Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng về người không được quyền hưởng di sản hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Người không được quyền hưởng di sản thừa kế theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Lịch sử hình thành pháp luật Việt Nam về người không được quyền hưởng di sản
2.1.1. Giai đoạn trước cách mạng tháng 8 năm 1945
Trước Cách mạng tháng 8 năm 1945 nước ta là một nước thuộc địa nửa phong kiến. Thực dân Pháp đã cấu kết với giai cấp địa chủ phong kiến Việt Nam để duy trì hệ thống pháp luật do chúng ban hành. Hệ thống pháp luật đó là công cụ để thực dân Pháp đàn áp và thực hiện chính sách khai thác thuộc địa tàn bạo của chúng. Pháp luật về thừa kế ở Việt Nam giai đoạn này chủ yếu được quy định trong hai Bộ dân luật. Đó là Dân luật Bắc Kỳ năm 1931, Bộ Dân luật Trung Kỳ 1936. Trong thời kỳ này tư tưởng trọng nam khinh nữ vẫn được giai cấp thống trị duy trì trong các quan hệ xã hội, trong quan hệ gia đình và trong cả các quy định của pháp luật [50, tr 64, 65].
Về người không có quyền hưởng di sản, pháp luật của chế độ thực dân phong kiến cũng có những quy định về người thừa kế không có quyền hưởng di sản của người quá cố người thừa kế bất xứng. Cả hai bộ Dân luật Bắc Kỳ và Trung Kỳ đều có quy định về người thừa kế không có quyền hưởng di sản quy định tại Điều 313 Dân luật Bắc Kỳ và Điều 306 Dân luật Trung Kỳ.
- Người đã bị người lập di chúc tuyên bố không xứng đáng được hưởng di sản của người lập di chúc
- Người có hành vi xâm phạm đến tính mạng người để lại di sản hoặc với danh nghĩa chính phạm hoặc đồng phạm hoặc tòng phạm.
- Người cố ý đả thương người lập di chúc hoặc ông bà, cha mẹ người ấy.
- Người đã trưởng thành biết được hành vi cố ý giết người mà không tố giác với Tòa án nhưng nếu kẻ sát nhân là cha, mẹ, anh, em vợ, chồng hoặc thân thuộc với người thừa kế thì không bị coi là có lỗi vì đã không tố giác.
- Người có hành vi vu khống người để lại di sản hoặc vu khống ông, bà, cha, mẹ người để lại di sản và người có hành vi vu khống ấy đã bị phạt về trọng tội hoặc phạt giam về tội trừng trị.
Như vậy những người không có quyền hưởng di sản quy định tại Điều 313 Dân luật Bắc Kỳ và Điều 306 Dân luật Trung Kỳ là những người thừa kế theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật, họ là những người có hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người để lại di sản hoặc xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của ông bà, cha mẹ người đó. Người thừa kế đã trưởng thành biết được hành vi cố ý giết người để lại di sản mà không tố giác tội xâm phạm đến tính mạng, nhưng sẽ không phải tố giác nếu kẻ giết người đó có quan hệ thân thuộc với người thừa kế như cha mẹ, anh em, vợ chồng hay những người thân thuộc với người thừa kế. Ngoài ra nếu người thừa kế có hành vi vu khống người để lại di sản, hoặc ông bà, cha mẹ người để lại di sản, hành vi này đã bị phạt về trọng tội hoặc bị phạt giam thì họ không có quyền nhận thừa kế từ người để lại di sản [50, tr 32].
Tuy nhiên so với quy định của Bộ luật dân sự hiện hành thì tại Điều 313 Dân luật Bắc Kỳ và Điều 306 Dân luật Trung Kỳ còn bổ sung thêm trường hợp người để lại di sản lập di chúc tuyên bố người thừa kế không xứng đáng được hưởng di sản của mình, người bị truất quyền thừa kế là người không được hưởng di sản do ý chí của người để lại di sản quyết định. Như vậy, Điều 313 Dân luật Bắc Kỳ và Điều 306 Dân luật Trung Kỳ đã thể hiện sự tôn trọng quyền tự định đoạt của người để lại di sản nên việc người để lại di sản truất quyền hưởng di sản của người thừa kế sẽ được pháp luật bảo hộ. Bên cạnh đó, đối với trường hợp thừa kế theo pháp luật cũng được đặt ra, tức là nếu khi người để lại di sản thừa kế truất quyền hưởng thừa kế thì người thừa kế vẫn được hưởng di sản nếu như đáp ứng các quy định của pháp luật theo hàng thừa kế như di sản được chia theo pháp luật khi không có chúc thư hoặc chúc thư vô hiệu và được chia theo thứ tự ưu tiên. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản ngang nhau. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế nếu không có ai ở hàng thừa kế trước. Người thừa kế hàng thứ nhất là các con. Con trai, con gái được chia di sản bằng nhau. Nếu cha hoặc mẹ chết trước hoặc chết cùng ông bà nội hoặc ông bà ngoại, thì các cháu thay thế cha hoặc mẹ nhận di sản của ông hoặc bà (thừa kế thế vị). Trong trường hợp người chết không có con thì di sản chia cho cha, mẹ (hàng thừa kế thứ hai). Nếu không còn cha, mẹ thì di sản chia cho cháu ruột bên nội. Nếu không có cháu ruột thì chia cho anh, chị em ruột.
Theo Dân luật Bắc Kỳ và Dân luật Trung Kỳ thì những người có hành vi trên được coi là bất xứng hưởng di sản họ không có quyền được hưởng thừa kế của người để lại di sản. Nhưng phần lẽ ra họ được hưởng thì trao sang cho con cái của họ (Điều 315 Dân luật Bắc Kỳ và Điều 307 Dân luật Trung Kỳ) những người con ấy với tư cách của người hưởng di sản và không bị loại ra vì lỗi của người cha, trừ khi nào chính những người con cái ấy cũng bị tuyên cáo là không xứng đáng hoặc bị truất quyền thừa kế hưởng di sản từ người để lại di sản. Trong trường hợp này các con của người bất xứng thay thế vị trí của bố mẹ nhận di sản thừa kế của ông, bà (Thừa kế thế vị).
Trước năm 1945, theo án lệ ở miền Nam thì sau khi người chồng chết người vợ có thể bị tước quyền thừa kế trong một số trường hợp như không để tang chồng, có tình nhân hoặc lạm dụng quyền hưởng di sản mà không kê khai. Trường hợp người vợ góa bị tước quyền thừa kế thì phần di sản đó con hoặc cháu của người đó sẽ được hưởng.
2.1.2. Giai đoạn từ cách mạng tháng 8 năm 1945 đến khi pháp lệnh thừa kế năm 1990 có hiệu lực Luận văn: Thực trạng về người không được quyền hưởng di sản.
Cách mạng Tháng Tám thành công, xóa bỏ hoàn toàn chế độ chính trị và hệ thống chính quyền thực dân phong kiến, xây dựng chế độ mới và hệ thống chính quyền mới, hệ thống chính quyền của nhân dân lao động. Chính quyền non trẻ vừa được thành lập nhưng đã phải đứng trước nhiều thử thách gay go và quyết liệt một lĩnh vực thiết thực trong cuộc sống nhưng lại có rất nhiều khó khăn trong việc pháp chế hóa luật dân sự trong đó có vấn đề thừa kế. Việc xây dựng một hệ thống pháp luật cần phải có thời gian nhưng vấn đề đặt ra là một nhà nước không thể không có luật. Do vậy, ngày 10/10/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 90/SL giữ tạm thời các luật lệ hiện thành ở Bắc, Trung, Nam Bộ cho đến khi ban hành những bộ luật mới cho toàn quốc nếu những luật lệ ấy không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thể cộng hòa”. Như vậy theo quy định này thì các quy định của hai Bộ Dân luật Bắc Kỳ 1931 và Trung Kỳ 1936 về thừa kế vẫn được thi hành nếu không trái với các quy định trong Hiến pháp 1946. Như vậy, cơ sở để xác định những người thừa kế được nhận di sản hay không có quyền hưởng di sản của người để lại di sản vẫn dựa vào quy định tại Điều 313 Dân luật Bắc Kỳ và Điều 306 Dân luật Trung Kỳ.
Ngày 22/6/1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 97/SL về sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật. Sắc lệnh số 97/SL quy định vợ chồng có quyền bình đẳng trong gia đình, có quyền thừa kế tài sản của nhau. Các con không phân biệt con trai, con gái đều có quyền thừa kế tài sản của bố mẹ… quy định này nhằm xóa bỏ tình trạng trọng nam khinh nữ của chế độ phong kiến, người phụ nữ được thừa nhận bình đẳng như nam giới, người vợ bình đẳng với người chồng trong các quan hệ dân sự đặc biệt là bình đẳng trong quan hệ thừa kế. Nhưng trong sắc lệnh này không có nội dung nào đề cập đến người không có quyền hưởng di sản.
Từ khi hòa bình lập lại, miền Bắc hoàn toàn được giải phóng, Miền Nam bị đế quốc mẹ và tay sai thống trị, nhân dân miền Bắc xây dựng hậu phương vững mạnh chi viện sức người, sức của cho miền Nam. Ở miền Bắc công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cải tạo nền kinh tế quốc dân được nước ta chú trọng hơn bao giờ hết. Với mục tiêu xây dựng một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với nông nghiệp và công nghiệp hiện đại, nhà nước lãnh đạo hoạt động kinh tế theo kế hoạch thống nhất, lấy kinh tế quốc doanh thuộc sở hữu toàn dân làm chủ đạo. Luận văn: Thực trạng về người không được quyền hưởng di sản.
Những năm 60, ở miền Bắc nhân dân ta xây dựng phong trào hợp tác hóa, mọi gia đình đưa ruộng đất, tư liệu sản xuất riêng vào hợp tác xã để xây dựng và phát triển kinh tế tập thể. Đối với nông dân, tiểu thương… Nhà nước khuyến khích động viên vào làm ăn tập thể. Thu nhập hợp pháp của công dân trong tất cả các thành phần kinh tế được nhà nước bảo hộ và họ có quyền để lại thừa kế. Điều 19 Hiến pháp 1959 quy định: “Nhà nước chiếu theo pháp luật bảo hộ quyền thừa kế tài sản tư hữu của công dân” [18].
