Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp pháp luật hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Phương hướng, giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1. Phương hướng bảo đảm thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở
3.1.1. Bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở trên cơ sở “lấy dân làm gốc”
“Dân là gốc của một nước, nước lấy dân làm gốc” – đây là chân lý mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết được và tổng kết từ thực tiễn cách mạng trong nước và thế giới. Trên cơ sở quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc” Đại hội lần thứ VI của Đảng đã nêu: “Trong toàn bộ hoạt động của mình Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc” xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động”.
Đảng ta chủ trương “Hướng mạnh về cơ sở, quan tâm củng cố cơ sở xã hội của chính trị, cơ sở là nơi chính quyền trong lòng dân”. Đảng đã rất quan tâm đến củng cố xây dựng cơ sở vững mạnh mọi mặt, xây dựng khối đoàn kết, tương thân tương ái trong cộng đồng dân cư, trong từng gia đình để “xây dựng xã hội đồng thuận”, do đó mọi mâu thuẫn bất đồng của dân phải kịp thời được giải quyết và phải bảo đảm phát huy dân chủ, xây dựng đời sống văn hóa mới ở cơ sở.
Nghị quyết hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 Khóa VII đã chỉ rõ: “Coi trọng vai trò hòa giải của chính quyền kết hợp với Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể ở cơ sở”. Chủ trương trên cho thấy Đảng rất coi trọng vai trò của hòa giải, đã nhận thức được hòa giải góp phần quan trọng vào việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích của nhân dân, phục vụ tích cực công cuộc đổi mới. Đồng thời, cho thấy mối liên hệ mật thiết giữa hòa giải ở cơ sở với vai trò của Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.
Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới tiếp tục đề cao vai trò của hòa giải: “Xây dựng cơ chế để nâng cao hiệu quả của các hình thức giải quyết tranh chấp khác như hòa giải, trọng tài, nhằm góp phần xử lý đúng và nhanh chóng những mâu thuẫn, khiếu kiện trong nội bộ nhân dân và giảm nhẹ công việc cho Tòa án và cơ quan nhà nước khác”. Luận văn: Giải pháp pháp luật hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
Một trong những đặc trưng quan trọng của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là phát huy mạnh mẽ vai trò của các tổ chức tự quản. Phát huy các thiết chế tự quản của nhân dân, nhất là các thiết chế tự quản ở cơ sở như: hương ước, quy ước, khoán ước, hòa giải…chính là phát huy quyền làm chủ của nhân dân, là hạt nhân cơ bản tạo nên sự đồng thuận, thống nhất trong nội bộ nhân dân, làm cơ sở để củng cố khối đoàn kết nhân dân, tạo ra động lực mạnh mẽ trong xây dựng đời sống văn hóa ở các khu dân cư, qua đó hoàn thành tốt các nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội.
Đại hội lần thứ XI của Đảng tiếp tục chỉ đạo: “Phát huy vai trò của các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội và của mỗi người dân trong việc quản lý và tổ chức đời sống cộng đồng theo quy định của pháp luật.”; Đại hội lần thứ XII của Đảng tiếp tục chỉ đạo: “Hoàn thiện, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; không ngừng củng cố, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tăng cường sự đồng thuận xã hội; tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.”. Vai trò của các thiết chế tự quản của nhân dân ở cơ sở rất được coi trọng, đặc biệt trong đó nhấn mạnh đến vai trò của Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân: Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân phát huy tốt hơn vai trò tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; củng cố, mở rộng tổ chức, phát triển đoàn viên, hội viên, tổ chức nhiều phong trào thi đua, nhiều cuộc vận động có hiệu quả thiết thực.
Có thể khẳng định rằng, trên cơ sở quan điểm, đường lối nhất quán của Đảng, pháp luật hòa giải ở cơ sở nếu được tổ chức thực hiện tốt sẽ góp phần quan trọng củng cố khối đại đoàn kết toàn dân.
3.1.2. Hòa giải ở cơ sở là hình thức tự quản của nhân dân, đồng thời cũng là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị Luận văn: Giải pháp pháp luật hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký hai sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946 và số 51/SL ngày 17/4/1946 quy định nhiệm vụ công tác hòa giải: “Ban tư pháp xã có nhiệm vụ hòa giải các vụ việc về dân sự hay thương sự”. Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 của Chủ tịch nước cũng quy định “Tòa án nhân dân huyện phải có Hội đồng hòa giải để thử hòa giải tất cả các vụ kiện dân sự và thương sự kể cả các việc xin ly dị, trừ những vụ kiện mà theo pháp luật đương sự không có quyền điều đình”. Tổ hòa giải là một tổ chức xã hội chứ không phải là một tổ chức chính quyền. Tổ hòa giải không phân xử mà chỉ giải thích thuyết phục để giúp đỡ cho hai bên tự giác đoàn kết, giải quyết được những xích mích, tranh chấp một cách có tình, có lý, tuyệt đối không được gò ép nhân dân trong khi hòa giải.
Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 quy định Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với chính quyền cấp xã tổ chức vận động nhân dân thực hiện dân chủ ở cơ sở, hương ước, quy ước ở khu dân cư; tham gia hoạt động hòa giải ở cơ sở (Điều 17)…
Hiến pháp Việt Nam năm 1980 (Điều 128) đã lần đầu thể chế hoá hoạt động hoà giải ở cơ sở: “Ở cơ sở thành lập các tổ chức thích hợp của nhân dân để giải quyết những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân theo quy định của pháp luật”. Chế định hoà giải ở cơ sở tiếp tục được Hiến pháp 1992 ghi nhận tại Điều 127: “Ở cơ sở thành lập các tổ chức thích hợp của nhân dân để giải quyết những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân theo quy định của pháp luật”.
Hiện nay, công tác hòa giải ở cơ sở thực hiện theo Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013, Nghị định số 15/2014/NĐ-CP ngày 27/02/2014 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hòa giải (thay cho các văn bản trước đây là Pháp lệnh số 09/1998/PL-UBTVQH10 về tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở; Nghị định số 160/1999/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở). Đây là hai văn bản có hiệu lực pháp lý cao quy định đầy đủ, đồng bộ và toàn diện các vấn đề về tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở.
