Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Kê biên quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Kê biên quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất theo pháp luật thi hành án dân sự từ thực tiễn thành phố Hà Nội dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thi hành án dân sự là giai đoạn phức tạp nhất, bởi lẽ đụng chạm trực tiếp đến quyền và lợi ích của đương sự, nhất là về vấn đề tài sản. Do đó, không phải lúc nào người phải thi hành án cũng tự nguyện thi hành án. Họ thường tìm cách trốn tránh, kéo dài thời gian thực hiện nghĩa vụ thi hành án của mình. Trong trường hợp này, để bảo vệ tính nghiêm minh của pháp luật, bảo vệ những người được thi hành án đã được bản án, quyết định của Tòa án xác định, cơ quan THADS phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế THADS để thi hành án, buộc người phải thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ của mình. Cưỡng chế THADS do Chấp hành viên cơ quan THADS thực hiện theo trình tự, thủ tục luật định.
Là một trong những biện pháp cưỡng chế THADS, việc kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự. Từ những ý nghĩa quan trọng này, Luật THADS và các văn bản hướng dẫn thi hành đã có các quy định cụ thể về trình tự, thủ tục kê biên QSDĐ và tài sản gắn liền với đất để kịp thời tháo gỡ những tồn tại, vướng mắc trong công tác kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất.
Những năm qua việc kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất trên địa bàn thành phố Hà Nội đã đạt những kết quả nhất định. Nhiều vụ việc phức tạp đã được giải quyết. Việc thực hiện các trình tự, thủ tục về kê biên QSDĐ và tài sản gắn liền với đất đảm bảo đúng quy định của pháp luật THADS. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế như: Nhiều vụ việc thi hành án áp dụng biện pháp kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất còn tồn đọng; trình độ chuyên môn của một bộ phận cán bộ, công chức còn hạn chế; vẫn còn một số trường hợp có biểu hiện tiêu cực gây phiền hà, nhũng nhiễu đối với đương sự.
Những vấn đề trên đều xuất phát từ các quy định pháp luật THADS về kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất còn nhiều hạn chế, bất cập như: Sự thiếu rõ ràng, cụ thể, chồng chéo, thậm chí thiếu bao quát của các quy định pháp luật chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất. Bên cạnh đó, thực tiễn áp dụng pháp luật THADS về kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất vẫn còn những sai sót về trình tự, thủ tục trong quá trình tổ chức thi hành án; cơ sở vật chất, nguồn lực về con người chưa đáp ứng được khối lượng công việc ngày càng tăng trong bối cảnh, tình hình hiện nay… Từ những phân tích trên, học viên chọn đề tài: “Kê biên quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất theo pháp luật thi hành án dân sự từ thực tiễn thành phố Hà Nội” làm luận văn thạc sĩ cho mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Luận văn: Kê biên quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất.
Liên quan đến đề tài nghiên cứu đã có nhiều công trình đã được công bố cả trên phương diện lý luận và phương diện thực tiễn. Có thể kể tới những công trình nghiên cứu sau:
Các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự” của tác giả Phan Huy Hiếu, đăng trên Tạp chí dân chủ tháng 7/2020. Nội dung của bài viết tập trung phân tích nội dung, đánh giá thực tiễn áp dụng 06 biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự theo quy định của Luật THADS sửa đổi, bổ sung năm 2014. Ở đây, tác giả chỉ dừng lại góc độ đánh giá thực tiễn áp dụng các biện pháp cưỡng chế THADS nói chung, không phân tích đi sâu về biện pháp kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, trong đó có kê biên quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất.
Các biện pháp cưỡng chế trong THADS” của tác giả Lê Anh Tuấn trong Tạp chí Dân chủ và pháp luật số chuyên đề THADS tháng 4 năm 2019. Nội dung bài viết, tác giả đã khái quát chung một số vấn đề lý luận về kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án trong đó có quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất. Đồng thời, bài viết đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp tổ chức thực hiện pháp luật về kê biên, xử lý tài sản nói chung của người phải thi hành án, chưa đề xuất, giải pháp cụ thể đối với việc kê biên tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất của người phải thi hành án.
Cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền”, của tác giả Nguyễn Thanh Thuỷ, nhà xuất bản Tư pháp năm 2019. Nội dung cuốn sách tập trung phân tích các tình huống trong tổ chức thi hành án dân sự, trong đó có các tình huống từ thực tiễn kê biên quyền sử dụng đất trong THADS.
Vấn đề cưỡng chế đối với người 3 thức ba” của tác giả Bùi Văn Yên, đăng tạp chí Luật học tháng 5/2020. Nội dung bài viết tập trung vào phân tích, đánh giá việc thực hiện pháp luật THADS về cưỡng chế nói chung đối với người thứ ba đang giữ tài sản của người phải thi hành án. Luận văn: Kê biên quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất.
Những công trình trên, ở những góc độ lý thuyết và thực tiễn về kê biên tài sản, trong đó có kê biên QSDĐ, tài sản gắn với đất đã giải quyết ở những nội dung cơ bản. Tuy nhiên các công trình nghiên cứu một các hệ thống và toàn diện các vấn đề về kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất theo pháp luật THADS từ thực tiễn thành phố Hà Nội thì luận văn là một trong những công trình đầu tiên đề cập, nghiên cứu một cách hệ thống các vấn đề liên quan về kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất theo pháp luật THADS trên địa bàn thành phố Hà Nội, vì thế, đề tài luận văn của tác giả không trùng lắp với các công trình trước đó.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu đề tài để làm rõ một số vấn đề lý luận và quy định pháp luật về kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất; phân tích nội dung các quy định của pháp luật THADS hiện hành về kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất và thực tiễn thực hiện các biện pháp kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất trên địa bàn thành phố Hà Nội theo quy định của pháp luật THADS. Từ đó, tìm ra nguyên nhân còn tồn tại, hạn chế, khó khăn và giải pháp khắc phục nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và các quy định của pháp luật THADS về kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất; thực tiễn việc thực hiện biện pháp kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất và đánh giá kết quả và tồn tại, hạn chế trên địa bàn thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2019-2023.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên của luận văn là hệ thống các quy phạm pháp luật của Việt Nam về kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất và từ thực tiễn tại thành phố Hà Nội.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về thời gian: Đề tài nghiên cứu việc kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất từ thực tiễn tại thành phố Hà Nội từ 2019- 2023. Luận văn: Kê biên quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất.
- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu việc kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất từ thực tiễn tại thành phố Hà Nội.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Phương pháp luận
Phương pháp luận chính của luận văn là những quan điểm, chủ trương, chính sách dựa trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng cộng sản và pháp luật Việt Nam về kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất.
5.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Để làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu, luận văn đã sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khác nhau như: Phương pháp luận duy vật biện chứng, phương pháp luận duy vật lịch sử cùng các phương pháp khoa học cụ thể như phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp và phương pháp logic trong tất cả các chương của luận văn để đánh giá, nhận xét pháp luật THADS về kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Về mặt lý luận: Luận văn đóng góp về phương diện lý luận cho việc nghiên cứu pháp luật, quá trình xây dựng, hoàn thiện và thực thi pháp luật THADS về kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất.
- Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là công trình khoa học có giá trị tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập và áp dụng pháp luật về kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài mở đầu và kết luận thì luận văn kết cấu gồm 3 chương:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận về kê biên quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự.
- Chương 2: Thực tiễn kê biên quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự tại thành phố Hà Nội.
- Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện việc kê biên quyền sử dụng đất, tài sản gắn với đất tại thành phố Hà Nội.
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, PHÁP LUẬT VỀ KÊ BIÊN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT THEO PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Luận văn: Kê biên quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất.
1.1. Khái niệm, đặc điểm kê biên quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất
1.1.1. Khái niệm kê biên quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất
1.1.1.1. Khái niệm kê biên tài sản
Kê biên là một động từ ghép bởi hai từ kê và biên. Theo đó, kê là viết ra theo thứ tự từng tên, từng nhóm để ghi nhớ hoặc thông báo, còn biên là viết lên trang giấy. Khi kê biên một tài sản thì đồng nghĩa với việc có thể hiểu tài sản đó sẽ bị hạn chế giao dịch, người có tài sản bị kê biên không được thực hiện các quyền về tài sản (quyền sử dụng, thay đổi, định đoạt). Trong pháp luật hình sự, kê biên tài sản là một biện pháp cưỡng chế nhằm bảo đảm việc thi hành án hình sự, chỉ áp dụng với bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định. Như vậy, với những định nghĩa đã nêu trên, kê biên tài sản đang được hiểu theo nghĩa hẹp, chỉ được cơ quan tố tụng áp dụng trong giai đoạn điều tra nhằm đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ của người phạm tội.
Trong THADS, kê biên tài sản là một trong 06 biện pháp cưỡng chế thi hành án. Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản chỉ được thực hiện khi và chỉ khi đương sự không tự nguyện thi hành án hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn đương sự tẩu tán, huỷ hoại tài sản nhằm trốn tránh việc thi hành án. Thời gian tự nguyện thi hành án là 10 ngày kể từ ngày đương sự nhận được thông báo, quyết định của cơ quan THADS về việc thực hiện nghĩa vụ thi hành án. Kê biên tài sản được thực hiện bởi chủ thể duy nhất đó là Chấp hành viên – chức danh Tư pháp được Nhà nước trao quyền trong tổ chức thi hành án các bản án, quyết định của tòa án có hiệu lực pháp luật thi hành.
Từ những phân tích trên, có thể thấy kê biên tài sản cần được hiểu theo nghĩa rộng, là một biện pháp cưỡng chế được thực hiện bởi Cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm bảo đảm cho nghĩa vụ về tài sản của người vi phạm đã xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân có liên quan.
1.1.1.2. Khái niệm kê biên quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất
QSDĐ, tài sản gắn liền với đất là một loại tài sản đặc thù, có giá trị kinh tế cao, gắn liền với các chủ thể. QSDĐ ở Việt Nam có tính chất đặc thù. Bởi lẽ, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu. Như vậy, ở Việt Nam, hình thức sở hữu đất đai là sở hữu có điều kiện hay còn gọi là hình thức sở hữu kép. Nhà nước trao cho người sử dụng đất các quyền như: Thế chấp, tặng cho, chuyển đổi,… Do đó Nhà nước đã thiết lập cho mình các công cụ, biện pháp và hình thức quản lý và sử dụng đất đối với các chủ thể sử dụng đất, trong đó có các biện pháp kê biên QSDĐ khi chủ thể sử dụng thực hiện trái pháp luật trong các lĩnh vực dân sự, hành chính, hình sự để thi hành các biện pháp thu giữ tài sản là QSDĐ trái phép để thi hành các bản án, quyết định của tòa án khi có hiệu lực. Tài sản gắn liền với đất là các tài sản không thể di chuyển hay dễ dàng tách rời với một mảnh đất cụ thể. Luận văn: Kê biên quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất.
Cũng như các tài sản thông thường khác, QSDĐ, tài sản gắn liền với đất cũng được Chấp hành viên kê biên để đảm bảo thi hành nghĩa vụ của người phải thi hành án theo bản án, quyết định của toà án. Theo Điều 2 Luật THADS, những bản án, quyết định có phần dân sự thì được đưa ra thi hành án, bao gồm: Bản án, quyết định hình sự; Bản án, quyết định dân sự; Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực cạnh tranh của Hội đồng xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực cạnh tranh; Quyết định của Trọng tài thương mại. Việc kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất phải tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án và được thực hiện theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ theo quy định của Luật THADS.
