công ty của VCB…, chủ tịch Hội đồng quản trị không được đồng thời là người điều hành của VCB; …
(iii) Tiêu chuẩn và các điều kiện khác đối với thành viên Hội đồng quản trị như: Thành viên Hội đồng quản trị phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện: Có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, không thuộc đối tượng bị cấm quản lý Ngân hàng theo quy định của Luật doanh nghiêp; Có sức khỏe, có đạo đức nghề nghiệp và trung thực, có bằng Đại học trở lên…(iv) Người được đề cử làm thành viên Hội đồng quản trị VCB phải được Ngân hàng nhà nước Việt Nam chấp thuận bằng văn bản và luôn đảm bảo đủ các tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định của pháp luật và Điều lệ VCB trong suốt thời gian đảm nhận chức vụ.
Đối với Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thương tín, theo Quy chế đề cử, ứng cử và bầu bổ sung thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát ngân hàng Thương mại cổ phần Vietbank nhiệm kỳ 20162020 thì điều kiện để trở thành thành viên Hội đồng quản trị ngân hàng Thương mại cổ phần Vietbank phải là: (i) Những trường hợp không thuộc đối tượng không được đảm nhận chức vụ theo quy định như: Người chưa thành niên, người bị hạn chế hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự; Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đang chấp hành bản án, quyết định về hình sự của Tòa án; Cán bộ, công chức, người quản lý từ cấp phòng trở lên trong các doanh nghiệp mà nhà nước nắm giữ từ 50% vốn điều lệ trở lên, trừ người được cử làm đại diện quản lý phần vốn góp nhà nước tại Ngân hàng…(ii) Tuân thủ quy định về các trường hợp không cùng đảm nhiệm chức vụ theo quy định; (iii) Có đạo đức nghề nghiệp; (iii) Có bằng đại học trở lên; (iv) Có ít nhất 03 năm làm quản lý, người điều hành của Tổ chức tín dụng hoặc có ít nhất 05 là người quản lý, người điều hành của doanh nghiệp hoạt động trong ngành tài chính…và nhiều điều kiện khác theo quy định tại mục 3 thuộc quy chế này.
2.2.3. Thực tiễn áp dụng quy định về miễn nhiệm, bãi nhiệm và bổ sung thành viên của Hội đồng quản trị Luận văn: Thực trạng PL tổ chức của hội đồng quản trị ngân hàng.
HĐQT là cơ quan quản lý của Công ty cổ phần. Theo đó, thành viên Hội đồng quản trị phải đáp ứng đầy đủ điện, tiêu chuẩn cũng như thực hiện đúng nghĩa vụ của mình. Trong các trường hợp cần thiết, thành viên Hội đồng quản trị có thể bị Đại hội đồng cổ đông miễn nhiệm, bãi nhiệm, thay thế và bổ sung. Về miễn nhiệm: Khoản 1 Điều 160 Luật Doanh Nghiệp 2020 quy định:
“Điều 160. Miễn nhiệm, bãi nhiệm, thay thế và bổ sung thành viên Hội đồng quản trị
- Đại hội đồng cổ đông miễn nhiệm thành viên Hội đồng quản trị trong trường hợp sau đây:
- Không có đủ tiêu chuẩn và điều kiện theo quy định tại Điều 155 của Luật này;
- Có đơn từ chức và được chấp thuận;
- Trường hợp khác quy định tại Điều lệ công ty.”
Đại hội đồng cổ đông có quyền miễn nhiệm thành viên Hội đồng cổ đông nếu như:
- Thành viên Hội đồng cổ đông không đáp ứng điều kiện hoặc tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật
- Do ý chí, đề nghị của thành viên Hội đồng quản trị không muốn tiếp tục hoạt động.
Theo đó, thành viên Hội đồng quản trị phải nộp đơn từ chức và được chấp thuận.
- Trường hợp khác quy định Điều lệ công ty.
Về bãi nhiệm: Pháp luật doanh nghiệp không có định nghĩa cụ thể nhưng theo Khoản 7 Điều 7 Luật Cán bộ công chức hiện hành có thể hiểu bãi nhiệm là việc một người không được tiếp tục giữ chức vụ, chức danh khi chưa hết nhiệm kỳ: Theo Khoản 2 Điều 160 Luật Doanh Nghiệp 2020 quy định: Luận văn: Thực trạng PL tổ chức của hội đồng quản trị ngân hàng.
“2. Đại hội đồng cổ đông bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị trong trường hợp sau đây:
- Không tham gia các hoạt động của Hội đồng quản trị trong 06 tháng liên tục, trừ trường hợp bất khả kháng;
- Trường hợp khác quy định tại Điều lệ công ty.”
Như vậy, có thể thấy, bãi nhiệm là hình thức xử lý kỷ luật đối với thành viên Hội đồng quản trị không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình. Cụ thể, nếu thành viên Hội đồng quản trị không tham gia các hoạt động của Hội đồng quản trị trong 06 tháng liên tục, trừ trường hợp bất khả kháng hoặc vi phạm những quy định khác do Điều lệ công ty quy định thì Đại hội đồng cổ đông sẽ có quyền bãi nhiệm thành viên này.
