Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội, tổ chức bộ máy và nhân sự ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở tại Quảng Ngãi
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
Quảng Ngãi nằm ở tọa độ 14 độ 32’40’ ’- 15 độ 25’ vĩ Bắc, 108 độ 06’-109độ04’ kinh Đông. Phía Bắc giáp Quảng Nam, phía Nam giáp Bình Định, phía Tây Nam giáp tỉnh Kon Tum, phía Đông giáp biển Đông. Chiều dài của tỉnh theo hướng Bắc-Nam khoảng 100km, chiều rộng theo hướng Đông –Tây khoảng hơn 50km. Diện tích tự nhiên 5.135.20km2. Quảng Ngãi nằm trong khu vực kinh tế trọng điểm miền Trung, ngoài quốc lộ 1A và đường sắt xuyên Việt chạy qua, các vùng và địa phương Quảng Ngãi còn nối liền nhau bằng các tỉnh lộ, các đường liên huyện, liên xã. Đặc biệt Quốc lộ 24A nối Tây Nguyên với khu kinh tế Dung Quất, tạo điều kiện tốt để phát triển mạnh mẽ các lĩnh vực kinh tế-xã hội, đối ngoại và quốc phòng của tỉnh. Hiện Quảng Ngãi có 01 thành phố (thành phố Quảng Ngãi), 06 huyện đồng bằng, 06 huyện miền núi và 01 huyện đảo.
Quảng Ngãi có địa hình tương đối phức tạp với các dạng địa hình đồi núi, đồng bằng ven biển. Khí hậu Quảng Ngãi chia làm hai mùa mưa nắng rõ rệt. Nhiệt độ trung bình cả năm là 25,7 độ C, độ ẩm trung bình cả năm là 86%, lượng mưa trung bình cả năm là 3.123mm, số giờ nắng trung bình cả năm là 1.996 giờ. Quảng Ngãi là một trong những tỉnh thường xuyên chịu nhiều hậu quả nặng nề của bão lụt, hạn hán gây khó khăn cho đời sống của nhân dân.
Vùng trung du, miền núi chiếm gần 2/3 diện tích tự nhiên, nơi chủ yếu các dân tộc thiểu số sinh sống. Đồng bằng Quảng ngãi nhỏ hẹp chỉ chiếm 1/3 diện tích đất tự nhiên, đất đai màu mỡ thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp. Quảng Ngãi có bờ biển dải 130km với nhiều cửa biển, đặc biệt là cảng nước sâu Dung Quất – nơi có điều kiện để phát triển các ngành nghề ngư nghiệp, giao thông trong nước, quốc tế và có vị trí quan trọng về mặt quốc phòng. Ngoài khơi có huyện đảo Lý Sơn – là vị trí tiền tiêu, pháo đài bảo vệ Tổ quốc trên địa bàn tỉnh. Quảng Ngải là địa bàn cư trú lâu đời của cư dân ven biển miền Trung.
Từ những đặc điểm này mà tính cách người dân Quảng Ngãi (nhất là ngư dân, đồng bào dân tộc thiểu số) rất chân chất, thật thà, cần cù, chịu khó, biết đoàn kết gắn bó với nhau trong lao động sản xuất. Trọng tình nghĩa, luôn chú ý giữ gìn uy tín, danh dự cho bản thân, giia đình, dòng tộc. Tuy nhiên, do đời sống nông nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên nên tính cách của người Quảng Ngãi, nhất là người nông dân thường rụt rè, ít nói. Bên cạnh đó do sinh sống ở những vùng địa hình khác nhau nên tính cách con người cũng như phong tục, tập quán của người dân ở từng vùng cũng khác nhau, người Quảng Ngãi ở vùng đồng bằng thường hoạt bát và giỏi giao tiếp hơn người miền núi và miền biển. Người dân vùng miền núi thường trọng chữ tín và tôn trọng các quy tắc sinh hoạt cộng đồng. Ngư dân vùng biển có xu hướng đoàn kết hơn…Vì vậy việc tiếp cận đối tượng này để thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật cũng như tổ chức hòa giải cũng cần phải chú ý tới những đặc điểm đó.
2.1.2. Điều kiện kinh tế – văn hóa – xã hội Luận văn: Thực trạng pháp luật hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
Theo thống kê, dân số Quảng Ngãi đến năm 2015 là 1.246.165 người; trên địa bàn tỉnh có 17 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó dân tộc Kinh chiếm tỷ lệ 88%, dân tộc Hre chiếm 8%, dân tộc Cor 2%, dân tộc Xơ đăng 1,2%, các dân tộc khác 0,8%. Quảng Ngãi là tỉnh không có nhiều tôn giáo, các tôn giáo chính là Phật giáo, Thiên chúa giáo, Cao Đài, Tin Lành…. Các tôn giáo chiếm tỷ lệ không lớn, sống hòa hợp với nhau và với các bộ phận nhân dân không theo đạo. Công tác dân tộc, tôn giáo được các cấp ủy Đảng, chính quyền quan tâm, tạo điều kiện cho các cơ sở tôn giáo hoạt động, tôn trọng tự do tín ngưỡng của người dân.
Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở tỉnh khá ổn định, tuy vậy điểm đáng chú ý là một số tổ chức phản động nước ngoài đã cấu kết với các phần tử trong nước lợi dụng các chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước để tổ chức truyền đạo trái phép tại các huyện miền núi như Sơn Hà, Sơn Tây; xuyên tạc, phá hoại chính sách đoàn kết dân tộc; kích động một bộ phận quần chúng nhân dân lập các cơ sở thờ tự trái quy định, tổ chức khiếu kiện đông người, vượt cấp để đòi đất, đòi bồi thường trái quy định trong các dự án phát triển kinh tế-xã hội của chính quyền; gây rối, chống người thi hành công vụ ở một số xã, thôn vùng dân tộc…
Về điều kiện kinh tế, hiện Quảng Ngãi có Khu kinh tế Dung Quất, 03 khu công nghiệp đang hoạt động, 11 cụm công nghiệp, 22 làng nghề và hơn 3.000 doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh. Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) năm 2017 ước đạt 45.386,0 tỷ đồng (theo giá so sánh năm 2010), tăng 1,27% so với năm 2016. Trong mức tăng chung 1,27% của toàn nền kinh tế năm 2017, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản ước đạt 8.150,18 tỷ đồng, tăng 4,9%; khu vực công nghiệp – xây dựng ước đạt 24.037,83 tỷ đồng; khu vực dịch vụ ước đạt 13.197,99 tỷ đồng, tăng 8,5%. Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) năm 2017 không tính sản phẩm lọc hóa dầu ước đạt 30.342,1 tỷ đồng (theo giá so sánh năm 2010), tăng 9,1% so với năm 2016 và đạt 101,3% kế hoạch năm. Luận văn: Thực trạng pháp luật hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
Quảng Ngãi là mảnh đất có bề dày lịch sử về văn hóa, nổi bật là Văn hóa Sa Huỳnh và Văn hóa Chăm Pa, đặc biệt là hệ thống thành lũy Chàm. Văn hóa Quảng Ngãi khá phong phú, đa dạng, ngoài những tập tục văn hóa chung như các địa phương khác, ở Quảng Ngãi còn có những sinh hoạt văn hóa rất đặc thù, đó là các lễ hội như: Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa vào ngày 19 – 20/2 Âm lịch, lễ hội đua thuyền, lễ thờ cúng Cá Ông, tục thờ cúng nữ thần như: Thiên Y A Na, Cửu Thiên Huyền Nữ, Linh Sơn Thánh Mẫu, Tây Vương Mẫu. Qua các mùa lễ hội tinh thần đoàn kết tình làng nghĩa xóm càng được củng cố.