Bên cạnh đó, một số văn bản quy phạm pháp luật khác cũng có những quy định liên quan đến hoà giải ở cơ sở như: Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Luật Đất đai năm 2013, Bộ luật Dân sự năm 2015…
Những quan điểm của Đảng về hòa giải ở cơ sở đã được thể chế hóa thành các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước, từ Hiến pháp đến các Bộ luật, Luật và các văn bản dưới luật, trong đó quy định rõ trách nhiệm của các cấp, các ngành, các địa phương, trở thành nhiệm vụ chung của cả hệ thống chính trị nhằm đưa các quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở vào trong đời sống xã hội, góp phần đắc lực trong việc thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội của đất nước trong giai đoạn hiện nay. Luận văn: Giải pháp pháp luật hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
3.1.3. Tổ chức thực hiện có hiệu quả pháp luật về hòa giải ở cơ sở
- Thực hiện đúng bản chất của hòa giải ở cơ sở, bảo đảm pháp luật về hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
Bản chất của hòa giải ở cơ sở là tính tự quản, tự nguyện của quần chúng nhân dân, là hoạt động không mang tính tố tụng, do vậy phương thức tiến hành, chủ thể tiến hành, thời gian, địa điểm hòa giải là rất linh hoạt, không cứng nhắc, miễn là đạt được mục đích. Tuy vậy, để hòa giải ở cơ sở phát huy được vai trò và giá trị của nó đòi hỏi chủ thể thực hiện pháp luật phải bảo đảm giữ được bản chất của nó. Không làm thay đổi bản chất của hòa giải ở cơ sở, nhưng vẫn bảo đảm thực hiện đúng pháp luật một cách nghiêm chỉnh là một yêu cầu đặt ra đối với các cơ quan quản lý nhà nước về hòa giải và đội ngũ hòa giải viên.
Để đảm bảo thực hiện đúng bản chất của hòa giải ở cơ sở đòi hỏi đội ngũ hòa giải viên không chỉ nắm vững các quan điểm, đường lối của Đảng, nắm vững các quy định của pháp luật mà còn phải hiểu biết và vận dụng thật nhuần nhuyễn các quy phạm đạo đức, truyền thống văn hóa, phong tục tập quán…của từng địa phương vào từng vụ việc hòa giải. Bên cạnh đó, trong việc thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở cần tránh khuynh hướng hình thức qua loa, chiếu lệ, vụ việc dễ thì làm, vụ việc khó thì bỏ. Đồng thời cũng cần tránh khuynh hướng tài phán hóa hoạt động hòa giải ở cơ sở, biến hòa giải thành hoạt động xét xử của Tổ hòa giải, đặc biệt nghiêm cấm việc thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở đế trốn tránh pháp luật. Tất cả những khuynh hướng trên đều không thể hiện được bản chất tốt đẹp của hòa giải ở cơ sở, không làm phát huy được vai trò, ý nghĩa tích cực của nó mà ngược lại còn làm cho hoạt động hòa giải ở cơ sở phản tác dụng, tác động xấu đến đời sống xã hội.
- Đảm bảo hoạt động hòa giải ở cơ sở là hạt nhân trong việc thực hiện phong trào: “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” Luận văn: Giải pháp pháp luật hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh luôn xác định công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung, công tác về hòa giải ở cở sở nói riêng là khâu quan trọng không thể thiếu nhằm nâng cao dân trí, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Hòa giải ở cơ sở là hạt nhân trong việc thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” trên địa bàn tỉnh. Tổ chức thực hiện tốt pháp luật về hòa giải ở cơ sở sẽ là tiền đề cho phát triển kinh tế, văn hóa đảm bảo trật tự an toàn xã hội tại địa phương.
Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lần thứ XVIII năm 2011 đã chỉ rõ: “Chú trọng giáo dục chính trị, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng- an ninh cho cán bộ, công chức và nhân dân. Xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, huyện, thành phố cơ bản, liên hoàn, vững chắc; kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng – an ninh. Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Thực hiện đạt 100% các chỉ tiêu giao quân, huy động lực lượng dự bị động viên. Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ ổn định từ 1,3 đến 1,5% so với dân số. Chủ động phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Kiềm chế sự gia tăng và từng bước đẩy lùi các loại tội phạm, tai nạn giao thông. Nâng cao năng lực hoạt động của các cơ quan nội chính. Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, công tác thanh tra và giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo của công dân”.
Ngày 07/01/2011, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đã ban hành Chỉ thị số 02/CT-UBND về việc tăng cường công tác giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh. Chỉ thị nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước trên địa bàn tỉnh, vai trò tham mưu của các cơ quan chuyên môn, nhất là Sở Tư pháp, các Phòng Tư pháp, Tài chính; vai trò phối hợp của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trong đó Sở Tư pháp là cơ quan tham mưu giúp Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện nhiệm vụ quản lý Nhà nước về công tác hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh; dự thảo các văn bản liên quan đến công tác hòa giải ở cơ sở trình Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành; thực hiện việc kiểm tra, hướng dẫn, báo cáo, đề xuất các biện pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động hòa giải ở cơ sở; đề xuất khen thưởng đối với các tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc; hướng dẫn trình tự thành lập, công nhận tổ hòa giải và hòa giải viên ở cơ sở theo quy định của pháp luật. Thống kê, tổng hợp tình hình biến động tổ hòa giải, hòa giải viên trên địa bàn tỉnh. Chỉ đạo, hướng dẫn hoạt động hòa giải, tổ chức các lớp tập huấn theo chuyên đề bồi dưỡng nghiệp vụ, kỹ năng, nâng cao kiến thức pháp luật cho đội ngũ hòa giải viên. Biên soạn các tài liệu, đề cương hướng dẫn hoạt động hòa giải ở cơ sở; tổ chức các hội thi tìm hiểu pháp luật cho hòa giải viên. Luận văn: Giải pháp pháp luật hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
Có thể nói sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian qua là cơ sở quan trọng để các cấp, các ngành và các địa phương tổ chức thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở ngày càng có hiệu quả.
- Thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội
Hòa giải ở cơ sở là hoạt động mang tính chất tự quản của quần chúng trên cơ sở tự nguyện, do đó để bảo đảm thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở phải xã hội hóa hoạt động này, huy động rộng rãi lực lượng quần chúng nhân dân tham gia. Để đạt được yêu cầu trên phải xác định nhiệm vụ thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan hữu quan mà còn là nhiệm vụ của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ban ngành, đoàn thể và của mọi người dân.