Ví dụ: Điều lệ VPBank được Ngân hàng nhà nước chuẩn y ngày 18/09/2003 theo quyết định số 1099/QĐ-NHNN và chuẩn y việc sửa đổi bổ sung ngày 28/05/2009 theo quyết định số 1320/QĐ-NHNN, theo đó: Đại hội đồng cổ đông bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị với số cổ đông đại diện ít nhất 51% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp chấp thuận. Hội đồng quản trị bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch Hội đồng quản trị. Hội đồng quản trị bao gồm ít nhất 3 thành viên và nhiều nhất 11 thành viên. Mỗi thành viên Hội đồng quản trị phải sở hữu tối thiểu 200.000 (hai trăm nghìn) cổ phần của Ngân hàng. Mỗi thành viên Hội đồng quản trị có nhiệm kỳ 4 năm và có thể được bầu lại tại Đại hội đồng cổ đông tiếp theo. Khi bầu các thành viên của Hội đồng quản trị, Ngân hàng phải dự kiến ít nhất một phần ba số thành viên Hội đồng quản trị sẽ tham gia bầu cử hoăc tái bầu cử trong Đại hội đồng cổ đông thường niên. Việc bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm và từ chức của Chủ tịch, và các thành viên Hội đồng quản trị phải được thực hiện theo quy định pháp luật hiện hành và Điều lệ này. Trình tự, thủ tục, hồ sơ xin thay đổi và chuẩn y việc bầu, bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch, và các thành viên Hội đồng quản trị được thực hiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Kết quả bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch, và các thành viên Hội đồng quản trị của Ngân hàng phải được Ngân hàng nhà nước chuẩn y. Luận văn: Thực trạng PL tổ chức của hội đồng quản trị ngân hàng.
Trong thông báo ngày 16/12/2021 Đại hội cổ đông thường niên năm tài chính 2020 của Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn (SCB) đã thống nhất miễn nhiệm 03 Thành viên Hội đồng quản trị (gồm Ông Đinh Văn Thành; Ông Võ Tấn Hoàng Văn; Ông Nguyễn Văn Thanh Hải) nhiệm kỳ 2017- 2022 do có đơn xin từ nhiệm vì lý do cá nhân…
Theo thông báo về Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2021 vào ngày 08/07/2021, Eximbank triệu tập cổ đông bất thường xem xét miễn nhiệm thành viên Hội đồng quản trị, theo đó tại Đại hội cổ đông, Hội đồng quản trị của ngân hàng này đã kiến nghị miễn nhiệm 5 thành viên Hội đồng quản trị nhiệm kỳ 2015 – 2020 của nhóm cổ đông lớn gồm: Công ty cổ phần Rồng Ngọc, Công ty cổ phần Đầu tư và dịch vụ Helios, Công ty cổ phần Thắng Phương, bà Thái Thị Mỹ Sang và bà Lưu Như Trân. Nhóm cổ đông này hiện chiếm khoảng 10,3% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết tại Eximbank.
Nhóm cổ đông này đề nghị miễn nhiệm 5 thành viên Hội đồng quản trị nhiệm kỳ VI (2015 – 2020), gồm ông Yasuhiro Saitoh hiện là Chủ tịch Hội đồng quản trị và các ông Lê Minh Quốc, Cao Xuân Ninh, Lê Văn Quyết và Ngô Thanh Tùng. Việc miễn nhiệm có hiệu lực kể từ thời điểm đại hội đồng cổ đông Eximbank thông qua quyết định miễn nhiệm đối với từng thành viên trong Hội đồng quản trị.
Như vậy, có thể thấy, miễn nhiệm là hình thức giải quyết cho việc thôi không giữ chức vụ nữa và không mang tính chất xử phạt.
Về bổ sung thành viên Hội đồng quản trị: Theo Khoản 3 Điều 160 Luật Doanh Nghiệp 2020 thì: Hội đồng quản trị cần bổ sung thành viên trong các trường hợp:
Thứ nhất, cần bổ sung thành viên theo đúng Điều lệ công ty: Nếu số lượng thành viên Hội đồng bị giảm quá một phần ba so với số quy định tại Điều lệ. Ví dụ số lượng thành viên Hội đồng quản trị theo Điều lệ công ty quy định là 9 người, nếu giảm quá một phần ba tức là giảm đi 4 thành viên. Trong trường hợp này, Hội đồng quản trị phải triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông để bầu bổ sung thành viên.