Như vậy, có thể hiểu khái quát, kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất theo pháp luật THADS là một trong những biện pháp cưỡng chế THADS, được thực hiện bởi Chấp hành viên theo một trình tự, thủ tục theo quy định của Luật THADS nhằm bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ của người phải thi hành án nhưng không tự nguyện thi hành hoặc nhằm tẩu tán, huỷ hoại, trốn tránh việc thi hành án.
1.1.2. Đặc điểm của kê biên quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất
- Căn cứ những luận giải nêu trên, kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất có những đặc điểm sau:
Về căn cứ để thực hiện: Bản án, quyết định của toà án có hiệu lực pháp luật. Bởi lẽ, Chấp hành viên được phân công tổ chức thi hành án trên cơ sở bản án, quyết định của toà án. Khi chưa có bản án, quyết định hoặc bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật thì chưa thể tổ chức thi hành án. Đây cũng là căn cứ để Chấp hành viên áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án, trong đó có cưỡng chế kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất khi người phải thi hành án có điều kiện thi hành án những không tự nguyện thi hành.
Về đối tượng là tài sản cụ thể (QSDĐ, tài sản gắn liền với đất) của người phải thi hành án nhằm thi hành nghĩa vụ về tiền, hay nói cách khác nhằm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Khác với đối tượng của cưỡng chế hình sự là bị can, bị cáo, người phạm tội gắn liền với trách nhiệm hình sự.
Về tính chất: Việc kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất gắn liền với đất yếu tố dân sự nên được thực hiện trên nguyên tắc thoả thuận của các bên khi hết thời gian tự nguyện thi hành án hoặc trốn tránh, tẩu tán tài sản thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 45 Luật THADS năm 2008 quy định: “Trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh việc thi hành án thì Chấp hành viên có quyền áp dụng ngay các biện pháp quy định tại Chương IV của luật này”.
Về thẩm quyền: Kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất gắn liền với đất trong THADS được thực hiện bởi chủ thể duy nhất đó là Chấp hành viên – người được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định theo quy định tại Luật THADS.
Về mục đích: Khác với các biện pháp cưỡng chế khác, cưỡng chế kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất gắn liền với đất nhằm mục đích đảm bảo cho bản án, quyết định của toà án được thực thi trên thực tế; đền bù cho những người bị hại những tổn thất do vi phạm của người phải thi hành án gây ra.
1.1.3. Ý nghĩa của việc kê biên quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất Luận văn: Kê biên quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất.
Kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất có nhiều ý nghĩa quan trọng trong quá trình tổ chức thi hành án. Cụ thể:
Kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất là biện pháp thi hành triệt để bản án, quyết định của tòa án, để bản án, quyết định của toà án không chỉ tuyên trên “giấy” mà được thực thi trên thực tế. Đây là một trong những nguyên tắc hiến định đã được Hiến pháp năm 2013 quy định phải được các tổ chức, cá nhân tôn trọng, nghiêm chỉnh chấp hành.
Đảm bảo nghĩa vụ thi hành về tiền của người phải thi hành án, buộc họ phải chịu trách nhiệm về vi phạm của mình và đền bù những tổn thất do hành vi phạm của mình gây ra thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Góp phần tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, có tác dụng răn đe, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật của công dân. Thông qua việc áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất, Chấp hành viên phổ biến, giáo dục pháp luật cho người phải thi hành án.
1.2. Kê biên quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất theo pháp luật thi hành án dân sự
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm pháp luật thi hành án dân sự về kê biên quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất
1.2.1.1. Thi hành án dân sự
Hiện nay, pháp luật không có định nghĩa về thi hành án dân sự. Tuy nhiên, theo Điều 1 Luật Thi hành án dân sự 2008 (sửa đổi 2014) có thể hiểu thi hành án dân sự là trình tự, thủ tục thi hành các bản án, quyết định đó bao gồm: Bản án, quyết định dân sự, phần tài sản và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự, phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính của toà án, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành án của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và quyết định của Trọng tài thương mại.
1.2.1.2. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và đặc điểm của pháp luật về thi hành án dân sự.
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Luận văn: Kê biên quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất.
Các quy phạm pháp luật về kê biên QSD đất và tài sản gắn với đất được quy định cụ thể trong Luật THADS 2008, sửa đổi 2014 và văn bản hợp nhất số 09/VBHN-VPQH ngày 25/01/2022 có hiệu lực ngày 01/03/2022 và các văn bản hướng dẫn thi hành (các Nghị định, Thông tư và các văn bản hưỡng dẫn thi hành) như:
- Văn bản hợp nhất 1357/VBHN-BTP năm 2020 hợp nhất Nghị định hướng dẫn Luật Thi hành án dân sự;
- Nghị định 62/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật Thi hành án dân sự;
- Nghị định 33/2020/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 62/2015/NĐ-CP;
- Thông tư liên tịch số 12/2021/TTLT-BTP-VKSNDTC-TANDTC quy định về phối hợp trong thống kê thi hành án dân sự, theo dõi thi hành án hành chính liên ngành;
- Thông tư liên tịch hướng dẫn việc phối hợp thực hiện quản lý nhà nước về thi hành án dân sự trong quân đội (TTLT số 141/2010/TTLT/BQP-BTP).
- Thông tư liên tịch số 03/2012/TTLT-BTP-BCA quy định phối hợp bảo vệ cưỡng chế trong thi hành án dân sự…
Bên cạnh những văn bản quy phạm pháp luật nêu trên về kê biên QSDĐ, tài sản gắn với QSD đất nói riêng trong thi hành án dân sự, còn có các quy định pháp luật có liên quan đến hoạt động cưỡng chế trong lĩnh vực đất đai… Các quy định này nêu rõ những nguyên tắc, chủ thể, nội dung, hình thức thực hiện kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất.