Tổ hòa giải ở cơ sở là một tổ chức quần chúng trong cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ, tổ hòa giải không thể đứng ngoài sự lãnh đạo của Đảng, không thể thiếu vai trò quản lý của Nhà nước và sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên của Mặt trận. Tuy nhiên do đặc điểm cơ bản của hòa giải là hoạt động không mang tính tố tụng, do các bên tự thỏa thuận quyết định cho nên nhiều cơ quan, đơn vị, địa phương còn chưa coi trọng công tác này. Nhận thức đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc tổ chức thực hiện pháp luật hòa giải ở cở sở trên địa bàn tỉnh trong giai đoạn hiện nay.
Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi khóa XVIII đã nêu: “Quán triệt sâu rộng trong hệ thống chính trị và toàn xã hội tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng về tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc”. Để phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, báo cáo cũng nêu rõ cần: Coi trọng công tác vận động quần chúng; kiện toàn về tổ chức và cán bộ; định hướng nội dung, đổi mới phương thức hoạt động của mặt trận và các hội, đoàn thể nhân dân. Thực hiện tốt công tác dân vận trong hệ thống chính trị, quy chế dân chủ ở cơ sở; phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, công tác dân tộc, công tác tôn giáo; đẩy mạnh vận động hội viên, đoàn viên và đội ngũ công nhân, nông dân, trí thức trong xây dựng, phát triển kinh tế – xã hội.
UBND tỉnh Quảng Ngãi hàng năm đều ban hành kế hoạch triển khai thực hiện công tác hòa giải ở cở sở trên địa bàn tỉnh (lồng ghép trong kế hoạch triển khai công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật). Trong đó quy định trách nhiệm của tất cả các sở, ban, ngành, hội, đoàn thể tỉnh tùy theo chức năng nhiệm vụ của mình mà tổ chức thực hiệu có hiệu quả pháp luật về hòa giải ở cơ sở.
Bên cạnh đó, Ủy ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp với vai trò, chức năng, nhiệm vụ tham gia đối thoại, hòa giải, xây dựng cộng đồng tự quản tại địa bàn khu dân cư, trực tiếp tham gia hoạt động hòa giải ở cơ sở. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh đã thực hiện có hiệu quả công tác phối hợp thực hiện một số quy định của pháp luật về hòa giải theo tinh thần của Nghị quyết liên tịch số 01/2014/NQLT/CP-UBTUMTTQVN ngày 18/11/2014.
Điều đó cho thấy Quảng Ngãi luôn quan tâm đến công tác dân vận, việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở; phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc nói chung, công tác hòa giải ở cơ sở nói riêng, coi đó là nội dung quan trọng đảm bảo cho việc thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh.
3.2. Giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở tại tỉnh Quảng Ngãi Luận văn: Giải pháp pháp luật hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
3.2.1. Xây dựng, hoàn thiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở.
Văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất về công tác hòa giải ở cơ sở hiện nay là Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2014). Tính đến thời điểm hiện tại Luật Hòa giải ở cơ sở đã đi vào tổ chức thực hiện trên thực tiễn được hơn 04 năm. Cuối năm 2016, Bộ Tư pháp đã yêu cầu các tỉnh, thành phố (trong đó có tỉnh Quảng Ngãi) báo cáo sơ kết 03 năm thực hiện Luật Hòa giải ở cơ sở.
Bộ luật dân sự năm 2015 ra đời, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016, tại Chương XXXIII của Bộ luật này quy định “Thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án”. Đây là cơ chế bảo đảm thi hành kết quả hòa giải thành ở cơ sở. Theo đó, Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án được thi hành theo pháp luật về thi hành án dân sự, tức là sau khi có quyết định công nhận của Tòa án, các bên phải tự nguyện thi hành thỏa thuận của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành của Tòa án; hết thời gian này, bên phải thực hiện nghĩa vụ có điều kiện thực hiện nghĩa vụ mà không tự nguyện thực hiện thì bị cưỡng chế thực hiện, bên có quyền được nộp đơn yêu cầu thi hành cho cơ quan thi hành án dân sự theo quy định của Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Như vậy, về cơ bản pháp luật về hòa giải ở cơ sở bước đầu đã tạo điều kiện thuận lợi, mang lại hiệu quả cao hơn trong công tác hòa giải ở cơ sở. Tuy nhiên, qua thực tiễn triển khai thực hiện các quy định pháp luật hiện hành về hòa giải ở cơ sở cho thấy, mặc dù pháp luật đã hoàn thiện hơn nhiều so với trước đây, nhưng thực tế áp dụng vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc, cần được giải quyết triệt để hơn.Vì vậy, để đảm bảo tốt hơn việc thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở, luận văn đề xuất các giải pháp xây dựng, hoàn thiện thể chế pháp luật về hòa giải ở cơ sở như sau:
- Thứ nhất, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi cần kiến nghị Chính phủ thực hiện một số sửa đổi:
Quy định về phạm vi hòa giải ở cơ sở trong Nghị định số 15/2014/NĐ-CP theo hướng không quy định việc hòa giải ở cơ sở đối với các trường hợp vi phạm pháp luật hình sự và vi phạm pháp luật hành chính, trừ việc hòa giải phần trách nhiệm dân sự, bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật hình sự, hành chính gây ra:
Quy định rõ hơn căn cứ để xác định phạm vi hòa giải tại điểm d khoản 1 Điều 5 Nghị định số 15/2014/NĐ-CP, cụ thể có thể sửa như sau: “Vi phạm pháp luật có tính chất và mức độ vi phạm nhỏ, chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự, xử lý vi phạm hành chính”; Luận văn: Giải pháp pháp luật hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
Rà soát các quy định mới trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 để sửa đổi cho phù hợp; Không quy định về việc hòa giải đối với hành vi vi phạm pháp luật hình sự và hành vi vi phạm pháp luật hành chính mà chỉ nên quy định hòa giải đối với mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh từ các hành vi quy định tại điểm đ, e khoản 1 Điều 5 Nghị định số 15/2014/NĐ-CP (như hòa giải phần trách nhiệm dân sự, bồi thường thiệt hại phát sinh do hành vi vi phạm hành chính, bồi thường thiệt hại gây ra…).
Sửa đổi quy định cụ thể hành vi không được hòa giải ở cơ sơ về hôn nhân và gia đình tại điểm b khoản 2 Điều 5 như sau: “Kết hôn trái pháp luật, giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội”.
Kiến nghị sửa đổi quy định về quy trình, thủ tục bầu hòa giải viên tại Nghị quyết liên tịch số 01/2014/NQLT/CP-UBTƯMTTQVN theo hướng đơn giản hơn, tránh việc hành chính hóa quy trình bầu, công nhận hòa giải viên.