Thứ hai, bổ sung thành viên độc lập theo quy định của pháp luật: Công ty cổ phần tổ chức theo mô hình không có Ban kiểm soát thì công ty bắt buộc phải có ít nhất 20% số thành viên Hội đồng quản trị phải là thành viên độc lập và có Ủy ban kiểm toán trực thuộc Hội đồng quản trị (Điểm b Khoản 1 Điều 137 Luật Doanh Nghiệp 2020). Như vậy, trong trường hợp số lượng thành viên độc lập Hội đồng quản trị giảm xuống, không bảo đảm tỷ lệ trên thì Hội đồng quản trị cần bổ sung thành viên.
Một thực tiễn có thể nhận thấy áp dụng rất khó khăn trong Ngân hàng Thương mại Cổ phần là một tổ chức kinh tế hoạt động mang tính đặc thù thì Hội đồng quản trị sẽ có chức năng nhiệm vụ theo điều 63 để quản trị ngân hàng có hiệu quả. Tại khoản 5 điều 63 lại quy định rất cụ thể: Bổ nhiệm, miễn nhiệm, kỷ luật, đình chỉ và quyết định mức lương, lợi ích khác đối với các chức danh Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó giám đốc), Kế toán trưởng, Thư ký Hội đồng quản trị và người quản lý, người điều hành khác theo quy định nội bộ của Hội đồng quản trị. Tuy nhiên, tại điều 64 của văn bản hợp nhất Luật các tổ chức tín dụng năm 2017 lại không quy định chức năng của ai là người có thẩm quyền ký hợp đồng lao động với các vị trí này trong trường hợp Ngân hàng thương mại cổ phần thuê họ về làm việc hoặc khi họ không còn làm việc nữa bới hết hạn hợp đồng hoặc môi trường làm việc của họ không còn phù hợp nữa. Tác giả nhận thấy đây là một thực trạng rất bất cập trong quá trình áp dụng quy định của pháp luật đối với Ngân hàng thương mại cổ phần, rât cần thiết phải kiến nghị sửa đổi bổ sung quy định của Luật các tổ chức tín dụng hiện hành để pháp luật được hoàn thiện hơn.
2.2.4. Thực tiễn áp dụng quy định về trách nhiệm và nghĩa vụ của Hội đồng quản trị, thành viên của Hội đồng quản trị Luận văn: Thực trạng PL tổ chức của hội đồng quản trị ngân hàng.
HĐQT phải tuân thủ đầy đủ trách nhiệm và nghĩa vụ theo quy định của Luật Doanh Nghiệp, các văn bản pháp luật liên quan. Hội đồng quản trị chịu trách nhiệm trước các cổ đông về hoạt động của công ty. Hội đồng quản trị chịu trách nhiệm đảm bảo hoạt động của công ty tuân thủ các quy định của pháp luật, Điều lệ và các quy định nội bộ của công ty, đối xử bình đẳng đối với tất cả cổ đông và tôn trọng lợi ích của người có quyền lợi liên quan đến công ty. Hội đồng quản trị xây dựng các quy định về trình tự, thủ tục đề cử, ứng cử, bầu, miễn nhiệm và bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị và trình tự, thủ tục tổ chức họp Hội đồng quản trị….
Ngoài ra, trách nhiệm, nghĩa vụ của Hội đồng quản trị, các thành viên của Hội đồng quản trị các ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam được quy định cụ thể, chi tiết tại Điều lệ hoạt động của các ngân hàng.
Thời gian gần đây xảy ra nhiều vụ án liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp nói chung và tại một số Ngân hàng thương mại cổ phần nói riêng và việc chỉ đạo, điều hành sản xuất, kinh doanh của các nhà quản trị. Liên quan đến vụ án Vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các Tổ chức tín dụng; Cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng xảy ra tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank), Ngân hàng Thương mại cổ phần Xây dựng Việt Nam (VNCB), Ngân hàng Đại Dương (Ocean Bank), … trong năm 2017, nhiều cán bộ lãnh đạo của các ngân hàng đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Điển hình Trong đại án OceanBank, bên cạnh 34 giám đốc ngân hàng bị khởi tố còn 227 cán bộ khác có dấu hiệu vi phạm pháp luật vì chi lãi suất ngoài hợp đồng, 51.860 khách hàng nhận tiền cao hơn lãi suất trần… Hai bị cáo được chú ý nhiều nhất là ông Hà Văn Thắm – nguyên Chủ tịch Hội đồng quản trị và Nguyễn Xuân Sơn – Tổng Giám đốc Ocean Bank… lập công ty, thâu tóm hoạt động ngân hàng. Cáo trạng vụ án OceanBank do Viện KSND tối cao ban hành thể hiện, hành vi của ông Hà Văn Thắm cùng Ban giám đốc OceanBank đã đẩy ngân hàng này vào khoản nợ xấu 15.000 tỷ đồng, âm vốn chủ sở hữu 2,5 lần. Ngân hàng nhà nước phải mua lại với giá 0 đồng.