Người Quảng Ngãi có truyền thống yêu nước, đoàn kết chống giặc ngoại xâm, có truyền thống lao động cần cù, sáng tạo, truyền thống nhân nghĩa, hiếu học. Tính cách con người cũng là một đặc điểm rất cần được quan tâm để vận dụng trong công tác hòa giải.
Bên cạnh những ưu điểm, người Quảng Ngãi cũng có những hạn chế nhất định trong tính cách, tâm lý và sinh hoạt có ảnh hưởng không nhỏ đến công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cũng như công tác hòa giải ở cơ sở. Một bộ phận không nhỏ người Quảng Ngãi có tính hẹp hòi, khắt khe, cố chấp, hay so đo và chấp nhặt với nhau những chuyện rất nhỏ, đó cũng chính là một trong những nguyên nhân phát sinh các tranh chấp, mâu thuẫn, kiện tụng trong cộng đồng dân cư. Ngoài ra trình độ dân trí thấp cũng ảnh hưởng đến ý thức pháp luật và thói quen ứng xử của người dân. Do trình độ còn hạn chế, nhất là ở các huyện miền núi nên tâm lý của người dân hoặc là bất chấp pháp luật hoặc là rất sợ pháp luật, e ngại khi đến các cơ quan nhà nước hoặc khi phải tiếp xúc chính quyền. Tuy vậy, người dân các huyện miền núi lại rất trọng chữ tín, rất kính trọng và tuân thủ mọi yêu cầu của già làng, trưởng bản, những có uy tín trong cộng đồng dân cư. Vì thế, công tác hòa giải ở các huyện miền núi thường phải đặc biệt chú ý tới vai trò của những người này để làm cầu nối giữa người dân với chính quyền trong việc giải quyết các tranh chấp mâu thuẫn. Luận văn: Thực trạng pháp luật hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
2.1.3. Tổ chức bộ máy và nhân sự thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở
Tại Chương 4 Luật Hòa giải ở cơ sở quy định về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong hoạt động hòa giải ở cơ sở. Theo đó, Ủy ban nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở tại địa phương, trình dự toán kinh phí hỗ trợ cho công tác hòa giải ở cơ sở tại đại phương để Hội đồng nhân dân có thẩm quyền xem xét quyết định, tổ chức hướng dẫn nghiệp vụ và kỹ năng hòa giải ở cơ sở cho hòa giải viên theo hướng dẫn của Bộ Tư pháp; Ủy ban nhân dân các xã, phường, thị trấn chủ trì, phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về hòa giải ở cơ sở; xây dựng dự toán kinh phí hỗ trợ cho hoạt động hòa giải; thành lập, kiện toàn tổ hòa giải và công nhận tổ trưởng tổ hòa giải, hòa giải viên tại địa phương; chủ trì phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp tổ chức kiểm tra, sơ kết, tổng kết và khen thưởng về hòa giải ở cơ sở; báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp, Ủy ban nhân dân cấp huyện kết quả thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở; Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tham gia quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở; vận động tổ chức, cá nhân chấp hành pháp luật, giám sát việc thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở; phối hợp kiểm tra, sơ kết, tổng kết và khen thưởng về hòa giải ở cơ sở; Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tham gia tổ chức thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở; các tổ chức thành viên của Mặt trận trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm thực hiện hoạt động hòa giải ở cơ sở theo quy định của pháp luật.
Theo quy định, Sở Tư pháp là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân tỉnh quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở (khoản 1 Điều 1 Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi, Quy định này ban hành kèm theo Quyết định số 16/2015/QĐ-UBND ngày 17/4/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh). Theo đó bộ phận chuyên môn trực tiếp theo dõi, quản lý, tham mưu về công tác hòa giải ở cơ sở: Cấp tỉnh là phòng Phổ biến, giáo dục pháp luật; cấp huyện là phòng Tư pháp; cấp xã là công chức Tư pháp-Hộ tịch. Hiện tại phòng Phổ biến, giáo dục pháp luật có 04 biên chế: 01 trưởng phòng (thạc sỹ luật), 03 chuyên viên (cử nhân luật). Phòng Tư pháp 14 huyện, thành phố, mỗi phòng có từ 04-05 người; cấp xã có 01-02 công chức Tư pháp-Hộ tịch. các phòng thường bố trí 01 công chức trực tiếp teo dõi, quản lý, tham mưu về công tác hòa giải ở cơ sở. Từ tỉnh cho đến các huyện, thành phố và cấp xã đều giao 01 đồng chí công chức đảm nhận nhiệm vụ theo dõi, quản lý, tham mưu công tác hòa giải ở cơ sở.
Theo thống kê đến nay, trên địa bàn tỉnh có 474 cán bộ làm nhiệm vụ theo dõi, quản lý công tác hòa giải ở cơ sở.
Theo thống kê, đến nay trên địa bàn tỉnh có: 1.308 tổ hòa giải; 8.614 hòa giải viên (trong đó: 6.967 nam, 1.647 nữ; 6.076 hòa giải viên là người dân tộc kinh, 2.538 hòa giải viên là người dân tộc khác; 185 hòa giải viên có trình độ chuyên môn luật, 8.429 hòa giải viên chưa qua đào tạo chuyên môn luật).
2.2. Tình hình thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở tại tỉnh Quảng Ngãi Luận văn: Thực trạng pháp luật hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
2.2.1. Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật
Công tác tuyên truyền, phổ biến thông qua tổ chức Hội nghị, tập huấn kiến thức pháp luật, kỹ năng hòa giải ở cơ sở: Để đưa Luật Hòa giải ở cơ sở và các văn bản hướng dẫn thi hành sớm đi vào đời sống xã hội, nâng cao hiệu quả, chất lượng hoạt động hòa giải ở cơ sở, Sở Tư pháp với vai trò là cơ quan Thường trực của Hội đồng phối hợp Phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh (Hội đồng phối hợp Phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh) đã tham mưu tổ chức 01 hội nghị phổ biến Luật Hòa giải ở cơ sở cho gần 300 đại biểu là đại diện lãnh đạo UBMTTQVN tỉnh; các sở, ban ngành, các hội, đoàn thể tỉnh; báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh; đại diện lãnh đạo Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, UBMTTQVN các huyện, thành phố; Phòng Tư pháp và các phòng ban thuộc các huyện, thành phố liên quan tham gia. Qua đó, lãnh đạo các sở, ngành, địa phương đã tổ chức quán triệt cho cấp ngành mình, góp phần bảo đảm ổn định, trật tự, an toàn xã hội, phát triển kinh tế, xã hội và tuyên truyền rộng rãi nội dung của Luật Hòa giải ở cơ sở đến cán bộ và Nhân dân trên địa bàn tỉnh.
