Luận văn: Thực tiễn kê biên quyền sử dụng đất gắn liền với đất

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực tiễn kê biên quyền sử dụng đất gắn liền với đất hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực tiễn kê biên quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự tại thành phố Hà Nội dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Tình hình kê biên quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất trên địa bàn thành phố Hà Nội

Với vị trí địa lý thuận lợi và điều kiện kinh tế xã hội phát triển nhất cả nước, Hà Nội trở thành nơi buôn bán tấp nập, nơi có nhiều giao dịch liên quan đến dân sự phát sinh. Do đó, công tác THADS thành phố luôn chiếm tỷ lệ đứng thứ hai toàn quốc (sau Thành phố Hồ Chí Minh) cả về việc và tiền. Cùng với đó, trình độ dân trí, đời sống vật chất của người dân cao nên hầu hết người dân đều hiểu biết các quy định của pháp luật nói chung và luật THADS nói riêng, tạo thuận lợi cho Chấp hành viên khi tổ chức thi hành bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.

Bên cạnh đó, hầu hết các tài sản khi thế chấp, bảo lãnh đều là những tài sản có giá trị lớn như đất đai, nhà cửa, ô tô…; đặc biệt là quyền sử dụng đất nằm ở vị trí thuận lợi, có giá bán cao nên khi thẩm định giá, bán đấu giá không thấp hơn nhiều so với khi thế chấp, bảo lãnh. Hơn nữa, các cơ quan, tổ chức ở Hà Nội nằm gần nhau, có khoảng cách địa lý không xa, giao thông cơ bản thuận tiện cho việc đi lại và việc áp dụng công nghệ thông tin trong việc truyền, gửi dữ liệu đều nhanh chóng, đảm bảo hiệu quả việc giải quyết các thủ tục hành chính, điều này càng tạo thuận lợi hơn trong việc phối hợp để giải quyết yêu cầu của người dân, doanh nghiệp.

Bên cạnh những thuận lợi, việc kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất trên địa bàn thành phố Hà Nội cũng gặp những khó khăn nhất định. Ngoài những ngày Lễ, ngày Tết thì Thủ đô là nơi diễn ra rất nhiều sự kiện trọng đại của đất nước đòi hỏi khâu an ninh, chính trị phải đặt lên hàng đầu. Thời gian qua, công tác THADS tuy đã có những chuyển biến tích cực nhưng vẫn còn nhiều khó khăn. Số lượng việc, giá trị tiền phải thi hành liên quan đến án kinh doanh, thương mại tiếp tục tăng cao. Do đó việc thực hiện chỉ tiêu được giao theo Nghị quyết của Quốc hội là hết sức nặng nề, cần thiết phải có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự phối hợp của các cơ quan hữu quan trong thi hành án dân sự.

2.2. Thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật THADS về kê biên quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất Luận văn: Thực tiễn kê biên quyền sử dụng đất gắn liền với đất.

2.2.1. Chủ thể thực hiện pháp luật về kê biên quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất của thành phố Hà Nội

Đến 31/12/2023, tổng biên chế các cơ quan THADS thành phố Hà Nội đã thực hiện là 493/499 biên chế, trong đó biên chế Cục THADS thành phố Hà Nội là: 81/81, biên chế thực hiện ở các Chi cục THADS quận, huyện, thị xã trực thuộc là 412/418.

Đội ngũ lãnh đạo Cục gồm đồng chí Cục trưởng, 03 đồng chí Phó Cục trưởng, 05 Trưởng phòng chuyên môn, 09 đồng chí Phó trưởng phòng chuyên môn. Đội ngũ lãnh đạo Chi cục THADS quận, huyện, thị xã trực thuộc gồm: 29 Chi cục trưởng, 01 Phó Chi cục trưởng phụ trách; 52 Phó Chi cục trưởng.

Đội ngũ Chấp hành viên toàn Thành phố (chủ thể duy nhất được Nhà nước giao thực hiện kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất) hiện nay gồm 263 Chấp hành viên: trong đó có 02 Chấp hành viên cao cấp, 89 Chấp hành viên Trung cấp, 172 Chấp hành viên sơ cấp.

