Luận văn: Pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

PHẦN MỞ ĐẦU

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong bối cảnh phát triển kinh tế đất nước, việc đầu tư các công trình công cộng, mở rộng đô thị, phát triển cơ sở hạ tầng, đầu tư xây dựng cơ bản là kết quả tất yếu, đặc biệt là đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã không ngừng phấn đấu, nỗ lực nhằm xây dựng và hoàn thiện hệ thống Pháp luật thống nhất, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội hiện đại và Pháp luật quốc tế. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay để đáp ứng ngày càng lớn yêu cầu phát triển kinh tế – Xã hội theo hướng công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước, hội nhập vào kinh tế, quốc tế thì nhu cầu sử dụng đất đai càng nhiều. Việc chuyển mục đích sử dụng đất từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp là yêu cầu thực tế khách quan.

Tuy nhiên, Pháp luật liên quan đến đất đai là một vấn đề lớn, phức tạp và rất nhạy cảm, trong đó liên quan đến công tác thu hồi đất để phục vụ cho lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế xã hội vẫn còn tác động rất lớn đến người bị thu hồi đất. Thời gian qua, Nhà nước thu hồi nhiều đất của dân để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế. Theo số liệu tổng hợp của Bộ Tài nguyên và Môi trường, sau gần 7 năm triển khai Luật Đất đai năm 2003, trên cả nước tổng diện tích đất đã thu hồi là 728 nghìn ha (trong đó có 536 nghìn ha đất nông nghiệp) của 826.012 hộ gia đình, cá nhân.

Từ khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực thi hành, Nhà nước đã ban hành nhiều quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người bị thu hồi đất. Tuy nhiên, từ nhiều năm nay, tình hình khiếu kiện của người bị thu hồi đất diễn ra hết sức phức tạp trên địa bàn cả nước. Nguyên nhân tình hình khiếu kiện liên quan đến bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất nhiều như hiện nay được xác định chủ yếu là do những vấn đề chính sách liên quan đến lợi ích của người sử dụng đất còn nhiều bất cập. Để khắc phục tình hình này như thế nào, đây là vấn đề thời sự, luôn được Đảng, Nhà nước và toàn xã hội quan tâm.

2. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Luật Đất đai năm 2013 nêu rõ: “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh, quốc phòng. Luận văn: Pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất.

Những năm qua, hệ thống văn bản chính sách, pháp luật về đất đai từng bước được hoàn thiện, bổ sung, phát triển phù hợp với đặc điểm, tình hình thực tiễn; ý thức chấp hành pháp luật về đất đai ngày càng được nâng lên. Nghị quyết số 19-NQ/TW của Hội nghị Trung ương lần thứ sáu, khóa XI về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới; Luật Đất đai năm 2013. Mới đây, Hội nghị Trung ương lần thứ năm, khóa XIII đã ban hành Nghị quyết số 18- NQ/TW về “Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất; tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao” … Các văn bản nói trên là cơ sở, là tiền đề góp phần quan trọng vào thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo sự đồng thuận, thống nhất trong Nhân dân.

Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường tại Hội nghị Tổng kết năm 2021 và triển khai nhiệm vụ năm 2022: cả nước đã thực hiện thanh tra, kiểm tra, rà soát, thu hồi chủ trương đầu tư, thu hồi đất với diện tích 16.000ha; yêu cầu đưa vào sử dụng gần 53.000ha; chấm dứt chủ trương đầu tư 7.700ha… Đặc biệt, nguồn thu từ đất đạt 172.250 tỷ đồng, chiếm 15,2% tổng thu ngân sách nội địa, gấp 3,5 lần so với năm 2015.

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được thì vẫn còn những hạn chế, bất cập trong quản lý và sử dụng đất, như Nghị quyết Đại hội ĐBTQ lần thứ XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Khai thác tài nguyên thiếu bền vững, hiệu quả quản lý, sử dụng chưa cao, chưa theo nguyên tắc của thị trường, nhất là đất đai. Việc khai thác, sử dụng, định giá đất còn nhiều hạn chế, chưa sát thực tế, nhất là trong vấn đề xác định thuế, địa tô, gây thất thu ngân sách nhà nước”. Đặc biệt, ở các địa phương việc quản lý, sử dụng đất còn yếu, gây bức xúc trong Nhân dân; quy hoạch đất đai không nhằm mục đích đem lại lợi ích cho người dân; pháp luật về đất đai còn nhiều “kẽ hở”, tạo điều kiện cho “nhóm lợi ích” trục lợi, tham nhũng, tiêu cực về đất; tình trạng tranh chấp, khiếu kiện, tố cáo liên quan đến đất đai chậm được giải quyết, còn kéo dài ở một số nơi.

Hiện nay, công tác thu hồi đất và thực hiện các chính sách bồi thường đất sau thu hồi gặp nhiều khó khăn, tồn tại nhiều vướng mắc, hiệu quả thấp, kể cả việc thu hồi đất để xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho chính cộng đồng dân cư có đất bị thu hồi. Nhiều địa phương phải điều chỉnh lại quy hoạch, sửa đổi thiết kế dự án, chờ đợi trong thời gian dài do không giải phóng được mặt bằng. Hậu quả là làm ảnh hưởng tiến độ thực hiện các công trình, gây thiệt hại lớn về kinh tế của doanh nghiệp, nhà đầu tư có nhu cầu sử dụng đất và Nhà nước, làm mất ổn định tình hình chính trị – xã hội ở địa phương. Có rất nhiều nguyên nhân gây nên thực trạng này trong đó có nguyên nhân sâu xa là từ các quy định về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất chưa hoàn thiện.

Thu hồi đất là vấn đề pháp lý quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của những chủ thể có đất bị thu hồi, họ không chỉ bị mất quyền sử dụng đất mà còn phải di dời chỗ ở, thay đổi địa điểm kinh doanh… Do đó, yêu cầu đặt ra là chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất vừa phải đảm bảo tính thực tiễn, vừa phải có tính khoa học để quyền lợi của người sử dụng đất được đảm bảo. Luận văn: Pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất.

Vì những hạn chế trên mà cần thiết phải xem xét sửa đổi, bổ sung một số quy định liên quan đến chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, hướng đến việc đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể có đất bị thu hồi. Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đã có những điểm mới về chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất so với Luật Đất đai năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2018). Điển hình là các quy định về vấn đề này đã được Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) tách thành một chương riêng trong hệ thống các quy định pháp luật đất đai, cụ thể là Chương VII của Dự thảo. Ngoài ra, cũng có sự khác biệt cơ bản trong quy định về nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất, các điều kiện để được bồi thường…

Trước tình hình đó, việc nghiên cứu pháp luật bồi thường thiệt hại về đất khi Nhà nước thu hồi đất là cần thiết, góp phần tìm ra giải pháp khắc phục những tồn tại, thiếu sót và nâng cao hiệu quả công tác bồi thường thiệt hại về đất khi Nhà nước thu hồi đất, tạo được sự đồng thuận giữa người bị thu hồi đất với Nhà nước, hạn chế tình hình khiếu kiện của công dân. Xuất phát từ yêu cầu này, tác giả quyết định chọn đề tài “Pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam” để làm luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ luật học, chuyên ngành Luật Kinh tế của mình

3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề lý luận bồi thường về đất khi nhà nước thu hồi đất và pháp luật bồi thường về đất khi nhà nước thu hồi đất; phân tích thực trạng pháp luật bồi thường về đất khi nhà nước thu hồi đất để nhận diện những tồn tại, vướng mắc; trên cơ sở đó, luận văn đề xuất những định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật bồi thường về đất khi nhà nước thu hồi đất và nâng cao hiệu quả thực thi ở nước ta.

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn: Pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất.

  • Để đạt được mục tiêu tổng quát nêu trên, tác giả đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau đây:

Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất, bao gồm quan điểm, đường lối của Đảng về bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất; chế độ sở hữu toàn dân về đất đai và quyền tài sản của người sử dụng đất đối với quyền sử dụng đất; khái niệm, đặc điểm; mục đích, ý nghĩa của bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất; phân tích thiệt hại phát sinh khi Nhà nước thu hồi đất;

Nghiên cứu một số vấn đề lý luận của pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất, bao gồm một số khái niệm của pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất; cơ cấu điều chỉnh của pháp luật và các yếu tố tác động đến việc xây dựng pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất;

Nghiên cứu nội dung của pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất và đánh giá thực trạng thi hành chế định pháp luật này ở Việt Nam;

Đưa ra định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất và nâng cao hiệu quả thực thi ở Việt Nam.

4. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Để đạt được mục tiêu đặt ra khi nghiên cứu đề tài, luận văn cần trả lời các câu hỏi sau:

  • Một là, phạm vi và đối tượng bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất được quy định như thế nào?
  • Hai là, căn cứ để nhà nước thu hồi đất?
  • Ba là, điều kiện để được bồi thường về đất khi nhà nước thu hồi đất?
  • Bốn là, giá đất để được tính bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất?
  • Năm là, bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất đựa trên những nguyên tắc cơ bản nào?
  • Sáu là, cần làm gì để hoàn thiện pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam trong thời gian tới?

5. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU Luận văn: Pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất.

5.1 Đối tượng nghiên cứu đề tài: Đối tượng nghiên cứu của đề tài tập trung vào một số nội dung chủ yếu sau đây:

  • Các quan điểm, đường lối của Đảng về xây dựng, hoàn thiện pháp luật đất đai nói chung và pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất nói riêng trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay;
  • Các quy định của Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành về bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất đặt trong mối liên hệ, so sánh với Luật Đất đai năm 2003 và Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi);
  • Các quy định bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất của một số nước trên thế giới dưới góc độ luật học so sánh;
  • Thực tiễn thi hành pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam

5.2. Phạm vi nghiên cứu đề tài

Pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam là đề tài có phạm vi nghiên cứu rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau. Tuy nhiên, trong khuôn khổ của một bản luận văn thạc sĩ luật học, tác giả giới hạn phạm vi nghiên cứu ở một số nội dung cụ thể sau:

  • Giới hạn về nội dung: Nghiên cứu, tìm hiểu các quy định về bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng của Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành, có so sánh với Luật Đất đai năm 2003 và Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi); tác giả đi sâu nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất.
  • Giới hạn về không gian: Luận văn nghiên cứu thực tiễn thi hành pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế xã hội trong phạm vi Việt
  • Giới hạn về thời gian: Luận văn giới hạn nghiên cứu pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế xã hội từ năm 2013 (năm ban hành Luật Đất đai 2013 đến nay) đặt trong mối liên hệ luật đất đai so sánh với các văn bản liên quan đến năm 2020.

6. PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Luận văn: Pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất.

Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lê Nin trong việc nghiên cứu nguồn gốc, bản chất của sự vật, hiện tượng; nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của sự vật, hiện tượng đặt trong mối quan hệ tương tác với các sự vật, hiện tượng khác;

  • Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:

Phương pháp so sánh, phương pháp đánh giá, phương pháp lập luận logic được sử dụng khi nghiên cứu tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của luận văn;

Phương pháp phân tích, phương pháp lịch sử, phương pháp đối chiếu v.v được sử dụng tại Chương 1,2 khi nghiên cứu một số vấn đề lý luận bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất và pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam;

Phương pháp đánh giá, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp v.v được sử dụng tại Chương 2,3 khi nghiên cứu quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam;

Phương pháp bình luận, phương pháp quy nạp, phương pháp diễn giải v.v được sử dụng tại Chương 3 khi nghiên cứu giải pháp hoàn thiện pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất

7. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Nội dung chương 1: tác giả tập trung làm rõ những vấn đề lý luận về bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất, cũng như lý luận pháp luật về bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất.

Nội dung chương 2: Luận văn phân tích, đánh giá những tác động tích cực và tiêu cực; các nguyên nhân khách quan và chủ quan của vấn đề pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất đồng thời có sự phân tích các quy định trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) Luận văn: Pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất.

Nội dung chương 3: Luận văn nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất; các giải pháp hoàn thiện pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam

8. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

Về khoa học: góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật bồi thường thiệt hại về đất khi Nhà nước thu hồi đất. Luận văn có thể là tài liệu tham khảo cần thiết và đáng tin cậy đối với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong hoạt động ban hành, sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về lĩnh vực này.

Đồng thời, luận văn còn có thể là tài liệu tham khảo hữu ích trong công tác giảng dạy và học tập môn học Luật Đất đai tại các cơ sở đào tạo cũng như trong hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp Luật Đất đai nói chung và pháp luật bồi thường thiệt hại về đất khi Nhà nước thu hồi đất nói riêng.

Về thực tiễn: khi hoàn thành đề tài nghiên cứu, trước hết giúp cho tác giả có kiến thức sâu rộng hơn về lĩnh vực này, luận văn sẽ là tài liệu hữu ích, phục vụ cho công tác hiện nay của tác giả và đồng nghiệp. Bên cạnh đó, các giải pháp mà tác giả đưa ra có thể được các cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền tham khảo và ứng dụng vào thực tiễn công tác bồi thường, giải tỏa khi thu hồi đất.

9. TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU

Đã có một số công trình, sách báo pháp lý nghiên cứu về lĩnh vực này dưới góc độ lý luận và thực tiễn; tiêu biểu là các công trình nghiên cứu của các tác giả:

Luận án Tiến sĩ Luật học năm 2014 của tác giả Phạm Thu Thủy, bảo vệ tại Trường Đại Học Luật Hà Nội với đề tài “Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp ở Việt Nam”. Trong công trình này, tác giả chủ yếu nghiên cứu pháp luật về bồi thường mà không đi sâu nghiên cứu pháp luật về hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp.

Luận văn Thạc sĩ kinh tế năm 2013 của tác giả tác giả Đặng Thị Phương Thủy, bảo vệ tại Trường Đại học Thương mại Hà Nội với đề tài “Quản lý bồi thường, hỗ trợ và tái định cư với đối tượng bị thu hồi đất trên địa bàn huyện Gia Lâm – Thành phố Hà Nội”. Với công trình bày, tác giả đi sâu nghiên cứu hoạt động quản lý việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất nói chung trên địa bà huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội, không nghiên cứu chuyên sâu về pháp luật khi Nhà nước thu hồi đất. Luận văn: Pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất.

Luận văn Thạc sĩ Luật học năm 2014 của tác giả Trần Thị Huyền Lê, bảo vệ tại Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội với đề tài “Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp và thực tiễn áp dụng tài Hà Nam”. Công trình này ngoài việc nghiên cứu pháp luật về bồi thường còn pháp luật về hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp. Tuy nhiên, công trình chỉ hạn chế phạm vi nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Hà Nam và thời điểm nghiên cứu chưa có Nghị định số 01/2017/NĐ-CP, chưa nghiên cứu hoạt động hỗ trợ trên phạm vi các tỉnh, thành phố khác và chưa nghiên cứu quy định của pháp luật hiện nay.

Bài viết “Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất ở một số quốc gia” của tác giả Bùi Quang Hậu đăng trên tạp chí Tài nguyên và Môi trường số 8, năm Tác giả đã tìm hiểu pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất ở một số quốc gia như Trung Quốc, Thái Lan,… đánh giá và kinh nghiệm rút ra để hoàn thiện hơn việc xây dựng pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất tại Việt Nam. Tuy nhiên, chưa đi sâu nghiên cứu pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.

Từ Thanh Sơn (2013), Nguy cơ tiềm ẩn tham nhũng từ quy định thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế trong Luật Đất đai 2003, Tạp chí Thanh tra, Thanh tra Chính phủ, (số 8), 15-16: Bài nghiên cứu cho thấy thực trạng trong nhiều năm hoạt động thu hồi đất trên cả nước diễn ra tùy tiện, cơ quan công quyền lạm dụng quy định về thu hồi đất phục vụ phát triển kinh tế để tư lợi, xâm phạm tới quyền và lợi ích chính đáng của Nhân dân. Tác giả cũng đưa ra các giải pháp mạnh tay nhằm hạn chế tình trạng này.

Bài viết “Vấn đề hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất trong Luật Đất đai năm 2013” của tác giả Phạm Văn Võ – Tạp chí Luật học số 1/2015. Bài viết phân tích chính sách hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất, bao gồm sự cần thiết của chính sách hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất, mối quan hệ giữa chính sách hỗ trợ và chính sách bồi thường; đối tượng được hỗ trợ; hình thức, điều kiện và các khoản hỗ trợ (bao gồm hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất; hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm; hỗ trợ Tái định cư; hỗ trợ khi Thu hồi đất công ích của xã, phường, thị trấn và hỗ trợ khác) theo Luật Đất đai năm 2013 và Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ, Tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất (sau đây gọi tắt là Nghị định số 47/2014/NĐ-CP).

Cuốn sách “Pháp luật về định giá đất trong bồi thường, giải phóng mặt bằng ở Việt Nam” do tác giả Doãn Hồng Nhung chủ biên, Nhà xuất bản Tư pháp Trên cơ sở phân tích Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành, cuốn sách phân tích một số vấn đề về giá đất, như khái niệm giá đất, bản chất của giá đất, các yếu tố ảnh hưởng đến giá đất; phân tích các quy định và thực trạng định giá đất nói chung, định giá đất trong bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nói riêng. Từ đó, tác giả chỉ ra những hạn chế, bất cập trong các quy định của pháp luật về giá đất phục vụ bồi thường như sự chênh lệch quá lớn giữa giá đất tính bồi thường và giá thị trường, các phương pháp xác định giá đất chưa hợp lý, bảng giá đất do Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh ban hành sử dụng cho nhiều mục đích là không hợp lý. Luận văn: Pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất.

