Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Kiến nghị pháp luật thế chấp tài sản bên thứ ba hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật thế chấp tài sản bên thứ ba để đảm bảo khoản vay tại ngân hàng thương mại và một số kiến nghị dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.2 Một số kiến nghị, giải pháp hoàn thiện pháp luật về thế chấp tài sản bên thứ ba và nâng cao hiệu quả hoạt động Ngân hàng thương mại
2.2.1 Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về thế chấp tài sản bên thứ ba trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
Như đã tìm hiểu và phân tích quy định pháp luật hiện hành về thế chấp tài sản bên thứ ba thì tác giả nhận thấy quy định về vấn đề này còn đang bỏ ngỏ: không quy định nhưng cũng không cấm. Từ đó dẫn đến những luồng quan điểm khác nhau, thậm chí mâu thuẫn lẫn nhau, mỗi bên đều có viện dẫn những điều luật để làm tăng tính logic, thuyết phục cho luận điểm của mình. Tuy nhiên, một trong những yếu tố đánh giá sự hoàn thiện pháp luật của một quốc gia là: tính cụ thể và chính xác của pháp luật. Điều đó thể hiện ở chỗ quy định về một chủ thể, vấn đề nào đó phải đảm bảo cách hiểu thống nhất giữa các cơ quan nhà nước, cơ quan thi hành và các chủ thể liên quan; không thể để tình trạng một vấn đề mà lại có những cách hiểu trái ngược nhau, gây hoang mang, rối loạn cho các chủ thể.
Thứ nhất, cần bổ sung quy định pháp luật về quyền được yêu cầu hoàn trả của Bên thế chấp đối với bên vay.
Nếu xét theo luật hiện hành, Bên thế chấp chưa có quy định về quyền được truy đòi từ bên vay sau khi đã giao tài sản cho Ngân hàng thương mại xử lý nếu các bên không có thoả thuận, mặc dù bên vay là người vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng đã giao kết và phải bồi thường cho bên cho vay do hành động vi phạm này. Nhưng trong quan hệ bảo lãnh mà có sử dụng biện pháp thế chấp để đảm bảo nghĩa vụ bảo lãnh, Bên thế chấp đã giao Tài sản bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của mình thì họ được quyền truy đòi bên vay hoàn trả đối với phần giá trị mình đã thực hiện trả thay.
Việc cụ thể hóa quy định pháp luật này để Bên thế chấp có căn cứ pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình khi phải thực hiện giao Tài sản thế chấp cho Ngân hàng thương mại xử lý khi bên vay vi phạm. Căn cứ vào quy định Bên thế chấp có thể yêu cầu bên vay phải hoàn trả lại cho mình hoặc khởi kiện nếu bên vay không hợp tác, không phối hợp hoàn trả. Nội dung này cũng được quy định tương tự tại một số nước như: Theo điều 879 Bộ luật dân sự Đài Loan: “bên thứ ba được kế thừa các yêu cầu của bên có quyền (chủ nợ) đối với con nợ trong phạm vi thanh toán sau khi họ đã thanh toán nghĩa vụ trả nợ toàn bộ cho con nợ hoặc bị mất quyền tài sản thông qua việc giao Tài sản bảo đảm để xử lý thu nợ”. Hay như quy định tại Điều 351, 372 Bộ luật dân sự Nhật: “việc thế chấp chấm dứt khi bên thứ ba là chủ sở hữu đã thực hiện nghĩa vụ theo yêu cầu cả người nhận thế chấp và người thứ ba trở thành chủ sở hữu thực hiện nghĩa vụ.”
Theo Điều 275 Bộ luật dân sự năm 2015 thì căn cứ phát sinh nghĩa vụ có thể từ hợp đồng hoặc căn cứ khác do pháp luật quy định. Tuy nhiên có hai vấn đề được đặt ra: Luận văn: Kiến nghị pháp luật thế chấp tài sản bên thứ ba.
Một là: một trong những nguyên tắc cơ bản của Bộ luật dân sự: “Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng”. Nghĩa là giao dịch dân sự sẽ được giải quyết trên hết dựa vào thoả thuận các bên nếu thoả thuận đó phù hợp quy định pháp luật. Nhưng nếu xảy ra tranh chấp đối với những vấn đề mà các bên chưa thoả thuận thì sẽ xử lý như thế nào. Và đây chính là lúc tác dụng của Luật được phát huy, luật sẽ giải quyết thoả đáng các vấn đề vướng mắc của các chủ thể, bảo vệ lợi ích chính đáng, hợp lý của các chủ thể.