Trong một thời gian dài từ năm 1959 đến năm 1981 mặc dù có một số văn bản quy phạm pháp luật được ban hành hướng dẫn giải quyết tranh chấp về thừa kế như:
Thông tư 594/TANDTC ngày 27/8/1968 tổng kết kinh nghiệm và hướng dẫn những tranh chấp về thừa kế có nội dung tương đối đầy đủ và rõ ràng hơn những thông tư trước đó nhưng thông tư này cũng chưa bao quát hết những sự kiện liên quan đến quyền hưởng di sản của những người thừa kế. Như khi người thừa kế có những hành vi trái pháp luật, trái đạo đức xã hội đối với người để lại di sản thì phải tước quyền hưởng thừa kế của họ nhưng nội dung liên quan đến người thừa kế không có quyền hưởng di sản cũng chưa được quy định trong thông tư này. Trên thực tế những tranh chấp liên quan đến người thừa kế có hành vi trái pháp luật, trái đạo đức xã hội, như con đối xử không đúng mực với cha mẹ, không phụng dưỡng cha mẹ già, anh em đánh giết nhau để tranh giành tài sản của cha mẹ, ông bà để lại … Với những hành vi xâm phạm đến người để lại di sản và những người thừa kế cùng được hưởng di sản, người thừa kế có hành vi xâm phạm trên là những người không xứng đáng được nhận tài sản của người để lại di sản. Tuy nhiên, do pháp luật trong giai đoạn này chưa quy định về nội dung về người thừa kế không có quyền hưởng di sản nên Tòa án khó có thể giải quyết thỏa đáng những tranh chấp về thừa kế liên quan đến người thừa kế có hành vi xâm phạm đến người để lại di sản hay những người thừa kế khác do chưa có quy phạm pháp luật điều chỉnh về vấn đề này.
Hiến pháp năm 1980 ra đời quy định đất đai và các tư liệu sản xuất của nhà nước thuộc sở hữu toàn dân. Công dân có quyền sở hữu về nhà ở, thu nhập hợp pháp, của cải để dành và có quyền để lại thừa kế của cải để dành đó (Điều 27) Để giải quyết vấn đề thừa kế của công dân, Thông tư số 81 – TANDTC (sau đây gọi tắt là Thông tư 81) ngày 24/7/1981 được ban hành. Thông tư 81 đánh dấu một bước phát triển trong việc điều chỉnh pháp luật các quan hệ thừa kế ở nước ta sau khi thống nhất đất nước, là cơ sở để bảo vệ quyền thừa kế của công dân góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước. Cơ sở pháp lý để tước quyền hưởng di sản của người thừa kế bắt đầu được quy định ở Thông tư 81 hướng dẫn giải quyết những tranh chấp về thừa kế. Theo thông tư này một người thừa kế sẽ bị tước quyền hưởng di sản do bị kết án về một trong những hành vi sau:
- Đã giết người để lại thừa kế hoặc đã đối xử quá tàn tệ với người đó.
- Đã giết người thừa kế cùng hàng với mình để chiếm đoạt toàn bộ phần di sản hoặc nhằm tăng kỷ phần cho mình thì không được hưởng thừa kế di sản của hai người ấy. Luận văn: Thực trạng về người không được quyền hưởng di sản.
Mặc dù tại Thông tư 81 đã có quy định về tước quyền hưởng di sản của người thừa kế nhưng Thông tư 81 mới chỉ liệt kê một số hành vi của người bị tước quyền hưởng di sản như họ đã có hành vi giết người để lại di sản hoặc đối xử quá tàn tệ với người đó, ngoài ra hành vi giết những người thừa kế cùng hàng để chiếm đoạt một phần hoặc toàn bộ phần di sản hoặc nhằm tăng kỷ phần cho mình… Như vậy quy định của Thông tư 81 về những hành vi của người thừa kế bị tước quyền hưởng di sản chưa mang tính cụ thể như thế nào là đối xử tàn tệ, nếu việc giết những người thừa kế cùng hàng không vì động cơ chiếm đoạt tài sản của những người thừa kế đó thì họ có được hưởng thừa kế của người để lại di sản không? Ngoài ra Thông tư 81 còn bộc lộ nhiều điểm hạn chế khác như chưa dự liệu được hết những trường hợp nếu người thừa kế vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng, ngược đãi, hành hạ, hủy di chúc, thay đổi toàn bộ hoặc một phần di chúc trái với ý chí của người để lại di sản, những hành vi trên đều là những hành vi trái pháp luật và trái đạo đức xã hội, xâm phạm đến người để lại di sản nhưng không có các quy định của pháp luật đề cập đến vấn đề này. Để khắc phục những hạn chế của Thông tư 81, cũng như nhu cầu bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền thừa kế của công dân Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 và Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19/10/1990 hướng dẫn chi tiết thi hành Pháp lệnh đã được ban hành trên hướng hoàn thiện bổ sung những điểm hạn chế trong Thông tư 81.
2.1.3. Giai đoạn từ năm 1991 đến trước khi Bộ luật dân sự 2015 có hiệu lực
Theo tiến trình phát triển pháp luật về thừa kế ở Việt Nam, chế định về thừa kế ngày được củng cố và bổ sung phù hợp với đời sống thực tế nhằm bảo vệ hiệu quả quyền thừa kế của công dân. Xuất phát từ tư tưởng chủ đạo đó Pháp lệnh Thừa kế ngày 30/8/1990 được ban hành là văn bản có hiệu lực pháp lý đầu tiên quy định khá đầy đủ về thừa kế ở nước ta từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 cho đến khi Bộ luật dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1995 được ban hành. Về cơ bản các quy định của Pháp lệnh Thừa kế được pháp điển hóa từ Thông tư 81, điều chỉnh một số quan hệ thừa kế phù hợp với thời kỳ đổi mới, Pháp lệnh cho phép cá nhân có quyền để lại thừa kế những tư liệu sản xuất, di sản thừa kế đã được mở rộng phạm vi các loại tài sản, đặc biệt là các loại tư liệu sản xuất tạo điều kiện cho tư nhân đầu tư vốn để sản xuất kinh doanh. Một số điểm mới mà Pháp lệnh Thừa kế đưa ra như quan hệ giữa người quản lý di sản với người thừa kế và các chủ thể khác liên quan đến di sản, bởi vì thông thường sau khi mở thừa kế di sản chưa chia, những người thừa kế thỏa thuận giao cho một người quản lí di sản. Người quản lí di sản có nhiệm vụ giữ gìn, bảo quản, tránh hư hỏng, mất mát.
Để tạo cơ sở pháp lí cho người quản lí di sản có quyền đại diện cho những người thừa kế pháp lệnh đã có quy định liên quan đến vấn đề này. Ngoài ra để hạn chế việc tranh chấp liên quan đến thừa kế kéo dài, Pháp lệnh Thừa kế có quy định về thời hiệu khởi kiện các tranh chấp liên quan đến thừa kế là 10 năm, thời hiệu thực hiện nghĩa vụ của người để lại di sản là 3 năm.
Khi Pháp lệnh Thừa kế 1990 được ban hành [55], vấn đề người thừa kế không được hưởng di sản được quy định tại Điều 7 và được giữ nguyên tại Điều 646 Bộ luật dân sự năm 1995. Theo đó người thừa kế bị tước quyền hưởng di sản khi có các hành vi sau: Luận văn: Thực trạng về người không được quyền hưởng di sản.
- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiệm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự nhân phẩm của người đi lại di sản.
- Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản.
- Người bị kết án về hành vi cố ý giết người thừa kế khác nhằm mục đích chiếm đoạt một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế khác có quyền được hưởng.
- Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc, giả mạo, sửa chữa di chúc, hủy di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.
Mặc dù theo quy định tại Điều 646 Bộ luật dân sự năm 1995 về người thừa kế không được hưởng di sản không thay đổi so với Pháp lệnh Thừa kế nhưng đây là lần đầu tiên vấn đề này được quy định trong văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất đó là Bộ luật dân sự. Những hạn chế của Thông tư 81 đã được khắc phục tại Điều 7 Pháp lệnh Thừa kế và Điều 646 Bộ luật dân sự năm 1995, những hành vi vi phạm đạo đức và vi phạm pháp luật của người thừa kế như hành vi vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản, hành vi lừa dối, ép buộc, ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc, hủy di chúc… đã được liệt kê khá đầy đủ, đây chính là căn cứ để Tòa án giải quyết những tranh chấp liên quan đến lĩnh vực này.
Sau 10 năm ban hành, những quy định về thừa kế của Bộ luật dân sự năm 1995 đã tương đối hoàn chỉnh nhưng với tốc độ pháp triển kinh tế hiện nay thì không tránh khỏi những bất cập, vướng mắc trên thực tế. Bộ luật dân sự năm 2005 được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2005, những quy định về thừa kế phần lớn đều kế thừa các quy định của Bộ luật dân sự năm 1995 nhưng Bộ luật dân sự năm 2005 đã bổ sung một số quy định mới, khắc phục một số hạn chế, vướng mắc trong một số quy định của Bộ luật dân sự năm 1995. Về người thừa kế không có quyền hưởng di sản nếu trong Bộ luật dân sự năm 1995 được quy định tại Điều 646 thì tại Bộ luật dân sự năm 2005 vấn đề này được quy định tại Điều 643. Trên cơ sở kế thừa nội dung của Bộ luật dân sự năm 1995, nội dung về người thừa kế không có quyền hưởng di sản trong Bộ luật dân sự năm 2005 không có thay đổi so với Bộ luật năm 1995. Luận văn: Thực trạng về người không được quyền hưởng di sản.