Bài viết “Về giá đất trong Luật Đất đai năm 2013” của tác giả Nguyễn Thị Dung – Tạp chí Luật học, số 11/2014. Bài viết phân tích khái niệm giá đất, các quy định về giá đất trong Luật Đất đai năm 2013, như nguyên tắc xác định giá đất, phương pháp xác định giá đất, khung giá và bảng giá đất, giá đất cụ thể, đấu giá quyền Sử dụng đất. Theo tác giả, giá đất là một trong những điểm mấu chốt trong các quy định, chính sách bồi thường và là một trong những nguyên nhân dẫn đến khiếu nại phức tạp.

Bài viết “Xác định giá đất để tính bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất” của tác giả Phan Trung Hiền – Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 1+2 (329+330) T1/2017. Bài viết phân tích thực trạng pháp luật về nguyên tắc, phương pháp, chủ thể, quy trình, tư vấn, thời điểm xác định giá đất; đối chiếu giá đất tính bồi thường, hỗ trợ và giá đất khi tính tiền Sử dụng đất để Tái định cư. Từ việc phân tích thực trạng này, tác giả đưa các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về cơ chế xác định giá đất để người dân tham gia vào quá trình xây dựng giá đất, cơ chế xác định giá đất theo giá thị trường.

Bài viết “Hoàn thiện các quy định về định giá đất ở Việt Nam hiện nay” của các tác giả Châu Hoàng Thân và Phan Trung Hiền – Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 2/2017. Bài viết phân tích các quy định của Luật Đất đai năm 2013 về định giá đất, các yếu tố ảnh hưởng đến định giá đất, những bất cập của định giá đất hiện nay và kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về định giá đất.

Bài viết “Bất cập trong quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng” của tác giả Châu Hoàn Thân – Tạp chí Khoa học, số 44 (2016). Bài viết chỉ ra những bất cập về trình tự, thủ tục Thu hồi đất của Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành, đó là có nhiều văn bản quy định về nội dung này, hạn chế trong quy định về hội đồng bồi thường, hỗ trợ và Tái định cư; quy định về trình tự, thủ tục Thu hồi đất chưa thống nhất.

Đề tài khoa học cấp bộ (2016) “THĐ và giải quyết khiếu nại về Thu hồi đất ở Việt Nam hiện nay – Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của Viện Khoa học Thanh tra (Thanh tra Chính phủ) do tác giả Đinh Văn Minh làm chủ nhiệm. Đề tài chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến khiếu nại khi Thu hồi đất theo Luật Đất đai năm Thứ nhất, về nguyên nhân khách quan: Một là, do quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ làm cho nhu cầu về đất tăng lên thúc đẩy giá đất tăng cao dẫn đến lợi ích liên quan đến đất lớn; Hai là, chính sách liên quan đến lợi ích người Sử dụng đất còn nhiều bất cập, nhất là giá đất chưa phù hợp và thường xuyên thay đổi; Ba là, Thu hồi đất nhưng không ưu tiên trả bằng đất mà trả bằng tiền, điều kiện tại khu Tái định cư không bằng khu dân cư có đất bị thu hồi; Bốn là, ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận người dân còn hạn chế nên đòi hỏi quyền lợi vượt quá quy định. Thứ hai, về nguyên nhân chủ quan: Một là, cơ chế, chính sách trong lĩnh vực quản lý đất đai hiện nay chưa chú ý đúng mức quyền lợi của người dân; Hai là, công tác chỉ đạo, điều hành và quản lý đất đai còn yếu kém, bị buông lỏng; Ba là, chưa có chế tài hoặc xử lý không cương quyết nhiều dự án treo; Bốn là, khi thực hiện dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội, nhiều địa phương, ban quản lý dự án chưa thực hiện đầy đủ quy định, quy trình Thu hồi đất và chưa làm tốt công tác tuyên truyền về mục đích, ý nghĩa của Thu hồi đất; Năm là, công tác thanh tra, kiểm tra chưa được chú trọng đúng mức và việc giải quyết khiếu nại từ cơ sở đến các cấp chưa kịp thời, có biểu hiện qua loa, có trường hợp giải quyết không đúng hoặc không giải quyết.

  • Nhận định về tình hình nghiên cứu Luận văn: Pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất.

Các công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước là nguồn tài liệu quý giá để tác giả Luận văn kế thừa và tiếp tục mở rộng nghiên cứu về “pháp luật về bồi thường đất khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam” trên các bình diện: Cơ sở lý luận, các quy định của pháp luật và trong thực tiễn thi hành. Có thể nói, các công trình nghiên cứu kể trên đã tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau để phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật Việt Nam về bồi thường đất khi Nhà nước thu hồi đất, có so sánh với Luật Đất đai 2003 và Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi). Để từ đó hoàn thiện những quy định mới về vấn đề này để có thể đạt được hiệu quả cao trong thực tiễn áp dụng. Vì vậy, tác giả đã chọn đề tài này với mong muốn sau khi hoàn thành, sẽ làm rõ hơn những vấn đề áp dụng pháp luật về bồi thường đất khi Nhà nước thu hồi đất, tìm và hiểu rõ, chỉ ra được những bất cập của quy định này trong thực tiễn. Qua đó rút ra được giải pháp hoàn thiện pháp luật về bồi thường về đất khi nhà nước thu hồi đất.

10. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN

Luận văn bao gồm phần mở đầu, nội dung, kết luận, phần phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo. Phần nội dung được chia thành hai chương, cụ thể như sau:

  • Chương 1. Những vấn đề lý luận và pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.
  • Chương 2. Quy định của pháp luật hiện hành bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất.
  • Chương 3. Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất.

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT BỒI THƯỜNG VỀ ĐẤT KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT

1.1 Lý luận chung của việc bồi thường về đất khi nhà nước thu hồi đất

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm thu hồi đất

  • Khái niệm thu hồi đất

Thu hồi đất là điều không tránh khỏi khi Nhà nước có nhu cầu sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích quốc gia công cộng hoặc do vi phạm pháp luật đất đai. Bản chất của thu hồi đất là việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất không mang tính tự nguyện thỏa thuận của người bị thu hồi đất.

  • Qua đó, khái niệm thu hồi đất được hiểu theo nhiều cách khác nhau:

Trước đây, mặc dù được quy định và áp dụng khá lâu nhưng khái niệm thu hồi đất chưa được quy định cụ thể trong Luật, đến khi Luật Đất đai năm 2003 được ban hành, thì khái niệm thu hồi đất mới được định nghĩa chính thức.

Theo khoản 5 Điều 4 của Luật Đất đai năm 2003 thì “Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật này”. Sau đó, tại khoản 11 Điều 3 của Luật Đất đai năm 2013 quy định “Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật đất đai”.

Trong điều kiện kinh tế thị trường, đất đai còn là nguồn lực, nguồn vốn to lớn để phát triển đất nước. Việc hiểu đúng, nắm rõ bản chất nội dung của các quy định pháp luật đặc biệt về thu hồi đất có ý nghĩa rất quan trọng trong việc áp dụng và chấp hành đúng pháp luật đất đai. Bởi vì, hiểu đúng và nhận thức đúng thì con người mới áp dụng đúng và thực hiện đúng pháp luật đất đai. Có thể thấy, thu hồi đất là thuật ngữ không mang tính phổ thông, đại chúng mà mang tính pháp lý, kỹ thuật nghiệp vụ được sử dụng trong quản lý nhà nước về đất đai cần phải được giải thích để có cách hiểu thống nhất nhằm tránh việc áp dụng tùy tiện hoặc do không hiểu cặn kẽ dẫn đến hành vi vi phạm pháp luật đất đai.

Tại khoản 3 Điều 54 của Hiến pháp năm 2013 quy định “Nhà nước thu hồi đất do cá nhân, tổ chức đang sử dụng trong trường hợp thật cần thiết do luật định vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế, xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Việc thu hồi đất phải minh bạch, công khai và được bồi thường theo quy định của pháp luật”.

Còn theo từ điển giải thích thuật ngữ Luật học thì thu hồi đất được hiểu là “Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi quyền sử dụng đất của người vi phạm quy định về sử dụng đất để Nhà nước giao cho người khác sử dụng hoặc trả lại cho chủ sử dụng đất bị lấn chiếm. Trường hợp thật cần thiết, Nhà nước thu hồi đang sử dụng của người sử dụng đất để sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, công cộng”. Luận văn: Pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất.

Có thể thấy, vấn đề thu hồi đất đặt ra ở nhiều phương diện khác nhau, việc thu hồi đất có thể vì lý do nhằm đảm bảo một trật tự chung trong quản lý nhà nước về đất đai, đảm bảo sự tôn trọng và tuân thủ pháp luật đất đai đối với người sử dụng đất hay thu hồi đất để phục vụ cho những nhiệm vụ và mục tiêu quan trọng của đất nước như quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế, xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng thì thu hồi đất đều được biểu hiện là một quyết định mang tính một chiều từ Nhà nước áp dụng đối với các chủ thể đang khai thác và sử dụng đất.