Nhằm củng cố, trang bị kiến thức pháp luật, kỹ năng, nghiệp vụ hòa giải cho cán bộ quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở và đội ngũ hoà giải viên cơ sở, Sở Tư pháp đã tổ chức 16 lớp bồi dưỡng, kiến thức pháp luật, kỹ năng nghiệp vụ về hòa giải cơ sở cho hơn 2.000 lượt người tham gia tại các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh. Phối hợp với Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật – Bộ Tư pháp tổ chức lớp tập huấn về công tác hòa giải tại huyện Sơn Hà. Ngoài ra, đã tổ chức lồng ghép gần 40 lớp trong các đợt tập huấn, theo các Đề án như “Tăng cường Phổ biến, giáo dục pháp luật tại một số địa bàn trọng điểm về vi phạm pháp luật” trên địa bàn tỉnh; “Củng cố kiện toàn và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật, đáp ứng yêu cầu đổi mới, phát triển của đất nước” và tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho các đối tượng đặc thù theo quy định tại Điều 17 của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật…cấp huyện, cấp xã cho hơn
7.000 đối tượng là cán bộ, công chức cấp xã, cán bộ quân dân chính ở thôn, tuyên truyền viên, hòa giải viên tham gia. Phối hợp với các cơ quan, địa phương cử gần 150 lượt báo cáo viên pháp luật của Sở về địa phương (huyện, thành phố, xã, phường, thị trấn) triển khai Luật Hòa giải ở cơ sở, các văn bản hướng dẫn thi hành, đồng thời hướng dẫn nghiệp vụ, kỹ năng hòa giải cho cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về hòa giải cơ sở và hòa giải viên.
Cùng với việc triển khai, phổ biến các văn bản liên quan đến hòa giải ở cơ sở ở cấp tỉnh, các huyện, thành phố cũng đã chủ động triển khai đồng bộ, kịp thời và phổ biến sâu rộng ở các xã, phường, thị trấn (cấp xã). Hàng năm đều tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ, kỹ năng hòa giải cho cán bộ làm công tác hòa giải và hòa giải viên ở cơ sở và phổ biến các văn bản pháp luật về hòa giải ở cơ sở như Luật Hòa giải ở cơ sở, Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở, pháp luật về dân sự, đất đai, hôn nhân và gia đình và một số kỹ năng cũng như kinh nghiệm trong việc tiếp cận, xác minh các vụ việc tranh chấp, mâu thuẫn của người dân để các hòa giải viên tham khảo, áp dụng trong thực tiễn góp phần tăng cường tình đoàn kết trong cộng đồng dân cư, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc, kịp thời ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật, góp phần bảo đảm ổn định, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn.
Công tác tuyên truyền, phổ biến thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, biên soạn, phát hành tài liệu và các hình thức khác: Phối hợp với Đài Phát thanh truyền hình tỉnh trả lời, tư vấn pháp luật, giải đáp chế độ chính sách trên các chuyên mục như: “Hộp thư truyền hình”, “Pháp luật và cuộc sống”; “Nhịp sống trong tuần”… tuyên truyền pháp luật về các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; phối hợp với Báo Quảng Ngãi giới thiệu các văn bản pháp luật mới, thông tin các hoạt động tư pháp và giải đáp pháp luật cho Nhân dân. Cùng với báo, đài, công tác tuyên truyền, Phổ biến, giáo dục pháp luật còn thực hiện trên trang thông tin điện tử của Sở, đăng tải các slide tuyên truyền bằng hình ảnh, bài nói chuyện pháp luật và các đề cương hướng dẫn lên Trang thông tin điện tử của Sở để các báo cáo viên truy cập, sử dụng. Trong đó đều ít nhiều có lồng ghép nội dung về hòa giải ở cơ sở. Luận văn: Thực trạng pháp luật hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
- Tổ chức các cuộc thi và tham gia Hội thi “Hòa giải viên giỏi”
Sở Tư pháp đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức thành công Hội thi “Hòa giải viên giỏi tỉnh Quảng Ngãi” lần thứ III năm 2013 với hơn 120 hòa giải viên đến từ 12 huyện, thành phố trong tỉnh tham gia. Hội thi được tổ chức ở 02 cấp: cấp tỉnh và cấp huyện. Kết thúc Hội thi cấp tỉnh, Ban tổ chức đã trao giải nhất cho huyện Bình Sơn, 02 đội đạt giải nhì là thành phố Quảng Ngãi và huyện Tư Nghĩa, 03 đội đạt giải ba là huyện Ba Tơ, Sơn Tịnh, Đức Phổ và 06 đội đạt giải khuyến khích thuộc các huyện Mộ Đức, Nghĩa Hành, Minh Long, Sơn Tây, Trà Bồng, Tây Trà. Ngoài ra, Ban Tổ chức còn trao 05 giải phụ đối với các phần thi: Giới thiệu về mình ấn tượng nhất, Thuyết trình hay nhất, và Tiểu phẩm hay nhất. Việc tổ chức thành công hội thi “Hòa giải viên giỏi” đã tạo sân chơi lành mạnh, bổ ích để các hòa giải viên trên địa bàn tỉnh gặp gỡ, giao lưu học hỏi, trao đổi kinh nghiệm hòa giải, nâng cao kiến thức pháp luật, nghiệp vụ hòa giải ở cơ sở, phát huy tinh thần đoàn kết, áp dụng giải quyết kịp thời các tranh chấp, vi phạm nhỏ trong cộng đồng dân cư, góp phần nâng cao tỷ lệ hòa giải thành ở cơ sở; Phòng Tư pháp các huyện cũng đã tham mưu cho Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố tổ chức thành công Hội thi “Hòa giải viên giỏi” như huyện Sơn Tịnh, Đức Phổ, Trà Bồng và thành phố Quảng Ngãi còn lại một số huyện chưa chủ động tổ chức Hội thi ở cơ sở do nhiều nguyên nhân khác nhau như chưa bố trí kịp thời về kinh phí, không có người làm, công việc nhiều… nên còn hạn chế trong việc tổ chức Hội thi ở cấp huyện.
Tham gia Hội thi “Hòa giải viên giỏi toàn quốc lần thứ III”: Năm 2016, Sở đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch về tổ chức tham gia Hội thi hòa giải viên giỏi toàn quốc lần thứ III. Trên cơ sở nhiệm vụ được giao, Sở đã phối hợp với Ủy ban nhân dân thành phố Quảng Ngãi thành lập đội thi của tỉnh Quảng Ngãi để tham gia Vòng sơ khảo – Khu vực Miền trung và Tây Nguyên. Sau khi đội thi được thành lập, Sở đã chủ động xây dựng biên kịch tiểu phẩm và giới thiệu về mình, biên soạn câu hỏi trắc nghiệm, câu hỏi tình huống và trực tiếp tổ chức tập luyện cho đội thi bảo đảm về nội dung và hình thức thi theo quy định của Thể lệ hội thi. Kết quả tham dự Vòng sơ khảo Hội thi Hòa giải viên giỏi toàn quốc lần thứ III khu vực Miền Trung và Tây Nguyên, Đội thi tỉnh Quảng Ngãi đạt giải ba toàn đoàn và 01 giải phụ giành cho hòa giải viên vượt khó.