Về việc bầu hòa giải viên, cần rà soát lại các bước thực hiện mang tính hành chính hóa được quy định trong Nghị quyết liên tịch số 01/2014/NQLT/UBTƯMTTQVN-CP để đơn giản hóa, tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình tổ chức bầu hòa giải viên, bảo đảm khách quan và thể hiện đúng nguyện vọng của người dân.
Thứ hai, đối chiếu với các quy định của pháp luật tố tụng dân sự và các quy định khác liên quan đến hòa giải nói chung để bảo đảm sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các loại hình hòa giải. Vì thực tế hiện nay, mặc dù Bộ luật tố tụng dân sự đã có cơ chế bảo đảm thi hành kết quả hòa giải thành ở cơ sở. Tuy nhiên trên thực vẫn có rất ít số vụ, việc hòa giải thành được thực hiện theo “Thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án”. Bên cạnh đó, các cơ quan có thẩm quyền khi hướng dẫn các điều khoản liên quan đến hòa giải được quy định trong Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự cần có các quy định về sự hỗ trợ lẫn nhau giữa hòa giải ở cơ sở với các loại hình hòa giải trong các luật nêu trên để bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống các quy định pháp luật về hòa giải.
Thứ ba, trên cơ sở quy định pháp luật mới về hành chính, hình sự, tố tụng hành chính, tố tụng hình sự, đặc biệt là Bộ luật tố tụng dân sự quy định về công nhận kết quả hòa giải thành, Bộ Tư pháp và các cơ quan chức năng cần rà soát, nghiên cứu để kiến nghị Chính phủ đề xuất Quốc hội sửa đổi Luật hòa giải ở cơ sở, trong đó bổ sung quy định về quyền yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án để thống nhất với quy định tại Chương XXXII Bộ luật tố tụng dân sự và nâng cao hiệu lực của kết quả hòa giải thành. Đồng thời bổ sung quy định về trách nhiệm của Tòa án trong việc hỗ trợ hoạt động hòa giải ở cơ sở thông qua thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành ngoài tòa án.
Thứ tư, nhanh chóng ban hành Đề án “Kiện toàn và nâng cao năng lực đội ngũ hòa giải viên ở cơ sở” (Hiện tại dự thảo đề án này đang được lấy ý kiến của các cơ quan chức năng). Việc ban hành đề án nhằm củng cố, kiện toàn, xây dựng đội ngũ hòa giải viên có phẩm chất, năng lực, trách nhiệm để thực hiện hoạt động hòa giải ở cơ sở, qua đó góp phần tạo chuyển biến căn bản về chất lượng, nâng cao hiệu quả công tác hòa giải ở cơ sở, giải quyết kịp thời, hiệu quả các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật trong cộng đồng thuộc phạm vi hòa giải ở cơ sở.
Thứ năm, về phía địa phương, ngành Tư pháp cần chủ động, tích cực tham mưu cho Ủy ban nhân dân cùng cấp ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn triển khai thực hiện có hiệu quả các quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở; thường xuyên tổ chức kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn công tác hòa giải cơ sở.
Thứ sáu, cần xây dựng và hoàn thiện cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, tổ chức và đoàn thể trong việc thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở. Tăng cường ký kết các chương trình hành động, chương trình phối hợp giữa cơ quan quản lý Nhà nước về hòa giải với các tổ chức, đoàn thể ở địa phương để làm cơ sở pháp lý cho các thành viên, hội viên của các tổ chức này tham gia công tác hòa giải ở cơ sở.
3.2.2. Nâng cao trách nhiệm, tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền về công tác hòa giải ở cơ sở Luận văn: Giải pháp pháp luật hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
Đối với việc thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, thực tiễn những năm qua cho thấy, một trong những hạn chế của công tác hòa giải ở cơ sở là cấp ủy, chính quyền và cán bộ một số nơi chưa thật sự nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò, ý nghĩa tích cực của công tác hòa giải ở cơ sở, chưa thực sự quan tâm đến công tác này. Do đó, để bảo đảm thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn hiện nay cũng như trong thời gian tới đạt hiệu quả cao, cần thiết phải nâng cao trách nhiệm, tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, sự chỉ đạo của chính quyền các cấp về công tác Phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung, công tác hòa giải ở cơ sở nói riêng.
Một là, trên cơ sở Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013; Nghị định số 15/2014/NĐ-CP ngày 27/02/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở, Tỉnh ủy Quảng Ngãi cần ban hành văn bản chỉ đạo, tăng cường về công tác hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh. Qua đó củng cố và nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, ý nghĩa của việc thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở đối với các cấp ủy Đảng và cán bộ đảng viên.
Hai là, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh có trách nhiệm ban hành văn bản để cụ thể hóa và tổ chức thực hiện văn bản của Tỉnh ủy. Từ đó, các cấp chính quyền phải có sự quan tâm thích đáng đối với nhiệm vụ quản lý nhà nước về hoạt động hòa giải ở cơ sở của mình, bảo đảm cho đường lối chủ trương của Đảng về công tác hòa giải ở cơ sở được thực hiện trong thực tiễn đời sống xã hội.
Ba là, Ủy ban nhân dân các cấp chỉ đạo tăng cường tuyên truyền, phổ biến sâu rộng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác hòa giải ở cơ sở nhằm nâng cao hơn nữa nhận thức của toàn xã hội, đặc biệt là người dân ở cơ sở về vị trí, vai trò và ý nghĩa quan trọng của công tác hòa giải ở cơ sở, từ đó sử dụng ngày càng nhiều hơn biện pháp hòa giải để giải quyết các tranh chấp, mâu thuẫn trong cộng đồng. Xác định công tác hòa giải là một trong những nhiệm vụ quan trọng góp phần tích cực vào việc bảo đảm trật tự an toàn xã hội trong cộng đồng, khu dân cư.