Ngay cả khái niệm thu hồi đất được quy định tại Luật Đất đai năm 2003 và Luật Đất năm 2013 cũng có sự khác biệt nhưng tất cả các khái niệm trên đều có một điểm chung là dẫn đến hậu quả pháp lý chấm dứt hành vi quyền sử dụng đất của người sử dụng đất hoặc quyền quản lý đất đai của các chủ thể được Nhà nước giao đất để quản lý.

Việc thu hồi đất được biểu hiện bằng hình thức pháp lý là quyết định thu hồi đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về giao đất, cho thuê đất.

Như vậy, thu hồi đất sẽ dẫn đến hậu quả pháp lý chấm dứt quyền sử dụng đất của người sử dụng đất. Việc thu hồi đất có thể xuất phát từ những nguyên nhân khác nhau nhưng đều hướng đến hai mục đích:

Thứ nhất, thu hồi đất nhằm bảo vệ quyền sở hữu đất đai của Nhà nước khi người sử dụng đất có hành vi vi phạm pháp luật đất đai có khả năng gây tổn hại đến tài sản của Nhà nước.

Thứ hai, thu hồi đất để hỗ trợ cho quá trình điều phối đất đai khi Nhà nước cần điều chỉnh lại việc sử dụng đất về mục đích, chủ thể sử dụng theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.

Có thể thấy, thu hồi đất vừa là một hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, là công cụ hữu hiệu bảo vệ quyền sở hữu nhà nước đối với đất đai. Vì đây là một quá trình ngược so với hoạt động giao đất, cho thuê đất. Khi bị thu hồi đất, người sử dụng đất không còn quyền sử dụng đất với đất bị thu hồi và đương nhiên họ sẽ không còn quyền chiếm hữu, tác động vào diện tích đất đó nữa. Luận văn: Pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất.

Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm về thu hồi đất như sau: “Thu hồi đất là việc Nhà nước ban hành quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người sử dụng đất để sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, công cộng hoặc người sử dụng đất vi phạm pháp luật quy định về đất đai”.

  • Đặc điểm của thu hồi đất
  • THĐ có một số đặc điểm cơ bản sau đây:

Thứ nhất, Thu hồi đất được thực hiện bởi Nhà nước. Chỉ có Nhà nước là cơ quan duy nhất được thực hiện việc Thu hồi đất của người Sử dụng đất. Nhà nước vừa là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai, vừa là cơ quan quyền lực Nhà nước có chức năng, nhiệm vụ thống nhất quản lý đất đai trong cả nước. Nhà nước thông qua các cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc Thu hồi đất; các cơ quan này bao gồm Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Ủy ban nhân dân cấp huyện.

Thứ hai, Thu hồi đất là quyết định hành chính mang tính mệnh lệnh. Nhà nước với tư cách là cơ quan quyền lực có chức năng, nhiệm vụ thống nhất quản lý đất đai trong phạm vi cả nước có quyền Thu hồi đất. Quyết định Thu hồi đất mang tính mệnh lệnh hành chính mà người bị Thu hồi đất và tổ chức, cá nhân có liên quan có nghĩa vụ chấp hành.

Thứ ba, Thu hồi đất được thực hiện trong các trường hợp do pháp luật quy định. Cụ thể là Thu hồi đất do người Sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai, do chấm dứt việc Sử dụng đất theo quy định của pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người; Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Ngoài các trường hợp trên thì Nhà nước không được Thu hồi đất.

Thứ tư, việc Thu hồi đất phải thực hiện bằng văn bản theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Việc Thu hồi đất phải thực hiện theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, bao gồm các bước cơ bản như: Xây dựng và thực hiện kế hoạch Thu hồi đất; điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm; lập, thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ, Tái định cư; quyết định Thu hồi đất, phê duyệt và tổ chức thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ, Tái định cư. Các bước này phải được thực hiện đúng trình tự và phải thực hiện bằng văn bản bởi người có thẩm quyền và cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Thứ năm, hậu quả của việc Thu hồi đất làm chấm dứt quyền Sử dụng đất, gây ra cho người bị Thu hồi đất những thiệt hại nhất định và xác lập trách nhiệm của Nhà nước đối với những thiệt hại này. Kể từ khi quyết định Thu hồi đất do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành có hiệu lực pháp luật thì người bị Thu hồi đất bị chấm dứt quyền Sử dụng đất. Đồng thời với việc bị chấm dứt quyền Sử dụng đất thì Thu hồi đất gây ra hậu quả là thiệt hại cho người Sử dụng đất. Theo đó, tùy từng trường hợp mà người Sử dụng đất bị những thiệt hại nhất định, như thiệt hại về đất, tài sản gắn liền với đất, thiệt hại đối với vật nuôi, thiệt hại do di chuyển, mất việc làm, mất ổn định cuộc sống, thiệt hại đến không gian văn hóa, tâm linh … Đồng thời với quyết định Thu hồi đất thì xác lập trách nhiệm của Nhà nước trong việc bồi thường những thiệt hại này. Như vậy, mặc dù bị chấm dứt quyền Sử dụng đất nhưng người Sử dụng đất được Nhà nước bồi thường và giải quyết những hậu quả phát sinh từ việc Thu hồi đất theo quy định của pháp luật.

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của việc bồi thường về đất khi nhà nước thu hồi đất Luận văn: Pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất.

  • Khái niệm bồi thường về đất khi nhà nước thu hồi đất

Trong quá trình thu hồi đất, bồi thường là vấn đề hết sức quan trọng và được quan tâm hàng đầu. Đây là yếu tố tác động trực tiếp đến việc thu hồi đất và là căn cứ để xác định đơn giá bồi thường về đất, tài sản gắn liền với đất.

Qua đó, khái niệm bồi thường được hiểu là đền bù những thiệt hại tổn thất gây ra, đền bù để trả tương xứng với giá trị hoặc công lao cho một chủ thể nào đó bị thiệt hại vì hành vi của chủ thể khác.

Còn bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất.

Trong khi đó, “giá trị quyền sử dụng đất là giá trị bằng tiền của quyền sử dụng đất đối với một diện tích đất xác định trong thời hạn sử dụng đất xác định”.

Còn theo từ điển giải thích thuật ngữ Luật học bồi thường được hiểu là quyền của chủ thể đang sử dụng đất bị thu hồi nhằm bù đắp thiệt hại về vật chất cho người sử dụng đất trong trường hợp bị thu hồi đất để chuyển sang sử dụng vào mục đích khác hoặc vì nhu cầu của nhà nước và xã hội. Luận văn: Pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất.

Không phải tất cả các trường hợp bị thu hồi đất, chủ thể đang sử dụng đất bị thu hồi đều được bồi thường. Các chủ thể sử dụng đất không đúng mục đích, sử dụng đất không có hiệu quả, cố ý hủy hoại đất hoặc trường hợp đất được giao không đúng đối tượng, không đúng thẩm quyền, đất lấn chiếm, đất do cá nhân sử dụng đã chết mà không có người thừa kế, chủ thể sử dụng đã chết mà không có người thừa kế, chủ thể sử dụng sử dụng đất tự nguyện trả lại đất.

Đất đang sử dụng bị thu hồi mà chủ thể sử dụng đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì được bồi thường. Việc bồi thường thiệt hại về đất và tài sản về đất là hậu quả pháp lý của việc thu hồi đất của Nhà nước. Vì vậy, Nhà nước phải có trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo và chi trả các khoản bồi thường thiệt hại để người bị thu hồi đất được ổn định cuộc sống, được bù đắp các thiệt hại vật chất một cách công bằng và đúng pháp luật. Chủ thể bị thu hồi đất nào thì được bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất bồi thường thì được bồi thường bằng giá trị quyền sử dụng đất.

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh lập và thực hiện các dự án tái định cư trước khi thu hồi đất để bồi thường bằng nhà ở, đất ở cho những người bị thu hồi đất ở phải di chuyển chỗ ở. Khu tái định cư được quy hoạch chung cho nhiều dự án trên cùng một địa bàn và phải có điều kiện phát triển bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ.

Trường hợp không có khu tái định cư thì người bị thu hồi đất được bồi thường bằng tiền và được ưu tiên mua hoặc thuê nhà ở thuộc quyền sở hữu của Nhà nước đối với khu vực đô thị, bồi thường bằng đất ở đối với khu vực nông thôn.

Trường hợp giá trị quyền sử dụng đất ở bị thu hồi lớn đất ở được bồi thường thì người bị thu hồi đất được bồi thường bằng tiền đối với phần chênh lệch đó. Trường hợp thu hồi đất đối của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất mà không có đất bồi thường để tiếp tục sản xuất thì ngoài việc được bồi thường bằng tiền, người bị thu hồi đất còn được Nhà nước hỗ trợ để ổn định đời sống, đào tạo chuyển đổi ngành nghề, bố trí việc làm mới.