Bên cạnh đó, hàng năm (từ năm 2014 đến năm 2017), Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi đều tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành kế hoạch tổ chức các cuộc thi viết tìm hiểu pháp luật (Hiến pháp 2013, Luật Hôn nhân và gia đình, Bộ luật dân sự…) cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và Nhân dân trên địa bàn tỉnh.
2.2.2. Công tác xây dựng, ban hành văn bản chỉ đạo, triển khai thực hiện. Luận văn: Thực trạng pháp luật hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
Để triển khai thực hiện Luật Hòa giải ở cơ sở, với vai trò là Cơ quan thường trực Hội đồng phối hợp Phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh, Sở Tư pháp đã tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành 02 văn bản quy phạm pháp luật và trình Hội đồng nhân dân tỉnh 01 văn bản quy phạm pháp luật và nhiều văn bản chỉ đạo, điều hành liên quan đến hoạt động hòa giải ở cơ sở (Nghị quyết số 06/2015/NQ-HĐND ngày 22/4/2015 của Hội đồng nhân dân tỉnh quy định một số mức chi cho công tác hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi; Quyết định số 57/2013/QĐ-UBND ngày 24/12/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh về quy định mức chi có tính chất đặc thù cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi (trong đó có hướng dẫn về mức chi cho công tác hòa giải ở cơ sở; Quyết định số 18/2015/QĐ-UBND ngày 13/5/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh về quy định một số mức chi cho công tác hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi (thay thế các quy định về mức chi cho công tác hòa giải ở cơ sở tại Quyết định số 57/2013/QĐ-UBND ngày 24/12/2013).
Bên cạnh đó, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 268/KH-UBND ngày 21/01/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh về triển khai thực hiện Luật Hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi; Quyết định số 1003/QĐ-UBND ngày 19/7/2013 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh về việc thành lập Ban tổ chức cuộc thi “Hòa giải viên giỏi tỉnh Quảng Ngãi” lần thứ III năm 2013; Kế hoạch số 02/KH-BTC ngày 09/8/2013 của Ban tổ chức cuộc thi “Hòa giải viên giỏi tỉnh Quảng Ngãi” về Tổ chức Hội thi “Hòa giải viên giỏi tỉnh Quảng Ngãi” lần thứ III năm 2013; Kế hoạch số 4134/KH-UBND ngày 02/8/2016 về tổ chức tham gia Hội thi Hòa giải viên giỏi toàn quốc lần thứ III…
Ngoài ra, hàng năm Ủy ban nhân dân tỉnh đều ban hành Kế hoạch về triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi (trong đó có công tác hòa giải ở cơ sở); đồng thời ban hành công văn, kế hoạch về công tác tuyên truyền, Phổ biến, giáo dục pháp luật và luôn chú trọng đến công tác hòa giải ở cơ sở về việc rà soát, kiện toàn tổ hòa giải và hòa giải viên ở cơ sở, triển khai thực hiện Đề án “Củng cố, kiện toàn và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật, đáp ứng yêu cầu đổi mới, phát triển của đất nước” trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi; triển khai công tác hòa giải ở cơ sở và kiểm tra tình hình thực hiện Luật Hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi; thành lập Đội thi tham dự “Hội thi hòa giải viên giỏi toàn quốc lần thứ III” của tỉnh Quảng Ngãi, thành lập Đoàn tham dự Vòng sơ khảo Hội thi Hòa giải viên giỏi toàn quốc lần thứ III Khu vực Miền trung và Tây Nguyên; hướng dẫn, kiểm tra thực hiện công tác hòa giải ở cơ sở và sơ kết 03 năm thực hiện Luật Hòa giải ở cơ sở… Luận văn: Thực trạng pháp luật hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
Trên cơ sở Kế hoạch của Ủy ban nhân dân tỉnh, các địa phương đã xây dựng Kế hoạch, văn bản chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện việc triển khai, phổ biến các quy định pháp luật về hòa giải ở cơ sở trên địa bàn huyện, thành phố và cấp xã.
2.2.3. Biên soạn, phát hành tài liệu nghiệp vụ công tác hòa giải ở cơ sở
Để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động hòa giải ở cơ sở, việc bồi dưỡng kiến thức pháp luật, kỹ năng, nghiệp vụ hòa giải và cung cấp tài liệu cho các hòa giải viên được đặc biệt quan tâm, chú trọng.
Trên cơ sở Chương trình khung bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ hòa giải ở cơ sở cho hòa giải viên; Bộ tài liệu nguồn bồi dưỡng kiến thức pháp luật, kỹ năng hòa giải ở cơ sở cho hòa giải viên Sở Tư pháp đã nghiên cứu, tham khảo làm tài liệu tổ chức hoạt động bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ hòa giải ở cơ sở và cung cấp cho hòa giải viên tại địa phương. Ủy ban Trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam tỉnh và các tổ chức thành viên của Mặt trận cũng đã phối hợp biên soạn và phát hành nhiều loại tài liệu tuyên truyền pháp luật về hòa giải ở cơ sở phù hợp với đối tượng.
Ở tỉnh Quảng Ngãi, việc cung cấp tài liệu, tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho hòa giải viên được các cơ quan tư pháp cấp tỉnh, cấp huyện chú trọng và tiến hành hàng năm. Theo đó đã tổ chức biên soạn và phát hành tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ, tài liệu pháp luật cung cấp cho các Tổ hòa giải và hòa giải viên (sổ tay pháp luật, cẩm nang, tờ gấp, băng đĩa…), in ấn và cấp phát Sổ theo dõi hoạt động hòa giải ở cơ sở cho các tổ hòa giải. Cụ thể: Tổ chức in, biên soạn và cấp phát hơn 5.000 tờ gấp tuyên truyền phổ biến các nội dung của Luật Hòa giải ở cơ sở, Nghị định số 15/2014/NĐ-CP; tổ chức in và cấp phát 3.000 cuốn sổ tay hòa giải ở cơ sở cho các hòa giải viên để tham khảo, cấp phát 2.600 Sổ theo dõi hoạt động hòa giải ở cơ sở cho các tổ hòa giải, biên soạn và cấp phát hơn 10.000 tài liệu cho đại biểu tham dự; in và cấp phát 20 Bản tin Tư pháp với 20.000 cuốn cấp phát đến các xã, phường, thị trấn…có nội dung liên quan đến thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở.
