Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp Luật bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực hiện pháp Luật Bình đẳng giới trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ nữ tỉnh Phú Thọ dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử loài người từ trước đến nay, phụ nữ bao giờ cũng là lực lượng quan trọng trong đời sống xã hội. Trong công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt am, phụ phụ nữ đã góp phần to lớn vào những chiến công vĩ đại của dân tộc. Ngày nay, bằng lao động sáng tạo của mình, phụ nữ đã góp phần làm giàu cho xã hội, làm phong phú cuộc sống của con người. Vai trò, vị trí và những đóng góp của người phụ nữ trong xã hội ngày càng được khẳng định. Trong suốt quá trình cách mạng, Ðảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm lãnh đạo công tác phụ nữ và thực hiện mục tiêu bình đẳng giới; Chiến lược Quốc gia về ình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 khẳng định: Vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ nữ ngày càng trở thành nhân tố quan trọng để đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới đất nước, thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”. Chính vì vậy Đảng và Nhà nước ta đã xây dựng và ban hành Luật Bình đẳng giới nhằm quy định nguyên tắc ình đẳng giới trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình. Trong những năm qua việc thực hiện Luật Bình đẳng giới nói chung, cũng như thực hiện Luật Bình đẳng giới trong công tác xây dựng, đào tạo đội ngũ cán bộ nữ luôn được các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các ngành quan tâm chỉ đạo, triển khai và thực hiện nên đã có sự chuyển biến cơ bản trong nhận thức, tư duy và trong tổ chức thực hiện. Đội ngũ cán bộ nữ tham gia các cơ quan trong hệ thống chính trị cũng như cán bộ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị ngày càng có xu hướng tăng, chất lượng đội ngũ cán bộ nữ ngày càng được chuẩn hoá và nâng cao. Tuy nhiên, trên thực tế việc thực hiện Luật Bình đẳng giới và công tác xây dựng đội ngũ cán bộ nữ trong giai đoạn hiện nay đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và mục tiêu ình đẳng giới vẫn còn nhiều mặt hạn chế, đồng thời lại có những vấn đề mới đặt ra với nhiều thách thức:
Đội ngũ cán bộ nữ vẫn còn bộc lộ những bất cập về kiến thức, năng lực, trình độ, kỹ năng trước những yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới; phụ nữ bị hạn chế hơn nam giới về cơ hội đào tạo và tham gia công tác do còn bị ràng buộc bởi vai trò thiên chức của người phụ nữ. Nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền ở nhiều địa phương, đơn vị về vai trò, năng lực của phụ nữ và tầm quan trọng của công tác cán bộ nữ còn hạn chế. Dẫn đến hạn chế trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo trong tuyển dụng, tiếp nhận, đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ nữ. Số lượng phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý tỷ lệ còn thấp, chưa tương xứng với năng lực và sự phát triển của lực lượng lao động nữ, nguồn cán bộ nữ hẫng hụt, ở một số lĩnh vực, tỷ lệ cán bộ nữ sụt giảm. Luận văn: Pháp Luật bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
Trước những yêu cầu bức thiết của việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thực tế địa phương, tôi nhận thấy hiện nay, việc xây dựng đội ngũ Cán bộ nữ của tỉnh Phú Thọ là cần thiết, đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH và mục tiêu Bình đẳng giới.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài “Thực hiện pháp Luật Bình đẳng giới trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ nữ tỉnh Phú Thọ” làm luận văn thạc sĩ Luật học.
2. Mục tiêu của luận văn
2.1. Mục tiêu tổng quát
Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hiện Luật Bình đẳng giới trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ nữ, đánh giá thực trạng công tác xây dựng đội ngũ cán bộ nữ trong các cơ quan Đảng, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể, các ở, ban, ngành trên địa bàn tỉnh Phú Thọ. Trên cơ sở đó, tác giả luận văn cũng đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần đưa Luật Bình đẳng giới đi vào cuộc sống và xây dựng đội ngũ cán bộ nữ của tỉnh Phú Thọ, đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và mục tiêu ình đẳng giới.
2.2. Mục tiêu cụ thể
Luận văn có nhiệm vụ làm rõ các “từ khóa” chính nằm trong chính tên đề tài như: Bình đẳng giới; thực hiện pháp luật bình đẳng giới; cũng như các vấn đề liên quan đến cán bộ nữ, xây dựng đội ngũ cán bộ nữ, những yêu cầu, đòi hỏi về chất lượng, số lượng đội ngũ cán bộ nữ trong sự nghiệp đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
Tiếp đó luận văn có nhiệm vụ phân tích, đánh giá thực trạng việc thực hiện Luật Bình đẳng giới và việc xây dựng đội ngũ cán bộ nữ ở tỉnh Phú Thọ, chỉ rõ những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân của hạn chế và các vấn đề đặt ra cần phải giải quyết.
Cuối cùng, trên cơ sở những kết quả nghiên cứu sau khi giải quyết các nhiệm vụ trên, tác giả luận văn sẽ đề xuất các giải pháp nhằm góp phần đưa Luật Bình đẳng giới đi vào cuộc sống và giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ nữ tỉnh Phú Thọ đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH và mục tiêu Bình đẳng giới.
3. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Luận văn: Pháp Luật bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
Do tầm quan trọng của vấn đề bình đẳng giới và việc thực hiện pháp luật Bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị và lao động, cho đến nay đã có nhiều đề tài khoa học, công trình nghiên cứu về thực hiện pháp luật bình đẳng giới liên quan đến đề tài nghiên cứu của luận văn, cụ thể là:
- Bài viết“Quan niệm về bình đẳng giới” đăng trên Tạp chí Luật học. Trường Đại học Luật Hà Nội. Số đặc san về bình đẳng giới/2005, trang 59-63 của tác giả Nguyễn Thanh Tâm
- Bài viết “Vấn đề bình đẳng giới trên thế giới” đăng trên Tạp chí Luật học. Trường Đại học Luật Hà Nội, Số Đặc san về bình đẳng giới/2005, trang 64
- 72 của tác giả Nguyễn Thị Hồi .
- Bài viết“Suy nghĩ về bình đẳng giới” đăng trên Tạp chí Luật học. Trường Đại học Luật Hà Nội, Số 3/2008, trang 3 – 8 của tác giả Nông Quốc Bình
- Bài viết “Luật bình đẳng giới với vai trò của phụ nữ trong quản lý nhà nước và xã hội” đăng trên Tạp chí Quản lý Nhà nước, Học viện hành chính. Số 10/2010, tr.46-49 của tác giả Dương Thanh Xuân.
Những công trình kể trên đã nghiên cứu và chỉ ra cơ sở lý luận về quan niệm bình đẳng giới, suy nghĩ về thực trạng bình đẳng giới ở Việt Nam và trên thế giới hiện nay. Luận văn: Pháp Luật bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
Bên cạnh đó, còn có nhóm công trình nghiên cứu về thực hiện pháp luật bình đẳng giới, các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật bình đẳng giới và vấn đề đưa các quy định pháp luật bình đẳng giới vào cuộc sống như:
- Bài viết “Bình đẳng giới trong thực hiện chính sách giáo dục – đào tạo” đăng trên Tạp chí Quản lý nhà nước. Học viện Hành chính, Số 10/2006, trang 22-25 của tác giả Đinh Thị Minh Tuyết
- Bài viết “Các qui định về bình đẳng giới trong lĩnh vực luật lao động, đối chiếu và khuyến nghị” đăng trên Tạp chí Luật học. Trường Đại học Luật Hà Nội, Số 3/2007, trang 61 – 68 của tác giả Nguyễn Thị Kim Phụng
- Bài viết“Vấn đề bình đẳng giới và những bảo đảm trong pháp luật lao động Việt Nam” của tác giả Đào Thị Hằng
- Công trình“Hoàn thiện pháp luật về quyền lao động nữ ở Việt Nam hiện nay”, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, xuất bản năm 2000 của tác giả Dương Thị Ngọc Lan
- Bài viết“Những yếu tố xã hội tác động tới việc thực hiện pháp luật bình đẳng giới” của tác giả Bùi Thị Mừng, xuất bản năm 2008.
- Đặc san tuyên truyền pháp luật. Chủ đề Pháp luật về bình đẳng giới và kết quả thực hiện luật bình đẳng giới của tác giả Hà Thị Thanh Vân, xuất bản năm 2012).
- Bài viết“Vấn đề đưa các quy định của luật bình đẳng giới vào cuộc sống” đăng trên Tạp chí Luật học. Trường Đại học Luật Hà Nội, Số 3/2008, trang 25 – 30 của tác giả Trần Minh Hương
Nhìn chung các đề tài trên đây đều là các công trình nghiên cứu mang tầm khái quát, là nguồn tư liệu nghiên cứu, tham khảo có giá trị, mang tính lý luận và thực tiễn cao. Tuy vậy cho đến thời điểm hiện tại, chưa có đề tài luận văn, luận án nào đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống, cụ thể về thực hiện pháp luật bình đẳng giới trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ nữ cấp tỉnh (bao gồm cán bộ nữ cơ quan Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị – xã hội cấp tỉnh), cụ thể là của tỉnh Phú Thọ.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận về pháp luật bình đẳng giới; thực hiện pháp luật; cán bộ nữ như: khái niệm, lý luận về Bình đẳng giới; khái niệm về thực hiện pháp luật; khái niệm, đặc điểm cán bộ nữ; số lượng, chất lượng của đội ngũ cán bộ nữ; đánh giá thực trạng việc thực hiện Luật Bình đẳng giới trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ nữ; nghiên cứu những yêu cầu, đòi hỏi xây dựng đội ngũ cán bộ nữ để xác định các giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ nữ đảm bảo số lượng và chất lượng của tỉnh Phú Thọ. Luận văn: Pháp Luật bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
Cụ thể luận văn nghiên cứu việc Thực hiện pháp luật Bình đẳng giới trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ nữ các cơ quan Đảng, Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể chính trị – xã hội, các sở, ban, ngành trên địa bàn tỉnh Phú Thọ giai đoạn hiện nay và đề xuất giải pháp góp phần thực hiện hiệu quả Luật Bình đẳng giới, nhằm nâng cao chất lượng, số lượng đội ngũ cán bộ nữ của tỉnh Phú Thọ trong các năm tiếp theo.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở khoa học của chủ nghĩa Mác – Lên nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, về công tác tổ chức cán bộ, công tác cán bộ nữ. Cùng các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về thực hiện pháp luật bình đẳng giới nhằm đạt mục tiêu bình đẳng thực chất và tiến bộ xã hội. Trong đó, có chủ trương, quan điểm định hướng và phương hướng nhiệm vụ thực hiện pháp luật bình đẳng giới trong xây dựng đội ngũ cán bộ nữ của tỉnh Phú Thọ trong thời gian tới.
Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử kết hợp với phương pháp thống kê, so sánh, phỏng vấn sâu, phân tích và tổng hợp cũng như các phương pháp nghiên cứu khoa học khách quan khoa học khác… Đồng thời, luận văn cũng có kế thừa và phát triển kết quả các công trình nghiên cứu của các tác giả khác có liên quan đến vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ nữ.
6. Đóng góp khoa học của luận văn
Luận văn góp phần làm rõ thêm cơ sở lý luận và thực tiễn về thực hiện pháp luật bình đẳng giới trong xây dựng đội ngũ cán bộ nữ cấp tỉnh. Thông qua việc nghiên cứu vấn đề bình đẳng giới của Việt Nam, kinh nghiệm của một số nước trên thế giới và thực trạng việc thực hiện pháp luật bình đẳng giới của tỉnh Phú Thọ, luận văn làm sáng tổ những bất cập, hạn chế và những yếu tố rào cản trong việc thực hiện pháp luật bình đẳng giới trong xây dựng đội ngũ cán bộ nữ cấp tỉnh, từ đó đề xuất một số quan điểm mang tính định hướng và giải pháp tiếp tục thực hiện pháp luật bình đẳng giới, nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ nữ đảm bảo về số lượng, chất lượng, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và sự tiến bộ xã hội.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong việc hoạch định chính sách, sắp xếp tổ chức bộ máy và cán bộ đối với tỉnh Phú Thọ, đảm bảo mục tiêu Bình đẳng giới cũng như bổ sung tài liệu tham khảo cho cán bộ, sinh viên trong công tác, nghiên cứu và học tập.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về thực hiện pháp luật bình đẳng giới trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ nữ
- Chương 2: Thực trạng đội ngũ cán bộ nữ và việc thực hiện pháp luật Bình đẳng giới trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ nữ của tỉnh Phú Thọ.
- Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật Bình đẳng giới trong việc xây dựng dội ngũ cán bộ nữ của tỉnh Phú Thọ.
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG VIỆC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ NỮ
1.1. Khái niệm, đặc điểm thực hiện pháp luật Bình đẳng giới trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ nữ Luận văn: Pháp Luật bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
1.1.1. Những khái niệm cơ bản về bình đẳng giới và thực hiện pháp luật Bình đẳng giới
- Khái niệm, đặc điểm của giới tính và giới
Giới và giới tính là các khái niệm được dùng phổ biến ở nhiều Quốc gia trên thế giới và được sử dụng chính là để phân biệt sự khác nhau nào giữa nam và nữ là do “thiên chức” và sự khác nhau nào không phải là do “thiên chức”. Những khác biệt giữa nam và nữ do “thiên chức” hay “thiên bẩm”, “trời phú”, sinh ra đã có là những khác biệt hầu như không thay đổi được trong suốt cuộc đời con người. Những khác biệt giữa nam và nữ do người ta học được từ gia đình, nhà trường và giao tiếp xã hội chứ không phải sinh ra đã có mới là cái tạo nên sự bất bình đẳng nam-nữ mà ta cần phải đấu tranh và xóa bỏ [2, Tr12].
Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO) “Giới tính” chỉ các đặc điểm sinh học và sinh lí học giúp phân biệt được đàn ông và phụ nữ. Ví dụ như Hệ xương của người đàn ông thường phát triển hơn phụ nữ. “Giới” chỉ các vai trò, hành vi, các hoạt động và các thuộc tính do quan niệm xã hội hình thành nên được coi là chuẩn mực của nam giới và nữ giới. Giới chỉ các quan niệm, mong đợi và các chuẩn mực được công nhận rộng rãi liên quan đến phụ nữ và đàn ông. Chúng bao gồm cả những quan niệm về những đặc điểm và khả năng “điển hình” cho nữ giới và nam giới cũng như các mong đợi được chấp nhận rộng rãi về việc phụ nữ và đàn ông nên ứng xử như thế nào trong nhiều tình huống khác nhau. Những quan niệm và mong đợi này được truyền tải hằng ngày trong gia đình, giữa bạn bè, theo ý kiến các nhà lãnh đạo, theo các thể chế tôn giáo và văn hóa, trường học, nơi làm việc, quảng cáo và các phương tiện truyền thông. Chúng phản ánh và tác động lên các vai trò khác nhau mà phụ nữ và nam giới có thể thực hiện trong xã hội, cũng như vị trí, sức mạnh kinh tế.