- Đặc điểm
Với mục đích thi hành các nghĩa vụ dân sự nên pháp luật về kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất trong THADS cũng có những đặc điểm cơ bản là:
Đảm bảo tính độc lập và chủ động của Chấp hành viên. Điều này được thể hiện rõ trong quy định của Luật THADS, theo đó, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao Chấp hành viên tổ chức thi hành đúng bản án, quyết định của toà án, kịp thời tổ chức thi hành án, áp dụng đúng các trình tự, thủ tục trong quá trình tổ chức thi hành án…
Tôn trọng quyền thoả thuận của các bên trong suốt quá trình tổ chức thi hành án. Bởi lẽ, “việc dân dự cốt ở đôi bên”, do đó, các bên đương sự được pháp luật về THADS trao quyền thoả thuận, tự định đoạt đối với tài sản QSDĐ, tài sản gắn liền với đất. Tuy nhiên, việc thoả thuận phải thoả mãn các điều kiện như: Không trái pháp luật, đạo đức xã hội và ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba hoặc nhằm trốn tránh phí thi hành án.
Được thực hiện trên cơ sở các theo trình tự, thủ tục được pháp luật quy định. Cụ thể Luật THADS đã quy định về trình tự, thủ tục cưỡng chế kê biên tài sản là QSDĐ, tài sản gắn liền với đất. Theo đó, Chấp hành viên được giao quyền áp dụng biện pháp này. Các cơ quan chức năng có nhiệm vụ liên quan như: Viện kiểm sát nhân dân, Cơ quan tài nguyên và môi trường, Phòng đăng ký đất đai… thực hiện việc phối hợp với cơ quan THADS trong quá trình áp dụng biện pháp này. Đặc biệt là Viện kiểm sát nhân dân các cấp thực hiện chức năng kiểm sát toàn bộ quá trình tổ chức thi hành án, đảm bảo việc thực hiện các trình tự, thủ tục đúng quy định của Luật THADS.
1.2.2. Nguyên tắc kê biên quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất theo pháp luật thi hành án dân sự Luận văn: Kê biên quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất.
QSDĐ ở Việt Nam có tính chất đặc thù. Với tư cách là chủ sở hữu về đất đai, Nhà nước đã xác định các phương thức, công cụ và hình thức cho mình trong việc định đoạt và chiếm hữu đất đai, trong đó có các biện pháp bảo đảm, bảo vệ QSDĐ. Do vậy, kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất cũng phải đảm bảo các nguyên tắc chung như: Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế phải căn cứ vào nội dung bản án quyết định; tính chất mức độ, nghĩa vụ thi hành án, điều kiện của người phải thi hành án; đề nghị của đương sự và tình hình thực tế ở địa phương; không được kê biên những tài sản gắn với đất khi pháp luật quy định không được kê biên… Đồng thời, thể hiện một nguyên tắc đặc thù riêng trong THADS như:
Trước khi kê biên cần phải xác minh các thông tin về QSDĐ, tài sản gắn liền với đất (gồm đất có đủ điều kiện chuyển nhượng, có trong quy hoạch hay có được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tài sản trên đất hình thành trước hay sau khi có bản án, quyết định, thuộc sở hữu của ai, những người nào…) để làm cơ sở thực hiện các trình tự, thủ tục thi hành án tiếp theo.
- Kê biên nhà ở gắn với đất của người phải thi hành án thì phải kê biên cả QSDĐ gắn liền với nhà ở đó.
- Trường hợp đó là nhà, đất ở duy nhất của người phải thi hành án, khi bán đấu giá thành phải trích lại khoản để gia đình họ thuê chỗ ở khác.
1.2.3. Chủ thể thực hiện việc kê biên quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất theo pháp luật thi hành án dân sự
Theo quy định của Luật THADS, chủ thể thực hiện việc kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất thuộc chức năng, nhiệm vụ của cơ quan THADS. Theo đó, theo phân cấp quản lý nhà nước, hệ thống cơ quan tổ chức THADS gồm:
- (1) Cơ quan quản lý THADS thuộc Bộ Tư pháp (tức Tổng cục THADS); Cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc Phòng (tức Cục THADS Bộ Quốc phòng).
- (2) Cơ quan THADS: Cơ quan THADS cấp tỉnh, cấp huyện, cấp quân
- (3) Chấp hành viên
Chấp hành viên do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm. Để được bổ nhiệm làm Chấp hành viên phải đảm bảo đủ các điều kiện cần thiết sau:
- Có thời gian làm công tác pháp luật từ 03 năm trở lên;
- Đã được đào tạo nghiệp vụ thi hành án dân sự;
- Trúng tuyển kỳ thi tuyển Chấp hành viên sơ cấp.
Các cơ quan, tổ chức khác có liên quan tới việc thực hiện kê biên QSDĐ và tài sản gắn với đất Kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất không chỉ có vai trò của Chấp hành viên mà phải có sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau. Do đó, đòi hỏi phải có sự phối hợp của nhiều cơ quan khác nhau trong quá trình áp dụng biện pháp này như:
Toà án các cấp là cơ quan ban hành các bản án, quyết định để tổ chức thi hành. Việc kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất phụ thuộc rất nhiều vào việc bản án tuyên. Bản án tuyên rõ ràng thì việc thi hành án được thực hiện hiệu quả, nhanh chóng. Trường hợp bản án tuyên có sai sót, cơ quan THADS phải đề nghị giải thích, đính chính gây mất thời gian.
Viện kiểm sát nhân dân các cấp: Thực hiện vai trò kiểm sát các hoạt động tư pháp. Viện kiểm sát nhân dân các cấp đồng hành cùng Chấp hành viên, cơ quan THADS trong suốt quá trình kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất. Việc kiểm sát có Viện kiểm sát sẽ kịp thời phát hiện các sai sót trong thực hiện các trình tự, thủ tục về THADS. Khi phát hiện các sai sót, Viện kiểm sát có kiến nghị, kháng nghị để cơ quan THADS chấp hành và thực hiện.