Những hành vi của người thừa kế không được hưởng di sản được quy định tại Điều 643 Bộ luật dân sự đều là những hành vi trái đạo đức, trái pháp luật bị xã hội lên án, hơn nữa giữa người để lại di sản và người thừa kế là những người có quan hệ tình cảm, thân thích và quan hệ pháp lý như nghĩa vụ chăm sóc nuôi dưỡng nhau như quan hệ giữa cha mẹ với con cái, giữa ông bà nội, ông bà ngoại với cháu, giữa vợ với chồng, giữa các anh, chị, em… Nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình trước đây thường do các quy tắc đạo đức tác động thì nay những nghĩa vụ như thương yêu, chăm sóc, giáo dục, giúp đỡ đùm bọc nhau, nuôi dưỡng giữa các thành viên trong gia đình với nhau đã được luật Hôn nhân gia đình năm 2000 quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ với con cái, ông bà với cháu, vợ với chồng… một trong những quyền khá quan trọng mà pháp luật cho phép công dân nói chung và các thành viên trong gia đình nói riêng có quyền định đoạt tài sản của mình cho những người thừa kế là cá nhân hoặc tổ chức hưởng. Người có tài sản có thể định đoạt tài sản của mình bằng cách lập di chúc hoặc nếu không lập di chúc thì tài sản của họ sẽ được chia theo quy định của pháp luật cho những người thừa kế. Pháp luật cũng quy định mọi cá nhân có quyền bình đẳng trong việc nhận di sản theo di chúc và theo quy định của pháp luật, người nhận di sản phải thực hiện nghĩa vụ mà người chết để lại trong phạm vi di sản mà người đó được hưởng. Trong những năm gần đây, những trường hợp vi phạm pháp luật giữa các thành viên trong gia đình xảy ra khá nhiều như con đối xử không đúng mực với cha mẹ, không chăm sóc phụng dưỡng cha mẹ già, con mưu toan giết cha mẹ, anh chị em đánh giết nhau để tranh giành tài sản. Những trường hợp vi phạm này cần được nghiêm trị bằng pháp luật, mặt khác hành vi của những người đó còn vi phạm đạo đức nghiêm trọng cho nên pháp luật cần phải tước quyền thừa kế của những người vi phạm [56].
Về người thừa kế không được hưởng di sản được quy định tại khoản 1 Điều 643 Bộ luật dân sự năm 2005, bao gồm những trường hợp sau:
- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó.
- Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản.
- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền được hưởng.
- Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản trái với ý chí của người để lại di sản. Về người thừa kế không có quyền hưởng di sản cũng được quy định tại Điều 727 Bộ luật dân sự Pháp và bao gồm một số trường hợp sau:
- Người bị kết án về hành vi giết người để lại di sản, hoặc về hành vi giết người không đạt đối với người để lại di sản; người bị kết án là đồng phạm trong những tội trên. Luận văn: Thực trạng về người không được quyền hưởng di sản.
- Người bị kết án về hành vi cố ý gây thương tích dẫn đến chết người đối với người để lại di sản; người bị kết án là đồng phạm trong những tội trên.
- Người bị kết án về hành vi làm chứng sai sự thật chống lại người để lại di sản trong vụ án xét xử một trọng tội.
- Người bị kết án về hành vi cố ý không ngăn chặn hành vi xâm phạm đến tính mạng của người để lại di sản mặc dù người đó có khả năng thực hiện việc ngăn chặn mà không ảnh hưởng đến bản thân mình hoặc người thứ ba.
- Người bị kết án về hành vi vu cáo chống lại người để lại di sản và vì hành vi tố cáo đó người để lại di sản đã bị phạt một trọng tội.
Như vậy quy định về người thừa kế không có quyền được hưởng di sản tại Điều 727 Bộ luật dân sự Pháp so với Điều 643 Bộ luật dân sự năm 2005 về cơ bản cũng được xây dựng theo phương pháp liệt kê về những hành vi trái pháp luật, trái đạo đức xã hội của người thừa kế nhưng phạm vi người người thừa kế không có quyền hưởng di sản của Bộ luật dân sự Pháp rộng hơn Bộ luật dân sự năm 2005 như hành vi của người đồng phạm, hành vi của người không tố giác… đã được quy định. Mặc dù vậy, xét về dưới góc độ pháp lý trong cả hai Bộ luật trên, người thừa kế sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự khi họ thực hiện hành vi trái với quy định của Bộ luật hình sự và đã có một bản án có hiệu lực của Tòa án kết tội về những hành vi của họ. Bản án của Tòa án cũng chính là căn cứ để pháp luật tước quyền hưởng thừa kế của họ.
Tuy nhiên tại khoản 2 Điều 643 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định nếu người vi phạm khoản 1 điều này vẫn được hưởng di sản nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó nhưng vẫn cho họ hưởng theo di chúc. Như vậy, quyền tự định đoạt của người để lại di sản phải thể hiện bằng việc người để lại di sản lập di chúc định đoạt tài sản của mình cho những người thừa kế, kể cả khi người thừa kế đã có hành vi trái đạo đức, trái pháp luật với người để lại di sản nhưng người để lại di sản đã tha thứ, đã bỏ qua cho lỗi lầm của người thừa kế thì họ vẫn có quyền được nhận thừa kế của người để lại di sản. Trong trường hợp người để lại di sản không lập di chúc, tài sản của người để lại di sản được chia theo quy định của pháp luật thì người thừa kế có hành vi vi phạm khoản 1 Điều 643 họ sẽ không được hưởng thừa kế của người để lại di sản [50, tr 19].
Tóm lại, xuất phát từ nhu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong việc định đoạt tài sản của mình cho những người thừa kế, quyền tự định đoạt của người để lại di sản luôn được pháp luật coi trọng. Những quy định của pháp luật đối với người thừa kế không có quyền hưởng di sản từ năm 1945 cho đến những năm 80 gần như là khoảng trống mà pháp luật không quy định tới, cho nên khi xảy ra những tranh chấp liên quan đến người thừa kế có hành vi trái pháp luật, trái đạo đức xã hội như xâm phạm đến người để lại di sản hoặc xâm phạm đến những người thừa kế khác Tòa án không thể giải quyết một cách thỏa đáng những tranh chấp này do còn thiếu những quy định của pháp luật quy định về vấn đề này. Từ năm 1981 cho đến nay, đối với quy định về người thừa kế không có quyền hưởng di sản đã được quy định khá đầy đủ từ các văn bản luật cho đến văn bản dưới luật như Thông tư 81, Pháp lệnh Thừa kế năm 1990, Bộ luật dân sự năm 1995, Bộ luật dân sự năm 2005 theo hướng bổ sung, hoàn thiện để làm cơ sở giải quyết các tranh chấp liên quan đến người thừa kế không có quyền hưởng di sản.
2.1.4. Giai đoạn từ khi Bộ luật dân sự 2015 có hiệu lực đến nay Luận văn: Thực trạng về người không được quyền hưởng di sản.
Kế thừa và phát huy quy định của Bộ luật dân sự 2005, Bộ luật dân sự 2015 đã quy định gần như nguyên vẹn các quy định về người không được hưởng di sản thừa kế của Bộ luật dân sự 2005, cụ thể những người không được hưởng di sản thừa kế theo quy định là người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó; Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản; Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng; Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản. Đồng thời, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc thì những người này vẫn được quyền hưởng di sản theo di chúc.
Khác với Bộ luật dân sự 2005, Bộ luật dân sự 2015 có quy định thêm về trường hợp những người che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản cũng không được hưởng di sản thừa kế. Đây là quy định hợp lý nhằm bảo vệ tối đa quyền, lợi ích hợp pháp của người để lại di sản.
2.2. Các quy định về người không được quyền hưởng di sản trong Bộ luật dân sự 2015 và hậu quả pháp lý Luận văn: Thực trạng về người không được quyền hưởng di sản.
2.2.1 Các quy định về người không được quyền hưởng di sản trong BLDS 2015
2.2.1.1 Điều kiện do luật định
- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó
Hành vi xâm phạm đến tính mạng người để lại di sản của người thừa kế mặc dù không vì động cơ trục lợi, không vì mục đích để hưởng di sản thì họ vẫn bị tước quyền hưởng di sản. Tuy nhiên hành vi đó phải mang lỗi cố ý, nếu người thừa kế vô ý làm thiệt hại đến tính mạng người để lại di sản và đã bị kết án bằng một bản án hình sự đã có hiệu lực thì họ vẫn không bị tước quyền hưởng di sản. Việc xem xét lỗi của người có hành vi xâm phạm đến tính mạng người để lại di sản có ý nghĩa quyết định đến việc người thừa kế có được quyền hưởng di sản không.
Theo quy định của Bộ luật hình sự 2015 thì cố ý phạm tội là phạm tội trong trường hợp khi người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra; Hoặc khi người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra (Điều 10 Bộ luật hình sự năm 2015).
Cố ý giết người là trường hợp trước khi có hành vi tước đoạt tính mạng của người khác, người phạm tội nhận thức rõ hành động của mình tất yếu hoặc có thể gây ra cái chết cho nạn nhân, người phạm tội mong muốn hoặc bỏ mặc cho nạn nhân chết. Sự hình thành ý thức của người có hành vi giết người được biểu hiện ở những trạng thái khác nhau.
Thứ nhất: Trước khi thực hiện hành vi nguy hiểm đến tính mạng của người khác, người phạm tội thấy trước được hậu quả chết người tất yếu xảy ra và mong muốn cho hậu quả đó phát sinh. Ý thức của người phạm tội trong trường hợp này biểu hiện rất rõ nét bằng những hành vi như chuẩn bị hung khí phương tiện, điều tra, theo dõi mọi hoạt động của người mà người phạm tội định giết… Tuy nhiên cũng có trường hợp trước khi hành động người phạm tội không có thời gian chuẩn bị nhưng họ vẫn thấy trước hậu quả tất yếu sẽ xảy ra và mong muốn cho hậu quả phát sinh nên vẫn thực hiện tội phạm.
Thứ hai: Trước khi thực hiện hành vi nguy hiểm đến tính mạng của người khác, người phạm tội chỉ nhận thức được hậu quả chết người có thể xảy ra mà không chắc chắn nhất định sẽ xảy ra vì người phạm tội chưa tin vào hành vi của mình sẽ gây ra hậu quả chết người. Luận văn: Thực trạng về người không được quyền hưởng di sản.
Thứ ba: Trước khi thực hiện hành vi nguy hiểm đến tính mạng của người khác, người phạm tội chỉ thấy trước hậu quả chết người có thể xảy ra tuy không mong muốn nhưng có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.
Chủ thể của tội giết người là bất kỳ, nhưng phải là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bộ luật hình sự quy định người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, tội hiếp dâm, tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam (Điều 12 Bộ luật hình sự 2015).
Ngoài việc thỏa mãn điều kiện về độ tuổi thì một người chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Như vậy chỉ khi nào một người mắc bệnh tâm thần tới mức làm mất khả năng nhận thức hành vi của mình và hậu quả do hành vi đó gây ra thì mới được coi là không có năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của người mắc bệnh trong trường hợp trên không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng họ phải được áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.