Ở Việt Nam dưới góc độ khoa học pháp lý, khái niệm giới tính lần đầu tiên được quy định cụ thể tại khoản 2, điều 5, Luật Bình đẳng giới “Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ”. Như vậy, giới tính chỉ rõ sự khác biệt về sinh học giữa nam và nữ. Những đặc điểm mang tính bẩm sinh, hình thành từ trong bào thai. Thông thường mỗi người sinh ra đã mang các đặc điểm giới tính của nam hoặc nữ, mà không phụ thuộc vào mong muốn của cá nhân đó hay của cha, mẹ. Các đặc điểm của mọi người cùng giới tính về cơ bản là giống nhau, không hoặc ít thay đổi theo lịch sử hay điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, thể chế. Với tiến bộ khoa học, ngày nay người ta có thể phẫu thuật để chuyển đổi giới tính. Tuy vậy, các phẫu thuật chỉ tạo ra những thay đổi về hình thể mà không thay đổi được các chức năng sinh lý như: Nữ giới có trứng, có khả năng mang thai, sinh con, nuôi con bằng sữa của mình; nam giới có tinh trùng, có khả năng làm cho phụ nữ mang thai,…Trong khoản 1, điều 5, Luật Bình đẳng giới” “Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội”, có thể thấy bên cạnh cách giải thích có tính pháp lý nói trên, trong các tài liệu huấn luyện, truyền thông về giới ở Việt Nam trong thời gian qua còn đưa ra những cách giải thích khác nhau về thuật ngữ này. Ví dụ: “Giới chỉ sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới về vai trò, trách nhiệm, quyền hạn và cách ứng xử [9; tr7]. “Giới là một thuật ngữ xã hội bắt nguồn từ môn nhân chủng học, nói đến vai trò, trách nhiệm và quyền lợi quy định cho nam và nữ, bao gồm việc phân công lao động, các kiểu phân chia nguồn và lợi ích” [30, Tr6]. Điểm chung trong các cách giải thích khác nhau về thuật ngữ “giới” là “giới chỉ sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới về mặt xã hội. Các đặc điểm giới của nam và nữ hình thành và phát triển trong quá trình lớn lên của mỗi cá nhân với môi trường văn hóa, xã hội. Giới là sự “quy định” của xã hội về vai trò, trách nhiệm, quyền lợi và giá trị của nam và nữ. Như vậy, từ “giới” trong Luật bình đẳng giới có nghĩa hoàn toàn khác với từ “giới” trong từ điển tiếng việt, từ “giới” là từ chỉ “lớp người trong xã hội phân theo một đặc điểm rất chung nào đó, về nghề nghiệp, địa vị xã hội” như giới tiểu thương, giới quân sự, giới phụ nữ, giới thạo tin,…[12].
- Sự khác nhau giữa giới tính và giới Luận văn: Pháp Luật bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
“Giới tính” và “Giới” là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau, mặc dù hai khái niệm này đều xoay quanh vấn đề về con người, mà ở đây cụ thể là giữa người nam và người phụ nữ, song mỗi khái niệm đều mang những đặc điểm riêng biệt, chỉ những vấn đề khác nhau đối với một con người khi được sinh ra, lớn lên và tồn tại trong một xã hội. Khái niệm “giới tính” chỉ rõ là những khác biệt về mặt sinh học, mang tính phổ biến và không thể thay đổi được, có nghĩa là khi sinh ra, bẩm sinh đã có đối với mỗi giới nam và nữ và những đặc điểm này không thể thay đổi được theo thời gian, mặc dù ngày nay y học tiến bộ có can thiệp, tác động để thay đổi song sự thay đổi đó chỉ mang tính chất bề ngoài, ví dụ: nam giới có thể có tóc dài, có ngực,…nhưng không thể thay đổi được bản chất bên trong, hay nói cách khác đó là “thiên chức” của mỗi giới, ví dụ: nam giới có thể có tóc dài, có ngực nhưng không thể sinh con. Khái niệm “giới” chỉ rõ những khác biệt về mặt xã hội đối với từng người, từng giới nam hay nữ, không phải là bẩm sinh, sinh ra đã có mà những khác biệt này được hình thành do giáo dục, do môi trường sống và thay đổi được theo thời gian, thậm chí còn rất khác nhau giữa xã hội này với xã hội khác hay giữa những người sống trong cùng một xã hội. Ví dụ: giới văn nghệ sỹ, giới báo chí.
- Bảng 1.1. Các đặc điểm phân biệt giới tính và giới
Từ biểu phân biệt trên cho chúng ta nhận thấy rõ sự khác nhau giữa khái niệm “giới tính” và khái niệm “giới”. Sự phân biệt hai khái niệm “giới tính” và “giới” nhằm phân biệt hai loại đặc điểm của phụ nữ và nam giới: Một loại đặc điểm do yếu tố sinh học quy định – đặc điểm giới tính, loại đặc điểm thứ hai do quan niệm xã hội và sự phân công lao động xã hội tạo nên – đặc điểm giới. Như vậy, muốn đạt đến vấn đề bình đẳng giới tức là bình đẳng xã hội giữa nam và nữ thì vấn đề không phải là thay đổi các đặc điểm về giới tính, mà cần phải thay đổi quan niệm về vị trí, vai trò của phụ nữ và nam giới cũng như thay đổi những định kiến về giới, thay đổi về cách phân công lao động trong xã hội.
- Khái niệm Bình đẳng giới và lợi ích của thực hiện Bình đẳng giới
Bình đẳng giới theo quan niệm của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) Bình đẳng giới hoặc bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới, có nghĩa là bình đẳng về quyền lợi, nghĩa vụ, cơ hội, sự đối xử và sự đánh giá về phụ nữ và nam giới
- Trong công việc và tại doanh nghiệp
- Trong mối quan hệ giữa công việc và cuốc sống.
Có nghĩa tất cả mọi người đều cần được đối xử một cách tôn trọng và được thể hiện hết khả năng của mình, nhằm mang đến cuộc sống có chất lượng tốt hơn cho mọi người, điều này không có nghĩa là phụ nữ và nam giới cần phải giống hệt nhau trong mọi việc. Phụ nữ và nam giới có thể và thực tế rất khác nhau nhưng cần có quyền bình đẳng về trách nhiệm, quyền lợi, cơ hội, được đối xử và đánh giá một cách công bằng. Luận văn: Pháp Luật bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
Ở Việt Nam, thuật ngữ “Bình đẳng giới” lần đầu tiên được quy định tại Khoản 3, điều 5, Luật Bình đẳng giới, “Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó”.
Bình đẳng giới là một thuật ngữ trong hệ thống lý thuyết về giới. Bình đẳng giới được xây dựng trên cơ sở thừa nhận giữa nam và nữ có sự khác biệt về giới tính và giới. Đồng thời khẳng định:
- Nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau (mọi đặc điểm giống và khác nhau giữa nam và nữ đều được thừa nhận và tôn trọng)
- Nam và nữ được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình.
Hưởng thụ như nhau thành quả sự phát triển của gia đình và cộng đồng. Cụ thể: Trong gia đình, phụ nữ và nam giới cùng: Tôn trọng lẫn nhau; chia sẻ công việc gia đình; bàn bạc, quyết định mọi công việc gia đình; giúp đỡ động viên nhau trong học tập và tham gia công việc xã hội; không có hành vi bào lực làm tổn thương đến tình cảm, tinh thần, thể chất của nhau. Ngoài xã hội, phụ nữ và nam giới cùng: Có địa vị và quyền như nhau trong mọi lĩnh vực: Chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình; các quyền bình đẳng của nam giới và phụ nữ được pháp luật bảo vệ. Có cơ hội như nhau trong sử dụng và quản lý các nguồn lực như: đều được vay vốn, được đào tạo nghề, học tập, nâng cao trình độ, chuyển giao công nghệ mới, được cung cấp thông tin, được đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,…Cùng hưởng lợi công bằng và bình đẳng những thành quả của sự phát triển như: được thụ hưởng văn hóa, văn nghệ, được chăm sóc về sức khỏe, dinh dưỡng, được hưởng tiền công, tiền lương bình đẳng. Cùng bình đẳng trong tham gia bàn bạc và ra quyết định, thực hiện dân chủ cơ sở, tham gia vào các vị trí lãnh đạo, quản lý như: cùng được tham gia bàn bậc các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội ở địa phương, cùng được tham gia phát biểu ý kiến, đề xuất nguyện vọng. Các ý kiến của phụ nữ đều được tôn trọng, lắng nghe và được giải quyết như ý kiến của nam giới, phụ nữ và nam giới cùng được tham gia vào các vị trí lãnh đạo Đảng, chính quyền, đoàn thể, các ngành ở địa phương [9; Tr23,24]
Như vậy, Bình đẳng giới không chỉ quan tâm đến quyền bình đẳng, cơ hội bình đẳng mà còn quan tâm đến khả năng sử dụng quyền, khả năng nắm bắt cơ hội để có được kết quả là nam và nữ được thụ hưởng như nhau thành quả của sự phát triển. Vì vậy, nếu trong một bối cảnh cụ thể do sự khác biệt về giới tính hoặc giới, gây bất lợi cho nam hoặc nữ, cản trở họ sử dụng quyền, nắm bắt cơ hội thì cần áp dụng biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới hoặc biện pháp bảo vệ và hỗ trợ người yếu thế trong xã hội, ví dụ: trong pháp luật chúng ta đã có các quy định như nhau giữa nam và nữ, cụ thể: trong Luật bầu cử quy định nam và nữ bình đẳng trong bầu cử và ứng cử và Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, nhưng trên thực tế cho thấy từ trước đến nay, tỷ lệ nữ trong quốc hội, Hội đồng nhân dân ở các cấp luôn thấp hơn nam, điều này dẫn đến việc những quy định nam, nữ bình đẳng trong luật bầu cử chỉ mang tính hình thức mà chưa có bình đẳng thực chất, vì vậy cần có biện pháp để thúc đẩy bình đẳng giới, khắc phục những bất lợi có sự khác biệt về giới mang lại cho nam hoặc nữ như quy định rõ tỷ lệ nữ tham gia đại biểu quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, tham gia cấp ủy các cấp và giữ các chức vụ chủ chốt trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể – chính trị; có cơ chế tạo điều kiện hỗ trợ cho nữ tham gia đào tạo, nâng cao trình độ,…Như vậy, có thể khẳng định: bình đẳng giới chính là mô hình bình đẳng thực chất.
Bình đẳng giới được thực hiện, phụ nữ và nam giới được đầu tư phát triển, được tạo điều kiện tham gia đào tạo, chăm sóc sức khỏe, được chia sẻ công việc gia đình, được đối xử bình đẳng sẽ phát huy đầy đủ tiềm năng, trở thành: Người lao động có kiến thức, có nghề nghiệp, có sức khỏe, tạo tiền đề để tăng thu nhập cho gia đình và tăng trưởng kinh tế đất nước. Cha, mẹ có kiến thức sẽ biết cách tổ chức cuộc sống gia đình hạnh phúc, góp phần làm lành mạnh xã hội. Bình đẳng giới được thực hiện sẽ góp phần phát huy mọi năng lực của phụ nữ và nam giới, xây dựng gia đình hạnh phúc, phát triển kinh tế xã hội bền vững.
- Pháp luật và thực hiện pháp luật bình đẳng giới Luận văn: Pháp Luật bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
Trước hết nói về định nghĩa “pháp luật”: Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự có tính chất bắt buộc chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của nhà nước của giai cấp thống trị trên cơ sở ghi nhận các nhu cầu về lợi ích của toàn xã hội, được đảm bảo thực hiện bằng nhà nước nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội với mục đích trật tự và ổn định xã hội vì dự phát triển bền vững của xã hội” [13,Tr288]. Nằm trong hệ thống pháp luật nói chung, pháp luật bình đẳng giới cũng có những thuộc tính đặc trưng cơ bản và mục đích điều chỉnh của pháp luật đó là: hệ thống các quy tắc xử sự có tính chất bắt buộc chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của nhà nước. Song tiếp cận ở góc độ trực tiếp mang tính bản chất cụ thể riêng biệt cho chúng ta thấy pháp luật bình đẳng giới nhằm đảm bảo việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của gia đình, của cộng đồng và được thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó trên cơ sở giáo dục thiết phục và cưỡng chế.
“Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật” [13, Tr494], từ khái niệm thực hiện pháp luật chung có thể thấy việc thực hiện pháp luật bình đẳng giới cũng xuất phát từ một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật bình đẳng giới đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật.
- Một số khái niệm khác
Định kiến giới là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam và nữ.
Phân biệt đối xử về giới là việc hạn chế, loại trừ, không công nhận hoặc không coi trọng vai trò, vị trí của nam và nữ, gây bất bình đẳng giữa nam và nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình.
Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là biện pháp nhằm bảo đảm bình đẳng giới thực chất, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành trong trường hợp có sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực và thụ hưởng thành quả của sự phát triển mà việc áp dụng các quy định như nhau giữa nam và nữ không làm giảm được sự chênh lệch này. Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới được thực hiện trong một thời gian nhất định và chấm dứt khi mục đích bình đẳng giới đã đạt được. Luận văn: Pháp Luật bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật là biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu bình đẳng giới bằng cách xác định vấn đề giới, dự báo tác động giới của văn bản, trách nhiệm, nguồn lực để giải quyết vấn đề giới trong các quan hệ xã hội được văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh.
Hoạt động bình đẳng giới là hoạt động do cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân thực hiện nhằm đạt mục tiêu bình đẳng giới.
Chỉ số phát triển giới (GDI) là số liệu tổng hợp phản ánh thực trạng bình đẳng giới, được tính trên cơ sở tuổi thọ trung bình, trình độ giáo dục và thu nhập bình quân đầu người của nam và nữ. Chỉ số phát triển giới (GDI) càng tiến tới bằng 1 thì càng bình đẳng, và càng lùi về 0 thì càng bất bình đẳng [17, điều 5].
Có thể thấy bình đẳng nói chung là nhu cầu của mọi thành viên trong đời sống xã hội. Bình đẳng giới là một dạng của bình đẳng xã hội nói chung, nó cũng cần có sự điều chỉnh của pháp luật, nhằm thiết lập quyền bình đẳng giữa nam giới và phụ nữ, cũng như điều chỉnh những lĩnh vực, những nơi mà phụ nữ đang thiệt thòi, đang có vị trí thấp kém so với nam giới do nhiều nguyên nhân khác nhau bắt nguồn từ đời sống xã hội, nhằm đáp ứng yêu cầu của công cuộc đấu tranh cho bình đẳng giới ở Việt Nam và góp phần thúc đẩy công cuộc đấu tranh cho bình đẳng giới trên thế giới. Pháp luật về bình đẳng giới là hệ thống các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội về quyền bình đẳng của phụ nữ và nam giới trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
1.1.2. Xây dựng đội ngũ cán bộ nữ Luận văn: Pháp Luật bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
- Khái niệm cán bộ
Từ trước đến nay khái niệm cán bộ thường được dùng ở các nước Xã hội chủ nghĩa. Việc nghiên cứu để làm rõ khái niệm này còn ít hoặc có đề cập tới thì ý kiến giữa các nhà khoa học, các học giả lại khác nhau.
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư của Liên Xô (trước đây) thì cán bộ lãnh đạo có hai nghĩa: thứ nhất là dùng để chỉ người đứng đầu của một tổ chức, một phong trào; thứ hai là người làm thức tỉnh hành vi của người khác [11, tr10].
