Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp pháp luật bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
3.1.1. Hoàn thiện quy định pháp luật về điều kiện bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
Thứ nhất, liên quan đến điều kiện bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất thì vướng mắc phổ biến hiện nay là xem xét bồi thường đối với đất không có giấy tờ về quyền SDĐ nhưng người SDĐ đã hoặc đang sử dụng. Đối với loại đất này, theo quy định tại Điều 75, Điều 101 LĐĐ năm 2013 thì Nhà nước sẽ bồi thường nếu đất đủ điều kiện cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Để được cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì phải được UBND cấp xã nơi có đất xác định là đất sử dụng ổn định, không có tranh chấp. Khái niệm đất sử dụng ổn định theo quy định tại khoản 1 Điều 21 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP (sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 148/2020/NĐ-CP) như sau: “SDĐ ổn định là việc SDĐ liên tục vào một mục đích chính nhất định kể từ thời điểm bắt đầu SDĐ vào mục đích đó đến thời điểm cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc đến thời điểm quyết định THĐ của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đối với trường hợp chưa cấp GCNQSDĐ, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền SDĐ ở, GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất”. Quy định đất sử dụng ổn định là việc SDĐ liên tục vào một mục đích chính nhất định từ khi bắt đầu SDĐ đến khi có quyết định THĐ làm căn cứ để xác định đất được bồi thường là không chính xác. Việc người SDĐ được bồi thường hay không phải dựa trên căn cứ thửa đất có thuộc quyền sử dụng của họ hay không, căn cứ xác lập quyền SDĐ là gì.
Quy định đối với đất không có giấy tờ về quyền SDĐ chỉ được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nếu đất được sử dụng ổn định, liên tục, có xác nhận đất không có tranh chấp của UBND cấp xã là không phù hợp và cần sửa đổi như sau:
Một là, quy định điều kiện để được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất đối với đất không có giấy tờ về quyền SDĐ căn cứ vào thời điểm bắt đầu SDĐ, căn cứ xác lập quyền SDĐ chứ không bắt buộc đất phải được sử dụng ổn định, liên tục. Theo đó, nếu người SDĐ đã SDĐ mà tại thời điểm SDĐ là hợp pháp, chưa bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền THĐ, chưa chấm dứt quyền SDĐ thông qua việc tặng cho, chuyển nhượng, trả lại đất cho Nhà nước… thì được bồi thường. Bởi vì quyền SDĐ của họ được xác lập kể từ thời điểm bắt đầu SDĐ nếu tại thời điểm đó đất được sử dụng hợp pháp. Việc người SDĐ không SDĐ một thời gian dẫn đến việc đất không sử dụng ổn định, liên tục không phải là căn cứ làm chấm dứt quyền SDĐ của họ.
Hai là, trường hợp người SDĐ cho rằng đất được sử dụng ổn định, không có tranh chấp nhưng UBND cấp xã lại cho rằng đất không sử dụng ổn định và không xác nhận “là người SDĐ ổn định, không có tranh chấp” dẫn đến người SDĐ không được bồi thường thì cần quy định tranh chấp này phải được giải quyết bằng tòa án trên cơ sở tham khảo ý kiến của những người dân sinh sống tại nơi có đất biết rõ về nguồn gốc, quá trình SDĐ. Thực tiễn cho thấy, nếu cơ quan thực hiện THĐ và quyết định phê duyệt phương án bồi thường cho rằng đất không sử dụng ổn định nên không được bồi thường thì UBND cấp xã không xác nhận cho người SDĐ là SDĐ ổn định. Vì thế, cần lấy ý kiến của những người sinh sống cùng thôn, xóm, ấp, bản, buôn, sóc, mường, tổ dân phố, khu tập thể biết rõ về nguồn gốc, quá trình SDĐ để xác định thời điểm SDĐ. Những người được lấy ý kiến phải có đủ năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật dân sự tại thời điểm mà người SDĐ cho rằng bắt đầu SDĐ và tại thời điểm lấy ý kiến. Trường hợp có trên 70% người được lấy ý kiến xác nhận về thời điểm, nguồn gốc, quá trình SDĐ như người bị THĐ kê khai thì UBND cấp xã phải xác nhận cho người có đất bị thu hồi để được bồi thường.
Cũng cần quy định cụ thể đối với đất có sai số về diện tích tăng lên so với giấy tờ về quyền SDĐ mà có cạnh tiếp giáp với đường giao thông, đất nông nghiệp, đất chưa sử dụng thuộc quyền quản lý của Nhà nước thì quy định giao cơ quan thực hiện việc thu hồi, bồi thường xác minh, làm rõ nguyên nhân tăng chứ không mặc nhiên cho rằng diện tích tăng thêm do lấn, chiếm bằng việc đối chiếu, so sánh phần diện tích tăng thêm với các thửa đất liền kề. Trường hợp giữa người bị THĐ với cơ quan thực hiện việc bồi thường chưa thống nhất được diện tích tăng thêm là do lấn chiếm hay thuộc quyền sử dụng của người bị THĐ thì người bị THĐ vẫn có nghĩa vụ bàn giao đất cho cơ quan thực hiện việc thu hồi nhưng có quyền khởi kiện tại tòa án để xác định quyền SDĐ của mình. Khi có bản án, quyết định của tòa án xác định diện tích đất tăng thêm thuộc quyền sử dụng của người bị THĐ thì Nhà nước phải bồi thường theo giá tại thời điểm ban hành quyết định thu hồi sau khi có quyết định của tòa án. Quá trình giải quyết tại tòa án, cơ quan thực hiện thu hồi có nghĩa vụ chứng minh diện tích đất tăng thêm là lấn, chiếm; người bị THĐ có nghĩa vụ chứng minh diện tích đất tăng thêm không phải do lấn chiếm. Luận văn: Giải pháp pháp luật bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.
