Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Hoàn thiện về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Kiến nghị hoàn thiện về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự trong Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
Trong Chương 2 tác giả đã đi vào phân tích, so sánh Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 với Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Những quy định của Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 cũng như Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 còn có những bất cập, chính vì vậy tác giả mạnh dạn đề xuất những sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 về vấn đề này theo hướng sau:
3.1. Những kiến nghị về lập pháp
Với những vướng mắc, bất cập trong thực tế áp dụng pháp luật, khi thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng, các phương thức tống đạt đều khó đảm bảo người được thông báo sẽ nhận được văn bản trong thời hạn ba ngày. Do đó, việc thực hiện đúng thời hạn mà luật đã quy định là không thực tế. Còn nếu coi đây là văn bản tố tụng bắt buộc phải tống đạt hợp lệ cho các đương sự, theo thủ tục cấp, tống đạt, thông báo trực tiếp mà Bộ luật Tố tụng dân sự quy định thì cần thiết phải quy định về thời hạn tống đạt “Thông báo về việc thụ lý vụ án” phải dài hơn như quy định hiện tại thì mới đủ thời gian để thực hiện. Nên chăng cần sửa đổi bổ sung Khoản 1 Điều 196 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 như sau: “Kể từ ngày thụ lý vụ án, Tòa án phải thông báo bằng văn bản cho bị đơn, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án, cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc tòa án đã thụ lý vụ án. Thời hạn thông báo tùy thuộc vào phương thức thông báo được quy định tại Điều 173 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, nhưng không quá 15 ngày.” Việc quy định như vậy sẽ dễ áp dụng, tạo điều kiện cho Tòa án trong việc thông báo thụ lý vụ án, và sẽ tránh được sự mâu thuẫn trong thời hạn giữa các điều khác với Khoản 1 Điều 196 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015
Tại Điểm h Khoản 2 Điều 196 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định về “Hậu quả pháp lý của việc người được thông báo không nộp cho Tòa án văn bản về ý kiến của mình đối với yêu cầu.” Nhưng không quy định rõ hậu quả pháp lý là gì. Thiết nghĩ cần phải sửa đổi bổ sung quy định hậu quả pháp lý nếu người được thông báo không nộp cho Tòa án văn bản ý kiến của mình đối với yêu cầu. Tác giả mạnh dạn sửa đổi Điểm h Khoản 2 Điều 196 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 như sau: “g) Nếu người được thông báo không nộp cho Tòa án văn bản về ý kiến của mình đối với yêu cầu thì coi như đồng ý với yêu cầu và Tòa án sẽ giải quyết theo những yêu cầu đó.” Việc quy định hậu quả pháp lý, nhằm đề cao trách nhiệm của người được thông báo trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.
Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 đang thiếu quy định về hậu quả pháp lý về việc đương sự không giao nộp chứng cứ trong thời hạn ấn định. Đối với Điều 96 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 cần sửa đổi theo hướng: “Đương sự có trách nhiệm giao nộp chứng cứ đến thời điểm kết thúc thủ tục hỏi tại phiên tòa sơ thẩm, nếu các bên từ chối hoặc không cho tiếp cận thông tin cần thiết không có lý do chính đáng thì sẽ xử lý theo quy định tại Điều 486 của Bộ luật này. Nếu đương sự vi phạm cung cấp chứng cứ cho Tòa án ở cấp sơ thẩm để xuất trình ở cấp phúc thẩm thì chỉ được chấp nhận nếu chứng minh được hoàn toàn không biết có chứng cứ đó trong giai đoạn sơ thẩm”. Điều 486 là điều luật quy định về biện pháp xử lý người có hành vi cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của người tiến hành tố tụng. Quy định như trên sẽ tạo tính răn đe cho đương sự trong vấn đề này. Luận văn: Hoàn thiện về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.
Từ các phân tích trên để quy định về hoạt động thu thập chứng cứ phù hợp với các quy định khác của Bộ luật Tố tụng Dân sự cũng như thực tiễn giải quyết vụ án dân sự, kiến nghị sửa đổi, bổ sung Điều 97 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 như sau: “1. Trong trường hợp xét thấy tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc dân sự chưa đủ cơ sở để giải quyết thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ. 2. Trong các trường hợp do Bộ luật này quy định, Thẩm phán có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp sau đây để thu thập tài liệu, chứng cứ: a) yêu cầu đương sự nộp tài liệu, chứng cứ cho Toà án; b) Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng; c) Đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa các đương sự với người làm chứng… k) Hòa giải; l) Hoạt động hỏi, nghe; xem xét, kiểm tra tài liệu, chứng cứ đã thu thập được; nghe Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án, trong trường hợp có Kiểm sát viên tham gia phiên toà; m) Các hoạt động khác mà Bộ luật này có quy định.