Đội ngũ thẩm tra viên là 27 trong đó có 01 thẩm tra viên chính và 26 thẩm tra viên; Kế toán: 58; Thư ký thi hành án: 91; Thư ký trung cấp thi hành án: 03; Chuyên viên chính: 03; Chuyên viên: 33; Cán sự: 06, Công chức khác: 10.

Nhìn chung, đội ngũ công chức các đơn vị THADS tại thành phố Hà Nội có ý thức tổ chức kỷ luật tốt, chấp hành nghiêm túc nội quy, quy chế làm việc của cơ quan; chấp hành nghiêm chuẩn mực đạo đức Chấp hành viên, chấp hành đúng các quy định của pháp luật trong quá trình thực thi công vụ; thực hiện nghiêm các quy định về kỷ luật công vụ, thời gian làm việc. Tuy nhiên vẫn có trường hợp đơn vị, công chức chưa chấp hành nghiêm chỉ đạo của Lãnh đạo cơ quan, dẫn đến xảy ra sai phạm, cụ thể: Trong năm 2023, có 05 trường hợp công chức vi phạm bị xử lý kỷ luật.

2.2.2. Thực tiễn thực hiện kê biên quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại thành phố Hà Nội theo quy định của pháp luật THADS Luận văn: Thực tiễn kê biên quyền sử dụng đất gắn liền với đất.

Cơ quan THADS thành phố Hà Nội luôn sát sao chỉ đạo, giám sát chặt chẽ quá trình xác minh, kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất nhằm kịp thời phát hiện những sai sót, chấn chỉnh và yêu cầu khắc phục (nếu có). Với đặc thù tài sản kê biên là QSDĐ thường có giá trị lớn, tiềm ẩn nhiều rủi ro trách nhiệm nghề nghiệp và bồi thường nhà nước, do vậy, ngay từ khi nhận được bản án, quyết định của toà án, các Chấp hành viên phải xây dựng kế hoạch kê biên, xử lý tài sản. Kế hoạch này sau khi được ban hành đã gửi Viện kiểm sát cùng cấp để phối hợp, kiểm sát ngay từ đầu việc kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất.

Do sự chỉ đạo của lãnh đạo cơ quan THADS thành phố Hà Nội, sự phối hợp của các ban, ngành hữu quan, kết quả THADS nói chung và kết quả kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất có nhiều chuyển biến tích cực.

Tính từ năm 2019-2023, công tác THADS của cơ quan THADS thành phố Hà Nội đạt kết quả như sau:

  • Bảng 1: Kết quả thi hành về việc
  • Bảng 2: Kết quả thi hành về tiền (đơn vị tính: đồng)
  • Bảng 3: Kết quả thi hành cưỡng chế kê biên QSDĐ và tài sản gắn với đất 2019- 2023

Như vậy, có thể thấy rằng số việc, số tiền phải thi hành án giai đoạn 2019-2023 tăng theo từng năm, nhất là về số tiền phải xử lý. Tương tự, việc kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất chiếm tỷ lệ cao trong tổng số việc, tiền phải thi hành chung. Điều này cho thấy, thời gian qua ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, việc xử lý các tranh chấp, phá sản của doanh nghiệp cũng nhiều.

Kết quả thi hành xong về việc và về tiền tăng theo từng năm, đạt tỷ lệ khá cao. Có được kết quả này là nhờ sự quan tâm, sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời của các cấp ủy, chính quyền các cấp tại thành phố Hà Nội. C THADS thành phố Hà Nội đã chủ động xây dựng kế hoạch, tổ chức kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất; vận động, thuyết phục đương sự tự nguyện thi hành án.

Tuy nhiên, thực tiễn kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất tại thành phố Hà Nội đang gặp một số khó khăn, vướng mắc. Chẳng hạn những ví dụ sau có thể cho thấy những điều này:

Ví dụ 1: Bản án tuyên anh A được sở hữu căn nhà là một căn hộ mua theo Hợp đồng ủy quyền công chứng, chị B được hưởng tiền chênh lệch tài sản là 1 tỷ đồng. Quá trình thi hành án A đã tự nguyện nộp được 970 triệu đồng, còn 30 triệu đồng A không trả. Trong trường hợp này, Chấp hành viên có được kê biên căn nhà (nơi ở duy nhất của cả nhà A) để tổ chức thi hành án hay không? Luận văn: Thực tiễn kê biên quyền sử dụng đất gắn liền với đất.