Đây không phải là lần đầu tiên các cán bộ ngân hàng bị truy cứu trách nhiệm. Thực tế, rất nhiều vụ đại án khiến dư luận quan tâm như vụ án Nguyễn Đức Kiên (Bầu Kiên), Huỳnh Thị Huyền Như, Phạm Công Danh… Nhiều cán bộ ngân hàng đã phải vướng vào vòng lao lý. Trong đại án Bầu Kiên, hàng loạt cán bộ ngân hàng ACB đã phải lãnh án vì ủy thác cho nhân viên đi gửi tiền tại ViettinBank để hưởng tiền “hoa hồng” ngoài hợp đồng.
Như vụ Phạm Công Danh – nguyên Chủ tịch Hội đồng quản trị VNCB (nay là ngân hàng Đại Tín TrustBank) “vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các Tổ chức tín dụng” chiếm đoạt của TrustBank 471 tỷ đồng; lập ra 12 công ty ma để vay tiền… Ngoài ông Danh, nhiều nguyên lãnh đạo của Sacombank, BIDV và cán bộ TPBank như Trầm Bê (Phó Chủ tịch Hội đồng tín dụng Sacombank), Hoàng Long Hà (nguyên Phó Giám đốc BIDV Chi nhánh Gia Định)… đều bị truy tố ở khung hình phạt 10 – 20 năm tù.. Luận văn: Thực trạng PL tổ chức của hội đồng quản trị ngân hàng.
Như vậy, có thể thấy rằng Hội đồng quản trị của Ngân hàng thương mại cổ phần đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với hoạt động của ngân hàng.Vì vậy, các ngân hàng muốn hoạt động có hiệu quả, tránh rủi ro từ phía hậu quả do các thành viên Hội đồng quản trị gây ra thì Hội đồng quản trị các ngân hàng phải có nghĩa vụ xây dựng chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của thành viên Hội đồng quản trị, những người lãnh đạo, điều hành trong Ngân hàng thương mại cổ phần.
2.3. Nhận xét chung về thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật hiện hành về tổ chức của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần
2.3.1. Về ưu điểm
Pháp luật điều chỉnh quan hệ phát sinh trong tổ chức quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam được nhìn nhận là tổng thể các quy phạm pháp luật được ban hành bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trong đó xác lập các quy tắc xử sự cho các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần. Khuôn khổ pháp luật này có thể phân loại thành các quy phạm pháp luật quản trị chung áp dụng với các Công ty cổ phần; khuôn khổ pháp luật quản trị công ty áp dụng đối với các công ty niêm yết và khuôn khổ pháp luật quản trị áp dụng đối với các Ngân hàng thương mại cổ phần. Theo quy định pháp luật hiện hành thì Ngân hàng thương mại cổ phần vừa đáp ứng các tiêu chuẩn chung về quản trị công ty được quy định trong Luật Doanh Nghiệp, vừa thể hiện những nét riêng của quản trị công ty trong lĩnh vực ngân hàng được xem là lĩnh vực kinh doanh đặc biệt. Ở Việt Nam hiện nay, hoạt động của Ngân hàng thương mại cổ phần được điều chỉnh bởi Luật Các Tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và văn bản dưới luật. Bên cạnh đó, theo Luật Doanh nghiệp năm 2010, do Ngân hàng thương mại cổ phần cũng là Công ty cổ phần nên quản trị trong Ngân hàng thương mại cổ phần cũng chịu sự điều chỉnh của pháp luật doanh nghiệp dưới phương diện là văn bản pháp luật chung quản trị doanh nghiệp. Đồng thời, theo Luật Chứng khoán 2006 được sửa đổi, bổ sung năm 2010 và Nghị định 155/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ, các Ngân hàng thương mại cổ phần còn là công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán nên hoạt động quản trị của Ngân hàng thương mại cổ phần còn chịu sự điều chỉnh của pháp luật chứng khoán.
Nhìn chung các quy định pháp luật hiện hành về quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam là tương đối đầy đủ, cụ thể: Pháp luật đã lựa chọn mô hình tổ chức, quản lý, điều hành khá phù hợp; Có những quy định về bảo vệ lợi ích của cổ đông; Có những quy định cụ thể về tính công khai, minh bạch, hoạt động kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ…