Các cơ quan về đất đai, tài nguyên môi trường: Phối hợp với cơ quan THADS trong việc cung cấp các thông tin liên quan đến QSDĐ, tài sản gắn liền với đất. Tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong trường hợp cấp mới, sửa đổi, bổ sung, thu hồi các giấy chứng nhận QSDĐ của người phải thi hành án. Trên cơ sở văn bản của cơ quan tài nguyên và môi trường, cơ quan đất đai, Chấp hành viên thực hiện các trình tự, thủ tục kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất.
- Phân biệt cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất với cưỡng chế kê biên các tài sản khác:
Giống nhau: Biện pháp cưỡng chế THADS nói chung, biện pháp kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất nói riêng giống các biện pháp cưỡng chế hành chính, cưỡng chế hình sự ở những đặc điểm như: Đều sử dụng quyền lực của Nhà nước để đảm bảo việc cưỡng chế được thực hiện, đều được thực hiện theo một trình tự, thủ tục nhất định theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích hợp pháp của Nhà nước, quyền của con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân, không làm ảnh hưởng xấu tới tình hình chính trị và trật tự an toàn xã hội.
- Khác nhau: Biện pháp cưỡng chế kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất khác với các biện pháp cưỡng chế hành chính, cưỡng chế hình sự ở những điểm sau:
Thứ nhất, cưỡng chế kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất và cưỡng chế hình sự đều phải căn cứ vào Bản án, Quyết định của Toà án. Cưỡng chế hành chính chỉ cần căn cứ vào quyết định hành chính để thực hiện cưỡng chế.
Cưỡng chế hành chính là biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính gây ra trong trường hợp áp dụng xử phạt, trách nhiệm thi hành và bảo đảm thi hành quyết định cưỡng chế. Nhà nước thông qua cưỡng chế hành chính để thực hiện quyền lực Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Dựa vào tính chất, nội dụng mục đính áp dụng thì hệ thống các biện pháp cưỡng chế hành chính có thể được chia thành năm nhóm như sau: Biện pháp cưỡng chế ngăn chặn hành chính; biện pháp xử phạt hành chính; biện pháp biện pháp cưỡng chế bảo đảm thi hành quyết định hành chính; biện pháp cưỡng chế hành chính đặc biệt.
Thứ hai, đối tượng của cưỡng chế kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất chỉ là QSDĐ và các tài sản gắn liền với đất, trong khi đó đối tượng của biện pháp cưỡng chế hành chính có thể là tài sản, có thể là tiền, cũng có thể là hành vi như buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả. Còn đối tượng của cưỡng chế hình sự là bị can, bị cáo, người phạm tội.
Thứ ba, Chấp hành viên là người duy nhất có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế kê biên QSDĐ, tài sản gắn. Đối với biện pháp cưỡng chế hành chính là người có thẩm quyền ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Đối với biện pháp cưỡng chế hình sự thì thẩm quyền ra quyết định là Thẩm phán.
Thứ tư, mục đích của cưỡng chế kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất là đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan tổ chức theo đúng nội dung của Bản án, Quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Mục đích của biện pháp cưỡng chế hành chính là nhằm ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật, trật tự trong quản lý hành chính Nhà nước và xử lý trách nhiệm cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật. Đối với cưỡng chế thi hành án hình sự thì nhằm mục đích trừng trị, cải tạo, giáo dục người phạm tội và ngăn ngừa tội phạm.
1.2.4. Nội dung của pháp luật thi hành án dân sự về kê biên quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất
Thứ nhất, pháp luật THADS quy định cụ thể các loại tài sản không được kê biên và tài sản được phép kê biên
Việc kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất được quy định cụ thể trong Luật THADS. Theo đó, khi kê biên QSDĐ thì đồng thời phải kê biên cả công trình trên đất, trừ trường hợp việc kê biên cả hai này làm giảm giá trị của tài sản trên đất.
Đối với với kê biên là nhà ở gắn với đất được Luật THADS quy định khá chi tiết và chặt chẽ, cụ thể:
- Đối với việc kê biên nhà ở là nơi ở duy nhất của người phải thi hành án thì Chấp hành viên phải xác minh tất cả các tài sản khác của người phải thi hành án, nếu không còn tài sản gì mới được kê biên nhà ở này, trừ trường hợp được sự đồng ý của người phải thi hành án.
- Khi kê biên nhà ở phải kê biên cả quyền sử dụng đất gắn liền với nhà ở.
Ở đây, Chấp hành viên cần phải xác định rõ nhà ở thuộc quyền sở hữu của ai, có trước hay sau khi bản án, quyết định của toà án có hiệu lực pháp luật. Thông thường, nếu nhà ở của người khác thì Chấp hành viên không kê biên mà đề nghị hai bên thoả thuận, nếu không thoả thuận được thì chỉ kê biên QSDĐ của người phải thi hành án.
Đối với các trường hợp QSDĐ, tài sản gắn liền với đất của người phải thi hành án đang cho người khác thuê, ở nhờ thì trước khi kê biên Chấp hành viên phải thông báo cho những người này biết để họ có phương án khi thực hiện việc thi hành án. Việc kê biên nhà ở bị khóa được thực hiện theo quy định tại Điều 93 của Luật THADS.
Ngoài ra, để đảm bảo tính nhân văn, nhân đạo của pháp luật về THADS, Nhà nước cũng đã có những quy định về việc không kê biên đối với những tài sản phục vụ nhu yếu phẩm, cuộc sống, sinh hoạt hàng ngày của người phải thi hành án hoặc những đồ thờ cúng, tâm linh văn hoá của con người. Bỡi lẽ, đây là những vật dụng gắn liền với cá nhân mỗi người, khi thiếu đi những thức ăn, thuốc men người phải thi hành án sẽ không đảm bảo sức khoẻ để tiếp tục thực hiện việc thi hành án của mình.
Hơn nữa, thực tiễn thi hành án, các tài sản này thường có giá trị rất nhỏ, không đáng kể, việc kê biên sẽ mất thời gian, công sức. Tuy nhiên, đối với vật có giá trị lớn, Chấp hành viên vẫn thực hiện việc kê biên theo các thủ tục thông thường để thực hiện nghĩa vụ thi hành án của người phải thi hành án.