Hai là: nếu để các bên tự thoả thuận thì đây được xem là hợp đồng gì? Trong các hợp đồng thông dụng hiện tại vẫn chưa có hợp đồng có bản chất phù hợp.
Thứ hai, đối với trường hợp Bên thế chấp đang tiến hành thủ tục phá sản
Theo pháp luật về phá sản, hội nghị chủ nợ bao gồm những chủ nợ có tên trong danh sách chủ nợ. Tuy nhiên trong quan hệ thế chấp tài sản bên thứ ba thì Bên nhận thế chấp không phải là chủ nợ của Bên thế chấp, mà bên vay mới là “con nợ” và bên cho vay (NHTM) là “chủ nợ”. Chính vì vậy mà hội nghị chủ nợ sẽ không bao gồm Bên nhận thế chấp là Ngân hàng thương mại. Do đó tác giả kiến nghị sửa đổi Luật phá sản nên đưa Bên thế chấp (NHTM) là một trong những thành viên tham gia hội nghị chủ nợ.
Thứ ba, nên điều chỉnh quy định tại Bộ luật dân sự năm 2015 như sau:
Theo khoản 3 Điều 305 Bộ luật dân sự năm 2015: “Trường hợp giá trị của Tài sản bảo đảm lớn hơn giá trị của nghĩa vụ được bảo đảm thì bên nhận bảo đảm phải thanh toán số tiền chênh lệch đó cho bên bảo đảm; trường hợp giá trị Tài sản bảo đảm nhỏ hơn giá trị của nghĩa vụ được bảo đảm thì phần nghĩa vụ chưa được thanh toán trở thành nghĩa vụ không có bảo đảm”. Ở ý thứ hai: nếu giá trị Tài sản bảo đảm nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ bảo đảm thì phần nghĩa vụ chưa thanh toán trở thành nghĩa vụ không có bảo đảm là chưa được chuẩn xác. Nếu xét trong trường hợp chỉ có duy nhất một Tài sản bảo đảm thì ý của điều luật trên là đúng. Tuy nhiên nếu xét trong trường hợp khoản vay được bảo đảm bởi nhiều tài sản hoặc bảo đảm bởi nhiều biện pháp bảo đảm khác nhau (cầm cố, thế chấp, bảo lãnh…) thì khi xử lý TSBĐ mà giá trị thu được vẫn không đủ giá trị nghĩa vụ thì phần còn lại của nghĩa vụ chưa thanh toán vẫn là có nghĩa vụ có bảo đảm theo các biện pháp khác. Ví dụ như khoản vay 5 tỷ đồng, được đảm bảo bởi Tài sản thế chấp 3 tỷ đồng và bảo lãnh. Nếu sau khi xử lý Tài sản thế chấp thì phần nghĩa vụ còn lại 2 tỷ là không có bảo đảm là chưa đúng, mà phần nghĩa vụ đó được đảm bảo bởi biện pháp bảo lãnh và bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho nên vay theo cam kết ban đầu. Vì vậy, tác giả kiến nghị sửa đổi như sau: “Trường hợp giá trị của Tài sản bảo đảm lớn hơn giá trị của nghĩa vụ được bảo đảm thì bên nhận bảo đảm phải thanh toán số tiền chênh lệch đó cho bên bảo đảm; trường hợp giá trị Tài sản bảo đảm nhỏ hơn giá trị của nghĩa vụ được bảo đảm thì phần nghĩa vụ chưa được thanh toán sẽ được tiếp tục xử lý bằng biện pháp bảo đảm khác hoặc trở thành nghĩa vụ không có bảo đảm sau khi đã xử lý hết các biện pháp bảo đảm” Luận văn: Kiến nghị pháp luật thế chấp tài sản bên thứ ba.
