Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp PL bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật Bình đẳng giới trong việc xây dựng dội ngũ cán bộ nữ của tỉnh Phú Thọ dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1. Quan điểm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật Bình đẳng giới trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ nữ của tỉnh Phú Thọ
3.1.1. Quan điểm định hướng
Thực hiện pháp luật Bình đẳng giới trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ nữ của tỉnh Phú Thọ đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa và góp phần thực hiện nhiệm vụ to lớn do Đảng bộ tỉnh đề ra là đến năm 2020 Phú Thọ cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp cần phải xuất phát từ những quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề giải phóng phụ nữ, thực hiện nam, nữ bình quyền và công tác cán bộ nói chung, công tác cán bộ nữ nói riêng; đồng thời xuất phát từ đường lối đổi mới của Đảng, Nhà nước nói chung, về đổi mới, chỉnh đốn Đảng, nâng cao chất lượng bộ máy cơ quan đảng, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội, nâng cao chất lượng bộ máy cơ quan hành chính nhà nước, xóa bỏ phân biệt đối xử chống lại phụ nữ, thực hiện nam, nữ bình đẳng được thể hiện tập trung trong các Nghị quyết Trung ương 3 khóa VII; Nghị quyết Trung ương 3 và Nghị quyết Trung ương 7 khóa VIII; nghị quyết Trung ương 5 và Nghị quyết Trung ương 6 khóa IX; Nghị quyết trung ương 4, Nghị quyết trung ương 5 khóa X về công tác cán bộ; Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng: “Đối với phụ nữ, thực hiện tốt pháp luật và chính sách bình đẳng giới, bồi dưỡng, đào tạo nghề nghiệp, nâng cao học vấn; có cơ chế, chính sách để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp, các ngành; chăm sóc và bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em..”; Chỉ thị 37- CT/TW ngày 16/5/1994 của Ban Bí thư về “Một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới”; Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Hội nghị Trung ương 7 khóa IX “Tiếp tục nâng cao nhận thức của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội về công tác phụ nữ và vấn đề bình đẳng giới; khẩn trương cụ thể hóa các chủ trương của Đảng thành luật pháp, chính sách; lồng ghép giới trong quá trình xây dựng và hoàn thiện các chương trình, kế hoạch chung. Coi trọng các chính sách xã hội, các chính sách về giới để giảm nhẹ lao động cho phụ nữ. Nâng cao trình độ học vấn và kỹ năng nghề nghiệp cho phụ nữ; chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em. Tạo điều kiện để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động xã hội; các cơ quan lãnh đạo và quản lý các cấp”; Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng: “Nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần, thực hiện bình đẳng giới”; Nghị quyết số 11- NQ/TW ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị “Về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước”; Luật Bình đẳng giới và các văn bản hướng dẫn của Trung ương về công tác bình đẳng giới và công tác cán bộ nữ. Đó là những luận cứ quan trọng cần được quán triệt và vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể ở địa phương. Thực hiện pháp luật Bình đẳng giới trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ nữ của tỉnh Phú Thọ cần quán triệt một số quan điểm định hướng chỉ đạo sau: Luận văn: Giải pháp PL bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
Một là, Thực hiện pháp luật bình đẳng giới trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ nữ của tỉnh Phú Thọ phải gắn liền với mục tiêu Bình đẳng giới của Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang xây dựng là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Nhà nước tôn trọng và bảo vệ quyền con người, tất cả vì hạnh phúc của con người, Nhà nước đảm bảo cho tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Vì vậy, thực hiện pháp luật bình đẳng giới trong việc xây dựng dội ngũ cán bộ nữ của tỉnh Phú Thọ cần phải đáp ứng mục tiêu Bình đẳng giới, phát huy vai trò của phụ nữ trong tham gia phát triển kinh tế – xã hội, khẳng định vị thế của người phụ nữ trong gia đình và xã hội, đảm bảo nhà nước tôn trọng và bảo vệ quyền con người, tất cả vì hạnh phúc con người và đảm bảo tính tối cao của Hiến pháp và Luật trong đời sống xã hội của Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Việc thực hiện pháp luật bình đẳng giới trong xây dựng đội ngũ cán bộ nữ cần đáp ứng các yêu cầu sau:
- Xóa bỏ phân biệt đối xử về giới: Đảm bảo xóa bỏ những quy định khác nhau giữa nam và nữ trong các khâu từ tuyển dụng, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cho đến điều động, luân chuyển, đề bạt bổ nhiệm cán bộ; xóa bỏ việc hạn chế, loại trừ không công nhận vai rò, vị trí của nam, nữ gây ra bất bình đẳng giữa nam và nữ trong công tác cán bộ.
- Tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong công tác cán bộ: Đảm bảo tạo điều kiện cho nam và nữ trên cơ sở giới để nam giới và nữ giới đều có thể nắm bắt được cơ hội phát huy vai trò khả năng, trí tuệ của mình trong mọi lĩnh vực công tác.
- Tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam và nữ trong công tác cán bộ: Công nhận sự khác biệt về giới tính và giới giữa nam và nữ, đồng thời xác định những quy định pháp lý để khắc phục những bất lợi của nam hoặc nữ do khác biệt đó gây ra, nhằm đảm bảo cho nam, nữ bình đẳng về cơ hội, tiếp cận cơ hội và thụ hưởng như nhau về thành quả trong công tác cán bộ.
Hai là, Thực hiện pháp luật bình đẳng giới trong xây dựng đội ngũ cán bộ nữ của tỉnh Phú Thọ phải bám sát mục tiêu, quan điểm của Đảng và Nhà nước về bình đẳng giới
Trong Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị, nêu rõ mục tiêu, quan điểm của Đảng về xây dựng, phát triển vững chắc đội ngũ cán bộ nữ tương xứng với vai trò to lớn của phụ nữ là yêu cầu khách quan, là nội dung quan trọng trong chiến lược công tác cán bộ của Ðảng; Phấn đấu đến năm 2020, phụ nữ được nâng cao trình độ về mọi mặt, có trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế; có việc làm, được cải thiện rõ rệt về đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần; tham gia ngày càng nhiều hơn công việc xã hội, bình đẳng trên mọi lĩnh vực; đóng góp ngày càng lớn hơn cho xã hội và gia đình. Phấn đấu để nước ta là một trong các quốc gia có thành tựu bình đẳng giới tiến bộ nhất của khu vực [7,Tr2] Luận văn: Giải pháp PL bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
Ba là, Thực hiện pháp luật Bình đẳng giới trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ nữ của tỉnh Phú Thọ phải bám sát phương hướng, nhiệm vụ của Đảng bộ và chính quyền tỉnh trong thời gian tới.
Trong quá trình triển khai thực hiện các chủ trương và các giải pháp về thực hiện pháp luật Bình đẳng giới trong xây dựng đội ngũ cán bộ nữ của tỉnh Phú Thọ cần phải bám sát mục tiêu, phương hướng phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng của tỉnh để tập trung đầu tư trước cho đội ngũ nữ cán bộ, công chức các ngành mũi nhọn, các ngành trực tiếp tham gia vào việc triển khai thực hiện các mục tiêu, phương hướng đó. Đồng thời bám sát các mục tiêu xây dựng Đảng, nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng bộ, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý của chính quyền các cấp. Làm tốt việc lồng ghép giới trong công tác tổ chức cán bộ. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nữ, thực hiện khâu then chốt là đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ nữ các cấp đạt chuẩn, chú trọng đào tạo cán bộ theo quy hoạch một cách toàn diện cả phẩm chất chính trị, trình độ nghề nghiệp, năng lực thực tiễn phù hợp với yêu cầu sử dụng chức danh công tác và cơ cấu ngành nghề theo hướng chuyên sâu. Xây dựng đội ngũ cán bộ nữ đồng bộ, có cơ cấu hợp lý, đảm bảo sự kế thừa và phát triển; có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tư duy đổi mới, sâu sát cơ sở, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, có phẩm chất đạo đức cách mạng, có ý thức tổ chức kỷ luật, thực sự tiền phong gương mẫu, đủ năng lực hoàn thành nhiệm vụ được giao. Thực hiện có hiệu quả chủ trương trẻ hóa đối với công tác cán bộ nói chung, công tác cán bộ nữ nói riêng. Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, lãnh đạo các cơ quan, đơn vị với công tác cán bộ nữ để làm thay đổi nhận thức, tư duy và hành động cảu mỗi cấp ủy, tổ chức Đảng, chính quyền, cơ quan, đơn vị và mỗi cán bộ đảng viên, công chức về công tác cán bộ. Cụ thể hóa bằng chương trình hành động của cấp ủy, kế hoạch thực hiện của các cơ quan chuyên môn, tập trung giải quyết khâu then chốt, xác định đúng trọng điểm, có biện pháp cụ thể, thời gian cụ thể hóa cho phù hợp với yêu cầu đặt ra về công tác cán bộ nữ trong từng thời kỳ. Định kỳ xây dựng các chương trình, kiểm tra, giám sát việc thực hiện Nghị quyết 11-NQ/TW để kịp thời rút kinh nghiệm trong chỉ đạo thực hiện [25,Tr10,11].