2.3.2. Về hạn chế Luận văn: Thực trạng PL tổ chức của hội đồng quản trị ngân hàng.
Một là, trong ngân hàng, vai trò của Hội đồng quản trị đặc biệt quan trọng vì các quyết định của Hội đồng quản trị có ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại của Ngân hàng thương mại cổ phần. Trong khi đó, hoạt động ngân hàng đòi hỏi tính cạnh tranh rất mạnh mẽ và do đó, để tối đa hóa quyền lợi của cổ đông, nghĩa là, chạy theo mục tiêu lợi nhuận, Hội đồng quản trị có thể triển khai các thủ đoạn cạnh tranh không lành mạnh, làm ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh ngân hàng. Để bảo đảm an toàn hoạt động, các Ngân hàng thương mại cổ phần phải tuân thủ các quy định quản trị rủi ro rất chặt chẽ. Trong khi đó, hoạt động ngân hàng luôn phải đối diện với tình trạng thông tin không cân xứng ở mức độ cao, điều này càng làm cho thực tiễn quản trị công ty trong ngân hàng trở nên khó khăn, phức tạp hơn, bởi lẽ, Hội đồng quản trị phải giải quyết đồng thời nhiều quan hệ lợi ích xung đột như tuân thủ quy định bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng với việc tối đa hóa lợi nhuận cho ngân hàng; khả năng bị chi phối, lôi kéo thành viên Hội đồng quản trị bởi các lực lượng thị trường; tính minh bạch thông tin trên thị trường ngân hàng rất thấp… đã làm cho rủi ro trong thực tiễn quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần tăng lên đáng kể. Tuy nhiên, các quy định hiện hành vẫn còn tồn tại một số bất cập như:
- Chưa phân định rõ ràng nhiệm vụ, quyền hạn của chủ tịch Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc hoặc Giám đốc nên dễ dẫn đến hệ quả là, chủ tịch Hội đồng quản trị vẫn còn can thiệp khá sâu và hoạt động điều hành của Tổng giám đốc hoặc Giám đốc. Nói cách khác, pháp luật quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần chưa phân định rõ chức năng quản lý với chức năng điều hành.
- Quy định trách nhiệm công khai thông tin về các lợi ích liên quan của người quản lý, điều hành Ngân hàng thương mại cổ phần chưa cụ thể. Hệ quả của tình trạng này là cổ đông chưa kiểm soát được các giao dịch của Ngân hàng thương mại cổ phần với các bên liên quan.
Hai là, chưa thiết lập được khung chuẩn mực đạo đức quản trị Ngân hàng thương mại. Khi thực hiện các nghiên cứu về đạo đức kinh doanh nói chung, đạo đức kinh doanh ngân hàng nói riêng chúng tôi nhận thấy, các chuẩn mực đạo đức kinh doanh ngân hàng đã được các Tổ chức tín dụng quan tâm từ việc thiết lập tới việc thực hành các chuẩn mực đạo đức này trong thực tiễn kinh doanh. Quyết định số 21/QĐ-HHNH ngày 20/6/2014 của Hội đồng Hiệp hội ngân hàng về việc ban hành Quy tắc đạo đức của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam cho thấy Hiệp hội Ngân hàng cũng đã xây dựng và áp dụng bộ qui tắc đạo đức ngân hang đối với thành viên của Hiệp hội. Tuy nhiên, ở cấp độ quốc gia, Ngân hàng Nhà nước cũng cần có bộ quy tắc đạo đức ngân hàng và bộ quy tắc đạo đức quản trị ngân hàng. Luận văn: Thực trạng PL tổ chức của hội đồng quản trị ngân hàng.
Ba là, theo Nguyễn Quang Hiền (2015) và Phùng Thị Hường (2015) diễn biến tình hình tội phạm do người, một bộ phận người quản lý, điều hành Ngân hàng thương mại cổ phần đang có chiều hướng gia tăng với tính chất, mức độ thiệt hại ngày càng nghiêm trọng đặt ra yêu cầu phải nâng cao hơn nữa hiệu quả giám sát từ bên trong.
Bốn là, vấn đề giám sát điều hành kinh doanh của Hội đồng quản trị: Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý ngân hàng, có toàn quyền nhân danh ngân hàng để quyết định và thực hiện quyền và nghĩa vụ của ngân hàng không thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông. Mọi hoạt động kinh doanh và công việc nội bộ trong ngân hàng đều thuộc sự quản lý của Hội đồng quản trị. Từ quyền quản lý chung và tổ chức ngân hàng bao gồm: quyết định cơ cấu tổ chức, quy chế quản lý nội bộ của ngân hàng, quyết định thành lập các công ty con, lập Chi nhánh, Phòng giao dịch…. Đến các quyền về mục tiêu chiến lược, phương hướng hoạt động, phát triển ngân hàng. Với tư cách là chủ thể quản lý, Hội đồng quản trị quyết định phương hướng, chiến lược kinh doanh của ngân hàng. Với tư cách là chủ thể giám sát, Hội đồng quản trị giám sát Tổng giám đốc/GĐ trong việc tổ chức thực hiện các quyết định kế hoạch kinh doanh, phương án đầu tư mà Hội đồng quản trị đã thông qua, cũng như việc thực hiện các quyền hạn và trách nhiệm của Tổng giám đốc/GĐ trong Hợp đồng lao động đã ký.Thực hiện chức năng giám sát vừa giúp cho Hội đồng quản trị có thể đánh giá được hiệu quả làm việc của Tổng giám đốc/GĐ, những người quản lý cấp cao khác, vừa có thể xác định lại tính đúng đắn và hợp lý của phương hướng chiến lược phát triển của ngân hàng do chính Hội đồng quản trị ban hành từ đó có biện pháp xử lý phù hợp. Ngược lại khi thực hiện chức năng quản lý Hội đồng quản trị có nhiều điều kiện thuận lợi để làm tốt vai trò giám sát do Hội đồng quản trị am hiểu về các hoạt động của ngân hàng.