Ở Việt Nam, trong cuốn Từ điển bách khoa chưa có từ “cán bộ”. Trong cuốn Từ điển tiếng Việt xuất bản năm 1998 thì cán bộ có hai nghĩa: 1. Người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nước; 2. Người làm công tác có một chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người thường, không có chức vụ [11, tr10]. Với nghĩa thứ nhất, cán bộ không chỉ bao gồm những người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nước mà trong cả hệ thống chính trị của Việt Nam và cũng chỉ bao gồm những người có trình độ được đào tạo. Số không có trình độ được đào tạo gọi là nhân viên. Với nghĩa thứ hai, người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức trong hệ thống chính trị là cán bộ. Đây chính là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, những người có chức vụ, để phân biệt với người không có chức vụ. Bộ phận cán bộ này được hình thành thông qua việc bầu cử dân chủ hoặc đề bạt, bổ nhiệm. Người cán bộ ở Việt Nam được đặt trong các mối quan hệ xác định: cán bộ quan hệ với tổ chức, cơ chế, chính sách và cán bộ quan hệ với phong trào cách mạng của quần chúng.
Trong một thời gian dài, ở Việt Nam quan niệm cán bộ có hai nghĩa sau:
- Người làm công tác, có nghiệp vụ chuyên môn trong một cơ quan, một tổ chức của hệ thống chính trị, có trình độ đào tạo từ cao đẳng, đại học trở nên [11, tr10].
- Người làm công tác có chức vụ, phân biệt với người bình thường không có chức vụ trong các cơ quan, tổ chức của hệ thống chính trị [11, tr10].
Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành Quy chế công chức phân biệt công chức với cán bộ. Tuy nhiên, do hoàn cảnh chiến tranh nên trong thời gian này người ta thường dùng khái niệm cán bộ để chỉ những người làm việc trong biên chế nhà nước mà ít dùng khái niệm công chức.
Nghị định số 169/HĐBT ngày 25/5/1985 và Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 được sửa đổi bổ sung năm 2003 không đưa ra giới hạn để phân biệt cán bộ với công chức.
Khái niệm cán bộ được quy định tại Điều 4 Luật Cán bộ, công chức (Luật số 22/2008/QH12, Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ IX, thông qua ngày 13/11/2008 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010): Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở Trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ nhân sách nhà nước.
Theo quy định này cán bộ là:
- Công dân Việt Nam; Luận văn: Pháp Luật bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
- Được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ;
- Trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước;
Theo quy định của Luật cán bộ, công chức và Nghị định số 06/2010/NĐ- CP, có thể liệt kê những người là cán bộ gồm:
Ở Trung ương: Tổng Bí thư, Bí thư Trung ương Đảng, Chánh Văn phòng Trung ương, Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Trung ương, Trưởng các Ban Đảng Trung ương, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy Ban Trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, Bộ trưởng và tương đương. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Cấp tỉnh: Bí thư, Phó Bí thư Tỉnh ủy, chủ tịch, Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh, Chủ tịch, Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy Ban Mặt trận tổ quốc tỉnh, các tổ chức chính trị – xã hội.
Cấp huyện: Bí thư, Phó Bí thư huyện ủy, chủ tịch, Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân huyện, Chủ tịch, Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện. Những nơi thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân thì Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân là công chức, không phải là cán bộ (được bổ nhiệm không phải do bầu cử).
Như vậy, cán bộ là những người (cá nhân cụ thể) giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong các cơ quan nhà nước thuộc hệ thống chính trị Việt Nam, từ trung ương đến cấp huyện , quận và tương đương . Với cách hiểu như vậy thì có thể phân cán bộ theo các nhóm tiêu chí sau:
- Theo loại hình cơ quan tổ chức : Cán bộ đảng, đoàn thể; cán bộ cơ quan nhà nước; cán bộ doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh nhà nước.
- Theo tính chất, nhiệm vụ: Cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý, chuyên gia kỹ thuật, cán bộ công chức, viên chức.
Do đặc thù chính trị, kinh tế, văn hóa, nên trong đời sống xã hội cũng như trong các chế định pháp lý chưa có sự phân định rõ ràng chức danh và trách nhiệm của các nhà hoạt động chính trị. Vấn đề chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức và đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo chính trị cấp Quốc gia có tầm quan trọng đặc biệt đối với công cuộc đổi mới. Do đó, bồi dưỡng, đào tạo và rèn luyện để hình thành rõ nét tâm lý, ý thức của các nhà lãnh đạo chính trị để họ đạt tới tầm chính khách, đồng thời có quy chế hợp lý để các chính khách thực hiện tốt vai trò, sứ mệnh của mình là việc làm hết sức cần thiết nhằm góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước. Luận văn: Pháp Luật bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
Nhóm cán bộ lãnh đạo, quản lý: bao gồm những người giữ chức vụ và trách nhiệm điều hành trong một cơ quan, tổ chức, đơn vị, có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của tổ chức, có vai trò quyết định và định hướng, điều khiển hoạt động của cả bộ máy.
Thông thường, cán bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý được hiểu tương đồng vì cán bộ lãnh đạo, quản lý đều phải là người giỏi nghiệp vụ chuyên môn, có khả năng tổ chức công việc và đoàn kết tập thể.
Nhóm chuyên gia: gồm những người giỏi một nghề, một ngành, có trình độ lý thuyết cao và năng lực hành động thực tiễn, năng lực nghiên cứu, sáng tạo, giải quyết một vấn đề lý luận hay thực hành. Họ phải có trình độ văn hóa rộng, hiểu biết chuyên môn sâu, có năng lực và vốn trí tuệ ngoại ngữ để cập nhật những thông tin mới. Đây là nhóm nhân lực bậc cao của xã hội, có vai trò như một bộ phận mũi nhọn của sự phát triển. Ở bất cứ lĩnh vực, ngành nghề nào, nếu thiếu chuyên gia thì công việc ở đó không thể đạt tới trình độ, chất lượng cao, vì vậy khi nói đến đỉnh cao của chất lượng đội ngũ cán bộ công chức phải nói đến chuyên gia.
Nhóm công chức, viên chức: bao gồm những người được tuyển dụng để trực tiếp thực thi các công việc hàng ngày của cơ quan, tổ chức, được hưởng lương theo ngạch bậc, trình độ và chức vụ. Đây là nhóm có số lượng đông đảo trong toàn bộ đội ngũ cán bộ, công chức.
Cán bộ nữ chiếm một bộ phận trong đội ngũ cán bộ, công chức. Trong khuôn khổ của luận văn, từ “cán bộ” được hiểu là những người giữ các chức danh chủ chốt trong các cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể tại địa bàn tỉnh Phú Thọ.
- Xây dựng đội ngũ cán bộ nữ
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa, Người luôn coi trọng và đánh giá cao vị trí, vai trò của cán bộ. Người chỉ rõ: Cán bộ là cái gốc của mọi công việc và để xây dựng đội ngũ cán bộ vững mạnh đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong từng giai đoạn cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu Đảng phải làm tốt công tác cán bộ cụ thể:
- Phải làm tốt công tác huấn luyện cán bộ
- Phải hiểu và đánh giá đúng cán bộ
- Phải khéo dùng cán bộ
- Phải “có gan cất nhắc cán bộ”
- Phải thương yêu, chăm sóc bảo vệ cán bộ
Từ khi thành lập đến nay, Đảng cộng sản Việt Nam luôn coi cán bộ là nhân tố quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến sự thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Vì vậy, Đảng luôn xác định xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên là khâu then chốt trong sự nghiệp phát triển đất nước. Do đó, trong mỗi thời kỳ cách mạng, cần thiết phải xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ đề ra. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa VII đã chỉ rõ trong công cuộc đổi mới “Cán bộ có vai trò quan trọng, hoặc thúc đẩy hoặc kìm hãm tiến trình đổi mới”. Đến Đại hội XI của Đảng, Đảng ta vẫn tiếp tục xác định: “phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu tố quyết định đến sự phát triển nhanh, bền vững đất nước”. Nghị quyết Đại hội XI của Đảng cũng đề ra mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ giai đoạn 2011 – 2020 là: “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị, có năng lực, có tính chuyên nghiệp cao, tận tụy phục vụ nhân dân”. Luận văn: Pháp Luật bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
Là một bộ phận không tách rời trong công tác cán bộ chung của Đảng, những năm qua, công tác cán bộ nữ luôn được Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước CHXHCN Việt Nam quan tâm, chỉ đạo với nhiều chủ trương, chỉ thị, nghị quyết và Luật quan trọng tạo đà cho công tác phụ nữ và công tác cán bộ nữ có bước phát triển, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Ngay từ Cương lĩnh chính trị đầu tiên năm 1930 của Đảng, vấn đề giải phóng phụ nữ, thực hiện quyền bình đẳng nam – nữ đã được xác định rất rõ ràng.
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (năm 1960) đã khẳng định: “Phụ nữ nước ta là lực lượng quan trọng trong sự nghiệp cách mạng và trong sản xuất. Đảng ta có trách nhiệm lớn đối với sự nghiệp giải phóng phụ nữ”. Để tăng cường phụ nữ tham gia quản lý nhà nước, khả năng đóng góp của phụ nữ trong xây dựng và phát triển đất nước, Ban Bí thư Trung ương Đảng khoá III đã ban hành Nghị quyết 152-NQ/TW về “Một số vấn đề tổ chức lãnh đạo công tác phụ vận” và Nghị quyết 153-NQ/TW về “Công tác cán bộ nữ”. Sau ngày Tổ quốc thống nhất, Việt Nam bước vào thời kỳ mới, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 44-CT/TW ngày 7/6/1984 về “Một số vấn đề cấp bách trong công tác cán bộ nữ” khẳng định công lao đóng góp của phụ nữ trong ba cuộc cách mạng, sự trưởng thành của đội ngũ cán bộ nữ và những bước tiến quan trọng của việc thực hiện nam nữ bình đẳng; đề ra một số phương hướng cho công tác tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao tỷ lệ nữ tham gia lãnh đạo, tăng cường đội ngũ cán bộ nữ.
Đại hội Đảng lần thứ VI (12/1986) đánh giá cao vai trò của phụ nữ trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của đất nước: “Phụ nữ Việt Nam có truyền thống vẻ vang, có những tiềm năng to lớn, là một động lực quan trọng trong công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế- xã hội. Phụ nữ vừa là người lao động, người mẹ, người thầy đầu tiên của con người. Vì vậy phải xem giải phóng phụ nữ là mục tiêu và nội dung quan trọng của công cuộc đổi mới và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta”. Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 12/7/1993 của Bộ Chính trị về “Đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới” tiếp tục khẳng định vai trò, vị trí của phụ nữ trong giai đoạn phát triển KT – XH thời kỳ mới, chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ nữ thành nhiệm vụ có tính chiến lược trong toàn bộ công tác cán bộ của Đảng. Tiếp đó, ngày 16/5/1994, Ban Bí thư Trung ương Đảng khoá VII ban hành Chỉ thị số 37- CT/TW về “Một số vấn đề về công tác cán bộ nữ trong tình hình mới” đánh giá việc thực hiện Chỉ thị số 44/TW, đề ra một số nhiệm vụ nhằm đẩy mạnh công tác phát triển cán bộ nữ trong tình hình tỷ lệ cán bộ nữ đang giảm, trong đó nhấn mạnh đến quy hoạch, tạo nguồn cán bộ nữ, tạo điều kiện cho cán bộ nữ làm việc, phát triển tiềm năng và đẩy mạnh công tác phát triển đảng viên nữ. Tại hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị số 37-CT/TW (ngày 26- 27/3/2004), đồng chí Phan Diễn, uỷ viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư đã nêu rõ: “Cần nhận thức rõ việc nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ tham gia vào các lĩnh vực hoạt động trong đời sống xã hội, đặc biệt là vào các chức vụ lãnh đạo, quản lý là một tiêu chí quan trọng về thực hiện bình đẳng nam nữ, một tiêu chí của xã hội công bằng, dân chủ, tiến bộ, văn minh, là nhu cầu của sự nghiệp cách mạng, là đòi hỏi của lợi ích công việc. Chị em phụ nữ hoàn toàn có khả năng vươn lên đảm nhận những trách nhiệm lãnh đạo trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội”. Và đồng chí đã kết luận: Sau Hội nghị tổng kết này, Ban Chỉ đạo tổng kết Chỉ thị 37-CT/TW phối hợp với các cơ quan, ban ngành liên quan chuẩn bị đề án trình Bộ Chính trị ra Nghị quyết về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác vận động phụ nữ và cán bộ nữ thời kỳ công nghiệp hoá – hiện đại hoá”.
Nghị quyết Đại hội IX của Đảng đã xác định rõ hơn việc tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào bộ máy lãnh đạo, quản lý các cấp, các ngành. Trên cơ sở đó, Nhà nước đã ban hành một số chính sách về việc làm, lương, tuổi nghỉ hưu, bổ nhiệm, đề bạt, luân chuyển… đối với phụ nữ và cán bộ nữ. Luận văn: Pháp Luật bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
Trước yêu cầu của thời kỳ đổi mới và quá trình hội nhập của đất nước, ngày 27/4/2007 Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 11-NQ/TW “Về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước” với mục tiêu: Phấn đấu đến năm 2020, phụ nữ được nâng cao trình độ về mọi mặt, có trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế; có việc làm, được cải thiện rõ rệt về đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần; tham gia ngày càng nhiều hơn công việc xã hội, bình đẳng trên mọi lĩnh vực; đóng góp ngày càng lớn hơn cho xã hội và gia đình. Phấn đấu để nước ta là một trong các quốc gia có thành tựu bình đẳng giới tiến bộ nhất của khu vực. Nghị quyết cũng đề ra một số nhiệm vụ và giải pháp: Xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học nữ có trình độ khoa học cao, cán bộ lãnh đạo, quản lý nữ đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Phấn đấu đến năm 2020, cán bộ nữ tham gia cấp ủy đảng các cấp đạt từ 25% trở lên; nữ đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp từ 35% đến 40%. Các cơ quan, đơn vị có tỷ lệ nữ từ 30% trở lên, nhất thiết có cán bộ lãnh đạo chủ chốt là nữ. Đảm bảo tỷ lệ nữ tham gia các khóa đào tạo tại các trường lý luận chính trị và quản lý hành chính nhà nước từ 30% trở lên.
Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới (2011-2020) theo Quyết định số 2351/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ: Đến năm 2020, về cơ bản, bảo đảm bình đẳng thực chất giữa nam và nữ về cơ hội, sự tham gia và thụ hưởng trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Luật Bình đẳng giới (Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thư 10), Điều 13, khoản 1, 2. 3 (điểm a, b):
- Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi tuyển dụng, được đối xử bình đẳng tại nơi làm việc về việc làm, tiền công, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội, điều kiện lao động và các điều kiện làm việc khác.
- Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm giữ các chức danh trong các ngành, nghề có tiêu chuẩn chức danh.
Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động bao gồm:
- Quy định tỷ lệ nam, nữ được tuyển dụng lao động;
- Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho lao động nữ;
Từ những minh chứng và phân tích trên, có thể hiểu: Để xây dựng đội ngũ cán bộ nữ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cần phải thực hiện tốt các khâu từ tuyển dụng, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, sử dụng cho đến khâu đề bạt tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia các vị trí lãnh đạo, quản lý nhằm đảm bảo bình đẳng giới thực chất.