Chương trình hành động số 23-CTHĐ/TU ngày 06/6/2012 của Tỉnh ủy Phú Thọ về thực hiện công tác cán bộ nữ từ nay đến năm 2020, định hướng đến năm 2025 đã chỉ rõ: Các cấp ủy Đảng, chính quyền, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị có trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện có hiệu quả công tác cán bộ, trong đó chú trọng việc tăng cường tỷ lệ cán bộ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý ở các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị trong tỉnh. Chỉ đạo thực hiện tốt khâu tạo nguồn, xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, bố trí sắp xếp, đề bạt, bổ nhiệm và luân chuyển cán bộ nữ đảm bảo chất lượng và hiệu quả. Luận văn: Giải pháp PL bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
Phát huy vai trò của cán bộ nữ trong sự nghiệp xây dựng và phát triển KT – XH của tỉnh; thực hiện bình đẳng giới trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.
Công tác cán bộ nữ phải được thực hiện thường xuyên, liên tục từ cấp cơ sở đến cấp tỉnh; trong thực hiện phải phát huy, khai thác được mọi tiềm năng, sức sáng tạo và khả năng đóng góp cao nhất của đội ngũ cán bộ nữ.
Xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ, công chức nữ đủ về số lượng và chất lượng, có cơ cấu hợp lý đáp ứng các yêu cầu của Trung ương và thực tế nguồn cán bộ, công chức nữ hiện có của tỉnh.
- Mục tiêu công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ phụ nữ đến năm 2020 của tỉnh Phú Thọ là:
Nâng cao nhận thức trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền đối với công tác phụ nữ, thực hiện Bình đẳng giới nhằm phấn đấu đến năm 2020, phụ nữ trong tỉnh được nâng cao trình độ về mọi mặt, có trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu Công nghiệp hóa, hiện đại hóa; có việc làm, được cải thiện rõ rệt về đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần; tham gia ngày càng nhiều hơn công việc xã hội, bình đẳng trên mọi lĩnh vực; đóng góp ngày càng lớn hơn cho xã hội và gia đình [5,Tr17].
Mục tiêu cụ thể đến năm 2020, định hướng đến năm 2025 là:
- Phấn đấu nhiệm kỳ 2015-2020 cán bộ nữ tham gia cấp ủy các cấp đạt 20% trở lên; từ nhiệm kỳ 2020-2025 trở đi đạt 25% trở lên; Ban Thường vụ cấp ủy các cấp có ít nhất 1 cán bộ nữ.
- Tỷ lệ cán bộ nữ tham gia Đoàn Đại biểu quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp từ nhiệm kỳ 2016-2021 trở đi đạt 30% trở lên.
- Lãnh đạo thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp từ nhiệm kỳ 2016-2021 trở đi có ít nhất 1 cán bộ nữ.
- Tỷ lệ cán bội nữ tham gia Ban Chấp hành Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể các cấp đạt 35% trở lên; tham gia Ban Thường vụ đạt 15% trở lên (không tính Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp).
- Các ngành, các cơ quan, đơn vị có tỷ lệ cán bộ nữ từ 30% trở lên và những ngành có chức năng liên quan đến phụ nữ và chính sách đối với phụ nữ nhất thiết phải có lãnh đạo chủ chốt là nữ.
- Tỷ lệ cán bộ nữ giữ các chức cụ chủ chốt cấp xã (từ Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân trở lên) từ nhiệm kỳ 2016-2021 trở đi đạt 15% trở lên. Luận văn: Giải pháp PL bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
- Tỷ lệ kết nạp đảng viên nữ hàng năm đạt 50% trở lên.
- Phấn đấu cứ 50% cán bộ nữ tham gia các chương trình đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, lý luận chính trị, bồi dưỡng về quản lý nhà nước, ngoại ngữ, tin học và cập nhật kiến thức hội nhập quốc tế [26,Tr2].
Từ các quan điểm định hướng trên có thể khẳng định từ khi thực hiện Luật Bình đẳng giới đến nay, nhận thức và quan điểm của các cấp ủy Đảng, chính quyền về công tác cán bộ nữ của tỉnh Phú Thọ được nâng lên, đã hạn chế được định kiến về giới đối với phụ nữ trong công tác này, làm cho địa vị và vai trò của phụ nữ được nâng lên một bước đáng kể, tạo sự bình đẳng nhất định giữa nam – nữ trong xã hội, từng bước phụ nữ được giải phóng và được đặt lên một vị trí ngang bằng với nam giới, được phát huy khả năng của mình trong hoạt động quản lý nhà nước và các lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần tích cực vào sự tăng trưởng, phát triển KT – XH của tỉnh hằng năm.
Nhằm xây dựng và phát triển nguồn nhân lực mạnh về số lượng và chất lượng, bên cạnh những chủ trương, quan điểm chỉ đạo về công tác cán bộ nói chung, công tác cán bộ nữ nói riêng được chỉ đạo xuyên suốt từ Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh đến các chương trình hành động thực hiện tổng thể công tác cán bộ. Ban Thường vụ Tỉnh ủy Phú Thọ đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TU về tiếp tục đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức giai đoạn 2011-2015; Nghị quyết số 12-NQ/TU ngày 24/11/2011 về phát triển nguồn nhân lực tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2011-2020; Kế hoạch số 23-KH/TU ngày 27/10/2011 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về rà soát, bổ sung xây dựng quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý giai đoạn 2015-2020 và các chức danh chủ chốt giai đoạn 2020- 2025, đặc biệt quan tâm trong công tác thúc đẩy bình đẳng giới đối với xây dựng đội ngũ cán bộ nữ của tỉnh, quan tâm chỉ đạo các cấp, các ngành xây dựng kế hoạch tập trung vào nâng cao nhận thức, quan điểm về công tác cán bộ nữ và xác định đúng vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác cán bộ nữ trong giai đoạn hiện nay, trú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ nữ có trình độ cao, có năng lực để bố trí vào các vị trí lãnh đạo, quản lý . Tỷ lệ cán bộ nữ tham gia Đoàn Đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp từ nhiệm kỳ 2016 – 2021 trở đi đạt 30% trở lên; các ngành, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nhà nước có tỷ lệ cán bộ nữ từ 30% trở lên và những ngành có chức năng liên quan nhiều đến phụ nữ và chính sách đối với phụ nữ nhất thiết phải có lãnh đạo chủ chốt là nữ. Phấn đấu cử 50% cán bộ nữ tham gia các chương trình đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, lý luận chính trị, bồi dưỡng về quản lý nhà nước, ngoại ngữ, tin học và cập nhật kiến thức hội nhập quốc tế. Đặc biệt chú trọng quy hoạch cán bộ nữ tuổi còn trẻ, có năng lực đưa vào nguồn quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý. Xây dựng và thực hiện các chính sách ưu tiên đối với cán bộ nữ, tạo điều kiện cho cán bộ nữ thực hiện tốt chức năng phụ nữ trong gia đình và tham gia các hoạt động xã hội, đóng góp năng lực, trí tuệ cho quá trình phát triển KT – XH của tỉnh.