Thứ hai, trình tự, thủ tục kê biên được thực hiện theo quy định của Luật định: Như trước khi kê biên thì phải thông báo cho chính quyền; việc thực hiện kê biên khi đương sự vắng mặt, biên bản khi thực hiện việc kê biên phải đảm bảo đúng quy định.
Thứ ba, trường hợp tài sản gắn liền với đất kê biên thuộc sở hữu của người khác thì xử lý như sau:
Nếu người có tài sản không di chuyển tài sản thì Chấp hành viên hướng dẫn cho người có tài sản và người phải thi hành án thoả thuận bằng văn bản về phương thức giải quyết tài sản. Nếu họ không thoả thuận được thì xử lý tài sản đó cùng với QSDĐ của người phải thi hành án và người có tài sản gắn liền với đất để thi hành án.
Trường hợp tài sản gắn liền với đất hình thành sau khi người phải thi hành án nhận được quyết định thi hành án của cơ quan THADS thì yêu cầu người có tài sản tự nguyện di chuyển tài sản để trả lại quyền sử dụng đất cho người phải thi hành án. Nếu không di chuyển tài sản hoặc tài sản không thể di chuyển được thì Chấp hành viên xử lý tài sản đó cùng với quyền sử dụng đất.
Trường hợp tài sản gắn liền với đất có sau khi áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên, nếu người có tài sản không di chuyển thì tài sản phải bị tháo dỡ. Người có tài sản gắn liền với đất của người phải thi hành án được hoàn trả tiền nếu tài sản bị tháo dỡ nhưng phải chịu các chi phí về kê biên, định giá, bán đấu giá, tháo dỡ tài sản.
Trường hợp tài sản gắn liền với đất là các loại cây trồng ngắn ngày chưa đến mùa thu hoạch hoặc tài sản đang trong quy trình sản xuất khép kín chưa kết thúc, việc xử lý ảnh hưởng đến các loại tài sản này, do đó, sau khi kê biên, Chấp hành viên chỉ tiến hành xử lý khi đến mùa thu hoạch hoặc khi kết thúc quy trình sản xuất khép kín.
1.2.5. Trình tự, thủ tục kê biên QSD đất, tài sản gắn với đất theo quy định của pháp luật THADS Luận văn: Kê biên quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất.
Bước 1: Xác minh quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất kê biên:
Đây là tiền đề vô cùng quan trọng để tiến hành các thủ tục thẩm định giá, bán đấu giá tài sản. Nếu Chấp hành viên xác minh không chính xác thì hậu quả xảy ra khó khắc phục được. Do đó, Cơ quan THADS phải xác minh tại Cơ quan tài nguyên môi trường, Văn phòng đăng ký đất đai và địa chính xã, phường, thị trấn về QSDĐ, tài sản gắn liền với đất mà mình chuẩn bị kê biên. Việc xác minh phải được lập thành biên bản, có xác nhận của tổ trưởng tổ dân phố, Ủy ban nhân dân, công an cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi tiến hành xác minh. Biên bản xác minh phải thể hiện đầy đủ kết quả xác minh.
Bước 2: Ra quyết định về cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất:
Theo Điều 70 Luật THADS, căn cứ tổ chức cưỡng chế gồm có: Bản án, quyết định, quyết định thi hành án, quyết định cưỡng chế thi hành án, trừ trường hợp bản, quyết định đã tuyên kê biên, phong tỏa tài sản, tài khoản và trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án.
Bước 3: Xây dựng kế hoạch kê biên quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất: Theo Luật THADS trước khi tiến hành kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất thi hành án, Chấp hành viên phải lập kế hoạch cưỡng chế, trừ trường hợp phải cưỡng chế ngay. Căn cứ vào kế hoạch cưỡng chế của Cơ quan THADS, Cơ quan Công an có trách nhiệm lập kế hoạch bảo vệ cưỡng chế, bố trí lực lượng, phương tiện cần thiết để giữ gìn trật tự, bảo vệ hiện trường, kịp thời ngăn chặn, xử lý hành vi tẩu tán tài sản, hành vi cản trở, chống đối việc thi hành án, tạm giữ người chống đối, khởi tố vụ án hình sự khi có dấu hiệu phạm phạm tội.
Bước 4: Thông báo cho các chủ thể có liên quan biết về việc kê biên quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất:
Theo quy định của Luật THADS trước khi kê biên QSDĐ ít nhất là 03 ngày làm việc, Chấp hành viên thông báo cho đại diện chính quyền cấp xã hoặc đại diện tổ dân phố nơi tổ chức cưỡng chế, đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, tài sản kê biên, tuy nhiên trong trường hợp cần ngăn chặn đương sự tẩu tán, huỷ hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án thì không phải thực hiện thông báo này. Chi phí thông báo do người phải thi hành án chịu. Trong trường hợp đương sự, người có quyền, nghĩa vụ liên quan có thay đổi về địa chỉ liên lạc thì phải kịp thời thông báo cho Cơ quan THADS có thẩm quyền tổ chức thi hành án biết để thực hiện việc thông báo theo địa chỉ mới. Nếu không thông báo địa chỉ mới thì việc thông báo theo địa chỉ được xác định trước đó cũng được xem là thông báo hợp lệ.
Bước 5: Lập biên bản kê biên quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất:
Khi kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất phải lập biên bản kê biên. Việc lập biên bản có thể do Chấp hành viên hoặc cán bộ thi hành án lập. Biên bản phải ghi rõ giờ, ngày, tháng, năm kê biên, họ, tên Chấp hành viên, đương sự hoặc người được ủy quyền, người lập biên bản, người làm chứng và người có liên quan đến tài sản; diễn biến của việc kê biên; mô tả tình trạng từng tài sản, yêu cầu của đương sự và ý kiến của người làm chứng. Biên bản kê biên có chữ ký của đương sự hoặc người được uỷ quyền, người làm chứng, đại diện chính quyền cấp xã hoặc đại diện tổ dân phố nơi tổ chức cưỡng chế, Chấp hành viên và người lập biên bản.