2.2.4. Xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ quản lý thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở Luận văn: Thực trạng pháp luật hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
Công tác chỉ đạo, hướng dẫn củng cố, kiện toàn đội ngũ làm công tác quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở; đội ngũ cán bộ, công chức của tổ chức chính trị – xã hội được giao nhiệm vụ theo dõi, hướng dẫn công tác hòa giải ở cơ sở; kiện toàn mạng lưới tổ hòa giải, hòa giải viên Củng cố, kiện toàn đội ngũ làm công tác quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở; đội ngũ cán bộ, công chức của tổ chức chính trị – xã hội được giao nhiệm vụ theo dõi, hướng dẫn công tác hòa giải ở cơ sở: từ tỉnh cho đến các huyện, thành phố và cấp xã đã giao 01 đồng chí công chức đảm nhận nhiệm vụ theo dõi, quản lý công tác hòa giải ở cơ sở. Theo thống kê đến nay có 474 cán bộ làm công tác quản lý công tác hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.
Thực hiện Luật hòa giải ở cơ sở năm 2013 và Nghị định số 15/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở, trên cơ sở quy định về tiêu chuẩn về hòa giải viên, các tổ hòa giải tiếp tục được củng cố, kiện toàn lại theo đúng quy định pháp luật về hòa giải. Trên cơ sở nhiệm vụ được giao theo Kế hoạch của Ủy ban nhân dân tỉnh, hàng năm Sở đã ban hành văn bản hướng dẫn, đôn đốc các huyện, thành phố củng cố, kiện toàn các tổ hoà giải ở cơ sở và tổ chức rà soát, thống kê các tổ hòa giải, hòa giải viên trên địa bàn tỉnh. Theo thống kê hiện nay trên địa bàn tỉnh các tổ hòa giải trên toàn tỉnh về cơ bản có đầy đủ các thành phần quân dân chính ở thôn, tổ dân phố, những người có uy tín, am hiểu pháp luật tham gia. Các tổ hòa giải được trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi được thành lập theo thôn, tổ dân phố, khu dân cư. Trung bình mỗi thôn, tổ thành lập ít nhất 01 tổ hòa giải, mỗi tổ hòa giải bình quân có từ 03-07 tổ viên (trong đó có hòa giải viên nữ; đối với vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số, tổ hòa giả phải có hòa giải viên là người dân tộc thiểu số), đối với những khu vực có dân cư sinh sống khá đông thì tổ hòa giải được thành lập theo xóm hoặc liên xóm. Tổ viên tổ hòa giải là những người có phẩm chất đạo đức, uy tín và nhiệt tình đối với công tác hòa giải tự ứng cử hoặc được Ban công tác Mặt trận giới thiệu từ các tổ chức mặt trận, đoàn thể gồm: mặt trận thôn, trưởng thôn, bí thư thôn, nông dân, phụ nữ, thanh niên, hội cựu chiến binh và các thành viên có uy tín cao trong cộng đồng, được bầu chọn công khai, dân chủ trong các khu dân cư, được chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ra quyết định công nhận thành viên tổ hòa giải. Tổ viên tổ hòa giải là những người sống tại địa bàn dân cư, họ nắm bắt được thực tiễn địa bàn nên phát hiện kịp thời những mâu thuẫn, tranh chấp và đưa ra giải pháp giải quyết phù hợp, củng cố tình đoàn kết trong toàn khu dân cư. Qua đó góp phần giải quyết nhiều vụ tranh chấp, mâu thuẫn nhỏ trong nhân dân, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, hạn chế đơn thư, khiếu nại vượt cấp và đây là điều kiện thuận lợi cho việc lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền đối với hoạt động hòa giải trên phạm vi địa bàn quản lý. Luận văn: Thực trạng pháp luật hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
Theo thống kê hiện nay trên địa bàn tỉnh có 1.308 tổ hòa giải với 8.614 hòa giải viên ở cơ sở tại 1.099 thôn, tổ dân phố. Trong đó có 6.967 hòa giải viên nam, 1.647 hòa giải viên nữ, 184 hòa giải viên có trình độ chuyên môn luật, 8.429 hòa giải viên chưa qua đào tạo chuyên môn luật.
- Biểu đồ 1: Thống kê trình độ chuyên môn của hòa giải viên (từ năm 2014 đến 2017) trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
Kết quả hoạt động hòa giải ở cơ sở: Số lượng các tổ hòa giải và hòa giải viên ngày càng được nâng cao cả về số lượng lẫn chất lượng, các tổ hòa giải hoạt động nhiệt tình và hiệu quả. Tuy nhiên, do đời sống xã hội ngày càng phát triển, các loại vụ việc tranh chấp ngày càng đa dạng và phức tạp, nên số vụ việc hòa giải thành đạt trung bình từ 74-85% và một số địa phương có tỷ lệ hòa giải thành cao đạt 90%.
Theo thống kê (từ năm 2014 đến hết năm 2017):
Tiếp nhận 13.626 vụ, việc; hòa giải thành 10.443 vụ, việc; hòa giải không thành 2.355 vụ, việc. (Biểu đồ 2)
- Biểu đồ 2: Thống kê vụ việc hòa giải (từ năm 2014 đến 2017) trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
Tiếp nhận: 4.736 vụ, việc thuộc lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình; 4.120 vụ, việc khác. (Biểu đồ 2.3)
- Biểu đồ 3: Thống kê vụ việc hòa giải theo lĩnh vực (từ năm 2014 đến 2017) trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
2.2.5. Việc hỗ trợ kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở
Hiện nay, nội dung chi, mức chi cho công tác hòa giải ở cơ sở thực hiện theo Thông tư liên tịch số 100/2014/TTLT-BTC-BTP ngày 30/7/2014 và Quyết định số 18/2015/QĐ-UBND ngày 13/5/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi về Quy định một số mức chi cho công tác hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi (thay thế các quy định về mức chi cho công tác hòa giải ở cơ sở tại Quyết định số 57/2013/QĐ-UBND ngày 24/12/2013). Theo đó, chi tài liệu, văn phòng phẩm, nước uống phục vụ các cuộc họp của tổ hòa giải là 100.000đồng/tổ/tháng; chi thù lao cho hòa giải là 200.000đ/vụ việc/tổ; chi hỗ trợ chi phí y tế cho việc cứu chữa, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất hoặc giảm sút đối với hòa giải viên bị tai nạn trong khi thực hiện hoạt động hòa giải ở cơ sở (bao gồm cả trường hợp hòa giải viên bị tai nạn được cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc trước khi chết); chi hỗ trợ thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút đối với hòa giải viên bị tai nạn trong thời gian cứu chữa, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất hoặc giảm sút; chi hỗ trợ chi phí mai táng cho người tổ chức mai táng hòa giải viên gặp tai nạn hoặc rủi ro bị thiệt hại về tính mạng trong khi thực hiện hoạt động hòa giải ở cơ sở… Luận văn: Thực trạng pháp luật hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Luật Hòa giải ở cơ sở quy định về hỗ trợ kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở: “Nhà nước hỗ trợ kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở để biên soạn, phát hành tài liệu; tổ chức bồi dưỡng, hướng dẫn nghiệp vụ, kỹ năng về hòa giải ở cơ sở; sơ kết, tổng kết, khen thưởng đối với công tác hòa giải ở cơ sở; chi thù lao cho hòa giải viên theo vụ, việc và hỗ trợ các chi phí cần thiết khác cho hoạt động hòa giải ở cơ sở. Ngân sách trung ương chi bổ sung cho các địa phương chưa tự cân đối được ngân sách để hỗ trợ kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở.”, như vậy về cơ bản địa phương phải có trách nhiệm tự cân đối ngân sách đảm bảo nguồn kinh phí cho hoạt động hòa giải ở cơ sở. Tuy nhiên trên thực tế nguồn kinh phí ở địa phương hầu hết không đảm bảo để hỗ trợ, thậm chí có địa phương chưa bố trí kinh phí cho hoạt động này, còn một số địa phương chỉ chi trả đối với vụ việc hòa giải thành, từ đó đã làm ảnh hưởng đến chất lượng của công tác hòa giải ở cơ sở.