Thứ tư: quy định, hướng dẫn rõ hơn về cách xác định thành viên/HGĐ
Theo Bộ luật dân sự năm 2015 thì Hộ gia đình không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự và các thành viên của hộ gia đình là chủ thể tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Tuy nhiên trên thực tế vẫn tồn tại nhiều trường hợp Quyền sử dụng đất cấp cho Hộ gia đình và các Ngân hàng thương mại khó khăn trong việc xác định các thành viên Hộ gia đình để ký kết Hợp đồng thế chấp. Nếu vấn đề này chưa được giải quyết triệt để thì xảy ra tình trạng các Ngân hàng thương mại e dè, không muốn nhận thế chấp tài sản của Hộ gia đình. Nếu như vậy thì trường hợp một trong những thành viên Hộ gia đình muốn vay vốn mà Tài sản thế chấp là tài sản của Hộ gia đình thì lâm vào tình trạng bế tắc. Các sửa đổi nên thực hiện thống nhất từ Bộ luật dân sự năm 2015 (Điều 1, chương VI), Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 (khoản 3 Điều 2), Nghị định số 99/2022/NĐ-CP ngày 30 tháng 11 năm 2022 (Điều 2) theo hướng: đối tượng áp dụng của các văn bản này gồm cá nhân, pháp nhân và các đối tượng khác không có tư cách pháp nhân như Hộ gia đình, doanh nghiệp tư nhân…
Tiếp theo, tác giả kiến nghị nên có hướng dẫn xác định thành viên trong Hộ gia đình để các đối tượng tham gia giao dịch có cơ sở, căn cứ xác định chính xác ai là người sẽ tham gia. Cơ quan có thẩm quyền thay mặt nhà nước xác lập giao Quyền sử dụng đất cho Hộ gia đình phải xác định, nêu rõ các thành viên Hộ gia đình có Quyền sử dụng đất chung vào Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất. Những trường hợp đã cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất theo “cơ chế cũ” thì Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm xác định thành viên Hộ gia đình khi người sử dụng đất có nhu cầu để làm cơ sở tham gia các giao dịch liên quan đến Quyền sử dụng đất.
Thứ năm, nên rà soát điều chỉnh quy định tại Bộ luật dân sự năm 2015 theo hướng có sự phân biệt giữa thế chấp tài sản để bảo đảm nghĩa vụ của người khác và bảo đảm nghĩa vụ của chính mình; hay nói cách khác: nên tách bạch hai chủ thể bên bảo đảm và bên vay, cụ thể như sau: Luận văn: Kiến nghị pháp luật thế chấp tài sản bên thứ ba.
Theo Điều 302, Bộ luật dân sự năm 2015 Quyền nhận lại Tài sản bảo đảm: “Trước thời điểm xử lý Tài sản bảo đảm mà bên bảo đảm thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình đối với bên nhận bảo đảm và thanh toán chi phí phát sinh do việc chậm thực hiện nghĩa vụ thì có quyền nhận lại tài sản đó, trừ trường hợp luật có quy định khác”. Tuy nhiên, quy định này chỉ phù hợp khi bên bảo đảm đồng thời là bên có nghĩa vụ. Xét tình huống một bên sử dụng Tài sản bảo đảm của mình để đảm bảo cho nghĩa vụ của người khác: Nếu trước thời điểm xử lý tài sản mà bên có nghĩa vụ đã hoàn tất nghĩa vụ với bên nhận bảo đảm thì đương nhiên bên bảo đảm cũng được quyền nhận lại Tài sản bảo đảm vì đã hoàn tất nghĩa vụ với bên nhận bảo đảm. Vì vậy nên kiến nghị bổ sung ý vào điều khoản này: “Trước thời điểm xử lý Tài sản bảo đảm mà bên bảo đảm, bên có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình đối với bên nhận bảo đảm và thanh toán chi phí phát sinh do việc chậm thực hiện nghĩa vụ thì có quyền nhận lại tài sản đó, trừ trường hợp luật có quy định khác”.
Điểm c khoản 1 Điều 303 Bộ luật dân sự năm 2015: “Bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm” và Khoản 5 Điều 323 Bộ luật dân sự năm 2015: “Yêu cầu Bên thế chấp hoặc người thứ ba giữ Tài sản thế chấp giao tài sản đó cho mình để xử lý khi Bên thế chấp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”. Cũng tương tự như vậy, tác giả kiến nghị sửa chữa theo hướng thêm bên có nghĩa vụ vào các điều khoản này: “Bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm/bên có nghĩa vụ”và “Yêu cầu Bên thế chấp hoặc người thứ ba giữ Tài sản thế chấp giao tài sản đó cho mình để xử lý khi Bên thế chấp/bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
2.2.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động ngân hàng thương mại Luận văn: Kiến nghị pháp luật thế chấp tài sản bên thứ ba.