Thứ hai, dưới góc nhìn so sánh hiện nay tại Khoản 3 Điều 97 cũng như các khoản 1 Điều 100, khoản 1 Điều 102, khoản 1 Điều 103 của Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) năm 2023 thì nhà làm luật đều quy định theo hướng: “Đối với hộ gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi nếu có nhu cầu và địa phương có điều kiện về quỹ đất, quỹ nhà ở thì được xem xét bồi thường bằng đất khác mục đích sử dụng với loại đất bị thu hồi hoặc nhà ở”. Như vậy, để được bồi thường về đất thì về nguyên tắc, người có đất bị thu hồi phải đáp ứng đủ ba điều kiện: (i) Có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 98 của Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi); (ii) Có nhu cầu được bồi thường về đất; (iii) Địa phương có điều kiện về quỹ đất, quỹ nhà ở. Quy định này có thể sẽ gây khá nhiều khó khăn đối với người bị thu hồi đất, bởi lẽ việc bị thu hồi đất này không xuất phát từ lỗi của họ mà do sự điều chỉnh chính sách của Nhà nước, nhưng để được đền bù thì người dân còn phải dựa vào điều kiện về quỹ đất của địa phương đó. Điều này dễ dẫn đến tình trạng địa phương lợi dụng quy định đó để gây khó khăn cho những người dân có mong muốn được bồi thường về đất, lợi dụng sự hạn chế về hiểu biết của người dân để chiếm dụng quỹ đất đó vào những mục đích khác.
3.1.2. Hoàn thiện quy định về trình tự, thủ tục bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
Thứ nhất, LĐĐ năm 2013 không quy định rõ chức năng, nhiệm vụ và cơ chế phối hợp của Hội đồng bồi thường và hỗ trợ tái định cư. Cụ thể theo Điều 68 LĐĐ năm 2013 quy định: “Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường giải phóng mặt bằng gồm tổ chức dịch vụ công về đất đai, Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư”. Như vậy, Hội đồng bồi thường, tổ chức phát triển quỹ đất là những cơ quan làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng hết sức quan trọng trong quá trình thu hồi đất, đất nông nghiệp nhưng cho đến nay vẫn chưa có bất cứ quy định nào về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức này cũng như cơ chế phối hợp với các cơ quan khác trong quá trình thu hồi đất ở trong LĐĐ năm 2013 cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành. Do đó, ở các địa phương Hội đồng này được thành lập với thành phần và tổ chức, hoạt động theo các quy định cũ, trong khi đây là chủ thể giữ vai trò quan trọng của quá trình thu hồi đất. Luận văn: Giải pháp pháp luật bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.
Vì vậy, cần quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, thành phần tham gia và cơ chế phối hợp của Hội đồng bồi thường và hỗ trợ, tái định cư với các các cơ quan, tổ chức có liên quan trong quá trình thu hồi đất để thống nhất trong phạm vi cả nước. Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được thành lập theo từng dự án để thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trên địa bàn cấp huyện. Cụ thể: Chủ tịch hội đồng là phó chủ tịch UBND cấp huyện, Giám đốc trung tâm phát triển quỹ đất cấp tỉnh là phó chủ tịch hội đồng thường trực, lãnh đạo Phòng TN&MT là phó chủ tịch hội đồng, lãnh đạo các đơn vị và cá nhân có liên quan là ủy viên như: Phòng Tài chính- Kế hoạch, Phòng Quản lý đô thị, Phòng Lao động thương binh và xã hội, chủ tịch UBND cấp xã nơi có đất thu hồi, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã nơi có đất thu hồi, đại diện hộ gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi. Hội đồng bồi thường làm việc theo nguyên tắc tập thể và quyết định theo đa số; trường hợp biểu quyết ngang nhau thì thực hiện theo phía có ý kiến của Chủ tịch Hội đồng. Chủ tịch Hội đồng bồi thường được sử dụng con dấu của UBND cấp huyện; Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng được sử dụng con dấu của đơn vị mình trong quá trình hoạt động. Hội đồng bồi thường tự chấm dứt nhiệm vụ sau khi hoàn thành việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và bàn giao đất cho chủ đầu tư dự án.
Thứ hai, LĐĐ năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành không có quy định về việc lập phương án tổng thể về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư mà chỉ có lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và phải thông báo công khai, hoặc niêm yết. Đa số người bị thu hồi đất tiếp nhận được thông tin về lý do thu hồi đất, số tiền bồi thường được nhận cũng như thông tin về kế hoạch thu hồi đất. Nhưng những thông tin mà người bị thu hồi đất thường quan tâm nhiều nhất thì ít người nhận được như phương án tái định cư, phương án đào tạo nghề, chuyển đổi nghề, tìm việc làm. Điều này gây không ít khó khăn cho họ trong quá trình ổn định cuộc sống. Vì vậy, Chính phủ cần quy định bổ sung Phương án tổng thể về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để thông báo đến người SDĐ khi triển khai thông báo thu hồi đất. LĐĐ không quy định rõ tỉ lệ bao nhiêu % ý kiến người bị thu hồi đất đồng ý với phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thì được coi là đồng tình, bao nhiêu phần trăm ý kiến người bị thu hồi đất không đồng ý với phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thì được coi là không đồng tình và trong trường hợp đa số ý kiến người bị thu hồi đất không đồng tình với phương án bồi thường, hỗ trợ thì phương án đó có được điều chỉnh, sửa đổi hay không? Trường hợp nào thì điều chỉnh toàn bộ phương án, trường hợp nào điều chỉnh một phần phương án bồi thường…? Bên cạnh đó LĐĐ năm 2013 cũng không quy định trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp không thay đổi phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi đại đa số ý kiến của người SDĐ không đồng tình với phương án này. Việc quy định không rõ ràng và cụ thể này đã dẫn đến phương án bồi thường, hỗ trợ chỉ mang tính hình thức vì vậy, cần sửa đổi, bổ sung quy định này theo hướng: Luận văn: Giải pháp pháp luật bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.