Mặc dù Luật Doanh Nghiệp và Luật các Tổ chức tín dụng không phân biệt thành viên Hội đồng quản trị điều hành và không điều hành cũng như không phân tách trách nhiệm của các thành viên Hội đồng quản trị khi thực hiện hai chức năng quản lý và giám sát mà tất cả các chức năng trên đều được thực hiện bởi Hội đồng quản trị nói chung. Thông tư 116/2020/TT-BTC đã quy định có phần chặt chẽ hơn trên cơ sở tiếp cận quy chế quản trị tiến bộ cuả các nước có nền kinh tế phát triển. Theo đó, quy định như sau: “2. Công ty đại chúng cần hạn chế thành viên Hội đồng quản trị kiêm nhiệm các chức danh quản lý trong bộ máy điều hành của công ty để đảm bảo tính độc lập của Hội đồng quản trị”. Tuy nhiên xét về mặt tổng thể quy định của pháp luật Việt Nam về Hội đồng quản trị vẫn còn nghiêng về khía cạnh quản lý trực tiếp và còn mờ nhạt về vấn đề giám sát, trong khi đó, các nguyên tắc về quản trị công ty của OECD thiên về giám sát, định hướng đối với hoạt động kinh doanh của Công ty. Theo các nguyên tắc về quản trị công ty của OECD năm 2004, thẩm quyền và trách nhiệm của Hội đồng quản trị bao gồm: thẩm tra và hướng dẫn thực hiện chiến lược, các kế hoạch hành động quan trọng, các chính sach rủi ro, ngân sách và kế hoạch kinh doanh hàng năm, giám sát việc chi tiêu lớn, sáp nhập và đa dạng hoá hoạt động kinh doanh của công ty; chỉ đạo hiệu quả hoạt động quản trị công ty và tiến hành các thay đổi trong trường hợp cần thiết, giám sát và quản lý các xung đột về lợi ích tiềm tàng trong quản lý điều hành của thành viên Hội đồng quản trị, giám sát việc minh bạch hoá thông tin… Như vậy theo quy tắc quản trị tiến bộ, vai trò giám sát của thành viên Hội đồng quản trị được chú trọng hơn so với vai trò điều hành. Hội đồng quản trị chỉ can thiệp vào những vấn đề lớn của Công ty nhằm hoạch định chiến lược và không can thiệp vào quá sâu hoạt động điều hành hàng ngày. Lý giải cho các nguyên tắc quản trị này, trong đợt đánh giá năng lực quản trị điều hành tại Việt Nam, đại diện ngân hàng thế giới cho rằng Hội đồng quản trị cần phải tách bạch khỏi Ban điều hành để đảm bảo Ban điều hành thực hiện hoạt động kinh doanh hàng ngày dựa trên chiến lược kế hoạch đã hoạch định và không bị chi phối bởi Hội đồng quản trị khi ra các quyết định kinh doanh, đầu tư thuộc thẩm quyền của Ban điều hành. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam hiện hành liên quan đến quyền và nghĩa vụ của Hội đồng quản trị có một số quy định đi ngược lại với các nguyên tắc quản trị của OECD. Theo quy định tại Khoản 4 Điều 63 văn bản hợp nhất Luật các Tổ chức tín dụng 2017: Hội đồng quản trị là cơ quan quyết định việc thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện, đơn vị sự nghiệp của ngân hàng. Trong đó Chi nhánh là đơn vị phụ thuộc Ngân hàng thương mại, hạch toán phụ thuộc, có con dấu, có nhiệm vụ thực hiện một hoặc một số chức năng của Ngân hàng thương mại theo quy định của pháp luật, còn Văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc Ngân hàng thương mại, có con dấu, thực hiện chức năng đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng thương mại. Văn phòng đại diện không được thực hiện hoạt động kinh doanh. Nhìn chung quy định của LCTCTD khá phù hợp với các nguyên tắc quản trị của OECD, Hội đồng quản trị sẽ chỉ can thiệp vào việc thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện và đơn vị sự nghiệp. Hiện nay số lượng chi nhánh của các Ngân hàng thương mại rất bị giới hạn, cụ thể theo Điều 7 Thông tư 03/2019/VBHN-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của Ngân hàng thương mại thì “Ngân hàng thương mại có thời gian hoạt động dưới 12 tháng (tính từ ngày khai trương hoạt động đến thời điểm đề nghị) được phép thành lập không quá ba (03) chi nhánh và các chi nhánh này không được thành lập trên cùng một địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Ngân hàng thương mại có thời gian hoạt động từ 12 tháng trở lên (tính từ ngày khai trương hoạt động đến thời điểm đề nghị) được phép thành lập không quá năm (05) chi nhánh trong một (01) năm tài chính”. Có thể thấy theo quy định pháp luật hiện hành việc thành lập một chi nhánh đối với một Ngân hàng thương mại khá hạn chế, do đó, Luật các Tổ chức tín dụng quy định Hội đồng quản trị là cơ quan quyết định việc thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện là hợp lý và có cơ sở. Tuy nhiên, tinh thần này đã không được tiếp thu bởi quy định trong văn bản dưới luật của Ngân hàng Nhà nước là Thông tư 33/2019/VBHN-NHNN quy định về mạng lưới của Ngân hàng thương mại. Theo đó, thông tư này quy định hồ sơ đề nghị chấp thuận đủ điều kiện thành lập chi nhánh, phòng giao dịch là như nhau và yêu cầu phải có:“Nghị quyết của Hội đồng quản trị về việc thành lập chi nhánh, phòng giao dịch, văn phòng đại diện, đơn vị sự nghiệp ở trong nước; chi nhánh, văn phòng đại diện ở nước ngoài. Trong đó, đối với việc thành lập phòng giao dịch, Nghị quyết của Hội đồng quản trị phải nêu rõ tên, địa điểm đặt trụ sở, chi nhánh dự kiến quản lý phòng giao dịch, các nghiệp vụ phòng giao dịch sẽ thực hiện, phạm vi hoạt động về mặt địa lý và đối tượng khách hàng chính”. Như vậy, theo quy định của Thông tư 33/2019/VBHN-NHNN, Hội đồng quản trị sẽ can thiệp sâu không những chủ trương thành lập Phòng giao dịch mà cả địa điểm đặt trụ sở, mô hình tổ chức và phạm vi hoạt động…Quy định này thực tế đang làm cho vai trò giám sát của Hội đồng quản trị trở nên không tách bạch với điều hành và hậu quả là Ban điều hành sẽ bị chi phối rất nhiều trong việc lựa chọn địa điểm, nhân sự quản lý cho Phòng giao dịch, cũng như phạm vi hoạt động nghiệp vụ của Phòng giao dịch. Cũng chính từ đó sẽ phát sinh các quyết định mang tư lợi cho các thành viên Hội đồng quản trị. Theo thống kê về số lượng chi nhánh hoặc PGD của một số Ngân hàng thương mại cổ phần hiện nay tại Việt Nam, tính tới năm 2022 như sau: Vietcombank có hơn 572 Chi nhánh/ Phòng giao dịch đặt tại 53 tỉnh, thành phố trong cả nước; Sacombank có hơn 561 Chi nhánh/ Phòng giao dịch đặt tại 51 tỉnh, thành phố trong cả nước. Luận văn: Thực trạng PL tổ chức của hội đồng quản trị ngân hàng.
Có thể thấy số lượng Phòng giao dịch của các ngân hàng hiện rất lớn. Và chúng ta cũng phần nào hình dung được việc can thiệp sâu vào việc thành lập Phòng giao dịch có thể mang đến lợi ích cho các thành viên Hội đồng quản trị lớn thế nào và quan trọng hơn là vai trò giám sát hoạt động của Ban điều hành là vô cùng mờ nhạt. Hội đồng quản trị nắm trong tay những quyền quan trọng nhất vì vậy pháp luật nước nào cũng có những ràng buộc đối với Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị để họ có trách nhiệm làm tốt cả vai trò giám sát và vai trò điều hành của mình. Hội đồng quản trị chịu trách nhiệm trước Đại hội đồng cổ đông và chịu sự giám sát trực tiếp của Ban kiểm soát. Tuy nhiên vai trò mờ nhạt của Ban kiểm soát hiện nay trong các Ngân hàng thương mại cổ phần cũng là một thực trạng được ghi nhận trong rất nhiều nghiên cứu.
2.3.3. Nguyên nhân của những ưu điểm và hạn chế
Quá trình nghiên cứu và phân tích về tổ chức Hội đồng quản trị ngân hàng Thương mại cổ phần ở Việt Nam hiện nay có thể thấy, những bất cập ở trên xuất phát từ những yếu tố cơ bản như: vấn đề chủ trương của Nhà nước trong hoạt động quản trị ngân hàng; thực tiễn hoạt động ngân hàng và quản trị ngân hàng; các thông lệ, chuẩn mực quốc tế và pháp luật quốc tế; sự tương tác giữa các bộ phận pháp luật trong hệ thống pháp luật quốc gia; khả năng áp dụng pháp luật của các chủ thể trong xã hội; sự phát triển của công nghệ thông tin và việc áp dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực ngân hàng….