Chấp hành viên áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án trong trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định tại Điều 130 Luật Thi hành án dân sự. Việc áp dụng biện pháp bảo đảm, cưỡng chế thi hành án phải tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án và các chi phí cần thiết, trừ trường hợp quy định tại Khoản 4 Điều 24 Nghị định này. Trường hợp người phải thi hành án chỉ có một tài sản duy nhất lớn hơn nhiều lần so với nghĩa vụ phải thi hành án mà tài sản đó không thể phân chia được hoặc việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thì Chấp hành viên vẫn có quyền áp dụng biện pháp bảo đảm, cưỡng chế để thi hành án.”

Như ví dụ đã nêu thì số tiền còn phải thi hành án rất ít 30 triệu đồng, Cơ quan THADS gặp rất nhiều khó khăn trong việc kê biên căn nhà. Do giá tri của căn nhà rất lớn, vượt quá nghĩa vụ của người phải thi hành án. Vì vậy, việc thi hành án kéo dài nhiều năm chưa thi hành xong.

Ví dụ 2: Bản án tuyên A phải trả ngân hàng TMCP T số tiền 5 tỷ đồng, quá trình tổ chức thi hành án, cơ quan THADS xác minh A và B có QSDĐ là 200 m2 tại thị trấn K. Đây là tài sản chung của vợ/chồng A. Nếu tài sản chung không chia được hoặc việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thì Chấp hành viên vẫn có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với toàn bộ tài sản và thanh toán lại cho chủ sở hữu chung còn lại giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu của họ theo quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 74 Luật THADS.

Do đương sự không tự thỏa thuận phân chia, đề nghị tòa án phân chia. Tuy nhiên, khi đương sự yêu cầu tòa án bác đơn với lý do Chấp hành viên tự xác định theo điểm c, khoản 2 Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ. Điều này vô hình chung gây khó khăn cho Chấp hành viên khi tự xác định, phân chia tài sản. Bởi lẽ, việc phân chia tài sản cần phải làm rõ nguồn gốc, công sức đóng góp của mỗi người trong khối tài sản chung. Để thực hiện việc này, chỉ có tòa án mới có thẩm quyền, Chấp hành viên không có thẩm quyền xác định, phân chia tài sản chung được.

2.3. Những kết quả đạt được, tồn tại, hạn chế và nguyên nhân

2.3.1. Những kết quả đạt được Luận văn: Thực tiễn kê biên quyền sử dụng đất gắn liền với đất.

Nhờ thực hiện tốt công tác phối hợp, sự chỉ đạo sát sao của Bộ Tư pháp, Tổng cục THADS nên kết quả kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất trên địa bàn thành phố Hà Nội đã có nhiều thay đổi theo chiều hướng tích cực. Số vụ việc phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế có huy động lực lượng giảm nhờ sự vận động, thuyết phục đương sự tự nguyện thi hành án.

Đối với các vụ việc phức tạp, Cục THADS thành phố Hà Nội chủ động xin ý kiến của cấp trên hoặc họp liên ngành địa phương để thống nhất. Các Sở, Ngành đã có trách nhiệm cử người có chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp tham gia cuộc họp (là thành viên Ban Chỉ đạo). Tại cuộc họp các thành viên có nhiều ý kiến tham gia thiết thực, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho Cơ quan THADS. Sau cuộc họp, các cơ quan hữu quan đều có trách nhiệm đôn đốc chỉ đạo cơ quan mình hoặc cơ quan cấp dưới trực thuộc thực hiện ý kiến đã được thống nhất tại các cuộc họp liên ngành của Ban Chỉ đạo THADS.

Các cơ quan, Ban, Ngành hữu quan khi nhận được Văn bản chỉ đạo của UBND Thành phố, của Ban Chỉ đạo THADS Thành phố đều thực hiện nghiêm túc ý kiến chỉ đạo, giúp Cơ quan Thi hành án dân sự giải quyết dứt điểm vụ việc. Điển hình như vụ kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất có giá trị lớn như các vụ việc tại số 63 Bùi Thị Xuân, quận Hoàn Kiếm; vụ cưỡng chế trả nhà số 61B phố Lò Sũ, phường Lý Thái Tổ, quận Hoàn Kiếm; vụ việc tại số 247 – 249 Thuỵ Khuê, quận Tây Hồ…