Một là, cần quy định việc tổ chức cuộc họp lấy ý kiến của người SDĐ bị thu hồi đối với phương án tổng thể về bồi thường, hỗ trợ là bắt buộc. Trong đó cần quy định rõ phải có ít nhất 75% tổng số người SDĐ có đất bị thu hồi tham gia cuộc họp thì mới hợp lệ và phải có ít nhất 70% tổng số người tham gia biểu quyết tán thành thì phương án tổng thể về bồi thường, hỗ trợ mới được thông qua và nếu không đạt tỉ lệ này thì phải sửa đổi, bổ sung lại phương án tổng thể cho phù hợp. Quy định này là cần thiết và đảm bảo sự đồng thuận, tự nguyện cũng như thể hiện quyền dân chủ của người SDĐ có đất nông nghiệp bị thu hồi đất.
Hai là, cần quy định trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp không điều chỉnh phương án tổng thể về bồi thường, hỗ trợ khi đại đa số người SDĐ có đất nông nghiệp bị thu hồi không đồng ý hoặc không tổ chức lấy ý kiến của người SDĐ theo quy định của pháp luật. Như vậy sẽ tạo được sự đồng thuận cao giữa nhà nước, doanh nghiệp và người SDĐ có đất bị thu hồi và cũng giảm thiểu tỉ lệ khiếu nại, khiếu kiện của người SDĐ trong thực tế.
- Vì vậy, cần sửa đổi, bổ sung Điều 69 LĐĐ năm 2013 như sau:
“2. Việc lấy ý kiến của nhân dân về phương án tổng thể bồi thường, hỗ trợ, tái định cư có thể lấy ý kiến trực tiếp tại cuộc họp hoặc lấy ý kiến bằng văn bản nhưng phải đảm bảo tối thiểu có 75% tổng số hộ dân có đất bị thu hồi tham gia và phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được thông qua phải được ít nhất 70% tổng số hộ dân có đất bị thu hồi tham gia ý kiến tán thành. Nếu không đạt tỉ lệ này thì phải điều chỉnh lại phương án”.…
“4. Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng chịu trách nhiệm trong việc lấy ý kiến về phương án tổng thể bồi thường, hỗ trợ và có trách nhiệm quản lý đất đã được giải phóng mặt bằng”.
- Thứ ba, Vấn đề thành lập ban cưỡng chế kiểm đếm bắt buộc
Một là, cần quy định trực diện thành phần Ban cưỡng chế kiểm đếm bắt buộc và hướng dẫn chi tiết nhiệm vụ của từng ủy viên trong Ban cưỡng chế. Nhằm đảm bảo tính công khai, dân chủ, khách quan, tại địa phương cần nên thiết lập Ban cưỡng chê như cưỡng chế thu hồi đất. Đồng thời, mời thêm một số thành phần khác chứng kiến như: (i) Đại diện các hội, đoàn thể mà người bị cưỡng chế là thành viên hội; (ii) Tổ trưởng tổ dân phố hoặc trưởng khu vực nơi có đất thu hồi; (iii) Hai người làm chứng do Úy ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã giới thiệu. Từ vấn đề trên sẽ chuyên môn hóa công tác cưỡng chế nói chung và cưỡng chế kiểm đếm bắt buộc nói riêng, tránh được những xung đột, phản kháng từ người có đất bị thu hồi.
Hai là, Mặc dù tại khoản 3 Điều 70 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc và tổ chức thực hiện quyết định cưỡng chế”. Tuy nhiên, Nghị định của Chính phủ lại cho phép Chủ tịch hoặc Phó chủ tịch UBND cấp huyện là trưởng ban. Do vậy, trên thực tiễn, hầu hết việc tổ chức thực hiện quyết định cưỡng chế kiểm đếm bắt buộc đều thuộc về Phó chủ tịch UBND cấp huyện với vai trò trưởng ban. Thực tế, thông qua một số khảo sát về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, nhóm nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc tổ chức kiểm đếm hiện nay chủ yếu thực hiện theo kinh nghiệm địa phương mà chưa có hướng dẫn thống nhất về trình tự thực hiện, thành phần tham gia ban cưỡng chế, chức năng, nhiệm vụ từng thành viên, quy trình phúc tra khi có sai sót hay kiểm đếm vắng chủ. Từ đó, thiết nghĩ quy trình thực hiện kiểm đếm và phúc tra kết quả kiểm đếm nhằm táng sự minh bạch, dân chủ.
3.1.3. Hoàn thiện quy định pháp luật về nội dung bồi thường đối với người bị thu hồi đất. Luận văn: Giải pháp pháp luật bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.
- Hoàn thiện quy định về giá đất tính bồi thường
Thứ nhất, khái niệm về giá đất và quy định về nguyên tắc định giá đất. So sánh với Luật Đất đai năm 2013 thì khái niệm về giá đất trong Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi (Dự thảo) đã có sự thay đổi. Tại khoản 19 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013, giá đất là giá trị của quyền sử dụng đất tính bằng tiền trên một đơn vị diện tích đất. Theo đó, Dự thảo đã cụ thể đơn vị tính của giá đất là bằng tiền chứ không quy định chung. Nếu như dựa vào quy định của Luật Đất đai năm 2013 thì giá đất ngoài đơn vị tính bằng tiền thì có bao gồm cả đơn vị tình bằng vật, giấy tờ có giá, vàng… Quy định này sẽ gây bất lợi cho cơ quan chuyên môn trong việc xác định giá đất vì trị giá của các loại đơn vị trên bị chi phối rất nhiều bởi thị trường. Do vậy, khi Dự thảo quy định một cách minh thị đơn vị tính bằng tiền khi định giá đất sẽ tạo điều kiện thuận lợi và loại bỏ những vướng mắc, tranh cãi không đáng có xoay quanh việc xác định giá đất dựa trên loại đối tượng định giá.