Tuy nhiên, việc xác định giá đất, tài sản gắn liền với đất phải đảm bảo lợi ích giữa người bị thu hồi đất và người thu hồi đất. Như vậy, có thể hiểu bồi thường khi thu hồi đất là hậu quả pháp lý của việc thu hồi đất tức là hoàn trả lại giá trị tương ứng với phần diện tích đất bị thu hồi cho người sử dụng đất bị thu hồi. Luận văn: Pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất.

  • Đặc điểm bồi thường về đất khi nhà nước thu hồi đất

Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất chịu sự ảnh hưởng, chi phối bởi hình thức sở hữu toàn dân về đất đai và điều này được minh chứng như sau:

Thứ nhất, bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất chịu sự ảnh hưởng, chi phối bởi hình thức sở hữu toàn dân về đất đai và điều này được minh chứng như sau:

Một là, Nhà nước có quyền phân bổ, điều chỉnh đất đai cho các mục tiêu kinh tế, xã hội. Sở hữu đất đai là vấn đề xương sống của một đạo luật đất đai. Bởi lẽ, từ chế độ sở hữu sẽ chi phối đến việc quản lý, sử dụng đất đai. Tại Điều 53 của Hiến pháp năm 2013 quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. “Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này”. Điều đó có thể thấy, ở nước ta chỉ thừa nhận đất đai thuộc sở hữu của toàn thể nhân dân lao động hay còn gọi là toàn dân, còn các hình thức sở hữu khác như sở hữu tư nhân, sở hữu tập thể, sở hữu cộng đồng… đều không được công nhận.

Với bản chất chính trị là tổ chức do nhân dân lao động thiết lập nên, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân cũng như chức năng quản lý xã hội của thiết chế tổ chức quyền lực công, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sau đây gọi là Nhà nước) đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý đất đai. Tuy nhiên, trên thực tế Nhà nước không trực tiếp sử dụng đất mà trao quyền sử dụng đất cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được gọi chung là người sử dụng đất. Việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất phải theo quy định của Luật đất đai năm 2013.

Hai là, cũng chính với vai trò là chủ sở hữu đại diện duy nhất đối với đất đai, nên để tránh sự lạm quyền, độc quyền, tùy tiện trong thu hồi và bồi thường khi thu hồi đất. Luận văn: Pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất.

Luật Đất đai năm 2013 quy định quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai bao gồm: Quyết định quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất, quyết định mục đích sử dụng đất, quy định hạn mức sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất, quyết định thu hồi đất, trưng dụng đất, quyết định giá đất, quyết định trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất, quyết định chính sách tài chính về đất đai, quy định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.

Thứ hai, các quy định về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất được ban hành phù hợp với thực tiễn đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người dân thì được họ đồng tình ủng hộ.

Thu hồi đất là điều khó tránh khỏi khi Nhà nước có nhu cầu sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng hoặc do vi phạm pháp luật đất đai. Bản chất của thu hồi đất, trưng dụng đất là việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất không mang tính tự nguyện thỏa thuận của người sử dụng đất.

Tại Điều 54 của Hiến pháp năm 2013 quy định “Quyền sử dụng đất được pháp luật bảo hộ” thì việc thu hồi đất chỉ được thực hiện trong một số trường hợp đặc biệt là sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng do vi phạm pháp luật đất đai. Để tránh tình trạng tùy tiện, tham nhũng, tiêu cực hoặc vì lợi ích nhóm trong thu hồi đất, trưng dụng đất phát sinh tranh chấp, khiếu kiện về đất đai kéo dài tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định chính trị – xã hội.

Chính vì thế, Luật Đất đai năm 2013 quy định các trường hợp thu hồi đất như sau: Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai; thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người.

Nhà nước quyết định trưng dụng đất trong trường hợp thật cần thiết để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai. Luận văn: Pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất.

Có thể thấy, các quy định về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất không phù hợp với thực tế thì sẽ không nhận được sự đồng tình của người dân và phát sinh các tranh chấp và khiếu kiện kéo dài tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định chính trị – xã hội. Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất không chỉ dựa trên những thiệt hại vật chất thực tế mà không tính đến hậu quả lâu dài mà người dân phải gánh chịu. Điều đó gây ra tình trạng gây khó khăn cho việc giải phóng mặt bằng.

Như vậy, bồi thường về đất khi thu hồi là một vấn đề mang tính nhạy cảm của quản lý Nhà nước. Bởi vì, đất đai là một tài sản có giá trị cao, có vai trò quan trọng đối với cuộc sống của người dân, không chỉ ở khu vực nông thôn, đất không chỉ để sinh sống mà còn là tư liệu sản xuất quan trọng, nên việc bị thu hồi đất sẽ là cú sốc lớn đối với người bị thu hồi đất. Vì thế, người bị thu hồi đất sẽ phản ứng gay gắt thông qua việc khiếu kiện đông người, vượt cấp, kéo dài nếu không được Nhà nước bồi thường thỏa đáng.

Song song đó, vấn đề bồi thường về đất cũng là một vấn đề mang tính phức tạp của quản lý Nhà nước trong công tác thu hồi. Về nguyên tắc, giá đất được tính tiền bồi thường là một con số cụ thể, được xác định theo quy định của pháp luật và phải phù hợp với giá đất trên thị trường. Và việc thu thập thông tin để xác định đúng giá theo giá thị trường là một vấn đề không hề đơn giản, thực tế khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì giá chuyển nhượng trên hợp đồng không đúng so với thực tế chuyển nhượng vì người chuyển nhượng quyền sử dụng đất sẽ ghi giá thấp trong hợp đồng để giảm tiền thuế nên việc thu thập giá thực tế luôn gặp khó khăn. Hơn nữa, việc bồi thường theo từng dự án, trên những địa bàn khác nhau và cùng với đất bị thu hồi sẽ khác nhau. Trong từng dự án, loại đất thu hồi cũng không giống nhau. Do đó, tùy từng trường hợp mà cơ quan Nhà nước tính giá bồi thường đất cho phù hợp.

Cuối cùng, việc bồi thường về đất mang tính nhân văn và xã hội trong việc quản lý Nhà nước về thu hồi đất. Việc bồi thường thường diễn ra trong thời gian dài, trong khi đó quy định pháp luật về đất đai luôn thay đổi, chính sách bồi thường sau lúc nào cũng có lợi hơn so với chính sách bồi thường trước, nên việc thực hiện không tốt sẽ gây bất bình đối với người bị thu hồi đất dẫn đến khiếu kiện, tố cáo. Bởi vậy, công tác bồi thường khi thu hồi phải công bằng, đảm bảo quyền lợi cho người bị thu hồi đất.

  • Ý nghĩa của việc bồi thường về đất khi nhà nước thu hồi đất

Tìm hiểu về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, tác giả nhận thấy hoạt động này mang lại những ý nghĩa chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, đất đai là tài sản có giá trị lớn của người Sử dụng đất, gắn liền với cuộc sống của người dân. Người Sử dụng đất có các quyền năng được pháp luật quy định và bảo hộ. Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nhằm trả lại giá trị quyền Sử dụng đất bị mất cho người Sử dụng đất, bồi hoàn cho người Sử dụng đất những thành quả lao động, kết quả đầu tư mà họ bị thiệt hại do việc Thu hồi đất gây ra. Điều này góp phần thực hiện các quyền của người Sử dụng đất được pháp luật ghi nhận và bảo hộ.

Thứ hai, việc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất không chỉ bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người Sử dụng đất mà còn góp phần vào việc duy trì ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, đáp ứng yêu cầu quốc phòng, an ninh. Giải quyết tốt việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất sẽ hạn chế việc phát sinh các tranh chấp, khiếu kiện đất đai kéo dài, duy trì sự ổn định của các quan hệ xã hội, nhất là trong tình hình hiện nay các thế lực thù địch luôn lợi dụng các sơ hở, khiếm khuyết trong chính sách và thực thi chính sách bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất để chống phá đất nước.

Thứ ba, thông qua việc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất giúp cho đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện công tác bồi thường nâng cao được ý thức phục vụ nhân dân, tôn trọng và lắng nghe ý kiến, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân. Trên cơ sở đó giải quyết tốt mọi quyền lợi cho người dân. Mặt khác, thông qua việc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất góp phần tăng thêm niềm tin của người dân vào Đảng, chế độ. Luận văn: Pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất.

Thứ tư, giải quyết tốt bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất góp phần thực hiện các chính sách lớn về kinh tế, xã hội của Đảng và Nhà nước thông qua việc giải quyết hài hòa các lợi ích của Nhà nước, của người Sử dụng đất và nhà đầu tư.

Thứ năm, giải quyết tốt việc bồi thường sẽ tạo ra sự nhất trí cao của người dân, sự đồng thuận của xã hội đối với các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế, xã hội của Đảng và Nhà nước, qua đó góp phần làm tăng tính hấp dẫn của môi trường đầu tư ở nước ta. Mặt khác, bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất giúp cho Nhà nước có được quỹ đất cần thiết để xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ, hiện đại phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.