Theo thống kê hiện nay chỉ có 03/14 huyện, thành phố là: TP Quảng Ngãi, Sơn Tịnh và Đức Phổ đảm bảo được nguồn kinh phí cho hoạt động này. Kinh phí cấp cho công tác hòa giải ở cơ sở từng năm/toàn tỉnh: Ở cấp tỉnh,
Sở Tư pháp được giao kinh phí thực hiện để in Sổ theo dõi hoạt động hòa giải ở cơ sở và tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức cho đội ngũ hòa giải viên trên địa bàn tỉnh. Trung bình mỗi năm khoảng 70-100 triệu đồng.
2.2.6. Phối hợp, kiểm tra, đánh giá công tác thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở
Ở tỉnh Quảng Ngãi những năm qua, các cơ quan Tư pháp địa phương đã có sự phối hợp khá tốt với Mặt trận Tổ quốc các cấp và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong việc phổ biến giáo dục pháp luật nói chung cũng như thực hiện công tác hòa giải ở cơ sở nói riêng. Hòa giải ở cơ sở là trách nhiệm không chỉ riêng một ngành, một cấp hay một cơ quan nào mà đây là trách nhiệm của cả hệ thống chính chính trị, phải huy động được cả hệ thống chính trị cùng tham gia, để làm được điều đó đòi hỏi các cơ quan hữu quan phải có sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ.
Để đảm bảo hiệu quả thực hiện Luật hòa giải trên địa bàn toàn tỉnh, Sở Tư pháp đã thống nhất với UBMTTQVN tỉnh ký kết các chương trình phối hợp (giai đoạn, hàng năm). Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của mỗi ngành, quy định rõ trách nhiệm của mỗi đơn vị đối với công tác hòa giải ở cơ sở. Theo đó, Mặt trận Tổ quốc các cấp phối hợp với cơ quan tư pháp để tổ chức giới thiệu, bầu và công nhận đội ngũ hòa giải viên; phối hợp tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ, kỹ năng cũng như sơ kết, tổng kết hoạt động hòa giải. Luận văn: Thực trạng pháp luật hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
Bên cạnh đó, ngành Tư pháp còn tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh kiện toàn Hội đồng phối hợp phổ biến giáo dục cấp tỉnh và cấp huyện với thành phần khá đầy đủ của các cơ quan liên quan, phối hợp tổ chức các lớp tập huấn cho cán bộ, hội viên nghiệp vụ phổ biến giáo dục pháp luật; tập huấn kỹ năng hòa giải ở cơ sở.
Ở cấp huyện: Trên cơ sở hướng dẫn của ngành tư pháp, các phòng Tư pháp đã xây dựng kế hoạch phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp hướng dẫn, chỉ đạo cấp xã thành lập các Tổ hòa giải ở cơ sở, hướng dẫn thủ tục, trình tự bầu và công nhận hòa giải viên, hướng dẫn quy trình hòa giải cũng như tổ chức tập huấn kiến thức pháp luật và kỹ năng hòa giải cho hòa giải viên các xã, phường, thị trấn.
Ở cấp xã: trên cơ sở hướng dẫn, chỉ đạo của các cơ quan cấp trên, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã, phường, thị trấn đã phối hợp với Ủy ban nhân dân cùng cấp, cán bộ tư pháp-hộ tịch cấp xã hướng dẫn các thôn, tổ dân phố tiến hành các quy trình để bầu và công nhận các tổ hòa giải và hòa giải viên. Tổ chức tập huấn hướng dẫn nghiệp vụ về công tác hòa giải, việc thống kê, báo cáo và ghi sổ sách về hòa giải
Việc phát huy vai trò của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận theo quy định của Luật và các chương trình phối hợp công tác có liên quan.
Các cơ quan Tư pháp các cấp có sự phối hợp chặt chẽ với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong hoạt động hòa giải ở cơ sở. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp đã phối hợp thực hiện công tác rà soát, củng cố, kiện toàn các tổ hòa giải, qua đó giới thiệu những người có uy tín, đủ tiêu chuẩn để bầu làm hòa giải viên; tham gia hòa giải thường xuyên, kịp thời các vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân, góp phần tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho nhân dân nhằm chủ động ngăn ngừa vi phạm pháp luật, gắn hoạt động hòa giải với việc thực hiện phong trào toàn dân xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư và giới thiệu những người có thành tích xuất sắc trong công tác hòa giải để đề nghị khen thưởng trên địa bàn.
Công tác kiểm tra thống kê số liệu về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở (Mẫu biểu số 11d, 12d ban hành kèm theo Thông tư số 04/2016/TT-BTP ngày 03/3/2016 của Bộ Tư pháp quy định một số nội dung về hoạt động thống kê của Ngành Tư pháp), khen thưởng các tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác hòa giải ở cơ sở.
Công tác tổng hợp, báo cáo thống kê số liệu trên địa bàn tỉnh được thực hiện nghiêm túc, theo quy định. Tuy nhiên, một số địa phương cấp xã còn báo cáo chậm, cấp huyện chưa đôn đốc, kiểm tra, tổng hợp kịp thời về số liệu trong công tác hòa giải ở cơ sở (theo mẫu được quy định tại Thông tư số 04/2016/TT-BTP ngày 03/3/2016 của Bộ Tư pháp) nên làm ảnh hưởng đến kết quả thực hiện tổng hợp số liệu trên địa bàn tỉnh chưa đảm bảo. Hàng năm, Sở đã tổ chức sơ kết, tổng kết, khen thưởng về công tác hòa giải ở cơ sở được tổ chức lồng ghép trong công tác hoạt động cùng ngành Tư pháp. Ngoài ra, ở địa phương cũng đã thực hiện tốt việc tổ chức sơ kết, tổng kết và khen thưởng cho những cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác hòa giải ở cơ sở trên địa bàn.
2.3. Đánh giá chung về thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Luận văn: Thực trạng pháp luật hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
2.3.1. Ưu điểm
Một là, nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền, lãnh đạo các cơ quan, đơn vị, tổ chức, đoàn thể về vai trò, tầm quan trọng của công tác hòa giải ở cơ sở đã được nâng lên, đặc biệt là sự chỉ đạo, hướng dẫn của cơ quan tư pháp địa phương, sự phối hợp của các tổ chức chính trị – xã hội, nhất là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, sự nhiệt tình, sáng tạo của các hòa giải viên nên phần lớn các tổ hòa giải trên địa bàn tỉnh đều hoạt động có hiệu quả.