Bên cạnh đó, dự thảo Luật Đất đai đã bổ sung khái niệm thuật ngữ giá đất phổ biến trên thị trường trong điều kiện bình thường. Theo đó, tại khoản 20 Điều 3 Dự thảo, đây là giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất xuất hiện với tần suất nhiều nhất trong một khoảng thời gian nhất định không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố đầu cơ. Đây là sự bổ sung kịp thời và giải quyết vấn đề giải thích pháp luật mà Luật Đất đai năm 2013 chưa đề cập. Cụ thể, tại khoản 1 Điều 112 Luật Đất đai năm 2013 thì việc xác định giá đất phải dựa trên 04 nguyên tắc, trong đó có nguyên tắc “phù hợp với giá đất phổ biến trên thị trường của loại đất có cùng mục đích sử dụng đã chuyển nhượng”. Tuy nhiên, trong Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành lại không giải thích nguyên tắc này. Chính vì hạn chế này mà thực tế xác định giá đất gặp rất nhiều khó khăn. Do vậy, Dự thảo đã bổ sung cách hiểu của thuật ngữ trên và đây được xem là cơ sở quan trọng cho công tác định giá đất mà Luật Đất đai năm 2013 chưa giải quyết được và tạo sự phù hợp với quy định bãi bỏ khung giá đất của Dự thảo. Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả, khái niệm này đã tạo ra sự không thống nhất với khái niệm được quy định tại khoản 3 Điều 3 Nghị định số 44/2014/NĐ-CP quy định về giá đất, cụ thể, giá đất phổ biến trên thị trường theo Nghị định này được hiểu là mức giá xuất hiện với tần suất nhiều nhất trong các giao dịch đã chuyển nhượng trên thị trường, trúng đấu giá quyền sử dụng đất, giá xác định từ chi phí, thu nhập của các thửa đất có cùng mục đích sử dụng tại một khu vực và trong một khoảng thời gian nhất định. Do vậy, để tạo sự thống nhất trong việc hiểu và sử dụng thuật ngữ thì trong tương lai, các văn bản dưới luật về đất đai cần điều chỉnh lại cho phù hợp.
Thứ hai, quy định về bảng giá đất. Một là, thời gian xây dựng và trường hợp áp dụng bảng giá đất. Tại khoản 1 Điều 164 Dự thảo đã sửa đổi thời gian xây dựng bảng giá đất so với Luật Đất đai năm 2013. Thay vì xây dựng bảng giá định kỳ 05 năm một lần thì Dự thảo lại sửa đổi thành định kì hàng năm. Có nghĩa là, việc xây dựng bảng giá đất là thường xuyên, chứ không phải mất một khoảng thời gian dài 05 năm mới xây dựng bảng giá đất một lần. Sự thay đổi này thể hiện sự tiến bộ của nhà lập pháp, đảm bảo sự phù hợp với cơ chế thị trường luôn thay đổi và biến động. Thêm vào đó, các trường hợp áp dụng bảng giá đất cũng được quy định cụ thể và chi tiết hơn tại khoản 3 Điều 164 Dự thảo. Ngoài các trường hợp tại khoản 2 Điều 114 Luật Đất đai năm 2013 thì Dự thảo đã bổ sung một số trường hợp áp dụng bảng giá đất, cụ thể: (i) Tính tiền thuê đất khi Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm; (ii) Tính thuế đối với các dự án chậm tiến độ hoặc không đưa vào sử dụng; (iii) Tính thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân; (iv) Tính tiền sử dụng đất tăng thêm đối với những trường hợp chậm đưa đất vào sử dụng, không đưa đất vào sử dụng; (v) Tính giá khởi điểm đối với trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất, cho thuê đất. Luận văn: Giải pháp pháp luật bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.
Hai là, quy định về Hội đồng thẩm định giá đất. Dự thảo đã có quy định riêng về Hội đồng thẩm định giá tại Điều 166, còn Luật Đất đai năm 2013 lại chỉ ghi nhận tại khoản 3 Điều 114. Theo đó, Luật Đất đai quy định thành phần của Hội đồng thẩm định giá chỉ bao gồm Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và đại diện của cơ quan, tổ chức có liên quan, tổ chức có chức năng tư vấn xác định giá đất. Tuy nhiên, luật lại không quy định cụ thể đại diện của cơ quan, tổ chức có liên quan ở đây là chủ thể nào. Đến Dự thảo thì vấn đề này đã được giải quyết với cách thức quy định là mở rộng phạm vi các chủ thể được giữ vai trò trong Hội đồng thẩm định giá đất. Theo đó, ngoài các cơ quan chuyên môn trực thuộc Ủy ban nhân dân thì còn có đại diện Hội đồng nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức có chức năng tư vấn xác định giá đất, chuyên gia về giá đất cũng sẽ được tham gia vào Hội đồng thẩm định giá đất. Đây là quy định đảm bảo tính độc lập khách quan trong quá trình định giá. Không còn trường hợp kết quả định giá đất sẽ dựa theo một chủ thể, thiếu sự khách quan, trung thực.