Thứ nhất, giao dịch thông qua ủy quyền
Đối với Giao dịch bảo đảm nhận thế chấp tài sản bên thứ ba thông qua ủy quyền (bao gồm cả việc ủy quyền thực hiện toàn bộ các thủ tục liên quan đến công chứng, chứng thực, giao dịch với ngân hàng)
- Đầu tiên: các Ngân hàng thương mại nên tìm hiểu rõ lý do phải thực hiện giao dịch thông qua ủy quyền, loại trừ những giao dịch có nghi ngờ thực hiện ủy quyền là để che dấu giao dịch khác (mua bán nhưng không thực hiện thủ tục đăng bộ sang tên để không phải thực hiện nghĩa vụ tài chính với nhà nước: thuế thu nhập cá nhân, phí trước bạ…)
- Thời điểm Ngân hàng thương mại thực hiện ký Hợp đồng bảo đảm, phải thực hiện xác nhận năng lực của người ủy quyền thông qua việc thẩm định thực tế người ủy quyền để tránh trường hợp người ủy quyền đã chết/hoặc coi như đã chết/ bị tòa án tuyên đã chết thì HĐBD đã ký sẽ bị tuyên vô hiệu.
- Trường hợp không tiếp cận được người ủy quyền vì lý do khách quan thì phải thực hiện xác thực việc ủy quyền tại nơi làm thủ tục ủy quyền.
Và một trong những nguyên tắc quản trị rủi ro mà các Ngân hàng thương mại thường quán triệt là hạn chế xác lập Giao dịch bảo đảm thông qua ủy quyền cho bên thứ ba được toàn quyền định đoạt tài sản (chuyển nhượng, tặng cho, cầm cố/thế chấp…) và/hoặc thực hiện toàn bộ các thủ tục liên quan đến giao dịch với Ngân hàng thương mại trừ trường hợp xác lập Giao dịch bảo đảm với đại diện của các đồng sở hữu trên cơ sở các đồng sở hữu ủy quyền cho một người đại diện xác lập Giao dịch bảo đảm. Thay vào đó, Ngân hàng thương mại thường đề nghị người vay, người có tài sản trực tiếp thực hiện các thủ tục vay vốn, cầm cố/thế chấp tài sản với ngân hàng. Luận văn: Kiến nghị pháp luật thế chấp tài sản bên thứ ba.
Thứ hai, các Ngân hàng thương mại nên làm rõ mối quan hệ giữa Bên thế chấp và bên vay
Như đã phân tích các chủ thể tham gia vào Giao dịch bảo đảm thế chấp tài sản bên thứ ba thì Bên thế chấp là bên chịu nhiều rủi ro nhất trong khi bên vay là bên được hưởng lợi nhiều nhất. Do đó, trước khi quyết định nhận bảo đảm bằng tài sản bên thứ ba thì các Ngân hàng thương mại nên ưu tiên nhận Tài sản bảo đảm của chính bên vay trước. Nếu giá trị Tài sản bảo đảm vẫn chưa đáp ứng được khoản vay tại Ngân hàng thương mại thì mới xem xét đến việc nhận thế chấp tài sản bên thứ ba và phải làm rõ mối quan hệ giữa Bên thế chấp và bên vay, trong đó ưu tiên lựa chọn bên thứ ba là người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng đối với khách hàng cá nhân (thông qua các giấy tờ về nhân thân: giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, giấy khai sinh), người có quan hệ sở hữu/điều hành đối với khách hàng là pháp nhân (Danh sách thành viên công ty, sổ cổ đông, biên bản họp hội đồng thành viên/hội đồng quản trị…). Việc yêu cầu giữa bên vay và Bên thế chấp có mối quan hệ để tăng tính trách nhiệm trả nợ của bên vay.