Thu thập chứng cứ là hoạt động quan trọng nhất của Tòa án trong việc giải quyết vụ án dân sự. Cho nên việc nghiên cứu quy định liên quan đến hoạt động này để hoàn thiện là cần thiết. Tác giả mong rằng với những phân tích, đề xuất bên trên nhằm làm cho các quy định về thu thập chứng cứ của Tòa án phù hợp với thực tiễn và đảm bảo tính logic giữa quy định về hoạt động thu thập chứng cứ với các hoạt động khác trong Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Trường hợp nếu Thẩm phán đã thu thập chứng cứ mà phát hiện thuộc trường hợp phải thay đổi thì sẽ xử lý chứng cứ đã thu thập được như thế nào? đã có rất nhiều ý kiến được đưa ra. Chúng ta biết rằng quá trình thu thập chứng cứ cần rất nhiều thời gian và trải qua những công đoạn phức tạp. Nếu chúng ta phủ định toàn bộ hoạt động trước đó thì nhiều chứng cứ bị hủy “oan”. Như vậy tác giả nghĩ nên tiếp tục sử dụng các chứng cứ đã thu thập nếu chúng đảm bảo được các thuộc tính của chứng cứ là tính khách quan, tính liên và tính hợp pháp. Kiến nghị bổ sung thêm Khoản 2 Điều 53 Bộ luật Tố tụng Dân sự như sau: “2. Trong trường hợp, chứng cứ được thu thập do Thẩm phán bị thay đổi, từ chối tiến hành tố tụng thực hiện thì Thẩm phán thay thế được sử dụng các kết quả từ hoạt động thu thập chứng cứ của Thẩm phán bị thay đổi, từ chối nếu các chứng cứ đó đảm bảo các thuộc tính của chứng cứ tại Điều 81 Bộ luật này.” Luận văn: Hoàn thiện về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.
Điều 96 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 đã bổ sung một số quy định về trách nhiệm của Tòa án thông báo cho các bên đương sự các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; nghĩa vụ phải cung cấp và trao đổi chứng cứ giữa các đương sự với nhau. Tuy nhiên, tác giả muốn bổ sung thêm quy định tại Điều 96 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 như sau: “4. Tòa án có trách nhiệm gửi bản sao chứng cứ, tài liệu này đến Viện kiểm sát cùng cấp tham gia phiên tòa hoặc có yêu cầu.”
Mặc dù, Điều 7 Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định cá nhân, cơ quan tổ chức có trách nhiệm cung cấp chứng cứ cho đương sự. Tuy nhiên thực tiễn cho thấy, không phải lúc nào việc yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ của đương sự cũng được thực hiện. Điều 492 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 đã có quy định: “1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân, không thi hành quyết định của Tòa án về việc cung cấp chứng cứ mà cơ quan, tổ chức, cá nhân, đó đang quản lý, lưu giữ thì có thể bị Tòa án quyết định phạt cảnh cáo, phạt tiền”, “2. Cá nhân, người đứng đầu cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 1 Điều này tùy theo mức độ vi phạm mà có thể bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật”. Tuy nhiên, quy định này còn mang tính chất chung chung, không phù hợp thực tiễn nên không khả thi. Vậy nên pháp luật hiện hành cần bổ sung rõ các quy định và chế tài cụ thể, Khoản 1 Điều 492 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 sửa đổi bổ sung như sau: “1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân, không thi hành quyết định của Tòa án về việc cung cấp chứng cứ mà cá nhân, cơ quan, tổ chức đó đang quản lý, lưu giữ thì bị Tòa án quyết định phạt cản cáo, phạt tiền, đăng tải đích danh trên các thông tin đại chúng về vấn đề thiếu tinh thần ý thức trong việc bảo vệ pháp luật hoặc bị cưỡng chế thi hành án.” Thiết nghĩ hiện nay ảnh hưởng của việc lan tỏa thông tin là vô cùng lớn. Việc quy định này sẽ nhằm răn các chủ thể tránh vi phạm ảnh hưởng tới hình ảnh chủ thể, bên cạnh đó còn có ý nghĩa giáo dục chấp hành pháp luật.
- Về yêu cầu phản tố cần quy định lại như sau:.
Thứ nhất, bổ sung thêm Khoản 3 vào Điều 71 “Quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn” Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 nội dung sau:“3. Các quyền, nghĩa vụ tại Điều 72 của Bộ luật này khi bị phản tố, bị yêu cầu độc lập.”
Thứ hai, sửa đổi, bổ sung Khoản 4 Điều 72 “Quyền và nghĩa vụ của bị đơn” Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 với nội dung sau: “Đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nếu có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nếu không thể giải quyết bắng vụ án độc lập hoặc đề nghị đối trừ với nghĩa vụ của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập. Đối với yêu cầu phản tố thì bị đơn có các quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn quy định tại Điều 71 của Bộ luật này.”