Tuy nhiên, có thể thấy rằng, Dự thảo Luật Đất đai chỉ dừng lại ở mức độ là hoàn thiện các nội dung đã có trước đó của Luật Đất đai năm 2013 đối với quy định về bảng giá đất, còn quy định về xác định giá đất sát với giá thị trường lại chưa được điều chỉnh. Bởi Dự thảo đã bãi bỏ quy định về khung giá đất, điều này cũng đồng nghĩa rằng, Nhà nước sẽ không áp dụng mức giá tối thiểu và tối đa đối với từng loại đất nữa mà thay vào đó là trước khi ban hành ra bảng giá đất của từng địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sẽ căn cứ vào các nguyên tắc, phương pháp định giá đất, các quy chuẩn và giá đất, sự biến động về giá đất thực tế trên thị trường để xây dựng ra bảng giá đất. Tuy nhiên, việc xác định giá đất sát với giá thị trường là khó khăn và Dự thảo cũng chưa đề cập đến vấn đề này. Do vậy, Dự thảo cần phải quy định cách thức xác định giá đất sát với thị trường thông qua các khía cạnh về tiêu chí, điều kiện, căn cứ pháp lí, căn cứ thực hiện, những cơ sở để tham khảo định giá, cùng với đó là quy định về Hội đồng thẩm định giá, các thành phần để đáp ứng được mục tiêu, yêu cầu định giá sát với thị trường. Ngoài quy định chặt chẽ về cơ chế xác định giá đất sát với giá thị trường thì Dự thảo cần bổ sung các quy định khác có liên quan nhằm đảm bảo hoạt động xác định được thực hiện đúng và hiệu quả. Cụ thể, Dự thảo cần quy định chặt chẽ công tác công khai thông tin, tuyên truyền về giá để hạn chế tình trạng sốt đất ảo, có chế tài xử lí nghiêm những hành vi đầu cơ, tạo giá ảo về đất,…
Thứ ba, quy định về giá đất cụ thể. Trong Luật Đất đai năm 2013, thẩm quyền xác định giá đất cụ thể và trường hợp áp dụng giá đất cụ thể để xác định giá đất được quy định ở hai điều khoản khác nhau và không có sự tương ứng, cụ thể là khoản 3 và khoản 4 Điều 114. Đến Dự thảo, nội dung về thẩm quyền và các trường hợp áp dụng giá đất cụ thể đã được quy định tại khoản 2 Điều 165 của Dự thảo. Luận văn: Giải pháp pháp luật bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.
Tuy nhiên, Dự thảo chỉ dừng lại ở mức độ hoàn thiện các quy định về giá đất cụ thể trong Luật Đất đai năm 2013 mà chưa giải quyết được vấn đề độc lập giữa các cơ quan định giá đất. Theo đó, tại khoản 1 Điều 131 Dự thảo vẫn quy định rằng, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định giá đất cụ thể. Cơ quan định giá đất cấp tỉnh có trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức việc xác định giá đất cụ thể, (…), cơ quan định giá đất cấp tỉnh trình Hội đồng thẩm định giá đất xem xét trước khi trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định. Việc giao quyền cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định giá đất cụ thể trong khi các quyền khác vẫn giữ nguyên cùng với việc thiếu cơ chế để đảm bảo tính độc lập trong xác định giá đất cụ thể5 sẽ khiến cho việc định giá đất thiếu đi tính khách quan, mang nặng quan điểm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Do vậy, Dự thảo cần thành lập một cơ quan xác định giá đất với cơ chế độc lập với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hay cơ quan định giá đất cấp tỉnh được quyền thuê tổ chức có chức năng tư vấn xác định giá đất để tư vấn xác định giá đất cụ thể. Mục đích sau cùng của đề xuất này để đảm bảo việc định giá đất được thực hiện một cách độc lập.
- Hoàn thiện quy định bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại & tài sản trên đất khi Nhà nước thu hồi đất
Thứ nhất, bồi thường về đất & chi phí đầu tư còn lại vào đất. Trong quá trình sử dụng đất, người sử dụng đất đã có những hoạt động đầu tư, tôn tạo để làm tăng giá trị, hiệu quả sử dụng, độ màu mỡ của đất. Vì thế, giá trị của đất còn bao gồm giá trị của công sức tôn tạo, đầu tư của người sử dụng đất và giá trị thặng dư phát sinh từ những lợi thế tự nhiên của đất, cho nên theo lẽ công bằng giá thị trường của đất còn bao gồm cả giá trị đầu tư, tôn tạo, lợi thế có được từ vị trí của đất và mang tính đặc thù riêng cho từng thửa đất. Bồi thường về chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất là các chi phí mà người sử dụng đất đã đầu tư vào đất phù hợp với mục đích sử dụng đất, nhưng đến thời điểm cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thu hồi đất còn chưa thu hồi hết. Khoản 2 Điều 99 Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đã quy định rõ ràng các loại chi phí nào được xem là chí phí đầu tư vào đất còn lại, như: Chi phí san lấp mặt bằng; chi phí cải tạo làm tăng độ màu mỡ của đất; chi phí gia cố khả năng chịu lực chống rung, sụt lún đất và các chi phí khác phù hợp. Việc quy định một cách rõ ràng những chi phí nào được xem là chi phí đầu tư vào đất tạo điều kiện thuận lợi để người dân có cơ chế được bồi thường, nhưng việc liệt kê sẽ không thể đầy đủ nên Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) cũng kèm thêm các chi phí khác có liên quan đã đầu tư vào đất mà nó phù hợp với mục đích sử dụng đất. Luận văn: Giải pháp pháp luật bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.
Thứ hai, bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Môt là, quy định bồi thường thiệt hại đối với vật nuôi không chỉ là thủy sản mà còn là gia súc, gia cầm, ong, tằm cũng được bồi thường nếu có thiệt hại xảy ra, bao gồm thiệt hại bị mất hoàn toàn vật nuôi, giảm giá trị vật nuôi, chi phí di chuyển và thiệt hại khi di chuyển. Vật nuôi nếu phải thu hoạch sớm dẫn đến thiệt hại cũng được bồi thường.