Hành vi cố ý giết người để lại di sản là hành vi có khả năng gây ra cái chết cho người để lại di sản, chấm dứt sự sống của người đó một cách trái pháp luật. Hành vi trái pháp luật phải là nguyên nhân gây ra hậu quả chết người, tức là có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả. Luận văn: Thực trạng về người không được quyền hưởng di sản.
Trong trường hợp người thừa kế chỉ bị kết án về hành vi vô ý làm chết người để lại di sản thì người đó vẫn được hưởng thừa kế theo pháp luật nhận di sản của người bị chính người thừa kế đã vô ý gây ra cái chết cho người để lại di sản. Như vậy, chỉ có những người phạm tội cố ý xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người để lại di sản mới bị tước quyền hưởng di sản, còn vô ý thì không thuộc trường hợp này. Hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người khác được quy định tại chương XIV Bộ luật hình sự năm 2015 “Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm danh dự của con người” và nạn nhân không ai khác chính là người để lại di sản.
Đối với tội xâm phạm đến tính mạng, là tội xâm phạm đến quyền sống của con người. Có nhiều trường hợp xảy ra và có mức độ nguy hiểm cho xã hội ở mức độ khác nhau. Người thừa kế bị tòa án kết án về tội giết người theo Điều 123 Bộ luật hình sự; tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ Điều 124 Bộ luật hình sự 2015; tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh Điều 125 Bộ luật hình sự; tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội Điều 126 Bộ luật hình sự; tội làm chết người trong khi thi hành công vụ Điều 127 Bộ luật hình sự; tội vô ý làm chết người Điều 128 Bộ luật hình sự; tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính Điều 129 Bộ luật hình sự hoặc cũng có thể xâm phạm một cách gián tiếp như tội bức tử Điều 130 Bộ luật hình sự; tội xúi giục hoặc giúp người khác tự sát Điều 131 Bộ luật hình sự; tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng Điều 132 Bộ luật hình sự; tội đe dọa giết người Điều 133 Bộ luật hình sự; tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Điều 134 Bộ luật hình sự; tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh Điều 135 Bộ luật hình sự; tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội Điều 136 Bộ luật hình sự; tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Điều 138 Bộ luật hình sự; tội hành hạ người khác Điều 140 Bộ luật hình sự và chính những hành vi này là nguyên nhân dẫn đến cái chết của người để lại di sản.
Với tội xâm phạm đến sức khỏe, người phạm tội đã có hành vi tác động đến thân thể của người khác làm cho người này bị thương, bị tổn hại đến sức khỏe. Hành vi này về hình thức cũng giống hành vi của tội giết người nhưng tính chất và mức độ nguy hiểm thấp hơn, nó chỉ làm cho nạn nhân bị thương hoặc bị tổn hại về sức khỏe mà không làm cho nạn nhân bị chết. Hành vi của người phạm tội được thực hiện do cố ý, nhưng so với tội giết người thì sự cố ý trong trường hợp gây thương tích có mức độ nguy hiểm thấp hơn vì người phạm tội chỉ mong muốn hoặc để mặc cho nạn nhân bị thương, bị tổn hại về sức khỏe mà không mong muốn cho nạn nhân chết. Ở những mức độ khác nhau, trong mỗi trường hợp có những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng, mức độ nguy hiểm chênh lệch nhưng điều này chỉ có ý nghĩa trong quá trình xét xử vụ án hình sự, còn để áp dụng tại Điều 621 Bộ luật dân sự 2015 thì không, vì hành vi xâm phạm đến sức khỏe hay cố ý xâm phạm tính mạng người khác đều là cố ý nên người phạm tội chỉ cần bị kết án về một trong những hành vi trên thì họ đều bị tước quyền hưởng di sản.
Hành vi ngược đãi, vi phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người để lại di sản là những hành vi đối xử trái pháp luật và vô đạo đức thường được thực hiện thông qua hành động chửi mắng, nhục mạ, bỏ mặc, bắt ăn đói mặc rách làm cho người để lại di sản đau đớn về mặt tinh thần, danh dự bị xúc phạm, bị giày vò và khốn khổ về thể xác. Những hành vi trên được quy định như tội hành hạ người khác; tội hiếp dâm trẻ em; tội cưỡng dâm trẻ em; tội giao cấu với trẻ em; tội dâm ô với trẻ em; tội mua bán phụ nữ; tội làm nhục người khác; tội vu khống… Về hành vi “ngược đãi nghiêm trọng”, “hành hạ” người để lại di sản, “xâm phạm nghiêm trọng danh dự nhân phẩm” của người đó: Sự ngược đãi, hành hạ, xâm phạm danh dự, nhân phẩm của người để lại di sản là những hành vi trái pháp luật, trái đạo đức xã hội. Những hành vi này thường được thể hiện thông qua các hành động như mắng, chửi, để cho ăn khi đói khi có thể cho ăn no, bắt ăn mặc rách khi có thể cho mặc lành… Hành vi này có tính chất tàn nhẫn, tồi tệ quan hệ giữa người phạm tội này và người bị phạm tội thường là những người có quan hệ phụ thuộc nhau, thường là những người có quan hệ gia đình, họ hàng, hậu quả của việc đối xử tàn ác này là gây đau khổ về tinh thần hoặc đau đớn về mặc thể xác… Hậu quả của những hành vi này không cần gây hậu quả về mặt vật chất (thương tích, tổn hại sức khỏe…) mà chỉ cần gây hậu quả về mặt tinh thần (đau khổ, cảm thấy buồn tủi, nhục nhã…). Về mặt chủ quan, những hành vi này phải là những hành vi cố ý, tức là những người phạm tội này biết được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện.
Việc xác định được những hành vi “ngược đãi”, “hành hạ”, “xâm phạm danh dự, nhân phẩm” như thế nào thì bị coi là nghiêm trọng là một vấn đề cần được quan tâm. Hiện nay chưa có văn bản nào quy định về ngược đãi nghiêm trọng hoặc thế nào là xâm phạm nghiêm trọng danh dự nhân phẩm của người để lại di sản. Tuy nhiên, trong quy định của pháp luật thì người có hành vi ngược đãi, hành hạ, xâm phạm danh dự, nhân phẩm của người để lại di sản bị tước quyền khi đã có bản án có hiệu lực pháp luật nên ta có thể hiểu rằng nó nghiêm trọng khi nó đã đủ các dấu hiện để bị kết án và đã bị kết án. Vì vậy, chúng ta không cần đi xác định tính nghiêm trọng nữa mà chỉ cần dựa vào chính việc đã có bản án kết án về hành vi đó. Luận văn: Thực trạng về người không được quyền hưởng di sản.
Sở dĩ có quy định trên chính là để đảm bảo việc thực hiện Hiến pháp và pháp luật. Những hành vi nói trên vi phạm ở mức độ như thế nào thì bị coi là nghiêm trọng, điều này chưa được quy định và giải thích cụ thể bằng văn bản pháp luật. Tuy nhiên theo quy định của pháp luật, khi người được hưởng di sản có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người để lại di sản chỉ bị tước quyền hưởng di sản khi hành vi đó đã bị kết án bằng một bản án đã có hiệu lực của Tòa án. Nghĩa là một hành vi khi thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của cấu thành tội phạm và đã bị kết án bằng một bản án hình sự về hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người để lại di sản tự nó đã xác định tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi và bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án chính là căn cứ để cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết việc tuyên bố những người thừa kế có hành vi đó không được quyền hưởng di sản. Tuy nhiên đối với những trường hợp một người mặc dù đã có đủ căn cứ chứng tỏ người đó có hành vi ngược đãi, vi phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người khác nhưng chưa bị kết án hoặc không thể kết án thì họ có được hưởng di sản của người chết để lại không? Bởi trên thực tế, Tòa án cũng không thể mơ hồ xác định xem như thế nào là “vi phạm nghiêm trọng”.
Đây là một vấn đề liên quan đến quyền lợi của chính người thực hiện hành vi đó, nên khi xem xét một ai đó có được quyền hưởng di sản hay không theo trường hợp trên thì vấn đề đầu tiên cần phải làm rõ vấn đề bản án về những hành vi đó có hiệu lực hay chưa? Nếu bản án đó chưa có hiệu lực thì có được phép áp dụng không? Điều này có thể lý giải như sau: Một bản án có thể vẫn bị cấp xét xử khác sửa đổi hoặc bị hủy bỏ vì nó có thể có những sai sót nên các bản án chỉ được thi hành khi nó đã có hiệu lực pháp luật. Bản án có hiệu lực pháp luật khi bản án của cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, đã hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị, hoặc là bản án của tòa án cấp phúc thẩm. Mặt khác, không ai có thể bị coi là có tội nếu chưa có bản án kết tội đã có hiệu lực của Tòa án. Vì vậy, những hành vi trên của người có tên trong di chúc dù đã bị kết án bằng một bản án thì vẫn chưa thể kết luận là người đó phạm tội. Bản án đó cũng chưa được coi là có căn cứ để tước quyền hưởng di sản của người có tên trong di chúc. Bản án áp dụng trong những trường hợp này là những bản án phải có hiệu lực pháp luật, nếu có tranh chấp xảy ra trong khi bản án chưa có hiệu hiệu pháp luật thì cần phải đợi đến khi bản án đó có hiệu lực pháp luật mới được giải quyết. Vậy, bản án có hiệu lực pháp luật là căn cứ cần thiết để tước quyền hưởng di sản của một người. Đồng thời, nếu chỉ có những hành vi trên mà chưa có bản án có hiệu lực của tòa án thì cũng không thể tước quyền hưởng di sản của người có hành vi đó. Luận văn: Thực trạng về người không được quyền hưởng di sản.
Bên cạnh việc xác định bản án cần có hiệu lực hay chưa thì như phân tích ở trên, việc đi tìm hiểu rõ về các hành vi xâm phạm tính mạng, hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ, xâm phạm nghiêm trọng đến người để lại di sản cũng là điều cần thiết.