Nhìn chung, tỉnh Phú Thọ đã đưa ra nhiều kế hoạch, chương trình hành động… nhằm thực hiện pháp luật Bình đẳng giới trong công tác cán bộ, quan tâm, tạo điều kiện phát triển đội ngũ cán bộ nữ làm công tác lãnh đạo, quản lý. Tuy nhiên, quá trình thực hiện các chủ trương, chính sách này còn nhiều hạn chế như: thiếu minh bạch, triệt để, công tác kiểm tra, giám sát chưa thường xuyên, chưa hiệu quả, dẫn đến việc còn bất bình đẳng giới trong công tác cán bộ đối với tất cả các khâu từ tuyển dụng cho đến đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, sử dụng, quy hoạch, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ, do vậy thực trạng đội ngũ cán bộ nữ của tỉnh trong các ngành, các lĩnh vực, ở các cấp, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý tỷ lệ còn thấp hơn so với nam giới, điều này dẫn đến việc chưa phát huy được hết vai trò, khả năng to lớn của đội ngũ cán bộ nữ đối với sự nghiệp phát triển văn hóa, kinh tế – xã hội của tỉnh, chưa đưa được Luật Bình đẳng giới thực sự đi vào cuộc sống, chưa đạt được mục tiêu Bình đẳng giới thực chất.
3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật Bình đẳng giới trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ nữ của tỉnh Phú Thọ Luận văn: Giải pháp PL bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
3.2.1. Giải pháp chung
Có thể khẳng định rằng, nền chính trị nước ta được xây dựng theo phương châm “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”. Là bộ phận của xã hội, nền chính trị cũng không nằm ngoài dòng chảy chủ đạo hướng tới sự bình đẳng giới, theo đó, nâng cao năng lực và sự tham gia của phụ nữ trong hệ thống chính trị không phải là vấn đề riêng của phụ nữ mà là vấn đề của toàn xã hội nói chung. Trong bối cảnh quốc tế có nhiều biến đổi như hiện nay, nền chính trị Việt Nam đang đứng trước những cơ hội và thách thức mới, trong đó có vấn đề nâng cao năng lực và sự tham gia của phụ nữ trong hệ thống chính trị hướng đến mục tiêu bình đẳng giới và công bằng xã hội, lý luận và thực tiễn cách mạng đòi hỏi phải đặt vấn đề nâng cao vai trò của phụ nữ trong nền chính trị hiện đại và coi đó là một bộ phận không tách rời của sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh [10]
Trong nhiều năm vừa qua Đảng và Chính phủ cũng như các tỉnh, thành phố trong cả nước đã có những chủ trương, đường lối và quyết sách về chính trị để hiện thực hóa vấn đề giới trong chính trị. Tuy nhiên, một thực tế chứng minh rằng việc cải thiện sự bất bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị vẫn còn hết sức chậm chạp, thiếu tính đồng bộ; tỷ lệ phụ nữ tham gia vào chính trường trong các cấp tăng chậm và không bền vững. Chính vì vậy, để đảm bảo việc thực thi pháp luật bình đẳng giới hiệu quả trong thực tiễn, nhằm nâng cao năng lực và sự tham gia của phụ nữ trong hệ thống chính trị, góp phần giảm khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị trước hết, các cơ quan Đảng và Nhà nước, các Bộ, ngành và địa phương trong phạm vi thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, tiến hành rà soát văn bản từ góc độ giới. Đặc biệt, cần rà soát các văn bản chính sách của Đảng và văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hai lĩnh vực (1) độ tuổi đào tạo, bồi dưỡng và (2) độ tuổi đề bạt, bổ nhiệm. Thống kê tất cả các quy định khác nhau về độ tuổi giữa nam và nữ đang tồn tại trong các văn bản hiện nay, gồm nội dung quy định, cơ quan ban hành, năm ban hành, hiệu lực thi hành, đối tượng thực hiện, v.v…
Các văn bản pháp quy là cơ sở lý luận cơ bản để xây dựng giải pháp này. Trong đó, Luật bình đẳng giới là khung pháp lý đảm bảo sự bình đẳng giữa nam và nữ về cơ hội ngang nhau trong các lĩnh vực đời sống xã hội. Tại khoản 4 điều 11 của Luật bình đẳng giới quy định “nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn chuyên môn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm vào cùng vị trí quản lý, lãnh đạo”. Điều này có nghĩa rằng, nam và nữ đều có có hội ngang bằng nhau về các tiêu chuẩn để đề bạt vào vị trí lãnh đạo, quản lý. Song, nếu chiếu theo tinh thần của Luật này, chúng ta lại thấy sự bất hợp lý đối với cán bộ nữ về độ tuổi được tham gia đề bạt. Nếu theo tinh thần quy định độ tuổi đề bạt lãnh đạo, quản lý như hiện nay, nữ cán bộ phải trưởng thành sớm hơn nam giới 5 năm. Như vậy, mô hình chung, khung chính sách có sự mâu thuẫn với nhau, một mặt cho rằng cơ hội ngang nhau giữa nam và nữ; mặt khác, quy định giới hạn độ tuổi được đề bạt vào chức vụ lãnh đạo, quản lý. Nên chăng, trong quá trình xây dựng và ban hành chính sách, các cơ quan chức năng cần tiến hành điều tra, khảo sát để đánh giá nhu cầu của các bên liên quan để có sự phân nhóm xã hội trong khung chính sách nhằm vừa đảm bảo được quyền lợi cho các bên liên quan vừa thu hút được nguồn lực chất lượng cao vào quá trình lãnh đạo, quản lý. So sánh với nhóm nam giới, phụ nữ dẫu có nỗ lực và năng lực nhưng với thiên chức làm vợ, làm mẹ của mình họ đã bị gián đoạn những thời gian nhất định nên nếu khung chính sách quy định tuổi quy hoạch, đào tạo, bổ nhiệm thấp hơn so với nam giới thì nhìn nhận ở một góc độ nào đó là rào cản đối với họ. Bên cạnh đó, cũng chú ý rà soát các quy định tại các đề án cử cán bộ đào tạo ở nước ngoài, hoặc tham gia học các khóa bồi dưỡng do các cơ quan Đảng, chính quyền, tổ chức chính trị – xã hội… Nếu bản thân của khung pháp lý đã thể hiện sự thiếu đồng nhất thì việc thực hiện chính sách bình đẳng giới trong tham chính sẽ còn nhiều thách thức và khó có thể lấp đầy khoảng cách bất bình đẳng giới trong lĩnh vực này. Sự phân biệt đối xử trong khung chính sách cũng sẽ ảnh hưởng tới việc duy trì khuôn mẫu giới về lãnh đạo quản lý trong cộng đồng, đặc biệt đặt trong bối cảnh xã hội của tỉnh Phú Thọ. Có thể nói đây là giải pháp mang tính chiến lược, lâu dài để đảm bảo tiếng nói và quyền lực chính trị của người phụ nữ trong chính trường và góp phần đảm bảo bình đẳng giới một cách bền vững. Luận văn: Giải pháp PL bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
Các địa phương, trong đó có tỉnh Phú Thọ cần chú trọng công tác quy hoạch đội ngũ nguồn cán bộ nữ làm công tác lãnh đạo, quản lý. Qua nghiên cứu thực tiễn, tỷ lệ phụ nữ tham gia cán bộ, lãnh đạo quản lý còn thấp, chủ yếu giữ chức vụ là cấp Phó. Trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trị và sự trải nghiệm của phụ nữ qua thực tiễn còn khiêm tốn khi so sánh với nam giới. Bởi vậy, để phụ nữ có đủ điều kiện tham gia vào lãnh đạo, quản lý thì cần xem đây là công việc quan trọng và thường xuyên của Đảng và Nhà nước, các ban ngành, các địa phương, đặc biệt ở cấp cơ sở để tránh sự thiếu hụt về số lượng cán bộ nữ. Cùng với Luật bình đẳng giới và các văn bản dưới Luật, Nghị quyết 11- NQ/TW của Bộ Chính trị “Về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” là một trong những cơ sở quan trọng để xây dựng giải pháp này. Nghị quyết nêu rõ “Phát huy vai trò, tiềm năng to lớn của phụ nữ trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao địa vị phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội là một trong những nhiệm vụ và mục tiêu quan trọng của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới”. Do đó, công tác phụ nữ phải sát hợp với từng đối tượng, vùng, miền, phát huy được tinh thần làm chủ, tiềm năng, sức sáng tạo và khả năng đóng góp của các tầng lớp phụ nữ đối với các lĩnh vực của dời sống xã hội, góp phần xây dựng và phát triển đất nước; cần chăm lo cho phụ nữ tiến bộ về mọi mặt, quan tâm đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng để phụ nữ có điều kiện, cơ hội phát huy vai trò của mình. Đồng thời, xây dựng, phát triển vững chắc đội ngũ cán bộ nữ tương xứng với vai trò to lớn của phụ nữ là yêu cầu khách quan, là nội dung quan trọng trong chiến lược công tác cán bộ của Đảng.