Hai là, quy định tất cả tài sản nếu phải tháo dỡ, di chuyển, lắp đặt mà việc tháo dỡ, di chuyển, lắp đặt là do THĐ dẫn đến thiệt hại đều phải được bồi thường, không chỉ giới hạn đối với hệ thống máy móc, dây chuyền sản xuất và đối với vật nuôi là thủy sản như các quy định hiện hành.
Ba là, đối với cây lâu năm cần quy định thiệt hại không chỉ được tính theo giá thị trường của cây tại thời điểm thu hồi mà quy định thiệt hại do mất đi giá trị sử dụng, giá trị sinh lợi lâu dài của cây. Tùy từng loại cây lâu năm mà xác định thời hạn mà cây có thể sinh lợi để tính bồi thường cho đến khi cây không còn khả năng sinh lợi nữa.
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất Luận văn: Giải pháp pháp luật bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.
3.2.1. Đẩy nhanh tiến độ và nâng cao chất lượng của công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Khi người SDĐ được cấp GCN QSDĐ, họ sẽ được pháp luật bảo hộ các quyền và lợi ích hợp pháp trong quá trình SDĐ.
GCN QSDĐ cũng là cơ sở pháp lý để người SDĐ được bồi thường khi bị THĐ, việc tính toán bồi thường cho người SDĐ sẽ thuận lợi hơn rất nhiều khi họ đã được cấp GCN. Có thể nói, GCN QSDĐ có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai nói chung và trong công tác bồi thường nói riêng. Vì vậy, cần phải đẩy nhanh tiến độ cấp GCN QSDĐ và hoàn thành dứt điểm công tác này, trên cơ sở tất cả mọi chủ thể được Nhà nước cho phép SDĐ, đều được cấp GCN QSDĐ, với phương châm cấp đúng, cấp đủ. Để làm được điều này, cần phải lưu ý các khía cạnh sau:
Thứ nhất, rà soát kỹ càng tình hình hiện trạng SDĐ ở địa phương, thực hiện khẩn trương việc đăng ký SDĐ, tiến hành kê khai, đo đạc đất đai một cách đồng bộ, điều này cần phải được thực hiện với sự chỉ đạo quyết liệt của các cấp chính quyền;
Thứ hai, cải cách thủ tục hành chính trong việc cấp GCN QSDĐ, để hạn chế thời gian và thủ tục phiền hà khi được cấp giấy;
Thứ ba, đầu tư cơ sở vật chất, ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng cơ sở dữ liệu điện tử để phục vụ cho việc quản lý thuận tiện, thống nhất đối với hồ sơ địa chính trên phạm vi cả nước.
3.2.2. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất cho cán bộ và nhân dân, từ đó tạo ra sự đồng thuận của người dân khi Nhà nước thu hồi đất Luận văn: Giải pháp pháp luật bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.
Công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp LĐĐ nói chung và pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nói riêng ở các địa phương trên cả nước trong thời gian qua chưa mang lại hiệu quả cao, thậm chí còn tồn tại khá nhiều những hạn chế, bất cập. Thực tế cho thấy rằng, có những khiếu nại, tố cáo của người dân là hoàn toàn có cơ sở và đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên, cũng có những khiếu nại, tố cáo không có cơ sở, không theo trình tự pháp luật, kích động nhất thời của người SDĐ. Đặc biệt, một số người bị THĐ do hạn chế về kiến thức pháp LĐĐ, nên đã bị một số phần tử bất mãn dụ dỗ, xúi giục, kích động làm đơn khiếu nại vượt cấp hoặc khiếu nại tập thể hoặc cố tình không hợp tác với cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền trong quá trình thực hiện việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Thực trạng này nếu không được giải quyết thỏa đáng, dứt điểm và đúng pháp luật thì không chỉ gây mất ổn định về chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương; làm chậm tiến độ, tăng chi phí của các dự án; mà còn ảnh hưởng đến tâm lý, lòng tin của người dân đối với chính sách và pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, gây ảnh hưởng không tốt đến môi trường đầu tư của địa phương và của cả nước.
Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng, việc người SDĐ không tuân thủ quyết định của Nhà nước xuất phát từ nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, mà trước hết, không thể phủ nhận là do những bất cập trong cơ chế thu hồi và bồi thường đất; mặt khác, cũng do một thời gian dài, người dân sống trong chế độ bao cấp, nên có tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào Nhà nước, họ dường như ít quan tâm đến việc tìm hiểu và tuân thủ pháp luật. Vì vậy, để chính sách, pháp luật đi vào thực tiễn và tạo ra sự đồng thuận của người dân đối với vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, thì các cấp chính quyền địa phương phải có những phương án tổ chức tốt công tác tuyên truyền, phổ biến về chính sách, pháp luật bồi thường cho người có đất bị thu hồi để họ hiểu mà cùng phối hợp cho tốt. Có thể thực hiện những giải pháp cụ thể sau:
Thứ nhất, việc phổ biến pháp luật phải được thực hiện một cách thường xuyên với nội dung và hình thức phù hợp với đông đảo quần chúng nhân dân. Đó là sự phối kết hợp của các cấp, các ngành từ cấp tỉnh đến cấp huyện, cấp xã, nhất là đến từng thôn, làng, tổ dân phố bằng nhiều hình thức khác nhau như: tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục nhân dân trên các phương tiện thông tin đại chúng của địa phương hoặc tiếp xúc trực tiếp với nhân dân (tại các cuộc họp tổ dân phố, thôn, làng hoặc các cuộc họp khác của địa phương hoặc các cuộc tiếp xúc cử tri,…). Làm được điều này, một mặt giúp người dân nâng cao hiểu biết về chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, mặt khác sẽ góp phần nâng cao nhận thức của người dân về mục đích, ý nghĩa và hiệu quả to lớn về nhiều mặt của việc THĐ; đồng thời cũng giúp họ biết cách sử dụng tiền bồi thường có hiệu quả, đem lại cuộc sống thực sự ổn định sau khi không còn đất sản xuất.