1.1.3. Pháp luật và thực hiện pháp luật Bình đẳng giới trong xây dựng đội ngũ cán bộ nữ ở Việt Nam Luận văn: Pháp Luật bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
Bình đẳng giới là một vấn đề được hầu hết các quốc gia trên thế giới quan tâm. Ở Việt Nam, vấn đề bình đẳng giới sớm được quan tâm đưa vào các quy định của pháp luật và triển khai thực hiện. Quan điểm “nam, nữ bình quyền” của đảng và Bác Hồ được xác định ngay trong Cương lĩnh đầu tiên của đảng năm 1930. Nguyên tắc nam nữ bình đẳng đã trở thành nguyên tắc hiến định xuyên suốt các hiến pháp của Nhà nước ta, ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên, Hiến pháp năm 1946. Từ đó, ở nhiều cấp độ khác nhau, vấn đề bình đẳng giới đã được cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật, làm cơ sở để chúng ta thực hiện và đảm bảo vấn đề bình đẳng giới trong thực tế [21, Tr40]. Đặc biệt với sự ra đời của Luật Bình đẳng giới (Quốc hội khóa XI kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29/11/2006), là cơ sở pháp lí quan trọng để chúng ta thực hiện việc đảm bảo vấn đề bình đẳng giới trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Bên cạnh đó, Việt Nam là một trong các nước sớm ký kết và phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về xóa bỏ các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (CEDAW) và nội luật hóa các quy định của Công ước này.
- Pháp luật hiện hành về bình đẳng giới trong xây dựng đội ngũ cán bộ nữ của Việt Nam.
Tại Hội thảo “Chính sách, pháp luật về bình đẳng giới” được tổ chức tại thành phố Đà Lạt từ ngày 13 đến ngày 15/01/2005 với sự tài trợ của Dự án cải cách pháp luật của Vương quốc Đan Mạch và sự giúp đỡ của Văn phòng Quốc hội, Ủy Ban các vấn đề xã hội của quốc hội. Trong bài phát biểu khai mạc hội thảo, bà Nguyễn Thị Hoài Thu – Chủ nhiệm Ủy Ban về các vấn đề xã hội của quốc hội đã nêu rất rõ những xuất phát điểm, yêu cầu và mục đích của hội thảo quốc gia “Chính sách, pháp luật về bình đẳng giới”. Bà đã nêu: “Bình đẳng giới và phát triển phụ nữ hiện nay đang trở thành một trong những vấn đề toàn cầu được mọi cộng đồng quốc gia trên thế giới quan tâm thực hiện. Từ chiến lược Nairobi, tuyên bố Jakarta, tuyên bố Bắc Kinh đến các chương trình về sự tiến bộ phụ nữ cùng nhiều đạo luật bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ, đã là những hồi chuông cảnh báo với các quốc gia rằng: Bây giờ hơn lúc nào hết cần phải đẩy mạnh bình đẳng giới và nâng cao vị thế của người phụ nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Và thực tiễn phát triển cho thấy, phụ nữ được bình đẳng cùng nam giới tham gia vào các hoạt động xã hội, được thừa hưởng mọi thành qủa của tiến bộ xã hội đêm lại, đã khơi dậy tiềm năng làm chủ xã hội của một lực lượng lao động quan trọng, chiếm một nửa nguồn nhân lực đã góp phần to lớn vào công cuộc xây dựng và phát triển tiến bộ của xã hội loài người trong thế kỷ XX, XXI này”[20-Tr73]. Ở nước ta vấn đề bình đẳng giới là một trong những nội dung rất được quan tâm. Do nhận thức đúng đắn về bình đẳng giới, đánh giá cáo vai trò của phụ nữ, đảng và nhà nước ta đã có nhiều chính sách nhằm nâng cao địa vị chính trị, kinh tế, xã hội của phụ nữ, đảm bảo sự bình đẳng giới. Nhiều văn bản pháp luật về bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ đã được ban hành và không ngừng được bổ sung [20-Tr73]. Luận văn: Pháp Luật bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
Luật Bình đẳng giới có hiệu lực từ năm 2007, tại Chương II Luật Bình đẳng giới đã quy định nội dung bình đẳng giới gồm 8 lĩnh vực, trong đó có các quy định vấn đề bình đẳng giới thuộc các lĩnh vực: Bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị – bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động – bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo – bình đẳng giới trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, đã tạo ra hành lang pháp lí, tạo điều kiện để thực hiện có hiệu quả các quyền cơ bản và phát huy vai trò của phụ nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội, đặc biệt nó góp phần trong việc đưa các quy định của pháp luật bình đẳng giới vào việc thực hiện công tác cán bộ của Đảng và Nhà nước. Luật Bình đẳng giới cũng quy định các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới chung áp dụng trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội (trước đây được quy định rải rác và chưa thống nhất trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật chuyên nghành khác nhau).
Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là biện pháp nhằm bảo đảm bình đẳng giới thực chất, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành trong trường hợp có sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực và thụ hưởng thành quả của sự phát triển mà việc áp dụng các quy định như nhau giữa nam và nữ không làm giảm được sự chênh lệch này. Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới được thực hiện trong một thời gian nhất định và chấm dứt khi mục đích bình đẳng giới đã đạt được [17, Điều 5, Khoản 6]. Quy định trên xuất phát từ các khía cạnh sau: Trong pháp luật, chúng ta đã có các quy định như nhau giữa nam và nữ (Ví dụ) (1) các luật bầu cử quy định nam, nữ bình đẳng trong bầu cử và ứng của vào quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp; (2) Luật đất đai là cá nhân nam, nữ bình đẳng trong việc được nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất, nhận quyền sử dụng đất,…). Trong thực tế, chúng ta thấy từ trước đến nay, tỉ lệ nữ trong quốc hội, hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2011-2016: Cấp tỉnh là 25,7%, cấp huyện là 24,6% và cấp cơ sở là 27,7%, trong đó tỉ lệ nữ trong dân số là 50,8%. Khoảng cách giới trong việc đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng lớn, cụ thể là: Tính đến cuối năm 2002, cả nước đã cơ bản hành thành việc giao đất cho gần 12 triệu hộ nông dân sử dụng đất nông nghiệp và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do phụ nữ đứng tên chỉ chiếm khoảng 10-12% (chủ yếu là trường hợp chủ hộ là nữ độc thân hay góa chồng). Thực tế đó chứng tỏ rằng quy định an, nữ bình đẳng trong các luật bầu cử và trong pháp luật về đất đai mới là bình đẳng hình thức mà chưa có bình đẳng thực chất, nguyên nhân của tình trạng này là do những khác biệt về giới đã cản trở phụ nữ có được tỉ lệ thỏa đáng trong các cơ quan dân cử. Mục tiêu bình đẳng giới là bình đẳng thực chất, vì vậy cần phải áp dụng biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong một thời gian nhất định nhằm đạt được bình đẳng giới thực chất. Đây có thể coi là việc nội luật hóa một quy định phù hợp tại điều 4 Công ước CEDAW: “Việc các quốc gia thành viên thông qu những biện pháp đặc biệt tam thời nhằm thúc đẩy nhanh sự bình đẳng trên thực tế giữa nam giới và phụ nữ sẽ không bị coi là phân biệt đối xử theo như định nghĩa trong công ước này (CEDAW) [14,Tr66,67,68].
Bảo đảm các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Theo điều 20 Luật Bình đẳng giới, biện pháp “Bảo đảm các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật” được quy định như sau: 1. Việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật phải bảo đảm các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới. 2. Các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới là một căn cứ quan trọng của việc rà soát để sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật. Luận văn: Pháp Luật bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
Để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định: Cơ quan nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm thường xuyên rà soát, định kỳ hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật; nếu phát hiện quy định trái pháp luật, mâu thuẫn, chồng chéo hoặc không phù hợp thì tự mình hoặc kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền kịp thời sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành. Để thực hiện mục tiêu bình đẳng giới, Luật Bình đẳng giới quy định các cơ quan nhà nước khi tiến hành rà soát để sửa đổi, bổ sung văn bản phải lấy sáu nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới (được quy định tại Điều 6 Luật Bình đẳng giới) là một căn cứ quan trọng của việc rà soát sửa đổi. Nếu khi rà soát phát hiện có quy định trái/mâu thuẫn với một hoặc một số nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới thì phải tự mình hoặc kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để kịp thời sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành. Trong khi sửa đổi, bổ sung hoặc xây dựng mới một văn bản quy phạm pháp luật lại phải bảo đảm văn bản đó phù hợp với sáu nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới [14,Tr70,71,72]
Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật Việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng pháp luật được bắt đầu bằng xác định vấn đề giới trong lĩnh vực mà văn bản quy phạm luật đó điều chỉnh. Ví dụ: Trong lĩnh vực tham gia lãnh đạo quản lý có vấn đề giới không? Có! Vấn đề giới ở đây là: Có địa phương hơn 90% giáo viên là nữ, nhưng lãnh đạo sở giáo dục, phòng giáo dục toàn nam. Khi xác định có vấn đề giới thì phải xác định các biện pháp giải quyết: Ví dụ: Với vấn đề giới của lĩnh vực tham gia lãnh đạo quản lý như trên , biện pháp giải quyết có thể là quy định các cơ quan, đơn vị có tỉ lệ nữ từ 30% trở lên, nhất thiết phải có lãnh đạo chủ chốt là nữ. Một quy định như vậy sẽ góp phần giải quyết vấn đề giới trong lĩnh vực mà văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoặc chí ít cũng không làm trầm trọng thêm vấn đề giới hiện có. Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới đồng thời phải xác định ai (cơ quan, tổ chức, cá nhân nào) có trách nhiệm giải quyết vấn đề giới và nguồn lực để giải quyết vấn đề giới lấy từ đâu. [14,Tr75,76]. Đây được coi là một phương pháp tiếp cận, hay là một biện pháp chiến lược nhằm đạt được bình đẳng giới trên diện rộng trong xã hội bằng cách đưa yếu tố giới vào những yếu tố chủ đạo, mang tính chi phối về các ý tưởng, giá trị, quan niệm, thái độ, mối quan hệ và cách thức tiến hành mọi việc trong xã hội. Để từ đó nó tác động tới chất lượng cuộc sống của tất cả mọi người trong xã hội. Luận văn: Pháp Luật bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
Hoạt động thẩm tra lồng ghép vấn đề bình đẳng giới Ủy ban của Quốc hội phụ trách lĩnh vực giới có trách nhiệm tham gia với Hội đồng dân tộc, Ủy ban khác của Quốc hội để thẩm tra lồng ghép vấn đề bình đẳng giới đối với các dự án luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết trước khi trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét thông qua. Nội dung thẩm tra lồng ghép vấn đề bình đẳng giới bao gồm: Xác định vấn đề giới trong dự án, dự thảo; việc bảo đảm các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới trong dự án, dự thảo; việc tuân thủ thủ tục và trình tự đánh giá việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng dự án, dự thảo; tính khả thi của dự án, dự thảo để bảo đảm bình đẳng giới. Để phục vụ cho công tác thẩm tra việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới đối với dự án, dự thảo trình Ủy Ban thường vụ quốc hội thì chậm nhất là 20 ngày, trước ngày bắt đầu phiên họp Ủy ban thường vụ quốc hội, cơ quan, tổ chức, đại biểu quốc hội trình dự án, dự thảo phải gửi hồ sơ đến Ủy ban các vấn đề xã hội. Đối với các dự án, dự thảo trình quốc hội thì chậm nhất là ba mươi ngày, trước ngày khai mạc kỳ họp quốc hội, cơ quan, tổ chức, đại biểu quốc hội trình dự án, dự thảo phải gửi hồ sơ đến Ủy ban các vấn đề xã hội.
Biện pháp Thông tin, giáo dục, truyền thông về giới và bình đẳng giới Thông tin, giáo dục, truyền thông về giới và bình đẳng giới là biện pháp quan trọng nhằm nâng cao nhận thức giới và bình đẳng giới. Việc thông tin, giáo dục, truyền thông về giới và bình đẳng giới được đưa vào chương trình giáo dục trong nhà trường, trong các hoạt động của cơ quan, tổ chức và cộng đồng. Việc thông tin, giáo dục, truyền thông về giới và bình đẳng giới thông qua các chương trình học tập, các ấn phẩm, các chương trình phát thanh, truyền hình và các hình thức khác [17, Điều 23]. Mặc dù, biện pháp này không đem lại hiệu quả ngay tức thời, nhưng khi đã đạt được kết quả thì đem lại tác dụng tích cực, lâu dài và ổn định, không gây ra các tác động ngoại ý khác. Để thực hiện tốt việc thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục kiến thức về giới và pháp luật về bình đẳng giới cần có sự phối hợp của nhiều cơ quan, tổ chức, trong đó đặc biệt quan trọng là trách nhiệm của cơ quan chủ trì.
Để triển khai thực hiện Luật bình đẳng giới, Chính phủ đã tập trung vào chỉ đạo xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật về bình đẳng giới; chỉ đạo xây dựng bộ máy và đội ngũ cán bộ làm công tác BĐG; tổ chức tuyên truyền, phổ biến chính sách và pháp luật về bình đẳng giới:
- Ngày 04 tháng 06 năm 2008 Chính Phủ ban hành Nghị định số 70/2008/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bình đẳng giới về trách nhiệm quản lý nhà nước về bình đẳng giới và phối hợp thực hiện quản lý nhà nước về bình đẳng giới; trong đó nêu rõ trách nhiệm quản lý Nhà nước về BĐG và phối hợp thực hiện quản lý Nhà nước về BĐG.
- Nghị định số 48/2009/NĐ-CP ngày 19 tháng 5 năm 2009 quy định về các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới.
- Nghị định số 55/2009/NĐ-CP ngày 10 tháng 6 năm 2009 quy định xử phạt vi phạm hành chính về bình đẳng giới.
Chính phủ đã ban hành chương trình hành động của Chính phủ giai đoạn đến năm 2020 thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27 tháng 4 năm 2007 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa định những nhiệm vụ chủ yếu của các cơ quan ở trung ương và địa phương trong việc thực hiện nghị quyết trên.
Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/11/2007 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ đã xác định Phát huy vai trò, tiềm năng to lớn của phụ nữ trong sự nghiệp CNH-HĐH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao địa vị phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội là một trong những nhiệm vụ và mục tiêu quan trọng của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới. Luận văn: Pháp Luật bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
Ngày 24 tháng 12 năm 2010 Chính phủ ban hành Quyết định số 2351/QĐ-TTg phê duyệt chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2020 với mục tiêu tổng quát đến năm 2020 về cơ bản, bảo đảm thực chất giữa nam và nữ về cơ hội, sự tham gia và thụ hưởng trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.