Thứ ba, trong tình huống Hợp đồng thế chấp có khả năng bị vô hiệu do có sự gián đoạn về nghĩa vụ
Để tăng thêm tính thuyết phục với cơ quan có thẩm quyền, các Ngân hàng thương mại khi thực hiện tái cấp lại Hợp đồng cho vay theo hạn mức nên thực hiện thêm:
Biên bản định giá lại/ biên bản kiểm tra thực tế Tài sản bảo đảm hoặc trong một văn bản tương tự ký kết giữa Ngân hàng thương mại và Bên thế chấp nên đưa thêm nội dung: “BTC đồng ý tiếp tục sử dụng tài sản …để đảm bảo nghĩa vụ vay vốn cho bên vay tại Ngân hàng thương mại…”. Mục đích là để xác minh lại ý chí của Bên thế chấp trong giao dịch thế chấp đảm bảo cho nghĩa vụ người khác. Trường hợp Bên thế chấp không đồng ý tiếp tục thế chấp thì Ngân hàng thương mại có ứng xử phù hợp: nếu bên vay muốn tiếp tục vay vốn thì phải bổ sung Tài sản bảo đảm khác. Nếu không đáp ứng, Ngân hàng thương mại dừng cấp tín dụng mới cho đến khi bên vay hoàn trả đầy đủ khoản vay thì sẽ giải chấp, hoàn trả hồ sơ Tài sản bảo đảm cho Bên thế chấp.
Ký kết lại Hợp đồng thế chấp mới hoặc ký văn bản sửa đổi bổ sung Hợp đồng thế chấp (sửa đổi thời hạn bảo đảm, dẫn chiếu Hợp đồng cho vay mới) Luận văn: Kiến nghị pháp luật thế chấp tài sản bên thứ ba.
Thứ tư, lưu ý trong khi giải quyết trường hợp bên vay đang tiến hành thủ tục phá sản.
Luật phá sản chưa quy định cụ thể việc xử lý tài sản của bên khác bảo đảm khi Doanh nghiệp phá sản. Do đó các Ngân hàng thương mại cần lưu ý một số biện pháp khác để bảo vệ quyền lợi của mình: Đầu tiên, giải pháp khởi kiện: trước khi bên vay nộp đơn phá sản, Ngân hàng thương mại có thể nộp đơn khởi kiện Bên thế chấp, yêu cầu giao tài sản để Ngân hàng thương mại xử lý thu hồi khoản vay của bên vay. Tiếp theo, Ngân hàng thương mại cần sát sao làm việc với cơ quan tài phán công nhận tư cách chủ nợ có bảo đảm và ghi nhận kết quả giải quyết tranh chấp với Bên thế chấp. Khi ra quyết định phá sản đối với bên vay sẽ bao gồm nội dung được xử lý Tài sản bảo đảm.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 Luận văn: Kiến nghị pháp luật thế chấp tài sản bên thứ ba.
Chương hai của bài viết đã nghiên cứu các tình huống vướng mắc diễn ra trong thực tế khi thực thi quy định của pháp luật và từ đó đưa ra các kiến nghị
Thứ nhất: về việc hoàn thiện các quy định pháp luật
BLDS năm 2015 vẫn bỏ ngõ quy định về thế chấp tài sản bên thứ ba để đảm bảo cho khoản vay tại các Ngân hàng thương mại. Vì vậy nên trên thực tế vẫn đang nhiều cách hiểu và vận dụng điều luật khác nhau giữa các cơ quan xét xử dẫn đến phán quyết khác nhau đối với Hợp đồng thế chấp bên thứ ba, thậm chí là trong cùng một bản án.
Hiện quy định vẫn chưa có hướng dẫn xác định các thành viên Hộ gia đình tham gia giao dịch thế chấp, mà trên thực tế các Ngân hàng thương mại thường căn cứ vào sổ hộ khẩu để xác định. Tuy nhiên cách này cũng tồn tại những bất cập như những người có tên trong sổ hộ khẩu nhưng không phải là thành viên của Hộ gia đình hoặc ngược lại: có những người là thành viên Hộ gia đình nhưng không có tên trong sổ hộ khẩu.