Thứ hai, cần tăng cường tổ chức các buổi tập huấn, phổ biến những văn bản quy phạm pháp luật mới, những cơ chế, chính sách mới; nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi các văn bản quy phạm pháp luật về đất đai nói chung, về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nói riêng, có sự thay đổi liên tục. Từ đó góp phần nâng cao trình độ chuyên môn, kiến thức pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất và kinh nghiệm giải quyết thực tiễn cho đội ngũ cán bộ làm công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại địa phương. Bên cạnh đó, UBND cấp trên cần tăng cường kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện việc tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp LĐĐ nói chung cũng như pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của UBND cấp dưới.
Đồng thời cần phát hiện, chấn chỉnh kịp thời những yếu kém, sai phạm và xử lý nghiêm đối với các địa phương không thực hiện hoặc thực hiện việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật một cách qua loa hình thức.
Thứ ba, đối với mỗi dự án cụ thể được triển khai trên thực tế. Khi thực hiện quá trình bồi thường, giải phóng mặt bằng, cần phải có tổ công tác thường trực để xử lý và giải quyết trực tiếp hoặc báo cáo, kiến nghị giải quyết kịp thời và thỏa đáng các tình huống phát sinh, các thắc mắc, đòi hỏi từ phía người dân. Thành phần của tổ công tác này nên lựa chọn những cán bộ giỏi về chuyên môn, có tư cách đạo đức nghề nghiệp và có kinh nghiệm trong công tác dân vận, đây là những người đại diện cho chính quyền địa phương và nhà đầu tư. Luận văn: Giải pháp pháp luật bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.
Có thể nói, trong thực tiễn thi hành, việc tuyên truyền phổ biến pháp luật sâu rộng đến người dân là hết sức cần thiết. Thực tế cho thấy, địa phương nào làm tốt công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục người dân hiểu về chủ trương, chính sách của Nhà nước, thấy được những lợi ích do việc THĐ mang lại cho xã hội, thì việc THĐ ở địa phương đó dễ nhận được sự đồng thuận của người dân. Họ sẽ tích cực chủ động di dời, bàn giao mặt bằng cho Nhà nước trong một thời gian ngắn, thậm chí có nơi, người dân còn tự giác phá dỡ nhà ở và các công trình xây dựng để bàn giao mặt bằng cho Nhà nước mở rộng đường quốc lộ, mà không nhận tiền bồi thường. Ở một số tỉnh phía Nam, phong trào hiến đất để xây dựng trường học, đường giao thông đang ngày càng được đông đảo nhân dân tích cực hưởng ứng. Điều đó cho thấy, người dân luôn đồng hành với Nhà nước trên con đường xây dựng và phát triển đất nước, nếu chúng ta có những quyết sách đúng đắn.
3.2.3. Tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm trong quá trình thực hiện các quy định về trình tự, thủ tục về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
Trình tự thủ tục về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, kể từ khi có LĐĐ năm 2003 đến nay, đã được quy định theo hướng đơn giản hóa, nhằm giải quyết nhanh chóng những vướng mắc, tồn tại trong quá trình thực hiện; rút ngắn thời gian và quy trình thực hiện thủ tục. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định này vẫn còn tồn tại những vướng mắc, bất cập; nếu không được giải quyết một cách thỏa đáng và triệt để, sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người SDĐ, gây thiệt hại đến Nhà nước, nhà đầu tư và xã hội, làm giảm lòng tin của người dân đối với pháp luật và Nhà nước, đồng thời tác động không tốt đến an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội.
Để góp phần nâng cao hiệu quả của việc thực hiện quy trình THĐ và bồi thường, chúng ta cần thực hiện một số giải pháp cơ bản sau: Luận văn: Giải pháp pháp luật bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.
Thứ nhất, tăng cường thanh tra, kiểm tra (định kỳ hoặc đột xuất) các cơ quan có thẩm quyền THĐ, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, UBND cấp xã và các cơ quan có liên quan trong quá trình thực hiện các quy định về trình tự thủ tục THĐ, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư nhằm phát hiện, chấn chỉnh kịp thời những yếu kém, sai phạm và xử lý nghiêm minh các vi phạm về trình tự, thủ tục THĐ, bồi thường và hỗ trợ khi Nhà nước THĐ. Bên cạnh đó, nhanh chóng tìm ra những thiếu sót, bất cập giữa pháp luật và thực tiễn, để kịp thời sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế các quy định pháp luật trong lĩnh vực này cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn.
Thứ hai, thực hiện việc giám sát thi hành thông qua Hội đồng nhân dân các cấp, Mặt trận Tổ quốc tại địa phương, nhất là vai trò giám sát xã hội của các cơ quan truyền thông, các tổ chức xã hội và người dân, đối với việc tuân thủ pháp LĐĐ nói chung cũng như các quy định về trình tự, thủ tục THĐ, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư nói riêng của các cơ quan có thẩm quyền THĐ, tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng, chính quyền cấp cơ sở, nhà đầu tư, các cơ quan có liên quan được giao nhiệm vụ thực hiện công việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.
Điều này sẽ giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhanh chóng có được các thông tin khách quan, chính xác về các vi phạm pháp luật trong quá trình THĐ, bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, đồng thời góp phần nâng cao tinh thần trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình thực thi nhiệm vụ của mình.