Để đảm bảo thực hiện hiệu quả mục tiêu của Nghị quyết 11-NQ/TW: “Phấn đấu đến năm 2020, phụ nữ được nâng cao trình độ về mọi mặt, có trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế;…tham gia ngày càng nhiều hơn công việc xã hội, bình đẳng trên mọi lĩnh vực; đóng góp ngày càng lớn hơn cho xã hội và gia đình. Phấn đấu để nước ta là một trong các quốc gia có thành tựu bình đẳng giới tiến bộ nhất của khu vực” lãnh đạo các cơ quan, đơn vị, các cấp, các ngành cần có giải pháp chiến lược quy hoạch, đề bạt theo từng giai đoạn 5 năm hoặc 10 năm. Công tác quy hoạch, đề bạt cần phải công khai, minh bạch với tinh thần dân chủ để tạo điều kiện cho cán bộ nữ có hướng phấn đấu.
Bên cạnh đó, quan tâm công tác tạo nguồn cán bộ nữ nhằm đảm bảo không thiếu hụt cán bộ khi được quy hoạch ở chức vụ lãnh đạo, quản lý. Để thực hiện điều này, lãnh đạo các cấp, các nhành, các cơ quan, đơn vị cần chú ý tới việc tạo điều kiện, cơ hội cho phụ nữ tham gia vào các khoá đào tạo nâng cao trình độ về chuyên môn, lý luận chính trị, quản lý Nhà nước và bồi dưỡng kiến thức nghiệp vụ cũng như việc tham gia hoạt động xã hội. Luận văn: Giải pháp PL bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
Cần có cơ chế đảm bảo phụ nữ là chủ thể của quyền chính trị chứ không phải là khách thể của quyền. Từ trước đến nay, chúng ta thường nhắc đến sự trao quyền cho phụ nữ. Điều này đồng nghĩa với chúng ta chỉ xem phụ nữ là khách thể của quyền chứ không phải là chủ thể. Chủ thể của quyền là người phụ nữ phải biết mình có quyền và tự đòi hỏi lấy quyền đó, sử dụng các quyền có được để thực hiện mục đích của họ. Quyền chính trị là một trong những quyền cơ bản của phụ nữ được quy định cụ thể ở công ước CEDAW và khung pháp lý của Việt Nam. Mặc dù vậy, quyền chính trị bị hạn chế rất nhiều bởi nhiều yếu tố khách quan và chủ quan chi phối; nhận thức và hành vi trao quyền cho phụ nữ với tư cách, phụ nữ là khách thể quyền đã khiến cho họ không thực hiện một cách trọn vẹn. Vì vậy, để làm được điều này các tổ chức trong hệ thống chính trị cần có những giải pháp để đảm bảo phụ nữ với tư cách là chủ thể của quyền.
3.2.2. Giải pháp cụ thể
- Phải rà soát, hợp nhất, thiết lập lại một hệ thống các chế tài đủ mạnh đối với việc xử lý vi phạm các quy định pháp luật về bình đẳng giới.
Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật có chất lượng khả thi trong thực tiễn đời sống xã hội là một trong những nhiệm vụ quan trọng cốt lõi, cấp thiết trong việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa hiện nay. Để có một hệ thống pháp luật hoàn thiện, thực chất đòi hỏi từng bộ phận trong hệ thống đó cũng phải hoàn thiện, do đó việc hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật của nước ta. Mặc dù trong những năm qua, hệ thống pháp luật về bình đẳng giới ở Việt Nam đang từng bước hoàn thiện, nhiều quy định tiến bộ đảm bảo cho vấn đề bình quyền giữa nam và nữ, song vẫn chỉ đạt được ở mức độ quy định chung, hầu hết các quy phạm pháp luật bình đẳng giới, nhất là các quy phạm về xử lý vi phạm pháp luật bình đẳng giới chưa theo cách diễn đạt “quy phạm trực tiếp” bao gồm cả ba phần giả định, quy định và chế tài, mà mới chỉ có phần giả định, hoặc chỉ có phần quy định, và hầu như phần chế tài rất ít, hoặc phần này còn nằm dải rác ở các Luật và các văn bản quy phạm pháp luật khác không tập trung, do đó việc xử lý các vi phạm pháp luật bình đẳng giới chưa đủ mạnh, chưa đủ sức răn đe đối với hành vi vi phạm pháp luật bình đẳng giới, đặc biệt gây khó khăn cho khâu áp dụng pháp luật, điều này đã làm cho vai trò của Luật bình đẳng giới không phát huy được hết hiệu lực thực thi và không đi vào thực tiễn cuộc sống, dẫn đến thực trạng bất bình đẳng giới giữa nam và nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội vẫn tồn tại dai dẳng, và là vấn đề bức xúc của xã hội. Luận văn: Giải pháp PL bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
Tác giả luận văn xin đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện hệ thống chế tài pháp luật bình đẳng giới, nhằm phát huy hiệu lực, hiệu quả của Luật và tăng tính khả thi thực thi luật trong thực tiễn như sau:
Thứ nhất, cần rà soát, hợp nhất và thiết lập lại hệ thống các chế tài pháp luật bình đẳng giới đủ mạnh, đủ sức răn đe đối với các hành vi vi phạm pháp luật bình đẳng giới, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong từng thời kỳ, phải đảm bảo tính dự báo ít nhất từ 10 đến 20 năm. Trong quá trình rà soát và hệ thống hoá văn bản phải phân loại và xác định những văn bản, những quy phạm nào không còn hiệu lực thi hành hoặc trùng lắp, chồng chéo cần lược bớt, hoặc sửa đổi, bổ sung, hợp nhất cho phù hợp, những văn bản nào đã ban hành mà chất lượng không cao, không còn phù hợp thì phải có biện pháp khắc phục như bãi bỏ hoặc sửa đổi, bổ sung.
Thứ hai, rà soát, thiết lập, sửa đổi, bổ sung hệ thống chế tài xử lý vi phạm pháp luật bình đẳng giới theo hướng đa dạng các đối tượng, nhiều quy phạm nên theo cách diễn đạt “quy phạm trực tiếp”, bao gồm cả ba phần giả định, quy định và chế tài, tương ứng với hành vi vi phạm là chế tài xử lý, như vậy mới đảm bảo cơ cấu lôgích của quy phạm pháp luật, thể hiện mục đích, yêu cầu của điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ xã hội. Các điều luật quy định các hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới của Luật bình đẳng giới hiện hành hầu như chưa theo cách diễn đạt “quy phạm trực tiếp”, mới chỉ có phần giả định, hoặc phần quy định mà chưa có phần chế tài, hầu hết sử dụng phương thức viện dẫn điều luật, thiết nghĩ phải chăng vì điều này đã làm cho việc thực thi, áp dụng Luật bình đẳng giới trong thực tiễn còn nhiều khó khăn, vướng mắc do vậy tính khả thi của Luật chưa cao. Để tăng tính hiệu lực, hiệu quả của Luật trong thực tiễn tác giả luận văn đề xuất giải pháp: Đối với các điều quy định các hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội như điều 40, 41 của Luật bình đẳng giới nên sửa đổi theo hướng diễn đạt đảm bảo đủ cơ cấu của quy phạm pháp luật, chế tài nên được nêu cụ thể ngay trong các điều luật, tránh sử dụng nhiều phương thức viện dẫn, như vậy sẽ thuận lợi cho việc tìm hiểu và áp dụng pháp luật bình đẳng giới trong thực tiễn.
Thứ ba, rà soát, thiết lập, sửa đổi, bổ sung hệ thống chế tài xử lý vi phạm pháp luật bình đẳng giới đảm bảo tính phù hợp, thống nhất, đồng bộ giữa các Luật trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội về bình đẳng giới, đặc biệt Bộ luật Hình sự/2015/QH13 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 27 tháng 11 năm 2015 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2016 đã quy định rất rõ các chế tài hình sự đối với tội phạm xâm phạm quyền bình đẳng giới (điều 165); xâm phạm quyền của công dân về bầu cử, ứng cử hoặc biểu quyết khi Nhà nước trưng cầu ý dân (điều 160); buộc công chức, viên chức thôi việc hoặc sa thải người lao động trái pháp luật (điều 162) đã thể hiện tính nghiêm khắc, răn đe đối với các hành vi vi phạm phát luật bình đẳng giới, vì vậy cần rà soát thiết lập, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật bình đẳng giới hiện hành đảm bảo tính chỉnh thể thống nhất, toàn diện tránh việc trồng chéo, trùng lắp hoặc không thống nhất. Luận văn: Giải pháp PL bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
- Phải thiết lập cơ chế giám sát việc xử lý vi phạm
Hiện nay, công tác giám sát việc thực hiện pháp luật bình đẳng giới nói chung và thực hiện pháp luật bình đẳng giới trong các lĩnh vực chính trị, giáo dục, lao động nói riêng của các cơ quan nhà nước đối với tỉnh Phú Thọ chưa được quan tâm đúng mực, chưa có cơ chế giám sát cho hoạt động này, dẫn đến việc thực hiện công tác này còn hạn chế, hầu như mới chỉ có các chương trình, kế hoạch giám sát lẻ tẻ theo chuyên đề do Hội Liên hiêp phụ nữ tỉnh tổ chức đoàn giám sát, nội dung giám sát chủ yếu tập trung cho vấn đề vi phạm pháp luật bình đẳng giới trong lĩnh vực gia đình, vấn đề về bạo lực gia đình hoặc chế độ chính sách đối với phụ nữ dân tộc thiểu số; đối tượng giám sát chủ yếu vẫn là cán bộ cấp xã. Để đảm bảo thực hiện pháp luật bình đẳng giới trong thực tiễn đạt hiệu quả, theo tác giả luận văn tỉnh Phú Thọ và các địa phương cần quan tâm thiết lập cơ chế giám sát việc thực hiện pháp luật bình đẳng giới, đặc biệt giám sát việc xử lý vi phạm pháp luật bình đẳng giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội theo hướng:
Thứ nhất, hình thành cơ chế phối hợp giữa các chủ thể có quyền giám sát đối với cơ quan hành chính nhà nước cũng như cơ chế phối hợp giữa giám sát của nhân dân với các hình thức giám sát của Hội đồng nhân dân. Trong đó quy định rõ về nội dung, phạm vi, chủ thể, trình tự, thủ tục các hình thức giám sát của các chủ thể có quyền giám sát; các nguồn lực đảm bảo cho hoạt động giám sát, đặc biệt quan tâm xây dựng tỷ lệ chi ngân sách thường xuyên hàng năm theo hình thức khoán kinh phí cho hoạt động giám sát việc thực hiện pháp luật bình đẳng giới đối với các cơ quan, đơn vị có thẩm quyền giám sát.
Thứ hai, phát huy vai trò giám sát trực tiếp của Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội, không để xảy ra tình trạng các chủ thể giám sát bị lệ thuộc vào chính đối tượng bị giám sát về ngân sách và các nguồn lực khác, dẫn đến tình trạng không độc lập khi thực hiện nhiệm vụ của mình, ảnh hưởng đến hiệu quả giám sát không khách quan, dân chủ và minh bạch. Nên có quy định cứng đảm bảo cho Mặt trận tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội tham gia vào các khâu về công tác cán bộ nữ, cũng như giám sát, phản biện xã hội về chính sách liên quan đến phụ nữ và công tác cán bộ nữ ở các cấp.
Thứ ba, Cần quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị liên quan trong thực hiện, hỗ trợ giám sát và cung cấp thông tin, tạo điều kiện thuận lợi cho chủ thể giám sát thực hiện giám sát.
Thứ tư, Tăng cường công tác tập huấn về hoạt động giám sát cho cán bộ Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể và các cấp, các ngành có liên quan. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh triển khai tuyên truyền, tổ chức thực hiện Bộ Luật hình sự /2015/QH13, các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Bình đẳng giới, trong đó có Nghị định số 55/2009/NĐ-CP ngày 10/6/2009 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về bình đẳng giới, đây là những công cụ pháp lý quan trọng để xử lý vi phạm pháp luật bình đẳng giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Luận văn: Giải pháp PL bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
- Giáo dục pháp luật cho phụ nữ.
Giáo dục pháp luật có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, nhằm cung cấp tri thức pháp luật, nâng cao hiểu biết pháp luật cho con người, góp phần hình thành ý thức, niềm tin pháp luật, xây dựng tình cảm pháp luật trong sáng và thói quen xử sự theo pháp luật của con người. Giáo dục pháp luật còn là khâu đầu tiên trong quá trình triển khai thực hiện pháp luật, nhằm đưa luật đi vào thực tiễn cuộc sống.
Hiện nay, công tác giáo dục pháp luật cho phụ nữ được các cấp, các ngành, các địa phương trong cả nước nói chung và tỉnh Phú Thọ nói riêng rất quan tâm, nhiều hình thức giáo dục được triển khai như: mở các lớp tập huấn, tư vấn trực tiếp, phát tờ rơi, giáo dục trên hệ thống thông tin đại chúng,…qua đó đã góp phần làm thay đổi nhận thức của phụ nữ theo hướng tiến bộ về vị trí, vai trò của họ, giúp họ khẳng định được bản thân mình trong xã hội, đóng góp nhiều cho thành quả phát triển kinh tế – xã hội, ổn định chính trị của tỉnh, của đất nước. Song nhìn tổng thể chất lượng nhận thức, hiểu biết của phụ nữ về kiến thức, ý thức phát luật, về vị trí, vai trò, quyền lợi của mình trong gia đình và xã hội còn hạn chế, còn tồn tại tư tưởng tự ti, cam chịu và an phận, ngày cả đối với một bộ phận không nhỏ trong tầng lớp nữ trí thức, hầu hết họ chưa phát huy hết quyền của mình theo quy định của pháp luật, nhiều trường hợp phụ nữ không tự bảo vệ được quyền lợi cho bản thân mình, do họ còn mù mờ về quyền lợi mà họ được hưởng hoặc do họ không hiểu biết phát luật. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng giáo dục pháp luật chưa đạt hiệu quả như mong muốn, trong đó nguyên nhân cơ bản là công tác giáo dục chưa đúng hướng làm cho các quy định của pháp luật về bình đẳng giới, về quyền của phụ nữ chưa phát huy hết hiệu lực, chưa đi vào thực tiễn cuộc sống. Để khắc phục tình trạng này, cần phải xác định rõ một số vấn đề mang tính nguyên tắc đó là:
Thứ nhất, Cần xác định rõ công tác giáo dục pháp luật cho phụ nữ là việc làm thường xuyên, liên tục và lâu dài, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, vì vậy phải đưa công tác giáo dục pháp luật cho phụ nữ trở thành nhiệm vụ thường xuyên hàng năm của các cấp ủy Đảng, thủ trưởng cơ quan, đơn vị, ban nữ công công đoàn các cấp và phải thường xuyên tổng kết, đánh giá kết quả, tìm nguyên nhân, bổ sung kịp thời những khiếm khuyết trong công tác giáo dục phát luật cho phụ nữ. Có kết luận cụ thể về hiệu quả của công tác giáo dục, sự chuyển biến trong nhận thức của các tầng lớp phụ nữ. Ngoài ra cần quy định rõ nguồn kinh phí cấp cho hoạt động giáo dục đối với từng cơ quan, đơn vị.
- Thứ hai, cần đổi mới nội dung, hình thức, nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật cho phụ nữ theo hướng:
Nội dung có trọng tâm, trọng điểm, chuyên sâu kết hợp với giáo dục trong thực tiễn, theo hướng chắt lọc kiến thức theo đối tượng, thiếu kiến thức phát luật ở lĩnh vực nào thì giáo dục pháp luật ở lĩnh vực ấy, tránh giáo dục tràn lan, kém hiệu quả, chú trọng giáo dục kiến thức về quyền của phụ nữ trong pháp luật, nhất là cách thức bảo vệ quyền của phụ nữ, bên cạnh đó quan tâm đến công tác giáo dục truyền thống, giáo dục phẩm chất đạo đức phụ nữ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước theo 4 tiêu chí “Tự tin – Tự trọng – Trung hậu – Đảm đang”; giúp phụ nữ có đủ trình độ, năng lực làm chủ bản thân, làm chủ gia đình và có điều kiện tham gia các hoạt động xã hội. Luận văn: Giải pháp PL bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
Hình thức giáo dục đa dạng, phong phú, thiết thực, phù hợp với đối tượng phụ nữ nông thôn, thành thị, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, nữ trí thức, phụ nữ dân tộc thiểu số, tôn giáo,…thông qua các loại hình như giáo dục trực tiếp, tổ chức cuộc thi tìm hiểu, tọa đàm, phỏng vấn sâu,…lồng ghép các hoạt động giáo dục pháp luật với các loại hình văn hóa, văn nghệ, sân khấu hóa tiểu phẩm, xây dựng các chuyên trang, chuyên mục phổ biến giáo dục pháp luật trên các phương tiện thông tin đại chúng. Khuyến khích phong trào tự tìm hiểu, tự học tập trong các tầng lớp phụ nữ, tiếp tục duy trì nâng chất lượng hoạt động các mô hình giáo dục pháp luật cho phụ nữ như; Câu lạc bộ phụ nữ với pháp luật, tủ sách pháp luật, pháp luật và đời sống,…
Thứ ba, cần chấn chỉnh kỷ cương, phong cách lãnh đạo, điều hành của cán bộ nữ, khắc phục tư tưởng an phận hoặc tình trạng níu kéo, không thừa nhận lẫn nhau. Bản thân cán bộ nữ cần chủ động nâng cao nhận thức về giới, có kế hoạch học tập, trau dồi kiến thức, năng lực công tác, nhạy bén tiếp thu cái mới, rèn luyện phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị vững vàng.
Thứ tư, Thiết kế, xây dựng và nâng chất lượng bộ công cụ tuyên truyền, tài liệu tuyên truyền, giáo dục về pháp luật, về quyền của phụ nữ trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, về giới và bình đẳng giới. Mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ, kỹ năng công tác tuyên truyền giáo dục cho đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật.
Thứ năm, tăng cường khuyến khích sự phối hợp thống nhất giữa các cơ quan, tổ chức trong hoạt động tuyên truyền, giáo dục để tạo nên sức mạnh tổng hợp, nhằm nâng cao nhận thức, ý thức pháp luật, về giới và trách nhiệm thực hiện bình đẳng giới cho phụ nữ, nam giới và các tầng lớp nhân dân.
Thứ sáu, vận động, khuyến khích, cổ vũ nam giới chia sẻ công việc gia đình với phụ nữ và ủng hộ phụ nữ (người vợ của mình) khi tham gia công tác xã hội, tham gia tham chính và giữ các chức vụ chủ chốt trong các cơ quan, tổ chức của hệ thống chính trị.
- Hoàn thiện các điều kiện đảm bảo để Luật bình đẳng giới đi vào cuộc sống một cách thực chất.
- Hoàn thiện về chính sách cán bộ nữ: Luận văn: Giải pháp PL bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
Thứ nhất, các nhà lãnh đạo tỉnh Phú Thọ cần tập trung rà soát loại bỏ, sửa đổi, bổ sung các chế độ, chính sách đối với lao động nữ và cán bộ nữ không còn phù hợp với điều kiện thực tiễn phát triển của tỉnh và của đất nước. Tiếp tục xây dựng Chương trình, Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2020 và tầm nhìn đến năm 2030.
Thứ hai, Có chủ trương chính sách cứng trong quy hoạch cán bộ, đảm bảo thể hiện rõ tính liên tục, kế thừa, phát triển và trẻ hóa đội ngũ cán bộ nữ, từng bước chủ động trong công tác quy hoạch, bảo đảm đạt tỷ lệ cán bộ nữ theo quy định thực tiễn và cơ cấu hợp lý; đưa công tác quy hoạch cán bộ, công chức trở thành nhiệm vụ thường xuyên hàng năm của các cấp ủy Đảng, thủ trưởng cơ quan, đơn vị và phải thường xuyên tổng kết, đánh giá kết quả, tìm nguyên nhân, bổ sung kịp thời những khiếm khuyết trong việc thực hiện quy hoạch công chức của cơ quan, đơn vị mình; công tác quy hoạch “động” và “mở”, với đối tượng quy hoạch rộng rãi trong toàn ngành, toàn tỉnh, không khép kín, cục bộ. Cần phân định rõ trách nhiệm trong phê duyệt quy hoạch, kiên quyết không phê duyệt quy hoạch cán bộ cho cấp ủy, tổ chức đảng và các cơ quan, đơn vị cấp dưới nếu không bảo đảm tỷ lệ nữ theo quy định.
Thứ ba, Xây dựng quy hoạch cán bộ phải trên cơ sở gắn kết với các khâu trong quy trình công tác cán bộ như: đánh giá, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, sắp xếp, bố trí, sử dụng cán bộ. Phải thực sự tạo điều kiện, cơ hội cho cán bộ nữ có trình độ, năng lực được rèn luyện phấn đấu trưởng thành, cống hiến và phát huy khả năng.
Thứ tư, Xây dựng, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện cơ chế chính sách về phát triển nguồn cán bộ nữ, chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ của tỉnh. Đào tạo, bồi dưỡng có trọng tâm, trọng điểm, chuyên sâu kết hợp với đào tạo trong thực tiễn, có cơ chế kiểm tra, đánh giá và sử dụng sau đào tạo cán bộ nữ. Chủ động lồng ghép giới vào quá trình hoạch định thực thi chính sách; bồi dưỡng nâng cao kỹ năng lãnh đạo, quản lý cho cán bộ nữ các cấp. Cần tiếp tục sửa đổi, bổ sung quy định mức hỗ trợ cho cán bộ, công chức, viên chức đi học tập trung, theo hướng có chính sách ưu tiên, khuyến khích cán bộ nữ tham gia đào tạo, bồi dưỡng; tăng mức hỗ trợ đào tạo cho cán bộ nữ thuộc diện trong quy hoạch vị trí chủ chốt được cử tham gia học tập. Giải quyết chế độ hỗ trợ cho cán bộ nữ đi học đầy đủ, kịp thời. Đầu tư ngân sách cho lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ.
Thứ năm, Quy định cụ thể công tác quản lý, khen thưởng, kỷ luật trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách liên quan đến công tác tuyển dụng, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm, đề bạt, luân chuyển của cấp ủy, chính quyền và các ban, ngành, tổ chức chính trị – xã hội. Đảm bảo chế tài khen thưởng, xử phạt cụ thể đối với các tổ chức, cá nhân trong quá trình thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về cán bộ nữ, công tác cán bộ nữ. Lấy công tác cán bộ nữ là một trong những tiêu chí đánh giá xếp loại hàng năm của từng cơ quan, đơn vị. Luận văn: Giải pháp PL bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
Thứ sáu, Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong cơ chế, chính sách về tuyển dụng, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ nữ cũng cần được quan tâm, triển khai thực hiện đồng bộ. Việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong cơ chế, chính sách về tuyển dụng, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ là rất cần thiết, tạo tiền đề pháp lý để thực thi bình đẳng giới trong công tác tổ chức cán bộ của các cơ quan, tổ chức, đơn vị trên thực tế. Lồng ghép giới là đảm bảo các thể chế, chính sách, chương trình đáp ứng nhu cầu và lợi ích của nam và nữ, tạo điều kiện, cơ hội như nhau giữa hai nhóm đối tượng này trong tham gia lãnh đạo, quản lý; Cần xác định rõ cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm giải quyết vấn đề giới và có đầu tư nguồn lực giải quyết vấn đề giới trong các khâu tổ chức cán bộ
- Nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý Nhà nước đối với công tác bình đẳng giới.
Trong những năm qua, Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ ta đã và đang từng bước hoàn thiện hệ thống chế độ, chính sách thực hiện pháp luật Bình đẳng giới và các luật có liên quan tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, khẳng định vị trí, vai trò và phát huy khả năng góp phần trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh. Nhìn chung hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về thực hiện pháp luật bình đẳng giới của tỉnh ngày càng được nâng lên rõ rệt. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được ban hành khá đầy đủ; các quyết định, quy định liên quan đến bình đẳng giới được thực hiện trên thực tế ngày càng cao hơn. Ý thức chấp hành pháp luật bình đẳng giới ngày càng được nâng lên, từng bước xóa bỏ định kiến giới và bất bình đẳng giới trong công tác cán bộ và trong lĩnh vực chính trị. Thực hiện chính sách, pháp luật về bình đẳng giới đã góp phần giữ vững ổn định chính trị-xã hội, tạo được nhiều cơ hội, điều kiện cho phụ nữ tham gia quản lý Nhà nước, khẳng định sự tiến bộ xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn một số tồn tại đó là: Hiệu quả thực thi pháp luật bình đẳng giới trên thực tế không cao, có không ít những quy định của pháp luật bình đẳng giới và những quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền liên quan đến bình đẳng giới không được thực thi hoặc thực thi hình thức, một trong những nguyên nhân của tình trạng ấy là các hoạt động vì mục tiêu bình đẳng giới chưa được coi là một lĩnh vực của quản lý nhà nước.
Để góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về bình đẳng giới đặc biệt trong công tác cán bộ nữ, trong giai đoạn tới tỉnh Phú Thọ cần quan tâm thực hiện một số giải pháp chủ yếu sau:
Một là, Tiếp tục bổ sung hoàn thiện hệ thống văn bản thực hiện pháp luật bình đẳng giới trong công tác cán bộ, trong đó chỉ ra từng nội dung của quản lý nhà nước và quy định cụ thể trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị trong việc thực hiện các hoạt động bình đẳng giới. Luận văn: Giải pháp PL bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
Hai là, Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước; giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội; đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân các cấp. Có quy định xử lý nghiêm minh các cơ quan, đơn vị và các trường hợp vi phạm.
Ba là, Sử dụng đồng bộ các công cụ quản lý: pháp luật, quy hoạch, tài chính và hành chính trong thực hiện pháp luật bình đẳng giới đảm bảo cho việc thực hiện pháp luật bình đẳng giới được thực thi trên thực tế.
Bốn là, Xây dựng nền hành chính thực sự công minh bạch, hiệu quả đảm bảo thực hiện tốt các hoạt động quản lý nhà nước về bình đẳng giới.
- Đảm bảo cơ chế phối hợp liên ngành thực hiện pháp luật bình đẳng giới và thúc đẩy bình đẳng giới – sự tiến bộ phụ nữ
Có thể khẳng định rằng, từ khi có Luật bình đẳng giới, các cơ quan, ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội trong hệ thống chính trị đã nỗ lực xây dựng và triển khai nhiều chương trình, mô hình bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực nhằm nâng cao nhận thức, hiểu biết của người dân, các cấp, các ngành và toàn cộng đồng về bình đẳng giới, từng bước xóa bỏ định kiến giới và khoảng cách giới, đặc biệt còn thúc đẩy bình đẳng giới và sự tiến bộ phụ nữ. Tuy nhiên trên thực tế việc triển khai thực hiện pháp luật bình đẳng giới còn thiếu tính đồng bộ, chưa chặt chẽ, chưa tạo được sức mạnh tổng thể trong thực hiện áp dụng pháp luật dẫn đến thực trạng hiệu quả thực hiện pháp luật bình đẳng giới còn hạn chế, còn tư tưởng định kiến, phân biệt giới, khoảng cách giới giữa nam và nữ trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực chính trị còn xa, do vậy chưa đáp ứng được mục tiêu yêu cầu nhiệm vụ cách mạng của Đảng và Nhà nước về công tác bình đẳng giới và sự tiến bộ xã hội.
Thực tiễn cũng cho thấy việc xây dựng một Quy chế phối hợp liên ngành trong việc thực hiện pháp luật bình đẳng giới và thúc đẩy bình đẳng giới – sự tiến bộ phụ nữ triển khai thực hiện thống nhất từ Trung ương đến địa phương là hết sức cần thiết. Quy chế phối hợp liên ngành trong thực hiện pháp luật bình đẳng giới và thúc đẩy bình đẳng giới – sự tiến bộ phụ nữ sẽ là cơ sở để nâng cao hiệu quả công tác điều phối, kết nối và tạo cơ chế chia sẻ thông tin, báo cáo thường xuyên giữa các bộ, ban, ngành, các tổ chức từ Trung ương đến địa phương; tạo sự phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ, khoa học trong việc triển khai các hoạt động bình đẳng giới, thúc đẩy bình đẳng giới và sự tiến bộ phụ nữ; phát huy tối đa hiệu quả các nguồn lực đầu tư nhằm đảm bảo đạt được các mục tiêu đã đề ra trong Chiến lược Bình đẳng giới và Nghị quyết 11-NQ/TW của Bộ Chính trị. Quy chế này cần quy định rõ trách nhiệm cụ thể của các bộ, ngành, cơ quan, tổ chức, các cấp liên quan tới bình đẳng giới; đặc biệt cần quy định rõ trách nhiệm trong trường hợp không hoàn thành nhiệm vụ theo phân cấp, phân nhiệm.
- Kiện toàn Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ; tiểu ban công tác cán bộ nữ và bộ máy cán bộ làm công tác tổ chức cán bộ trong các cơ quan, đơn vị. Luận văn: Giải pháp PL bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
Nhân tố quyết định trực tiếp đến thực hiện pháp luật bình đẳng giới trong xây dựng đội ngũ cán bộ nữ chính là công tác cán bộ, mà chất lượng của công tác cán bộ phụ thuộc rất nhiều vào bộ máy và con người làm công tác cán bộ, mà trước hết là Ban vì sự tiến bộ phụ nữ; tiểu ban công tác cán bộ nữ, bộ máy cán bộ và con người làm công tác tổ chức cán bộ trong các cơ quan, đơn vị. Vì vậy, kiện toàn và nâng cao chất lượng hoạt động của Ban vì sự tiến bộ phụ nữ; tiểu ban công tác cán bộ nữ, bộ máy cán bộ làm công tác tổ chức cán bộ đòi hỏi cần thiết, khách quan trong điều kiện, trong giai đoạn hiện nay.
Trước hết, cần tiếp tục kiện toàn hệ thống Ban vì sự tiến bộ phụ nữ các cấp từ tỉnh đến cơ sở và Tiểu ban công tác cán bộ nữ của tỉnh theo hướng: Trưởng ban và Trưởng tiểu ban phải là đồng chí Chủ tịch Ủy ban nhân dân và Phó Bí thư Tỉnh ủy; các thành viên phải là các đồng chí lãnh đạo cấp Trưởng các cơ quan, ban, ngành liên quan, các đối tượng này đã được qua đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ về Luật.
Đối với cán bộ làm công tác tổ chức cán bộ trong các cơ quan, đơn vị ngoài tiêu chuẩn chung cán bộ, công chức, cần phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, có quan điểm giai cấp rõ ràng trong việc dùng người, phải thực sự trung thực, công tâm, trong sáng, khách quan, có trình độ quản lý con người và đã được qua đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ về Luật. Muốn xây dựng được đội ngũ những người làm công tác tổ chức, cán bộ như vậy, phải chú trọng khâu đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, đặc biệt kiến thức chuyên ngành phục vụ công tác tổ chức cán bộ như kiến thức về khoa học tổ chức, về tâm lý học, xã hội học, kiến thức về giới, lồng ghép giới, bình đẳng giới và kiến thức về Luật.
Bên cạnh đó cần thường xuyên tập huấn kiến thức , kỹ năng hoạt động bình đẳng giới cho đội ngũ cán bộ làm công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ , cán bộ tham mưu hoạch định chính sách và cán bộ làm công tác pháp chế ở các ngành , cơ quan của tỉnh . Tổng kết, đánh giá tình h ình thực hiện Chỉ thị số 27/2004/CT-TTg ngày 15/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ ở các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
- Huy động nguồn lực cho các hoạt động bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ
Việc thực hiện pháp Luật bình đẳng giới và sự tiến bộ phụ nữ còn tồn tại nhiều hạn chế, trong đó phải kể đến nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tình trạng trên đó là nguồn kinh phí dành cho hoạt động này còn ít, còn có hiện tượng thất thoát, do vậy để khắc phục hạn chế này, tỉnh Phú Thọ và các địa phương cần tăng cường đầu tư kinh phí cho các hoạt động bình đẳng giới và tiến bộ phụ nữ, có chính sách ưu tiên lập ngân sách giới, bởi lẽ việc lập ngân sách giới sẽ biết được nguồn kinh phí được sử dụng vào việc gì, cho đối tượng nào, sẽ khắc phục, giảm thiểu hiện tượng thất thoát ngân sách đối với hoạt động, và giúp cho cán bộ tài chính thuận lợi trong việc rà soát, phân bổ ngân sách. Bên cạnh đó các cấp, các ngành cần chủ động trong việc phát huy nội lực và huy động nguồn lực từ sự tài trợ của các tổ chức, cá nhân, các chương trình, dự án trong nước và nước ngoài mà cơ quan, đơn vị mình hợp tác công tác.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 Luận văn: Giải pháp PL bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
Từ những ưu điểm, hạn chế của việc thực hiện pháp luật Bình đẳng giới trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ nữ của tỉnh Phú Thọ hiện nay và yêu cầu của vấn đề bình đẳng giới trong giai đoạn mới, đòi hỏi phải có những quan điểm định hướng chỉ đạo và những giải pháp tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng của việc thực hiện pháp luật Bình đẳng giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội nói chung và trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ nữ nói riêng.
Để nâng cao chất lượng việc thực hiện pháp luật Bình đẳng giới đối với xây dựng đội ngũ cán bộ nữ của tỉnh Phú Thọ cần được thực hiện trên những quan điểm định hướng sau:
- Phải gắn liền với mục tiêu Bình đẳng giới của Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
- Phải bám sát mục tiêu, quan điểm của Đảng và Nhà nước về bình đẳng giới trong Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị.
- Phải bám sát phương hướng, nhiệm vụ của Đảng bộ và chính quyền tỉnh Phú Thọ trong thời gian tới.
Trên cơ sở đặc điểm, tình hình cụ thể của tỉnh Phú Thọ và đất nước, luận văn bước đầu đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng thực hiện pháp luật Bình đẳng giới, cụ thể trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ nữ của tỉnh Phú Thọ, đáp ứng với yêu cầu Bình dẳng giới hiện nay. Các giải pháp được xác định là:
- Phải rà soát, hợp nhất, thiết lập lại một hệ thống các chế tài đủ mạnh đối với việc xử lý vi phạm các quy định pháp luật về bình đẳng giới
- Phải thiết lập cơ chế giám sát việc xử lý vi phạm
- Giáo dục pháp luật cho phụ nữ.
- Hoàn thiện các điều kiện đảm bảo để Luật bình đẳng giới đi vào cuộc sống một cách thực chất
- Hoàn thiện về chính sách về cán bộ nữ
- Nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý Nhà nước đối với công tác bình đẳng giới.
- Đảm bảo cơ chế phối hợp liên ngành thực hiện pháp luật bình đẳng giới và thúc đẩy bình đẳng giới – sự tiến bộ phụ nữ
- Kiện toàn Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ; tiểu ban công tác cán bộ nữ và bộ máy cán bộ làm công tác tổ chức cán bộ trong các cơ quan, đơn vị Luận văn: Giải pháp PL bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
- Huy động nguồn lực cho các hoạt động bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ.
KẾT LUẬN
Phát huy truyền thống vẻ vang của phụ nữ Việt Nam “Anh hùng – Bất khuất – Trung hậu – Đảm đang”, phụ nữ Phú Thọ luôn cần cù, sáng tạo trong lao động, có nhiều đóng góp cho sự nghiệp cách mạng, nhất là trong duy trì sự ổn định an ninh chính trị và phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh trong giai đoạn hiện nay khi Đảng và Nhà nước ta đang tiến hành đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, xây dựng nền hành chính dân chủ trong sạch, vững mạnh từng bước hiện đại.
Trong những năm gần đây, đội ngũ cán bộ, công chức nữ nói chung và cán bộ, công chức nữ cấp tỉnh nói riêng của Phú Thọ đã có sự phát triển cả về số lượng và chất lượng, đã phát huy khả năng, năng lực, có nhiều đóng góp vào thành tựu phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh, nguyên nhân là do Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh đã chủ trương xây dựng, duy trì và nâng cao chất lượng việc thực hiện pháp luật bình đẳng giới trong công tác cán bộ theo hướng ưu tiên, tạo điều kiện cho cán bộ nữ có cơ hội tham gia quản lý nhà nước, phát huy khả năng của mình, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn mới, phù hợp với thực tế địa phương trong từng thời điểm. Tuy nhiên, tỷ lệ phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý của tỉnh còn thấp, chưa đạt mục tiêu Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới, chưa sử dụng hết tiềm lực phụ nữ có trình độ, năng lực của tỉnh, dẫn đến tình trạng chưa đạt được mục tiêu bình đẳng giới thực chất và sự tiến bộ xã hội. Nguyên nhân chính là: còn tồn tại tư tưởng hẹp hòi, định kiến giới, coi trọng nam giới hơn nữ giới; các bất cập trong quy định pháp luật, cơ chế chính sách thực hiện pháp luật bình đẳng giới; đội ngũ cán bộ tổ chức thực hiện pháp luật bình đẳng giới còn hạn chế; nguồn lực tài chính dành cho công tác tổ chức thực hiện pháp luật về bình đẳng giới chưa được bảo đảm dẫn đến việc thực hiện các khâu của công tác tổ chức cán bộ chưa tốt, chưa lồng ghép bình đẳng giới trong các khâu tuyển dụng, đánh giá, đào tạo, bồi dưỡng, quản lý và chế độ chính sách đối với cán bộ nữ còn nhiều bất cập, hạn chế.
Đảng và Nhà nước ta đang đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, phát triển kinh tế – xã hội, tập trung cải cách hành chính trong Đảng và trong bộ máy Nhà nước, xây dựng tiến bộ xã hội. Tỉnh Phú Thọ đã đề ra những mục tiêu, phương hướng phát triển kinh tế – xã hội, an ninh, quốc phòng trong giai đoạn mới mà đội ngũ cán bộ nữ đóng vai trò quan trọng, thiết yếu đóng góp vào sự thành công chung. Đảm bảo việc thực hiện pháp luật bình đẳng giới trong xây dựng đội ngũ cán bộ nữ nói chung, đội ngũ cán bộ nữ cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan đảng, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội nói riêng được thực thi hiệu quả trên thực tế là nhiệm vụ cần thiết, cấp bách. Vì vậy, cần phải tiến hành đồng bộ, toàn diện như: Rà soát, hợp nhất, thiết lập lại một hệ thống các chế tài đủ mạnh đối với việc xử lý vi phạm các quy định pháp luật về bình đẳng giới; thiết lập cơ chế giám sát việc xử lý vi phạm; giáo dục pháp luật cho phụ nữ; hoàn thiện các điều kiện đảm bảo để Luật bình đẳng giới đi vào cuộc sống một cách thực chất: hoàn thiện chính sách cán bộ nữ; nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý Nhà nước đối với công tác bình đẳng giới; đảm bảo cơ chế phối hợp liên ngành thực hiện pháp luật bình đẳng giới và thúc đẩy bình đẳng giới – sự tiến bộ phụ nữ; kiện toàn Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ; tiểu ban công tác cán bộ nữ và bộ máy cán bộ làm công tác tổ chức cán bộ trong các cơ quan, đơn vị; huy động nguồn lực cho các hoạt động bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ, nhằm đạt được mục tiêu bình đẳng giới thực chất và sự tiến bộ xã hội. Luận văn: Giải pháp PL bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Pháp Luật bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Thực trạng PL bình đẳng giới về đội ngũ cán bộ nữ