- Những bất cập của pháp luật về bình đẳng giới:
Qua phân tích trên cho thấy pháp luật về bình đẳng giới đã có sự phát triển, quyền bình đẳng của phụ nữ đã được quy định cụ thể hơn trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước. Tuy nhiên, pháp luật về bình đẳng giới còn có những bất cập, chưa có nhiều quy định cụ thể cho việc thúc đẩy bình đẳng giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, mà trên thực tế hiện nay sự bất bình đẳng giới vẫn là vấn nạn nan giải, trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội của Việt Nam, về số lượng, vị trí, vai trò của nam giới vẫn nhiều hơn và được quan tâm hơn so với phụ nữ, tuy nhiên một thực trạng về các văn bản pháp luật hiện nay từ các quy định trong Hiến pháp và các luật đều quy định chung chung về các quyền của công dân, còn các quy định cụ thể về quyền bình đẳng của phụ nữ lại là các văn bản dưới luật. Trong khi đó, các quy định trong văn bản còn nặng về định hướng và chưa có những biện pháp hay các chế tài cụ thể để đảm bảo thực hiện chúng trong thực tiễn. Pháp luật bình đẳng giới bên cạnh những ưu điểm vẫn còn không ít những bất cập cần xem xét, điều chỉnh như:
Việc Pháp luật bình đẳng giới còn có những quy định chung chung chưa cụ thể, Quy định của luật Bình đẳng giới: “Nam nữ không bị phân biệt đối xử về giới” (điều 6), nghiêm cấm các hành vi: “Cản trở nam, nữ thực hiện bình đẳng giới” (điều 10). Trong khi đó các quy phạm pháp luật về lao động, kinh tế, xã hội hiện hành chưa quy định chế tài xử lý những hành vi phân biệt đối xử giữa lao động nam và lao động nữ. Có nghĩa là theo các quy định này nếu các chủ thể sử dụng lao động không thực hiện các nguyên tắc đảm bảo bình đẳng giới cũng không bị xem xét xử lý. Trong các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới Luật Bình đẳng giới quy định: “Đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ, năng lực cho nữ hoặc nam” (điều 19). Trong khi Luật lao động quy định tuổi nghỉ hưu nam 60 tuổi nữ 55 tuổi. Nhất là khi bắt đầu đi làm, hoặc sau tốt nghiệp ra trường, lao động nữ và nam thường cùng tuổi. Nhưng để được bồi dưỡng, đào tạo, đề bạt, bổ nhiệm vào một vị trí lãnh đạo nào đó thì lao động nữ lại giới hạn theo một độ tuổi nhất định, mà thường ít hơn nam vài năm. Đây là một bất hợp lý, bất bình đẳng đối với lao động nữ nói chung, nữ cán bộ công chức nói riêng và làm cho khả năng thu nhập thực tế cùa lao động nữ thường bị giảm hơn so với lao động nam giới.
Pháp luật bình đẳng giới còn những quy định chưa thống nhất, đồng bộ biểu hiện Luật Bình đẳng giới quy định: “Nam, nữ bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình”. Tuy nhiên, một số quy định dưới luật về tuyển dụng lao động lại có sự phân biệt ưu tiên nữ giới hoặc nam giới. Trong vấn đề tuyển dụng, nhiều cơ quan, doanh nghiệp vẫn ưu tiên tuyển lao động nam hơn nữ bởi họ cho rằng lao động nam có sức khoẻ mạnh mẽ, không vướng bận vào việc mang thai, sinh con, có khả năng học tập vươn lên và dễ đề bạt vào các chức vụ hơn. Nguyên nhân của tình trạng trên trên đây là do định kiến giới còn khá phổ biến trong xã hội, thói quen, tập quán phân biệt nam nữ về mặt xã hội vẫn còn nặng nề, hệ thống pháp luật về bình đẳng giới còn chưa đầy đủ và hoàn thiện. Luận văn: Pháp Luật bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
Pháp luật bình đẳng giới còn có những quy định chưa bảo đảm khả thi trong thực tế Có thể khẳng định, trên thực tế hiện nay, hiệu quả các quy định pháp luật bình đẳng giới đạt được rất thấp, nhất là trong lĩnh vực chính trị, lao động việc làm, giáo dục đào tạo. Vấn đề bình đẳng giới chưa được thể hiện cụ thể, minh bạch và đầy đủ trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về công vụ, công chức. Do nhận thức và cách hiểu chưa đồng đều về vấn đề bình đẳng giới nên trong quá trình thực hiện xây dựng đội ngũ công chức vẫn còn tình trạng tỷ lệ và cơ cấu giữa nam và nữ chưa được đảm bảo, một số bộ, ngành địa phương khi quy định ở các văn bản quy phạm pháp luật hoặc khi thực hiện tuyển dụng công chức vẫn còn đưa thêm tiêu chuẩn giới tính vào các tiêu chuẩn đăng ký dự tuyển. Một số cơ quan khi thực hiện khen thưởng cán bộ công chức không xét thưởng và cả không xếp loại công chức trong trường hợp công chức nghỉ thai sản theo chế độ quy định của Nhà nước. Nhìn chung, sự phát triển của nữ trí thức không thể thiếu sự ủng hộ từ nhiều phía: Gia đình, cơ quan và cộng đồng. Tuy nhiên, quá trình hoàn thiện các vai trò mà họ đảm nhiệm không đơn giản, nhất là vai trò trong gia đình, họ là người vợ, người mẹ, người lưu truyền các giá trị truyền thống cho các con, với những thiên chức gắn với họ suốt cuộc đời. Trách nhiệm nặng nề với gia đình đã khiến một số chị em phải gạt bỏ công việc sang một bên, chịu sự tụt hậu so với đồng nghiệp nam. Đối với những phụ nữ trẻ, khó khăn càng nhiều hơn khi con của họ còn nhỏ. Chính vì vậy, nhiều phụ nữ bị quá tải về sức lực, không có đủ thời gian nghỉ ngơi, học tập, không cập nhật thông tin, thêm vào đó việc chị em chưa thực sự nỗ lực trong công việc đã tạo nên tâm lý an phận. Luật bình đẳng giới có hiệu lực từ năm 2007, tuy nhiên vấn đề bình đẳng giới trong cải cách công vụ, công chức chưa được quan tâm đúng mức. Luật chưa đưa ra được nguyên tắc bình đẳng giới trong các nguyên tắc quản lý cán bộ, công chức đồng thời cũng chưa quy định một số biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong quản lý cán bộ công chức, ví dụ như các quyền của công chức nữ khi sinh con, công chức nữ khi nghỉ sinh con theo quy định thì phải được đảm bảo về các quyền lợi nâng lương, nâng ngạch, quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, xếp loại bảo đảm sự cân bằng tuổi nghỉ hưu và các vấn đề khác như tuổi tuyển dụng, bổ nhiệm, tuổi đào tạo, bồi dưỡng.
Trong phát triển nguồn nhân lực, lực lượng lao động qua đào tạo không ngừng tăng lên, nhưng tỷ lệ lao động nữ qua đào tạo, có trình độ chuyên môn kỹ thuật vẫn thấp. Số lượng các nhà khoa học nữ tham gia quản lý nhà nước các cấp còn thấp và càng ở cấp cao tỷ lệ này càng thấp hơn. Tại nhiều cơ quan quản lý nhà nước về khoa học, cơ quan nghiên cứu khoa học không có cán bộ lãnh đạo nữ tham gia vào ban lãnh đạo bộ, rất ít ban lãnh đạo cấp viện. Như vậy, chúng ta đang thiếu đi một cơ chế thực hiện bình đẳng giới rất quan trọng. Các quy định về bình đẳng giới còn chưa đầy đủ, ví dụ như điều 10 Luật giáo dục quy định “tất cả mọi công dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, giới tính, nguồn gốc, địa vị xã hội hoặc điều kiện kinh tế, đều bình đẳng về cơ hội học tập”. Tuy nhiên, Luật lại chưa quy định cụ thể, chi tiết về các điều kiện bình đẳng như quyền được hưởng các điều kiện bình đẳng như có cùng chương trình giáo dục, thi cử, giáo viên và trang thiết bị như nhau.
- Thực hiện pháp luật Bình đẳng giới trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ nữ của Việt Nam.
Trước hết phải khẳng định, ở Việt Nam, bình đẳng giới là vấn đề luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, vì vậy, trong quá trình thực hiện Luật bình đẳng giới, luôn có ý kiến chỉ đạo của Đảng, sự đồng tình ủng hộ của các cấp đoàn thể, tạo nên sự đồng thuận, thống nhất trong việc thực hiện Bình đẳng giới, nó có ý nghĩa quan trọng trong việc chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhằm đưa Luật vào thực tiễn cuộc sống. Việt Nam là một trong những quốc gia đạt được sự thay đổi nhanh nhất về xóa bỏ khoảng cách giới trong hơn 20 năm qua ở khu vực Đông Nam Á. Luận văn: Pháp Luật bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
Trên cơ sở thực hiện các mục tiêu về BĐG, nhất là từ khi Luật Bình đẳng giới ra đời vai trò của phụ nữ trong các lĩnh vực nói chung và trong lĩnh vực quản lý Nhà nước và xã hội nói riêng ngày càng được thể hiện rõ nét, ngày càng được chú trọng, vị thế người phụ nữ trong xã hội ngày càng được nâng cao. Phụ nữ ngày càng bình đẳng hơn trong việc tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử đại biểu quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cũng như các tổ chức đoàn thể. Tỉ lệ nữ đảng viên trong tổng số đảng viên mới kết nạp đã có xu hướng tăng lên hàng năm. Ở Khối địa phương, tỉ lệ nữ đảng viên mới kết nạp chiếm từ 25 đến trên 30% trong tổng số đảng viên mới kết nạp. Ở khối cơ quan Trung ương, có nhiều bộ, ngành, tỉ lệ nữ tham gia cấp ủy Đảng đạt từ 15% đến trên 20%. Trong quốc hội, tuy tỉ lệ nữ đại biểu quốc hội nhiệm kỳ khóa XII thấp hơn nhiệm kỳ trước và chưa đạt chỉ tiêu của Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ đến năm 2010 (có 25,76% so với chỉ tiêu là từ 33% trở lên) nhưng số đại biểu nữ giữ các trọng trách quan trọng trong các cơ quan của quốc hội đã tăng lên: có 3 nữ ủy viên Ủy Ban Thường vụ quốc hội; trong đó, có 1 Phó chủ tịch Quốc hội, 2 Chủ nhiệm Ủy ban; có 3 Phó Chủ tịch Hội đồng dân đất nước (kèm theo Nghị quyết số 57/NQ-CP). Chương trình hành động đã quy tộc, 2 Phó Chủ nhiệm Ủy Ban của quốc hội và 72 nữ ủy viên các Ủy Ban Hội đồng.
Nhiều tỉnh, thành phố đạt tỉ lệ nữ đại biểu Quốc hội khóa XII trên 30% như Bác Ninh, Hà Nội, Hà Nam, Ninh Bình, Lai Châu, Điện biên, Hà Giang,…đáng quan tâm là trong nhiệm kì Quốc hội khóa XII, tỉ lệ phụ nữ đã tham gia vào hội đồng dân tộc và Ủy Ban kho học, công nghệ và môi trường tăng trên 10% so với nhiệm kì trước.
Số lượng nữ đại biểu Hội đồng nhân dân các nhiệm kỳ 1994-1999, 1999-2004 và nhiệm kì 2004-2009 (được kéo dài đến năm 2011 theo Nghị quyết của quốc hội) đều tăng so với các nhiệm kì trước. Trong đó,tại Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, số đại biểu nữ tăng 0,55% so với các nhiệm kỳ trước; Hội đồng nhân dân cấp huyện, số đại biểu nữ tăng 2,02%; Hội đồng nhân dân cấp xã, số đại biểu nữ tăng 2,92%. Số lượng nữ Ủy ban nhân dân các cấp nhiệm kì này cũng tăng lên đáng kể. Trong đó tại Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, số thành viên nữ chiếm tỉ lệ 8,61%; Ủy ban nhân dân cấp huyện là 6,4%; Ủy ban nhân dân cấp xã là 3,99%.
Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ, công chức nữ cũng gia tăng cả về số lượng và chất lượng. Nhiều công chức nữ được bổ nhiệm, đề bạt, giữ các vị trí lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan hành chính nhà nước các cấp từ trung ương đến địa phương. Số lượng công chức nữ trong các cơ quan hành chính nhà nước từ cấp huyện tới cấp trung ương chiếm khoảng 31,10%; trong đó, nữ lãnh đạo chiếm khoảng 18,4%. Ở cấp xã, cán bộ chuyên trách là nữ chiếm 16,27% trong tổng số cán bộ chuyên trách. Như vậy, có thể thấy, nam giới và phụ nữ ngày càng cân bằng hơn trong việc tham gia QLNN cũng như tham gia các hoạt động xã hội.
- Những hạn chế trong thực hiện pháp luật bình đẳng giới:
Công tác quy hoạch cán bộ chưa được quan tâm đúng mức, dẫn đến thiếu cán bộ nữ kế cận chi nhiều vị trí lãnh đạo, quản lý và cũng là nguyên nhân khiến tỉ lệ nữ đại biểu quốc hội khóa XII thấp hơn khóa XI. Về cơ bản tỉ lệ cán bộ quản lý, lãnh đạo nữ là thấp so với lực lượng lao động nữ và so với cán bộ quản lý, lãnh đạo nói chung.
Một số ngành, tuy có tỉ lệ lao động nữ chiếm đa số nhưng tỉ lệ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý rất ít, thậm chí không có lãnh đạo nữ. Luận văn: Pháp Luật bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
- Qua nghiên cứu cho thấy, những nguyên nhân chủ yếu khiến nữ giới ít tham gia lãnh đạo, quản lý là:
Định kiến giới: Tư tưởng mang tính định kiến về giới còn tồn tại khá phổ biến, như nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đánh giá “định kiến về giới còn tồn tại dai dẳng trong nhận thức chung của xã hội do ảnh hưởng tư tưởng Nho giáo và tập tục phong kiến lạc hậu từ lâu đời”. Hiện nay vẫn còn quan niệm cho rằng, lãnh đạo là công việc không thích hợp với phụ nữ.
Nhận thức của cấp ủy, chính quyền ở nhiều địa phương, đơn vị về BĐG, về vai trò, năng lực của phụ nữ còn hạn chế. Chủ trương công tác cán bộ nữ chưa quán triệt thực hiện đầy đủ trong quy hoạch, tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí sử dụng, đề bạt cán bộ, còn có biểu hiện “khoán” công tác phụ nữ cho Hội phụ nữ. Việc thể chế hóa các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng về công tác phụ nữ, cán bộ nữ chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ, nhất là trong việc triển khai thực hiện Luật bình đẳng giới.
Trở ngại từ phụ nữ và vai trò giới: Một bộ phận phụ nữ còn tự ti, an phận, chưa chủ động vượt khó vươn lên. Trong nội bộ phụ nữ còn tình trạng níu kéo, chưa ủng hộ nhau. Nhiều phụ nữ, nhất là phụ nữ ở miến núi, vùng nông thôn hẻo lánh vẫn còn tình trạng mù chữ, tía mù chữ và học vấn thấp. Phụ nữ còn bị phân biệt đối xử dưới nhiều hình thức,…Bên cạnh đó, các vai trò giới cũng là một trở ngại đối với phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý, vì dù tham gia công tác xã hội với vai trò cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cấp nào người phụ nữ vẫn phải làm tốt các vai trò “người công dân, người lao động, người mẹ, người thầy đầu tiên của con người” nếu không được sự ủng hộ của chồng, con thì trở ngại càng lớn hơn [23,Tr47,48].
1.1.4. Pháp luật quốc tế về bình đẳng giới; một số kết quả thực hiện bình đẳng giới của các quốc gia và việc thực hiện pháp luật quốc tế về bình đẳng giới qua Công ước CEDAW tại Việt Nam
- Pháp luật quốc tế về bình đẳng giới
Quốc tế có nhiều văn kiện quy định và điều chỉnh về bình đẳng giới trong đó có quyền con người của phụ nữ. Dưới đây là những văn kiện quan trọng:
Năm 1945: Hiến chương Liên hợp quốc (LHQ) khẳng định vị thế bình đẳng giữa nam giới và phụ nữ. Năm 1948: Liên hợp quốc thông qua Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền trong đó khẳng định phụ nữ bình đẳng về quyền với nam giới. Năm 1949: Liên hợp quốc thông qua Công ước về trấn áp việc buôn bán người và bóc lột mại dâm người khác. Năm 1952: Liên hợp quốc thông qua Công ước về các quyền chính trị của phụ nữ. Năm 1957: Liên hợp quốc thông qua Công ước về quốc tịch của phụ nữ khi kết hôn. Năm 1962: Liên hợp quốc thông qua Công ước về kết hôn tự nguyện, tuổi tối thiểu khi kết hôn và việc đăng ký kết hôn. Năm 1967: Liên hợp quốc thông qua Tuyên bố về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ.