Việc xác định về mặt chủ quan của người thực hiện hành vi cũng có ý nghĩa quan trọng, khi hành vi xâm phạm đó thực hiện nhưng lại do lỗi vô ý thì sẽ không bị tước quyền hưởng di sản mà việc tước quyền hưởng di sản chỉ có thể xảy ra khi đó là lỗi cố ý. Có nghĩa là, khi một người thực hiện hành vi đã nhận thức được hành vi của mình là hành vi nguy hiểm có thể gây hậu quả chết người nhưng tin rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra nhưng hậu quả đó vẫn xảy ra trên thực tế (vô ý quá tự tin) hoặc người đó không thấy trước hậu quả có thể xảy ra – do cẩu thả, mặc dù phải thấy trước hoặc có đủ điều kiện để thấy trước (vô ý do cẩu thả), thì sẽ không bị tước quyền hưởng di sản. Còn khi người thực hiện hành vi đã nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm có thể gây hậu quả chết người, có mong muốn cho hậu quả chết người đó xảy ra (cố ý trực tiếp) hoặc trong trường hợp, người thực hiện hành vi nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm, có thể dây hậu quả chết người, tuy không mong muốn nhưng vẫn để mặc cho hậu quả chết người đó xảy ra (có ý gián tiếp). Vậy trong cả hai trường hợp, cố ý gián tiếp hay trực tiếp, người thực hiện hành vi đó đều có thể bị tước quyền hưởng di sản.
Như vậy, Điểm a, Khoản 1, Điều 621 Bộ luật dân sự 2015 có nội dung như sau: Người thừa kế có hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người để lại di sản thì không được quyền hưởng di sản của người đó để lại. Nếu người bị kết án do hành vi vô ý thì vẫn được phép nhận di sản của người đó để lại. Bởi, khi họ phạm lỗi với lỗi vô ý thì người thực hiện hành vi đó không có mong muốn cho hậu quả xảy ra; Người thừa kế có hành vi cố ý xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của người để lại di sản và đã bị kết án về một trong các hành vi đó thì bị tước quyền thừa kế của người bị xâm phạm. Đồng thời, nếu có hành vi mà không có bản án, tức không bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc không bị kết án (người thực hiện hành vi chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án đã có hiệu lực; đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; tội phạm đã được đại xá) thì sẽ không bị tước quyền hưởng di sản; Những bản án về những hành vi trên phải có hiệu lực pháp luật. Luận văn: Thực trạng về người không được quyền hưởng di sản.
- b. Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản
Quan hệ giữa các thành viên trong gia đình hình thành từ quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng. Xuất phát từ những quan hệ đó mà các thành viên trong gia đình có sự gắn bó với nhau về tình cảm và trách nhiệm với nhau, sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình tồn tại một cách tự nhiên như một nhu cầu tất yếu về mặt tình cảm và đạo đức Tuy vậy sự điều chỉnh của pháp luật đối với quan hệ của pháp luật liên quan tới các thành viên trong gia đình là rất cần thiết, nó không chỉ là nghĩa vụ về đạo đức mà còn là nghĩa vụ pháp lý được pháp luật quy định cụ thể.
Nghĩa vụ nuôi dưỡng là một truyền thống đạo đức tốt đẹp của các thành viên trong gia đình với nhau đã được pháp luật ghi nhận và bảo hộ.
Phân tích điểm b, khoản 1 Điều 621 Bộ luật dân sự 2015 đầu tiên cần làm rõ là nghĩa vụ “nuôi dưỡng” có bao gồm cả những thuật ngữ “cấp dưỡng”, “phụng dưỡng” hay không chỉ đơn thuần là nuôi dưỡng giữa người này với người khác? Theo quan điểm của học viên thì thuật ngữ “nuôi dưỡng”, “cấp dưỡng”, “phụng dưỡng” là những từ có thể hiểu là “nuôi dưỡng” được quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 621 Bộ luật dân sự 2015. Sở dĩ như vậy, vì những từ này được dùng để phù hợp với từng hoàn cảnh khác nhau, bản chất của nó cùng nội dung là sự nuôi dưỡng (chăm lo về vật chất) của người này đối với người khác. Trong trường hợp hai người cùng sống chung với nhau thì gọi là nuôi dưỡng; nếu họ không sống chung với nhau gọi là cấp dưỡng; còn nói đến phụng dưỡng thì chúng ta thấy đấy là ngôn ngữ thể hiện sự tôn trọng của người chăm lo đối với người được chăm lo. Vì vậy, khi nghiên cứu chúng ta không chỉ nghiên cứu nghĩa vụ nuôi dưỡng đơn thuần mà còn cần xem xét đến cả nghĩa vụ cấp dưỡng của những người có nghĩa vụ với nhau.
Những quan hệ nuôi dưỡng được ghi nhận trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 tại những Điều 69, 70, 71, 103, 104, 105, 106, 110, 111, 112, 113, 114, 115. Nghĩa vụ nuôi dưỡng chỉ trở thành căn cứ cho trường hợp này khi nó được pháp luật quy định, mà không phải là những nghĩa vụ đạo đức thuần túy. Cụ thể có những trường hợp sau:
- Người có nghĩa vụ nuôi dưỡng và người để lại thừa kế có quan hệ con và cha mẹ – người để lại thừa kế là cha mẹ của họ
Theo đó, con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ mất năng lực hành vi dân sự, ốm đau, già yếu, khuyết tật; trường hợp gia đình có nhiều con thì các con phải cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ (Khoản 2 Điều 71 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014). Trên cơ sở nghĩa vụ nuôi dưỡng của con đối với cha mẹ thì có nghĩa vụ cấp dưỡng của con đối với cha mẹ, quy định tại Điều 111. Khi cha mẹ không có khả năng lao động do già yếu, ốm đau, tàn tật…, cha mẹ không có tài sản để tự nuôi mình mà con và cha mẹ không cùng chung sống. Con phải có khả năng về kinh tế đủ để bảo đảm cuộc sống của chính mình. Do đó về nguyên tắc, nghĩa vụ cấp dưỡng cho cha mẹ chỉ đặt ra đối với con đã thành niên. Khi con vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng cha mẹ theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình sẽ không được quyền hưởng di sản cha mẹ để lại. Luận văn: Thực trạng về người không được quyền hưởng di sản.
- Người có nghĩa vụ nuôi dưỡng và người để lại thừa kế có quan hệ cha mẹ và con – người để lại thừa kế là con của họ
Cha mẹ chỉ có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con cái khi con chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi sống mình. Nếu cha mẹ vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng trên của mình đối với con cái thì sẽ không được hưởng di sản của con để lại. Trong trường hợp, con đã thành niên, tàn tật mà không có di chúc thì cha mẹ luôn là người được hưởng di sản. Chỉ đặt ra vấn đề tước quyền hưởng di sản đối với trường hợp con đã đủ 15 tuổi mà chưa đủ 18 tuổi hoặc con đã thành niên mà bị tàn tật. Khi cha mẹ vì những lý do nhất định mà không trực tiếp nuôi dưỡng con thì có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Nếu cha mẹ không thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng con trong những trường hợp có nghĩa vụ nêu trên thì sẽ bị tước quyền hưởng di sản.
- Người có nghĩa vụ nuôi dưỡng và người để lại thừa kế có quan hệ anh, chị, em – người để lại thừa kế là anh chị em của họ
Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có khả năng lao động và không có tài sản để cấp dưỡng cho con thì anh, chị đã thành niên không sống chung với em có nghĩa vụ cấp dưỡng cho em chưa thành niên không có tài sản để tự nuôi mình hoặc em đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình; em đã thành niên không sống chung với anh, chị có nghĩa vụ cấp dưỡng cho anh, chị không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình (Điều 112 Luật Hôn nhân và gia đình 2014). Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa anh chị em với nhau phát sinh trong trường hợp không sống chung và không có cấp dưỡng từ phía bố mẹ và thuộc những trường hợp đặc biệt như: chưa thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi sống mình. Nghĩa vụ cấp dưỡng chỉ thực hiện khi người cấp dưỡng là người đã thành niên và có khả năng kinh tế. Vậy khi anh, chị, em vi phạm nghĩa vụ này thì sẽ không được hưởng phần di sản do người bị vi phạm nghĩa vụ để lại.
- Người có nghĩa vụ nuôi dưỡng và người để lại thừa kế có quan hệ ông bà và cháu – người để lại thừa kế là ông, bà của họ hoặc là cháu của họ Luận văn: Thực trạng về người không được quyền hưởng di sản.
Theo pháp luật quy định thì cháu có nghĩa vụ phụng dưỡng ông bà. Ông bà nội, ông bà ngoại có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục cháu, sống mẫu mực và nêu gương tốt cho con cháu; trường hợp cháu chưa thành niên, cháu đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà không có người nuôi dưỡng thì ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ nuôi dưỡng cháu (Khoản 1 Điều 104 Luật Hôn nhân và gia đình 2014). Đồng thời, Ông bà nội, ông bà ngoại không sống chung với cháu có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu trong trường hợp cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không có người cấp dưỡng; đồng thời, cháu đã thành niên không sống chung với ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ cấp dưỡng cho ông bà nội, ông bà ngoại trong trường hợp ông bà không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không có người khác cấp dưỡng (Điều 113 Luật Hôn nhân và gia đình 2014). Nghĩa vụ cấp dưỡng của cháu đối với ông bà chỉ đặt ra khi cháu đã thành niên, có khả năng kinh tế. Khi ông bà hoặc cháu có nghĩa vụ nói trên, có khả năng thực hiện mà không thực hiện thì khi người được nuôi dưỡng đó chết đi người vi phạm đó sẽ không được quyền hưởng di sản của người chết để lại.
- Người có nghĩa vụ nuôi dưỡng và người để lại thừa kế là vợ chồng
Như đã phân tích ở trên, nuôi dưỡng là sự chăm lo về mặt vật chất của người này đối với người khác nên pháp luật không quy định những vẫn cần hiểu giữa vợ và chồng có sự nuôi dưỡng nhau trong trường hợp một người bị ốm đau, bệnh tật không thể tự mình lao động để nuôi mình. Bên cạnh đó, theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 vợ chồng có có nghĩa vụ cấp dưỡng cho nhau trong trường hợp vợ chồng đã ly hôn nhưng một bên túng thiếu, khó khăn thật sự và có yêu cầu cấp dưỡng, có lý do chính đáng như ốm đau, tai nạn… Khi đó, bên được yêu cầu cấp dưỡng có khả năng cấp dưỡng. Sau khi ly hôn việc thừa kế của nhau theo pháp luật không còn được đặt ra. Việc tước quyền hưởng di sản, hay vẫn cho hưởng di sản thừa kế của vợ chồng sau khi ly hôn chỉ đặt ra trong thừa kế theo di chúc.