Thực tế cho thấy hiện nay có rất nhiều tập đoàn kinh tế nhà nước làm ăn thua lỗ nhưng các cơ quan của Đảng và Nhà nước của Việt Nam đã không cho phá sản theo Luật Phá sản mà cố duy trì và đưa ra các phương án tái cơ cấu. Ví dụ: việc ba Tổ chức tín dụng là Ngân hàng Xây dựng (VNCB), Ngân hàng Đại Dương (OceanBank) và Ngân hàng Dầu khí Toàn cầu (GPBank) đã được Ngân hàng nhà nước mua lại với giá 0 đồng, mà thực chất là lấy ngân sách nhà nước để khắc phục việc kinh doanh thua lỗ của các ngân hàng này. Điều này cho thấy sự can thiệp quá sâu từ phía các cơ quan Nhà nước vào tổ chức và hoạt động của các công ty, vi phạm nghiêm trọng các quy luật của nền kinh tế thị trường. Vừa qua, trong Nghị quyết của phiên họp Chính phủ chuyên đề xây dựng pháp luật tháng 4/2017 được Chính phủ ban hành đã có thảo luận về việc sẽ không đặt ra vấn đề Ngân hàng Nhà nước mua lại các ngân hàng với giá 0 đồng nữa. Trường hợp các Tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt sau khi đã thực hiện phương án phục hồi mà không thể phục hồi, thì ưu tiên phương án chuyển nhượng cho nhà đầu tư mới, cho Tổ chức tín dụng có năng lực tài chính tốt. Các cá nhân, tổ chức gây ra nợ xấu, thất thoát vốn, tài sản… của Tổ chức tín dụng phải chịu trách nhiệm và nghĩa vụ về hậu quả do mình gây ra. Chính phủ quyết định việc chuyển giao bắt buộc Tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt. Trường hợp không chuyển giao được mà không thể phá sản thì thu hẹp dần hoạt động để xử lý, giải thể, chấm dứt hoạt động. Chính sách này được coi là hướng đi mới, hạn chế sự can thiệp của các cơ quan Đảng và Nhà nước, đặc biệt là của Ngân hàng Nhà nước vào tổ chức và hoạt động của các ngân hàng thương mại, để cho các ngân hàng này tồn tại theo quy luật của thị trường. Khi các ngân hàng thương mại thực sự quá yếu kém thì cần phải cho chúng chấm dứt hoạt động (giải thể, phá sản) để làm sạch thị trường.
Thứ nhất, hiện theo Luật Doanh Nghiệp 2020, cơ chế bầu thành viên độc lập Hội đồng quản trị cũng tương tự như các thành viên Hội đồng quản trị khác, đó là được giới thiệu, đề cử bởi các cổ đông trong công ty. Điều này tiềm ẩn rủi ro là trên thực tế, bản thân cổ đông sẽ có sự “gài cắm” các lợi ích, chi phối việc giới thiệu, bầu thành viên độc lập Hội đồng quản trị và qua đó kiểm soát, chi phối quyết định của thành viên độc lập Hội đồng quản trị sau khi đã được bầu. Do có ràng buộc về lợi ích, những thành viên độc lập Hội đồng quản trị này khó có thể thực hiện công việc giám sát hoạt động của Hội đồng quản trị một cách độc lập khách quan.
Thứ hai, trong quá trình tham gia vào các hoạt động của Hội đồng quản trị dễ hình thành nên các mối quan hệ thân thiết nhất định với thành viên khác trong Hội đồng quản trị hoặc với cổ đông. Mối quan hệ này có thể là yếu tố gây cản trở việc thành viên độc lập Hội đồng quản trị đưa ra các ý kiến khách quan nếu có vi phạm của thành viên Hội đồng quản trị khác.
Thứ ba, hiện chưa hình thành “thị trường lao động” riêng cho các thành viên độc lập Hội đồng quản trị. Số lượng thành viên độc lập Hội đồng quản trị còn ít và chưa có cơ sở đào tạo chuyên nghiệp cho các đối tượng này. Do đó, vẫn còn tình trạng thiếu về số lượng, hạn chế về chất lượng.
Kết luận chương 2 Luận văn: Thực trạng PL tổ chức của hội đồng quản trị ngân hàng.
Ở Việt Nam, tính đến thời điểm này, quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần và pháp luật về tổ chức của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần còn là một vấn đề nóng đang đặt ra nhiều thách thức, nhất là khi số lượng Ngân hàng thương mại cổ phần gia tăng nhiều như hiện nay ở Việt Nam. Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu chuyên biệt về thực trạng pháp luật về tổ chức quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam là chưa nhiều. Dù vậy, một số công trình khoa học nghiên cứu về quản trị công ty hoặc quản trị ngân hàng nói chung cũng có những giá trị khoa học nhất định trong nghiên cứu thực trạng pháp luật về quản trị Ngân hàng thương mại. Luận văn: Thực trạng PL tổ chức của hội đồng quản trị ngân hàng.
Trong chương này, tác giả đã phân tích, khái quát thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật về tổ chức của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần. Từ đó đưa ra những đánh giá, nhận xét về quy định của pháp luật cũng như chỉ ra những bất cập trong quá trình áp dụng. Đây chính là những cơ sở khoa học cho việc đưa ra những kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật về tổ chức của Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần ở chương 3.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp PL về tổ chức của hội đồng quản trị ngân hàng

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