Thứ ba, bổ sung thêm Khoản 5 vào Điều 73 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 với nội dung sau: “5. Các quyền, nghĩa vụ tại Điều 72 của Bộ luật này khi bị phản tố.” Luận văn: Hoàn thiện về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.
Thứ tư, sửa đổi, bổ sung Khoản 2 Điều 73 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 với nội dung như sau: “2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập đối với nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác trong vụ án và yêu cầu độc lập này có liên quan đến việc giải quyết vụ án thì có các quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn quy định tại Điều 71 của Bộ luật này…”
- Thứ năm, sửa đổi, bổ sung Điều 200 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 với nội dung như sau:
“1. Cùng với việc phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn có quyền yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập, bất kể yêu cầu độc lập đó đối với nguyên đơn hay đối với bị đơn, hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án; 2. Yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập được chấp nhận khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập; b) Yêu cầu phản tố được chấp nhận dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập; c) Giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có sự liên quan với nhau và nếu được giải quyết trong cùng một vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác; 3. Yêu cầu phản tố của bị đơn đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được chấp nhận khi yêu cầu phản tố có liên quan đến vụ án đang giải quyết, nếu được giải quyết trong cùng một vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác hơn và yêu cầu này giải quyết bằng vụ án độc lập sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự trong vụ án; 4. Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố chậm nhất đến thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải.”
- Thứ sáu, sửa đổi, bổ sung Điều 201 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 với nội dung như sau:
“1. Trong trường hợp người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc với bên bị đơn thì họ có quyền yêu cầu độc lập đối với nguyên đơn, bị đơn khi có các điều kiện sau đây: a) Việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ; b) Yêu cầu độc lập của họ có liên quan đến vụ án đang được giải quyết; c) Yêu cầu độc lập của họ được giải quyết trong cùng một vụ án làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác; 2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có thể yêu cầu độc lập đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác trong cùng vụ án khi yêu cầu này đảm bảo các điều kiện tại các điểm a, b, c khoản 1 Điều này và việc giải quyết yêu cầu này bằng vụ án độc lập sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự trong vụ án; 3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền đưa ra yêu cầu độc lập chậm nhất đến thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.”
Yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập là một trong những nội dung rất quan trọng được Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định nhằm đảm bảo quyền khởi kiện của công dân, đảm bảo kịp thời quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án dân sự, do đó cần có sự nhận thức đúng đắn, đầy đủ quy định của pháp luật về hai vấn đề này là cơ sở để việc áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự được chính xác. Luận văn: Hoàn thiện về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.
Tại Khoản 2 Điều 205 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 cần bổ sung thêm nguyên tắc sau: “c. Việc hòa giải phải dựa trên quan hệ bình đẳng và trung thực giữa các đương sự với nhau.”. Bởi trong đời sống xã hội, thỏa thuận về giải quyết tranh chấp trong hòa giải không phải lúc nào cũng được phân định một cách rõ ràng như luật định mà còn có sự nhường nhịn, bao dung, có lý, có tình. Sự khác nhau về địa vị kinh tế, chính trị, xã hội của các đương sự có thể dẫn đến trường hợp tự nguyện thỏa thuận nhưng ở tình thế “bắt buộc phải nhường nhịn” do nhiều lý do như bên kia là người có chức quyền, tiền bạc…. Do đó cần có sự bình đẳng. Mặt khác, sự trung thực trong quá trình hòa giải cũng hết sức cần thiết để bảo đảm mọi thỏa thuận đúng bản chất của tranh chấp, chống sự thông đồng, lừa dối của các đương sự khi thỏa thuận.
Về vấn đề “cố tình vắng mặt” cần được quy định rõ trong Khoản 1 Điều 207 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 theo hướng sau: “1. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt, không có lý do chính đáng, tìm mọi lý do để trốn tránh.” thì thuộc vụ án dân sự không tiến hành hòa giải được. Cần quy định cụ thể như vậy để tránh việc bị đơn “biện minh” cho lý do vắng mặt của mình không phải do cố ý.
Mặc dù Điều 209 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 đã quy định khá chi tiết và cụ thể hơn thành phần tham gia phiên hòa giải, đặc biệt đã bổ sung người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Tuy nhiên, theo tác giả cần bổ sung thêm thành phần “Hòa giải viên”.Các hòa giải viên này thường là những người có chuyên môn trong lĩnh vực mà các bên tranh chấp. Việc tham gia của những người có chuyên môn sẽ giúp Thẩm phán rất nhiều trong quá trình hòa giải. Chúng ta nên học hỏi quy định này của đất nước Nhật Bản.
