Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật về hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực hiện pháp luật về hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Hòa giải ở cơ sở là truyền thống đạo lý, là nét văn hóa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, có vai trò to lớn, ý nghĩa quan trọng trong đời sống xã hội, góp phần tăng cường tình đoàn kết trong cộng đồng dân cư, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc, kịp thời ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật, góp phần bảo đảm ổn định, trật tự, an toàn xã hội, giảm bớt các vụ việc phải chuyển đến Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết, tiết kiệm thời gian, kinh phí cho Nhà nước và Nhân dân, từ đó, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội.
Điều 127 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy định “Ở cơ sở thành lập các tổ chức thích hợp của nhân dân để giải quyết những vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân theo quy định của pháp luật.”. Trên cơ sở hiến định này, ngày 25/12/1998, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở (nay được thay thế bởi Luật Hòa giải ở cơ sở ngày 20/6/2013); ngày 18/10/1999 Chính phủ ban hành Nghị định số 160/1999/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở (nay được thay thế bởi Nghị định số 15/2014/NĐ-CP ngày 27/02/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều và biện pháp thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở); ngày 30/7/2014 Bộ trưởng Bộ Tài chính và Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư liên tịch số 100/2014/TTLT-BTC-BTP quy định lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước thực hiện công tác hòa giải ở cơ sở; ngày 18/11/2014, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã ban hành Nghị quyết số 01/2014/NQLT/CP-UBTƯMTTQVN về hướng dẫn phối hợp thực hiện một số quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở; Bộ luật tố tụng dân sự được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 25/11/2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016, tại Chương XXXIII của Bộ luật này quy định “Thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án”. Đây là cơ chế bảo đảm thi hành kết quả hòa giải thành ở cơ sở. Theo đó, Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án được thi hành theo pháp luật về thi hành án dân sự, tức là sau khi có quyết định công nhận của Tòa án, các bên phải tự nguyện thi hành thỏa thuận của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành của Tòa án; hết thời gian này, bên phải thực hiện nghĩa vụ có điều kiện thực hiện nghĩa vụ mà không tự nguyện thực hiện thì bị cưỡng chế thực hiện, bên có quyền được nộp đơn yêu cầu thi hành cho cơ quan thi hành án dân sự theo quy định của Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Đó là những văn bản pháp lý thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước đối với công tác hòa giải ở cơ sở, khẳng định vị trí, vai trò không thể thiếu của công tác này trong đời sống cộng đồng. Luận văn: Pháp luật về hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
Trong những năm qua thực hiện các văn bản pháp luật về hòa giải ở cơ sở, công tác hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đã có nhiều chuyển biến tích cực, không ngừng được củng cố về tổ chức, đội ngũ hòa giải viên ở cơ sở, chất lượng, hiệu quả hoạt động hòa giải ngày càng được nâng cao, góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm trật tự an toàn xã hội của tỉnh trong thời kỳ mới. Hệ thống các tổ hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh đã được thành lập và củng cố theo quy định. Tổ viên tổ hòa giải được lựa chọn theo đúng quy định pháp luật về hòa giải, là những người có phẩm chất, đạo đức, uy tín và nhiệt tình đối với công tác hòa giải ở cơ sở, được giới thiệu từ các tổ chức mặt trận, đoàn thể, được bầu chọn công khai, dân chủ trong các khu dân cư, được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ra quyết định công nhận.
Hòa giải viên ở cơ sở là những người trực tiếp sinh sống, sinh hoạt tại địa bàn nên họ nắm bắt tốt tình hình thực tiễn, phát hiện kịp thời những mâu thuẫn, tranh chấp và đưa ra giải pháp giải quyết phù hợp, có lý, có tình.
Tuy nhiên, qua kết quả tổng kết công tác hòa giải ở cơ sở nhận thấy, bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác hòa giải ở cơ sở vẫn còn một số hạn chế như: Mạng lưới hòa giải chưa đồng đều, số lượng tổ viên Tổ hòa giải còn ít; Tổ hòa giải ở một số nơi hoạt động còn mang tính hình thức, chiếu lệ dẫn đến hiệu quả hoạt động thấp; một bộ phận tổ viên Tổ hòa giải còn hạn chế về kiến thức pháp luật và kỹ năng hòa giải dẫn đến chất lượng hòa giải nhiều việc chưa cao; kinh phí dành cho công tác hòa giải, chế độ đãi ngộ, bồi dưỡng cho tổ viên Tổ hòa giải nhiều nơi chưa được quan tâm đúng mức, kịp thời; việc lưu trữ, thống kê vụ việc chưa đi vào nề nếp, nhiều Tổ hòa giải chưa mở sổ theo dõi, chưa cập nhật đầy đủ thông tin về các vụ việc hòa giải, gây khó khăn cho công tác quản lý. Những hạn chế trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến vị trí của công tác này trong xã hội – tính tự nguyện, sự nhiệt tình tham gia các hoạt động hòa giải ở cơ sở bị giảm sút. Nguyên nhân cơ bản của những hạn chế trong công tác hòa giải ở cơ sở thời gian qua là pháp luật về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở chưa hoàn thiện, một số quy định về công tác hòa giải ở cơ sở còn chung chung, không rõ ràng, cụ thể dẫn đến việc áp dụng chưa được thống nhất; quản lý nhà nước về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở có nơi, có lúc chưa được quan tâm…ở một số địa phương chưa thực sự chủ động, chưa làm tốt vai trò tham mưu giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp trong quản lý công tác hòa giải ở cơ sở; Tổ hòa giải không được kiện toàn kịp thời, hoạt động bị thả nổi, hiệu quả thấp; chính quyền ở một số nơi chưa thực sự nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của công tác hòa giải ở cơ sở đối với đời sống xã hội, nên thiếu sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất cho công này; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận các cấp chưa nhận thức rõ vị trí, vai trò của mình trong công tác hòa giải nên sự phối hợp với chính quyền, cơ quan Tư pháp thiếu chặt chẽ trong việc củng cố Tổ hòa giải, tạo điều kiện cho hoạt động hòa giải ở cơ sở.
Từ những lý do nêu trên, qua khảo sát, tổng kết, đánh giá thực tiễn công tác hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, học viên chọn đề tài: “Thực hiện pháp luật về hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi” làm luận văn tốt nghiệp khóa học, với mong muốn được nghiên cứu một cách có hệ thống và đầy đủ về cơ sở lý luận, thực trạng của hoạt động này hiện nay trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, qua đó đề xuất một số giải pháp để tiếp tục góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả công tác này trong thời gian đến.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Pháp luật về hòa giải ở cơ sở là những quy định pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội mang tính tự quản trong cộng đồng dân cư, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy các giá trị đạo đức, văn hóa truyền thống tốt đẹp lâu đời của nhân dân ta. Đồng thời giữ vững ổn định tình hình chính trị, an ninh trật tự ở địa phương, củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết trong nhân dân, đáp ứng các yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, hội nhập quốc tế.
Trong thời gian qua, liên quan đến chủ đề này đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu, hội thảo, các bài viết về pháp luật về hòa giải ở cơ sở. Trong điều kiện của bản thân, học viên đã tham khảo các tài liệu sau:
Sổ tay Hòa giải ở cơ sở, Sở Tư pháp Quảng Ngãi, 2013. Sổ tay gồm có 06 nội dung chính, gồm: Một số nội dung cần nắm vững về công tác hòa giải ở cơ sở; kỹ năng hòa giải ở cơ sở; một số quy định của pháp luật dân sự cần nghiên cứu, vận dụng trong hòa giải; một số tình huống hòa giải thường gặp; một số câu hỏi trắc nghiệm pháp luật; diễn ca về hòa giải. Tài liệu nhằm giúp hòa giải viên cập nhật kịp thời những vấn đề liên quan đến công tác hòa giải ở cơ sở, góp phần nâng cao năng lực, kỹ năng cho đội ngũ hòa giải viên. Luận văn: Pháp luật về hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
Báo cáo sơ kết 03 năm thực hiện Luật Hòa giải ở cơ sở từ năm 2014 đến năm 2016 của Bộ Tư pháp, năm Báo cáo đánh giá kết quả đạt được trong công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, ban hành văn bản chỉ đạo, triển khai thực hiện; Công tác phổ biến, quán triệt thi hành Luật hòa giải ở cơ sở; Chỉ đạo, hướng dẫn củng cố, kiện toàn đội ngũ làm công tác quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở; đội ngũ cán bộ, công chức của tổ chức chính trị xã hội được giao nhiệm vụ theo dõi, hướng dẫn công tác hòa giải ở cơ sở; kiện toàn mạng lưới tổ hòa giải, hòa giải viên; Biên soạn, phát hành tài liệu nghiệp vụ công tác hòa giải ở cơ sở; tổ chức bồi dưỡng, tập huấn kiến thức pháp luật, kỹ năng hòa giải ở cơ sở để nâng cao năng lực đội ngũ hòa giải viên; tổ chức thi hòa giải viên giỏi; Kết quả hoạt động hòa giải ở cơ sở; Kết quả thực hiện Điều 6 của Luật hòa giải ở cơ sở về hỗ trợ kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở; Hoạt động kiểm tra, thống kê số liệu; khen thưởng các tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác hòa giải ở cơ sở; sự phối hợp giữa cơ quan Tư pháp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong công tác hòa giải ở cơ sở. Báo cáo cũng nêu ra những hạn chế và tồn tại trong hoạt động quản lý nhà nước về công tác hòa giải cơ sở; phối hợp giữa cơ quan Tư pháp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong công tác hòa giải cơ sở; và về tổ chức hòa giải ở cơ sở và hòa giải viên. Đồng thời nêu ra các kiến nghị, giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác hòa giải ở cơ sở trong thời gian tới.
Báo cáo tổng kết 13 năm thực hiện Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở, năm 2012. Báo cáo đánh giá kết quả đạt được, những khó khăn, hạn chế, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm của công tác hòa giải ở cơ sở, qua đó, xác định nội dung, giải pháp tiếp tục tạo chuyển biến mạnh mẽ cho công tác này trong thời gian tiếp Đồng thời báo cáo cũng đề xuất Bộ Tư pháp và các cơ quan chức năng cần khẩn trương xây dựng Dự thảo Luật hòa giải cơ sở để sớm trình Chính phủ xem xét, cho ý kiến theo đúng tiến độ xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2012 đã được Quốc hội thông qua.
Báo cáo đánh giá tác động của Dự thảo Luật Hòa giải ở cơ sở, năm 2012. Báo cáo sơ bộ trong giai đoạn đề xuất xây dựng chính sách, cung cấp cơ sở để trao đổi về nội dung của dự thảo Luật một cách minh bạch và giúp các cơ quan có thẩm quyền có đủ dữ liệu để đánh giá lợi ích và chi phí của các phương án đang xem xét, mục tiêu lâu dài là giúp cho việc thực thi Luật có hiệu quả, với các giải pháp cụ thể, rõ ràng và khả thi hơn.
“Hòa giải – nét đẹp văn hóa của người Việt”, PGS. TS Nguyễn Tất Viễn, Giám đốc – Tổng biên tập Nhà xuất bản Tư pháp, Bộ Tư pháp, 2011. Cuốn sách với nội dung chủ yếu về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở. Hoạt động hòa giải cũng là một hình thức tuyên truyền, phổ biến hiệu quả. Vì vậy làm tốt công tác hòa giải ở cơ sở, giải quyết dứt điểm các mâu thuẫn phát sinh, những vướng mắc trong cộng đồng dân cư sẽ góp phần quan trọng vào việc giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tạo môi trường pháp lý lành manh để phát triển kinh tế – xã hội đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Cuốn sách gồm 03 nội dung chính: Hòa giải – Phương thức giải quyết tranh cấp và xích mích trong xã hội; Những nội dung chính của Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở và những vấn đề đặt ra cho công tác hòa giải ở cơ sở; Phụ lục.
Thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh An Giang hiện nay, Luận văn Thạc sỹ Luật học của Phan Thị Hoàng Mai, 2011. Nội dung Luận văn đánh giá về tình hình thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh An Giang.
Quản lý nhà nước về công tác hòa giải ở cơ sở, Nguyễn Phương Thảo, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội, năm Nội dung tập trung nhấn mạnh, làm rõ vai trò, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong công tác quản lý nhà nước về công tác hòa giải ở cơ sở. Quản lý nhà nước về công tác hoà giải ở cơ sở bảo đảm cho hoạt động hoà giải ở cơ sở đạt hiệu quả, vừa tuân theo các quy định pháp luật vừa giữ gìn và không ngừng vun đắp cho nghĩa tình, đạo lý giữa con người với nhau trong đời sống cộng đồng. Luận văn: Pháp luật về hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
Sổ tay Pháp luật về hòa giải ở cơ sở, Bộ Tư pháp, năm 2014. Nội dung của Sổ tay bao gồm: Sự cần thiết ban hành Luật Hòa giải ở cơ sở, một số nội dung cơ bản của Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Sách “35 tình huống hòa giải thường gặp”, Sở Tư pháp, năm 2017. Nội dung cuốn sách là hướng dẫn cách xử lý các tình huống hòa giải thường gặp trong thực tế cuộc sống trên cơ sở áp dụng các quy định Bộ luật dân sự năm 2015, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Một số bài báo đề cập đến vị trí, vai trò và ý nghĩa của công tác hòa giải ở cơ sở như:
Coi trọng công tác hòa giải ở cơ sở” của Lưu Thùy Dung trên Báo Nhân dân, số ra ngày 7/3/2010, bài báo đề cập đến vấn đề nâng cao chế độ đãi ngộ đối với người làm công tác hòa giải; các cơ quan chuyên ngành cần quan tâm hơn đến công tác đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ hòa giải ở cơ sở, bảo đảm có đủ năng lực, phẩm chất và lòng say mê nghề nghiệp.
Một cách làm tốt công tác hòa giải ở cơ sở” của Ngọc Hiển, báo Pháp luật Việt Nam, ngày 27/9/2010. Nội dung bàn về công tác hòa giải cơ sở ở xã Đồng Tiến – Một xã vùng sâu, vùng xa của huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình được đánh giá là rất hiệu quả. Vì vậy cần nhân rộng mô hình, cách làm này ở các địa phương khác.
Công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án trong Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015” của Thạc sỹ Phan Hồng Nguyên trên Tạp chí Dân chủ và pháp luật. Bài báo nêu các cơ sở của quy định về thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án; thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; đồng thời đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả của hòa giải gắn với quy định về công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Các công trình nghiên cứu trên có giá trị như là nguồn tài liệu để tác giả tham khảo thực hiện đề tài này. Tuy nhiên hiện vẫn còn những nội dung mà các tài liệu trên chưa nghiên cứu hoặc nghiên cứu chưa đầy đủ như vấn đề về hỗ trợ kinh phí cho hòa giải viên; công tác phối hợp trong hoạt động hòa giải ở cơ sở; những khó khăn, bất cập trong việc việc thực hiện quy định về công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án…Vì vậy trên cơ sở các quy định pháp luật về hòa giải ở cơ sở hiện hành cùng với việc tham khảo các tài liệu nêu trên, tác giả sẽ tiếp tục nghiên cứu và phân tích kỹ hơn về tình hình thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn Luận văn: Pháp luật về hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
3.1. Mục đích
Luận văn nhằm nghiên cứu, đánh giá quá trình tổ chức thực hiện pháp luật về hòa giải cơ sở thông qua hoạt động hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. Qua đó tìm ra những bất cập, khó khăn trong quá trình tổ chức thực hiện, đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng hoạt động hòa giải ở cơ sở cũng như góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam để phù hợp với xu thế hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, luận văn đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Tiếp tục làm rõ những vấn đề có tính lý luận và pháp luật về hòa giải ở cơ sở và thực tiễn thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở.
- Nghiên cứu việc thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, đánh giá chính xác, khoa học về thực trạng và phân tích nguyên nhân của thực trạng công tác hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện việc thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, góp phần nâng cao hiệu quả công tác hòa giải ở cơ sở ở Việt Nam nói chung, trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi nói riêng trong giai đoạn hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Luận văn nghiên cứu tình hình tổ chức thực hiện pháp luật về hòa giải cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
4.2. Phạm vi nghiên cứu Luận văn: Pháp luật về hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
- Về không gian: Địa bàn tỉnh Quảng Ngãi với 14 huyện, thành phố trong tỉnh.
- Về thời gian: Nghiên cứu từ năm 2014 đến
Về nội dung: Trên cơ sở các quy định pháp luật về hòa giải ở cơ sở, luận văn nghiên cứu phân tích, đánh giá một cách toàn diện về thực trạng thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở tại địa phương. Trên cơ sở đó phát hiện những điểm chưa hợp lý, những hạn chế, tồn tại vướng mắc để đề xuất phương hướng và những giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao chất lượng thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; các quan điểm, đường lối của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, góp phần phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội, góp phần bảo đảm ổn định trật tự, an toàn xã hội của đất nước.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đồng thời sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học khác như:
- Phương pháp phân tích tài liệu
- Phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp
- Phương pháp so sánh, đánh giá
- Phương pháp quan sát
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận: Luận văn góp phần cung cấp các luận cứ khoa học về thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở, bổ sung thêm vào các nghiên cứu lý luận, pháp lý về thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở.
Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn góp phần nâng cao nhận thức của các cấp chính quyền và các cơ quan chức năng trong việc tham mưu, tổ chức thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh. Đồng thời có thể làm tài liệu tham khảo cho các tổ chức, cá nhân nghiên cứu, hoạch định chính sách, pháp luật và triển khai nghiên cứu khoa học về công tác hòa giải ở cơ sở.
7. Kết cấu của luận văn Luận văn: Pháp luật về hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 03 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở
- Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
- Chương 3: Phương hướng, giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ
1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở
1.1.1. Khái niệm thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở
- Khái niệm thực hiện pháp luật
Hiện có nhiều cách định nghĩa về thực hiện pháp luật.
Theo giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật của Khoa Luật của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, thực hiện pháp luật là “hiện tượng, quá trình có mục đích làm cho những quy định của pháp luật trở thành hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật”
Theo giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật của trường Đại học Luật Hà Nội: “Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật” [30, tr.463].
Theo giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật của Học viện Hành chính Quốc gia: Thực hiện pháp luật là hoạt động, là quá trình làm cho những quy tắc của pháp luật trở thành hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật.
Các định nghĩa trên đều có quan niệm tương đối đồng nhất về nội dung cơ bản đó là: Thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích nhằm thực hiện những yêu cầu của pháp luật, thực hiện pháp luật là hoạt động thực tế, hợp pháp của các chủ thể pháp luật làm cho những quy định của pháp luật trở thành hiện thực trong cuộc sống. Tuy nhiên, cũng có sự khác nhau trong các định nghĩa trên. Có định nghĩa nêu thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động, các định nghĩa khác lại chỉ nêu thực hiện pháp luật là hiện tượng, quá trình. Luận văn: Pháp luật về hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
Thực hiện pháp luật là hoạt động nhằm đưa các quy phạm pháp luật vào đời sống xã hội và sinh hoạt của công dân. Về bản chất, thực hiện pháp luật là quá trình hiện thực hóa pháp luật. Trong thực hiện pháp luật, những hoạt động có tính chủ động như sử dụng pháp luật, áp dụng pháp luật đòi hỏi phải có một cơ chế tổ chức và nguồn lực lớn về con người lẫn vật chất mới có thể bảo đảm thực hiện tốt.
Tóm lại, thực hiện pháp luật được hiểu là quá trình hoạt động có mục đích làm cho các qui định của pháp luật trở thành những hoạt động thực tế, hợp pháp của các chủ thể pháp luật và được thực hiện trong thực tế cuộc sống.
- Khái niệm hòa giải ở cơ sở
Theo Từ điển Tiếng Việt thì hòa giải là: “thuyết phục các bên đồng ý chấm dứt xung đột hoặc xích mích một cách ổn thỏa” [32, tr.430]. Quan niệm này nêu lên phương thức và mục đích hòa giải nhưng lại chưa khái quát được bản chất, nội dung và các yếu tố cấu thành các loại hình hòa giải.
Theo Đại từ điển tiếng Việt thì: “Hòa giải là làm cho ổn thỏa tình trạng mâu thuẫn xích mích giữa hai bên” [43, tr.815]. Quan niệm này chỉ đưa ra một cách hiểu chung nhất về hòa giải mà chưa nêu được cách thức và đặc trưng pháp lý của nó.
Về mặt pháp lý, theo Từ điển Luật học thì: “Hòa giải là tự chấm dứt việc xích mích, tranh chấp giữa các bên bằng sự thương lượng với nhau hoặc qua sự trung gian của một người khác. Hòa giải thành thì giữ gìn được sự đoàn kết giữa các bên, tránh được việc kiện tụng kéo dài, tốn kém và những trường hợp chỉ vì mâu thuẫn nhỏ mà biến thành việc hình sự” [31, tr.208].
Quan niệm này không phân biệt được phương thức thương lượng tự giải quyết với phương thức hòa giải, vô hình đồng nhất người trung gian với người hòa giải.
- Theo Từ điển pháp luật Anh-Việt do TS. Vũ Trọng Hùng, PGS.TS
Nguyễn Đăng Dung, PGS.TS Vũ Trọng Khả, TS. Phan Thăng (đồng chủ biên) thì có sự phân biệt giữa người trung gian và người hòa giải, theo đó: Mediate là làm trung gian, Mediation là việc làm trung gian, còn Mediator là người làm trung gian. Conciliate là hòa giải, Conciliation là sự hòa giải, Conciliator là người hòa giải (hay hòa giải viên) [18, tr.310]. Người trung gian chỉ giúp các bên tranh chấp liên hệ được với nhau; còn người hòa giải tham gia trực tiếp vào quá trình đàm phán, có thể đưa ra các giải pháp để giúp giải quyết ổn thỏa mâu thuẫn của các bên. Mỗi hòa giải viên có vai trò lớn hơn so với người trung gian vì hòa giải viên có quyền áp đặt quy trình hoà giải, đề xuất cách giải quyết đối với các bên và các thủ tục và hoạt động khác theo quy định của pháp luật. Luận văn: Pháp luật về hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
Một số luật gia lại cho rằng hòa giải là chế định pháp luật về hòa giải, coi hòa giải như là một quy định, một trình tự, thủ tục để giải quyết các tranh chấp về dân sự, hôn nhân gia đình, đất đai… Trên thực tế, có nhiều loại hình hòa giải trong đời sống xã hội, mỗi loại hình có phạm vi điều chỉnh và đối tượng điều chỉnh riêng, cũng như có nội dung, thủ tục tiến hành, chủ thể tham gia và các đặc trưng pháp lý riêng. Có thể rút ra một định nghĩa tổng quát về hòa giải như sau:
Hòa giải là hình thức giải quyết tranh chấp mà trong đó có sự tham gia của bên thứ ba độc lập do hai bên cùng chấp nhận hay chỉ định làm vai trò trung gian để hỗ trợ các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp nhằm tìm kiếm những giải pháp thích hợp cho việc giải quyết xung đột và chấm dứt các tranh chấp, bất hòa.