Thứ hai: về giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động các Ngân hàng thương mại.`
Việc Hợp đồng thế chấp có khả năng vô hiệu do có sự gián đoạn về nghĩa vụ. Bên thế chấp cho rằng bên vay có thời điểm thanh toán hết dư nợ cho Ngân hàng thương mại, cũng đồng nghĩa là Hợp đồng thế chấp đã chấm dứt. Việc bên vay và Ngân hàng thương mại tiếp tục sử dụng Hợp đồng thế chấp để đảm bảo cho nghĩa vụ của Hợp đồng cho vay khác mà không qua ý kiến của Bên thế chấp có khả năng không được chấp nhận. Vì vậy các Ngân hàng thương mại phải lưu ý ký sửa đổi Hợp đồng thế chấp sửa đổi thời hạn bảo đảm hoặc biên bản định giá lại sẽ lồng ghép thỏa thuận tiếp tục sử dụng tài sản để đảm bảo nghĩa vụ bên vay tại Ngân hàng thương mại.
Ngoài ra trong quá trình thực thi pháp luật còn tồn tại một số tình huống như: giao kết hợp đồng thông qua người đại diện nhưng không vì lợi ích của người ủy quyền, đăng ký thế chấp Quyền sử dụng đất của bên thứ ba tại bị từ chối bởi một số văn phòng đăng ký đất đai tỉnh…
Từ những phân tích thực trạng trên, tác giả đề xuất các giải pháp, đề xuất nhằm khắc phục phần nào những tồn tại trên thực tế; cụ thể theo hướng hoàn thiện quy định về quyền truy đòi của Bên thế chấp sau khi đã thực hiện nghĩa vụ của mình.
KẾT LUẬN Luận văn: Kiến nghị pháp luật thế chấp tài sản bên thứ ba.
Trong hoạt động cho vay của các Ngân hàng thương mại, biện pháp bảo đảm đóng vai trò khá quan trọng, là biện pháp thứ yếu để tăng tính thiện chí của bên vay và khả năng thu hồi vốn khi bên vay vi phạm nghĩa vụ. Tuy nhiên biện pháp thế chấp Tài sản bảo đảm của bên thứ ba vẫn còn nhiều tranh luận đến từ các nhà nghiên cứu, cơ quan có thẩm quyền. Do đó tác giả đã lựa chọn nghiên cứu để làm rõ bản chất của biện pháp bảo đảm này và đi đến một số kết luận sau:
Một là, biện pháp bảo đảm thế chấp tài sản bên thứ ba mang tính đối vật. Từ đặc điểm cơ bản này có thể thấy khác biệt cơ bản với biện pháp bảo lãnh – mang tính đối nhân. Từ đó xác định được phạm vi bảo đảm, thời điểm xử lý Tài sản bảo đảm. Luận văn cũng nêu những nội dung pháp lý cơ bản của biện pháp thế chấp tài sản bên thứ ba: chủ thể tham gia quan hệ, hình thức, hiệu lực của Giao dịch bảo đảm, nội dung Hợp đồng thế chấp….
Hai là, thế chấp Tài sản bảo đảm của bên thứ ba là phù hợp tình hình thực tế và nhu cầu các bên và phù hợp tinh thần của Bộ luật dân sự năm 2015 trên cơ sở tự do, tự nguyện các bên. Do đó, nên cần có sự thừa nhận chính thống từ hệ thống luật pháp. Hơn nữa cơ quan xét xử cũng nên căn cứ nội dung giao dịch và ý chí, mong muốn của các bên khi tham gia giao dịch để làm cơ sở đưa ra các phán xét.
Ba là, luận văn cũng đã phân tích thực trạng thực thi của biện pháp thế chấp tài sản bên thứ ba, bất cập đến từ những khoảng trống của luật hay đến từ việc áp dụng và thực thi pháp luật vào thực tiễn. Từ đó, tác giả đề xuất các giải pháp để hoàn thiện pháp luật và đề xuất cho Ngân hàng thương mại trong việc Giao dịch bảo đảm này.
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn chưa giải quyết triệt để những vấn đề như: lý thuyết vật quyền và trái quyền. Bên cạnh đó, trong quá trình phân tích thực trạng có đề cập đến một số bản án để minh chứng cho những lập luận của mình, tác giả không có điều kiện tiếp cận toàn bộ bản án nên chưa khái quát hết thực trạng liên quan việc thực thi pháp luật trong quan hệ thế chấp tài sản một bên để đảm bảo nghĩa vụ của người khác tại Ngân hàng thương mại. Luận văn: Kiến nghị pháp luật thế chấp tài sản bên thứ ba.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Quy định pháp luật về thế chấp tài sản bên thứ ba

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