Năm 1974: Liên hợp quốc thông qua Tuyên bố về bảo vệ phụ nữ và trẻ em trong trường hợp khẩn cấp và xung đột vũ trang. Năm 1979: Liên hợp quốc thông qua Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ. Năm 1985: Hội nghị thế giới lần thứ III về phụ nữ thông qua Chiến lược Nai-rô-bi đến năm 2000 và sự tiến bộ của phụ nữ. Năm 1992: Giới và quyền bình đẳng của phụ nữ được thảo luận trong Hội nghị Liên hợp quốc về môi trường và phát triển ở Roi de Zanero. Năm 1993: Hội nghị nhân quyền thế giới lần II thông qua Tuyên bố Viên và Chương trình hành động khẳng định quyền của phụ nữ là quyền con người – Tuyên bố về xóa bỏ những hành động bạo lực với phụ nữ. Năm 1995: Hội nghị thế giới lần thứ IV về phụ nữ thông qua Tuyên bố Bắc Kinh và Chương trình hành động. Các văn kiện trên đã xác lập một khuôn khổ pháp lý quốc tế nhằm đảm bảo vị thế bình đẳng của phụ nữ với nam giới. Tuy nhiên, phải đến khi Liên hợp quốc thông qua Tuyên bố về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ năm 1967 là tiền đề của Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ, các biện pháp đảm bảo cho phụ nữ được thụ hưởng đầy đủ các quyền con người mới được thiết lập và được nhiều quốc gia cam kết thực hiện. Bên cạnh đó, Nghị quyết A/54/4 ngày 6/10/1999, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã thông qua Nghị định thư không bắt buộc của Công ước CEDAW về Uỷ ban Xoá bỏ sự phân biệt đối xử với phụ nữ để xem xét các kháng thư của cá nhân và nhóm cá nhân khiếu nại về việc quyền lợi của họ hoặc của người do họ đại diện bị quốc gia thành viên vi phạm. Nghị định thư này chính thức có hiệu lực từ ngày 22/12/2000. Luận văn: Pháp Luật bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
- Một số kết quả thực hiện bình đẳng giới của các quốc gia trên thế giới.
Theo cơ quan Liên hợp quốc về bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ (UN Women), nếu cách đây 100 năm chỉ có hai nước cho phép phụ nữ tham gia bầu cử thì nay phụ nữ trên thế giới đã đạt được những thành quả lịch sử về các quyền pháp lý trên con đường dài tiến tới bình đẳng giới. Quyền bầu cử và quyền được đảm nhiệm các chức vụ lãnh đạo trong chính phủ và nhà nước của nữ giới đã được đảm bảo trên mọi châu lục. Những thành quả này thực sự là một trong những cuộc cách mạng xã hội sâu sắc nhất trên thế giới…. Trước hết, quyền bầu cử của phụ nữ được thực thi tại Bang New Jersey nước Mỹ năm 1776 nhưng đến năm 1807 lại bị thu hồi, nước Mỹ chỉ thực sự quy định quyền bầu cử và ứng cử cho phụ nữ vào năm 1920. Tại nước Úc, phụ nữ có quyền bầu cử ở miền nam nước Úc vào năm 1861 và cho phép phụ nữ tranh cử vào Quốc hội năm 1894. Tại châu Âu, năm 1906, Phần Lan là Quốc gia đầu tiên chấp thuận cho phụ nữ không những chỉ được quyền bỏ phiếu mà còn được quyền tranh cử. Tiếp đến là các nước Đan Mạch (1908), Na Uy (1913), Anh, Đức, Thụy Điển (1918) và muộn hơn là Pháp, Italia (1945) và Thụy sỹ (1971), phần lớn các quốc gia trao quyền bầu cử và ứng cử cho phụ nữ vào thời điểm quốc gia đó tuyên bố độc lập.
Trong khu vực ASEAN, tại một số nước phụ nữ đã có quyền tham gia ứng cử và bầu cử quốc hội từ rất sớm như tại Myanma (1922), Thái Lan (1932), In-đô-nê-xia (1945) và Việt Nam (1946).
Theo số liệu thống kê cho thấy, nếu như đến năm 1997, số nữ nghị sỹ chưa đạt 12% số ghế nghị sỹ trên toàn thế giới thì đến năm 2008, tỷ lệ này đã gần 18%, tuy tỷ lệ tăng chưa ở mức cao nhưng đó cũng là một tín hiệu tốt để khích lệ phong trào đấu tranh giải phóng phụ nữ, đảm bảo sự bình đẳng giữa hai giới trong lĩnh vực chính trị. Đến năm 2011, có 20 quốc gia có tỷ lệ phụ nữ chiếm từ 30% số ghế trong quốc hội/nghị viện, trong đó có 4 nước đạt từ 40% số nữ nghị sỹ là Ruanda (49%), Thụy Điển (47%), Phần Lan (41,5%) và Achentina (40%). Có 1/3 số nghị viện trên thế giới mà số nữ nghị sỹ tham gia chiếm tỷ lệ dưới 10%, trong đó có 17 nghị viên có tỷ lệ nữ nghị sỹ chiếm dưới 3% và có 07 nghị viện hoàn toàn không có sự hiện diện của nữ giới. [29, Tr 14,15,16] Luận văn: Pháp Luật bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
- Thực hiện pháp luật quốc tế về bình đẳng giới qua Công ước CEDAW tại Việt Nam
Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ (CEDAW) được Liên hợp quốc thông qua ngày 18/12/1979. Công ước CEDAW có hiệu lực từ ngày 03/09/1981 và hiện nay có gần 200 quốc gia thành viên tham gia chiếm hơn 90% thành viên Liên Hợp Quốc. Sự ra đời của Công ước CEDAW xuất phát từ nhận thức quan trọng của cộng đồng quốc tế về quyền con người, đó là bình đẳng trở thành thước đo giá trị phẩm giá và quyền cơ bản của con người trong xã hội. Sự ra đời của Công ước CEDAW là kết quả của cuộc đấu tranh lâu dài của nhân loại tiến bộ vì một xã hội công bằng, dân chủ, nhân đạo và văn minh. Kể từ khi ra đời cho đến nay, CEDAW đã góp phần cải thiện địa vị cũng như quyền của phụ nữ trên khắp thế giới với nỗ lực to lớn của Liên hợp quốc và các quốc gia thành viên. Công ước CEDAW được thiết kế để chống lại sự phân biệt đối xử chống lại phụ nữ, xác định nhiều lĩnh vực cụ thể có ý nghĩa và quan trọng chống phân biệt đối xử với phụ nữ. Công ước chỉ rõ những mục tiêu cụ thể cũng như những công cụ cần thiết để tạo ra một xã hội an toàn mang tính toàn cầu, nơi phụ nữ được bình đẳng đối với nam giới và do đó đảm bảo đầy đủ các quyền con người của họ. Công ước CEDAW đã chỉ ra những lĩnh vực mà phụ nữ có thể bị phân biệt đối xử nặng nề trong việc thụ hưởng các quyền con người để từ đó yêu cầu các quốc gia thành viên xác định những cách thức hoặc biện pháp để xóa bỏ sự phân biệt đối xử như lĩnh vực lao động việc làm, đời sống chính trị, giáo dục. Đồng thời đề ra những cách thức, biện pháp nhằm loại trừ sự phân biệt đối xử chống lại phụ nữ trong việc thụ hưởng các quyền con người mà họ đã được thừa nhận trong những văn kiện quốc tế trước đó. Gần một năm sau ngày Công ước CEDAW được thông qua, ngày 29/7/1980 Việt Nam ký Công ước CEDAW, trở thành quốc gia sớm thứ 6 trên thế giới ký Công ước và là quốc gia thứ 35 phê chuẩn Công ước này. Ngày 19/03/1982 Công ước CEDAW có hiệu lực tại Việt Nam. 35 năm qua, Việt Nam đã nội luật hóa nhiều nội dung của Công ước CEDAW sau khi ký tham gia Công ước CEDAW, cụ thể: Việt Nam đã nội luật hóa nhiều nội dung của Công ước CEDAW vào Hiến pháp năm 1992 và khoảng trên 40 bộ luật, ban hành hàng ngàn văn bản dưới luật để từng bước thực hiện công ước này. Việt Nam đã thiết lập cơ chế, chính sách để thực hiện Công ước [20,Tr75]. Thông qua một số văn bản pháp luật và các chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ: Năm 2006 thông qua Luật bình đẳng giới; Chiến lược quốc gia năm 2001 – 2010 nhằm xóa bỏ phân biệt đối xử chống lại phụ nữ và bình đẳng giới theo đúng nghĩa vụ của quốc gia thành viên theo Công ước và đạt được nhiều tiến bộ to lớn trong việc thực hiện những quyền con người của phụ nữ, nhất là trong lĩnh vực chính trị, lao động, việc làm, giáo dục đào tạo. Tuy nhiên, Việt Nam cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức liên quan đến việc thực hiện Công ước CEDAW trong thực tế. Nhìn ra các nước khu vực và thế giới, đặc biệt trong hội nhập quốc tế để thực hiện Công ước CEDAW mà Chính phủ Việt Nam đã cam kết thực hiện, thấy nhiều vấn đề về quyền bình đẳng của phụ nữ trong công cuộc đổi mới đặc biệt là phụ nữ trí thức, vấn đề bảo đảm quyền lao động và việc làm, vấn đề cần được nhận thức lại để trong quá trình xây dựng pháp luật bình đẳng giới ở nước ta cần có sự đổi mới theo hướng phát triển, thực hiện bình đẳng nam, nữ trên mọi phương diện. Với tư cách là thành viên tham gia Công ước CEDAW, Nhà nước Việt Nam có nghĩa vụ pháp lý quốc tế liên quan đến việc thực thi quyền bình đẳng của phụ nữ trên lãnh thổ Việt Nam. Vì vậy, việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bình đẳng giới không chỉ thuần túy nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, nhằm cụ thể hoá quyền hiến định về bình đẳng nam nữ được Hiến pháp Việt Nam công nhận, mà còn là một việc cần phải làm là một nghĩa vụ pháp lý của Nhà nước Việt Nam trong quan hệ quốc tế để bảo đảm nguyên tắc xóa bỏ mọi phân biệt đối xử với phụ nữ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội trên thực tế mà Việt Nam đã tham gia cam kết thực hiện.
1.2. Vai trò của việc thực hiện pháp luật Bình đẳng giới trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ nữ Luận văn: Pháp Luật bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
Pháp luật và thực hiện pháp luật Bình đẳng giới có vai trò quan trọng trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ nữ, nó là hệ thống các quy tắc xử sự có tính chất bắt buộc chung nhằm đảm bảo phụ nữ có vị trí, vai trò ngang nhau với nam giới trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của gia đình, của cộng đồng và được thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó, vì vậy, nó là phương tiện ghi nhận, bảo đảm và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, nó đảm bảo cho nguyên tắc bình đẳng giới trên thực tế, đặc biệt trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ nữ, từ khâu tuyển dụng, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, sử dụng cho đến khâu đề bạt tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia các vị trí lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan thuộc hệ thống chính trị của Việt Nam. Mọi hành vi vi phạm nguyên tắc bình đẳng giới đều bị xử lý nghiêm minh. Pháp luật không chỉ quy định vị trí, vai trò ngang nhau giữa phụ nữ và nam giới mà còn quy định cơ chế pháp lý, các quy định pháp luật thủ tục để thực hiện quyền bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới. Vì vậy việc thực hiện pháp luật bình đẳng giới là cần thiết, nó là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật bình đẳng giới đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật, và đảm bảo bình đẳng giới thực chất.
Đến lượt mình, khi việc xây dựng đội ngũ cán bộ nữ được quan tâm và thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, đảm bảo các mục tiêu, tiêu chí đề ra trong các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, Chương trình mục tiêu Quốc gia, Chương trình hành động của các cấp, các ngành sẽ có tác động tích cực trở lại đối với pháp luật Bình đẳng giới, nó là cơ sở cho việc xây dựng ý thức, niềm tin pháp luật bình đẳng giới làm cho pháp luật bình đẳng giới có tính khả thi trên thực tế và đi vào cuộc sống.
Vai trò của pháp luật và thực hiện pháp luật bình đẳng giới đối với việc xây dựng đội ngũ cán bộ nữ được thể hiện qua các khâu: Từ khâu tuyển dụng, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cho đến khâu sử dụng, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ nữ vào các vị trí quan trọng trong các cơ quan thuộc hệ thống chính trị của Nhà nước, cụ thể:
1.2.1. Trong tuyển dụng cán bộ nữ
Tại Điều 11 Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) mà Việt Nam tham gia ký kết thực hiện quy định: “Các nước tham gia Công ước phải áp dụng mọi biện pháp thích hợp để xóa bỏ phân biệt đối xử với phụ nữ trong lĩnh vực việc làm nhằm đảm bảo những quyền như nhau trên cơ sở bình đẳng nam, nữ, đặc biệt là: a. Quyền làm việc là quyền không thể chối bỏ của mọi con người; b. Quyền hưởng các cơ hội có việc làm như nhau, bao gồm cả việc áp dụng những tiêu chuẩn như nhau trong tuyển dụng lao động. Điều 57, Hiến pháp 1992 nước cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định “ Phụ nữ có quyền lao động, quyền có việc làm”; Hiến pháp 2013, điều 16 quy định: 1. Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật; 2. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội”. Luật Bình đẳng giới, điều 13, khoản 1: “Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi tuyển dụng, được đối xử bình đẳng tại nơi làm việc, tiền công, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội, điều kiện lao động và các điều kiện làm việc khác”. Điểm e, khoản 1, điều 19: “Việc ưu tiên nữ trong trường hợp nữ có đủ điều kiện, tiêu chuẩn như nam” và cũng được quy định như những biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới về việc làm. Luật lao động hiện hành cũng thể hiện đầy đủ những nguyên tắc cơ bản đảm bảo sự bình đẳng nam nữ trong trong lĩnh vực này. (Điều 5, điều 111 Bộ Luật Lao động).
Như vậy có thể khẳng định pháp luật và thực hiện pháp luật Bình đẳng giới có vai trò to lớn đối với khâu tuyển dụng cán bộ nữ, nó đảm bảo cho việc xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử trong khâu tuyển dụng đối với cán bộ nữ và thúc đẩy bình đẳng giới trong công tác cán bộ ở khâu này.
1.2.2. Công tác Quy hoạch cán bộ nữ Luận văn: Pháp Luật bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
Quy hoạch cán bộ nói chung và quy hoạch cán bộ nữ nói riêng là quá trình thực hiện đồng bộ các chủ trương, biện pháp để tạo nguồn, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nhất là cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý trên cơ sở dự báo nhu cầu cán bộ, nhằm bảo đảm yêu cầu nhiệm vụ chính trị trong một thời gian nhất định. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác tham mưu, tổng hợp có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, thành thạo chuyên môn, nghiệp vụ là yêu cầu khách quan và là tiền đề để xây dựng đội ngũ cán bộ giỏi, ngang tầm với đòi hỏi của nhiệm vụ.