Hòa giải nói chung mang tính tự nguyện, tùy thuộc vào sự lựa chọn của các bên nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật và không trái với truyền thống đạo đức xã hội. Có thể thấy hòa giải là phương thức giải quyết tranh chấp được Ủy ban nhân dân, Tòa án, Trọng tài và các tổ chức, cá nhân… sử dụng thường xuyên trong giải quyết tranh chấp.
Theo pháp luật nước ta hiện nay có những hình thức hòa giải như: Hòa giải tại tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự, hòa giải về tranh chấp lao động của hội đồng hòa giải lao động, hòa giải về tranh chấp đất đai của Ủy ban nhân dân, hòa giải về tranh chấp thương mại, hòa giải theo thủ tục tố tụng trọng tài, hòa giải trong cộng đồng dân cư ở cơ sở… Về cơ bản, có thể chia các hình thức hòa giải trên thành 02 loại, đó là hòa giải trong tố tụng và hòa giải ngoài tố tụng. Hình thức hòa giải tại tòa án và trọng tài là hòa giải trong tố tụng, các hình thức khác là hòa giải ngoài tố tụng.
Hòa giải ở cơ sở là một loại hình của hòa giải ngoài tố tụng, đó là việc hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục các bên tranh chấp đạt được thoả thuận, tự nguyện giải quyết với nhau những việc vi phạm và tranh chấp nhỏ nhằm giữ gìn đoàn kết trong cộng đồng dân cư. Hình thức hòa giải trong cộng đồng dân cư đã có từ lâu ở Việt Nam, trước khi Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 được ban hành.
Tại khoản 1 Điều 2 Luật hòa giải ở cơ sở quy định: Hòa giải ở cơ sở là việc hòa giải viên hướng dẫn, giúp đỡ các bên đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật theo quy định của Luật này. [23, tr.1].
Các bên được đề cập ở đây có thể là cá nhân, nhóm cá nhân, gia đình, nhóm gia đình, tổ chức. Thuật ngữ “cơ sở” theo quy định của Luật hoà giải ở cơ sở là thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố, khu phố, khối phố và cộng đồng dân cư khác. Ở đây nhấn mạnh đến “cơ sở” là cấp thấp nhất trong đơn vị hành chính, là nơi trực tiếp xảy ra tranh chấp.
Như vậy, hòa giải ở cơ sở là hoạt động của một bên trung gian để hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục các bên tranh chấp đạt được thoả thuận, tự nguyện giải quyết với nhau những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ nhằm giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nhân dân; củng cố, phát huy những tình cảm và đạo lý truyền thống tốt đẹp trong gia đình và cộng đồng dân cư; phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội ở thôn, tổ dân phố, bản, làng, xóm, ấp và các cụm dân cư khác theo quy định của pháp luật. Luận văn: Pháp luật về hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
- Khái niệm thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở
Pháp luật là một công cụ quản lý xã hội, song pháp luật chỉ có thể phát huy được vai trò và những giá trị của mình trong việc duy trì trật tự và tạo điều kiện cho xã hội phát triển khi nó được tôn trọng và thực hiện trong cuộc sống. Nhà nước xây dựng những quy phạm pháp luật nhằm mục đích điều chỉnh các quan hệ xã hội đáp ứng lợi ích của nhân dân và tiến bộ xã hội. Mục đích đó chỉ có thể đạt được khi pháp luật được các chủ thể nghiêm chỉnh thực hiện trong đời sống xã hội.
Pháp luật hòa giải ở cơ sở muốn đi vào thực tiễn đời sống xã hội cần phải được tổ chức thực hiện tốt trong thực tế phù hợp với đặc thù riêng của nó. Có làm được như vậy, chúng ta mới đưa được pháp luật hòa giải ở cơ sở vào cuộc sống, biến những quy định, những yêu cầu trong quy phạm pháp luật về hòa giải ở cơ sở thành những hành vi thực tế, hợp pháp của các chủ thể pháp luật.
Vì vậy, khái niệm thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở có thể được hiểu như sau: Thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở là quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy phạm pháp luật về hòa giải ở cơ sở đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật nhằm góp phần giải quyết vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân; củng cố, phát huy những tình cảm và đạo lý truyền thống tốt đẹp trong gia đình và cộng đồng dân cư; giảm bớt một phần gánh nặng cho tòa án và các cơ quan hành chính nhà nước, góp phần tạo sự ổn định để phát triển kinh tế – xã hội; phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật; bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.
1.1.2. Đặc điểm thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở Luận văn: Pháp luật về hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
- Thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở không mang tính tố tụng
Hoạt động hòa giải ở cơ sở là hình thức hòa giải ngoài tố tụng. Về cơ bản, có thể chia các hình thức hòa giải thành 02 loại, đó là hòa giải trong tố tụng và hòa giải ngoài tố tụng. Theo quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở thì hoạt động hòa giải của tòa án, trọng tài, hòa giải thương mại, hòa giải lao động và hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Hòa giải ở cơ sở.
Đối với hoà giải được tiến hành tại Tòa án nhân dân theo thủ tục tố tụng dân sự: Hòa giải là một thủ tục bắt buộc trước khi tiến hành xét xử vụ án được quy định tại Điều 10 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015: “Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này.”. Theo đó Tòa án trong quá trình tiến thành tố tụng phải thực hiện nguyên tắc hoà giải. Bộ luật cũng quy định cụ thể việc hòa giải được thực hiện chặt chẽ về trình tự thủ tục ở tất cả các giai đoạn sơ thẩm, phúc thẩm, từ khi chuẩn bị xét xử đến khi bắt đầu xét xử tại phiên tòa, trừ những vụ án không được hòa giải như yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại đến tài sản nhà nước hoặc những vụ án dân sự phát sinh từ giao dịch trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội.
Đối với hòa giải được tiến hành tại các cơ quan quản lý lao động theo quy định của Bộ luật Lao động: Đây là một nguyên tắc trong việc giải quyết tranh chấp lao động. Theo đó, các tranh chấp về lao động do hệ thống các cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về lao động xử lý, bao gồm: Hòa giải viên lao động, Hội đồng hòa giải cơ sở, Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh hoặc khởi kiện ra Toà án lao động.
Đối với hòa giải tại Ủy ban nhân dân: Đây là việc hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã đối với các tranh chấp về đất đai theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản liên quan. Theo đó Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở. Nếu các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn có trách nhiệm phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác để hòa giải tranh chấp đất đai. Thủ tục hòa giải tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai. Kết quả hòa giải tranh chấp đất đai phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên tranh chấp và xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải gửi đến các bên tranh chấp, lưu lại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.
Đối với hòa giải trong tranh chấp thương mại: Luật Thương mại 2005 coi hòa giải là một trong những hình thức giải quyết tranh chấp bên cạnh hình thức thương lượng hoặc khởi kiện ra Tòa án. Hòa giải được quy định tại điều 317: “…Hòa giải giữa các bên do một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được các bên thỏa thuận chọn làm trung gian hòa giải…”. Phương thức hòa giải này chủ yếu do các bên tự tiến hành mà chưa có cơ chế điều chỉnh cụ thể của pháp luật.
Khác với các loại hình hòa giải trên, hòa giải ở cơ sở được tổ chức ở cơ sở (thôn, tổ dân phố, khu dân cư…), đây là loại hòa giải tự nguyện theo quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở nhằm giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn nhỏ trong cộng đồng dân cư ngoài phạm vi của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Luận văn: Pháp luật về hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
- Thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở là sự kết hợp hài hòa giữa pháp luật và đạo đức xã hội
Một trong những đặc điểm nổi bật khác của thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở là việc kết hợp hài hòa giữa những quy định của pháp luật với đạo đức xã hội và phong tục, tập quán của nhân dân. Trong quá trình hòa giải, nếu Hòa giải viên chỉ sử dụng các quy định của pháp luật thì sẽ dẫn tới cứng nhắc, làm cho việc hòa giải trở thành “xét xử”, không đảm bảo sự “thấu tình-đạt lý” và làm mất bản chất hòa giải, do đó việc hòa giải cũng khó đạt hiệu quả. Ngược lại, nếu Hòa giải viên chỉ dùng các quy phạm đạo đức để hòa giải thì chưa hẳn đã mang lại kết quả tích cực và thỏa đáng bởi nó thiếu tính pháp lý. Do vậy, một vụ việc chỉ được giải quyết dứt điểm và hiệu quả khi hòa giải viên bên cạnh việc nắm vững và vận dụng đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước còn phải dựa vào các chuẩn mực đạo đức truyền thống của dân tộc, phong tục tập quán, văn hóa của địa phương, tập quán từng vùng miền, dòng họ để dàn xếp mâu thuẫn, tranh chấp có hiệu quả. Nội dung này được xem là một trong những nguyên tắc trong tổ chức, hoạt động hòa giải ở cơ sở. Theo đó tại điểm 2 Điều 4 Luật Hòa giải ở cơ sở quy định: “Bảo đảm phù hợp với chính sách, pháp luật của Nhà nước, đạo đức xã hội, phong tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân; phát huy tinh thần đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình, dòng họ và cộng đồng dân cư; quan tâm đến quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em, phụ nữ, người khuyết tật và người cao tuổi.”; khoản 3 Điều 21: “Tùy thuộc vào vụ, việc cụ thể, trên cơ sở quy định của pháp luật, đạo đức xã hội, phong tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân, hòa giải viên áp dụng các biện pháp thích hợp nhằm giúp các bên hiểu rõ về quyền lợi, trách nhiệm của mỗi bên trong vụ, việc để các bên thỏa thuận việc giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp và tự nguyện thực hiện thỏa thuận đó.”.
Để làm được điều này, hòa giải viên trước hết phải nắm vững quy định của pháp luật có liên quan trực tiếp đến công tác hòa giải ở cơ sở trong các lĩnh vực. Bên cạnh đó, hòa giải viên phải biết kết hợp với các quy phạm đạo đức, phong tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân như: truyền thống văn hóa của địa phương, tâm lý của cộng đồng, luật tục của đồng bào dân tộc thiểu số, hương ước, quy ước của làng, bản, thôn, xóm, gia quy của dòng họ…
- Thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở mang tính tự nguyện
Tự nguyện là một trong những nguyên tắc cơ bản của mọi hình thức hòa giải, trong đó có hòa giải ở cơ sở. Nguyên tắc của hòa giải ở cơ sở là “Tôn trọng sự tự nguyện của các bên; không bắt buộc, áp đặt các bên trong hoà giải ở cơ sở” (Khoản 1Điều 4 Luật Hoà giải ở cơ sở). Luận văn: Pháp luật về hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
Như vậy, nếu như hình thức hòa giải của cơ quan nhà nước là thủ tục bắt buộc thì hình thức hòa giải ở cơ sở là sự tự nguyện. Hòa giải ở cơ sở chủ yếu là hướng dẫn, giải thích, thuyết phục, giúp đỡ, dàn xếp để người dân có thể giải quyết được tranh chấp chứ không phải bằng phán xét, bằng quyết định, bằng quyền lực của các cơ quan nhà nước.