Thứ sáu, ở một mức độ nhất định có thể thấy rằng, bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất còn góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi nghề nghiệp của người nông dân. Bởi lẽ, trong trường hợp không có đất sản xuất để bồi thường, người nông dân được hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp hoặc họ tự kiếm việc làm, chuyển đổi cơ cấu sản xuất cho phù hợp nhằm bảo đảm cuộc sống của bản thân và gia đình mình.

1.2  Lý luận về pháp luật bồi thường đất khi nhà nước thu hồi đất Luận văn: Pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất.

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm pháp luật bồi thường về đất khi nhà nước thu hồi đất

  • Khái niệm pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất

Đối tượng điều chỉnh của pháp luật là các quan hệ xã hội. Nhà nước sử dụng pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội để hướng các quan hệ đó vận động, phát triển theo ý chí của Nhà nước và phù hợp với lợi ích của Nhà nước, của xã hội. Nhà nước điều chỉnh các quan hệ xã hội bằng việc sử dụng pháp luật để tác động vào hành vi của các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật đó. Pháp luật là công cụ hữu hiệu nhất để quản lý xã hội, duy trì quyền lực Nhà nước và bảo vệ các lợi ích chung thông qua các quy phạm pháp luật xác định những hành vi được thực hiện, không được thực hiện và phải thực hiện.

Các quan hệ xã hội phát sinh trong đời sống rất phong phú, đa dạng. Tùy thuộc vào quan hệ xã hội phát sinh mà Nhà nước ban hành các quy phạm pháp luật để điều chỉnh. Trong lĩnh vực đất đai, Nhà nước ban hành nhiều quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ pháp luật này, như các quy phạm quy định về quyền và trách nhiệm của Nhà nước đối với đất đai; quy hoạch, kế hoạch Sử dụng đất; phân loại đất; giao đất, cho thuê đất; giá đất; quyền và nghĩa vụ của người Sử dụng đất… Đối với quan hệ pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất, Nhà nước ban hành các quy phạm để quy định về phạm vi, căn cứ Thu hồi đất; nguyên tắc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất; điều kiện được bồi thường và các trường hợp không được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất; nội dung và phương thức bồi thường về đất; các chính sách hỗ trợ và Tái định cư; trình tự, thủ tục thu hồi và bồi thường; khiếu nại và tố cáo… Có thể nói, pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất là chế định quan trọng của pháp luật đất đai ở nước ta, bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh khi Nhà nước thu hồi đất. Luận văn: Pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất.

Từ các phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm như sau: “Pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh khi Nhà nước thu hồi đất”.

Các quy phạm pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền lợi chính đáng của người Sử dụng đất; giải quyết hài hòa lợi ích của Nhà nước, của người có đất bị thu hồi và của nhà đầu tư; góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh và duy trì trật tự xã hội; tăng cường hội nhập quốc tế và tạo môi trường đầu tư thuận lợi nếu các quy phạm này phù hợp và đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn. Ngược lại, các quy phạm này cũng có thể ảnh hưởng tiêu cực đến quyền lợi của người Sử dụng đất, của Nhà nước và nhà đầu tư, cản trở phát triển kinh tế – xã hội, đe dọa gây bất ổn xã hội nếu các quy phạm được ban hành xa rời thực tiễn, không giải quyết thỏa đáng và hài hòa lợi ích các bên.

  • Đặc điểm của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất sau:
  • Pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở nước ta có một số đặc điểm cơ bản

Thứ nhất, pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất chịu sự chi phối của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai. Do đường lối, quan điểm của Đảng và Hiến pháp xác định đất đai không thuộc quyền sở hữu của người Sử dụng đất mà thuộc về toàn dân, Nhà nước đại diện chủ sở hữu trao quyền Sử dụng đất cho từng người Sử dụng đất nên pháp luật đất đai quy định khi cần thiết thì Nhà nước có quyền thu hồi. Vì thế, chúng ta thấy rằng xuyên suốt quá trình thu hồi và bồi thường, ý chí và quyền lực Nhà nước gần như thể hiện tuyệt đối, người Sử dụng đất tham gia vào quan hệ này một cách bất bình đẳng. Toàn bộ quá trình Thu hồi đất và giải quyết khiếu nại, tố cáo đều do các cơ quan Nhà nước thực hiện và quyết định. Người có đất bị thu hồi có quyền kiến nghị, yêu cầu, khiếu nại, tố cáo nhưng quyền quyết định cuối cùng thuộc về Nhà nước. Điều này dễ dẫn đến cơ chế “vừa đá bóng, vừa thổi còi” và là nguyên nhân của sự lạm quyền, độc quyền trong quá trình thực thi.

Thứ hai, điểm căn bản của pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất là phải giải quyết mâu thuẫn giữa việc phải bảo vệ quyền tài sản của người Sử dụng đất đối với quyền Sử dụng đất và việc phải Thu hồi đất cho nhu cầu quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế – xã hội gắn liền với việc bảo đảm sự hài hòa lợi ích của các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật này. Rõ ràng nhu cầu về đất để phục vụ cho quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế – xã hội là tất yếu khách quan nhưng quyền tài sản đối với quyền Sử dụng đất của người Sử dụng đất hợp pháp phải được pháp luật bảo vệ. Nhiệm vụ quan trọng của pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất là phải giải quyết được mâu thuẫn và hài hòa các lợi ích này.

Thứ ba, pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở nước ta được xây dựng và hoàn thiện trong điều kiện việc Sử dụng đất thường xuyên biến động nhưng công tác quản lý đất đai chưa hiệu quả. Thực tế Sử dụng đất ở nước ta thường xuyên biến động về diện tích, loại đất, chủ Sử dụng đất; việc Sử dụng đất lấn chiếm, Sử dụng đất sai mục đích thường xuyên diễn tra; công tác quản lý đất đai lỏng lẻo, thậm chí là buông lỏng công tác quản lý; cơ sở dữ liệu đất đai, đăng ký đất đai còn nhiều hạn chế; việc quản lý và xác lập quyền Sử dụng đất cho người Sử dụng đất được thực hiện bởi nhiều cơ quan khác nhau, nhiều loại giấy tờ về quyền Sử dụng đất khác nhau hoặc Sử dụng đất không có giấy tờ. Đây là những nguyên nhân gây nhiều khó khăn và cũng là những vấn đề cần phải quan tâm khi xây dựng, hoàn thiện các quy định bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất.

1.2.2 Vai trò của pháp luật bồi thường về đất khi nhà nước thu hồi đất Luận văn: Pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất.

Pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất với tư cách là một chế định đặc thù trong quản lý Nhà nước về đất đai, nên nó có các vai trò sau:

Thứ nhất, pháp luật mang những đặc trưng mà các biện pháp quản lý khác không có được, đó là: tính quy phạm, tính bắt buộc chung, tính cưỡng chế và tính thích ứng. Nhờ pháp luật mà Nhà nước có thể giải quyết hài hòa lợi ích của Nhà nước, của cộng đồng. Lợi ích của người bị thu hồi đất và lợi ích của doanh nghiệp, chủ đầu tư.

Đất đai thuộc sở hữu nhà nước, nhưng bản thân Nhà nước cũng không thể tham gia vào các quan hệ pháp luật đất đai cụ thể mà phải thông qua các cơ quan thuộc bộ máy nhà nước như Quốc hội, Chính phủ, các bộ, Ủy ban nhân dân các cấp … Do vậy, việc xác định các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong xác định và thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền sở hữu và quản lý đất đai đặc biệt là việc bồi thường trong trường hợp thu hồi đất có vai trò đặc biệt quan trọng.

Là chủ sở hữu, Nhà nước có đầy đủ ba quyền năng đối với đất đai là quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt. Nhà nước không thể trực tiếp sử dụng toàn bộ vốn đất của mình mà chủ yếu thực hiện một cách gián tiếp thông qua người sử dụng đất. Cụ thể là, thông qua các hoạt động mang tính quyền lực, Nhà nước trao quyền sử dụng đất của mình cho người sử dụng với những quyền và nghĩa vụ xác định đối với từng loại đất, loại chủ thể và từng hình thức sử dụng cụ thể. Trên cơ sở quyền được trao, người sử dụng đất trực tiếp tiến hành việc khai thác sử dụng đất đai và phải thực hiện nghĩa vụ trả địa tô cho Nhà nước thông qua các nghĩa vụ như nộp tiền thuê đất, thuế sử dụng đất… Luận văn: Pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất.

Nhà nước không chỉ tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai với tư cách là chủ sở hữu mà còn với tư cách là chủ thể của quyền lực công thực hiện vai trò quản lý xã hội nói chung và phải có trách nhiệm trước toàn dân trong việc bảo vệ và thực hiện quyền sở hữu toàn dân.

Thứ hai, pháp luật quy định các trình tự, thủ tục thu hồi và phương thức giải quyết hậu quả do việc thu hồi đất gây ra. Thu hồi đất vừa là một hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, là công cụ hữu hiệu bảo vệ quyền sở hữu nhà nước đối với đất đai. Để bảo đảm hạn chế thấp nhất việc khiếu kiện, gây khó khăn khi Nhà nước thu hồi đất.

Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện chủ sở hữu. Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của Luật Đất đai và có ý nghĩa quyết định đến hoạt động quản lý và sử dụng đất đai hiện nay. Điều này đã xác định rõ trách nhiệm của Nhà nước và cụ thể hơn là của các cơ quan nhà nước, các cá nhân có thẩm quyền với tư cách là đại diện chủ sở hữu trước toàn dân với tư cách là chủ sở hữu đất đai.

Thực hiện có hiệu quả quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai, bảo đảm sự công bằng, linh hoạt trong việc điều phối đất đai và điều tiết giá trị tạo ra từ đất. Bảo vệ được quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai cả về nội dung và hình thức, bảo hộ và bảo đảm thực hiện có hiệu quả quyền và lợi ích chính đáng của người sử dụng đất.

Trong quá trình thu hồi đất cần phải đặc biệt chú ý đến những đặc tính tự nhiên của đất đai và nhu cầu xã hội đảm bảo việc khoanh định các loại đất để thu hồi sử dụng vào các mục đích khác nhau phù hợp với công năng của đất và nhu cầu thực tiễn.

Thứ ba, Nhà nước thu hồi đất ảnh hưởng đến lợi ích thiết thực của các bên liên quan mà trước hết của người sử dụng đất.

Trong hoạt động quản lý và sử dụng đất, các cơ quan quản lý nhà nước và người sử dụng đất phải tuân thủ đúng quy định của pháp luật đất đai như một yêu cầu sơ đẳng và tối thượng theo nguyên tắc pháp chế. Đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng về đất đai không thể áp dụng trực tiếp mà phải được thể chế hóa dưới dạng các quy định của pháp luật.

Thu hồi đất khi đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt có giá trị như một văn bản pháp quy kỹ thuật và phải được áp dụng làm căn cứ trong quản lý đất đai theo quy định của pháp luật. Nhằm đảm bảo lợi ích hài hòa của người sử dụng đất thì quy trình thu hồi đất cũng như giá đất bồi thường phải được dựa trên cơ sở bảo đảm tính hợp lý, mang tính khả thi tránh tình trạng thu hồi đất để thành dự án treo, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người sử dụng đất hoặc việc thu hồi đất tùy tiện vì lợi ích của cá nhân, bộ phận. Luận văn: Pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất.

Thu hồi đất có một điểm chung là dẫn đến hậu quả pháp lý chấm dứt quyền sử dụng đất của người sử dụng đất hoặc quyền quản lý đất đai của các chủ thể được Nhà nước giao đất để quản lý.

Có thể thấy, trong mối quan hệ giữa Nhà nước và người sử dụng đất thì thu hồi đất là quá trình đối lập với hoạt động giao đất, cho thuê đất. Khi bị thu hồi đất, người sử dụng đất không còn quyền sử dụng đất với đất bị thu hồi và đương nhiên không còn quyền “chiếm hữu”, tác động vào diện tích đất đó nữa.

Do đó, việc thu hồi đất trước hết có tác dụng bảo vệ quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai vì nó sẽ làm chấm dứt hành vi xâm hại đất đai của những chủ thể vi phạm pháp luật đất đai. Thu hồi đất là một tiến trình quan trọng của quá trình điều phối đất đai. Vì thế, pháp luật về thu hồi đất có vai trò rất quan trọng trong việc thu hồi đất.

1.2.3 Nội dung pháp luật bồi thường về đất khi nhà nước thu hồi đất

Nội dung pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất như sau: các quy định chung về bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất, bao gồm các quy định về phạm vi và đối tượng được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất; các quy định về căn cứ Thu hồi đất; các quy định về nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất; các quy định về giá đất để tính tiền bồi thường; các quy định về điều kiện để được bồi thường về đất và các trường hợp không được bồi thường về đất.

Phạm vi và đối tượng được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất là những quy định xác định Nhà nước bồi thường khi Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng và xác định những người Sử dụng đất được bồi thường, bao gồm Hộ gia đình, cá nhân, tổ chức kinh tế, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài… Luận văn: Pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất.

Căn cứ Thu hồi đất là những quy định cho phép Nhà nước được Thu hồi đất cho mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Những quy định này cho phép nhưng cũng giới hạn quyền của Nhà nước khi Thu hồi đất. Theo đó Nhà nước chỉ được Thu hồi đất dựa trên những căn cứ và thuộc những trường hợp đã được pháp luật quy định, ngoài những căn cứ này thì Nhà nước không được quyền Thu hồi đất.

Nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất là những quy định mang tính nền tảng tạo cơ sở cho việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, bao gồm các nguyên tắc sau: Người bị Thu hồi đất được bồi thường khi có đủ các điều kiện theo quy định; việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất thì được bồi thường bằng tiền; giá đất để tính bồi thường là giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định Thu hồi đất; việc Thu hồi đất phải đảm bảo dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng pháp luật.

Giá đất để tính tiền bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất là giá đất theo mục đích đang sử dụng tại thời điểm có quyết định thu hồi đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh công bố theo quy định của Chính phủ, không bồi thường theo giá đất sẽ được chuyển mục đích sử dụng. Đây là giá đất cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm có quyết định thu hồi đất đối với từng trường hợp thu hồi đất. Cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh trình Hội đồng thẩm định giá đất do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh làm chủ tịch xem xét trước khi trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định theo quy định tại điểm đ khoản 4 Điều 114 của Luật Đất đai năm 2013.

Điều kiện để được bồi thường về đất và các trường hợp không được bồi thường về đất là những yêu cầu đối với người Sử dụng đất để được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất. Tùy từng chủ thể Sử dụng đất, cách thức được Sử dụng đất (được giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền Sử dụng đất, nhận chuyển quyền Sử dụng đất), thời điểm bắt đầu Sử dụng đất và quá trình Sử dụng đất, nghĩa vụ tài chính đã thực hiện mà pháp luật quy định cụ thể điều kiện để được bồi thường về đất và những trường hợp không được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất. Về cơ bản, pháp luật quy định điều kiện để được bồi thường và không được bồi thường về đất căn cứ vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng; Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền Sử dụng đất ở; Giấy chứng nhận quyền sử dụng, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) hoặc đất đủ điều kiện hay không đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Nhà nước có nghĩa vụ phải bồi thường cho người có đất bị thu hồi khi họ có đủ điều kiện theo quy định, và ngược lại phải từ chối bồi thường nếu thuộc trường hợp không được bồi thường.

1.2.4 Các trường hợp cụ thể về bồi thường đất khi nhà nước thu hồi đất cho người có đất bị thu hồi Luận văn: Pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất.

  • Bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân

Theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Luật Đất đai năm 2013 thì nhóm đất nông nghiệp bao gồm: Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác; Đất trồng cây lâu năm; Đất rừng sản xuất; Đất rừng phòng hộ; Đất rừng đặc dụng; Đất nuôi trồng thủy sản; Đất làm muối; Đất nông nghiệp khác gồm đất sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép; đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm; đất ươm tạo cây giống, con giống và đất trồng hoa, cây cảnh.

Có thể thấy, hiện nay Việt Nam có trên 64 triệu người sống ở nông thôn và đa số trong số đó là làm nông nghiệp. Vì thế, đất nông nghiệp đóng vai trò rất quan trọng trong tạo sinh kế cho người nông dân, trường hợp người sử dụng đất nông nghiệp theo quy định của pháp luật bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi đất thì được bồi thường.

Khi đó, theo quy định tại Điều 77 của Luật Đất đai năm 2013 thì hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất thì được bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại theo quy định sau đây:

  • Một là, diện tích đất nông nghiệp được bồi thường bao gồm diện tích trong hạn mức và diện tích đất do được nhận thừa kế.
  • Hai là, đối với diện tích đất nông nghiệp vượt hạn mức thì không được bồi thường về đất nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại.
  • Ba là, đối với diện tích đất nông nghiệp do nhận chuyển quyền sử dụng đất vượt hạn mức trước ngày Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực thi hành thì việc bồi thường, hỗ trợ được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

Đối với đất nông nghiệp đã sử dụng trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà người sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp nhưng không có Giấy chứng nhận hoặc không đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này thì được bồi thường đối với diện tích đất thực tế đang sử dụng, diện tích được bồi thường không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp.

Vấn đề này tiếp tục được hướng dẫn tại Nghị định số 47/2014/NĐ-CP của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Tại Điều 4 của Nghị định quy định rõ về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp vượt hạn mức do nhận chuyển quyền sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân. Qua đó, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất nông nghiệp vượt hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 do được thừa kế, tặng cho, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ người khác theo quy định của pháp luật mà đủ điều kiện được bồi thường thì được bồi thường, hỗ trợ theo diện tích thực tế mà Nhà nước thu hồi. Đối với trường hợp hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất nông nghiệp quy định tại khoản 1 Điều này nhưng không có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật Đất đai thì chỉ được bồi thường đối với diện tích đất trong hạn mức giao đất nông nghiệp. Đối với phần diện tích đất nông nghiệp vượt hạn mức giao đất nông nghiệp thì không được bồi thường về đất nhưng được xem xét hỗ trợ theo quy định tại Điều 25 của Nghị định số 47/2014/NĐ-CP. Luận văn: Pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất.

Bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của tổ chức kinh tế, tổ chức sự nghiệp công lập tự chủ tài chính, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo Theo Điều 78 của Luật Đất đai năm 2013 quy định cụ thể như sau:

Thứ nhất, tổ chức kinh tế đang sử dụng đất nông nghiệp được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất, nếu có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật Đất đai mà chưa được cấp thì được Nhà nước bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại khi thu hồi đất thì được bồi thường về đất; mức bồi thường về đất được xác định theo thời hạn sử dụng đất còn lại.

Thứ hai, tổ chức kinh tế, tổ chức sự nghiệp công lập tự chủ tài chính đang sử dụng đất nông nghiệp được Nhà nước cho thuê trả tiền thuê đất hàng năm khi Nhà nước thu hồi đất thì không được bồi thường về đất nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại nếu chi phí này không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước. Trường hợp đất nông nghiệp không phải là đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất là rừng tự nhiên của tổ chức kinh tế đã giao khoán cho hộ gia đình, cá nhân theo quy định của pháp luật khi Nhà nước thu hồi đất thì hộ gia đình, cá nhân nhận khoán không được bồi thường về đất nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại.

Thứ ba, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất mà không phải là đất nông nghiệp do Nhà nước giao đất, cho thuê đất và có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật Đất đai mà chưa được cấp thì được bồi thường về đất.

Với trường hợp này, được quy định cụ thể tại Điều 5 của Nghị định số 47/2014/NĐ-CP của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.

Như vậy, có thể thấy pháp luật hiện hành không chỉ quy định cụ thể về bồi thường nhà nước khi thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân mà còn quy định cụ thể về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của tổ chức kinh tế, tổ chức sự nghiệp công lập tự chủ tài chính, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, nhằm góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể sử dụng đất đều được nhà nước đối xử bình đẳng khi thu hồi đất.

  • Bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở Luận văn: Pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất.

Người sử dụng đất bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở trong những trường hợp sau, cụ thể:

Thứ nhất, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam mà có đủ điều kiện được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất thì được bồi thường, theo đó trường hợp không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi thì được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở; trường hợp không có nhu cầu bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở thì Nhà nước bồi thường bằng tiền. Trường hợp còn đất ở, nhà ở trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi thì được bồi thường bằng tiền. Đối với địa phương có điều kiện về quỹ đất ở thì được xem xét để bồi thường bằng đất ở.

Thứ hai, hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở phải di chuyển chỗ ở mà không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở, nếu không có chỗ ở nào khác thì được Nhà nước bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở hoặc giao đất ở có thu tiền sử dụng đất.

Thứ ba, tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang sử dụng đất để thực hiện dự án xây dựng nhà ở khi Nhà nước thu hồi đất, nếu có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật Đất đai mà chưa được cấp thì được bồi thường về đất.

Chính phủ đã quy định chi tiết Điều này tại Điều 6 của Nghị định số 47/2014/NĐ- CP của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Tiếp đó, khoản 5 Điều 6 của Nghị định 47/2014/NĐ-CP được hướng dẫn chi tiết tại Thông tư số 37/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Cụ thể, tại Điều 4 của Thông tư số 37/TT-BTNMT quy định rõ tái định cư trên diện tích đất còn lại của thửa đất có nhà ở khi nhà nước thu hồi đất. Luận văn: Pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất.

Như vậy, quy định trên đã đảm bảo quyền có chỗ ở cho người sử dụng đất bị thu hồi, tranh sự xáo trộn về chỗ ở, sinh hoạt cũng như công việc của người sử dụng đất giúp ổn định trật tự an toàn xã hội.

  • Trường hợp Nhà nước thu hồi đất không được bồi thường về đất

Theo quy định của pháp luật hiện hành thì đa số các trường hợp nhà nước sẽ phải bồi thường về đất khi thu hồi đất, nhưng cũng có những trường hợp nhà nước sẽ không bồi thường về đất khi thu hồi đất, như:

Một là, đất được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất, trừ trường hợp đất nông nghiệp được Nhà nước giao cho hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối được giao đất nông nghiệp trong hạn mức. Đất được Nhà nước giao cho tổ chức thuộc trường hợp có thu tiền sử dụng đất nhưng được miễn tiền sử dụng đất. Đất được Nhà nước cho thuê trả tiền thuê đất hàng năm; đất thuê trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê nhưng được miễn tiền thuê đất, trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất thuê do thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng. Đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn. Đất nhận khoán để sản xuất nông lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối.

  • Hai là, đất được Nhà nước giao để quản lý.

Ví dụ: Đất giao cho Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý nay nhà nước thu hồi để sử dụng vào mục đích nhất định thì không phải bồi thường về đất.

  • Ba là, đất thu hồi trong các trường hợp sau đây:

Sử dụng đất không đúng mục đích đã được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất và đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng đất không đúng mục đích mà tiếp tục vi phạm; Người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất; Đất được giao, cho thuê không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền; Đất không được chuyển nhượng, tặng cho theo quy định của Luật này mà nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho; Đất được Nhà nước giao để quản lý mà để bị lấn, chiếm; Đất không được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này mà người sử dụng đất do thiếu trách nhiệm để bị lấn, chiếm; Người sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà không chấp hành; Đất trồng cây hàng năm không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục; đất trồng cây lâu năm không được sử dụng trong thời hạn 18 tháng liên tục; đất trồng rừng không được sử dụng trong thời hạn 24 tháng liên tục; Đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục hoặc tiến độ sử dụng đất chậm 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa phải đưa đất vào sử dụng; trường hợp không đưa đất vào sử dụng thì chủ đầu tư được gia hạn sử dụng 24 tháng và phải nộp cho Nhà nước khoản tiền tương ứng với mức tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với thời gian chậm tiến độ thực hiện dự án trong thời gian này; hết thời hạn được gia hạn mà chủ đầu tư vẫn chưa đưa đất vào sử dụng thì Nhà nước thu hồi đất mà không bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp do bất khả kháng. Luận văn: Pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất.

Nhà nước cũng không bồi thường về đất trong các trường hợp thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người như: Tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất; người sử dụng đất thuê của Nhà nước trả tiền thuê đất hàng năm bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất; Cá nhân sử dụng đất chết mà không có người thừa kế; Người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất; Đất được Nhà nước giao, cho thuê có thời hạn nhưng không được gia hạn.

Bốn là, trường hợp không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này, trừ trường hợp đối với đất nông nghiệp đã sử dụng trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà người sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp nhưng không có Giấy chứng nhận hoặc không đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này thì được bồi thường đối với diện tích đất thực tế đang sử dụng, diện tích được bồi thường không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Thu hồi đất là một trong những vấn đề phức tạp trong tình hình hiện nay. Điều này được thể hiện rõ khi có vô số vấn đề phức tạp phát sinh do chính sách và pháp luật của nhà nước chưa bao quát hết các vấn đề thực tiễn , lại thay đổi liên tục, còn nhiều kẽ hở, thậm chí là mâu thuẫn và bất hợp lý, thêm vào đó các quy định của pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất quá nhanh tác động trực tiếp đến kinh tế lợi ích giữa người bị thu hồi – nhà nước – nhà đầu tư .Thu hồi đất là việc Nhà nước ban hành quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người sử dụng đất để sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, công cộng hoặc người sử dụng đất vi phạm pháp luật quy định về đất đai. Trong đó, vấn đề bồi thường khi thu hồi đất lại là vấn đề được quan tâm hàng đầu trong công tác thu hồi đất. Bởi vì, người có đất bị thu hồi sẽ được Nhà nước bù đắp những thiệt hại để bảo vệ quyền và lợi ích của mình khi bị ảnh hưởng việc thu hồi đất. Đó là việc bồi thường về đất bằng một số tiền cụ thể hoặc những trường hợp không thỏa mãn điều kiện bồi thường về đất thì sẽ được bồi thường chi phí đầu tư còn lại vào đất bằng một số tiền cụ thể nhằm bù đắp những thiệt hại cho người có đất bị thu hồi. Vậy biện pháp nào để khắc phục những thiếu sót hạn chế mà cơ quan cá nhân có thẩm quyền do chưa thực hiện đúng quy định của pháp luật gây ra nhứng thiệt hại không đáng có khi giải quyết quyền lợi cho người có đất bị thu hồi. Do đó việc nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất thông qua thực tiễn áp dụng là rất thiệt thực về mặt lý luận và thực tiễn. Luận văn: Pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Quy định pháp luật bồi thường về đất khi NN thu hồi đất

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464