Thứ ba, thanh tra, kiểm tra việc giải quyết các khiếu nại, tố cáo về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất và các khiếu nại, tố cáo liên quan đến trình tự thủ tục THĐ, bồi thường, hỗ trợ khi THĐ của các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền khi thực thi nhiệm vụ. Để một mặt nhằm phát hiện, chấn chỉnh kịp thời những khuất tất, sai phạm và xử lý nghiêm minh các vi phạm của các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền khi giải quyết khiếu nại, tố cáo; mặt khác đảm bảo các khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực THĐ, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được giải quyết kịp thời, dứt điểm và đúng pháp luật. Làm được điều này, không chỉ góp phần hạn chế tối đa các khiếu nại, tố cáo của người dân, bảo vệ ngày càng tốt hơn các quyền và lợi ích của người bị THĐ, lợi ích của Nhà nước, lợi ích của nhà đầu tư, mà còn góp phần đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của địa phương.
Kết luận Chương 3
Hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam là một nhiệm vụ khó khăn và phức tạp, đòi hỏi phải có một quá trình và không chỉ cần có định hướng đúng mà cần phải có những giải pháp thiết thực khả thi, đi đôi với việc tổ chức thực hiện có hiệu quả các giải pháp đề ra trong đời sống thực tế. Hệ thống pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất chặt chẽ, phù hợp, nhưng sẽ không thể dễ dàng triển khai trong cuộc sống và phát huy hiệu quả nếu không có sự hỗ trợ và tích cực tham gia của các thể chế trung gian. Vì vậy, bên cạnh việc nâng cao tinh thần trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp và bồi dưỡng trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ của các cơ quan tổ chức thực thi pháp luật, đòi hỏi pháp luật phải định chế rõ ràng, cụ thể chức năng, nhiệm vụ quyền hạn, trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan; quy định rõ trách nhiệm pháp lý của mỗi chủ thể khi thực hiện nhiệm vụ của mình. Trên cơ sở phân tích nội dung các quy định của pháp luật thực định và đánh giá quá trình áp dụng các quy định đó trên thực tế; Chương 3 của luận văn tác giả đã đề xuất các nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất gồm:
- Nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất;
- Nhóm giải pháp về tổ chức thực thi pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.
KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp pháp luật bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.
Việc thu hồi đất không đơn giản chỉ là việc làm chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đối với một diện tích đất nhất định mà còn để lại những hậu quả về kinh tế – xã hội cần kịp thời giải quyết nhằm duy trì sự ổn định chính trị – xã hội. Thực tế cho thấy đây là một công việc khó khăn, phức tạp và thường phát sinh tranh chấp, khiếu kiện về đất đai. Bởi lẽ, nó “đụng chạm” trực tiếp đến những lợi ích thiết thực không chỉ của người sử dụng đất mà còn của Nhà nước, của xã hội và lợi ích của các doanh nghiệp, chủ đầu tư. Chỉ khi nào giải quyết hài hòa lợi ích của các chủ thế này thì việc thu hồi đất mới không tiềm ẩn nguy cơ khiếu kiện, tranh chấp kéo dài gây mất ổn định chính trị – xã hội. Dẫu vậy, không phải trong bất kì trường hợp thu hồi đất nào, Nhà nước, người sử dụng đất và các nhà đầu tư cũng tìm được tiếng nói chung, bởi người bị thu hồi đất chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ việc thu hồi đất, họ là người bị mất đất, mất tài sản trên đất, đời sống gia đình rơi vào hoàn cảnh khó khăn.
Luật Đất đai 2013 được thông qua và có hiệu lực từ ngày 01/07/2014 đã đạt nhiều kết quả tích cực, góp phần khai thác và phát huy hiệu quả nguồn lực đất đai phục vụ sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, ổn định xã hội, an ninh lương thực quốc gia, bảo vệ môi trường.
Tuy nhiên, công tác quản lý nhà nước về đất đai nói chung còn một số hạn chế, nhất là trong các thủ tục bồi thường về tài sản trên đất khi Nhà nước thu hồi đất. Nguồn lực về đất đai chưa được phát huy đầy đủ để trở thành nội lực quan trọng phục vụ phát triển kinh tế – xã hội; việc thu hồi đất trong đó có công tác bồi thường nhiều nơi còn lãng phí, hiệu quả thấp; tham nhũng, tiêu cực nhiều; tình hình khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai còn diễn biến phức tạp; lợi ích của Nhà nước và người dân có đất bị thu hồi chưa được bảo đảm tương xứng. Việc thu hồi đất tràn lan, bồi thường không thỏa đáng nảy sinh nhiều khiếu kiện nhất là các dự án đầu tư để kinh doanh, hạn chế tính chủ động và sự tích cực tham gia của chủ đầu tư, làm chậm tiến độ triển khai dự án.
Nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế nêu trên là do đất đai có nguồn gốc rất phức tạp; chính sách đất đai thay đổi qua nhiều thời kỳ, đến nay, chủ trương, chính sách, pháp luật về đất đai còn một số nội dung chưa đủ rõ, chưa phù hợp; việc thể chế hoá còn chậm, chưa thật đồng bộ. Tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật về đất đai chưa tốt; công tác tuyên truyền, giáo dục và quán triệt các chủ trương, chính sách, pháp luật về đất đai còn kém hiệu quả. Ý thức chấp hành pháp luật về đất đai của một bộ phận nhân dân còn hạn chế. Việc thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý các hành vi sai phạm chưa nghiêm. Hiệu lực, hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai còn thấp. Tổ chức bộ máy, năng lực đội ngũ cán bộ về quản lý đất đai còn không ít hạn chế, yếu kém; một bộ phận còn lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi, tham nhũng.
Thống kê số liệu cho thấy, tình hình khiếu nại, tố cáo liên quan đến lĩnh vực đất đai chiếm gần 70% các loại khiếu kiện, đa phần là khiếu kiện về giá bồi thường đất đai. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cần phải có sự đánh giá một cách toàn diện cả về lý luận và thực tiễn thực trạng pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất để đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động bồi thường tài sản trên đất. Luận văn: Giải pháp pháp luật bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Thực trạng pháp luật về bồi thường thu hồi đất