Bước 6: Định giá quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất kê biên:
Ngay khi kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất mà đương sự thoả thuận được về giá hoặc về tổ chức thẩm định giá thì Chấp hành viên lập biên bản về thỏa thuận đó. Giá quyền sử dụng đất do đương sự thoả thuận là giá khởi điểm để bán đấu giá. Trường hợp đương sự có thoả thuận về tổ chức thẩm định giá thì Chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá đó.
Kết quả thẩm định giá do Giám đốc doanh nghiệp thẩm định giá thông báo cho Chấp hành viên bằng văn bản dưới hình thức chứng thư thẩm định giá.
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến kê biên quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất theo pháp luật thi hành án dân sự Luận văn: Kê biên quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất.
1.3.1. Yếu tố chính trị
Các yếu tố về chính trị bao gồm quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về có liên quan đến kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất theo pháp luật THADS. Theo đó, đây là các yếu tố quan trọng, tác động trực tiếp đến việc áp dụng cưỡng chế kê biên tài sản, bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong quá trình tổ chức thi hành án. Chẳng hạn chính sách nhân đạo được thể hiện ở việc nếu kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất là nơi ở duy nhất của người phải thi hành án, thì khi bán đấu giá thành và thanh toán tiền thì phải dành một khoản tiền để họ và gia đình sinh sống, thuê chỗ ở khác…
Việc kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất được thực hiện theo một trình tự luật định, không ảnh hưởng đến trật tự, chính trị tại địa phương. Thực tiễn cho thấy, ở địa phương nào cấp ủy, chính quyền địa phương quan tâm, vận động, thuyết phục người phải thi hành án tự nguyện thi hành thì việc xử lý tài sản phải thi hành án được thực hiện nhanh chóng, hiệu quả.
1.3.2. Yếu tố pháp luật
Pháp luật ảnh hưởng trực tiếp đến việc kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất. Chấp hành viên chỉ làm theo các thủ tục mà pháp luật cho phép. Hệ thống pháp luật đầy đủ, toàn diện, thống nhất giúp cho việc kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất được thực hiện kịp thời, giảm thiểu tối đa thời gian và các chi phí không cần thiết khác cho đương sự.
Pháp luật THADS về kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất đã khuyến khích đương sự tự thỏa thuận và tự nguyện thi hành án. Dựa trên nguyên tắc luật định, trong suốt quá trình tổ chức thi hành án, Chấp hành viên vận động đương sự tuân thủ pháp luật, tự nguyện thực hiện nghĩa vụ của mình.
1.3.3. Yếu tố kinh tế, văn hóa
Kinh tế có vai trò quyết định trong việc tổ chức thi hành án của đương sự. Đương sự khi có điều kiện về kinh tế, việc thi hành án sẽ không phải kéo dài. Khu vực nào kinh tế phát triển đi liền với các QSDĐ thường có giá trị cao. Khi thực hiện việc kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất và các thủ tục bán đấu giá sẽ có nhiều người tham gia đấu giá.
Ngoài ra, yếu tố văn hóa, ý thức chấp hành pháp luật của người dân cũng có ảnh hưởng đến kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất. Địa phương nào ý thức chấp hành pháp luật, trình độ dân trí cao thì thuận lợi cho việc kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất. Luận văn: Kê biên quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất.
1.3.4. Yếu tố về người có thẩm quyền tổ chức thi hành án
Chấp hành viên là người được Nhà nước giao nhiệm vụ trực tiếp tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Toà án, vì vậy để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, Chấp hành viên phải có trình độ, năng lực nhất định. Pháp luật về THADS đã quy định về tiêu chuẩn của Chấp hành viên gồm các phẩm chất về chính trị, đạo đức, năng lực chuyên môn, sức khỏe tốt để đảm nhận được nhiệm vụ công tác. Trong công tác kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất, Chấp hành viên là người có vị trí rất đặc biệt, không chỉ là người trực tiếp tổ chức thi hành án kinh doanh, thương mại mà còn thay mặt Cơ quan THADS làm cầu nối quan hệ giữa các cơ quan. Nói cách khác trình độ năng lực của Chấp hành viên chính là “bộ mặt” của Cơ quan THADS, “bộ mặt” đấy có sáng sủa hay không phụ thuộc rất lớn vào năng lực của Chấp hành viên. Để đảm nhận trọng trách kết nối giữa các cơ quan, Chấp hành viên phải đáp ứng được các yêu cầu sau:
Về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ: Chấp hành viên cần hình thành cho mình năng lực chuyên biệt về kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất. Trước hết, Chấp hành viên phải có khả năng phân tích bản án, quyết định, nghiên cứu kỹ hồ sơ để biết được đặc điểm của đối tượng phải thi hành án, lựa chọn biện pháp động viên, giáo dục – thuyết phục hay phải cưỡng chế tài sản để thi hành từ đó lên phương án giải quyết và xây dựng kế hoạch phối hợp phù hợp. Chấp hành viên phải hình thành năng lực xác minh, truy tìm tài sản từ đó xác định việc thi hành án có điều kiện hay không có điều kiện. Đồng thời, trong quá trình lập biên bản xác minh, biên bản làm việc hay biên bản giải quyết Chấp hành viên cần xác định được nội dung chính của biên bản để có căn cứ vận dụng đúng quy định của pháp luật. Sau khi kết thúc việc thi hành án, Chấp hành viên cần hoàn thiện hồ sơ, thống kê số liệu và tổng kết rút kinh nghiệm cho những lần thực hiện nhiệm vụ tiếp theo.