Bốn là, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, các tổ chức thành viên của Mặt trận cần tăng cường trách nhiệm, tranh thủ sự quan tâm lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, sự chỉ đạo của chính quyền, phối hợp chặt chẽ với các tổ chức xã hội khác nhằm tạo sức mạnh tổng hợp của toàn bộ hệ thống chính trị cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Năm là, ngành Tư pháp cần lập kế hoạch, tham mưu với Ủy ban nhân dân cùng cấp trong việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật; tránh việc tổ chức mang tính hình thức hoặc theo lối mòn cũ gây nhàm chán. Việc biên soạn tài liệu phải ngắn gọn, nội dung phải xúc tích, chính xác, dễ hiểu và phù hợp với trình độ của hòa giải viên. Tiếp tục xây dựng, củng cố hệ thống tủ sách pháp luật trên địa bàn tỉnh theo phương châm xã hội hóa, huy động đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia; tổ chức tủ sách pháp luật ngay trong các cụm tuyến dân cư, đa dạng các loại hình tủ sách, phương thức quản lý để người dân và các hòa giải viên có thể dễ dàng tiếp cận. Luận văn: Giải pháp pháp luật hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
Sáu là, các hòa giải viên ngoài việc được bồi dưỡng các kiến thức pháp luật, tập huấn các kỹ năng nghiệp vụ hòa giải thì cũng phải cần được triển khai, quán triệt nội dung đường lối, chủ trương của Đảng có liên quan để phục vụ vào công tác hòa giải cũng như tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật. Việc triển khai các đường lối, chủ trương của Đảng cần phải đúng phương pháp, phù hợp với trình độ, tâm lý từng nhóm đối tượng hòa giải viên.
Bảy là, cần tăng cường các biện pháp để đưa pháp luật về tận cơ sở, đến với mỗi người dân như: mở các lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, kỹ năng hòa giải; biên soạn sổ tay về các tình huống hòa giải thường gặp để hòa giải viên nghiên cứu, tham khảo; tuyên truyền thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như: báo chí, đài truyền hình, đài truyền thanh địa phương, tủ sách pháp luật, việc xét xử lưu động của Tòa án, họp tổ dân phố, tuyên truyền của đội ngũ cán bộ ở cơ sở… Nghiên cứu đổi mới nội dung, hình thức Phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với đặc thù của từng nhóm đối tượng, từng địa bàn. Phương pháp tuyên truyền cần đơn giản, ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ. Đặc biệt cần chú ý đến đối tượng là người đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa.
Tám là, việc tuyên truyền quán triệt các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước về hòa giải ở cơ sở việc làm thường xuyên, liên tục theo kiểu “mưa dầm thấm lâu”; phổ biến lồng ghép với các hoạt động khác diễn ra ở địa phương như cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, gắn kết với việc phát huy dân chủ ở cơ sở, với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” có như thế mới làm chuyển biến thật sự trong suy nghĩ và hành động của mỗi người. Luận văn: Giải pháp pháp luật hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
3.2.3. Củng cố, kiện toàn, nâng cao năng lực cho đội ngũ quản lý về công tác hòa giải ở cơ sở; đội ngũ hòa giải viên cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
Đội ngũ Hòa giải viên cơ sở có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở bởi chính họ là những người trực tiếp thực hiện, đưa các quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở vào thực tiễn cuộc sống, quyết định hiệu quả thực hiện pháp luật qua từng vụ việc hòa giải. Do vậy, củng cố, kiện toàn đội ngũ hòa giải viên cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi phải coi là nhiệm vụ quan trọng và thường xuyên của các cấp chính quyền, các cơ quan quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở. Đối với tỉnh Quảng Ngãi, với đặc thù là tỉnh có nhiều huyện miền núi, miền biển, có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống thì cần phải đặc biệt chú trọng xây dựng đội ngũ Hòa giải viên cơ sở theo từng vùng miền, trong đó đặc biệt chú trọng vận động và sử dụng có hiệu quả đội ngũ Già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng dân cư. Bởi chính họ là những người gắn bó và hiểu biết thực tế ở cơ sở nhất, gần gũi với người dân nhất. Bên cạnh đó, tâm lý truyền thống của người dân tộc thiểu số là rất tôn trọng, tôn kính Già làng, trưởng bản, mỗi lời nói, phán quyết của Già làng có một uy lực rất lớn cho cả cộng đồng. Đối với miền biển, đặc điểm của ngư dân là thường tập trung đánh bắt cá theo tập đoàn nghề cá hoặc tổ nghề cá, trong đó mỗi tổ hoặc tập đoàn thường có sự tham gia của hàng chục, thậm chí hàng trăm gia đình. Trong đó, vai trò, vị trí của người Tổ trưởng là rất quan trọng, nếu vận động họ tham gia vào công tác hòa giải thì hiệu quả sẽ rất cao.
Trong thời gian qua, tỉnh Quảng Ngãi đã có sự quan tâm củng cố, kiện toàn tổ chức và hoạt động công tác hòa giải cơ sở, kiện toàn các tổ hòa giải và đội ngũ hòa giải viên. Đội ngũ những người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đã luôn gương mẫu đi đầu trong các phong trào; là những tấm gương tiêu biểu có ảnh hưởng tích cực trong cộng đồng các dân tộc thiểu số, với khả năng, uy tín của mình cùng với sự năng nổ, nhiệt tình để tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; tham gia phát triển kinh tế, văn hoá xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, giảm nghèo bền vững và xây dựng nông thôn mới. Trực tiếp tham gia hòa giải hàng nghìn vụ tranh chấp tại các thôn, bản, giữ gìn an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội tại địa phương.
Có thể nói, đội ngũ hòa giải viên nói chung, người có uy tín nói riêng đã góp phần quan trọng trong việc giải quyết các tranh chấp, mâu thuẫn trong nhân dân, góp phần đắc lực trong việc bảo đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, với sự phát triển và thay đổi không ngừng mọi mặt của đời sống xã hội, thì đội đội ngũ này cần được tiếp tục củng cố, kiện toàn ngang tầm với yêu cầu của đổi mới.
Để củng cố, kiện toàn, nâng cao năng lực cho đội ngũ quản lý về công tác hòa giải ở cơ sở; đội ngũ hòa giải viên cơ sở kiện toàn cần những giải pháp sau: Luận văn: Giải pháp pháp luật hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
Một là: Sở Tư pháp cần tăng cường vai trò tham mưu, phối hợp với các cơ quan, địa phương rà soát, củng cố đội ngũ công chức Tư pháp-Hộ tịch cấp xã để làm cơ sở cho quản lý nhà nước về công tác tư pháp, trong đó có quản lý về hòa giải ở cơ sở.
Hai là: Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi cần tiếp tục ký kết kế hoạch phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và và các thành viên của Mặt trận như: Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Cựu Chiến binh, Hội Nông dân, Hội Người cao tuổi tỉnh, Ban Dân vận Tỉnh ủy, Ban Dân tộc tỉnh, Tỉnh đoàn … để tăng cường công tác phối hợp trong quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở. Tăng cường phối hợp trong việc rà soát, giới thiệu những người có đủ trình độ, năng lực và uy tín trong cộng đồng dân cư để bầu làm tổ viên tổ hòa giải.
Ở các huyện vùng biển: Ngoài các thành phần tổ hòa giải như hiện nay thì cần bổ sung thêm những người là Chủ tịch, phó chủ tịch hoặc ủy viên nghiệp đoàn nghề cá hoặc Tổ trưởng của các tổ tự quản tàu, thuyền, bến bãi, nhóm thuyền đánh bắt xa bờ của 21 xã bãi ngang ven biển và 3 xã hải đảo. Những người này là những người vừa có khả năng kinh tế, vừa có uy tín quy tụ các gia đình trong Tổ hoặc hiệp hội của họ. Vì vậy nếu vận động họ tham gia vào các tổ hòa giải thì hiệu quả sẽ rất cao.
Ở các huyện miền núi: Tiếp tục rà soát, giới thiệu những người là Già làng hoặc người có uy tín trong thôn, làng để tham gia các tổ hòa giải, đảm bảo tất cả các thôn của các xã, thị trấn miền núi đều có những người có uy tín tham gia vào các Tổ hòa giải.
Ba là: Tăng cường công tác tập huấn nghiệp vụ, kỹ năng cho đội ngũ hòa giải viên. Trong đó cần chú ý tập huấn riêng cho từng nhóm đối tượng như: nhóm đối tượng là những Già làng, trưởng thôn ở miền núi, nhóm đối tượng là những ngư dân ở vùng biển, nhóm đối tượng là cán bộ, thôn, tổ dân phố ở đồng bằng. Từ sự phân nhóm này mà có sự nghiên cứu, biên soạn chương trình tập huấn cụ thể hơn, sát hợp với trình độ và tâm lý của mỗi nhóm đối tượng.
Bốn là: Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi, Phòng Tư pháp cấp huyện có trách nhiệm tham mưu cho Ủy ban nhân dân cùng cấp chỉ đạo, hướng dẫn củng cố và đầu tư trang bị sách, tài liệu pháp luật cho Tủ sách pháp luật xã, phường, thị trấn; quan tâm xây dựng mô hình Tủ sách pháp luật tại nhà văn hóa thôn, điểm đọc sách tại xóm, bản, ấp, tổ dân phố và các cụm dân cư; phát huy vai trò của tủ sách dòng họ… để tổ viên Tổ hòa giải có điều kiện tự tìm hiểu, nghiên cứu nhằm nâng cao kiến thức pháp luật cũng như kỹ năng, nghiệp vụ hòa giải ở cơ sở. Luận văn: Giải pháp pháp luật hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
Năm là: Sở Tư pháp làm đầu mối tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã thường xuyên rà soát, củng cố, kiện toàn và thống kê tình hình tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở.Theo đó sẽ thống kế số lượng tổ hòa giải, hòa giải viên biến động qua từng năm, tổng số vụ việc tiếp nhận hòa giải, số vụ việc hòa giải thành, số vụ việc hòa giải không thành. Từ đó đề ra những giải pháp đẩy mạnh công tác hòa giải ở ở sở. Đồng thời, tổ chức đánh giá và nhân rộng mô hình hòa giải tại địa phương đang hoạt động có hiệu quả.
3.2.4. Gắn công tác hòa giải ở cơ sở với công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý, tư vấn pháp luật trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
Để phát triển kinh tế-xã hội một cách đồng bộ, bền vững thì bên cạnh việc phát triển kinh tế, cần thiết phải chú trọng nâng cao trình độ dân trí cho nhân dân. Ý thức được điều đó, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đã ban hành nhiều văn bản để chỉ đạo các cấp ủy đảng và chính quyền địa phương tăng cường các hoạt động tuyên truyền, Phổ biến, giáo dục pháp luật, gắn việc tuyên truyền pháp luật với công tác hòa giải ở cơ sở, hoạt động trợ giúp pháp lý, tư vấn, giải đáp các chế độ chính sách cho nhân dân.
Để gắn kết công tác hòa giải ở cơ sở với công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý cần huy động và khuyến khích đội ngũ luật sư, luật gia và những người am hiểu pháp luật tham gia tích cực vào các hoạt động hòa giải ở cơ sở.
Pháp luật hòa giải hiện hành quy định khuyến khích tổ chức, cá nhân đóng góp, hỗ trợ cho công tác hòa giải ở cơ sở, theo đó khuyến khích tổ chức, cá nhân đóng góp, hỗ trợ cho công tác hòa giải ở cơ sở được Nhà nước cung cấp thông tin miễn phí về chính sách, pháp luật liên quan, được khen thưởng khi có đóng góp, hỗ trợ tích cực cho công tác hòa giải ở cơ sở theo quy định, đồng thời khuyến khích tổ chức của Hội luật gia Việt Nam, Liên đoàn Luật sư Việt Nam, các tổ chức xã hội – nghề nghiệp khác về pháp luật, tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật hỗ trợ tài liệu phục vụ hoạt động hòa giải ở cơ sở; phổ biến pháp luật về hòa giải ở cơ sở; hỗ trợ tổ chức tập huấn kiến thức pháp luật, nghiệp vụ cho hòa giải viên; tạo điều kiện cho thành viên, hội viên của tổ chức mình tham gia hòa giải ở cơ sở được khen thưởng theo quy định. Bên cạnh đó, trong các Thôn, tổ dân phố, khu dân cư…luôn có nhiều thành phần, tầng lớp dân cư sinh sống khác nhau với nhiều trình độ khác nhau, trong đó có không ít người là những Luật sư, Luật gia và những người am hiểu pháp luật. Do vậy, trong khi tổ chức hòa giải rất cần sự tham gia của những người này ngay cả khi họ không phải là tổ viên tổ hòa giải bởi sự am hiểu pháp luật và những kinh nghiệm sống của họ sẽ có uy tín rất lớn đối với các bên tranh chấp. Nếu vận động được họ tham gia hòa giải các vụ việc chắc chắn hiệu quả hòa giải các vụ việc sẽ rất cao. Luận văn: Giải pháp pháp luật hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
Sở Tư pháp chỉ đạo, hướng dẫn mạng lưới tổ chức trợ giúp pháp lý tích cực tham gia hoạt động hòa giải ở cơ sở thông qua các hoạt động trợ giúp pháp lý tại địa phương; tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý và Tổ hòa giải ở cơ sở. Thực hiện Quyết định số 52/2010/QĐ-TTg về chính sách hỗ trợ pháp lý nhằm nâng cao nhận thức, hiểu biết pháp luật cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số tại các huyện nghèo giai đoạn 2011 – 2020, tỉnh Quảng Ngãi đã thành lập được 160 Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý tại các thôn, tổ dân phố. Đây là lực lượng quan trọng trong việc tuyên truyền và tư vấn pháp luật cho nhân dân cơ sở. Nhiều thành viên của các Câu lạc bộ Trợ giúp pháp lý này cũng chính là thành viên của các Tổ hòa giải, tuy vậy họ lại thực hiện hai nhiệm vụ của hai chương trình khác nhau. Chính vì vậy, Sở Tư pháp là cơ quan chủ quản, chủ trì cần chỉ đạo các bộ phận tham mưu gắn kết hai mảng nhiệm vụ này với nhau để vừa tăng hiệu quả kinh tế, vừa tăng hiệu quả công việc. Khi tổ chức tuyên truyền pháp luật kết hợp với hòa giải và trợ giúp pháp lý và ngược lại, khi trợ giúp pháp lý kết hợp tuyên truyền pháp luật và hòa giải.