Vậy, trên đây là những trường hợp mà các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với nhau. Nếu bên có nghĩa vụ vi phạm nghĩa vụ thì khi người họ có nghĩa vụ nuôi dưỡng chết đi thì họ sẽ không được hưởng di sản. Việc vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng phải ở mức độ nghiêm trọng, mức độ vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng cần được làm rõ. Trong trường hợp, người vi phạm đã bị kết án theo quy định của Bộ luật hình sự thì việc vi phạm đó đã nghiêm trọng và không cần xác định thêm. Khi người nào có khả năng cấp dưỡng và có khả năng thực tế để thực hiện việc cấp dưỡng đối với người mình có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật mà có ý từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.
Qua sự phân tích ở trên, có thể kết luận nội dung của điểm b, khoản 1, Điều 621 Bộ luật dân sự 2015 như sau: Người có nghĩa vụ nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật không thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng của mình, việc vi phạm nghĩa vụ của họ là nghiêm trọng. Để xác định tính nghiêm trọng nếu có bản án thì không cần xác định (vì khi bị kết án thì đã vi phạm nghiêm trọng mới bị kết án). Nếu không có bản án thì căn cứ vào việc không nuôi dưỡng của người có nghĩa vụ khiến người được nuôi dưỡng lâm vào tình trạng khổ sở hoặc nguy hiểm đến tính mạng. Tuy nhiên, việc không nuôi dưỡng khi người có nghĩa vụ không bị coi là vi phạm nghĩa vụ khi người đó không có khả năng thực tế. Khi người có nghĩa vụ nuôi dưỡng vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ thì sẽ không được quyền hưởng di sản thừa kế. Luận văn: Thực trạng về người không được quyền hưởng di sản.
Nói tóm lại, vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản vẫn kết án và tước quyền hưởng di sản. Luật Hôn nhân và gia đình đã quy định các căn cứ, nhưng Luật cũng chưa quy định một cách rõ ràng và cụ thể vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng, phụng dưỡng … thời gian là bao lâu? 6 tháng, 12 tháng hay 24 tháng để làm cơ sở pháp lý ra bản án.
- c. Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng
Khi người thừa kế có hành vi xâm phạm đến tính mạng của những người thừa kế khác nhằm chiếm đoạt một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà những người thừa kế đó có quyền được hưởng, hành vi đó đã bị kết án bằng một bản án có hiệu lực của Tòa án. Đây chính là căn cứ để pháp luật tước quyền hưởng di sản của người thừa kế, tuy vậy chỉ có thể tước quyền hưởng di sản của những người thừa kế trong trường hợp này khi họ có hành vi xâm phạm đến tính mạng của những người thừa kế khác là hành vi cố ý và đã bị Tòa án kết án bằng một bản án có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên nếu tước bỏ quyền hưởng di sản của người thừa kế ở trường hợp một không cần đến động cơ, mục đích của hành vi vi phạm thì trong trường hợp này người thừa kế chỉ bị tước quyền hưởng di sản nếu hành vi của họ có chứa đựng động cơ là chiếm đoạt một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế khác có quyền được hưởng. Việc xác định động cơ của người thừa kế có hành vi xâm phạm đến tính mạng của những người thừa kế khác trong trường hợp này rất quan trọng. Bởi trên thực tế có những trường hợp những người đồng thừa kế đã giết hại nhau có thể vì mâu thuẫn cá nhân, vì ghen tuông, hay xô xát nhau trong lúc phân chia di sản mà không có mục đích chiếm đoạt di sản của người khác.
Trong trường hợp này cần làm rõ các vấn đề về cố ý xâm phạm tính mạng người “thừa kế khác” người thừa kế theo luật hay người thừa kế theo di chúc? Bên cạnh đó, cần phải xác định được mục đích là nhằm hưởng một phần di sản hoặc toàn bộ di sản của người thừa kế đó được hưởng?
Người thừa kế giết người thừa kế khác là những người thừa kế theo pháp luật chứ không phải là người thừa kế theo di chúc. Bởi theo quan điểm của những người này thì người thừa kế khác chỉ được xác định sau khi người để lại di sản chết và đã được xác định trên ba mối quan hệ hôn nhân, huyết thống, và nuôi dưỡng với người để lại di sản và theo nguyên tắc người thừa kế phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế. Do vậy, người có hành vi cố ý giết người khác chỉ có thể là người thừa kế cùng hàng được hưởng di sản với người thừa kế bị giết. Người thừa kế bị giết trong trường hợp này không phải là người thừa kế theo di chúc theo họ bởi các lý do sau: Di chúc chỉ phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm mở thừa kế của người để lại di chúc và người thừa kế theo di chúc là người được chỉ định thừa kế di sản theo ý chí của người lập di chúc. Do vậy, người thừa kế theo di chúc cố ý giết người thừa kế theo di chúc khác để chiếm đoạt phần tài sản của người thừa kế theo di chúc được hưởng là không thể thực hiện được, vì phần của mỗi người đã được chỉ định theo di chúc. Quan điểm này chưa chính xác bởi vì trong trường hợp thừa kế theo di chúc cũng có trường hợp người thừa kế theo di chúc dự liệu được những người được hưởng di sản theo di chúc và đã thực hiện hành vi giết người thừa kế theo di chúc khác. Ví dụ: Ông A có các con là K, H, G. Anh K đã biết được tâm lý của bố mình là yêu thương các con như nhau và ông A đã có lần nói chuyện với anh K về ý định để lại di sản thừa kế của mình cho các con bằng nhau, anh K đã thực hiện hành vi giết anh H với mục đích hưởng một phần di sản của anh H. Khi ông A chết đi có để lại di chúc, trong di chúc ông A có định đoạt phần di sản của mình là chia đều cho các con là K, H, G. vậy trong trường hợp này anh K sẽ bị tước quyền thừa kế di sản của ông A. Luận văn: Thực trạng về người không được quyền hưởng di sản.
Còn trường hợp người thừa kế khác là người thừa kế theo di chúc, theo đó người thừa kế theo pháp luật cùng hàng mà giết nhau thì khi đó phần di sản mà người chết lẽ ra được hưởng đó sẽ thuộc về con của người bị giết đó hưởng theo thừa kế thế vị. Còn những người thừa kế theo di chúc hoặc theo di tặng khi mà bị giết (chết trước người để lại di sản) thì thừa kế thế vị không được áp dụng và phần di sản đó sẽ chia theo pháp luật và người thực hiện hành vi giết người khác đó thuộc diện được hưởng theo pháp luật. Quan điểm cho rằng trường hợp này người thừa kế khác là người thừa kế theo di chúc hoặc di tặng cũng chưa chính xác, vì trường hợp người thừa kế theo pháp luật cũng có thể xảy ra trường hợp này.Ví dụ, A (không có con) và B là con của ông L. Ông L bị bệnh nặng khó qua khỏi. B đã có hành vi giết A với mục đích hưởng phần di sản của ông L để lại sau khi chết. Khi ông L chết đi không để lại di chúc. Di sản của ông L sẽ được chia theo pháp luật. Phần di sản lẽ ra thuộc về A sẽ do người thế vị của A hưởng, nhưng A không có con nên vấn đề thừa kế thế vị không được đặt ra. Vậy, phần di sản của ông L để lại sẽ thuộc hết về B (người thừa kế thuộc hàng thứ nhất).
Theo quan điểm của tôi, tại điểm c, khoản 1, Điều 621 Bộ luật dân sự 2015 cụm từ “người thừa kế khác” không nên phân chia ra làm người thừa kế theo luật hay theo di chúc. Vì lý do sau: Trong trường hợp giết người thừa kế theo di chúc thì khi người thừa kế theo di chúc đó chết trước người để lại di sản thì phần di chúc đó sẽ vô hiệu và phần di sản đó sẽ được chia theo pháp luật. Khi đó, người có hành vi giết người thừa kế khác sẽ phần nào hưởng phần di sản đó theo pháp luật khi chính người đó thuộc hàng thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản. Mặt khác, trong trường hợp giết người thừa kế theo pháp luật thì theo quy định của pháp luật thì nếu người thừa kế chết trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản thì sẽ có thừa kế thế vị. Nhưng trong trường hợp người đó vẫn còn độc thân hoặc người đó không có những người thuộc diện được thừa kế thế vị thì lúc đó phần di sản đó sẽ được phân chia cho những người thuộc hàng thừa kế được hưởng thừa kế của người đó.
Để xác định một người có bị tước quyền hưởng di sản hay không còn phải căn cứ vào mục đích của người thực hiện hành vi giết người thừa kế khác là nhằm hưởng một phần di sản hoặc toàn bộ di sản của người thừa kế đó có quyền được hưởng. Khi người thực hiện hành vi giết người có mục đích như trên phải được ghi nhận trong bản án kết án về hành vi của người đó (vì việc xác định động cơ và mục đích chính là căn cứ để tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên trong bản án họ phải nêu về động cơ mục đích), nếu trong bản án không có ghi nhận, động cơ, mục đích này thì không được phép tước quyền thừa kế của người đó. Bên cạnh đó, nếu người thừa kế này giết người thừa kế khác do lỗi vô ý thì cũng không được phép tước quyền thừa kế của họ vì khi họ vô ý thì không thể có động cơ, mục đích là nhằm hưởng một phần toàn bộ di sản thừa kế đó có quyền hưởng. Hoặc chỉ là giết người khác chứ không phải người thừa kế khác cũng không áp dụng điểm trên để tước quyền thừa kế.
Tương tự trường hợp tại điểm a, khoản 1, Điều 621 Bộ luật dân sự 2015 thì bản án là căn cứ để tước quyền hưởng di sản này cũng cần là bản án có hiệu lực pháp luật. Vì, khi một người bị kết án bằng một bản án, thì bản án đó vẫn có thể bị hủy bỏ, hoặc sửa đổi bằng một bản án khác. Luận văn: Thực trạng về người không được quyền hưởng di sản.
Như vậy, qua sự phân tích như trên có thể rút ra kết luận về nội dung điểm c, khoản 1 Điều 621 Bộ luật dân sự 2015 như sau: Người có hành vi cố ý giết người thừa kế khác phải có mục đích nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản mà người thừa kế có quyền hưởng, hành vi giết người có mục đích như trên phải được ghi nhận trong bản án; Bản án kết án về hành vi giết người thừa kế khác đó phải có hiệu lực pháp luật mới được áp dụng theo quy định này để tước quyền hưởng di sản của người có hành vi đó; Người thừa kế khác trong trường hợp này bao gồm cả người thừa kế theo di chúc và người thừa kế theo pháp luật.
- d. Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản
Mọi cá nhân có tài sản đều có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình cho những người thừa kế sau khi qua đời. Việc lập di chúc thể hiện ý chí tự do, tự nguyện, quyền tự định đoạt của người để lại di sản. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật một bản di chúc chỉ có hiệu lực khi người lập di chúc có đủ điều kiện về độ tuổi và làm chủ được hành vi không bị ràng buộc bởi bất kỳ yếu tố khách quan nào Ngoài ra người lập di chúc phải ở trong tình trạng minh mẫn, sáng suốt khi định đoạt tài sản của mình cho người thừa kế.
Trên thực tế có những bản di chúc được lập ra mà không do ý chí của người lập di chúc, người lập di chúc bị ép buộc, bị đe dọa, bị lừa dối, hoặc di chúc bị làm giả… Điểm d khoản 1 Điều 621 đã liệt kê năm hành vi của người thừa kế đối với người để lại di sản. Bốn hành vi đầu tiên là hành vi lừa dối, cưỡng ép, ngăn cản và giả mạo, che giấu di chúc sẽ làm phát sinh những trường hợp thừa kế theo pháp luật bởi di chúc sẽ không phát sinh hiệu lực khi vi phạm một trong những điều kiện có hiệu lực của di chúc. Hành vi sửa chữa và huỷ di chúc sẽ làm phát sinh tranh chấp trong một vụ án thừa kế theo di chúc.
Hành vi lừa dối người để lại di sản là việc cung cấp những thông tin sai sự thật làm cho người lập di chúc tin và lầm tưởng vào sự việc nên đã lập di chúc cho người này hưởng di sản. Trong trường hợp này người lập di chúc đã tin tưởng tuyệt đối vào hành vi của người thừa kế, mặc dù trong ý thức chủ quan người lập di chúc đã thể hiện ý chí của mình là lập di chúc định đoạt tài sản cho một người thừa kế nào đó nhưng do bị người thừa kế lừa dối cho nên người lập di chúc đã hủy bản di chúc đã lập hoặc lập một bản di chúc khác cho người có hành vi lừa dối được hưởng phần di sản đã định đoạt trước đây.
Ngoài ra, hành vi lừa dối của người thừa kế trong trường hợp trên phải chứa đựng động cơ là nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản thì người có hành vi lừa dối mới bị tước quyền hưởng di sản.
Hành vi cưỡng ép là hành vi dùng thủ đoạn vật chất và tinh thần dồn người khác vào thế tiến thoái lưỡng nan buộc họ phải làm theo yêu cầu của mình đưa ra. Ngăn cản là việc không cho người có di sản lập di chúc, những hành vi này đã xâm phạm đến quyền tự do ý chí của người để lại di sản buộc họ phải lập một bản di chúc trái với ý nguyện của họ. Hay nói cách khác, Cưỡng ép người lập di chúc là hành vi của một người cố ý lợi dụng hoàn cảnh đặc biệt để dồn ép người lập di chúc miễn cưỡng lập di chúc có lợi cho mình hoặc cho người khác theo ý chí của mình. Để tránh bị xâm phạm về uy tín, danh dự, nhân phẩm của mình hoặc của những người thân thích thì người lập di chúc buộc phải lập di chúc theo ý chí của người thực hiện hành vi cưỡng ép. Hành vi cưỡng ép người lập di chúc phải khiến người lập di chúc, lập di chúc theo mong muốn của người thực hiện hành vi cưỡng ép và trái với ý chí ban đầu của người đó. Luận văn: Thực trạng về người không được quyền hưởng di sản.
Ngăn cản người có di sản lập di chúc là hành vi của một người thực hiện những động tác để khiến cho người có di sản không thể lập di chúc theo ý chí của mình, hành động này thường dẫn đến hậu quả là di chúc đã không được lập ra.
Những người có hành vi lừa dối, cưỡng ép và ngăn cản người có di sản lập di chúc thì sẽ không được quyền hưởng di sản do người đó để lại.
Hành vi giả mạo di chúc là hành vi của một người đã lập một di chúc theo ý chí của mình nhằm thay thế di chúc của người để lại di sản hoặc để cho những người khác tưởng lầm rằng người đã chết có để lại di chúc. Đây là hành vi có tính chất lừa dối nhưng khác lừa dối ở trên là hành vi lừa dối người lập di chúc để người đó lập di chúc theo ý của mình, còn ở đây là lừa dối những người còn sống bằng việc lập một di chúc giả nhằm làm cho những người đó tưởng rằng những điều ghi trong di chúc đó do ý chí của người chế định đoạt. Vậy, khi đó di chúc đó hoàn toàn chứa những nội dung không có hiệu lực. Việc chia thừa kế sẽ được chia theo di chúc thật của người để lại di sản để lại hoặc theo pháp luật, người giả mạo di chúc sẽ không được quyền hưởng di sản do người bị giả mạo di chúc để lại.
Hành vi sửa chữa di chúc là việc người thừa kế sửa chữa nội dung của di chúc hoặc xóa bỏ nhiều từ trong di chúc, những từ này ảnh hưởng tới quyền lợi của người thừa kế hoặc người thừa kế viết thêm vào trong di chúc số người được hưởng, số tài sản được hưởng. Hay nói cách khác sửa chữa di chúc là hành vi của một người trong việc thay đổi một phần hoặc toàn bộ nội dung của di chúc mà người để lại di sản đã lập và làm cho nội dung của di chúc không đúng với ý chí của người lập di chúc. Hành vi này không những xâm phạm ý chí của người để lại di sản, mà còn xâm phạm đến quyền lợi của những người thừa kế khác cho nên người có hành vi này sẽ bị truất quyền hưởng di sản thừa kế. Hay nói cách khác, đây chính là hành vi của một người trong việc thay đổi một phần hoặc toàn bộ nội dung của di chúc mà người để lại di sản đã lập. Việc sửa chữa của người này có mục đích là hưởng di sản nhiều hơn so với phần di sản mà người để lại di chúc định đoạt cho mình hoặc là nhằm mục đích hưởng toàn bộ di sản. Đây là hành vi xâm phạm đến tính tự nguyện trong việc lập di chúc và xâm phạm đến lợi ích của những người thừa kế khác. Vì vậy, đây là hành vi trái pháp luật, người thực hiện hành vi này theo pháp luật sẽ không được quyền hưởng di sản thừa kế. Luận văn: Thực trạng về người không được quyền hưởng di sản.
Hành vi hủy di chúc là hành vi của một người làm tiêu hủy di chúc của một người có di sản đẻ lại theo di chúc và khi di chúc bị hủy thì nó đã không còn tồn tại dưới hình thức nó đã thể hiện nữa. Những người có hành vi hủy di chúc thường với mục đích nhằm tăng phần di sản của họ được hưởng khi chia thừa kế theo pháp luật. Vì vậy, thường là những người thuộc hàng thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản. Bên cạnh đó, có trường hợp người này đã được thừa kế theo di chúc nhưng trong ý chí lại muốn thêm một người nữa được hưởng di sản, hoặc cho người khác hưởng toàn bộ di sản, việc hủy di chúc đó sẽ đưa phần di sản trở lại phân chia theo pháp luật và người kia cũng được hưởng di sản. Khi đó ý chí của người lập di chúc đã bị một hành vi của một người khác tác động và hủy bỏ, không có sự tôn trọng.
- Vì vậy, người có hành vi hủy bỏ di chúc cũng không được phép hưởng di sản.
Hành vi che giấu di chúc mà người để lại di sản đã lập là hành vi người thừa kế cố ý che giấu bản di chúc bằng nhiều cách khác nhau làm cho người khác không thể biết được là có di chúc, hoặc không đọc và/hoặc không hiểu nội dung của di chúc. Đây là điểm mới của Bộ luật dân sự 2015 về vấn đề này.
Có thể nói, di chúc thể hiện ý chí của người có tài sản lập ra, định đoạt tài sản của mình cho những người thừa kế sau khi người lập di chúc qua đời. Di chúc là giao dịch dân sự một bên, thể hiện ý chí đơn phương của người lập di chúc. Ý chí của người lập di chúc phải hoàn toàn tự do, tự nguyện, tự định đoạt tài sản của mình cho người thừa kế chỉ định. Pháp luật quy định người lập di chúc phải trong tình trạng minh mẫn và sáng suốt. Tình trạng tinh thần của người lập di chúc minh mẫn và sáng suốt được hiểu là người lập di chúc đủ điều kiện về độ tuổi lập di chúc và hoàn toàn làm chủ suy nghĩ và hành vi của bản thân, không bị ràng buộc bởi bất kỳ tác nhân nào. Người lập di chúc hiểu được mình định đoạt tài sản như thế nào, cho ai và tại sao lại làm như thế này mà không thể thế khác được. Quyền lập di chúc và để định đoạt tài sản của cá nhân chính là quyền định đoạt của chủ sở hữu khi còn sống. Hành vi cản trở đối với người lập di chúc là hành vi trái pháp luật, do vậy người có hành vi cản trở sẽ bị tước quyền thừa kế của người để lại di sản.
Những hành vi này của người đó sẽ bị coi là trái pháp luật và sẽ không được quyền hưởng di sản thừa kế khi mục đích là nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí người để lại di sản. Vậy, những hành vi trên có xảy ra nhưng không có mục đích là làm ảnh hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản, có thể trong trường hợp này người hủy bỏ di chúc trong trường hợp ghen tức về mặt tình cảm chứ không phải là về mặt kinh tế, khi đó không thể nói là họ không có quyền hưởng di sản. Luận văn: Thực trạng về người không được quyền hưởng di sản.
Khi người có quyền và lợi ích liên quan đến di sản thừa kế cho rằng bản di chúc được công bố đã bị sửa chữa hoặc di chúc đó đã bị một trong những người thừa kế huỷ bỏ với mục đích hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản thì người khởi kiện và người có liên quan đến nội dung của di chúc có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Bởi một trong những nguyên tắc về việc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự đó là các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Cá nhân, cơ quan tổ chức khởi kiện yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh như đương sự. Theo đó, việc cung cấp chứng cứ là quyền và nghĩa vụ của đương sự, ngay từ khi nộp đơn khởi kiện tại tòa án. Việc cung cấp chứng cứ được thực hiện trong bất cứ giai đoạn nào, nếu không cung cấp hoặc cung cấp không đầy đủ sẽ phải chịu hậu quả về việc không nộp hoặc nộp không đầy đủ chứng cứ.