Về kiến thức xã hội: Chấp hành viên phải là người được trang bị kiến thức xã hội sâu rộng. Kiến thức xã hội là tri thức trên nhiều lĩnh vực của đời sống, có tính đặc trưng vùng miền, tính cục bộ địa phương và có sự khác biệt giữa các giai đoạn khác nhau của lịch sử. Chấp hành viên đang công tác tại địa phương nào cần phải am hiểu phong tục, tập quán và các đặc trưng xã hội của địa phương đó đặc biệt ở vùng biên giới, hải đảo, vùng dân tộc thiểu số, vùng đồng bào công giáo… Căn cứ vào đặc điểm xã hội tại địa phương mà Chấp hành viên biết cách xác định đầu mối công việc và phối hợp với ai để thực hiện việc thi hành án.
Về kỹ năng giao tiếp và tác phong làm việc: Trong mối quan hệ giữa Cơ quan thi hành án dân sự với các cơ quan hữu quan, cơ quan thi hành án dân sự giữ vị trí trung tâm, Chấp hành viên thay mặt cơ quan mình chủ trì mọi hoạt động nghiệp vụ, sự tham gia của các cơ quan khác là để thực hiện trách nhiệm phối hợp, hỗ trợ, cùng Cơ quan THADS thực hiện nhiệm vụ được giao. Thực tiễn thực hiện sự phối hợp đã chỉ ra rằng Chấp hành viên có năng lực nghiệp vụ thôi là chưa đủ bởi để duy trì và thực hiện sự phối hợp thì Chấp hành viên cần phải trang bị các kỹ năng mềm, đó là kỹ năng giao tiếp và tác phong làm việc.
Như vậy có thể thấy, xuất phát từ đặc thù cưỡng chế kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất, Chấp hành viên phải trang bị cho mình vốn kiến thức phong phú và kỹ năng toàn diện. Một phần là năng lực có sẵn nhưng phần lớn kiến thức và kỹ năng này, Chấp hành viên có được thông qua thực tiễn nghề nghiệp. Chính vì vậy, để đáp ứng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ Chấp hành viên phải thường xuyên bồi dưỡng, học tập kinh nghiệm và tích cực rèn luyện để ngày càng trưởng thành hơn.
1.3.5. Nhận thức của các cấp chính quyền và cơ quan hữu quan về công tác cưỡng chế tài sản để thi hành án kinh doanh, thương mại Luận văn: Kê biên quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất.
Như đã đề cập, việc cưỡng chế kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất không phải là câu chuyện của riêng Cơ quan THADS mà cần sự chung tay góp sức của cả hệ thống chính trị, chính quyền địa phương và từ phía các cơ quan hữu quan. Vấn đề ở đây là các cấp chính quyền và cơ quan hữu quan có nhận thức được vị trí, vai trò và trách nhiệm của mình đối với việc cưỡng chế tài sản để thi hành án kinh doanh, thương mại hay không. Có một thực tế là mặc dù vẫn duy trì thực hiện sự phối hợp nhưng không phải cơ quan nào cũng nhận thức được ý nghĩa cuối cùng của việc cưỡng chế tài sản để thi hành án kinh doanh, thương mại, ở nhiều địa phương, nhiều ban ngành vẫn còn suy nghĩ là “việc anh – anh làm, việc tôi – tôi làm”, thi hành bản án, quyết định là việc của riêng cơ quan THADS dẫn đến hệ quả là sự phối hợp rời rạc, hiệu quả phối hợp thấp.
Sự tham gia phối hợp của các cơ quan hữu quan vào việc cưỡng chế kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất hiện nay rất đa dạng và với vai trò khác nhau, sự phối hợp với Cơ quan THADS nhiều khi được các cơ quan này nhìn nhận chưa đúng, chưa đầy đủ, cho rằng sự phối hợp chỉ là việc “giúp” hay “hỗ trợ” Cơ quan THADS thực hiện nhiệm vụ, kết quả thi hành chỉ là thành tích riêng của Cơ quan THADS đã dẫn đến thái độ hời hợt khi thực hiện sự phối hợp. Vấn đề ở đây là các cơ quan hữu quan cần nhận thức việc tham gia phối hợp với cơ quan THADS cũng là góp phần thực hiện nhiệm vụ chính trị tại địa phương và kết quả thi hành án dân sự cũng chính là thước đo đánh giá hiệu quả hoạt động của những cơ quan này.
Như vậy, có thể thấy nhận thức của chính quyền địa phương và các cơ quan hữu quan đối với việc cưỡng chế kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất là yếu tố có tầm quan trọng đặc biệt và có khả năng tác động đa chiều, sự phối hợp thực hiện tốt sẽ đem lại lợi ích cho cả đôi bên tham gia quan hệ.
Tiểu kết Chương 1
THADS được ví như cái đuôi theo sau của hoạt động xét xử, là thước đo để đánh giá thực tế xét xử của tòa án. Do vậy, bản án, quyết định của tòa án có hiệu lực pháp luật phải được tổ chức thi hành. Tuy nhiên, thực tế người phải thi hành án hay trốn tránh, tìm mọi cách kéo dài thời gian thi hành án, do vậy, Chấp hành viên phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án, trong đó có kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất để đảm bảo nghĩa vụ thi hành.
Cũng giống như các biện pháp cưỡng chế thi hành án khác, kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất phải được thực hiện theo một trình tự, thủ tục luật định. Trong suốt quá trình tổ chức thi hành án, người phải thi hành án được thỏa thuận trong THADS. Điều này được quy định trong Luật THADS và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Việc kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất phụ thuộc rất nhiều yếu tố (chính trị, pháp lý, kinh tế, văn hóa) và sự phối hợp của nhiều chủ thể khác nhau. Điều đó đòi hỏi phải có một hệ thống pháp luật thống nhất, đề cao trách nhiệm, vai trò của các cơ quan trong kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất. Luận văn: Kê biên quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực tiễn kê biên quyền sử dụng đất gắn liền với đất

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Luận văn: Kê biên quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất
Pingback: Luận văn: Giải pháp kê biên quyền sử dụng đất tài sản gắn với đất
Luận văn: Kê biên quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất