Luận văn: Pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất – Thực tiễn áp dụng tại huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn thực hiện đề tài

Trong bối cảnh hiện nay khi giá trị Quyền sử dụng đất (QSDĐ) gia tăng một cách mạnh mẽ đã gây ra nhiều mâu thuẫn, xung đột liên quan đến QSDĐ ngày càng nhiều và phức tạp gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh xã hội, khó khăn trong việc quản lý nhà nước. Trong số đó có thể thấy rằng nổi cộm nhất là các khiếu kiện liên quan đến bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Những khiếu kiện liên quan đến bồi thường về đất ngày càng nhiều và kéo dài gây thiệt hại nghiêm trọng đến nền kinh tế và xã hội. Nhiều người chỉ vì khiếu kiện đòi mức bồi thường hợp lý mà mất cả nhiều năm, thậm chí hàng chục năm trời đi đến các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, thậm chí có người tìm đến cả Bộ và Thanh tra Chính phủ để can thiệp. Phải tốn rất nhiều công sức và tiền của vào việc đi kiện đòi lại chính cái quyền được thừa nhận của họ, thế nhưng rất ít người trong số họ bỏ cuộc bởi giá trị đất đai là quá lớn. Khi khiếu kiện kéo dài mà không được giải quyết hoặc giải quyết thỏa đáng thường xuất hiện một tâm lý phổ biến ở người khiếu kiện là chán nản, mất niềm tin và dẫn đến thái độ chống đối. Mặt khác, không chỉ người bị thu hồi đất cảm thấy bị thiệt thòi mà tiến độ thực hiện dự án của các nhà đầu tư bị trì hoãn do người dân cố tình chống đối, không chịu bàn giao đất vì không chấp nhận mức giá bồi thường. Điều này cũng gây ảnh hưởng trực tiếp đối với quyền lợi của nhà đầu tư, tạo ra tâm lý e ngại trong việc thực hiện ý định đầu tư, nhất là đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Có thể xem đây là một trở ngại lớn đối với nước ta trong công tác thu hút đầu tư nước ngoài.

Nhận thức được tầm quan trọng của công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất nên trong quá trình soạn thảo Luật Đất đai, từ Luật Đất đai 1987, Luật Đất đai 1993, Luật Đất đai 2003 đến Luật Đất đai 2013 và tại dự thảo Luật đất đai sửa đổi tại kỳ họp lần thứ 4, Quốc hội khóa XV vấn đề này luôn được Quốc hội quan tâm. Thực tế trong quá trình góp ý về dự thảo Luật Đất đai 2013 trước đây đó đã là vấn đề mà người dân quan tâm hàng đầu bởi nó ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của họ. Tuy nhiên, việc xác định các trường hợp thu hồi được bồi thường, diện tích đất cũng như loại đất được bồi thường, nhất là vấn đề định giá đất bồi thường để giải quyết cho hài hòa giữa lợi ích của nhà đầu tư đồng thời bảo vệ quyền lợi cho người dân không phải là vấn đề dễ dàng. Vì thế, dù đã qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung Quốc hội vẫn chưa thể lấp hết được những phát sinh trong vấn đề này. Nhiều quy định trong các văn bản pháp luật trước đó còn nhiều bất cập những chưa được khắc phục. Đồng thời, có những trường hợp luật quy định khá rõ ràng nhưng khi áp dụng trên thực tế lại không phù hợp. Chính vì vậy mà các khiếu kiện trong lĩnh vực đất đai, đặc biệt là mẫu thuẫn, xung đột liên quan đến bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất vẫn diễn ra thường xuyên gây ra nhiều tác hại cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế.

Huyện Bắc Tân Uyên là một trong những huyện vùng nông thôn của tỉnh Bình Dương, được thành lập theo Nghị Quyết 136/NQ-CP ngày 29/12/2013, từ ngày 01/4/2014, sau khi được tách ra từ huyện Tân Uyên (thành lập Thị xã Tân Uyên và huyện Bắc Tân Uyên). Vốn là một huyện vùng xa trung tâm của tỉnh (cách trung tâm hành chính tỉnh khoản 30km), Bắc Tân Uyên không có nhiều công trình hạ tầng kỹ thuật cũng như hạ tầng xã hội. Tuy nhiên, hiện nay tốc độ phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ của Bắc Tân Uyên hết sức mạnh mẽ. Các tuyến đường chính với kết cấu rộng lớn và thông thương, bên cạnh đó là quỹ đất rộng lớn tạo điều kiện cho vùng trỡ thành địa điểm phát triển kinh tế nhanh chóng. Chính điều này đã thu hút mạnh mẽ sự đầu tư từ bên ngoài vào vào huyện đơn cử như: Khu công nghiệp Đất Cuốc, Khu công nghiệp Tân Bình, Cụm Công nghiệp Tân Mỹ, Khu công nghiệp VSip 3 và các tuyến đường giao thông lớn đi qua… Hệ quả là nảy sinh những xung đột và mâu thuẫn liên quan đến vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Luận văn: Pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất.

Tại kỳ họp lần thứ 4, Quốc hội khóa XV, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Văn Thành trình bày tờ trình về dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi). Dự thảo Luật gồm 16 chương, 245 điều, trong đó giữ nguyên 28 điều; sửa đổi, bổ sung 184 điều; bổ sung mới 41 điều và bãi bỏ 8 điều. Chính phủ đã gửi Quốc hội dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), bản so sánh những nội dung mới của dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) với Luật Đất đai 2013. Trong đó đáng chú ý là các Điều liên quan đến vấn đề quy định cụ thể điều kiện, tiêu chí, các trường hợp Nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng (Điều 86) và trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để công khai, minh bạch trong thực thi và giám sát. Đa dạng các hình thức bồi thường bằng đất có cùng mục đích với đất bị thu hồi hoặc bằng tiền, bằng đất khác hoặc bằng nhà ở; giá đất bồi thường theo giá thị trường; tách bạch các khoản bồi thường, các khoản hỗ trợ; công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phải đi trước một bước khi quyết định thu hồi đất.

Cụ thể hóa nguyên tắc “có chỗ ở, thu nhập và điều kiện sống bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ” thông qua quy định tiêu chí về hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, địa điểm tái định cư theo thứ tự ưu tiên (tại chỗ, trên cùng địa bàn xã, phường; địa bàn tương đồng). Đối với khung gia đất áp dụng bồi thường được đề xuất bỏ khung giá đất theo giai đoạn trước đây. Dự thảo Luật bỏ quy định khung giá đất, quy định cụ thể nguyên tắc định giá đất phù hợp với giá trị thị trường, bảo đảm tính độc lập về chuyên môn nghiệp vụ, trung thực, khách quan; bảng giá đất được xây dựng định kỳ hàng năm. Đối với khu vực có bản đồ địa chính số và cơ sở dữ liệu giá đất thì bảng giá đất được xây dựng theo vùng giá trị, thửa đất chuẩn. Quy định các trường hợp áp dụng bảng giá đất, trong đó áp dụng bảng giá để để tính thuế thu nhập khi chuyển quyền sử dụng đất. Mở rộng thành phần Hội đồng thẩm định giá đất với sự tham gia của đại diện Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức tư vấn, chuyên gia về giá đất để đảm bảo tính độc lập, khách quan. Phân cấp thẩm quyền cho Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định giá đất cụ thể phù hợp với thẩm quyền của cấp huyện trong giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích…

Bên cạnh đó, Bộ chính trị ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 16/6/2022 “Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao” về cơ chế hoàn thiện chính sách pháp luật về quản lý đất đai.

Xuất phát từ những lý do trên, học viên chọn đề tài “Pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất – Thực tiễn áp dụng tại huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương” làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành Luật Kinh tế.

2. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

2.1. Mục tiêu chung Luận văn: Pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất.

Mục đích nghiên cứu của luận văn nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật tại Huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Qua đó, đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trong thời gian tới.

2.2. Mục tiêu cụ thể

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố, luận văn tiếp tục nghiên cứu làm rõ các nội dung sau đây:

Thứ nhất, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.

Thứ hai, phân tích thực trạng các quy định pháp luật Việt Nam về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Đưa ra những nhận định, đánh giá một cách khách quan, thấu đáo những ưu điểm, kết quả đạt được cũng như những hạn chế, vướng mắc của pháp luật hiện hành điều chỉnh bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.

Thứ ba, phân tích và đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn Huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Từ đó, chỉ ra những vướng mắc, bất cập phát sinh từ thực tiễn áp dụng pháp luật.

Thứ tư, từ những nền tảng lý luận và cơ sở pháp lý đã phân tích ở trên, đề xuất được phương hướng, giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.

2.3. Câu hỏi nghiên cứu

  • Những vấn đề lý luận về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là gì?
  • Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất gồm có những nội dung gì? Có hạn chế và bất cập gì?
  • Thực tiễn bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất tại Huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương những năm gần đây như thế nào? Có vướng mắc gì?
  • Cần phải có những giải pháp gì để khắc phục những bất cập, vướng mắc góp phần hoàn thiện pháp luật?
  • Để nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất tại tỉnh Bình Dương cần phải làm gì?

3. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Luận văn: Pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất.

Trong khoa học pháp lý Việt Nam trong những năm qua, đã có các công trình nghiên cứu, bài viết liên quan trực tiếp, gián tiếp hoặc có liên quan đến bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất đã được công bố trên các tạp chí khoa học, báo cáo tổng kết, đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ, sách được xuất bản hoặc đăng tải trên các trang thông tin điện tử. Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu:

  • Nguyễn Vinh Diện (2019), “ Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất”, Luận án tiến sĩ Luật học , Trường Đại học Luật Hà Nội. Luận án đã phân tích thực trạng pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam; từ đó đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về vấn đề này.
  • Nguyễn Văn Đông (2021), “Pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam”, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Luật, Đại học Huế. Luận án đã làm rõ cơ sở lý luận pháp luật và thực tiễn về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội; phân tích thực trạng pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội nhằm phát hiện những tồn tại, bất cập; trên cơ sở đó, luận án đề xuất những định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội và nâng cao hiệu quả thực thi ở nước ta.
  • Lê Ngọc Thanh (2017), “Pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp ở Việt Nam”, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh. Trên cơ sở làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam về thu hồi đất nông nghiệp, đề tài đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của NSDĐ nông nghiệp bị thu hồi đất và các bên có liên quan
  • Nguyễn Trịnh Hoàn (2016), “ Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất – thực trạng thi hành tại thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng “, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội. Luận văn đã phân tích thực trạng pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng; từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này
  • Lã Xuân Trường (2018), “Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất đầu tư xây dựng đường giao thông trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn“, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội. Luận văn đã phân tích thực trạng áp dụng pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để xây dựng đường giao thông tại tỉnh Lạng Sơn; từ đó đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về vấn đề này.

Thứ hai, các bài nghiên cứu liên quan đến đề án; Luận văn: Pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất.

  • Nguyễn Vinh Diện (2018), “Bồi thường về đất khi nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng “, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Số 22, tr. 50-55. Bài viết đã làm rõ những hạn chế, bất cập trong thực hiện pháp luật đất đai về nguyên tắc bồi thường về đất khi nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện qui định của pháp luật.
  • Đoàn Minh Hà (2016), “Công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất ở TP. Hồ Chí Minh và định hướng hoàn thiện “, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật. Số 7/2016, tr. 42 – 45. Bài viết đã làm rõ những tồn tại, vướng mắc từ thực tiễn bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất ở Hồ Chí Minh và đề xuất một số định hướng hoàn thiện chính sách pháp luật trong thời gian tới.
  • Bùi Hồng Nhung (2022), “Hoàn thiện quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp. Số 9, tr. 27-31. Theo tác giả bài viết thì vấn đề bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất luôn được coi là một nội dung quan trọng, gây ảnh hưởng trực tiếp tới quyền và lợi ích của người sử dụng đất. Qua gần 8 năm thi hành Luật Đất đai năm 2013, những quy định liên quan tới vấn đề này đã bộc lộ nhiều điểm bất cập, hạn chế gây bức xúc cho các chủ thể bị Nhà nước thu hồi đất. Do vậy, cần thiết phải xem xét, sửa đổi một số quy định liên quan đến bồi thường, hỗ trợ, tái định cư hướng tới đảm bảo quyền lợi cho các chủ thể bị Nhà nước thu hồi đất.
  • Phan Trung Hiền (2019), “Quyền tiếp cận thông tin trong thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư – Nhìn từ thực tiễn thành phố Cần Thơ “, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Số 23, 48-55. Bài viết đã trình bày cơ sở pháp lí của quyền tiếp cận thông tin trong thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; quyền tiếp cận thông tin về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trên thực tế và những vấn đề đặt ra hiện nay.

=> Các công trình khoa học trên đã trình bày các cơ sở lý luận về thu hồi và thực tiển thu hồi đất tại các địa phương trong thời gian qua. Qua đó giúp học viên có cái nhìn tổng quan về vấn đề thu hồi đất và nghiên cứu so sánh với thực tiễn tại địa phương học viên nghiên cứu, trình bày. Tuy nhiên, các vấn đề nghiên cứu của các công trình trên mang tính chất địa phương và chưa làm nỗi bật việc đánh giá thực trạng các tổn tại, hạn chế liên quan đến giá thu hồi đất và đề xuất cơ chế thực hiện. Kế thừa những công trình nghiên cứu, học viên tiếp tục nghiên cứu quy định pháp luật hiện hành từ đó có những phân tích làm sáng tỏ và góp phần vào yếu tố thu hồi đất tại huyện Bắc Tân Uyên.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu Luận văn: Pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất.

  • Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.
  • Nghiên cứu pháp luật Việt Nam về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.
  • Nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất tại Huyện Bắc Tân Uyên, Tỉnh Bình Dương

4.2. Phạm vi nghiên cứu

  • Về không gian: Huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
  • Về thời gian nghiên cứu: Giai đoạn năm 2016 đến năm

5. Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn như sau:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng nhằm lý giải những vấn đề thuộc về bản chất, các quan điểm liên quan đến vấn đề nghiên cứu, đánh giá thực trạng, để từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam.
  • Phương pháp thống kê: Tiến hành thu thập, thống kê về kết quả thực hiện pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất tại Việt Nam hiện nay
  • Phương pháp so sánh: So sánh kinh nghiệm pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.
  • Phương pháp xử lý thông tin: Sử dụng để xử lý các tài liệu tham khảo từ sách, báo, tạp chí, các tài liệu từ cơ sở dữ liệu ProQues, Springer và Google Scholar liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Từ đó, tổng thuật theo từng chủ đề trong giới hạn phạm vi nghiên cứu đặt ra, trên cơ sở đó, khẳng định tính mới trong nội dung nghiên cứu của luận văn

6. Đóng góp khoa học và thực tiễn của luận văn Luận văn: Pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất.

6.1. Ý nghĩa khoa học của luận văn

  • Góp phần làm rõ cơ sở khoa học và thực tiễn của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, đặc biệt là pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất chịu sự chi phối của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, quyền sử dụng đất của tổ chức, cá nhân được Nhà nước thừa nhận và bảo hộ trong điều kiện kinh tế thị trường.
  • Góp phần đánh giá thực trạng và thực hiện pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trên Việt Nam thời gian qua, chỉ ra những hạn chế, bất cập và nguyên nhân cả về nhận thức và quá trình thực thi pháp luật.
  • Luận văn đề xuất các định hướng và giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, phù hợp với đặc điểm riêng có của quyền sử dụng đất ở Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy kinh tế – xã hội ngày càng phát triển

6.2. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu giảng dạy, học tập trong các Trường Đại học chuyên luật và không chuyên luật, hệ thống các trường chính trị, cho những người trực tiếp làm công tác bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất

7. Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Danh mục viết tắt; phần chính của luận văn có 03 chương và những nội dung cơ bản sau:

  • Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
  • Chương 2: Thực trạng pháp luật về bồi thường thu hồi đất và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Huyện Bắc Tân Uyên, Tỉnh Bình Dương
  • Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT

1.1. Khái quát về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất

1.1.1. Khái niệm, đặc điểm về thu hồi đất

  • Khái niệm về thu hồi đất Luận văn: Pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất.

Nếu như giao đất, cho thuê đất là cơ sở để làm phát sinh quan hệ pháp luật đất đai, phát sinh quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng thì thu hồi đất là một biện pháp làm chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai bằng một quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Thông qua những hoạt động này, Nhà nước thể hiện rất rõ quyền định đoạt đất đai với tư cách là đại diện chủ sở hữu đối với đất đai.

Theo Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học, thu hồi đất được hiểu là: Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi quyền sử dụng đất của người vi phạm quy định về sử dụng đất để Nhà nước giao cho người khác sử dụng hoặc trả lại cho chủ sử dụng đất hợp pháp bị lấn chiếm. Trường hợp thật cần thiết, Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng của người sử dụng đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng.

Trong Luật Đất đai năm 1987 và Luật Đất đai năm 1993, đã đề cập vấn đề thu hồi đất, nhưng chưa định nghĩa rõ thế nào là thu hồi đất mà chỉ liệt kê các trường hợp bị thu hồi đất (Điều 14 Luật Đất đai năm 1987 và điều 26 Luật Đất đai năm 1993).

Khi Luật Đất đai năm 2003 ra đời, thuật ngữ thu hồi đất đã được giải thích tại Khoản 5, Điều 4: “Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật này”.

Dù đã có sự điều chỉnh và mở rộng nội hàm của vấn đề thu hồi đất, song cách giải thích này chưa thật sự chính xác, bởi nó dẫn đến cách hiểu rằng người sử dụng đất bị thu hồi chỉ là tổ chức hay Ủy ban nhân dân xã, phường thị trấn, trong khi theo quy định pháp luật, người sử dụng đất bị thu hồi còn có thể là hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất, hơn nữa đây mới là chủ thể phổ biến bị thu hồi đất.

Trong quá trình xây dựng Luật Đất đai năm 2013, đã có khá nhiều các quan điểm, ý kiến bàn luận về khái niệm pháp lí này. Có quan điểm cho rằng, thuật ngữ “thu hồi đất” chỉ thật sự phù hợp cho trường hợp: Nhà nước thu hồi do vi phạm pháp luật đất đai và thu hồi do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật hoặc tự nguyện, bởi lẽ khi nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, mặc dù không có quyền sở hữu nhưng người dân hoặc tổ chức đã được xác lập quyền sử dụng với ý nghĩa là quyền tài sản tư. Hơn nữa, Luật trưng mua, trưng dụng tài sản (Luật số 15/2008/QH12) Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 03/06/2008 đã quy định cụ thể về vấn đề trưng mua, trưng dụng tài sản. Vì lí do trên, chỉ nên áp dụng cơ chế thu hồi đất đối với các trường hợp: Thu hồi đất do vi phạm pháp luật đất đai; Thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật hoặc tự nguyện và thu hồi đất do việc trưng mua không thực hiện được theo Điều 17- Luật trưng mua, trưng dụng tài sản. Còn đối với trường hợp Nhà nước có nhu cầu sử dụng đất cho mục đích quốc phòng an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế – xã hội, cần áp dụng cơ chế trưng mua quyền sử dụng đất thay thế cho cơ chế thu hồi đất.

Đa số các ý kiến khác lại cho rằng, trong điều kiện đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lí, Nhà nước có quyền phân bổ và điều chỉnh đất đai, việc xác lập, thay đổi hay chấm dứt quyền sử dụng đất của đối tượng này để xác lập cho đối tượng khác vì mục tiêu kinh tế xã hội của đất nước là hoàn toàn thuộc quyền của Nhà nước với hai tư cách đó. Việc có hay không sự lạm quyền, độc quyền hay xâm phạm tới quyền tài sản tư (quyền sử dụng đất thuộc tài sản tư của người sử dụng) không biểu hiện ở quyết định hành chính về thu hồi đất mà cần phải xem quyết định hành chính đó có đúng đắn và hợp pháp hay không. Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc các ý kiến, các quan điểm của các nhà khoa học, Luật Đất đai năm 2013 đã được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2013, sẻ có hiệu lực vào ngày 01/07/2014, tại khoản 11, Điều 4 đã quy định: “Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai”.

Dựa trên các quan niệm của các nhà khoa học và nội dung các quy định về thu hồi đất của LĐĐ năm 2013, tác giả cho rằng khái niệm THĐ được hiểu như sau: “Thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất khi thuộc các trường hợp và theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định”.

  • Đặc điểm về thu hồi đất Luận văn: Pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất.

Thứ nhất, THĐ được thực hiện bởi Nhà nước. Chỉ có Nhà nước là cơ quan duy nhất được thực hiện việc THĐ của người SDĐ. Nhà nước vừa là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai, vừa là cơ quan quyền lực Nhà nước có chức năng, nhiệm vụ thống nhất quản lý đất đai trong cả nước. Nhà nước thông qua các cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc THĐ; các cơ quan này bao gồm UBND cấp tỉnh hoặc UBND cấp huyện.

Thứ hai, THĐ là quyết định hành chính mang tính mệnh lệnh. Nhà nước với tư cách là cơ quan quyền lực có chức năng, nhiệm vụ thống nhất quản lý đất đai trong phạm vi cả nước có quyền THĐ. Quyết định THĐ mang tính mệnh lệnh hành chính mà người bị THĐ và tổ chức, cá nhân có liên quan có nghĩa vụ chấp hành.

Thứ ba, THĐ được thực hiện trong các trường hợp do pháp luật quy định. Cụ thể là THĐ do người SDĐ vi phạm pháp luật về đất đai, do chấm dứt việc SDĐ theo quy định của pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người; THĐ vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Ngoài các trường hợp trên thì Nhà nước không được THĐ.

Thứ tư, việc THĐ phải thực hiện bằng văn bản theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Việc THĐ phải thực hiện theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, bao gồm các bước cơ bản như: xây dựng và thực hiện kế hoạch THĐ; điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm; lập, thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ, TĐC; quyết định THĐ, phê duyệt và tổ chức thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ, TĐC. Các bước này phải được thực hiện đúng trình tự và phải thực hiện bằng văn bản bởi người có thẩm quyền và cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Thứ năm, hậu quả của việc THĐ làm chấm dứt quyền SDĐ, gây ra cho người bị THĐ những thiệt hại nhất định và xác lập trách nhiệm của Nhà nước đối với những thiệt hại này. Kể từ khi quyết định THĐ do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành có hiệu lực pháp luật thì người bị THĐ bị chấm dứt quyền SDĐ. Đồng thời với việc bị chấm dứt quyền SDĐ thì THĐ gây ra hậu quả là thiệt hại cho người SDĐ. Theo đó, tùy từng trường hợp mà người SDĐ bị những thiệt hại nhất định, như thiệt hại về đất, tài sản gắn liền với đất, thiệt hại đối với vật nuôi, thiệt hại do di chuyển, mất việc làm, mất ổn định cuộc sống, thiệt hại đến không gian văn hóa, tâm linh … Đồng thời với quyết định THĐ thì xác lập trách nhiệm của Nhà nước trong việc bồi thường những thiệt hại này. Như vậy, mặc dù bị chấm dứt quyền SDĐ nhưng người SDĐ được Nhà nước bồi thường và giải quyết những hậu quả phát sinh từ việc THĐ theo quy định của pháp luật. Luận văn: Pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất.

1.1.2. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất

  • Khái niệm về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất

Trong khoa học luật đất đai hiện nay có một số quan điểm khác nhau về khái niệm “bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất”. Tác giả Nguyễn Văn Đông trong luận án tiến sĩ với chủ đề “Pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam” thực hiện tại Trường Đại học Luật, Đại học Huế năm 2022 đã đưa ra khái niệm: “Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước bù đắp những tổn hại về đất và tài sản trên đất do hành vi thu hồi đất gây ra cho hộ gia đình, cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật đất đai để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế – xã hội”.

Tác giả Nguyễn Vinh Diện trong luận án tiến sĩ với chủ đề “Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất” thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2019 đã đưa ra khái niệm: “Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất, bù đắp những thiệt hại về tài sản gắn liền với đất và thiệt hại khác cho người có đất bị thu hồi để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng”.

Thuật ngữ “bồi thường” trong pháp LĐĐ ở Việt Nam đã được ghi nhận trong các văn bản pháp luật về đất đai, kể từ trước khi có LĐĐ năm 1987. Sau khi LĐĐ năm 1987 ra đời, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Quyết định số 186/HĐBT ngày 31/5/1990 quy định “Về đền bù thiệt hại đất, đất có rừng khi chuyển sang sử dụng vào mục đích khác”, thuật ngữ “bồi thường” được thay thế bằng thuật ngữ “đền bù thiệt hại”. Mặc dù pháp luật không đưa ra sự giải thích về vấn đề này, song có thể hiểu “đền bù thiệt hại” khi Nhà nước thu hồi đất là việc bù đắp lại những thiệt hại do việc thu hồi đất gây ra, trả lại tương xứng với giá trị quyền sử dụng đất và công lao mà người sử dụng đất đã đầu tư vào đất trong quá trình sử dụng. Thuật ngữ này tiếp tục được sử dụng trong LĐĐ năm 1993, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của LĐĐ năm 1998 và các Nghị định hướng dẫn thi hành. Tuy nhiên, việc “đền bù thiệt hại” khi Nhà nước thu hồi đất được thực hiện chỉ đơn giản là việc Nhà nước đền bù thiệt hại do hành vi thu hồi đất gây ra cho người sử dụng đất mà không đi kèm sau đó việc thực hiện các chính sách hỗ trợ, tái định cư. Hơn nữa, với thuật ngữ “đền bù thiệt hại” khi Nhà nước thu hồi đất, cho người ta nghĩ ngay đến việc phải được đền bù 100% giá trị của mảnh đất bị thu hồi (trả lại đầy đủ, tương xứng với sự mất mát hoặc vất vả), trong khi giá trị ban đầu của đất đai không do con người tạo ra mà họ chỉ tạo ra giá trị tăng thêm của đất đai (do người sử dụng đất đầu tư vào đất). Còn thuật ngữ “bồi thường” lại cho thấy rằng, Nhà nước chỉ bồi thường những giá trị, thiệt hại hợp lý về đất và tài sản trên đất cho người có đất bị thu hồi, kèm theo đó có thể là cơ chế hỗ trợ để giúp người sử dụng đất nhanh chóng vượt qua những khó khăn khi bị thu hồi đất.

Khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của LĐĐ năm 2001 được Quốc hội ban hành, thuật ngữ “bồi thường” được sử dụng trở lại bởi sự hợp lý của nó và tiếp tục xuất hiện trong LĐĐ năm 2003; Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ quy định “Về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất” cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành khác. Khoản 6, Điều 4 LĐĐ năm 2003 quy định: “Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất”. Tuy nhiên, quy định này chưa thật sự chặt chẽ và chưa thể hiện được trọn vẹn những giá trị thiệt hại mà Nhà nước sẽ bồi thường khi thu hồi đất, đó không chỉ là giá trị quyền sử dụng đất mà còn phải tính đến giá trị thiệt hại về tài sản có trên đất, ngoài ra phải tính đến những thiệt hại vô hình khác, mà Nhà nước phải sử dụng thêm cơ chế hỗ trợ mới bù đắp được một cách trọn vẹn những thiệt hại do thu hồi đất gây ra. Vì vậy trong LĐĐ năm 2013 mới được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2013, Khoản 12, Điều 3 về giải thích từ ngữ đã quy định rõ: “Bồi thường tài sản trên đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất”. Còn vấn đề hỗ trợ và bồi thường thiệt hại về tài sản được quy định tại mục 2, mục 3 chương VI của Luật này. Như vậy, khi Nhà nước thu hồi đất, Nhà nước có nghĩa vụ bồi thường cho người sử dụng đất hợp pháp bị thu hồi đất những giá trị, thiệt hại hợp lý về đất và tài sản trên đất, việc bồi thường được thực hiện theo những quy định của pháp LĐĐ. Luận văn: Pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất.

Từ các phân tích trên theo tác giả có thể hiểu: “Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước hoặc chính tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuế đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, hoặc phát triển kinh tế (tức các chủ đầu tư) phải bù đắp những tổn hại về đất và tài sản trên đất do hành vi thu hồi đất gây ra cho người sử dụng đất theo những quy định của pháp luật đất đai

  • Đặc điểm của bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất

Thứ nhất, cơ sở làm phát sinh việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc nhà nước thu hồi đất của người đang SDĐ để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế & xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Điều này có nghĩa là việc bồi thường cho người bị thu hồi đất chỉ được thực hiện khi thu hồi đất để sử dụng vào các mục đích chung của Nhà nước và xã hội mà không do lỗi của người SDĐ.

Thứ hai, về đối tượng được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Không phải bất cứ người SDĐ nào khi bị Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển KT&XH vì lợi ích quốc gia, công cộng cũng đều được bồi thường mà chỉ những người SDĐ đủ điều kiện để được bồi thường theo quy định của pháp luật.

Thứ ba, về giá bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Giá đất, tài sản và các quyền lợi bồi thường phụ thuộc vào ý chí của Nhà nước. Điều này có nghĩa là người SDĐ không có quyền thỏa thuận với Nhà nước mà họ phải chấp nhận việc bồi thường theo giá do Nhà nước quy định tại thời điểm thu hồi đất. Tuy nhiên, để đảm bảo sự đồng thuận của người dân thì khi xây dựng phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng lấy ý kiến góp ý của người bị thu hồi đất về phương án bồi thường.

Thứ tư, về phạm vi bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Người SDĐ không chỉ được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất mà còn được Nhà nước giải quyết các vấn đề mang tính xã hội như giải quyết chỗ ở, đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp, bố trí sắp xếp công ăn việc làm … để ổn định cuộc sống và sản xuất.

Thứ năm, trong nền kinh tế thị trường dưới tác động của các quy luật khách quan, việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất không thể giải quyết dựa trên các biện pháp chính trị – hành chính thuần túy mà phải sử dụng các biện pháp kinh tế. Hơn nữa, đất đai là vấn đề phức tạp, nhạy cảm có ý nghĩa trên các khía cạnh chính trị, kinh tế, xã hội. Vì vậy, cần giải quyết hài hòa mối quan hệ về lợi ích kinh tế giữa Nhà nước, nhà đầu tư, người bị THĐ và người được hưởng lợi từ việc THĐ thông qua việc sử dụng tổng hợp các biện pháp từ vận động, giáo dục, thuyết phục đến các biện pháp hành chính, cưỡng chế, các biện pháp kinh tế. Luận văn: Pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất.

  • Ý nghĩa của bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất

Ở nước ta đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu song trên thực tế Nhà nước không trực tiếp sử dụng đất mà giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài (gọi chung là người sử dụng đất). Điều này có nghĩa là Nhà nước không giao quyền sở hữu đất đai mà chỉ giao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất. Song cho dù đất đai không thuộc sở hữu của người sử dụng đất nhưng khi được giao đất, cho thuê đất họ vẫn có một số quyền năng nhất định đối với đất đai như quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền tạo lập tài sản gắn liền với đất v.v. Như vậy, tài sản gắn liền với đất được tạo ra bởi sự đầu tư công sức, thời gian và tiền vốn v.v của người sử dụng đất. Hay nói cách khác đây là thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất thuộc sở hữu của người sử dụng đất. Vì vậy, khi Nhà nước thu hồi đất gây thiệt hại đến tài sản gắn liền với đất thì họ phải được bồi thường. Điều này được ghi nhận trong LĐĐ năm 2013 trong các quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển KT&XH vì lợi ích quốc gia, công cộng. Cụ thể, mục đích, ý nghĩa của việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất thể hiện mục đích và ý nghĩa dưới góc độ lý luận và thực tiễn như sau:

Thứ nhất, Dưới góc độ lý luận, chính sách bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất được đặt ra dựa trên cơ sở quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được Hiến pháp và pháp luật bảo hộ. Ngay từ Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013 đều khẳng định: “Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác. Quyền sở hữu tư nhân …. được pháp luật bảo hộ”. Như vậy, có thể thấy quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của mọi cá nhân và tổ chức đã được ghi nhận xuyên suốt trong các bản Hiến pháp nước ta cũng như đa số các nước trên thế giới. Bởi vậy, khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng an ninh, lợi ích quốc gia, công cộng và phát triển kinh tế thì toàn bộ tài sản hợp pháp gắn liền với đất bị thu hồi do người sử dụng đất tạo ra đều được xác định là tài sản hợp pháp của cá nhân và phải được bồi thường. Đồng thời, xét về mối quan hệ nhân – quả có thể thấy rõ thiệt hại về lợi ích của chủ sở hữu tài sản hợp pháp trên đất là hậu quả trực tiếp từ hành vi Nhà nước thu hồi đất gây ra.

Chính vì vậy, khi Nhà nước thu hồi đất thì phải thực hiện bồi thường đối với tài sản hợp pháp trên đất.

Thứ hai, dưới góc độ thực tiễn, việc thu hồi đất sẽ gây ra những tác động lớn về cả chính trị, kinh tế, xã hội cũng như môi trường. Nếu như không giải quyết tốt vấn đề bồi thường hỗ trợ nói chung và bồi thường về tài sản trên đất nói riêng thì sẽ dẫn đến những hệ quả nghiêm trọng như: xung đột lợi ích trong xã hội giữa Nhà nước, chủ sở hữu tài sản hợp pháp và doanh nghiệp; người dân phải gánh chịu những thiệt hại nặng nề về vật chất; có thể dẫn đến bất ổn về tình hình chính trị – an ninh. Chính bởi vậy, việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất sẽ góp phần bù đắp những thiệt hại về tài sản của chủ sở hữu tài sản hợp pháp trên đất. Và công tác này thể hiện ý nghĩa to lớn không chỉ trên phương diện lý luận mà còn ngay trong thực tiễn đời sống xã hội.

1.2. Khái quát pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất Luận văn: Pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất.

1.2.1. Khái niệm và đặc điểm của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất

  • Khái niệm pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất

Về mặt lý luận, pháp luật có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội mà Nhà nước xét thấy cần phải điều chỉnh, nhằm đảm bảo mối quan hệ hài hòa giữa các chủ thể; đồng thời việc ban hành pháp luật cũng nhằm mục đích định hướng các hoạt động xã hội theo các tiêu chí nhất định. Các Mác đã từng viết: “Pháp luật phải lấy xã hội làm cơ sở, pháp luật phải là sự biểu hiện của lợi ích và nhu cầu chung của xã hội”,“ chừng nào bộ luật không còn thích hợp với xã hội nữa thì nó sẽ biến thành mớ giấy lộn” . Hay nói cách khác, với tư cách là phạm trù thuộc kiến trúc thượng tầng, pháp luật phải phản ánh phù hợp với cơ sở hạ tầng đang tồn tại. Như vậy, thu hồi đất cho dù với mục đích gì và trong trường hợp nào thì bản chất của nó cũng thể hiện mối quan hệ có liên quan đến tài sản giữa một bên là Nhà nước và một bên là NSDĐ, cần thiết phải được điều chỉnh bằng pháp luật nhằm đảm bảo quyền lợi của các bên.

Nếu chúng ta xét NSDĐ trong mối quan hệ giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người sử dụng đất thì rõ ràng, NSDĐ ở vào nhóm yếu thế nhất trên tất cả các lĩnh vực: trình độ học vấn, sự am hiểu pháp luật; khả năng kinh tế và cả về mặt quyền lực. Dẫu rằng về mặt lý luận, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, nhưng trên thực tế có thể bị các nhóm lợi ích chi phối. Lúc này, tính khách quan của pháp luật thu hồi đất thể hiện ở chỗ, nó là phương tiện ghi nhận, bảo đảm và bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của các tổ chức, công dân, và để pháp luật thực sự làm được điều này thì yêu cầu tất cả các hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp cần phải được phát hiện, xử lý nghiêm minh. Điều đó có nghĩa là, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cần được nhìn nhận từ phía Nhà nước – người đại diện cho chủ sở hữu đất đai và phía tổ chức, hộ gia đình, cá nhân – người bị thu hồi đất. Việc xử lý mối quan hệ đất đai thiên về phía bên nào đều không đảm bảo yêu cầu pháp chế xã hội chủ nghĩa, sẽ làm cho vai trò của đất đai với tư cách là nguồn lực quan trọng để phát triển đất nước không được phát huy nếu sự chấp hành pháp luật của NSDĐ chưa đảm bảo các quy định pháp luật; hoặc việc áp dụng pháp luật của cơ quan của Nhà nước, của người được Nhà nước trao quyền đã vượt quá giới hạn cho phép. Luận văn: Pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất.

Thực tiễn cho thấy, pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất gặp rất nhiều khó khăn, thách thức, bởi nó trực tiếp “đụng chạm” đến lợi ích của người dân. Bởi vậy, sự cần thiết điều chỉnh bằng pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất khi được lý giải bởi các căn cứ chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, pháp luật là biện pháp hiệu quả nhất để đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các bên trong quan hệ về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Pháp luật mang những đặc trưng mà các biện pháp quản lý khác không có được; đó là tính quy phạm, tính bắt buộc chung, tính cưỡng chế và tính thích ứng. Do có những đặc trưng cơ bản trên đây mà pháp luật trở thành biện pháp quản lý xã hội nói chung cũng như quan hệ về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nói riêng. Thông qua cơ chế điều chỉnh của pháp luật giúp Nhà nước giải quyết hài hòa mối quan hệ về lợi ích giữa các bên liên quan trong quan hệ bồi thường: Lợi ích của Nhà nước, của cộng đồng; lợi ích của chủ sở hữu hợp pháp đối với tài sản trên đất; lợi ích của doanh nghiệp, chủ đầu tư.

Thứ hai, pháp luật đảm bảo chế độ sở hữu toàn dân khi Nhà nước thu hồi đất. Xuất phát từ chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai mà Nhà nước là người đại diện. Nhà nước thay mặt cho Nhân dân thực hiện quyền của chủ sở hữu. Trên cơ sở đó, Nhà nước thực hiện việc giao đất, cho thuê đất hay thu hồi đất. Quyền sử dụng đất được trao đến tay người sử dụng, được coi là quyền tài sản và phải được Nhà nước bảo hộ bằng pháp luật. Khi Nhà nước thu hồi đất vào mục đích chung, làm chấm dứt quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, thiệt hại đến tài sản trên đất của chủ sở hữu. Vì vậy, Nhà nước phải ban hành pháp luật để điều chỉnh có hiệu quả vấn đề này, chính là gián tiếp đảm bảo chế độ sở hữu toàn dân về đất đai.

Thứ ba, pháp luật đảm bảo việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất diễn ra một cách có trật tự. Pháp luật quy định cụ thể các nguyên tắc, đối tượng phạm vi, điều kiện, mức bồi thường, trình tự thủ tục cũng như giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lí vi phạm liên quan đến bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Như vậy, một cách chung nhất, bằng những quy định của pháp luật công tác bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất sẽ được đảm bảo vận hành thống nhất đúng đắn bởi cơ quan có thẩm quyền cùng với sự giám sát kiểm tra của Nhân dân.

Từ các phân tích trên có thể hiểu “pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất được hiểu là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, nhằm giải quyết hài hòa lợi ích của Nhà nước, lợi ích của chủ đầu tư và của người bị thu hồi đất”.

  • Đặc điểm pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất

Thứ nhất, pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất chịu sự chi phối của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai. Do đường lối, quan điểm của Đảng và Hiến pháp xác định đất đai không thuộc quyền sở hữu của người SDĐ mà thuộc về toàn dân, Nhà nước đại diện chủ sở hữu trao quyền SDĐ cho từng người SDĐ nên pháp luật đất đai quy định khi cần thiết thì Nhà nước có quyền thu hồi. Vì thế, chúng ta thấy rằng xuyên suốt quá trình thu hồi và bồi thường, ý chí và quyền lực Nhà nước gần như thể hiện tuyệt đối, người SDĐ tham gia vào quan hệ này một cách bất bình đẳng. Toàn bộ quá trình THĐ và giải quyết khiếu nại, tố cáo đều do các cơ quan Nhà nước thực hiện và quyết định. Người có đất bị thu hồi có quyền kiến nghị, yêu cầu, khiếu nại, tố cáo nhưng quyền quyết định cuối cùng thuộc về Nhà nước. Điều này dễ dẫn đến cơ chế “vừa đá bóng, vừa thổi còi” và là nguyên nhân của sự lạm quyền, độc quyền trong quá trình thực thi. Luận văn: Pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất.

Thứ hai, điểm căn bản của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là phải giải quyết mâu thuẫn giữa việc phải bảo vệ quyền tài sản của người SDĐ đối với quyền SDĐ và việc phải THĐ cho nhu cầu quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế – xã hội gắn liền với việc bảo đảm sự hài hòa lợi ích của các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật này. Rõ ràng nhu cầu về đất để phục vụ cho quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế – xã hội là tất yếu khách quan nhưng quyền tài sản đối với quyền SDĐ của người SDĐ hợp pháp phải được pháp luật bảo vệ. Nhiệm vụ quan trọng của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là phải giải quyết được mâu thuẫn và hài hòa các lợi ích này.

Thứ ba, pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất ở nước ta được xây dựng và hoàn thiện trong điều kiện việc SDĐ thường xuyên biến động nhưng công tác quản lý đất đai chưa hiệu quả. Thực tế SDĐ ở nước ta thường xuyên biến động về diện tích, loại đất, chủ SDĐ; việc SDĐ lấn chiếm, SDĐ sai mục đích thường xuyên diễn tra; công tác quản lý đất đai lỏng lẻo, thậm chí là buông lỏng công tác quản lý; cơ sở dữ liệu đất đai, đăng ký đất đai còn nhiều hạn chế; việc quản lý và xác lập quyền SDĐ cho người SDĐ được thực hiện bởi nhiều cơ quan khác nhau, nhiều loại giấy tờ về quyền SDĐ khác nhau hoặc SDĐ không có giấy tờ. Đây là những nguyên nhân gây nhiều khó khăn và cũng là những vấn đề cần phải quan tâm khi xây dựng, hoàn thiện các quy định về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.

1.2.2. Nội dung điều chỉnh của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất

Thứ nhất, Điều kiện bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là những yếu tố mà người sử dụng đất cần phải có để họ được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.

Những điều kiện bồi thường cần phải được quy định để đảm bảo cho việc bồi thường được thực hiện một cách công bằng, hợp lý, vừa phù hợp với thực tiễn sử dụng đất để bảo vệ tối đa quyền lợi cho người sử dụng đất, vừa đảm bảo sự nghiêm minh chặt chẽ theo quy định pháp luật. Pháp luật đất đai quy định cụ thể những trường hợp được bồi thường và những trường hợp không được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, đồng thời cũng có xem xét và phân định rõ tình trạng pháp lý của mảnh đất căn cứ vào nguồn gốc sử dụng đất và thời điểm sử dụng đất, để có quy định bồi thường cho phù hợp. Đây là những vấn đề cần thiết đặt ra và không thể thiếu khi xem xét để tiến hành bồi thường, bởi trên thực tế, đất bị thu hồi thường có nguồn gốc sử dụng khá phong phú, đặc biệt là đất của hộ gia đình, cá nhân sử dụng, có nguồn gốc khá đa dạng so với các loại đất khác, do đây là loại đất phổ biến ở nông thôn và là tư liệu sản xuất thường xuyên của người nông dân nên nó được khai thác, sử dụng từ nhiều nguồn và từ nhiều thời điểm khác nhau. Vì vậy, với những cơ sở, nguồn gốc sử dụng đất khác nhau thì khi thu hồi Nhà nước cần có những yêu cầu, điều kiện khác nhau đối với người sử dụng đất bị thu hồi, nếu họ đáp ứng được những điều kiện do pháp luật quy định thì mới được thu hồi. Thông qua những quy định về điều kiện để được bồi thường, Nhà nước cũng đảm bảo sự công bằng và bình đẳng giữa các chủ thể sử dụng đất thuộc diện Nhà nước thu hồi.

Thứ hai, nhóm quy phạm quy định về nội dung bồi thường đối với người bị thu hồi đất.

Nội dung bồi thường với người bị thu hồi đất, bao gồm các quy định cụ thể về phạm vi bồi thường (đó là bồi thường về đất và bồi thường thiệt hại về tài sản có trên đất); về phương thức bồi thường (có thể bồi thường bằng đất có cùng mục đích sử dụng với đất bị thu hồi hoặc bồi thường bằng tiền tương ứng với giá trị quyền sử dụng đất bị thu hồi); về giá đất tính bồi thường, được tính theo khung giá đất do Nhà nước quy định tương ứng với loại đất bị thu hồi, tính ở thời điểm thu hồi đất.

Thứ ba, nhóm quy phạm quy định về trình tự, thủ tục bồi thường đối với người bị thu hồi đất. Luật Đất đai quy định những vấn đề tổng quát, mang tính nguyên tắc về trình tự, thủ tục bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.

Trên cơ sở đó, các văn bản hướng dẫn thi hành có những quy định cụ thể về từng bước lập, bổ sung, thẩm định, thực hiện phương án bồi thường, cũng như trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc bồi thường khi Nhà nước THĐ của người sử dụng đất. Tuy nhiên, trên thực tế việc thực thi các quy định trên phụ thuộc rất nhiều vào chính sách của từng địa phương cũng như trình độ, năng lực, trách nhiệm của các cơ quan và cán bộ thực thi. Đây cũng là một lĩnh vực rất nhạy cảm của pháp luật đất đai, có ảnh hưởng không nhỏ đến quyền lợi của người có đất bị thu hồi, vì vậy nó thu hút sự quan tâm của dư luận xã hội nói chung cũng như của những người trực tiếp bị thu hồi đất. Những khiếu nại, tố cáo, bất bình của người dân tập trung khá nhiều trong lĩnh vực này. Có thể nói, cải cách thủ tục hành chính và đảm bảo sự công khai, minh bạch, dân chủ là những yếu tố rất cần thiết cho việc thực hiện hiệu quả công tác này, điều này phải được thể hiện trong những quy định pháp luật về trình tự, thủ tục bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất

1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật bồi thường thu hồi đất Luận văn: Pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất.

  • Yếu tố chính trị

Hiến pháp đã quy định, đất đai không thuộc sở hữu của cá nhân hay tổ chức nào khác mà thuộc sở hữu của toàn dân do nhà nước làm đại diện và thống nhất quản lý. Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ảnh hưởng rất lớn đến quá trình xây dựng pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.

Đảng Cộng sản Việt nam là đảng cầm quyền duy nhất và lãnh đạo đất nước thông qua nhà nước và pháp luật. Trên cơ sở đó, Nhà nước cụ thể hóa đường lối lãnh đạo của Đảng thành các văn bản pháp luật nhằm quản lý tốt quá trình sử dụng và thu hồi đất đảm bảo quá trình phát triển đất nước và phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội.

Do đó, việc ảnh hưởng của yếu tố phát triển dựa trên quan điểm đường lối của Đảng, pháp luật của nhà nước có ảnh hưởng đến pháp luật về bồi thường khi thực hiện thu hồi đất.

  • Yếu tố kinh tế – xã hội

Về yếu tố kinh tế – xã hội tác động tích cực đến quy định pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất. Tùy vào các yếu tố và sự phát triển kinh tế trong các thời kỳ khác nhau mà pháp luật về bồi thường khi thu hồi đất củng khác nhau.

  • Các quy định của pháp luật

Bên cạnh các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến quy định pháp luật về thu hồi đất, quy định của pháp luật thay đổi theo định hướng cụ thể hóa đường lối và chủ trương, chính sách củng làm ảnh hưởng đến công tác thu hồi đất. Việc thu hồi đất phải đáp ứng được các quy định theo quy định về nhà ở, dân sự và các yếu tố khác có liên quan.

  • Năng lực của cán bộ, công chức Luận văn: Pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất.

Trình độ và năng lực của cán bộ, công chức những người thực hiện chức trách và nhiệm vụ thu hồi đất mang tính chất ảnh hưởng đến quy định và pháp luật trong thu hồi đất. Việc đào tạo cán bộ, công chức thực thi nhiệm vụ mang ý nghĩa hỗ trợ và nâng cao năng lực quản lý, lãnh đạo đến người dân thông qua việc phát huy vai trò vào phát triển kinh tế xã hội thông qua thu hồi đất.

Kết luận Chương 1

Ở Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện và thực hiện quyền sở hữu nên trong trường hợp cần thiết vì mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế Nhà nước có thể thu hồi lại QSDĐ đã trao cho NSDĐ. Khi Nhà nước thực hiện hoạt động thu hồi đất vì những mục đích trên sẽ phát sinh trách nhiệm bồi thường.

Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là một vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn sâu sắc, sự nhạy cảm và tính phức tạp của hoạt động này khiến nó trở thành nội dung mang tính thời sự luôn được mọi người quan tâm. Vì vậy, các quy định về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất đã trở thành một nội dung quan trọng trong pháp luật đất đai.

Các quy định này thể hiện trách nhiệm của Nhà nước với người dân trong việc bảo đảm bù đắp các thiệt hại do việc thu hồi đất gây ra. Trong quá trình giải quyết bồi thường cho người dân, cơ quan có thẩm quyền cần phải xem xét, căn cứ tình hình thực tế để có sự áp dụng chính xác các quy định pháp luật để đánh giá đúng thiệt hại, đưa ra phương án bồi thường hợp lý, tránh tình trạng mức bồi thường quá thấp, quá chênh lệch với thiệt hại thực tế, gây bức xúc lớn trong dư luận, tạo khó khăn trong quá trình thu hồi đất. Trên cơ sở khẳng định trên, Chương 1 đã làm rõ nội hàm những khái niệm cơ bản về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất và làm rõ một cách thấu đáo khái niệm, đặc điểm của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Những nội dung lí luận được phân tích trong chương 1 là cơ sở lí luận cho những nghiên cứu, phân tích, bình luận trong chương 2 và chương 3 của luận văn. Luận văn: Pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực trạng pháp luật về bồi thường thu hồi đất

One thought on “Luận văn: Pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất

  1. Pingback: Luận văn: Giải pháp pháp luật bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464