Tuy nhiên, để xác định một bản di chúc bị giả mạo, bị sửa chữa, bị hủy hay bị che giấu thì việc cung cấp chứng cứ để chứng minh trong một vụ việc dân sự tương đối khó khăn bởi vì trường hợp di chúc bị giả mạo hoặc bị sửa chữa, bị che giấu có thể được xác định thông qua nhân chứng, giám định chữ viết, chữ ký và con dấu của người làm chứng hoặc mục đích của người đã có hành vi nêu trên thông qua việc thấy tài sản của người này tăng lên nhưng đối với trường hợp hủy di chúc thì chứng minh theo cách này rất khó thực hiện được bởi tìm lại một bản di chúc bị hủy là không thể xảy ra nên chỉ có thể chia di sản của người chết theo quy định của pháp luật.
2.2.1.2 Không thuộc miễn trừ do ý chí của người để lại di sản
Theo quy định tại khoản 2 Điều 621 Bộ luật dân sự năm 2015, người thừa kế không có quyền hưởng di sản quy định tại khoản 1 điều này vẫn được hưởng di sản “nếu người để lại di sản đã biết hành vi của người đó nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc”. Có thể chia làm những trường hợp sau: Luận văn: Thực trạng về người không được quyền hưởng di sản.
Thứ nhất, đối với trường hợp không có di chúc. Trường hợp này được hiểu như thế nào? Không có di chúc như vậy được hiểu là người để lại di chúc biết hành vi của người đáng được hưởng di sản có hành vi vi phạm nhưng vẫn đồng ý cho hưởng. Hoặc có thể hiểu không có di chúc là việc không thể hiện ý chí minh bạch của người để lại di chúc biết nhưng đồng ý cho hưởng di sản.
Thứ hai, người để lại di sản đã biết về hành vi của người thừa kế. Người lập di sản có thể lập di chúc cho những người đó được hưởng di sản theo di chúc, còn nếu không lập di chúc thì coi như người thừa kế đã bị tước quyền hưởng di sản. Hoặc khi đã biết hành vi đó, người để lại di sản có thể lập lại di chúc hoặc giữ nguyên bản di chúc để chia di sản cho người đó.
Thứ ba, trường hợp có di chúc và di chúc được xác lập trước khi có hành vi quy định tại khoản 1 Điều 621 Bộ luật dân sự 2015 thì nếu người lập di chúc biết mà không sửa đổi di chúc thì được coi là đồng ý cho hưởng. Còn trường hợp thay đổi, thay đổi thể hiện ý chí rõ ràng của người này về việc không cho những người vi phạm đó hưởng di sản thì không được hưởng di sản đó. Bên cạnh đó, nếu trường hợp có chúc và di chúc xác lập sau khi hành vi trên xảy ra thì được coi như người để lại di sản đã biết và vẫn đồng ý cho họ hưởng di sản thì vẫn được hưởng di sản đó.
Thứ tư, người lập di sản không biết về hành vi của người hưởng di sản thì cho dù có di chúc hay không có di chúc thì người thừa kế đều bị tước quyền hưởng di sản.
Như vậy căn cứ để chứng minh là người để lại di sản trước khi chết đã biết hết sự thật và chấp nhận hoàn toàn tự nguyện là để lại cho người có hành vi sai trái được hưởng di sản. Tuy nhiên, trong trường hợp di chúc được lập do bị ép buộc thì dễ bị lầm tưởng vì người lập di chúc dù biết về hành vi sai trái của người thừa kế nhưng vẫn lập di chúc cho họ hưởng di sản nhưng việc lập di chúc này lại không tự nguyện, họ bị cưỡng ép bị bắt buộc lập di chúc theo ý chí của người đang cưỡng ép mình. Sự tự nguyện của người lập di chúc dễ bị lầm tưởng trong trường hợp trên, nếu không có chứng cứ mà chỉ nhìn vào di chúc thì sự thật của vụ án không thể làm sáng tỏ, quyền lợi của người thừa kế khác không được bảo vệ.
2.2.2 Hậu quả pháp lý Luận văn: Thực trạng về người không được quyền hưởng di sản.
Hậu quả pháp lý quy định người không được quyền hưởng di sản là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh về quan hệ liên quan đến di sản thừa kế đối với người không được quyền hưởng di sản thừa kế theo quy định.
Theo đó, từ những phân tích ở các mục trên, có thể đưa ra tóm tắt một số hậu quả pháp lý quy định người không được quyền hưởng di sản theo Bộ luật dân sự 2015 như sau:
Thứ nhất, những người thuộc phạm vi điều 621 Bộ luật dân sự 2015 không được hưởng di sản mà chỉ mất tư cách thừa kế nếu người để lại di sản không minh thị ý chí cho những người này thì vẫn được hưởng di sản. Quy định nhằm thể hiện tối đa hóa nguyên tắc tự do ý chí, tôn trọng tính tự định đoạt của chủ thể trong mối tương quan so với nguyên tắc tôn trọng giá trị đạo đức, thuần phong mỹ tục được ưu tiên là hợp lý. Quy định này dù không dễ thực hiện trên thực tế song là cơ sở quan trọng khi xảy ra trên thực tế và là cơ sở để cơ quan có thẩm quyền giải quyết khi có tranh chấp xảy ra.
Thứ hai, người để lại di sản có quyền không cho những người thuộc quy định tại Điều 621 Bộ luật dân sự 2015 hưởng di sản thừa kế của mình mà những người này hoàn toàn không có quyền đòi hưởng.
Thứ ba, người để lại di sản được quyền lựa chọn có hay không cho người không được quyền hưởng di sản theo điều 621 Bộ luật dân sự 2015 khi biết hành vi của những người này mà vẫn muốn đồng ý cho hưởng di sản thì người đó vẫn được hưởng di sản thừa kế. Như vậy, di sản đó do chính người để lại di sản quyết định.
Thứ tư, Điều 621 Bộ luật dân sự 2015 chưa giải quyết được các vấn đề pháp lý xoay quanh việc mất tư cách người thừa kế có đương nhiên mất tư cách người quản lý di sản thờ cúng hay không và có mất tư cách người được di tặng không? Đồng thời mất tư cách người thừa kế nhưng có đặt ra vấn đề công nhận thừa kế thế vị không? Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên thì có thể mất nếu người để lại di sản không đồng ý cho những người này hưởng di sản.
Thứ năm, người thừa kế thuộc quy định tại điều 621 Bộ luật dân sự 2015 chỉ được hưởng di sản của người để lại di sản khi họ biết mà vẫn cho hưởng di sản. Trường hợp không cho hưởng di sản thì họ hoàn toàn không được quyền hưởng dù có khởi kiện vụ việc ra Tòa án thì cũng rất khó để giải quyết. Họ chỉ được hưởng khi họ chứng minh mình không có lỗi, mình không vi phạm hay mình không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 621 Bộ luật dân sự 2015 – đó là cơ sở để cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét giải quyết.
Kết luận chương 2 Luận văn: Thực trạng về người không được quyền hưởng di sản.
Người thừa kế không được quyền hưởng di sản là một trong những chế định quan trọng của pháp luật thừa kế. Hành vi cố ý giết người để lại di sản một cách trái pháp luật. Hành vi tước đoạt tính mạng là hành vi có khả năng gây ra cái chết cho người để lại di sản, chấm dứt sự sống của người đó. Hành vi tước đoạt tính mạng của người để lại di sản là hành vi khách quan của tội giết người phải là hành vi tước đoạt tính mạng của người khác một cách trái pháp luật (phân biệt với những hành vi tước đoạt tính mạng của người khác trong trường hợp phòng vệ chính đáng hay trong trường hợp thi hành án tử hình). Người có hành vi cố ý giết người để lại di sản và đã bị kết án về hành vi cố ý đó thì không có quyền thừa kế của người để lại di sản.
Pháp luật luôn bảo vệ những quyền lợi chính đáng của mọi công dân nhưng những công dân có những hành vi trái pháp luật thì tư cách chủ thể của cá nhân trong một số quan hệ bị hạn chế hoặc bị đình chỉ theo luật định.
Người có hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản và đã bị kết án về một trong các hành vi đó thì bị tước quyền thừa kế di sản của người đã bị ngược đãi, bị hành hạ sau khi chết. Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm, danh dự của người để lại di sản đã biết hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn thực hiện hành vi để đạt được mục đích của mình. Người bị kết án về hành vi làm nhục danh dự của người để lại di sản thì không có quyền nhận di sản thừa kế của người đó để lại. Tuy nhiên, trong trường hợp người thừa kế chỉ bị kết án về hành vi vô ý làm chết người để lại di sản, người đó vẫn được hưởng thừa kế theo pháp luật nhận di sản của người bị chính người được thừa kế đã vô ý gây ra cái chết cho người để lại di sản. Bên cạnh việc xâm phạm tính mạng, sức khỏe… Khoản 1 Điều 621 còn quy định người thừa kế vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản bị Tòa án kết án về hành vi đó thì bị tước quyền thừa kế. Hay người vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản không những phải chịu trách nhiệm hình sự mà còn bị tước quyền thừa kế do hành vi cố vi phạm nghĩa vụ đó theo quy định của pháp luật.
Người thừa kế không được hưởng quyền thừa kế nếu có mưu đồ chiếm đoạt một phần hoặc toàn bộ di sản thừa kế mà người thừa kế khác có quyền hưởng, cho nên đã có hành vi giết người thừa kế khác. Nếu những hành vi như cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng hoặc giết những người thừa kế khác nhằm mục đích hưởng lợi đều để lại hậu quả nghiêm trọng và phải bị kết tội bằng bản án thì hành vi hủy, bịa, giả mạo, sửa chữa, che giấu di chúc không cần phải có bản án mà chỉ là chứng cứ để chứng minh mà thôi.
Vậy khi áp dụng các quy định về vấn đề này như thế nào? Vướng mắc ra sao? Giải pháp thế nào? Những vấn đề này sẽ được trình bày tại chương 3 của luận văn./. Luận văn: Thực trạng về người không được quyền hưởng di sản.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp về người không được hưởng quyền di sản

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