Hai là, hệ thống văn bản pháp luật về hòa giải ở cơ sở đầy đủ, đồng bộ đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả công tác hòa giải ở cơ sở. Thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh thời gian qua đã tác động tích cực đến đời sống xã hội, tạo cơ sở pháp lý toàn diện, đầy đủ và vững chắc cho hoạt động hòa giải ở cơ sở đi vào nề nếp, thống nhất và hiệu quả, qua đó khẳng định vị trí và vai trò quan trọng của công tác hòa giải ở cơ sở trong đời sống xã hội.
Ba là, một số địa phương đã quan tâm, bố trí nguồn kinh phí nhất định phục vụ công tác hòa giải ở cơ sở, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động hòa giải ở cơ sở nên đã khích lệ, động viên các hòa giải viên thực hiện hòa giải, phát huy tinh thần trách nhiệm vì cộng đồng .
Bốn là, tiêu chuẩn, số lượng hòa giải viên và thành phần của tổ hòa giải bảo đảm đúng theo quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở, quy tụ được lực lượng nòng cốt, có uy tín, kinh nghiệm trong cộng đồng dân cư, bảo đảm hoạt động hòa giải đạt hiệu quả cao; đồng thời, bảo đảm được sự phối hợp chặt chẽ của các tổ chức chính trị – xã hội, các tổ chức, đoàn thể của nhân dân trong công tác hòa giải ở cơ sở. Các hòa giải viên sau khi được bầu, công nhận đã có ý thức tích cực nghiên cứu, tìm hiểu quy định pháp luật, kỹ năng hòa giải để thực hiện công tác hòa giải ở cơ sở ngày một tốt hơn, tỷ lệ hòa giải thành cao hơn.
Năm là, cơ quan, những người tham gia quản lý nhà nước về công tác hòa giải cơ sở, hòa giải viên, tổ hòa giải, hằng năm luôn được rà soát, củng cố, kiện toàn và nâng cao chất lượng đã tạo điều kiện cho hoạt động quản lý nhà nước về hòa giải đi vào nề nếp và đạt hiệu quả, góp phần kiện toàn, phát triển công tác hòa giải cơ sở nói riêng, phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật, tội phạm, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội nói chung.
2.3.2. Hạn chế Luận văn: Thực trạng pháp luật hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi vẫn còn một số tồn tại, hạn chế như:
Một là, sự phối hợp công tác của các cơ quan, đơn vị là thành viên Hội đồng phối hợp Phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh và một số sở, ngành, địa phương chưa chặt chẽ, chưa đồng bộ trong việc triển khai những kế hoạch, chương trình về phổ biến giáo dục pháp luật, trong đó có công tác hòa giải ở cơ sở, nên hiệu quả chưa cao, hoạt động chủ yếu vẫn là sự tham mưu của các sở ngành chuyên môn. Một số cơ quan, địa phương thiếu phối hợp, ít trao đổi thông tin, tham gia họp triển khai công tác…
Hai là, một số cấp ủy, chính quyền ở địa phương chưa thật sự quan tâm đúng mức đến hoạt động hòa giải ở cơ sở, chưa bố trí kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở; một số địa phương chưa thực hiện hỗ trợ kinh phí hoạt động, thù lao cho hòa giải viên theo quy định.
Công tác hòa giải ở cơ sở là hoạt động tự nguyện nhưng các chế độ bồi dưỡng chưa thoả đáng nên không mang tính khích lệ các hoạt động hòa giải ở địa phương và chưa thành nguồn lực động viên khuyến khích sự tự nguyện hoạt động của các hòa giải viên. Trên thực tế, nguồn kinh phí ở địa phương hầu hết không đảm bảo để hỗ trợ, thậm chí có địa phương không bố trí kinh phí cho hoạt động này, nên không khuyến khích sự nhiệt tình tham gia của các hòa giải viên.
Ba là, đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về hòa giải chủ yếu là kiêm nhiệm nên chưa thực hiện tốt công tác tham mưu cho Ủy ban nhân dân cùng cấp trong công tác hoà giải ở cơ sở, còn có tư tưởng trông chờ, ỷ lại sự chỉ đạo của cấp trên, chưa chủ động tìm mô hình hòa giải ở cơ sở để tham mưu cho địa phương thực hiện có hiệu quả; việc kiện toàn, củng cố các tổ hòa giải khi có thay đổi nhân sự chưa kịp thời.
Bốn là, đội ngũ hòa giải viên chưa qua đào tào chuyên môn luật còn nhiều, điều này ảnh hưởng đến năng lực một số hoà giải viên, hòa giải viên thiếu kỹ năng hòa giải, ít được cập nhật về kiến thức pháp luật… nên chất lượng hoạt động chưa cao.
Năm là, sự phối hợp giữa chính quyền cơ sở với Mặt trận cùng cấp và các tổ chức đoàn thể về công tác hòa giải chưa chặt chẽ, thiếu đồng bộ nên ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động hòa giải ở cơ sở. Sự phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong công tác hòa giải ở cơ sở chưa được thực hiện một cách thường xuyên và thiếu sự chủ động. Một số địa phương, Mặt trận tổ quốc và các tổ chức thành viên chưa nhận thức đầy đủ về vai trò nòng cốt của mình trong công tác hòa giải. Đặc biệt, trong việc bầu, công nhận hòa giải viên, sự phối hợp giữa cơ quan Tư pháp và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở một số địa phương chưa được thể hiện rõ nét, dẫn đến lúng túng hoặc thực hiện chưa đúng quy định của pháp luật về quy trình, thủ tục bầu, công nhận hòa giải viên.
2.3.3. Nguyên nhân của hạn chế
Một là, một số cán bộ lãnh đạo ở địa phương chưa quan tâm đúng mức đến hoạt động hòa giải ở cơ sở; công tác kiểm tra đôn đốc chưa thường xuyên. Luận văn: Thực trạng pháp luật hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
Cấp ủy, chính quyền, đoàn thể ở một số địa phương và một bộ phận hòa giải viên nhận thức chưa đầy đủ về vị trí, vai trò, ý nghĩa của công tác hòa giải ở cơ sở; chưa thường xuyên rà soát, có giải pháp củng cố, kiện toàn, nâng cao chất lượng đội ngũ hòa giải viên. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên của Mặt trận ở một số nơi chưa nhận thức rõ vai trò, vị trí nòng cốt của mình trong công tác hòa giải, nên chưa tham gia tích cực, chủ động vào việc củng cố, kiện toàn tổ chức, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động hòa giải ở địa phương. Bên cạnh đó, ở một số nơi, nhận thức của người dân về vị trí, vai trò của hòa giải ở cơ sở chưa cao nên người dân chưa chủ động, tích cực giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật phát sinh tại cơ sở bằng biện pháp hòa giải ở cơ sở.
Hai là, việc hỗ trợ, trang bị tài liệu pháp luật để hòa giải viên tự nghiên cứu, tìm hiểu nâng cao năng lực hoạt động cũng như việc tổ chức tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng cho đội ngũ hòa giải viên còn rất hạn chế.
Việc đầu tư kinh phí hỗ trợ cho công tác hòa giải ở cơ sở nói chung và thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ hòa giải viên hiện nay tại các địa phương không đồng đều, thiếu thống nhất, mặc dù đã có sự hướng dẫn, theo đó ngân sách trung ương chi bổ sung cho các địa phương chưa tự cân đối được ngân sách để hỗ trợ kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở, song hầu hết các địa phương đều lúng túng trong việc đề nghị kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở. Hầu hết các địa phương không huy động được các tổ chức, cá nhân đóng góp, hỗ trợ tài chính, cơ sở vật chất cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Ba là, tinh thần trách nhiệm của một số hòa giải viên chưa cao, kinh nghiệm, kỹ năng và vận dụng pháp luật còn hạn chế, hòa giải viên còn ngại va chạm nên chưa mạnh dạn, kịp thời giải quyết các vụ việc mâu thuẫn trong cộng đồng dân cư.
Bốn là, công tác phối hợp giữa chính quyền và Mặt trận ở một số địa phương chưa tích cực mạnh mẽ đã ảnh hưởng đến hoạt động này ở cơ sở.
2.3.4. Bài học kinh nghiệm Luận văn: Thực trạng pháp luật hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
Qua quá trình thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở thời gian qua có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:
Một là, cần chú trọng công tác tuyên truyền, phổ biến sâu rộng chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước về pháp luật hòa giải ở cơ sở nhằm nâng cao nhận thức của toàn xã hội về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác này trong đời sống xã hội, để nhân dân lựa chọn sử dụng ngày càng nhiều hơn biện pháp hòa giải để giải quyết các tranh chấp, mâu thuẫn trong cộng đồng.
Hai là, sự phối hợp hiệu quả giữa chính quyền địa phương với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các Hội đoàn thể ở cở sở đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình triển khai thực hiện hòa giải ở cơ sở; nhất là trong việc chỉ đạo, thực hiện các kế hoạch tập huấn và xây dựng lực lượng đội ngũ làm công tác hòa giải; cần chú trọng vận động những người có phẩm chất đạo đức tốt, có uy tín và có khả năng thuyết phục, vận động Nhân dân… để nâng cao số lượng, chất lượng hoạt động hòa giải ở cơ sở.
Ba là, các cấp ủy, chính quyền cần nhận thức đúng đắn, sâu sắc và toàn diện về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác hòa giải ở cơ sở, từ đó xác định được phương hướng, nhiệm vụ, chương trình, kế hoạch hành động cụ thể để thực hiện tốt công tác hòa giải ở cơ sở. Thực tế đã cho thấy, ở địa phương nào có nhận thức đúng đắn, quan tâm chỉ đạo, đầu tư đúng mức cho công tác hòa giải ở cơ sở thì ở đó, công tác này đều đạt hiệu quả cao.
Bốn là, để tăng cường hiệu quả hoạt động hòa giải ở cơ sở phải gắn công tác hòa giải với công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân; cần thường xuyên cung cấp thông tin, tài liệu pháp luật cho tổ hòa giải và hòa giải viên như các đề cương tuyên truyền, tài liệu hỏi đáp pháp luật, tờ gấp pháp luật và các tài liệu cần thiết khác nhằm giúp hòa giải viên nắm bắt kịp thời chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước và vận dụng có hiệu quả trong quá trình tiến hành hòa giải các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật.
Năm là, cấp ủy đảng, chính quyền ở địa phương phải thực sự quan tâm đến công tác hòa giải ở cơ sở, kịp thời kiện toàn đội ngũ hòa giải viên có uy tín, am hiểu pháp luật và tạo điều kiện thuận lợi về mọi mặt nhất là bố trí kinh phí cho hoạt động hòa giải ở cơ sở. Việc củng cố và kiện toàn tổ hòa giải phải phù hợp với đặc điểm dân cư, địa lý của địa phương; quan tâm xây dựng đội ngũ hòa giải viên tâm huyết, nhiệt tình, trách nhiệm, có uy tín, hiểu biết pháp luật, có khả năng vận động, thuyết phục quần chúng.
Sáu là, tăng cường bồi dưỡng kiến thức pháp luật, kỹ năng và nghiệp vụ hòa giải cho đội ngũ làm công tác hòa giải ở cơ sở. Để làm tốt việc này bộ phận Phòng Tư pháp và công chức Tư pháp cấp xã phải chủ động phối hợp tham mưu Ủy ban nhân dân cùng cấp lập kế hoạch ngay từ đầu năm để kịp thời bố trí kinh phí tổ chức nhiều đợt tập huấn với nhiều hình thức khác nhau để thường xuyên cập nhật kiến thức, nâng cao kinh nghiệm cho các hoà giải viên, tạo niềm tin cho đội ngũ hoà giải viên trong giải quyết các vụ việc tranh chấp tại cơ sở. Luận văn: Thực trạng pháp luật hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
Bảy là, thực hiện kiểm tra đánh giá hoạt động hòa giải ở cơ sở, khen thưởng kịp thời những cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc, gương sáng điển hình trong công tác hòa giải ở cơ sở; đồng thời cần thường xuyên bảo đảm những điều kiện về vật chất tốt nhất cho hoạt động này. Đồng thời trong quá trình tổ chức thực hiện cần thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, giải quyết những khó khăn, vướng mắc và kịp thời phát hiện những vấn đề không phù hợp cần điều chỉnh, bổ sung trong quá trình thực hiện, bảo đảm chất lượng và hiệu quả thiết thực, tránh hình thức.
Tám là, phát huy vai trò của quần chúng nhân dân trong công tác hòa giải có ý nghĩa quyết định trong việc duy trì và phát triển hoạt động của Tổ hòa giải. Bản chất của tổ hòa giải là tổ chức tự quản của nhân dân; hòa giải ở cơ sở góp phần quan trọng dân chủ hóa đời sống của người dân tại cộng đồng. Thông qua ý nghĩa mà công tác hòa giải mang lại cho xã hội, một lần nữa khẳng định rõ hơn bài học về phát huy dân chủ ở cơ sở. Dân chủ ở cơ sở vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển kinh tế – xã hội, phát huy tốt dân chủ cơ sở sẽ tạo nên sự ổn định, đồng thuận, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển.
Tiểu kết Chương 2
Tại Chương 2, luận văn đã phân tích những yếu tố, điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa – xã hội tác động đến công tác thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở. Đồng thời đánh giá tình hình thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi với 06 nội dung cơ bản. Từ đó luận văn đã đánh giá chung về thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh thông qua việc phân tích ưu điểm, chỉ rõ những hạn chế, nguyên nhân của hạn chế.
Trên cơ sở lý luận về thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở và thực trạng thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh, luận văn sẽ đưa ra những phương hướng, giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới. Luận văn: Thực trạng pháp luật hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp pháp luật hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