Bộ luật Tố tụng Dân sự sửa đổi bổ sung 2011 và Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 đều thống nhất với một hình thức hòa giải là thông qua Thẩm phán. Tuy nhiên để có thể chủ động hơn trong việc hòa giả, giúp Thẩm phán đỡ “gánh nặng” hơn trong việc xét xử, tác giả mạnh dạn kiến nghị nên bổ sung quy định thêm hai hình thức hòa giải trong Bộ luật Tố tụng Dân sự Việt Nam. Cụ thể một hình thức là các bên đương sự tự hòa giải, một hình thức là thông qua Thẩm phán. Trong đó các bên đương sự tự hòa giải có thể dùng nhiều cách thức khác nhau như thông qua Hòa giải viên, Luật sư, Trọng tài…miễn sao quá trình hòa giải không vi phạm nguyên tắc Hòa giải và được các đương sự thống nhất ý kiến. Dựa trên kết quả các bên đương sự thỏa thuận với nhau thì Thẩm phán đưa ra quyết định phù hợp. Tác giả xin bổ sung Khoản 3 Điều 205 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 về nguyên tắc tiến hành hòa giải như sau “3. Các bên đương sự có thể lựa chọn hình thức hòa giải là tự hòa giải hoặc thông qua Thẩm phán. Khi tự hòa giải các bên có thể tùy chọn phương thức như: Hòa giải viên, Luật sư, Trọng tài… Kết quả hòa giải không trái với nguyên tắc hòa giải được quy định tại Khoản 2 Điều này cũng như quy định của Bộ luật này.”
Điểm a Khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 cần sửa đổi theo hướng : “Đối với các vụ án quy định tại Điều 26; Điều 28; Điều 30 và Điều 32 của Bộ luật này, thời hạn là bốn tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án.” Đồng thời bỏ quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015: “Đối với các vụ án quy định tại Điều 30 và Điều 32 của Bộ luật này, thời hạn là hai tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án”. Đồng thời thống nhất cách viết về số lượng thời hạn bằng chữ. Việc sửa đổi như vậy là cần thiết để tạo điều kiện cho Tòa án có đủ thời gian cần thiết để chuẩn bị các điều kiện cho việc xét xử các vụ án kinh doanh, thương mại và lao động.
Cần sửa đổi căn cứ “Đình chỉ vụ án dân sự” tại Điểm d Khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 như sau: “Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án khi đã có quyết định của tòa án mở thủ tục thanh lý tài sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là một bên đương sự trong vụ án mà việc giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó.”
3.2. Những kiến nghị về hành pháp Luận văn: Hoàn thiện về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.
Bên cạnh việc hoàn thiện các quy định pháp luật thì vấn đề thực hiện pháp luật cũng là vấn đề cần quan tâm và khắc phục hạn chế. Bởi luật pháp có đi vào đời sống được hay không thì không thể thiếu được việc thực hiện pháp luật một cách đúng đắn, khoa học và linh hoạt. Cụ thể:
Để khắc phục những khuyết điểm, thiếu sót trong thực hiện Pháp luật ngành Tòa án phải xử lý kịp thời những tập thể, cá nhân ngành toà án có vi phạm pháp luật; không thực hiện đầy đủ chức tránh của mình trong việc giải quyết vụ án dân sự.
Tăng cường công tác kiểm tra của cấp trên đối với cấp dưới trong hoạt động Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự và có chỉ đạo cụ thể trong các hoạt động nghiệp vụ trong toàn ngành Tòa án về chức năng, nhiệm vụ quyền hạn; sắp xếp lại tổ chức, phân công lại công việc cải tiến về sổ sách, biểu mẫu, các thao tác nghiệp vụ xét xử bản án, quyết định giải quyết các vụ, việc dân sự của Toà án, tránh tình trạng “khoán trắng” trách nhiệm [38, tr7].
Tăng cường cơ sở vật chất, điều kiện, phương tiện làm việc cho các Tòa án giúp cho Tòa án có những điều kiện tốt hơn trong công tác Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự. Cần tập trung kinh phí và xác định trọng điểm đầu tư xây dựng trụ sở làm việc cho Tòa án nhân dân các cấp. Bổ sung các điều kiện, phương tiện làm việc cho các Tòa án và tăng cường việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động của Tòa án.
Thúc đẩy hơn nữa công tác tuyên truyền, giáo dục phổ biến pháp luật nhằm nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân, tạo điều kiện cho hoạt động chuẩn bị xét xử của tòa án được tiến hành thuận lợi hơn. Cần triển khai theo hướng “mưa dầm thấm lâu”. Tuyên truyền, phổ biến cho người dân hiểu rằng việc giải quyết các Vụ án dân sự tại TA không chỉ là việc của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng mà còn là việc của cá nhân, cơ quan, tổ chức khác. Bên cạnh đó giúp đương sự nhận thức được quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình trong TTDS thông qua các hình thức như hướng dẫn làm thủ tục, vận động tuyên truyền…
3.3. Kiến nghị quản lý hành chính Luận văn: Hoàn thiện về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.
Pháp luật cũng cần quy định rõ ràng, cụ thể hơn nữa về tính chuyên nghiệp của Thẩm phán trên tất cả các lĩnh vực như: cơ chế đảm bảo, năng lực chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp, kỹ năng xét xử…
Để thực hiện pháp luật tốt trong quá trình Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự nói riêng và quá trình xét xử nói chung, trước tiên cần phải có đội ngũ cán bộ có chuyên môn và tinh thần trách nhiệm cao, mà đặc biệt là Thẩm phán- chủ thể có vai trò “cầm cân nẩy mực”. Vì vậy cần nâng cao chất lượng đội ngũ Thẩm phán về mọi mặt. Cụ thể:
- Về giải pháp nâng cao năng lực chuyên môn
Cần tăng cường đổi mới công tác đào tạo nguồn Thẩm phán: Tuyển chọn và bổ nhiệm Thẩm phán (Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị (Khóa IX) về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã xác định: “Có cơ chế thu hút, tuyển chọn những người có tâm huyết, đủ đức, tài vào làm việc ở các cơ quan tư pháp. Mở rộng nguồn để bổ nhiệm vào các chức danh tư pháp, không chỉ là cán bộ trong các cơ quan tư pháp, mà còn là các luật gia, luật sư. Nghiên cứu thực hiện cơ chế thi tuyển để tuyển chọn người bổ nhiệm vào các chức danh tư pháp. Tăng thời hạn bổ nhiệm chức danh tư pháp hoặc thực hiện chế độ bổ nhiệm không có kỳ hạn”. Theo chủ trương này, thay vì hiện nay đối tượng được tuyển chọn chỉ chủ yếu là các cán bộ, công chức công tác tại Tòa án, trọng tâm là đội ngũ Thư ký, cần mở rộng nguồn tuyển chọn, với các chính sách thu hút thỏa đáng, tập trung vào các đối tượng là luật sư, công chứng viên, đấu giá viên, trọng tài viên của các tổ chức trọng tài thương mại, các chuyên gia tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý và các cán bộ, công chức làm việc tại các cơ quan nhà nước như các ban pháp chế thuộc Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp huyện, các vụ pháp chế thuộc các Bộ, v.v… Bên cạnh đó, cũng cần thay cơ chế Hội đồng tuyển chọn bằng cơ chế thi tuyển. Theo đó, những đối tượng có đủ điều kiện dự tuyển phải dự kỳ thi tuyển với những môn thi nhất định. Những người trúng tuyển kỳ thi sẽ được hưởng quy chế Thẩm phán dự bị và được cử theo học nghiệp vụ xét xử tại Học viện Tư pháp. Sau khi tốt nghiệp khóa học, những người này phải tập sự tại một Tòa án ở trung ương hoặc ở địa phương. Việc bổ nhiệm Thẩm phán của Chánh án Tòa án nhân dân (TAND) tối cao đối với những người này được căn cứ vào kết quả thi tốt nghiệp tại Học viện Tư pháp và nhận xét, đánh giá của Tòa án nơi người đó tập sự, đối chiếu với các tiêu chuẩn Thẩm phán do pháp luật quy định.) Luận văn: Hoàn thiện về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.
Tăng cường công tác đào tạo bồi dưỡng: Cần có những đầu tư thích đáng vào công tác đào tạo Thẩm phán bằng việc tiếp tục đổi mới nội dung, chương trình, nâng cao chất lượng đào tạo nghiệp vụ xét xử của Thẩm phán tại Học viện Tư pháp, tập trung đào tạo nâng cao kỹ năng áp dụng pháp luật trong xét xử các loại án của người Thẩm phán. Mỗi thẩm phán cần nắm vững các kỹ năng cơ bản như: kỹ năng nghiên cứu, phân tích, đánh giá các tình tiết, sự kiện, tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án cụ thể được giao; kỹ năng tập hợp, lựa chọn, giải thích các quy phạm pháp luật một cách chính xác, phù hợp với các tình tiết, sự kiện, chứng cứ và toàn bộ nội dung cụ thể của vụ án; kỹ năng tổ chức, điều khiển phiên tòa; kỹ năng viết bản án và tuyên án… Để làm tốt vấn đề này, ngành Tòa án cần chú trọng hơn nữa công tác tổng kết kinh nghiệm xét xử, phát triển án lệ, nghiên cứu, tiếp thu kinh nghiệm đào tạo kỹ năng xét xử của Thẩm phán ở các nước, bao gồm các nước theo hệ thống pháp luật châu Âu lục địa và các nước theo hệ thống án lệ, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế về đào tạo Thẩm phán.)
- Về giải pháp nâng cao đạo đức nghề nghiệp
Tăng cường giáo dục, chính trị tư tưởng cho Thẩm phán: Cần tiếp tục nâng cao trình độ chuyên môn của cán bộ ngành Tòa án và Viện kiểm sát, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của Thẩm phán. Cần phải đẩy mạnh việc đào tạo, đào tại lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ cho Thẩm phán về mặt chính trị, pháp luật nghiệp vụ xét xử và các kiến thức bổ trợ khác về kỹ năng mềm hay hiểu biết kiến thức xã hội. Ví dụ: các vấn đề: chính trị, nghiệp vụ, kinh tế, xá hội, ngoại ngữ, tin học. Đặc biệt cần tăng cường cho Thẩm phán ra nước ngoài học tập, nghiên cứu tìm hiểu bởi “đi một ngày đàng học một sàng khôn”….
Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra trong việc thực hiện nhiệm vụ: Khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ xét xử Thẩm phán chỉ chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi, quyết định của mình, như C.Mác đã từng nói “đối với người Thẩm phán thì vị tư lệnh (hay cấp trên của họ) chính là pháp luật.” Chúng ta cần kiểm tả thường xuyên tư cách phẩm chất và thực hiện nhiệm vụ của Thẩm phán, có như vậy mới quản lý được chặt chẽ.
Hiện nay, những vụ việc dân sự được Tòa án thụ lý giải quyết ngày một nhiều kéo theo các thẩm phán cũng phải giải quyết ngày một nhiều các vụ án. Vì vậy ngoài việc tăng cường đội ngũ thẩm phán cũng cần phải có những chính sách đãi ngộ hợp lý đối với họ để động viên họ yêu nghề, hết lòng với nghề làm cho chất lượng giải quyết vụ án tốt hơn. Tránh trường hợp “chảy máu chất xám”. Ôn vinh thẩm phán tương xứng với đại vị, công sức, bản lĩnh của Thẩm phán trước xã hội. Nhà nước nên có chế độ đãi ngộ dặc biệt đối với thẩm phán về vật chất và tinh thần. Nghị quyết số 730/NQ-UBTVQH11 ngày 30/9/2004 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc phê chuẩn bảng lương chuyên môn nghiệp vụ ngành Tòa án đã xác định chế độ lương dành cho Thẩm phán có 3 ngạch A1, A2, A3, trong đó: Luận văn: Hoàn thiện về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.
- Ngạch A1 áp dụng cho Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp huyện (Thẩm phán sơ cấp), gồm 9 bậc, hệ số lương bậc 1 là 2,34 và hệ số lương bậc 9 là 4,98.
- Ngạch A2 áp dụng đối với Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh, gồm 8 bậc, hệ số lương bậc 1 là 4,40 và hệ số lương bậc 8 là 6,78.
- Ngạch A3 áp dụng đối với Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, gồm 6 bậc, hệ số lương bậc 1 là 6,20 và hệ số lương bậc 6 là 8,00.
Như vậy, chế độ lương đối với Thẩm phán các cấp không có gì khác biệt với chế độ lương của cán bộ, công chức và không phù hợp với tính đặc thù của nghề nghiệp xét xử của Thẩm phán. Ngoài ra, sự bất cập của ngạch lương Thẩm phán còn ở chỗ số bậc trong một ngạch là quá lớn; nếu tính 03 năm được lên một bậc lương thì Thẩm phán sơ cấp phải mất 27 năm mới hết ngạch A1 và mất 21 năm mới hết ngạch A2 (Thẩm phán trung cấp). Vì vậy, toàn bộ cuộc đời công chức của người Thẩm phán cũng chỉ theo hết các bậc trong ngạch lương A1 mà không thể theo hết bậc lương A2, chưa kể để trở thành Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp huyện phải có ít nhất 4 năm làm công tác pháp luật.
Từ thực tế trên, ngoài việc tiếp tục nghiên cứu để Thẩm phán được hưởng chế độ bồi dưỡng phiên tòa và phụ cấp trách nhiệm một cách thỏa đáng hơn, cần chú trọng rất nhiều vấn đề trong đó quan trọng nhất là cải cách cơ bản chế độ tiền lương áp dụng đối với thẩm phán. Công việc xét xử của Thẩm phán là một loại lao động đặc biệt, thuộc một nghề nghiệp đặc biệt. Nghề Thẩm phán hay nghề xét xử cũng như các nghề nghiệp khác đều đòi hỏi phải có kỹ năng nghề nghiệp; việc hình thành nghề cũng phải tuân theo những quy tắc, quy trình nhất định, nhưng tất cả quy tắc, quy trình ấy đều được thể hiện dưới hình thức pháp lý, gắn với quy trình tố tụng, bằng hoạt động áp dụng pháp luật có tính tập thể (Hội đồng xét xử), trong đó Thẩm phán là nhân cốt, có tác dụng ảnh hưởng lớn. Từ tính đặc thù trên của nghề nghiệp thẩm phán đòi hỏi Nhà nước, xã hội phải chia sẻ với tất cả những gì có thể, trong đó cải cách chế độ tiền lương của Thẩm phán cần được coi là ưu tiên hàng đầu, theo hướng vừa nâng cao hệ số lương khởi điểm, vừa giảm thiểu hợp lý số bậc trong một ngạch lương, vừa rút ngắn thời gian nâng lương. Nhà nước cũng cần có những quan tâm, cải cách thích hợp đối với Thẩm phán cấp huyện. Đây là đội ngũ đông đảo nhất, thực hiện việc xét xử lần đầu (sơ thẩm) hầu hết các loại án. Về mặt lý luận và thực tiễn đều cho thấy, nếu việc xét xử lần đầu “thấu tình, đạt lý”, không có kháng cáo, kháng nghị thì Tòa án nhân dân cấp tỉnh “không phải xét xử”. Do đó, cần đổi mới nhận thức rằng, không nhất thiết cứ là Thẩm phán cấp huyện thì chỉ hưởng ngạch lương A1, tức ngạch lương sơ cấp; cần áp dụng thi nâng ngạch cho họ mà không bị ràng buộc bởi nơi họ làm việc là Tòa án cấp huyện. Luận văn: Hoàn thiện về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.
Ngoài ra, bên cạnh những thuận lợi mà Pháp lệnh về Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân năm 2011 quy định cho Thẩm phán khi làm nhiệm vụ xét xử, như được miễn phí cầu, phà, đường; được cấp trang phục, giấy chứng minh để làm nhiệm vụ, cần bảo đảm cho Thẩm phán có đủ điều kiện làm việc, nhất là Thẩm phán làm việc ở địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Các điều kiện này có thể mở rộng ra như phòng làm việc, hệ thống camera, máy photocopy, máy chiếu, các thiết bị khoa học công nghệ thông tin và đào tạo kỹ năng sử dụng cho thẩm phán.
Bảo vệ Thẩm phán: Hoạt động nghề nghiệp của Thẩm phán không mang tính cá nhân, mà nhân danh Nhà nước, thừa hành quyền lực nhà nước để phân xử đúng sai, để trừng trị hoặc tha bổng, dựa vào pháp luật chứ không dựa vào tình cảm, lợi ích hoặc bất kỳ mệnh lệnh nào. Nói cách khác, việc hành nghề của người Thẩm phán là lao động quyền lực hoàn toàn độc lập, tự quyết định. Vì vậy, đây cũng là nghề có tính trách nhiệm cao và hết sức khắc nghiệt. Phán quyết của Tòa án, mà trong đó, kết quả sự hành nghề của người Thẩm phán là yếu tố quyết định, liên quan đến sinh mệnh, danh dự, nhân phẩm, tự do và tài sản của con người, đến thân phận của một con người. Một phán quyết sai lầm có thể đeo đuổi người Thẩm phán cả đời, dằn vặt lương tâm họ suốt đời. Tính khắc nghiệt trong nghề nghiệp Thẩm phán còn thể hiện ở sự nguy hiểm trong hành nghề, phải đối mặt với cái ác, do vậy tính mạng của bản thân, gia đình luôn bị đe dọa. Những điều đó trở thành áp lực nghề nghiệp lớn. Trong điều kiện kinh tế thị trường, áp lực này không chỉ xuất hiện trong các vụ án hình sự, mà cả trong các Vụ án dân sự, kinh doanh thương mại, nhất là trong các trường hợp giải quyết phá sản, tài sản tranh chấp lớn. Chính vì vậy cần có quy định và biện pháp cụ thể để bảo vệ Thẩm phán trong và sau khi giải quyết vụ án.
Tóm tắt Chương 3
- Hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam mà ở đây cụ thể là Bộ luật Tố tụng Dân sự về thủ tục Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự là rất cần thiết. Bởi thứ nhất Bộ luật Tố tụng Dân sự còn nhiều hạn chế cần khắc phục; thứ hai chúng ta cần đồng bộ, thống nhất giữa Bộ luật Tố tụng Dân sự với các văn bản pháp luật khác; thứ ba Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 2.6.2005 của Bộ chính trị, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã chỉ ra định hướng hoàn thiện pháp luật; thứ ba Bộ luật tố tụng dân sự các nước trên thế giới có nhiều ưu điểm cần học hỏi; thứ tư quá trình hội nhập trong thời kỳ mở cửa yêu cầu chúng ta phải hoàn thiện để phù hợp với tình hình thế giới; thứ năm là sự ra đời của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 có hiệu lực ngày 1/7/2016.
- Xuất phát từ những nguyên nhân đã trình bày ở Chương 2 và cơ sở ở Chương 3 bản thân tôi cũng đã nêu lên những ý kiến của cá nhân về kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự về Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự. Gồm những kiến nghị về lập pháp; hành pháp và người tiến hành tố tụng. Cụ thể như: bổ sung, sửa đổi một số quy định còn hạn chế của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Tòa án; xử lý và có chế tài nghiêm khắc với cán bộ vi phạm; tăng cường cơ sở vật chất hơn nữa cho Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự…
- Tác giả mong muốn rằng những ý kiến đề xuất trong luận văn sẽ được xem xét đưa vào Bộ luật Tố tụng Dân sự hoặc sẽ được xem xét khi xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật.
KẾT LUẬN Luận văn: Hoàn thiện về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.
Trong hoạt động xét xử của Tòa án, Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự là giai đoạn đầu tiên và có ý nghĩa rất quan trọng. Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự là toàn bộ hoạt động tố tụng do Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành trước khi đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, nhằm chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho việc xét xử sơ thẩm. Có thể khẳng định rằng Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự có vai trò vô cùng quan trọng và rất có ý nghĩa. Hoạt động này giúp cho Tòa án có điều kiện để chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho xét xử Vụ án dân sự như xác định đúng quan hệ tranh chấp, lập hồ sơ đầy đủ, triệu tập được đầy đủ những người tham gia tố đến tham gia phiên tòa và tạo điều kiện cơ sở vật chất tốt cho phiên tòa. Các hoạt động trong quá trình này gồm: Thông báo thụ lý vụ án; xác minh thu thập chứng cứ; hòa giải; giải quyết các yêu cầu về thủ tục tố tụng của đương sự; tống đạt văn bản tố tụng; quyết định đưa vụ án ra xét xử. Trên thế giới các nước Nhật, Pháp, Nga đã quy định nhiều vấn đề có tính tích cực về Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự mà chúng ta cần tham khảo.
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01-01- 2005 và được sửa đổi, bổ sung năm 2011 theo Luật số 65/2011/QH12 (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01-01-2012) đã tạo ra một khung pháp lý về các hoạt động tố tụng dân sự, góp phần nâng cao chất lượng giải quyết các vụ việc dân sự. Tuy nhiên vẫn còn đó những hạn chế về các quy định trong giai đoạn Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.
Thực tiễn cho thấy việc áp dụng và thi hành quy định về Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự đang có những bước tiến mới, khi số vụ án thụ lý và giải quyết được ngày càng tăng. Điều đó chứng tỏ ảnh hưởng không nhỏ của quá trình Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự. Có thể thấy để đạt được những bước tiến đó cần phải kể đến những quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự đã có sự sửa đổi bổ sung theo hướng phù hợp hơn với tình hình thực tế và sự học hỏi pháp luật tố tụng của các nước trên thế giới.
Mặc dù vậy, quá trình phát triển luôn xoay vòng theo hình xoáy ốc. Càng đi lên càng cần loại bỏ những yếu tố không phù hợp. Bộ luật Tố tụng Dân sự vẫn còn những hạn chế nhất định cần đưa ra những giải pháp đúng đắn.
Xã hội càng phát triển thì con người càng đòi hỏi những giá trị cao hơn. Nên Nền kinh tế thị trường và quá trình hội nhập quốc tế ngày nay đang phát triển sâu rộng, điều đó dẫn đến các tranh chấp dân sự phát sinh càng nhiều với tính chất đa dạng và phức tạp. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, cũng như tạo điều kiện ổn định phát triển kinh tế, xã hội; các tranh chấp đó cần được giải quyết kịp thời, đúng đắn. Các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự đã đầy đủ áp dụng việc thực hiện các quy định này cũng khá tốt nên đã góp phần cho quá trình xét xử vụ án đạt hiệu quả. Tuy vậy, bên cạnh đó các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự vẫn bộc lộ những thiếu sót. Và đặc biệt hơn là việc các quy định của Pháp luật về Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự vẫn còn khá nhiều sai phạm, chính vì lẽ đó cần có những biện pháp khắc phục về hoàn thiện pháp luật, cần sửa đổi, quy định rõ về thời hạn cung cấp chứng cứ của đương sự, quy định kéo dài thêm thời hạn Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự đối với các vụ án kinh doanh, thương mại và lao động. Về thực hiện pháp luật, cần xử lý kỷ luật kịp thời đối với cá nhân, tập thể ngành Tòa án có vi phạm; nâng cao trình độ chuyên môn của cán bộ Thẩm phán bảo đảm điều kiện cơ sở vật chất đầy đủ cho các Tòa án thực hiện nhiệm vụ…. Việc sửa đổi, bổ sung các quy định của Pháp luật tố tụng dân sự và tiến hành các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động xét xử sơ thẩm là điều cần thiết để bảo đảm các quy định của hệ thống pháp luật hiện hành được đầy đủ thống nhất, khoa học và việc thực hiện trên thực tế có hiệu quả. Luận văn: Hoàn thiện về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự về Luật Tố tụng

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