Đối với khâu này, để thực hiện mục tiêu bình đẳng giới và thúc đẩy bình đẳng giới, Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 30/11/2004 của Bộ Chính trị Nghị quyết về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước nêu quan điểm: “Quan tâm tạo nguồn để tăng tỷ lệ cán bộ lãnh đạo, quản lý trẻ, …. cán bộ nữ, không phân biệt đảng viên hay quần chúng ngoài Đảng”; Quyết định số 1241/QĐ-TTg ngày 22/7/2011 của Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình quốc qua về bình đẳng giới khẳng định: Dự án nâng cao năng lực cho đội ngũ nữ đại biểu Quốc hội, nữ đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, nữ cán bộ quản lý, nữ lãnh đạo các cấp; nữ ứng cử đại biểu Quốc hội, nữ ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 – 2020, nữ cán bộ thuộc diện quy hoạch (dự án 3). Mục tiêu của dự án: Có các biện pháp hỗ trợ nhằm giúp phụ nữ nâng cao năng lực tham gia vào các vị trí quản lý, lãnh đạo trong các cơ quan quản lý nhà nước, các đơn vị sự nghiệp ở trung ương và địa phương; từng bước tạo nguồn cán bộ nữ tham gia các vị trí quản lý, lãnh đạo trong các cơ quan Đảng, cơ quan dân cử, cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp và các tổ chức chính trị – xã hội các cấp giai đoạn đến năm 2020 để đạt được chỉ tiêu của Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2020 [19] ; Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị về Công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đã đưa ra nhiệm vụ và giải pháp Xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học nữ có trình độ cao, cán bộ lãnh đạo, quản lý nữ đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa: Quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và bố trí sử dụng cán bộ nữ. Các cấp ủy đảng có trách nhiệm lãnh đạo xây dựng quy hoạch cán bộ nữ trong quy hoạch tổng thể về cán bộ của Đảng ở từng cấp, từng ngành, từng địa phương. Đối với cán bộ nữ, đồng thời với việc xây dựng quy hoạch, phải chăm lo đào tạo, bồi dưỡng để chủ động về nhân sự; đề bạt, bổ nhiệm cần bảo đảm tiêu chuẩn của từng chức danh, có khả năng hoàn thành tốt nhiệm vụ, phát huy được thế mạnh, ưu điểm của cán bộ nữ. Thực hiện nguyên tắc bình đẳng giữa nam và nữ về độ tuổi trong quy hoạch, đào tạo, đề bạt và bổ nhiệm.
1.2.3. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ Luận văn: Pháp Luật bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
Đào tạo, bồi dưỡng là quá trình trang bị cho công chức những kiến thức cần thiết, trước hết là kiến thức về Nhà nước và pháp luật, về phương thức quản lý và các quy trình hành chính trong chỉ đạo, điều hành và những thủ thuật, phương pháp, kinh nghiệm quản lý. Mục tiêu của đào tạo là làm cho người công chức nắm chắc những quan điểm, đường lối, lý thuyết trên tầm vi mô và biết cách vận hành công việc hành chính. Để thực hiện mục tiêu bình đẳng giới trong lĩnh vực đào tạo, Luật Bình đẳng giới đã có quy định một điều riêng cho lĩnh vực này. Điều 14. Bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo: 1. Nam nữ bình đẳng về độ tuổi đi học, đào tạo, bồi dưỡng. 2. Nam nữ bình đẳng trong việc lựa chọn ngành nghề học tập, đào tạo. 3. Na nữ bình đẳng trong việc tiếp cận và hưởng thụ các chính sách về giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ. 4. Nữ cán bộ, công chức, viên chức khi tham gia đào tạo, bồi dưỡng mang theo con dưới ba mươi sáu tháng tuổi được hỗ trợ theo quy định của Chính phủ. 5 Biện pháp thức đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo bao gồm: a) Quy định tỷ lệ nam nữ tham gia học tập, đào tạo; , trong việc tiếp cận và hưởng thụ các chính sách về giáo dục đào tạo,…(Điều 14) và “đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho lao động nữ” (điểm b khoản 3 điều 13), Khoản 2, điều 15. “Nam nữ bình đẳng trong việc tiếp cận các khóa đào tạo về khoa học và công nghệ, phổ biến kết quả nghiên cứu khoa học, công nghệ và phát minh, sáng chế. Những quy định trên trở thành có cơ quan trọng để cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành các quy định cụ thể thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục đào tạo nhằm thúc đẩy bình đẳng giới và đảm bảo bình đẳng giới thực chất ở khâu này.
1.2.4. Công tác sử dụng, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ nữ
Việc bố trí, sử dụng, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ công chức nói chung, và cán bộ nữ nói riêng phải căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ và tiêu chí của từng ngạch, từng vị trí, đảm bảo cho cán bộ, công chức phát huy tốt năng lực, sở trường cá nhân, sử dụng đúng chuyên môn được đào tạo, đạt hiệu quả công tác cao nhất. Sau khi bố trí phân công công tác cho cán bộ, công chức cần thường xuyên theo dõi, giúp đỡ, hướng dẫn, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của họ, để từ đó là cơ sở cho việc cân nhắc đề bạt, bộ nhiệm cán bộ công chức, cán bộ nữ đảm nhiệm những chức danh lãnh đạo, quản lý, phù hợp với năng lực, khả năng của cán bộ công chức, cán bộ nữ. Bỏ nhiệm cán bộ, công chức phải đúng lúc, đúng người, đúng việc, bảo đảm tiêu chuẩn và yêu cầu của từng chúc danh. Để thúc đẩy bình đẳng giới ở khâu này, Luật Bình đẳng giới quy định: „Nam nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm giữ các chức danh trong các ngành nghề có tiêu chuẩn chức danh” (khoản 2, điều 13), “Nam nữ bình đẳng trong tham gia quản lý Nhà nước, nước tham hoạt động xã hội”, “Nam nữ bình đẳng về tiêu chuẩn chuyên môn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm vào cùng vị trí quản lý, lãnh đạo của cơ quan, tổ chức” (khoản 1, 4 điều 11); để thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị Luật Bình đẳng giới cũng quy định: “Bảo đảm tỷ lệ thích đáng nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới”, “Bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng trong bổ nhiệm các chức danh trong cơ quan nhà nước phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới” (điểm a, b khoản 5 điều 11). Và trong chính trị, để nâng cao vị thế của phụ nữ, tăng tỉ lệ nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân trong quá trình chuẩn bị bầu cử, tuyên truyền, vận động bầu cử, Đảng và Nhà nước đều có văn bản chỉ đạo, hướng dẫn về việc đảm bảo tỉ lệ nữ tham chính: Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 30/5/2014 của Bộ Chính trị về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng quy định: “Giới thiệu cán bộ nữ để bầu tham gia cấp uỷ”. Điều 10 a Luật Bầu cử Quốc hội (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định: “Số đại biểu Quốc hội là nữ do Ủy Ban thường vụ Quốc hội dự kiến trên cơ sở đề nghị của Đoàn Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Hội LHPN Việt Nam, đảm bảo để phụ nữ có số đại biểu thích đáng”. Điều 14 Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003 quy định: “…đảm bảo số lượng thích đáng đại biểu Hội đồng nhân dân là nữ…”. Như vậy có thể khẳng định vai trò của pháp luật bình đẳng giới đối với khâu này là vô cùng quan trọng, là cơ sở pháp lý đảm bảo cho việc bình đẳng giới trong sử dụng, bố trí, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ nói chung và đối với cán bộ nữ nói riêng.
1.3. Các tiêu chí bảo đảm hiệu quả của việc thực hiện pháp luật bình đẳng giới trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ nữ Luận văn: Pháp Luật bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
1.3.1. Trình độ, năng lực chủ thể thực hiện pháp luật bình đẳng giới
Chủ thể pháp luật là những cá nhân, tổ chức có khả năng trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật, có những quyền và nghĩa vụ pháp lý trên cơ sở của quy phạm pháp luật. Muốn trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật, chủ thể pháp luật phải có điều kiện pháp lý đó chính là năng lực chủ thể.
Năng lực chủ thể bao gồm hai yếu tố: Năng lực pháp luật và năng lực hành vi. Năng lực pháp luật là năng lực (khả năng) do quy phạm pháp luật quy định của chủ thể có các quyền chủ thể và các nghĩa vụ pháp lý để trở thành các chủ thể (các bên tham gia) quan hệ pháp luật. Năng lực hành vi là năng lực (khả năng) của chủ thể bằng chính hành vi của mình để xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý, tham gia vào các quan hệ pháp luật. Khả năng này cũng được nhà nước xác nhận trong các quy phạm pháp luật nhất định. [13- Tr410,411,412].
Như vậy, Chủ thể của quan hệ pháp luật bình đẳng giới là những người tham gia vào quan hệ pháp luật bình đẳng giới có những quyền và nghĩa vụ luật định và đều hướng tới trật tự quản lý bình đẳng giới. Chủ thể của quan hệ pháp luật bình đẳng giới rất đa dạng bao gồm các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, gia đình và công dân Việt Nam. Cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, cá nhân nước ngoài cư trú tại việt Nam…Tuy nhiên trong khuôn khổ luận văn đề cập đến các chủ thể quan hệ pháp luật Bình đẳng giới là các cơ quan thuộc khối Đảng, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy Ban Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể chính trị xã hội cấp tỉnh và cá nhân là các cán bộ công chức, viên chức đảm nhiệm nhiệm vụ tổ chức cán bộ trong các cơ quan này có trình độ, năng lực chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật bình đẳng giới, mang quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật bình đẳng giới. Luận văn: Pháp Luật bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
- Trình độ chủ thể thực hiện pháp luật Bình đẳng giới
Là trình độ đào tạo pháp lí nhất định của chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật Bình dẳng giới, để nhằm đưa pháp luật bình đẳng giới vào thực tiễn cuộc sống và đảm bảo bình đẳng giới thực chất, chính vì vậy chủ thể thực hiện pháp luật Bình đẳng giới phải có tri thức, hiểu biết và trình độ học vấn về Luật nhất định. Bên cạnh tri thức chung, chủ thể thực hiện pháp luật Bình đẳng giới phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ về lĩnh vực Bình đẳng giới để đáp ứng yêu cầu công tác của lĩnh vực nghề nghiệp, cương vị công tác mà mình đảm nhiệm, từ đó giúp chủ thể thực hiện pháp luật bình đẳng giới có năng lực tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao. Thực tế ở Phú Thọ và nhiều địa phương khác trong cả nước cho thấy: Hầu hết đội ngũ cán bộ, công chức đảm nhiệm nhiệm vụ tổ chức cán bộ trong các cơ quan Đảng, Ủy ban nhân dân, Ủy Ban Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội chưa được giáo dục về giới và pháp luật về bình đẳng giới, bên cạnh đó không ít cán bộ, công chức đảm nhiệm nhiệm vụ tổ chức cán bộ không có trình độ về Luật do vậy hạn chế trong quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao, dẫn đến tình trạng bất bình đẳng giới trong tuyển dụng, đánh giá, sử dụng, quy hoạch, đào tạo và bổ nhiệm cán bộ nữ, chưa đánh giá thực chất vai trò và khả năng của cán bộ nữ như Bác Hồ đã dạy “Ðể xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải thật sự giải phóng phụ nữ và tôn trọng quyền lợi của phụ nữ”;“Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cùng già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ.”
Để thực hiện tốt chức trách nhiệm vụ tham mưu công tác tổ chức cán bộ, bảo đảm nguyên tắc bình đẳng giới và lồng ghép giới trong công tác này tại các cơ quan Đảng, Ủy ban nhân dân, Ủy Ban Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội, cán bộ, công chức đảm nhiệm nhiệm vụ tổ chức cán bộ trong các cơ quan này phải có trình độ chuyên môn về Luật và phải được giáo dục về giới và pháp luật về bình đẳng giới .
- Năng lực chủ thể thực hiện pháp luật bình đẳng giới
Năng lực chủ thể thực hiện pháp luật Bình đẳng giới là khả năng pháp lí của chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật với tư cách là chủ thể của quan hệ đó, hay nói cách khác là cái tài trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Người từng dạy: Có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”, không có năng lực thì mọi điều tốt đẹp của con người chỉ dừng lại ở mong muốn, chỉ có năng lực mới biến những điều tốt đẹp trở thành hiện thực. Luận văn: Pháp Luật bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
Năng lực chủ thể thực hiện pháp luật bình đẳng giới trước hết là năng lực (khả năng) do quy phạm pháp luật bình đẳng giới quy định của chủ thể có các quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý để trở thành các chủ thể quan hệ pháp luật bình đẳng giới. Như quy định “Trách nhiệm của Ủy Ban nhân dân các cấp: Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới tại địa phương. Trình Hội đồng nhân dân ban hành hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật về bình đẳng giới theo thẩm quyền. Tổ chức thực hiện pháp luật về bình đẳng giới. Thực hiện thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật và giải quyết khiếu nại, tố cáo về bình đẳng giới. Tổ chức, chỉ đạo việc tuyên truyền, giáo dục về giới và pháp luật về bình đẳng giới cho nhân dân địa phương [17, điều 28]. Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên. Tham gia xây dựng chính sách, pháp luật và tham gia quản lý nhà nước về bình đẳng giới theo quy định của pháp luật. Bảo đảm bình đẳng giới trong tổ chức. Tham gia giám sát việc thực hiện pháp luật bình đẳng giới. Tuyên truyền, vận động nhân dân, hội viên, đoàn viên thực hiện bình đẳng giới [16, điều 29]. Đồng thời với năng lực pháp luật là năng lực hành vi của chủ thể, là năng lực (khả năng) của chủ thể bằng chính hành vi của mình để xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý, tham gia vào các quan hệ pháp luật hay nói cách khác là khả năng tổ chức thực tiễn, tức là khả năng chuyển hóa các chủ trương, Nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước về bình đẳng giới thành hiện thực trong cuộc sống. Năng lực hành vi còn là thái độ, tình cảm pháp luật của chủ thể pháp luật được thể hiện thông qua kỹ năng xử lý, lồng ghép giới và thực hiện pháp luật bình đẳng giới trong công việc mình đảm nhiệm. Đồng thời còn phải có kỹ năng trong việc tham mưu, kỹ năng sử dụng những công cụ, phương tiện làm việc để hoàn thành nhiệm vụ được giao một cách thành thạo, dễ dàng, khéo léo. Khả năng này được tích lũy thông qua quá trình được đào tạo, bồi dưỡng và tự trải nghiệm trong quá trình làm việc. Đó có thể là kỹ năng sử dụng tin học, ngoại ngữ hoặc kỹ năng điều tra, kiểm tra, giám sát, kỹ năng trả lời chất vấn,…
Năng lực chủ thể thực hiện pháp luật bình đẳng giới (năng lực của cán bộ, công chức trong các cơ quan cấp tỉnh mà luận văn đề cập) còn là khả năng bao quát công việc, nắm bắt tình hình, đề xuất sáng kiến, biện pháp nâng cao hiệu quả công tác trong thực tiễn. Đó là đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và của kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa.