3.2.5. Thực hiện thường xuyên, có hiệu quả việc tổng kết, khen thưởng đối với tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
Đặc thù của các tổ hòa giải là các tổ tự quản do nhân dân ở các thôn, xóm, tổ dân phố, khu dân cư bầu lên, những người làm công tác hòa giải ở cơ sở hoạt động chủ yếu dựa trên sự tự nguyện và lòng nhiệt tình của mình, do đó họ cũng không có nhiều sự ràng buộc về tổ chức. Bên cạnh đó, do phải mưu sinh hoặc do nhiều hoàn cảnh gia đình khác nhau nên thành viên các tổ hòa giải không ổn định, thường có biến động về số lượng gây khó khăn cho công tác quản lý.
Do vậy, công tác kiểm tra và chế độ thông tin, báo cáo, thống kê; định kỳ sơ kết, tổng kết, khen thưởng đối với tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác hòa giải ở cơ sở là hết sức cần thiết. Bằng công tác này, các cơ quan nhà nước thường xuyên nắm chắc tình hình hoạt động của các tổ hòa giải, sự biến đọng về số lượng hòa giải viên, qua đó có những hình thức khen thưởng động viên kịp thời.
Để thực hiện tốt công tác kiểm tra và chế độ thông tin, báo cáo, thống kê; định kỳ sơ kết, tổng kết, khen thưởng đối với tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác hòa giải ở cơ sở thì:
- Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp định kỳ 6 tháng, hàng năm xây dựng kế hoạch và tổ chức kiểm tra công tác hòa giải ở cơ sở trên địa bàn mình phụ trách.
- Thực hiện nghiêm túc, đúng thẩm quyền chế độ thông tin, báo cáo, thống kê về hoạt động hòa giải ở cơ sở theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của Bộ Tư pháp.
- Chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện công tác sơ kết, tổng kết, khen thưởng đối với hoạt động hòa giải cơ sở theo quy định của pháp luật; bảo đảm hàng năm 100% cấp huyện và cấp xã có tổng kết công tác hòa giải. Phát động phong trào thi đua và có biểu dương, khen thưởng đối với các tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác hòa giải ở cơ sở.
3.2.6. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, kinh phí đảm bảo cho công tác hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi Luận văn: Giải pháp pháp luật hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
Từ thực tiễn triển khai hoạt động hòa giải ở cơ sở, một trong các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của công tác này đó chính là vấn đề về cơ sở vật chất, kinh phí để bảo đảm cho công tác hòa giải ở cơ sở. Để pháp luật được bảo đảm thực hiện trong cuộc sống đòi hỏi phải có những điều kiện vật chất nhất định. Tuy nhiên, việc đầu tư kinh phí và cơ sở vật chất cho công tác hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi hiện nay vẫn còn nhiều bất cập.
Theo quy định tại Điều 6 Luật Hòa giải ở cơ sở: “Nhà nước hỗ trợ kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở để biên soạn, phát hành tài liệu; tổ chức bồi dưỡng, hướng dẫn nghiệp vụ, kỹ năng về hòa giải ở cơ sở; sơ kết, tổng kết, khen thưởng đối với công tác hòa giải ở cơ sở; chi thù lao cho hòa giải viên theo vụ, việc và hỗ trợ các chi phí cần thiết khác cho hoạt động hòa giải ở cơ sở; Ngân sách trung ương chi bổ sung cho các địa phương chưa tự cân đối được ngân sách để hỗ trợ kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở.”
Tại Điều 12 Nghị định số 15/2014/NĐ-CP ngày 27/02/2014 quy định:
- Kinh phí cho quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở do ngân sách nhà nước bảo đảm theo phân cấp ngân sách hiện hành.
- Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tự cân đối được ngân sách bố trí, sử dụng nguồn thu ngân sách của địa phương để hỗ trợ kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở.
- Ngân sách trung ương chi bổ sung cho các tỉnh chưa tự cân đối được ngân sách để hỗ trợ kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở trên cơ sở đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
- Việc sử dụng kinh phí hỗ trợ cho công tác hòa giải ở cơ sở được thực hiện theo phân cấp ngân sách hiện hành.”