Về mặt giá trị pháp lý của hòa giải thành trong tố tụng là quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự và được đảm bảo thực hiện bởi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.Về giá trị pháp lý sau hòa giải, việc hòa giải ngoài tố tụng không bắt buộc phải lập thành biên bản. Nếu như trước đây, đối với vụ việc hòa giải đã được hòa giải thành và lập thành biên bản không phải là một chứng cứ pháp lý, không phải là cơ sở pháp lý và cũng không làm phát sinh hậu quả pháp lý nào, đó chỉ là sự ghi nhận sự thỏa thuận của các bên, mang ý nghĩa đạo lý, danh dự và tạo nên một sự ràng buộc về mặt đạo đức, tâm lý giữa các bên. Theo đó, tổ hòa giải có thể dựa vào biên bản hòa giải thành để thuyết phục các bên thực hiện những thỏa thuận đã ghi trong biên bản hòa giải thì bây giờ, theo quy định pháp luật đã có cơ chế bảo đảm thi hành kết quả hòa giải thành ở cơ sở. Cụ thể là Bộ luật tố tụng dân sự được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 25/11/2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016, tại Chương XXXIII của Bộ luật này quy định “Thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án”. Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án được thi hành theo pháp luật về thi hành án dân sự, tức là sau khi có quyết định công nhận của Tòa án, các bên phải tự nguyện thi hành thỏa thuận của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành của Tòa án; hết thời gian này, bên phải thực hiện nghĩa vụ có điều kiện thực hiện nghĩa vụ mà không tự nguyện thực hiện thì bị cưỡng chế thực hiện, bên có quyền được nộp đơn yêu cầu thi hành cho cơ quan thi hành án dân sự theo quy định của Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
- Thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở chỉ giới hạn trong phạm vi và đối tượng nhất định
Phạm vi hòa giải được quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Hòa giải ở cơ sở và tại khoản 1 Điều 5 Nghị định số 15/2014/NĐ-CP ngày 27/02/2014 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở. Theo đó, hoà giải ở cơ sở được tiến hành đối với các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật:
- Mâu thuẫn giữa các bên (do khác nhau về quan niệm sống, lối sống, tính tình không hợp hoặc mâu thuẫn trong việc sử dụng lối đi qua nhà, lối đi chung, sử dụng điện, nước sinh hoạt, công trình phụ, giờ giấc sinh hoạt, gây mất vệ sinh chung hoặc các lý do khác);
- Tranh chấp phát sinh từ quan hệ dân sự như tranh chấp về quyền sở hữu, nghĩa vụ dân sự, hợp đồng dân sự, thừa kế, quyền sử dụng đất;
- Tranh chấp phát sinh từ quan hệ hôn nhân và gia đình như tranh chấp phát sinh từ quan hệ giữa vợ, chồng; quan hệ giữa cha mẹ và con; quan hệ giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu, giữa anh, chị, em và giữa các thành viên khác trong gia đình; cấp dưỡng; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi; ly hôn;
- Vi phạm pháp luật mà theo quy định của pháp luật những việc vi phạm đó chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự, xử lý vi phạm hành chính;
- Vi phạm pháp luật hình sự trong các trường hợp sau đây:
Không bị khởi tố vụ án theo quy định tại Điều 107 của Bộ luật tố tụng hình sự và không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật; Luận văn: Pháp luật về hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
Pháp luật quy định chỉ khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại, nhưng người bị hại không yêu cầu khởi tố theo quy định tại Khoản 1 Điều 105 của Bộ luật tố tụng hình sự và không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật;
Vụ án đã được khởi tố, nhưng sau đó có quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng về đình chỉ điều tra theo quy định tại Khoản 2 Điều 164 của Bộ luật tố tụng hình sự hoặc đình chỉ vụ án theo quy định tại Khoản 1 Điều 169 của Bộ luật tố tụng hình sự và không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật;
Vi phạm pháp luật bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo quy định tại Nghị định số 111/2013/NĐ-CP ngày 30 tháng 9 năm 2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc có đủ điều kiện để áp dụng biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại Chương II Phần thứ năm của Luật xử lý vi phạm hành chính;
- Những vụ, việc khác mà pháp luật không cấm.
Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định các trường hợp không được hòa giải tại khoản 2 Điều 5 Nghị định số 15/2014/NĐ-CP, bao gồm:
- Mâu thuẫn, tranh chấp xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng;
- Vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình mà theo quy định của pháp luật phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết, giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội;
- Vi phạm pháp luật mà theo quy định phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự, trừ các trường hợp quy định tại Điểm đ Khoản 1 Điều 5 Nghị định;
- Vi phạm pháp luật mà theo quy định phải bị xử lý vi phạm hành chính, trừ các trường hợp quy định tại Điểm e Khoản 1 Điều 5 Nghị định;
- Mâu thuẫn, tranh chấp khác không được hòa giải ở cơ sở quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 3 của Luật hòa giải ở cơ sở, bao gồm: Hòa giải tranh chấp về thương mại được thực hiện theo quy định của Luật thương mại và các văn bản hướng dẫn thi hành; Hòa giải tranh chấp về lao động được thực hiện theo quy định của Bộ luật lao động và các văn bản hướng dẫn thi hành. Luận văn: Pháp luật về hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
Như vậy, đối tượng và phạm vi hòa giải ở cơ sở không phải là mọi mâu thuẫn, hành vi vi phạm pháp luật và mọi tranh chấp trong nhân dân. Từ đặc điểm trên, việc thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở bị chi phối bởi phạm vi và đối tượng của pháp luật về hòa giải ở cơ sở, đó là những vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân.
Đặc điểm này đòi hỏi hòa giải viên phải nắm vững những quy định pháp luật về hòa giải ở cơ sở, phải biết được vụ việc mình hòa giải có thuộc phạm vi, đối tượng của hòa giải ở cơ sở hay không. Từ đó có đường hướng giải quyết đối với từng lĩnh vực cụ thể.
- Thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở có trình tự, thủ tục đa dạng, linh hoạt
Tại Điều 20 Luật Hòa giải ở cơ sở quy định về địa điểm, thời gian hòa giải như sau: “Địa điểm hòa giải là nơi xảy ra vụ, việc hoặc nơi do các bên hoặc hòa giải viên lựa chọn, bảo đảm thuận lợi cho các bên; Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày được phân công, hòa giải viên bắt đầu tiến hành hòa giải, trừ trường hợp cần thiết phải hòa giải ngay khi chứng kiến vụ, việc hoặc các bên có thỏa thuận khác về thời gian hòa giải.”
Như vậy, cách thức hòa giải ở cơ sở rất linh hoạt, không bị ràng buộc phải tiến hành theo một khuôn mẫu thống nhất nào. Nguyên tắc của hòa giải ở cơ sở là không bắt buộc, không áp đặt các bên tranh chấp phải tiến hành hòa giải, do vậy việc hòa giải được tiến hành bất cứ vào thời gian và địa điểm nào hoặc do các đương sự yêu cầu hoặc theo sáng kiến của tổ viên Tổ hòa giải phù hợp với nguyện vọng của các bên. Thời gian hòa giải có thể là buổi sáng, buổi trưa, buổi chiều hoặc buổi tối, trong giờ hành chính hoặc ngày nghỉ. Việc hòa giải có thể tiến hành tại bất cứ nơi nào cốt yếu phải bảo đảm không khí thân mật, cởi mở cho các bên được hòa giải.
Từ đặc điểm trên của hòa giải ở cơ sở cho thấy, việc thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở là rất linh hoạt, sáng tạo nhưng cũng đảm bảo phù hợp với bản chất của hòa giải ở cơ sở và phát huy được truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái trong cộng đồng dân cư, phù hợp với yêu cầu đặt ra của pháp luật. Tuy nhiên, cũng từ đặc điểm phi tố tụng trên mà hoạt động hòa giải ở cơ sở không thống nhất, thiếu chặt chẽ. Do đó nếu nhận thức không đúng về hòa giải ở cơ sở sẽ dễ nảy sinh tư tưởng xem nhẹ hoạt động này ở cả người tiến hành hòa giải lẫn các bên tranh chấp. Từ đó đưa đến hiệu quả thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở sẽ không cao.
1.1.3. Vai trò thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở Luận văn: Pháp luật về hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
- Thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở góp phần củng cố, tăng cường truyền thống đoàn kết, xây dựng nếp sống văn minh
Hoạt động hòa giải mang đậm tính nhân văn, hoạt động vì mọi người và trên cơ sở tình người. Hòa giải mang lại những ý nghĩa xã hội hết sức to lớn. Qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã trải qua biết bao cuộc chiến tranh khốc liệt, đặc điểm đó đã hun đúc cho nhân dân ta truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái trong cộng đồng dân cư. Bởi thế, dân tộc ta luôn biết sống đoàn kết gắn bó với nhau, xây dựng tình làng nghĩa xóm, xây dựng nền tảng xã hội vững chắc.
Tuy nhiên, trong cuộc sống cộng đồng dân cư, trong từng gia đình, lúc này hay lúc khác không tránh khỏi nảy sinh những va chạm, xích mích. Đó có thể là những tranh chấp, mâu thuẫn giữa các thành viên trong gia đình hoặc giữa những người hàng xóm láng giềng trong quan hệ về dân sự, hôn nhân gia đình, đất đai hoặc những việc vi phạm nhỏ (như bất đồng về quan điểm dẫn đến cãi nhau, trộm cắp vặt, gây mất trật tự công cộng, va quệt xe cộ, đánh nhau gây thương tích nhẹ…). Những mâu thuẫn ấy nếu không được giải quyết tận gốc và triệt để ngay từ đầu có thể trở thành những vụ việc phức tạp, dẫn đến khiếu kiện, tranh chấp về dân sự, thậm chí phát sinh thành những vụ án hình sự nghiêm trọng. Đây là một trong những yếu tố gây mất ổn định và trật tự an toàn xã hội ở cơ sở, làm xói mòn tình cảm xóm làng và ảnh hưởng đến mối quan hệ đoàn kết gắn bó trong cộng đồng dân cư. Với truyền thống tốt đẹp từ bao đời nay, trong thực tế nhân dân ta đã tự giúp nhau dàn xếp, khuyên bảo nhau “giận quá mất khôn”, “chín bỏ làm mười” để hòa giải, trở lại hòa thuận, để còn “tối lửa tắt đèn có nhau”.
Trong thực tế, các mâu thuẫn, tranh chấp trong nhân dân không phải lúc nào cũng được giải quyết ổn thỏa bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền bằng một bản án hay một quyết định mà nhiều khi được giải quyết ổn thỏa bằng hòa giải. Vì hòa giải sẽ giúp các bên đạt được thỏa thuận một cách tự nguyện, giải quyết tận gốc rễ các mâu thuẫn về cả lợi ích vật chất lẫn tinh thần, khôi phục, giữ gìn tình cảm, sự đoàn kết, tương thân tương ái.
Thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở không những góp phần phát huy truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái trong cộng đồng dân cư mà còn có tác dụng giáo dục, cảm hóa con người, giáo dục ý thức pháp luật, khơi dậy tình cảm, đạo đức tốt đẹp.
Như vậy, thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở có vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng tình làng, nghĩa xóm đầm ấm, đùm bọc, giúp đỡ nhau, xây dựng cộng đồng xã hội bình yên, giàu mạnh, tăng cường tình đoàn kết trong nhân dân và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân. Hòa giải làm cho con người sống với nhau có nghĩa có tình, ứng xử với nhau trong quan hệ hàng ngày phù hợp với pháp luật và chuẩn mực đạo đức xã hội. Mọi người có ý thức giữ gìn đoàn kết, tình làng, nghĩa xóm, đảm bảo trật tự, an toàn xã hội. Bản thân mỗi gia đình có ý thức giáo dục, nhắc nhở con cháu sống và làm việc theo pháp luật, phù hợp với đạo đức xã hội, góp phần hình thành nếp sống văn minh, xây dựng gia đình văn hóa.
- Thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở góp phần giải quyết, phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội Luận văn: Pháp luật về hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
Trong cuộc sống thường ngày, do khác nhau về quan niệm sống, nhận thức, tình cảm, lợi ích kinh tế… nên thường nảy sinh mâu thuẫn tranh chấp. Những mâu thuẫn, tranh chấp đó có thể giải quyết bằng nhiều hình thức khác nhau: một là tự thỏa thuận giữa các bên; hai là đơn phương chấm dứt xung đột; ba là nhờ sự can thiệp của chính quyền địa phương thông qua hòa giải ở cơ sở; bốn là khiếu kiện ra Tòa án nhân dân hoặc các cơ quan Nhà nước khác. Tuy vậy, rất ít trường hợp sau khi xảy ra tranh chấp mà các bên tự dàn xếp thỏa thuận được, hoặc một bên chịu từ bỏ lợi ích của mình để đơn phương chấm dứt xung đột, vì thế thường thì phải nhờ đến sự can thiệp của một bên thứ ba mới có thể giải quyết được mâu thuẫn. Nếu vụ việc bị đưa ra tòa án thì sẽ càng phức tạp hơn vì phải tuân theo một trình tự thủ tục tố tụng chặt chẽ, cả người đi kiện và người bị kiện chắc chắn sẽ mất rất nhiều thời gian và công sức để theo đuổi vụ kiện đến cùng. Hơn nữa, đối với những vi phạm pháp luật nhỏ chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự hay xử lý hành chính thì những vi phạm đó nên được giải quyết bằng hòa giải. Vì thế trong các hình thức trên, hòa giải ở cơ sở là một phương pháp hữu hiệu được sử dụng vì nó vừa hợp đạo lý, tâm lý của người Việt vừa phát huy được những điểm tích cực của mình.
Thực tế những vi phạm pháp luật và mâu thuẫn nhỏ nếu không kịp thời giải quyết thấu đáo có thể dẫn đến những hành vi tội phạm. Phần lớn các hành vi phạm tội, đặc biệt là tội giết người, tội cố ý gây thương tích… đều phát sinh từ những mâu thuẫn, tranh chấp nhỏ, sự bất đồng chính kiến, thói ghen ghét nhau của người dân do không được kịp thời hòa giải đã gây ra những hành động đáng tiếc. Trong giai đoạn hiện nay, một số tranh chấp đặc biệt là tranh chấp về đất đai, là một trong những tranh chấp dai dẳng, quyết liệt và phức tạp. Những tranh chấp này nếu không kịp thời giải quyết sẽ dẫn đến nguy cơ khiếu kiện tập thể, tụ tập đông người gây rối ở các cơ quan hành chính Nhà nước, trở thành điểm nóng chính trị ở nhiều địa phương trong thời gian gần đây. Thông qua việc phát hiện và giải quyết tận gốc những mâu thuẫn, tranh chấp sẽ góp phần ổn định trật tự xã hội ở địa bàn dân cư, tạo điều kiện thuận lợi cho các cấp chính quyền tăng cường công tác quản lý xã hội ở cơ sở.
Vì vậy, thực hiện tốt pháp luật về hòa giải ở cơ sở không những góp phần giải quyết kịp thời các vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong cộng đồng dân cư mà còn có tác dụng triệt tiêu mầm mống dẫn đến tội phạm và những bất ổn xã hội, góp phần phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự an toàn xã hội ở cơ sở. Từ đó có thể thấy, hòa giải ở cơ sở không những là một hình thức giải quyết tranh chấp mà nó còn là một nguyên tắc quản lý xã hội trong mọi thời đại.
- Thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở góp phần hạn chế khiếu kiện, tiết kiệm thời gian, công sức, tài sản của Nhà nước và nhân dân Luận văn: Pháp luật về hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
Việc giải quyết tranh chấp thông qua Tòa án hoặc cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền được quy định chặt chẽ, và chỉ được tiến hành theo một trình tự thủ tục luật định, để đảm bảo giải quyết vụ việc theo đúng quy định của pháp luật. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhân danh Nhà nước, được quyền phân xử để đưa ra các phán quyết có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với các bên tranh chấp. Các phán quyết này thể hiện quyền lực Nhà nước với tư cách là cơ quan bảo vệ pháp luật. Nếu các phán quyết này không được thi hành thì Nhà nước có một cơ chế để đảm bảo thực hiện bằng sự cưỡng chế.
Những mâu thuẫn, tranh chấp của nhân dân nếu được giải quyết bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ dẫn đến việc tốn hao công sức, tiền bạc, thời gian… của nhân dân và cả cơ quan nhà nước. Thực tế hiện nay, số vụ việc khiếu kiện mà Tòa án hay Ủy ban nhân dân các cấp phải thụ lý giải quyết đã quá tải, trong khi đó cơ sở vật chất kỹ thuật, điều kiện về đội ngũ cán bộ chuyên môn lại chưa đáp ứng được yêu cầu trong tình hình mới. Đối với nhiều vụ việc, nguyên nhân dẫn đến tình trạng khiếu kiện ra Tòa án, khiếu kiện vượt cấp là việc chưa thực hiện tốt hình thức hòa giải ở cơ sở.
Như vậy, thực hiện tốt pháp luật hòa giải ở cơ sở không những góp phần giải quyết kịp thời các mâu thuẫn mà thông qua đó còn phổ biến, tuyên truyền pháp luật, giải thích cho các bên tranh chấp thấy được ưu, nhược điểm của việc giải quyết bằng hòa giải so với việc giải quyết bằng tòa án. Từ đó làm giảm bớt các vụ việc phải giải quyết của tòa án và các cơ quan hành chính nhà nước, tiết kiệm cho nhân dân về chi phí khiếu kiện, thời gian, công sức đi lại, hạn chế rủi ro tai nạn giao thông, tập trung thời gian và công sức làm ăn, góp phần xóa đói giảm nghèo ở cơ sở. Ngoài ra, công tác hòa giải ở cơ sở còn góp phần tiết kiệm thời gian, công sức, cơ sở vật chất của các cơ quan tố tụng, giảm chi tiêu từ ngân sách nhà nước.
- Thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở góp phần tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật
Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật là một khâu của tổ chức thực hiện pháp luật, có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đưa pháp luật vào cuộc sống. Hòa giải ở cơ sở là một trong những hình thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật. Thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở và tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật có mối quan hệ biện chứng với nhau. Để việc thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở đạt hiệu quả phải có cơ chế tổ chức thực hiện pháp luật hữu hiệu đưa pháp luật hòa giải vào cuộc sống, trong đó việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung và pháp luật về hòa giải ở cơ sở nói riêng là khâu không thể thiếu. Ngược lại, tổ chức thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở là một trong những hình thức, phương pháp tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật hữu hiệu.
Bằng sự định hướng, giáo dục thông qua hoạt động hòa giải ở cơ sở mà pháp luật đi sâu vào nhận thức của mỗi người. Việc hòa giải một vụ việc cụ thể với sự giải thích, vận động, phân tích của hòa giải viên có tác dụng khơi dậy niềm tin, tình cảm của người dân đối với pháp luật. Đồng thời thông qua hoạt động hòa giải, hòa giải viên tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đối với các bên tranh chấp, giúp họ hiểu biết về chính sách pháp luật của Nhà nước. Từ đó hình thành thói quen sống và làm việc theo pháp luật của nhân dân.
1.2. Nội dung thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở Luận văn: Pháp luật về hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
1.2.1. Tuyên truyền, phổ biến pháp luật
Ngày 04/11/2013, Bộ tư pháp ban hành Quyết định 2611/QĐ-BTP về ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Luật Hòa giải ở cơ sở, trong đó đã quy định các nội dung về tổ chức hội nghị tập huấn, quán triệt nội dung cơ bản của Luật Hòa giải ở cơ sở, các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành đối với các cán bộ, công chức tư pháp; báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh, cấp huyện; tuyên truyền viên pháp luật và hòa giải viên. Biên soạn, phát hành các tài liệu phổ biến, giới thiệu Luật Hòa giải ở cơ sở.
Trên cơ sở tài liệu do Bộ Tư pháp biên soạn, Sở Tư pháp tham mưu cho Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức biên soạn tài liệu phổ biến Luật phù hợp với các đối tượng tại địa phương. Tổ chức thực hiện các chuyên mục, chương trình, tin, bài phổ biến Luật, các văn bản hướng dẫn thi hành và tình hình tổ chức thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở trên các phương tiện thông tin đại chúng. Ngoài các hình thức, biện pháp nêu trên, các cơ quan, đơn vị, địa phương tổ chức thực hiện các hình thức, biện pháp khác để phổ biến, quán triệt Luật Hòa giải ở cơ sở phù hợp với điều kiện thực tiễn của cơ quan, đơn vị, địa phương mình.
1.2.2. Chỉ đạo triển khai thực hiện
Luật Hòa giải ở cơ sở đã thể hiện sự phân cấp rõ ràng giữa Trung ương và địa phương, cơ chế phối hợp thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước giữa các ngành và các cấp trong công tác hòa giải ở cơ sở nhằm bảo đảm thống nhất trong việc quản lý nhà nước về công tác hòa giải ở cơ sở; phát huy thế mạnh của địa phương trong công tác hòa giải trên cơ sở điều kiện cụ thể của địa phương. Luận văn: Pháp luật về hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
Ngoài những nhiệm vụ của Ủy ban nhân dân các cấp quy định tại Điều 29 Luật Hòa giải ở cơ sở, Nghị định số 15/2014/NĐ-CP ngày 27/02/2014 của Chính phủ quy định thêm một số trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp trong quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước đối với công tác này. Cụ thể như sau:
- Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm:
Chủ trì, phối hợp với UBMTTQVN cấp tỉnh hướng dẫn, tổ chức thực hiện văn bản pháp luật về hòa giải ở cơ sở trong phạm vi địa phương;
Biên soạn, hỗ trợ tài liệu phục vụ công tác hòa giải ở cơ sở; tổ chức tập huấn, bồi dưỡng, hướng dẫn nghiệp vụ thực hiện công tác quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở cho cấp huyện; hướng dẫn cấp huyện tổ chức tập huấn, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức pháp luật, kỹ năng, nghiệp vụ hòa giải ở cơ sở cho hòa giải viên theo hướng dẫn của Bộ Tư pháp;
Tổng hợp, trình dự toán kinh phí hỗ trợ cho công tác hòa giải ở cơ sở tại địa phương để Hội đồng nhân dân cùng cấp xem xét, quyết định;
Chủ trì, phối hợp với UBMTTQVN cấp tỉnh tổ chức kiểm tra, sơ kết, tổng kết và khen thưởng về hòa giải ở cơ sở theo quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng; tiếp nhận, tổ chức thực hiện, khen thưởng tổ chức, cá nhân đóng góp, hỗ trợ cho công tác hòa giải ở cơ sở của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; xem xét, quyết định khen thưởng tổ chức, cá nhân tham gia, đóng góp, hỗ trợ cho công tác hòa giải ở cơ sở của quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh trên cơ sở đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp huyện; định kỳ sáu tháng, hằng năm và đột xuất khi có yêu cầu thực hiện thống kê, báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp và Bộ Tư pháp kết quả thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở.
- Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có trách nhiệm:
Chủ trì, phối hợp với UBMTTQVN cấp huyện hướng dẫn, tổ chức thực hiện văn bản pháp luật về hòa giải ở cơ sở trong phạm vi địa phương; hướng dẫn lồng ghép thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở vào xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của thôn, làng, bản, ấp, cụm dân cư; cung cấp tài liệu, thông tin miễn phí về chính sách, pháp luật liên quan cho tổ chức, cá nhân quy định tại khoản 1 Điều 3 của Nghị định số 15/2014/NĐ-CP;
Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng, hướng dẫn nghiệp vụ thực hiện công tác quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở cho cấp xã; tổ chức tập huấn, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức pháp luật, kỹ năng, nghiệp vụ hòa giải ở cơ sở cho hòa giải viên theo hướng dẫn của Sở Tư pháp; Luận văn: Pháp luật về hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
Tổng hợp, trình dự toán kinh phí hỗ trợ cho công tác hòa giải ở cơ sở tại địa phương để Hội đồng nhân dân hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, quyết định;
Chủ trì, phối hợp với UBMTTQVN cấp huyện tổ chức kiểm tra, sơ kết, tổng kết và khen thưởng về hòa giải ở cơ sở theo quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng; tiếp nhận, tổ chức thực hiện, khen thưởng hoặc đề nghị Ủy ban nhân dân cấp tỉnh khen thưởng tổ chức, cá nhân tham gia, đóng góp, hỗ trợ cho công tác hòa giải ở cơ sở của quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh khi cần thiết; xem xét, quyết định khen thưởng tổ chức, cá nhân tham gia, đóng góp, hỗ trợ cho công tác hòa giải của xã, phường, thị trấn trên cơ sở đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp xã; định kỳ 06 tháng, hằng năm và đột xuất khi có yêu cầu thực hiện thống kê, báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp, Sở Tư pháp kết quả thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở.
- Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn có trách nhiệm:
Chủ trì, phối hợp với UBMTTQVN cấp xã hướng dẫn, tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về hòa giải ở cơ sở; lồng ghép thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở trong xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của thôn, làng, bản, ấp, cụm dân cư; hỗ trợ tài liệu, phổ biến pháp luật phục vụ hoạt động hòa giải ở cơ sở cho cá nhân quy định tại Điều 2 của Nghị định này;
Phối hợp với UBMTTQVN cấp xã hướng dẫn Ban công tác Mặt trận phối hợp với trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố thành lập, kiện toàn tổ hòa giải và công nhận, cho thôi tổ trưởng tổ hòa giải, hòa giải viên;
Xây dựng dự toán kinh phí hỗ trợ cho hoạt động hòa giải trình Hội đồng nhân dân cùng cấp hoặc cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định; thực hiện hỗ trợ kinh phí cho hoạt động hòa giải tại xã, phường, thị trấn;
Chủ trì, phối hợp với UBMTTQVN cấp xã tổ chức kiểm tra, sơ kết, tổng kết và khen thưởng về hòa giải ở cơ sở theo quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng; tiếp nhận, tổ chức thực hiện, khen thưởng hoặc đề nghị Ủy ban nhân dân cấp huyện khen thưởng tổ chức, cá nhân tham gia, đóng góp, hỗ trợ cho công tác hòa giải ở cơ sở của xã, phường, thị trấn khi cần thiết; định kỳ sáu tháng, hằng năm và đột xuất khi có yêu cầu thực hiện thống kê, báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp, Phòng Tư pháp kết quả thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở.
1.2.3. Xây dựng chương trình, tài liệu Luận văn: Pháp luật về hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật, Bộ Tư pháp đã xây dựng chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ hòa giải ở cơ sở, chịu trách nhiệm biên soạn tài liệu mẫu; tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ cho đối tượng thực hiện công tác quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở cấp tỉnh, bao gồm: đại diện các Sở Tư pháp; UBMTTQVN và các tổ chức thành viên của Mặt trận cấp tỉnh. Tổ chức biên soạn tài liệu và tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ thực hiện công tác quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở, nghiệp vụ hòa giải ở cơ sở.
Sở Tư pháp tổ chức và hướng dẫn cơ quan tư pháp cấp dưới tổ chức biên soạn, phát hành tài liệu phù hợp với các đối tượng tại địa phương; bồi dưỡng nghiệp vụ thực hiện công tác quản lý nhà nước, nghiệp vụ hòa giải ở cơ sở tại địa phương theo hướng dẫn của Bộ Tư pháp.
Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận phối hợp với Bộ Tư pháp xây dựng tài liệu, tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ cho đối tượng thực hiện công tác quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở cấp tỉnh; chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức cấp dưới của mình phối hợp với cơ quan Tư pháp cùng cấp trong việc biên soạn tài liệu, tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ thực hiện quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở, nghiệp vụ hòa giải ở cơ sở tại địa phương.
1.2.4. Xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ quản lý thực hiện hòa giải ở cơ sở
Bộ Tư pháp ban hành văn bản hướng dẫn về việc củng cố, kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện nhiệm vụ quản lý công tác hòa giải ở cơ sở, tổ hòa giải, đội ngũ hòa giải viên, trong đó, thống nhất đầu mối thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác hòa giải ở cơ sở tại địa phương.
UBND cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo Sở Nội vụ, Sở Tư pháp, Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã củng cố, kiện toàn cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu quản lý công tác hòa giải ở địa phương; rà soát, củng cố, kiện toàn tổ hòa giải, đội ngũ hòa giải viên; tổ chức thực hiện có hiệu quả hoạt động hòa giải theo quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở.
Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận phối hợp chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức cấp dưới của mình phối hợp với cơ quan Tư pháp cùng cấp trong việc củng cố, kiện toàn tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động hòa giải ở cơ sở; khuyến khích các thành viên, hội viên tham gia tích cực vào hoạt động hòa giải ở cơ sở.
- Về hòa giải viên (Điều 7, Điều 8, Điều 9, Điều 10): Luận văn: Pháp luật về hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
Hòa giải viên là những người trực tiếp thực hiện hoạt động hòa giải và là trung tâm của hoạt động này. So với Pháp lệnh, các quy định về tiêu chuẩn hòa giải viên; quyền, nghĩa vụ của hòa giải viên; thủ tục bầu, công nhận hòa giải viên và các trường hợp thôi làm hòa giải viên trong Luật có nhiều điểm mới được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với điều kiện hiện nay.
- Về tiêu chuẩn hòa giải viên:
Việc quy định tiêu chuẩn hòa giải viên trong Luật nhằm đòi hỏi hòa giải viên phải có đủ điều kiện đáp ứng với hoạt động hòa giải trong tình hình mới, đồng thời, qua đó xác định rõ trách nhiệm của cơ quan Nhà nước trong việc nâng cao năng lực cho hòa giải viên. Luật quy định người được bầu làm hòa giải viên phải là công dân Việt Nam thường trú tại cơ sở, tự nguyện tham gia hoạt động hòa giải và có các tiêu chuẩn về phẩm chất đạo đức, uy tín trong cộng đồng dân cư, khả năng thuyết phục, vận động nhân dân, có hiểu biết pháp luật.
Các tiêu chuẩn quy định trong Luật về cơ bản đã thể hiện chủ trương thu hút, khuyến khích cá nhân tự nguyện tham gia hoạt động hòa giải ở cơ sở, mong muốn xây dựng đội ngũ hòa giải viên có chất lượng, uy tín, đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ, cũng như tạo sự linh hoạt trong quá trình bầu, lựa chọn hòa giải viên.
- Về bầu, công nhận hòa giải viên:
Việc chủ trì, tổ chức thực hiện bầu hòa giải viên do Trưởng ban công tác Mặt trận tiến hành cùng với sự phối hợp của trưởng thôn, tổ trưởng dân phố. Luật quy định cụ thể hình thức tổ chức bầu hòa giải viên thông qua việc tổ chức cuộc họp đại diện các hộ gia đình hoặc phát phiếu lấy ý kiến các hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố; người được bầu làm hòa giải viên phải được trên 50% đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố đồng ý.
Sau khi tổ chức việc bầu hòa giải viên kết thúc, Trưởng ban công tác Mặt trận lập danh sách người được đề nghị công nhận là hòa giải viên gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã để ra quyết định công nhận hòa giải viên.
Quyết định công nhận hòa giải viên được gửi cho Ban thường trực UBMTTQVN cấp xã, Trưởng ban công tác Mặt trận, trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố, hòa giải viên và thông báo công khai ở thôn, tổ dân phố.
- Về quyền và nghĩa vụ của hòa giải viên: Luận văn: Pháp luật về hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
Luật Hòa giải ở cơ sở đã bổ sung một số quyền và nghĩa vụ của hòa giải viên, trong đó có quyền được bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ, kỹ năng hòa giải ở cơ sở; được hưởng thù lao khi thực hiện vụ, việc hòa giải; được khen thưởng; được hỗ trợ, tạo điều kiện để khắc phục hậu quả nếu gặp tai nạn hoặc rủi ro ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng trong khi thực hiện hoạt động hòa giải… cũng như một số nghĩa vụ cho phù hợp với tình hình mới, khắc phục hạn chế, bất cập của đội ngũ hòa giải viên hiện nay.
Với quan điểm không hành chính hóa trong tổ chức cũng như hoạt động hòa giải ở cơ sở, Luật Hòa giải ở cơ sở đã bỏ quy định về nhiệm kỳ của hòa giải viên, thay vào đó là quy định về thời điểm để kiện toàn tổ chức hòa giải ở cơ sở theo hướng hằng năm rà soát, đánh giá về tổ chức và hoạt động của tổ hòa giải.
- Thôi làm hòa giải viên:
Luật Hòa giải ở cơ sở quy định cụ thể các trường hợp thôi làm hòa giải viên như: theo nguyện vọng của hòa giải viên, không còn đáp ứng một trong các tiêu chuẩn quy định tại Điều 7 của Luật này, vi phạm nguyên tắc tổ chức, hoạt động hòa giải ở cơ sở theo quy định tại Điều 4 của Luật này hoặc không có điều kiện tiếp tục làm hòa giải viên do bị xử lý vi phạm pháp luật.
Nếu như việc quy định bầu hòa giải viên nhằm mục đích lựa chọn được những người đủ tiêu chuẩn làm hòa giải viên, nâng cao vài trò và ý nghĩa của hòa giải viên trong công tác hòa giải ở cơ sở cũng như giúp hòa giải viên nhận thức được trách nhiệm của họ trong công tác này thì quy định về thôi làm hòa giải viên lại nhằm mục đích mang lại cảm giác nhẹ nhàng, không nặng nề, tránh hình thức và không gây mặc cảm cho hòa giải viên, đặc biệt, trong trường hợp thôi làm hòa giải viên vì lý do chính đáng (bận việc gia đình, sức khỏe yếu…) không thể tham gia làm hòa giải viên.
- Về tổ hòa giải (từ Điều 12 đến Điều 15): Luận văn: Pháp luật về hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
Tổ hòa giải là tổ chức quần chúng của nhân dân được thành lập tại cơ sở, thực hiện hòa giải tại chỗ, kịp thời, thường xuyên các mâu thuẫn, vi phạm pháp luật và tranh chấp trong nhân dân, chủ động phòng ngừa vi phạm pháp luật và góp phần phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân.
Về cơ bản, Luật Hòa giải ở cơ sở bổ sung quy định về thành phần tổ hòa giải phải có hòa giải viên nữ; đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tổ hòa giải cần có hòa giải viên là người dân tộc thiểu số; chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định số lượng tổ hòa giải, hòa giải viên trong một tổ hòa giải căn cứ vào đặc điểm, tình hình kinh tế – xã hội, dân số của địa phương và đề nghị của Ban thường trực UBMTTQVN cấp xã.