1.3.2. Thực hiện đầy đủ và chặt chẽ các trình tự, thủ tục luật định Luận văn: Pháp Luật bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
- Thực hiện đầy đủ và chặt chẽ trình tự, thủ tục Luật định:
Thứ nhất, cần thực hiện đúng nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật thực hiện pháp luật Bình đẳng giới : Bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật. Tuân thủ thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Bảo đảm tính công khai trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật trừ trường hợp văn bản quy phạm pháp luật có nội dung thuộc bí mật nhà nước; bảo đảm tính minh bạch trong các quy định của văn bản quy phạm pháp luật. Bảo đảm tính khả thi của văn bản quy phạm pháp luật. Không làm cản trở việc thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. [18, Điều 3]; Bảo đảm các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật và Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật [17, Điều 20,21]. Như vậy, các văn bản quy phạm pháp luật thực hiện Luật bình đẳng giới mới đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ và chặt chẽ về mặt trình tự, thủ tục.
Thứ hai, Pháp luật tác động vào các quan hệ xã hội, vào cuộc sống đạt hiệu quả cao nhất chỉ khi tất cả những quy định của nó đều đạt được thực hiện chính xác triệt để. Nhưng nếu chỉ thông qua các hình thức tuân theo pháp luật, thi hành pháp luật và sử dựng pháp luật thì sẽ có rất nhiều quy phạm pháp luật không được thực hiện. Lý do có thể là các chủ thể không muốn thực hiện hoặc không đủ khả năng tự thực hiện nếu thiếu sự tham gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, do đó hoạt động áp dụng pháp luật cần phải được tiến hành: Áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó Nhà nước thông qua các cơ quan có thẩm quyền hoặc nhà chức trách tổ chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện những quy định của pháp luật, hoặc tự mình căn cứ vào các quy định của pháp luật ra các quyết định áp dụng pháp luật vào trong những trường hợp cụ thể của đời sống xã hội. [13, Tr501]
Một trong những đặc điểm của áp dụng pháp luật là hoạt động phải tuân theo thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định. Do tính chất quan trọng và phúc tạp của hoạt động áp dụng pháp luật, chủ thể bị áp dụng pháp luật có thể được hưởng những lợi ích rất lớn nhưng cũng có thể phải chịu những hậu quả rất nghiêm trọng nên pháp luật xác định rõ ràng cơ sở, điều kiện, trình tự, thủ tục, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quá trình áp dụng pháp luật, ví dụ như việc xử phạt vi phạm hành chính về bình đẳng giới được điều chỉnh bởi những quy phạm, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính về bình đẳng giới. Các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và các bên có liên quan trong quá trình áp dụng pháp luật phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định có tính thủ tục đó, để tránh sự tùy tiện có thể dẫn đến việc áp dụng pháp luật không đúng, không chính xác. [13,Tr502] Chính vì vậy, trong quá trình áp dụng pháp luật về bình đẳng giới, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các bên có liên quan phải tuân thủ nghiêm nhặt các quy định có tính thủ tục do pháp luật bình đẳng giới và các văn bản hướng dẫn thi hành điều chỉnh.
1.3.3. Giải thích, hướng dẫn thực hiện pháp luật về bình đẳng giới
- Khái niệm và các hình thức giải thích pháp luật Luận văn: Pháp Luật bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
Giải thích pháp luật là làm sáng tỏ về mặt tư tưởng, nội dung và ý nghĩa của các quy phạm pháp luật, đảm bảo cho sự nhận thức và thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật, thống nhất pháp luật. Chính vì vậy, giải thích pháp luật được tiến hành xuyên suốt trong quá trình xây dựng pháp luật, quá trình thực hiện và áp dụng pháp luật. Giải thích pháp luật là hoạt động có tác động tích cực đối với việc tăng cường pháp chế và bảo vệ trật tự pháp luật.
Giải thích pháp luật là nhằm làm rõ nội dung, bản chất thực sự của pháp luật, làm cho mọi người hiểu và thực hiện pháp luật theo đúng các yêu cầu của pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Phụ thuộc vào chủ thể tiến hành giải thích và đặc trung của sự giải thích, có thể chia giải thích pháp luật ra làm hai hình thức: Giải thích chính thích và giải thích không chính thức.
Giải thích không chính thức, đó là sự giải thích tư tưởng, nội dung của các quy phạm pháp luật nhưng không mang tính chất bắt buộc phải xử sự theo cách giải thích đó. Loại giải thích này có thể được tiến hành bởi mọi cá nhân, tổ chức bất kỳ. Nội dung lời giải thích không chính thức không có ý nghĩa về mặt pháp lý, mà chỉ có tính chất giúp mọi người hiểu rõ hơn về các quy định của pháp luật, mặc dù vậy, sự giải thích của các nhà khoa học pháp lý, các luật gia cũng có tác động quan trọng tới ý thức pháp luật của các chủ thể pháp luật và thông qua đó tới hoạt động thực hiện và áp dụng pháp luật.
Giải thích chính thức có đặc trưng ở chỗ: a) Nó được tiến hành bởi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; b) Là sự giải thích có hiệu lực bắt buộc; c) Nó được ghi nhận trong văn bản giải thích pháp luật.
Có quan nhà nước có thẩm quyền giải thích pháp luật chính thức bao gồm: Giải thích của chính cơ quan Nhà nước đã trực tiếp ban hành văn bản quy phạm pháp luật đó; giải thích của cơ quan Nhà nước được trao quyền hoặc được ủy quyền giải thích văn bản quy phạm pháp luật đó. Giải thích chính thức được chia làm hai loại, đó là giải thích mang tính quy định và giải thích cho những vụ việc cụ thể. Sự giải thích mang tính quy định thường là kết quả của sự khái quát hóa thực tế thực hiện và áp dựng pháp luật, từ đó hướng thực hiện, áp dụng thống nhất pháp luật. Sự giải thích chính thức cụ thể có hiệu lực đối với một vụ việc pháp lý cụ thể. Còn đối với vụ việc pháp lý khác, nó không có giá trị. [13,Tr515, 516, 517]
Trong phạm vi luận văn nghiên cứu, giải thích pháp luật về bình đẳng giới được hiểu là làm sáng tỏ về mặt tư tưởng, nội dung và ý nghĩa của các quy phạm pháp luật bình đẳng giới, đảm bảo cho việc thực hiện nghiêm chỉnh, thống nhất pháp luật bình đẳng giới và đảm bảo nguyên tắc bình đẳng giới thực chất. Giải thích pháp luật bình đẳng giới không chính thức trên các phương tiện thông tin đại chúng như đài, báo, trong các trang sách chuyên khảo pháp lý; giải thích pháp luật bình đẳng giới chính thức của chính các cơ quan Nhà nước đã trực tiếp ban hành văn bản quy phạm pháp luật đó và giải thích của các cơ quan nhà nước được trao quyền hoặc ủy quyền giải thích văn bản quy phạm pháp luật về bình đẳng giới.
Như vậy, giải thích pháp luật bình đẳng giới là một hoạt động tất yếu, đóng vai trò quan trọng trong việc đưa các quy phạm pháp luật bình đẳng giới vào cuộc sống và mọi nhà nước muốn đạt được sự bình đẳng và tiến bộ xã hội đều phải thực hiện.
- Hướng dẫn thực hiện pháp luật về bình đẳng giới Luận văn: Pháp Luật bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
Trên bình diện quốc tế, bảo đảm bình đẳng giới đã trở thành một trong tám mục tiêu phát triển thiên niên kỉ của toàn cầu và là đòi hỏi tất yếu trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập của mỗi quốc gia.
Đối với nước ta, các cấn đề giới, bình đẳng giới và phương pháp tiếp cận chuyển từ “phụ nữ trong phát triển” sang “giới và phát triển” tương đối mới cả về học thuật và nội dung. Do vậy, để bảo toàn những kết quả và tiến bộ về giới đã đạt được trong thời gian qua đồng thời khắc phục những hạn chế và thách thức về giới trong các lĩnh vực nhằm bảo đảm cho nam và nữ đều có cơ hội đóng góp công sức vào sự nghiệp phát triển đất nước, xây dựng xã hội giàu mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh” [22,Tr55]. Nhất là để đảm bảo bình đẳng giới thực chất trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ công chức, cán bộ lãnh đạo, quản lý, thúc đẩy bình đẳng giới đối với việc xây dựng đội ngũ cán bộ nữ, đòi hỏi sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, vai trò, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước đối với lĩnh vực này. Luật Bình đẳng giới được Quốc hội khóa XI, kì họp thứ 10 thông qua ngày 29/11/2006 đã quy định rõ vấn đề bình đẳng giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội như lĩnh vực chính trị, lao động, giáo dục và đào tạo,…quy định các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới bao gồm: Quy định tỷ lệ nam, nữ hoặc bảo đảm tỉ lệ nữ thích đáng tham gia thụ hưởng. Đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ năng lực cho nữ hoặc nam; Hỗ trợ để tạo điều kiện, cơ hội cho nữ hoặc nam. Quy định tiêu chuẩn, diều kiện đặc thù cho nữ hoặc nam. Quy định nữ được quyền lựa chọn trong trường hợp nữ có đủ điều kiện, tiêu chuẩn như nam. Quy định việc ưu tiên nữ trong trường hợp nữ có đủ điều kiện, tiêu chuẩn như nam. [17,điều 19, khoản 1]. muốn vậy, các quy định xác định trong Luật về thực hiện bình đẳng giới trong xây dựng đội ngũ cán bộ nữ cần được hướng dẫn chi tiết, rõ ràng và cụ thể, đặc biệt hướng dẫn hoạt động bình đẳng giới, kỹ năng lồng ghép vấn đề bình dẳng giới trong tổ chức hoạt động của các cơ quan, tổ chức đối với việc xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật thực hiện công tác tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ, cũng như trong quá trình thực hiện công tác này.
1.3.4. Cơ sở vật chất, trang thiết bị, ngân sách
Để thực hiện được các chính sách của Đảng, của Nhà nước, các quy định của pháp luật về bình đẳng giới trên thực tiễn cần phải có cơ sở vật chất, trang thiết bị, ngân sách đảm bảo cho quá trình thực hiện. Vấn đề bình đẳng giới là vấn đề quan trọng phải được Nhà nước thực hiện, vì vậy nguồn tài chính cho hoạt động bình đẳng giới trước hết phải được trích từ ngân sách Nhà nước. Bên cạnh đó, muốn đạt được bình đẳng giới thực sự trong xã hội, cần có sự phối hợp của Nhà nước với các ban ngành đoàn thể, các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức quốc tế và các cá nhân để huy động nguồn tài chính cho hoạt động bình đẳng giới. Đồng thời, cần thống nhất về nhận thức đối với vấn đề bình đẳng giới trong mọi quyết định kinh tế, trong mọi chính sách kinh tế, pháp luật. Đây là yếu tố quan trọng để bảo đảm bình đẳng giới thực thi trong thực tế.
Theo Điều 24 Luật Bình đẳng giới, nguồn tài chính cho hoạt động bình đẳng giới bao gồm: Ngân sách Nhà nước, đóng góp tự nguyện của tổ chức, cá nhân, các nguồn thu hợp pháp khác. Việc quản lí, sử dụng nguồn tài chính cho hoạt động bình đẳng giới phải đúng mục đích, có hiệu quả và theo quy định của pháp luật. Luận văn: Pháp Luật bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
Theo Nghị định số 48/2009/NĐ-CP ngày 19/5/2009 của Chính phủ quy định về các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới, Chương V Nguồn tài chính cho hoạt động Bình đẳng giới, điều 20. Nguồn tài chính cho hoạt động bình đẳng giới: 1) Nguồn tài chính cho hoạt động bình đẳng giới bao gồm: Nguồn kinh phí do ngân sách nhà nước cấp; nguồn đóng góp tự nguyện của tổ chức, cá nhân và các nguồn thu hợp pháp khác. 2) Ngân sách nhà nước ở cấp nào bảo đảm chi cho hoạt động bình đẳng giới của cơ quan , tổ chức ở cấp đó theo dự toán chi ngân sách hàng năm của các cơ quan, tổ chức. 3) Nhà nước khuyến khích các cơ quan, tổ chức lồng ghép nội dung thực hiện và bảo đảm bình đẳng giới vào việc sử dụng các quỹ đã được thành lập của cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật. Điều 21. tiếp nhận và sử dụng nguồn tài chính đóng góp tự nguyện của tổ chức, cá nhân: Các cơ quan, tổ chức, gia đình và cá nhân có quyền tiếp nhận và sử dụng nguồn tìa chính đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài hỗ trợ các hoạt động liên quan đến việc bảo đảm bình đẳng giới theo quy định của pháp luật.
Theo thông tư số 191/2009/TT-BTC ngày 01 tháng 10 năm 2009, khoản 1, Điều 2. Nguồn kinh phí dành cho hoạt động bình đẳng giới bao gồm: Kinh phí cho hoạt động bình đẳng giới và hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ bao gồm: Nguồn kinh phí do ngân sách nhà nước cấp, nguồn đóng góp tự nguyện của tổ chức, cá nhân và nguồn thu hợp pháp khác.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Luận văn: Pháp Luật bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
Thực hiện pháp luật Bình đẳng giới trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ nữ là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật bình đẳng giới trong các lĩnh vực chính trị, lao động, giáo dục và đào tạo,… đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật, đảm bảo các nguyên tắc bình đẳng giới trong việc xây dựng cán bộ nói chung, cán bộ nữ nói riêng, nhằm đạt được mục tiêu bình đẳng giới thực chất và sự tiến bộ phụ nữ.
Các điều kiện đảm bảo thực hiện pháp luật bình đẳng giới trong xây dựng đội ngũ cán bộ nữ là: Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới; Chính sách hỗ trợ nữ cán bộ, công chức, viên chức; bảo đảm các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật; Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, cán bộ lãnh đạo, quản lý; hoạt động thẩm tra lồng ghép vấn đề bình đẳng giới; biện pháp thông tin, giáo dục, truyền thông về giới và bình đẳng giới.
Tiêu chí bảo đảm hiệu quả của việc thực hiện pháp luật bình đẳng giới trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ nữ bao gồm: Trình độ năng lực chủ thể pháp luật bình đẳng giới, từ nhận thức, sự hiểu biết pháp luật đến thái độ, tâm lý, tình cảm pháp luật của chủ thể pháp luật bình đẳng giới trong việc thực hiện đầy đủ và chặt chẽ các trình tự, thủ tục luật định; Giải thích, hướng dẫn thực hiện pháp luật về bình đẳng giới và tạo điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, ngân sách cho hoạt động thực hiệp pháp luật bình đẳng giới trên thực tế.
Để đảm bảo bình đẳng giới thực chất trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội nói chung và lĩnh vực xây dựng đội ngũ cán bộ công chức, cán bộ lãnh đạo, quản lý nói riêng. Kinh nghiệm của Nhà nước Việt Nam và một số nước trên thế giới đều coi trọng công tác thực hiện bình đẳng giới trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, đặc biệt là xây dựng đội ngũ cán bộ nữ, quan tâm thúc đẩy bình đẳng giới từ khâu tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng đến khâu đánh giá, sử dụng, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ nữ giữ các chức vụ lãnh đạo chủ chốt. Khẳng định và phát huy vai trò của phụ nữ, phấn đấu đạt được bình đẳng giới thực sự và sự tiến bộ xã hội như C.Mác đã khẳng định: Ai đã biết lịch sử thì biết rằng muốn sửa sang xã hội mà không có phụ nữ giúp vào, thì chắc không làm nổi. Xem tư tưởng và việc làm của đàn bà con gái, thì biết xã hội tiến bộ ra thế nào. Luận văn: Pháp Luật bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực trạng PL bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Giải pháp PL bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