Thực hiện Thông tư số100/2014/TTLT-BTC-BTP ngày 30/7/2014 về quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước thực hiện công tác hòa giải ở cơ sở, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đã ban hành Quyết định số18/2015/QĐ-UBND ngày 13/5/2015 về quy định một số mức chi cho công tác hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. Theo đó, mức hỗ trợ kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh hiện nay theo Quyết định này đã cao hơn nhiều so với trước đây. Tuy nhiên mức chi hiện vẫn còn thấp, cụ thể như: chi hỗ trợ hoạt động tổ hòa giải (chi mua văn phòng phẩm, sao chụp tài liệu, nước uống phục vụ các cuộc họp tổ hòa giải) là 100.000đồng/tổ/tháng; chi thù lao cho hòa giải viên là 200.000đ/vụ,việc/tổ… Luận văn: Giải pháp pháp luật hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
Như vậy, có thể nói kinh phí chi cho công tác hòa giải phụ thuộc chủ yếu vào ngân sách địa phương với mức chi tương đối thấp. Song trên thực tế nhiều địa phương không bố trí được kinh phí cho công tác hòa giải; hay chỉ chi thù lao cho hòa giải viên đối với những vụ, việc hòa giải thành…Về nguyên tắc,vụ, việc hòa giải có thành hay không thành thì vẫn phải chi thù lao cho hòa giải viên, tổ hòa giải theo quy định (Số tiền nhận được ở mỗi vụ hòa giải thành nếu chia đều ra cho các thành viên tham gia hòa giải thì số tiền mỗi người nhận được cũng hết sức khiêm tốn). Nếu có địa phương bố trí được kinh phí thì nguồn kinh phí này cũng còn rất hạn chế, phần lớn kinh phí được sử dụng cho sinh hoạt tổ hòa giải, rồi mới đến chi thù lao, sau cùng mới chi cho các hoạt động khác như đầu tư cơ sở vật chất, tài liệu kiến thức, các cuộc thi cho hòa giải viên…
Tỉnh Quảng Ngãi hiện chỉ có một số xã ở huyện, thành phố đồng bằng của tỉnh Quảng Ngãi như huyện Đức Phổ, Bình Sơn, Sơn Tịnh, thành phố Quảng Ngãi…bố trí được kinh phí và thực hiện chi cho công tác hòa giải; một số xã, nhất là các xã ở huyện miền núi, hải đảo vẫn chưa bố trí được kinh phí. Ở các huyện miền núi và các huyện khác, do ngân sách của các huyện, xã miền núi thường do cấp trên cấp, không có nguồn thu cơ bản vẫn chưa đủ chi cho các hoạt động cơ bản nên không thể chi cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Điều này dẫn đến tình trạng bất cập trong vấn đề hỗ trợ kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.
Vì vậy, để đảm bảo kinh phí và cơ sở vật chất cho công tác hòa giải ở cơ sở cần, đồng thời để khích lệ hơn nữa hoạt động hòa giải, kịp thời động viên thành viên các tổ hòa giải nâng cao vai trò trách nhiệm của mình trong quá trình thực hiện nhiệm vụ hòa giải ở cơ sở thì cần phải có nhữ giải pháp:
UBND tỉnh Quảng Ngãi tham mưu trình Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành Nghị quyết chuyên đề về công tác hòa giải ở cơ sở, theo đó hàng năm hỗ trợ nguồn kinh phí trực tiếp từ ngân sách cấp tỉnh cho công tác hòa giải, giao cho Sở Tư pháp triển khai thực hiện, không để ngân sách cấp xã bố trí như hiện nay. Có như vậy, các địa phương trong tỉnh mới có kinh phí đảm bảo cho công tác hòa giải ở cơ sở. Luận văn: Giải pháp pháp luật hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
UBND các cấp bên cạnh nguồn ngân sách của tỉnh cần tăng cường huy động nguồn kinh phí của các tổ chức, cá nhân tài trợ, hỗ trợ cho hoạt động hòa giải ở cơ sở; xây dựng, ban hành các quy định về chế độ đãi ngộ đối với tổ viên Tổ hòa giải ở cơ sở.
Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp, công chức Tư pháp – Hộ tịch phối hợp với cơ quan tài chính cùng cấp hướng dẫn xây dựng, kiểm tra việc lập dự toán, quản lý và sử dụng kinh phí bảo đảm cho hoạt động hòa giải ở cơ sở theo quy định của Thông tư liên tịch số 100/2014/TTLT- BTC-BTP ngày 30/7/2014 của liên Bộ Tài chính và Tư pháp về quy định lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước thực hiện công tác hòa giải ở cơ sở. Thực hiện rà soát các quy định về sử dụng kinh phí cho hoạt động hòa giải ở cơ sở để sửa đổi, bổ sung kịp thời, đảm bảo cung cấp đầy đủ nguồn kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thực hiện báo cáo thống kê về kinh phí nhằm đảm bảo cho công tác hòa giải ở cơ sở thực hiện có hiệu quả.
Tiểu kết Chương 3
Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, tại Chương 3, luận văn đã đưa ra những phương hướng, đồng thời đề xuất những giải pháp nhằm bảo đảm cho công tác thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
Hòa giải ở cơ sở, thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, vì vậy, để tổ chức thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh ngày càng chất lượng, hiệu quả việc đầu tiên là phải tìm được phương hướng cụ thể, sau đó thực hiện thống nhất, đồng bộ các giải pháp.
KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp pháp luật hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của xã hội, các mâu thuẫn, tranh chấp trong nhân dân cũng ngày càng tăng lên, tính chất mâu thuẫn, tranh chấp cũng đa dạng và phức tạp hơn. Tuy nhiên cũng phải khẳng định rằng, từ khi có sự ra đời của Luật hòa giải ở cơ sở năm 2013 và các văn bản hướng dẫn có liên quan, việc tổ chức thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đã có những bước chuyển biến và mang lại hiệu quả tích cực.
Luật Hòa giải ở cơ sở được ban hành đã góp phần tích cực thúc đẩy hoạt động hòa giải ở cơ sở đạt được nhiều kết quả, với những quy định của Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo hành lang pháp lý và điều kiện thuận lợi hơn trong hoạt động hòa giải ở cơ sở. Hoạt động của hòa giải viên, các tổ hòa giải ở cơ sở đã tiếp tục góp phần đưa pháp luật về tại cơ sở, đồng thời, góp phần rất lớn trong việc nâng cao dân trí pháp lý, ý thức chấp hành pháp luật, giải tỏa kịp thời những vướng mắc pháp luật, giảm bớt các vụ khiếu kiện vượt cấp, các tranh chấp, mâu thuẫn trong đời sống nhân dân, đấu tranh, phòng chống các hành vi vi phạm pháp luật, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương.
Qua nghiên cứu lý luận về thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở; kết hợp với đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, luận văn đã góp phần tổng kết thực tiễn việc tổ chức thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh, từ đó bổ sung thêm vào lý luận những kinh nghiệm thực tiễn, những giải pháp mới nhằm hoàn thiện thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở tại địa phương.
Trong điều kiện đẩy mạnh cải cách tư pháp, phát huy dân chủ, xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, trên cơ sở các chính sách, các quy định pháp luật về hòa giải ở cơ sở đã được ban hành, trong thời gian tới việc hoàn thiện về cơ sở pháp lý nhằm đảm bảo hơn nữa về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở là một trong những yêu cầu thực tiễn khách quan, thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với công tác hòa giải ở cơ sở, khẳng định vị trí, vai trò không thể thiếu của công tác này trong đời sống cộng đồng góp phần tạo nên sự đồng thuận xã hội, ổn định, thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển. Luận văn: Giải pháp pháp luật hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Pháp luật về hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Thực trạng pháp luật hòa giải cơ sở ở tỉnh Quảng Ngãi