Luật Hòa giải ở cơ sở quy định rõ và đầy đủ hơn trách nhiệm của tổ hòa giải ở cơ sở nhằm khẳng định vị trí, vai trò, và đề cao trách nhiệm của tổ hòa giải trong việc phối hợp với các tổ chức chính trị – xã hội ở cơ sở, đoàn thể nhân dân khác trong hoạt động hòa giải ở cơ sở hiện nay.
Tiếp tục kế thừa, mở rộng và phát huy vai trò, trách nhiệm của tổ trưởng tổ hòa giải trong hoạt động hòa giải ở cơ sở, Luật quy định rõ ràng, cụ thể hơn quyền và nghĩa vụ của tổ trưởng tổ hòa giải.
- Về hoạt động hòa giải ở cơ sở (từ Điều 16 đến Điều 27):
Đây là một chương có nhiều nội dung mới được bổ sung so với Pháp lệnh hòa giải.
- Về căn cứ tiến hành hòa giải:
Luật Hòa giải ở cơ sở quy định căn cứ tiến hành hòa giải đầu tiên là phải có yêu cầu hòa giải của một bên hoặc các bên.
Quy định này nhằm đề cao tính tự nguyện, chủ động của các bên khi có nhu cầu hoà giải mâu thuẫn, tranh chấp và vi phạm pháp luật. Thực tế thời gian qua đã khẳng định việc hòa giải nếu được các bên yêu cầu thì việc hòa giải diễn ra thuận lợi hơn so với các trường hợp khác.
Ngoài ra, hòa giải viên có thể chủ động tiến hành hòa giải khi trực tiếp chứng kiến hoặc biết về các mâu thuẫn, vi phạm pháp luật và tranh chấp thuộc phạm vi hòa giải; theo phân công của tổ trưởng tổ hòa giải hoặc đề nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
Quy định này đã đề cao vai trò chủ động, nhiệt tình của hòa giải viên trong việc giải quyết kịp thời mâu thuẫn, tranh chấp nhỏ nhưng vẫn phải bảo đảm nguyên tắc tự nguyện của các bên.
1.2.5. Bảo đảm điều kiện thực hiện Luận văn: Pháp luật về hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
Luật Hòa giải ở cơ sở bổ sung quy định về chính sách của Nhà nước về hòa giải ở cơ sở, trong đó khuyến khích các bên giải quyết vi phạm pháp luật và tranh chấp bằng hình thức hòa giải ở cơ sở và các hình thức hòa giải thích hợp khác trong nhân dân; khuyến khích những người có uy tín trong cộng đồng dân cư tích cực tham gia hòa giải ở cơ sở và tham gia các hình thức hòa giải thích hợp khác của nhân dân ở cơ sở. Nhà nước có chính sách tạo điều kiện, hỗ trợ kinh phí cho hoạt động hòa giải ở cơ sở; khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong nước, nước ngoài đóng góp và hỗ trợ cho công tác hòa giải ở cơ sở phát triển.
Đây là chính sách nhằm khuyến khích người dân ở cơ sở khi có mâu thuẫn, vi phạm pháp luật và tranh chấp nên dùng biện pháp hòa giải khi chưa cần thiết phải đưa vụ việc ra cơ quan có thẩm quyền giải quyết như Tòa án, Trọng tài… Hơn nữa, yêu cầu của cải cách tư pháp, cải cách hành chính cũng đặt ra những mục tiêu cụ thể để bảo đảm ngày càng cao hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020: “khuyến khích việc giải quyết một số tranh chấp thông qua thương lượng, hòa giải, trọng tài”. Chính sách này là cơ sở khuyến khích người dân tích cực tham gia hoạt động hòa giải và xác định rõ vai trò tự quản, tự giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp nhỏ của nhân dân tại cộng đồng dân cư hiện nay.
Luật bổ sung quy định mới về khuyến khích người có uy tín trong cộng đồng dân cư như già làng, trưởng bản, các chức sắc tôn giáo… tham gia hòa giải ở cơ sở. Quy định này nhằm phát huy, huy động người có uy tín, tâm huyết tham gia hòa giải ở cơ sở, đồng thời tạo điều kiện để người dân có nhiều cơ hội tiếp cận, giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp trong nội bộ nhân dân.
Một điểm mới quan trọng của Luật Hòa giải ở cơ sở là quy định Nhà nước có chính sách để phát huy vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong công tác hòa giải ở cơ sở, thể hiện đúng bản chất của hòa giải ở cơ sở là tự nguyện, tự quản. Vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được thể hiện rõ nét trong các quy định về tham gia quản lý nhà nước về công tác hòa giải ở cơ sở; bầu/lựa chọn hòa giải viên; cho thôi làm hòa giải viên; thành lập tổ hòa giải…Quy định này đã thể hiện tinh thần dân chủ mạnh mẽ, đề cao vai trò quan trọng của UBMTTQVN các cấp và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong hoạt động hòa giải ở cơ sở. Luận văn: Pháp luật về hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
Nhằm tạo hành lang pháp lý cho công tác hòa giải ở cơ sở được thực hiện có hiệu quả, Luật cũng quy định Nhà nước “tạo điều kiện, hỗ trợ cho hoạt động hòa giải ở cơ sở; khuyến khích tổ chức, cá nhân đóng góp, hỗ trợ cho hoạt động hòa giải ở cơ sở”. Để khuyến khích các tổ chức, cá nhân đóng góp, hỗ trợ cho công tác hòa giải ở cơ sở, tại Điều 3 Nghị định số 15/2014/NĐ-CP đã quy định cụ thể chính sách đối với tổ chức, cá nhân đóng góp, hỗ trợ cho công tác hòa giải ở cơ sở. Trong đó, khuyến khích Hội Luật gia Việt Nam, Liên đoàn Luật sư Việt Nam, các tổ chức xã hội – nghề nghiệp khác về pháp luật, tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật hỗ trợ tài liệu phục vụ hoạt động hòa giải ở cơ sở; phổ biến pháp luật về hòa giải ở cơ sở; hỗ trợ tổ chức tập huấn kiến thức pháp luật, nghiệp vụ cho hòa giải viên; tạo điều kiện cho thành viên, hội viên của tổ chức mình tham gia hòa giải ở cơ sở thì được khen thưởng theo quy định Hòa giải ở cơ sở với tính chất là hoạt động tự nguyện, tự quản của cộng đồng dân cư. Nhà nước chỉ thực hiện quản lý và hỗ trợ cho công tác này. Nếu Nhà nước bao cấp hoàn toàn cho hoạt động này thì sẽ làm mất đi tính xã hội hóa, tính tự nguyện, tự quản, đi ngược lại với bản chất của hoạt động hòa giải ở cơ sở. Do đó, tại Điều 6 Luật Hòa giải ở cơ sở quy định Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở như sau:
Nhà nước hỗ trợ kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở để biên soạn, phát hành tài liệu; tổ chức bồi dưỡng, hướng dẫn nghiệp vụ, kỹ năng về hòa giải ở cơ sở; sơ kết, tổng kết, khen thưởng đối với công tác hòa giải ở cơ sở; chi thù lao cho hòa giải viên theo vụ, việc và hỗ trợ các chi phí cần thiết khác cho hoạt động hòa giải ở cơ sở.
Ngân sách trung ương chi bổ sung cho các địa phương chưa tự cân đối được ngân sách để hỗ trợ kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Điều 6, Luật Hòa giải ở cơ sở, Điều 12 Nghị định số 15/2014/NĐ-CP đã quy định nguyên tắc hỗ trợ kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở như sau: Kinh phí cho quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở do ngân sách nhà nước bảo đảm theo phân cấp ngân sách hiện hành; Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tự cân đối được ngân sách bố trí, sử dụng nguồn thu ngân sách của địa phương để hỗ trợ kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở; Ngân sách Trung ương chi bổ sung cho các tỉnh chưa tự cân đối được ngân sách để hỗ trợ kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở trên cơ sở đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Việc sử dụng kinh phí hỗ trợ cho công tác hòa giải ở cơ sở được thực hiện theo phân cấp ngân sách hiện hành.
Trên cơ sở kinh phí hỗ trợ cho công tác hòa giải ở cơ sở được thực hiện theo quy định tại khoản 1, Điều 6 Luật Hòa giải ở cơ sở và quy định mang tính nguyên tắc tại Điều 12 Nghị định số 15/2014/NĐ-CP, nội dung chi hỗ trợ cho công tác hòa giải ở cơ sở bao gồm:
- Chi hỗ trợ tổ hòa giải để mua, sao chụp tài liệu, văn phòng phẩm phục vụ hoạt động của tổ hòa giải; tổ chức các cuộc họp, sơ kết, tổng kết hoạt động của tổ hòa giải; Luận văn: Pháp luật về hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
- Chi hỗ trợ cho hòa giải viên bao gồm: chi hỗ trợ thù lao cho hòa giải viên theo vụ, việc; chi hỗ trợ cho hòa giải viên khi gặp tai nạn hoặc rủi ro ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng trong khi thực hiện hoạt động hòa giải.
Điều 14 Nghị định số 15/2014/NĐ-CP quy định điều kiện để hòa giải viên được hưởng thù lao theo vụ, việc là:
- Vụ, việc được tiến hành hòa giải và đã kết thúc theo quy định tại Điều 23 của Luật Hòa giải ở cơ sở.
- Hòa giải viên không vi phạm nghĩa vụ quy định tại Điều 10 của Luật Hòa giải ở cơ sở.
Về thủ tục thanh toán thù lao cho hòa giải viên, Điều 15 Nghị định số 15/2014/NĐ-CP quy định:
- Tổ trưởng tổ hòa giải lập hồ sơ đề nghị thanh toán thù lao cho hòa giải viên, bao gồm: Giấy đề nghị thanh toán thù lao của hòa giải viên có ghi rõ họ, tên, địa chỉ của hòa giải viên; tên, địa chỉ tổ hòa giải; số tiền đề nghị thanh toán; nội dung thanh toán; chữ ký của hòa giải viên; chữ ký xác nhận của tổ trưởng tổ hòa giải và xuất trình Sổ theo dõi hoạt động hòa giải ở cơ sở để đối chiếu khi cần thiết.
- Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Ủy ban nhân dân cấp xã xem xét, quyết định và trả thù lao cho hòa giải viên thông qua tổ hòa giải; trường hợp quyết định không thanh toán cho hòa giải viên thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
- Tổ hòa giải thực hiện trả thù lao cho hòa giải viên theo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận được thù lao.
Trường hợp hòa giải viên bị tai nạn hoặc rủi ro làm ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng trong khi đang thực hiện hòa giải hoặc trên đường đi và về từ nơi ở đến địa điểm thực hiện hòa giải trên tuyến đường và trong khoảng thời gian hợp lý, thì hòa giải viên và gia đình hòa giải viên được xem xét hỗ trợ các khoản như: Chi phí cứu chữa, phục hồi sức khỏe cho hòa giải viên, chi phí cho gia đình hòa giải viên để cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc hòa giải viên trước khi chết; người tổ chức mai táng được hỗ trợ chi phí cho việc mai táng (Điều 16, Điều 17 Nghị định số 15/2014/NĐ-CP).
Thủ tục thực hiện hỗ trợ khi hòa giải viên gặp tai nạn hoặc rủi ro ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng trong khi thực hiện hoạt động hòa giải được quy định cụ thể: Luận văn: Pháp luật về hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
- 01 bộ hồ sơ đề nghị hỗ trợ
- Hòa giải viên hoặc gia đình hòa giải viên trong trường hợp hòa giải viên bị thiệt hại về tính mạng nộp hồ sơ đề nghị hỗ trợ đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đã ra quyết định công nhận hòa giải viên.
- Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Ủy ban nhân dân cấp xã xem xét, có văn bản đề nghị gửi Ủy ban nhân dân cấp huyện kèm theo hồ sơ đề nghị hỗ trợ.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện xem xét, ra quyết định hỗ trợ; trường hợp không hỗ trợ thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Chậm nhất sau 03 ngày làm việc, kể từ ngày ngày nhận được quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện việc chi tiền hỗ trợ.
1.2.6. Kiểm tra, đánh giá công tác thực hiện
Tại Điểm b, Khoản 2, Điều 29, Luật Hòa giải ở cơ sở quy định, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm chủ trì phối hợp với UBMTTQVN cùng cấp tổ chức kiểm tra, sơ kết, tổng kết và khen thưởng về hòa giải ở cơ sở. Tại các Điều 5, Điều 6 Nghị quyết liên tịch số 01/2014/NQLT/CP-UBTƯMTTQVN ngày 18/11/2014 của Chính phủ và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã quy định về công tác kiểm tra, giám sát [17]:
Bên cạnh đó Nghị quyết liên tịch 01 cũng quy định rõ về công tác tổ chức sơ kết, tổng kết việc thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở; tổ chức hội thi hòa giải viên giỏi; tổ chức khen thưởng về hòa giải ở cơ sở
1.3. Các chủ thể thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở Luận văn: Pháp luật về hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
1.3.1. Hòa giải viên, tổ hòa giải
Khoản 1 Điều 2 Luật Hòa giải ở cơ sở quy định: “Hòa giải ở cơ sở là việc hòa giải viên hướng dẫn, giúp đỡ các bên đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật theo quy định của Luật này”. Hòa giải viên theo quy định tại Điều 7 Luật Hòa giải ở cơ sở là “Người được bầu làm hòa giải viên phải là công dân Việt Nam thường trú tại cơ sở, tự nguyện tham gia hoạt động hòa giải và có các tiêu chuẩn sau đây: Có phẩm chất đạo đức tốt; có uy tín trong cộng đồng dân cư; Có khả năng thuyết phục, vận động nhân dân; có hiểu biết pháp luật.”
Trình tự bầu, công nhận hòa giải viên, tổ trưởng tổ hòa giải phải theo quy định pháp luật về hòa giải. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ra quyết định công nhận hòa giải viên, tổ trưởng tổ hòa giải. Quyết định công được gửi cho Ban thường trực UBMTTQVN cấp xã, Trưởng ban công tác Mặt trận, trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố, hòa giải viên và thông báo công khai ở thôn, tổ dân phố.
Như vậy, hòa giải ở cơ sở không phải được thực hiện bởi cơ quan nhà nước hoặc tổ chức nghề nghiệp mà trước tiên được thực hiện bởi các hòa giải viên, tổ hòa giải ở cơ sở.
1.3.2. Người được mời tham gia hòa giải
Trong quá trình hòa giải, nếu thấy cần thiết, hòa giải viên và một trong các bên khi được sự đồng ý của bên kia có thể mời người có uy tín trong dòng họ, ở nơi sinh sống, nơi làm việc; người có trình độ pháp lý, có kiến thức xã hội; già làng , chức sắc tôn giáo, người biết rõ vụ, việc; đại diện của cơ quan, tổ chức hoặc người có uy tín khác tham gia hòa giải (khoản 1 Điều 19 Luật Hòa giải ở cơ sở).
Có thể nói việc hoà giải có thể do một hoặc một số tổ viên tổ hoà giải tiến hành. Tổ viên Tổ hoà giải có thể mời người ngoài tổ hoà giải thực hiện việc hoà giải hoặc cùng tham gia hoà giải. Người được mời có thể là người có trình độ pháp lý, có kiến thức xã hội và có uy tín đối với các bên tranh chấp. Trong từng trường hợp cụ thể, người được mời có thể là người thân thích, bạn bè, người hàng xóm của một hoặc các bên, người cao tuổi, người biết rõ nguyên nhân tranh chấp… Như vậy, ngoài tổ viên tổ hòa giải thì việc hòa giải còn có thể được thực hiện bởi nhiều chủ thể khác ngoài tổ hòa giải, tùy theo đặc điểm từng vụ việc mà Tổ hòa giải sẽ quyết định người nào được mời tham gia hòa giải trong vụ việc đó.
Trong khi đó, đối với hòa giải trong tố tụng, người tiến hành hòa giải phải là người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật như thẩm phán, trọng tài viên. Luận văn: Pháp luật về hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
1.3.3. Các cá nhân, cơ quan, tổ chức thực hiện việc quản lý về công tác hòa giải ở cơ sở
Chương IV Luật Hòa giải ở cơ sở quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về hòa giải cơ sở; trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp; trách nhiệm của UBMTTQVN các cấp và các tổ chức thành viên của Mặt trận.
Nhằm khẳng định vị trí, vai trò của UBMTTQVN trong công tác hòa giải ở cơ sở, cụ thể hóa chính sách phát huy vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong công tác hòa giải ở cơ sở, bên cạnh việc quy định cụ thể vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc trong giới thiệu, bầu, công nhận, cho thôi hòa giải viên, củng cố, kiện toàn tổ hòa giải, thực hiện hoạt động hòa giải ở cơ sở, theo dõi, đôn đốc các bên thực hiện kết quả hòa giải thành, Luật quy định cụ thể trách nhiệm của UBMTTQVN các cấp và các tổ chức thành viên của Mặt trận tại Điều 30. Theo đó, UBMTTQVN các cấp tham gia quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở; vận động tổ chức, cá nhân chấp hành pháp luật, giám sát việc thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở; phối hợp kiểm tra, sơ kết, tổng kết và khen thưởng về hòa giải ở cơ sở. Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn UBMTTQVN các cấp tham gia tổ chức thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở. Các tổ chức thành viên của Mặt trận trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm thực hiện hoạt động hòa giải ở cơ sở theo quy định của pháp luật.
Hoạt động hòa giải ở cơ sở là hoạt động mang tính tự nguyện, tự quản của nhân dân, nên quản lý nhà nước không nhằm “hành chính hóa” hoạt động này, mà chủ yếu là tạo ra hành lang pháp lý và những điều kiện thuận lợi cho hoạt động này được duy trì, phát triển. Luật quy định cụ thể về trách nhiệm quản lý nhà nước của Chính phủ, trách nhiệm trực tiếp của Bộ Tư pháp, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp trong việc thực hiện công tác quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở tại Điều 28 và Điều 29 của Luật. Các quy định này đã thể hiện sự phân cấp cụ thể giữa cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương và địa phương trong quản lý nhà nước về công tác hòa giải ở cơ sở.
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở
Trong thực tế hòa giải ở cơ sở, để thực hiện được một vụ việc hòa giải cần rất nhiều yếu tố, cả khách quan (đời sống kinh tế-xã hội; trình độ dân trí pháp lý; phong tục tập quán; tình hình thực thi pháp luật; sự quan tâm đến việc giải quyết các xung đột, mâu thuẫn, xích mích trong cộng đồng dân cư; tính chất của từng vụ việc…) và chủ quan của hòa giải viên (phẩm chất đạo đức, uy tín; sự nhiệt tình, trách nhiệm đối với cộng đồng; trình độ, kiến thức pháp luật; kỹ năng hòa giải, năng lực vận động…). Để đánh giá việc thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở có hiệu quả hay không thì phải xem xét đánh giá ý thức, trình độ nhận thức pháp luật của người dân; số vụ việc tranh chấp, mâu thuẫn, vi phạm pháp luật (thuộc phạm vi hòa giải) tăng hay giảm qua các năm.
Hiện nay theo quy định, thực hiện hòa giải ở cơ sở là 01 trong các tiêu chí tiếp cận pháp luật, Hội đồng đánh giá tiếp cận pháp luật và nội dung về xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật do Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành, có hiệu lực từ ngày 15/09/2017.
1.4.1. Thành lập, kiện toàn tổ hòa giải và công nhận tổ trưởng tổ hòa giải, hòa giải viên; tổ chức bồi dưỡng, hướng dẫn nghiệp vụ và kỹ năng hòa giải ở cơ sở cho hòa giải viên; đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động hòa giải ở cơ sở
Cơ quan quản lý nhà nước về công tác hòa giải trên cơ sở các quy định pháp luật về hòa giải ở cơ sở phải ban hành văn bản chỉ đạo, hướng dẫn thành lập, kiện toàn tổ hòa giải và công nhận tổ trưởng tổ hòa giải, hòa giải viên. Bên cạnh đó là thực hiện việc hỗ trợ tài liệu, phổ biến pháp luật phục vụ hoạt động hòa giải ở cơ sở theo quy định, hướng dẫn việc thực hiện các văn bản pháp luật về hòa giải ở cơ sở. Tăng cường tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật cũng như kỹ năng, nghiệp vụ hòa giải cho hòa giải viên ở cơ sở. Luận văn: Pháp luật về hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
1.4.2. Các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật thuộc phạm vi hòa giải được hòa giải kịp thời theo yêu cầu của các bên
Đây cũng là một trong những nguyên tắc của hòa giải ở cơ sở. Theo tiêu chí này thì các vụ, việc thuộc phạm vi hòa giải phải được tiếp nhận và thực hiện hòa giải theo quy định. Trong đó phải thống kê tổng số vụ việc được thực hiện hòa giải trên tổng số vụ việc tiếp nhận thuộc phạm vị hòa giải với tỉ lệ như thế nào, cao hay thấp, đạt hay không đạt để đánh giá. Đồng thời phải đánh giá cho được các vụ việc hòa giải thành trong tổng số vụ việc được thực hiện hòa giải.
1.4.3. Bố trí đủ kinh phí hỗ trợ công tác hòa giải ở cơ sở theo quy định
Theo quy định tại Điều 6 Luật Hòa giải ở cơ sở thì Nhà nước hỗ trợ kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở để biên soạn, phát hành tài liệu; tổ chức bồi dưỡng, hướng dẫn nghiệp vụ, kỹ năng về hòa giải ở cơ sở; sơ kết, tổng kết, khen thưởng đối với công tác hòa giải ở cơ sở; chi thù lao cho hòa giải viên theo vụ, việc và hỗ trợ các chi phí cần thiết khác cho hoạt động hòa giải ở cơ sở; Ngân sách trung ương chi bổ sung cho các địa phương chưa tự cân đối được ngân sách để hỗ trợ kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Như vậy về cơ bản cấp xã phải có trách nhiệm bố trí kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở. Chính vì vậy, việc ngân sách cấp xã hằng năm có bố trí kinh phí bảo đảm cho công tác quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở hay không; việc hỗ trợ kinh phí hoạt động hòa giải cho các tổ hòa giải theo đúng định mức quy định hay không; hỗ trợ kinh phí hoạt động hòa giải cho các tổ hòa giải theo định mức thấp hơn định mức quy định hay không hay việc chi thù lao hòa giải viên theo vụ, việc (Chi thù lao hòa giải viên cho tất cả vụ, việc hòa giải theo đúng định mức quy định; Chi thù lao hòa giải viên cho một số vụ, việc hòa giải hoặc chi thù lao với định mức thấp hơn định mức quy định) cũng được xem là tiêu chí đánh giá thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở.
Tiểu kết Chương 1
Chương 1 luận văn đã nghiên cứu cơ sở lý luận về thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở thông qua việc làm rõ các khái niệm, luận giải các nội dung về thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở, các chủ thể thực hiện pháp luật, đồng thời đưa ra các tiêu chí đánh giá việc thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở. Luận văn: Pháp luật về hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
Những nội dung lý luận về thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở tại Chương 1 là cơ sở để phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi tại Chương 2.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực trạng pháp luật hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Giải pháp pháp luật hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi