Luận văn: Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự về Luật Tố tụng

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự về Luật Tố tụng hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự trong Luật Tố tụng dân sự Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

LỜI NÓI ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Trong bản Tuyên ngôn Độc lập, do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo và tuyên bố trước Quốc dân và nhân dân thế giới ngày 2 tháng 9 năm 1945, Người đã nhắc lại những tư tưởng bảo vệ quyền công dân trong bản Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ năm 1776. Và bản Tuyên ngôn Dân quyền và Nhân quyền của Pháp năm 1789 và nhấn mạnh: “Đó là những lời bất hủ” là “lẽ phải không ai chối cãi được”. Dựa trên những tư tưởng đó Người khẳng định: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

Tư tưởng đó của Người tiếp tục được thể hiện trong các văn bản pháp luật do Nhà nước ta ban hành. Theo Điều 14, Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “ Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được công nhận, tôn trọng,bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và luật”.

Như vậy, có thể thấy rằng những quyền công dân đã được pháp luật nước Việt Nam tôn trọng và bảo vệ. Bên cạnh những quyền cơ bản của công dân như quyền được sống, được học tập… thì còn có quyền được bảo vệ quyền dân sự. Và một trong các công cụ để Nhà nước bảo vệ quyền dân sự cho công dân đó là Tòa án. Thông qua hoạt động tố tụng dân sự giải quyết các vụ việc dân sự mà các quyền dân sự của công dân bị xâm phạm được bảo vệ. Để tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động tố tụng của Tòa án tại kỳ họp thứ năm ngày 15/6/2004 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, đã thông qua Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS). Sau 7 năm, Quốc hội khóa XII tiếp tục thông qua Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng Dân sự (LSĐBS Bộ luật Tố tụng Dân sự) vào ngày 29/3/2011 có hiệu lực vào ngày 1-1-2012. Kể từ đó, hệ thống pháp luật TTDS Việt Nam đã được hoàn thiện hơn, khắc phục được tình trạng thiếu thống nhất giữa các quy định của các văn bản tố tụng trước đây. Trong đó, các quy định về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự (CBXXSTVADS) khá chi tiết và cụ thể. Thực hiện các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về việc giải quyết các vụ án dân sự (VADS) của Tòa án nhân dân(TAND) cũng hiệu quả hơn.

Tuy vậy, qua 5 năm thực hiện các quy định của Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 cho thấy bên cạnh những ưu điểm thì các quy định của Bộ luật này vẫn còn nhiều bất cập. Vì vậy ngày 25/11/2015 Quốc hội thông qua Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 có hiệu lực từ ngày 1/7/2016 (Một số quy định về Bộ luật dân sự không liên quan đến đề tài được quy định trong Bộ luật Tố tụng Dân sự có hiệu lực từ ngày 1/1/2017. Tuy nhiên, những nội dung liên quan đến Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự sẽ có hiệu lực ngày 1/7/2016 nên tác giả xin phép được so sánh một số quy định trước khi có hiệu lực.)

Từ việc tìm hiểu pháp luật hiện hành Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 về Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, tác giả xin phép được so sánh với những quy định liên quan trong Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 sẽ có hiệu lực trong thời gian sắp tới. Việc tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện hơn các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự đồng thời nghiên cứu, đánh giá đúng thực trạng và đề xuất những giải pháp mang tính khả thi là rất cần thiết. Nhằm giúp chúng ta có thể hiểu rõ hơn về các quy định của giai đoạn Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự và đánh giá những quy định mới trong Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 về vấn đề này. Xuất phát từ những lý do đó, tác giả đã chọn đề tài: “Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự trong Luật Tố tụng dân sự Việt Nam” làm đề tài đề tài luận văn thạc sĩ luật học của mình.

2. Tình hình nghiên cứu Luận văn: Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự về Luật Tố tụng.

CBXXSTVADS có vai trò quan trọng trong chất lượng, hiệu quả của công tác xét xử. Từ sau khi Hiến pháp năm 1946 ra đời, chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự được quy định trong các văn bản pháp luật và ngày càng đầy đủ hơn theo sự phát triển của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam với Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động và cho đến hiện nay chế định này được quy định có hệ thống hơn, đầy đủ hơn trong Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 và sắp tới đây là Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Phân tích và nghiên cứu vấn đề trên đây đã có nhiều công trình khoa học, nhiều luận văn, tài liệu, tạp chí, bài báo và các hội thảo khoa học đã đề cập đến. Ví dụ:

Nguyễn Triều Dương (2005), “Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự”, Tạp chí Luật học, số 5/2005, Hà Nội: Bài viết này mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu thủ tục đình chỉ Vụ án dân sự, một trong số các quyết định ở quá trình Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự. Như vậy bài viết có phạm vi nghiên cứu khá hẹp, chưa bao quát hết những quy định về Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự;

Lê Thị Bích Lan (2005): “Vấn đề khởi kiện và thụ lý Vụ án dân sự”, Tạp chí Luật học, Đặc san về Bộ luật Tố tụng Dân sự: Tương tự như tác giả Nguyễn Triều Dương, tác giả Lê Thị Bích Lan cũng nghiên cứu một hoạt động trong số nhiều hoạt động của Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự là khởi kiện và thụ lý vụ án. Thời điểm bài viết được công bố Bộ luật Tố tụng Dân sự 2004 mới có hiệu lực. So với thời điểm hiện tại, đã có rất nhiều thay đổi trong các quy định về Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.

Bùi Thị Thu Hiền (2013) “Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự”, luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội: Đây là một trong những công trình có giá trị tham khảo cao vì đề cập đúng vấn đề tác giả đang nghiên cứu. Bài viết đã bao quát được mọi hoạt động diễn ra trong quá trình Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự. Tuy nhiên, bài viết chưa phân tích được cụ thể những hạn chế trong từng quy định của Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011. Và do thời điểm ra đời, nên bài viết cũng chưa thể có sự so sánh với Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 để tìm ra được nhiều hạn chế, nhiều kiến nghị hơn.

Về vấn đề lý luận và các yếu tố khoa học thì các công trình đều đã trình bày được. Tuy nhiên, các đề tài vẫn thiếu sự thống nhất với nhau kết quả về mặt lý luận giữa những công trình này, hoặc chưa thống nhất đề xuất ra một hướng thực hiện trên thực tiễn. Bên cạnh đó các đề tài chưa bao quát được những nội dung nổi bật của các quy định về Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.

Để đóng góp thêm một chút lý luận và đề xuất hiện thực hoá lý luận vào thực tiễn, trong phạm vi nghiên cứu hạn hẹp tìm hiểu, phân tích, đánh giá tác giả xin đề xuất kiến nghị hoàn thiện một số quy định về Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, thực thi các quy định. Mong rằng với nội dung của đề tài này sẽ đóng góp được một chút công sức vào quá trình giải quyết vấn để cấp bách hiện nay. Luận văn: Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự về Luật Tố tụng.

3. Mục tiêu nghiên cứu

3.1. Mục tiêu tổng quát

Việc nghiên cứu đề tài nhằm mục đích làm rõ những vấn đề lý luận về Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, đánh giá đúng thực trạng quy định của pháp luật về Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự. Đồng thời nhận diện bất cập trong các quy định này và thực tiễn thực hiện tại Tòa án, từ đấy đề xuất những kiến nghị để khắc phục.

3.2. Mục tiêu cụ thể

Trên cơ sở của mục đích nghiên cứu, việc nghiên cứu đề tài có nhiệm vụ nghiên cứu những vấn đề lý luận của Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật tố tụng dân sự việt Nam hiện hành về Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.

Các quy định đó đã hợp lý hay chưa? Thiếu gì, sai sót như thế nào? Cần quy định như thế nào cho hợp lý hơn? Và khảo sát thực tiễn thực hiện chúng tại Tòa để xem xem với những quy định như vậy thì việc áp dụng có gặp phải khó khăn hay thuận lợi gì? Hay Tòa án đã áp dụng đúng chế định?.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng là những vấn đề lý luận về Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự và thực tiễn thực hiện của Tòa án. Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự là một đề tài có nhiều nghiên cứu, do giới hạn của luận văn thạc sỹ, đề tài nghiên cứu phạm vi về một số vấn đề lý luận Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự như khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự. Các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự và thực tiễn thực hiện chúng tại các Tòa án giải quyết các năm gần đây trên phạm vi toàn quốc.

Pháp luật Tố tụng Dân sự Việt Nam hiện hành đang hiện hữu các quy định về: Hoà giải và chuẩn bị xét xử sơ thẩm; Chuẩn bị xét xử phúc thẩm. Như vậy, chế định Hoà giải và chuẩn bị xét xử đương nhiên được hiểu là chế định chuẩn bị xét xử sơ thẩm, bởi lẽ việc chuẩn bị xét xử phúc thẩm đã được tách bạch, và hoà giải là một trong những thủ tục thường phải làm trong quá trình chuẩn bị xét xử sơ thẩm. Với cách tiếp cận này, tác giả xác định đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy phạm pháp luật điều chỉnh quá trình chuẩn bị xét xử sơ thẩm. Luận văn: Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự về Luật Tố tụng.

Với đề tài nghiên cứu đã chọn, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu các hoạt động Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự của cơ quan, người tiến hành tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến khi ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử.

5. Nội dung, phương pháp và địa điểm nghiên cứu

5.1. Nội dung nghiên cứu

  • Nghiên cứu các lý luận cơ bản về Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự;
  • Nghiên cứu các quy định của pháp luật đối với những hoạt động cụ thể CBXXSTVADS trong pháp luật Việt Nam hiện hành;
  • Thực trạng áp dụng pháp luật về Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự hiện nay và kiến nghị các giải pháp hoàn thiện pháp luật.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tăng cường dân chủ, đảm bảo công bằng xã hội.

Bên cạnh đó trong quá trình nghiên cứu còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như phân tích, tổng hợp số liệu, so sánh, diễn giải, suy diễn logic, thu thập thông tin…để làm sáng tỏ những vấn đề mà khóa luận cần giải quyết.

5.3. Địa điểm nghiên cứu

Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu đối với các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về thủ tục Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự trên lãnh thổ Việt Nam bằng những số liệu cụ thể của Tòa án nhân dân tối cao và các vụ án thực tế trên các tỉnh thành.

6. Những điểm mới của luận văn Luận văn: Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự về Luật Tố tụng.

Trước đây đã có một số đề tài về vấn đề này, tuy nhiên do mục đích, giới hạn, phạm vi nghiên cứu nên các công trình nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mức độ riêng lẻ, tập trung vào một số khía cạnh liên quan đến Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự hoặc có bàn về toàn bộ nội dung Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự nhưng chưa đầy đủ. Điểm mới của đề tài tác giả như sau:

Một là: Đề tài lần này sẽ đi sâu và bao quát hơn các quy định về Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự. Bên cạnh đó góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự;

Hai là: Bằng các số liệu thu thập từ Tòa án, các vụ án thực tế chứng minh, đề tài đã phân tích và làm rõ thực trạng áp dụng quy định Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự;

Ba là: Đề tài cập nhật kịp thời thông tin, so sánh các quy định của Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự trong quy định Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 với Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 (có hiệu lực 1//7/2016);

Bốn là: Luận văn nêu bật được các ưu điểm và hạn chế trong quá trình áp dụng chế định. Trên cơ sở đó, luận văn xin đề xuất những giải pháp chủ yếu mang tính khả thi nhằm hoàn thiện hơn quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự và khắc phục được những hạn chế cũng như nâng cao hơn nữa hoạt động của Tòa án nhân dân giai đoạn 2016 – 2020.

7. Kết cấu luận văn

Ngoài lời nói đầu và kết luận, khóa luận được kết cấu thành 3 chương:

  • Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.
  • Chương 2: Thực trạng quy định về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự trong Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự trong Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ

1.1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

1.1.1. Khái niệm chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

Trong quan hệ pháp luật dân sự luôn xảy ra những tranh chấp. Tùy theo tính chất và mức độ mà khi các tranh chấp dân sự xảy ra, các chủ thể có quyền tự thỏa thuận với nhau để giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, có nhiều trường hợp các chủ thể không thể tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết tranh chấp. Trong trường hợp này theo quy định của pháp luật, họ có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết. Trong khoa học pháp lý: Luận văn: Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự về Luật Tố tụng.

Các vụ việc phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động do Tòa án giải quyết được gọi là vụ việc dân sự. Trong đó, đối với những tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các bên được gọi là vụ án dân sự; đối với những việc không có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các bên được gọi là việc dân sự [39, tr9].

Từ khi thụ lý Vụ án dân sự, Tòa án chính thức xác nhận thẩm quyền và trách nhiệm của mình trong việc giải quyết Vụ án dân sự. Để giải quyết Vụ án dân sự tại phiên tòa sơ thẩm Tòa án phải nhanh chóng và đúng đắn trong hoạt động Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.

Theo Từ điển tiếng Việt thì “chuẩn bị” nghĩa là “làm cho có sẵn cái cần thiết để làm việc gì” [42, tr52]. Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự là một giai đoạn trong sơ thẩm Vụ án dân sự. Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự là việc chuẩn bị những điều kiện cần thiết để xét xử sơ thẩm các Vụ án dân sự mà Tòa án đã thụ lý.

Từ điển Luật học giải thích rằng, “xét xử” là “hoạt động do Toà án tiến hành theo pháp luật tố tụng, trong đó Toà án, sau khi nghiên cứu một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ các tình tiết của vụ án, tiến hành giải quyết và xử lí vụ án bằng việc ra bản án và các quyết định cần thiết có liên quan”. Còn “sơ thẩm”, Từ điển Luật học định nghĩa “sơ” là mới; “thẩm” là xét. Sơ thẩm:“lần đầu tiên đưa ra xét xử vụ án tại một toà án có thẩm quyền” [41, tr33]. Sơ thẩm Vụ án dân sự là việc giải quyết Vụ án dân sự lần đầu của Tòa án. Ở cấp sơ thẩm có thể trải qua các giai đoạn khác nhau, đầu tiên là giai đoạn khởi kiện và thụ lý Vụ án dân sự. Trong giai đoạn này, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi ích hợp pháp bị xâm phạm và các chủ thể theo quy định của pháp luật có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng, thực hiện việc khởi kiện Vụ án dân sự để bảo vệ các quyền, lợi ích bị xâm phạm. Tòa án sẽ chỉ thụ lý nếu các chủ thể khởi kiện tuân thủ đúng và đủ các điều kiện về nội dung, hình thức khởi kiện mà pháp luật đã quy định và nộp tiền tạm ứng án phí. Tiếp theo khởi kiện là thụ lý Vụ án dân sự. Việc xem xét, thụ lý yêu cầu khởi kiện chính là sự bảo đảm của Nhà nước đối với việc thực hiện các quyền dân sự của các chủ thể đã được pháp luật ghi nhận. Trong giai đoạn Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự Tòa án phải làm sáng tỏ yêu cầu của các đương sự và những tình tiết khác có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án thông qua các chứng cứ, do các đương sự cung cấp hoặc thông qua các hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án để có thể đảm bảo cho việc giải quyết vụ án có căn cứ và chính xác. Sau đó, Tòa án còn có trách nhiệm hòa giải để giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau giải quyết tranh chấp, trừ các trường hợp không hòa giải được hoặc không được hòa giải. Bên cạnh đó, Tòa án còn có thể ra các quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ giải quyết vụ án; quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; quyết định công nhận sự thỏa thuận và quyết định đưa vụ án ra xét xử. Giai đoạn cuối cùng của sơ thẩm Vụ án dân sự là phiên tòa sơ thẩm Vụ án dân sự. Trên cơ sở quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án sẽ mở phiên tòa để ra phán quyết về vụ án.

Theo Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 thì “VADS” là tranh chấp Dân sự, Hôn nhân và Gia đình, Kinh doanh, Thương mại, Lao động. Dấu hiệu pháp lý cơ bản nhất để phân biệt việc dân sự với Vụ án dân sự là yếu tố có tranh chấp hay không. Cụ thể, việc dân sự là việc cá nhân, cơ quan tổ chức không có tranh chấp nhưng có yêu cầu tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý nào đó (cơ sở pháp lý là các Điều 26, 28, 30, 32 và 311 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011). Ví dụ: yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, yêu cầu tuyên bố một người mất tích… Còn Vụ án dân sự là các tranh chấp xảy ra giữa các đương sự mà theo quy định của Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự thì cá nhân, cơ quan, tổ chức tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình (cơ sở pháp lý là các Điều 25, 27, 29 và 31 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011). Ví dụ: các tranh chấp về quyền sở hữu tài sản, tranh chấp về hợp đồng dân sự… Luận văn: Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự về Luật Tố tụng.

Trong khoa học pháp lý hiện nay, có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm “CBXXSTVADS”. Nếu hiểu chuẩn bị xét xử sơ thẩm với tính chất là một quá trình, thì Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự là một giai đoạn tố tụng độc lập trong thủ tục giải quyết các vụ án dân sự tại Toà án bao gồm tất cả các hoạt động từ sau khi Tòa án thụ lý vụ án như phân công thẩm phán giải quyết vụ án; thông báo việc thụ lý vụ án; lập hồ sơ vụ án dân sự, tiến hành hoà giải, áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, ra các quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết Vụ án dân sự hoặc quyết định đưa vụ án ra xét xử [15, tr5]. Còn nếu hiểu Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự với tính chất là một hoạt động tố tụng theo khái niệm như đã nêu ở trên thì CBXXSTVADS gồm những công việc cụ thể do những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng tiến hành trên cơ sở quy định của pháp luật, phù hợp với địa vị tố tụng của họ để phục vụ trực tiếp cho thủ tục xét xử sơ thẩm.

Từ những phân tích trên, có thể đưa ra định nghĩa về Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự như sau: “CBXXSTVADS là toàn bộ hoạt động tố tụng do Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành trước khi đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, từ khi thụ lý vụ án đến quyết định đưa vụ án ra xét xử, nhằm chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho việc xét xử sơ thẩm.”

Thực tiễn xét xử các Vụ án dân sự cho thấy để xét xử được Vụ án dân sự, cần chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc xét xử Vụ án dân sự. Theo quy định của pháp luật và thực tiễn xét xử của Tòa án thì các công việc chuẩn bị xét xử chủ yếu của Tòa án bao gồm: Phân công thẩm phán giải quyết vụ án; thông báo việc thụ lý vụ án; lập hồ sơ Vụ án dân sự và quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Mỗi giai đoạn, hoạt động đều có những ý nghĩa riêng, vậy hoạt động Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự có những đặc điểm, ý nghĩa như thế nào so với các hoạt động khác?

1.1.2. Đặc điểm của chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự Luận văn: Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự về Luật Tố tụng.

Thứ nhất, được bắt đầu từ khi toà án thụ lý Vụ án dân sự và kết thúc khi toà án mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án dân sự. CBXXST Vụ án dân sự sẽ được tính từ thời điểm Toà án tiến hành thụ lý vụ án cho đến khi phiên tòa sơ thẩm diễn ra.

Thứ hai, là hoạt động tố tụng bao gồm những công việc cụ thể do toà án tiến hành nhằm chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho việc xét xử sơ thẩm Vụ án dân sự. Trước khi phiên tòa diễn ra, đòi hỏi phải có giai đoạn chuẩn bị điều kiện kỹ lưỡng. Những điều kiện cần thiết ở đây gồm: phân công thẩm phán, hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử……

Thứ ba, hoà giải là hoạt động tố tụng bắt buộc của toà án trong giai đoạn này: Khi tiến hành hoà giải giữa các đương sự, toà án giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Với tư cách là cơ quan xét xử của nhà nước, toà án phải chủ động trong việc hoà giải để giúp đỡ các đương sự thoả thuận với nhau. Tuy nhiên, không phải bất kỳ Vụ án dân sự nào toà án cũng phải tiến hành hoà giải, các vụ án thuộc trường hợp những Vụ án dân sự không được hoà giải và những Vụ án dân sự không tiến hành hoà giải được thì toà án không tiến hành hoà giải.

Thứ tư, có mối liên hệ mật thiết với các hoạt động tố tụng khác: trong quá trình chuẩn bị xét xử toà án sẽ nghiên cứu hồ sơ và tiến hành các công việc cần thiết. Việc chuẩn bị xét xử có liên quan mật thiết đến phiên toà sơ thẩm và hoạt động tố tụng của toà án sau này. Nếu việc chuẩn bị xét xử mà tốt thì phiên toà sơ thẩm diễn ra mới được thuận lợi, hạn chế tình trạng hoãn phiên toà do các yếu tố chủ quan cũng như hạn chế tình trạng xét lại bản án quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án. Bên cạnh đó, chuẩn bị xét xử một cách đầy đủ cũng giúp cho toà án cấp phúc thẩm giải quyết các kháng cáo, kháng nghị nhanh chóng, thuận lợi.

1.1.3. Ý nghĩa của chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

Có thể nói, Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự là hoạt động rất quan trọng. Tuy không đưa ra những phán quyết như việc xét xử tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm nhưng nó tạo cơ sở, tiền đề, đảm bảo cho việc xét xử và ra các phán quyết của Toà án được khách quan, toàn diện và đúng pháp luật. Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự có những ý nghĩa sau: CBXXSTVADS giúp Toà án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, từ đó giải quyết được đầy đủ và đúng các yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền và nghĩa vụ liên quan.

Trên cơ sở yêu cầu của đương sự, Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp cần giải quyết Vụ án dân sự. Khi đã xác định được các quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án, Toà án có thể xác định đúng các chứng cứ, tài liệu làm rõ các các quan hệ đó và yêu cầu đương sự cung cấp để chứng minh cho yêu cầu của mình hoặc bác lại yêu cầu của đương sự khác…Nếu cần phải thu thập bổ sung chứng cứ thì Toà án sẽ thu thập theo yêu cầu của đương sự, theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự để hoàn thiện hồ sơ vụ án. Luận văn: Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự về Luật Tố tụng.

Trên cơ sở xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, Tòa án sẽ triệu tập được đầy đủ những người tham gia tố tụng đến tham gia tố tụng. Nếu xác định thiếu đương sự trong vụ án sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ, đồng thời việc giải quyết vụ án sẽ thiếu toàn diện, thiếu chính xác. CBXXSTVADS giúp Tòa án tiến hành các công việc cần thiết để chuẩn bị cho phiên tòa sơ thẩm.

Qua việc Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự ngoài việc lập được hồ sơ Vụ án dân sự, có đủ chứng cứ, tài liệu để giải quyết Vụ án dân sự, Tòa án sẽ phân công hội đồng xét xử; triệu tập đương sự đến tham gia phiên tòa sơ thẩm, gửi quyết định đưa vụ án ra xét xử cho Viện kiểm sát cùng cấp, gửi giấy thông báo cho người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Trong giai đoạn Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, Tòa án sẽ tiến hành nghiên cứu, xem xét hồ sơ vụ án. Từ đó, Tòa án sẽ kiểm tra thật kỹ lưỡng tất cả các vấn đề liên quan tới vụ án để chuẩn bị tốt cho phiên tòa sơ thẩm, đồng thời dự liệu một số khó khăn gặp phải trong quá trình tiến hành giải quyết vụ án. Ngoài ra, Tòa án còn phải chuẩn bị các điều kiện vật chất như chuẩn bị về hội trường xét xử, âm thanh… Những công việc này giúp cho phiên tòa sơ thẩm diễn ra theo đúng kế hoạch.

Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự tạo điều kiện cho đương sự cung cấp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.

Chứng cứ giúp cho Tòa án làm rõ được các tình tiết, sự kiện liên quan đến vụ án, đồng thời thông qua việc cung cấp chứng cứ, đương sự sẽ chứng minh với Tòa án yêu cầu của mình là có căn cứ hợp pháp cũng như chứng minh việc phản đối yêu cầu của mình là đúng đắn. Trong thời gian Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự các đương sự có điều kiện thu thập chứng cứ, cung cấp cho Tòa án để chứng minh cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Ngoài ra, đương sự là người lần đầu tham gia tố tụng và rất nhiều người vẫn còn hạn chế về kiến thức pháp luật. Vì vậy, Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự là cơ hội để các đương sự có thể chuẩn bị cả về mặt tâm lý cũng như kiến thức pháp luật để sẵn sàng cho phiên tòa sơ thẩm được tiến hành sau đó.

Giai đoạn Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự là giai đoạn rất quan trọng, tuy không đưa ra những phán quyết như giai đoạn xét xử phúc, giám đốc thẩm hay tái thẩm nhưng nó làm tiền đề, cơ sở pháp lý vững chắc đảm bảo cho việc xét xử và ra các phán quyết của toà án được khách quan, toàn diện và đúng pháp luật.

1.1.4. Cơ sở khoa học của việc quy định về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

Giai đoạn Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự được tiến hành dựa trên ý nghĩa quan trọng của giai đoạn Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự. Đồng thời, các công việc cần thực hiện khi tiến hành giai đoạn Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự như phân công thẩm phán giải quyết vụ án; lập hồ sơ vụ án dân sự và quyết định đưa vụ án ra xét xử,….còn được thực hiện dựa trên những nguyên tắc bảo đảm quyền tham gia tố tụng của đương sự. Ví dụ: như khi lập hồ sơ vụ án, cần đảm bảo nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự; Tòa án chỉ có thể giải quyết một cách chính xác và công bằng khi có đầy đủ các chứng cứ và các tình tiết của Vụ án dân sự đã được làm sáng tỏ. Ngoài ra, việc tiến hành giai đoạn Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự dựa trên cơ sở bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa; đồng thời đảm bảo sự bình đảng giữa các bên đương sự.

1.2. Những điểm khác biệt tích cực về chuẩn bị xét xử sơ thẩm theo pháp luật tố tụng của một số nước trên thế giới Luận văn: Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự về Luật Tố tụng.

  • Pháp luật Tố tụng dân sự Cộng hòa Pháp
  • Về tiền xét xử:

Theo pháp luật tố tụng dân sự của Pháp thì việc chuẩn bị xét xử sơ thẩm có vai trò rất quan trọng nên có quy định khi kết thúc giai đoạn này, Thẩm phán tổ chức phiên họp sơ bộ hay phiên họp “tiền xét xử” để các đương sự thảo luận yêu cầu của họ và những vấn đề xung quanh vụ án. Các đương sự có quyền yêu cầu trao đổi chứng cứ và các vấn đề khác. Phiên họp này giúp cho Thẩm phán xem xét lại toàn bộ hồ sơ vụ án, giúp các bên chuẩn bị tốt hơn cho quá trình tranh luận tại tòa.

Ở Việt Nam trước khi xét xử chỉ quy định vấn đề hòa giải, không có quy định về phiên họp sơ bộ trước khi phiên tòa diễn ra như ở Pháp.

  • Về thủ tục hòa giải:

Trong Luật Tố tụng dân sự của Cộng hòa Pháp, các quy định về hòa giải giữ một vị trí quan trọng. Hòa giải đã được xác định là một nguyên tắc trong quá trình giải quyết Vụ án dân sự “Thẩm phán có trách nhiệm hòa giải các bên đương sự”.

Hình thức hòa giải: Theo Điều 127 Bộ luật Tố tụng Dân sự Pháp có hai hình thức hòa giải là các bên tự hòa giải với nhau hoặc hòa giải theo sáng kiến của Thẩm phán. Nếu các bên tự hòa giải, Thẩm phán phụ trách việc thẩm cứu hoàn tất hồ sơ có thể ghi nhận sự hòa giải của các bên.

Trong Bộ luật Tố tụng Dân sự Việt Nam thì chỉ có một hình thức là do Thẩm phán hòa giải.

  • Trình tự và thủ tục hòa giải: Luận văn: Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự về Luật Tố tụng.

Theo quy định của pháp luật Pháp, việc hòa giải được tiến hành ở cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm. Ở cấp sơ thẩm, trong trình tự tố tụng thông thường, vấn đề hòa giải được quy định tại Điều 766 và Điều 767 Bộ luật Tố tụng Dân sự Pháp. Theo các quy định này, việc hòa giải chỉ được tiến hành khi có mặt đầy đủ các đương sự. Thẩm phán phụ trách việc thẩm cứu hoàn tất hồ sơ phải ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Đối với Tòa án sơ thẩm có thẩm quyền rộng hòa giải có thể được tiến hành trước phiên tòa sơ thẩm hoặc tại phiên tòa sơ thẩm.

BLTTDS Việt Nam lại chỉ quy định việc hòa giải diễn ra trước khi diễn ra phiên tòa sơ thẩm. Nếu trong phiên tòa mà các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thì HĐXX ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự (Điều 220 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011).

Thủ tục hòa giải tiến hành trước phiên tòa sơ thẩm: Điều 833 Bộ luật Tố tụng Dân sự Pháp quy định: Tòa án sẽ thông báo và gửi giấy triệu tập đến các đương sự, trong giấy triệu tập phải ghi rõ các đương sự phải đích thân có mặt tại phiên hòa giải. Nếu hòa giải thành thì Thẩm phán lập biên bản hòa giải thành và biên bản đó có hiệu lực thi hành ngay. Nếu hòa giải không thành thì Thẩm phán giao cho nguyên đơn một phiếu hòa giải không thành, trừ trường hợp các bên các đương sự thỏa thuận là việc kiện được xét xử ngay.

  • Thủ tục hòa giải tại phiên tòa sơ thẩm:

Thẩm phán sẽ cố gắng hòa giải các đương sự trước khi mở phiên tòa sơ thẩm. Việc hòa giải có thể được tiến hành trong phòng làm việc của Thẩm phán.

Nếu hòa giải không thành, việc kiện có thể được xử ngay hoặc để một phiên tòa sau (Điều 840 Bộ luật Tố tụng Dân sự Pháp).

Ở cấp phúc thẩm, việc hòa giải vẫn được tiến hành theo trình tự như ở cấp sơ thẩm nhưng đặt dưới sự giám sát của một Thẩm phán của tòa được phân công xét xử phúc thẩm.

1.2.2. Pháp luật Tố tụng dân sự Liên bang Nga Luận văn: Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự về Luật Tố tụng.

  • Về hình thức khởi kiện:

Ngoài cá nhân, cơ quan, tổ chức thì Viện kiểm sát (VKS) có quyền khởi kiện VVDS để bảo vệ lợi ích Liên bang Nga, chủ thể Liên bang Nga. [ 39, tr499]

Ở Việt Nam thì Viện kiểm sát không có quyền khởi kiện, mà Viện kiểm sát có chức năng giám sát việc tuân theo pháp luật. Quyền khởi kiện chỉ dành cho cá nhân, cơ quan, tổ chức.

  • Về tiền xét xử:

Cũng giống như pháp luật tố tụng dân sự của Pháp, pháp luật tố tụng dân sự Nga coi trọng việc chuẩn bị xét xử sơ thẩm. Thẩm phán tổ chức phiên họp sơ bộ hay phiên họp “tiền xét xử” để các đương sự thảo luận yêu cầu của họ và những vấn đề xung quanh vụ án. Các đương sự có quyền yêu cầu trao đổi chứng cứ và cá vấn đề khác. Phiên họp này giúp cho Thẩm phán xem xét lại toàn bộ hồ sơ vụ án, giúp các bên chuẩn bị tốt hơn cho quá trình tranh luận tại tòa.

1.2.3. Pháp luật Tố tụng dân sự Vương quốc Anh

  • Về hình thức khởi kiện:

Khi khởi kiện, nguyên đơn phải gửi đơn khởi kiện do luật sư của nguyên đơn soạn thảo cho Tòa án [ 39, tr503].

Ở Việt Nam thì đơn khởi kiện chỉ cần tuân thủ đúng hình thức, nội dung theo quy định tại Điều 164 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011. Và không bắt buộc luật sư của nguyên đơn phải soạn thảo.

  • Về căn cứ xét xử, căn cứ quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc:

Trong trường hợp, nếu một trong các bên đương sự không thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ hoặc trả lời câu hỏi của đương sự phía bên kia theo quy định của pháp luật thì Thẩm phán sẽ quyết định giải quyết vụ việc hoàn toàn theo chứng cứ do bên đương sự xuất trình trước tòa án. [ 39, tr504]

BLTTDS Việt Nam có nhắc tới vấn đề về “Hậu quả nếu đương sự không nộp hoặc nộp không đầy đủ thì phải chịu hậu quả” (Điều 84 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011). Tuy nhiên hậu quả chưa quy định rõ ràng và cũng không nhắc tới vấn đề Thẩm phán sẽ quyết định giải quyết vụ việc hoàn toàn theo chứng cứ do bên đương sự xuất trình trước tòa án như pháp luật tố tụng dân sự Vương quốc Anh. Luận văn: Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự về Luật Tố tụng.

1.2.4. Pháp luật Tố tụng dân sự Hợp chúng quốc Hoa Kỳ

  • Về thời hạn chuẩn bị xét xử, thời hạn thông báo:

Trong thời hạn 20 ngày nhận được thông báo của Tòa án liên bang, 30 ngày hoặc có thể kéo dài đến 60 ngày nhận được thông báo của tòa án bang bị đơn có nghĩa vụ nộp cho Tòa án văn bản trả lời của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn. [ 39, 508]

Điều 175 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 Việt Nam lại quy định thời hạn “khiêm tốn” hơn rất nhiều so với pháp luật tố tụng dân sự Hợp chúng quốc Hoa Kỳ: “Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo, người được thông báo phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện…”

  • Về căn cứ xét xử, căn cứ quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc:

Trong quá trình nhận đơn nếu đơn khởi kiện không hợp lệ, vụ việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; việc giải quyết vụ việc đó chưa được quy định trong luật; thời hiệu khởi kiện đã hết thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc.

Theo Điều 168 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 Việt Nam, thì các vấn đề: đơn khởi kiện không hợp lệ, vụ việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án là căn cứ để trả lại đơn khởi kiện chứ không giống quy định của Pháp luật Tố tụng dân sự Hợp chúng quốc Hoa Kỳ.

1.2.5. Pháp luật tố tụng dân sự Nhật Bản

  • Về thủ tục hòa giải trong chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

Nhật bản có truyền thống lâu đời về giải quyết tranh chấp bằng phương pháp thỏa thuận. Tranh tụng mới chỉ được biết đến khi được du nhập từ các nước phương Tây vào những năm đầu thế kỷ XIX.

  • Chủ thể tiến hành hòa giải: Luận văn: Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự về Luật Tố tụng.

Hòa giải trong pháp luật của Nhật được thực hiện thông qua một Hội đồng hòa giải. Hội đồng này thường bao gồm một Thẩm phán và hai hòa giải viên trở lên. Các hòa giải viên này thường là những người có chuyên môn trong lĩnh vực mà các bên tranh chấp. Điều này sẽ giúp cho hiệu quả hòa giải được cao hơn bởi hòa giải tranh chấp trong những lĩnh vực mang tính chất đặc thù như tranh chấp thương mại hoặc tranh chấp xây dựng thì Thẩm phán thường không có kiến thức chuyên sâu. Do vậy, việc tham gia của những người có chuyên môn sẽ giúp Thẩm phán rất nhiều trong quá trình hòa giải. Đây là điểm khác biệt giữa pháp luật Việt Nam và Nhật Bản về hòa giải. Trong pháp luật Việt Nam, chủ thể chủ trì phiên hòa giải chỉ là một Thẩm phán thư ký ghi biên bản và các đương sự (Điều 184 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011).

  • Thủ tục hòa giải:

Ở Nhật, hòa giải được tiến hành bằng nhiều buổi gặp gỡ các bên. Buổi đầu tiên Hội đồng hòa giải sẽ thông báo cho các bên về thủ tục hòa giải. Các buổi tiếp theo Hội đồng hòa giải sẽ gặp từng bên để từ đó tìm ra bản chất của vấn đề và các vấn đề liên quan.

Ở Việt Nam, việc hòa giải được diễn ra dưới hình thức là phiên hòa giải với sự có mặt của Thẩm phán và các bên liên quan trong một khoảng thời gian nhất định.

  • Hiệu lực của biên bản hòa giải:

Điều 267 Bộ luật Tố tụng Dân sự Nhật Bản quy định “Khi có sự thỏa hiệp hoặc ý kiến chấp thuận hay từ bỏ chấp nhận yêu cầu được thể hiện trong biên bản thì biên bản này có hiệu lực như một bản án không thể bác bỏ được”. Như vậy, theo quy định của pháp luật Nhật Bản thì biên bản hòa giải thành có hiệu lực ngay sau khi lập, còn như trong pháp luật Việt Nam thì “Hết thời hạn bảy ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó thì Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.” (Điều 187 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011).

1.2.6. Pháp luật Tố tụng dân sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa

  • Về hình thức khởi kiện:

Khi khởi kiện nguyên đơn phải gửi đơn khởi kiện lập thành văn bản cho Tòa án. Nếu nguyên đơn khó khăn trong việc viết đơn có thể trình bày bằng miệng và tòa án ghi thành biên bản (Điều 109 Bộ luật Tố tụng Dân sự TH).

Theo Điều 164, 190 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 Việt Nam thì cá nhân, cơ quan, tổ chức làm đơn khởi kiện và nộp trực tiếp tại Tòa án hoặc gửi đơn đến Tòa án qua bưu điện.

  • Về thời hạn chuẩn bị xét xử, thời hạn thông báo: Luận văn: Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự về Luật Tố tụng.

Sau khi thụ lý vụ việc, tòa án tiến hành chuẩn bị xét xử trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án, trong trường hợp đặc biệt thời hạn này thêm 6 tháng.

Điều 179 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 Việt Nam quy định về thời hạn Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự khác, thời gian cụ thể hơn với từng loại việc so với Pháp luật Tố tụng dân sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Trong đó quy định : “Đối với các vụ án về tranh chấp dân sự, tranh chấp hôn nhân gia đình, thời hạn là 04 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án; Đối với các vụ án về kinh doanh thương mại, lao động thì thời hạn là 02 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án.”

  • Về thủ tục hòa giải:

Theo Điều 9 Luật tố tụng dân sự của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thì hòa giải là một nguyên tắc hoạt động của các cơ quan xét xử “Tòa án nhân dân giải quyết cá vụ án dân sự phải tiến hành hòa giải theo nguyên tắc tự nguyện và hợp pháp” [43, tr63]. Chế định hòa giải được quy định cụ thể tại Chương 8 Luật Tố tụng dân sự Trung Quốc, gồm một số điểm đáng chú ý sau:

  • Người tham gia hòa giải:

Theo Điều 86 và Điều 87 Luật tố tụng dân sự Trung Quốc thì người tham gia hòa giải gồm: Thẩm phán, nguyên đơn, bị đơn, nhân chứng, đơn vị và cá nhân có liên quan.

Điều 184 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng Dân sự 2011 Việt Nam quy định về thành phần Hòa giải gồm: Thẩm phán, thư ký, các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự.

  • Thủ tục hòa giải:

Về nguyên tắc, hòa giải đi đến thỏa thuận, Tòa án nhân dân phải làm bản hòa giải ghi rõ kết quả hòa giải, trừ một số trường hợp sau:

  • Những vụ án ly hôn đã hòa giải đi đến hàn gắn quan hệ hôn nhân.
  • Các vụ án về cấp dưỡng đã hòa giải đi đến duy trì mối quan hệ nuôi dưỡng.
  • Những vụ án khác không cần làm bản hòa giải.

Bản hòa giải sau khi có chữ ký của hai bên đương sự là có ngay hiệu lực pháp luật. Hòa giải không đi đến thỏa thuận thì Tòa án nhân dân kịp thời ra phán quyết.

Như vậy, điểm khác biệt về hòa giải trong pháp luật Trung Hoa so với pháp luật Việt Nam là bản hòa giải sau khi được lập sẽ có ngay hiệu lực. Và trong một số trường hợp thì hòa giải thành Tòa án không cần lập bản hòa giải mà chỉ cần ghi vào biên bản, sau khi có chữ ký hoặc đóng dấu của hai bên đương sự, Thẩm phán, Thư ký là có hiệu lực pháp luật ngay.

Tóm tắt Chương 1 Luận văn: Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự về Luật Tố tụng.

CBXXSTVADS là toàn bộ hoạt động tố tụng do Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành trước khi đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, từ khi thụ lý vụ án đến quyết định đưa vụ án ra xét xử, nhằm chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho việc xét xử sơ thẩm. Do vậy, Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự có ý nghĩa rất quan trọng đến toàn bộ hoạt động xét xử của Tòa án. Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự có mối liên hệ mật thiết với các hoạt động tố tụng khác. Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự giúp Tòa án chuẩn bị được những điều kiện tốt về nội dung tranh chấp, trang bị thêm kiến thức pháp luật cho đương sự, cũng như tạo cơ sở vật chất cho phiên tòa…

CBXXSTVADS có những đặc điểm cơ bản như: Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự được bắt đầu tư khi toà án thụ lý Vụ án dân sự và kết thúc khi toà án mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án dân sự; Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự là hoạt động tố tụng bao gồm những công việc cụ thể do toà án tiến hành nhằm chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho việc xét xử sơ thẩm Vụ án dân sự; hoà giải là hoạt động tố tụng bắt buộc của toà án trong giai đoạn này; có mối liên hệ mật thiết với các hoạt động tố tụng khác

Một số nội dung trong hoạt động Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự có sự khác nhau giữa các quốc gia. Đặc biệt ở các quy định về Hòa giải. Tác giả đã nêu ra những điểm khác biệt tích cực về Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự theo pháp luật tố tụng của một số nước trên thế giới với pháp luật tố tụng dân sự của Việt Nam. Để từ đó có cái nhìn rõ hơn về pháp luật tố tụng dân sự hiện hành. Qua nhiều năm, cùng với sự tiến bộ của của quá trình nghiên cứu pháp luật, những quy định về Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự cho đến ngày hôm nay đã đạt được những bước tiến nhất định. Luận văn: Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự về Luật Tố tụng.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực trạng về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

One thought on “Luận văn: Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự về Luật Tố tụng

  1. Pingback: Luận văn: Hoàn thiện về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464