Công tác phối hợp giữa Cơ quan THADS với Cơ quan Công an, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Sở Tư pháp trong công tác bảo vệ cưỡng chế thi hành án; tiêu hủy vật chứng; miễn giảm thi hành án hồ sơ miễn giảm, hồ sơ có nhiều khó khăn, vướng mắc và trong phối hợp tuyên truyền về công tác thi hành án dân sự, thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại được phát huy và duy trì. Nhìn chung, các cơ quan liên quan đã tích cực thực hiện tốt phối hợp kịp thời, hiệu quả với cơ quan thi hành án dân sự trong việc tổ chức thi hành án, đảm bảo việc thi hành án theo đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật. Quy chế phối hợp đã góp phần tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong công tác thi hành án dân sự; tăng cường trách nhiệm, bảo đảm sự thống nhất trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ của từng ngành nhằm không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Kết quả đạt được trong công tác phối hợp thi hành án đối với từng cơ quan được thể hiện:

Trong công tác phối hợp với Tòa án: Tòa án nhân dân các cấp trên địa bàn thành phố Hà Nội đã thực hiện việc chuyển giao bản án, quyết định theo đúng quy định của Luật Thi hành án dân sự, kịp thời ra văn bản giải thích, đính chính, tháo gỡ được những tồn tại, vướng mắc trong quá trình tổ chức thi hành án của Chấp hành viên. Trong công tác xét miễn, giảm các khoản thu cho ngân sách nhà nước, Tòa án nhân dân cấp huyện đã tạo điều kiện thuận lợi và phối kết hợp tốt với cơ quan THADS nên đã tiến hành xét miễn, giảm đạt kết quả tốt.

Trong công tác phối hợp với Viện kiểm sát: Viện kiểm sát nhân dân trong quyền hạn, nhiệm vụ và chức năng của mình đã thực hiện việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động của các cơ quan thi hành án. Nhiều vụ việc cơ quan thi hành án phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân trong việc giải thích, tuyên truyền pháp luật đã vận động được các đương sự tự nguyện thi hành án, phối hợp với cơ quan thi hành án trong quá trình thi hành án. Công tác giám sát thi hành án trong việc xử lý tang vật cũng được thực hiện tốt hơn. Luận văn: Thực tiễn kê biên quyền sử dụng đất gắn liền với đất.

Tình hình phối hợp với Trại giam, Trại tạm giam, cơ quan Công an: Việc thông báo về nơi chấp hành án phạt tù của người phải thi hành án nhìn chung được thực hiện tốt, tạo điều kiện thuận lợi cho Chấp hành viên trong việc giải quyết hồ sơ thi hành án, xác minh điều kiện thi hành án của đương sự. Phối hợp với các Trại tạm giam, Trại giam trong việc thu, nộp, quản lý tiền, tài sản, giấy tờ cho đương sự theo quy định. Cơ quan THADS thành phố Hà Nội phối hợp với các Trại giam lập danh sách và thường xuyên theo dõi và tuyên truyền, vận động người phải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù tại các Trại giam hoặc thân nhân của họ tự nguyện thi hành nghĩa vụ thi hành án; thực hiện tống đạt, giao quyết định về thi hành án… Công tác phối hợp trong việc bảo vệ cưỡng chế thi hành án được quan tâm hơn. Quá trình thực hiện đảm bảo tuyệt đối an toàn, đạt được mục tiêu, yêu cầu đề ra, giữ vững an ninh trật tự tại địa bàn tiến hành cưỡng chế; không để xảy ra cháy, nổ trong khi cưỡng chế; không để xảy ra người dân tụ tập đông người tại địa điểm cưỡng chế, khiếu kiện gây phức tạp về an ninh trật tự, được nhân dân và các lực lượng phối hợp đánh giá cao.

Trong công tác phối hợp với Cơ quan Tư pháp: Sau khi có Quy chế, việc phối hợp giữa các Cán bộ tư pháp địa phương với Cơ quan thi hành án đã được tăng cường kịp thời hơn. Các Chấp hành viên thuận lợi hơn trong việc xác minh điều kiện thi hành án của đương sự. Trong các vụ việc phải cưỡng chế thi hành án, nhờ sự phối hợp chặt chẽ với cán bộ tư pháp địa phương, việc nắm bắt diễn biến, tình hình, tâm tư của đương sự được kịp thời. Việc phối hợp cung cấp kết quả thi hành án các bản án hình sự, phối hợp ngăn chặn chuyển dịch tài sản để đảm bảo thi hành án đã được phối hợp kịp thời. Công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật về thi hành án để đương sự và công dân, cơ quan, tổ chức thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, đảm bảo cho công tác thi hành án dân sự đạt hiệu quả cao, hạn chế khiếu kiện; nhiều vụ việc đương sự tự nguyện thi hành án, không phải áp dụng biện pháp cưỡng chế.

2.3.2. Những tồn tại, hạn chế

Thời gian qua, hệ thống pháp luật về THADS không ngừng được hoàn thiện, sửa đổi, bổ sung để phù hợp với tình hình thực tế về kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất, tuy nhiên vấn đề này vẫn còn một số hạn chế chưa được giải quyết dứt điểm. Cụ thể:

Trường hợp nhà ở gắn liền với đất thuộc quyền sử dụng đất của người khác thì Chấp hành viên chỉ kê biên nhà ở và quyền sử dụng đất để thi hành án nếu người có quyền sử dụng đất đồng ý. Trường hợp người có quyền sử dụng đất không đồng ý thì chỉ kê biên nhà ở của người phải thi hành án, nếu việc tách rời nhà ở và đất không làm giảm đáng kể giá trị căn nhà (Điều 95 Luật THADS). Điều này vô hình dung làm Chấp hành viên không thể kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất trong trường hợp quyền sử dụng đất không thể phân chia, tách rời trong khi nghĩa vụ phải thi hành án của người phải thi hành án còn rất ít so với giá trị tài sản. Luận văn: Thực tiễn kê biên quyền sử dụng đất gắn liền với đất.

Theo quy định của Điều 112 Luật THADS thì khi kê biên quyền sử dụng đất nếu diện tích đất đã kê biên đang do người phải thi hành án quản lý, khai thác, sử dụng thì Chấp hành viên tạm giao diện tích đất đã kê biên cho người đó; trường hợp diện tích đất đã kê biên đang do tổ chức hoặc cá nhân khác quản lý, khai thác, sử dụng thì tạm giao cho tổ chức, cá nhân đó. Quy định này dẫn đến trường hợp, người được giao bảo quản tài sản làm hư hỏng, làm giảm giá trị tài sản, khi cơ quan THADS thực hiện việc thẩm định giá, bán đấu giá tài sản.

Đối với việc xử lý tài sản kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất là tài sản chung của người phải thi hành án. Hiện nay, Luật THADS và các văn bản hướng dẫn thi hành đang giao quyền Chấp hành viên tự xác định, phân chia tài sản chung để thi hành án theo Luật Hôn nhân và Gia đình. Điều này dễ dẫn đến sự tùy nghi trong việc phân chia tài sản thi hành án, tiềm ẩn nhiều rủi ro cho Cơ quan THADS.

Việc kê biên tài sản là QSDĐ chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, mặc dù pháp luật THADS và Luật Đất đai đã quy định rõ về trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền trong việc cấp mới giấy chứng nhận QSDĐ. Tuy nhiên, vẫn có trường hợp Văn phòng công chức từ chối không ký hợp đồng công chứng do không có bản gốc giấy chứng nhận QSDĐ hoặc Văn phòng đăng ký đất đai từ chối việc cấp sổ mới.

Tài sản kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất thường có tính chất phức tạp về mặt pháp lý, QSDĐ trong một số vụ án lớn nằm rải rác ở các địa phương khác nhau, vẫn có trường hợp thực tế tài sản khác với giấy chứng nhận QSDĐ (thừa, thiếu hoặc cấp sai, không đúng đối tượng…) điều này làm mất rất nhiều thời gian để Chấp hành viên phải thực hiện xác minh, đối chiếu, kiểm tra.

Nhiều vụ việc có tài sản kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất bán đấu giá nhiều lần nhưng không thành, cá biệt có những vụ việc Cơ quan THADS giảm giá đến lần thứ 30 những vẫn không có người mua. Điều này xuất phát từ tâm lý e ngại khi mua tài sản thi hành án. Luận văn: Thực tiễn kê biên quyền sử dụng đất gắn liền với đất.

Khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện thủ tục thông báo cho đương sự, người liên quan đối với vụ việc có số lượng đương sự rất lớn, ở nhiều địa phương khác nhau khi Cơ quan THADS thực hiện việc kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất, đơn cử như: Vụ Alibaba (4.548 người được thi hành án), vụ án Lê Xuân Giang (5.818 người được thi hành án)… Do đó, việc thông báo trực tiếp về thi hành án gặp nhiều khó khăn, tốn kém các chi phí. Bỡi lẽ, theo Luật THADS các thủ tục khi thực hiện kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất phải thông báo cho đương sự biết để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình.

Khó khăn, vướng mắc trong việc bán hợp khối, tách thửa đối với các quyền sử dụng đất liền kề, bao bọc lẫn nhau (do đối tượng phạm tội mua gom đất để làm dự án, nên số lượng quyền sử dụng đất bị kê biên thường đặc biệt lớn). Luật THADS chưa quy định cụ thể về bán hợp khối, hay tách thửa. Vì nguyên tắc bán này ảnh hưởng rất lớn đến giá trị của tài sản.

Việc chuyển giao bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa đôi lúc còn chậm, chưa kịp thời. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến việc kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất.

Trong các bản án, quyết định của Tòa án vẫn còn có trường hợp nội dung không đầy đủ, rõ ràng: Địa chỉ của đương sự nhiều khi còn chưa đầy đủ, đúng nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú khác như thiếu số nhà…trong các vụ án ly hôn thường thì tòa án chỉ ghi nơi đăng ký hộ khẩu và nơi ở của các đương sự khi xét xử, trong khi đó địa chỉ trong chứng minh thư nhân dân hoặc căn cước công dân của những người đó Tòa án lại không ghi vào bản án dẫn đến khó khăn cho cơ quan thi hành án trong việc kiểm tra căn cước để làm thủ tục chi trả tiền (địa chỉ trong chứng minh thư nhân dân và địa chỉ theo bản án tuyên là khác nhau).

Các cơ quan Tư pháp chưa tổ chức được các đợt tuyên truyền pháp luật thi hành án dân sự sâu rộng tới tận cơ sở. Công tác vận động, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung và pháp luật về thi hành án dân sự nói riêng trong các cơ quan, đoàn thể, tổ chức chính trị – xã hội còn hạn chế, chưa thường xuyên. Vì vậy, ý thức chấp hành việc thi hành án dân sự của người có nghĩa vụ thi hành án ở một số nơi còn xem nhẹ, nhiều trường hợp chây ỳ, thách thức, chống đối làm ảnh hưởng đến hoạt động thi hành án dân sự và ảnh hưởng đến tính nghiêm minh của pháp luật.

Công tác phối hợp giữa các cơ quan có liên quan chưa thực sự hiệu quả; nhiều cơ quan vẫn né tránh, chậm trả lời các đề nghị của Chấp hành viên, do đó thời gian xác minh, kiểm tra thực tế QSDĐ thường bị kéo dài.

Về biên chế và tài chính: Hiện nay nhiều địa phương nhận ủy thác xử lý tài sản trong các vụ án lớn, dẫn đến các địa phương này bị động rất lớn về biên chế, kinh phí bảo đảm cho việc xử lý tài sản; tới đây nhiều vụ việc có số lượng tài sản kê biên đặc biệt lớn, lớn nhất từ trước đến nay với hàng nghìn bất động sản cùng rất nhiều tài sản khác và hàng chục nghìn đương sự. Khi vụ việc đưa ra tổ chức thi hành tạo áp lực đặc biệt lớn cho các cơ quan THADS nơi có tài sản trong bối cảnh nguồn lực về con người, kinh phí còn nhiều khó khăn.

2.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế Luận văn: Thực tiễn kê biên quyền sử dụng đất gắn liền với đất.

2.3.3.1. Nguyên nhân khách quan

Các quy định pháp luật THADS về kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất chưa thực sự thống nhất với các luật khác; chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế trong tình hình mới.

Cơ sở vật chất, kinh phí phục vụ cho việc kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất còn rất khó khăn, nhất là tình trạng thiếu kho vật chứng, trụ sở làm việc.

2.3.3.2. Nguyên nhân chủ quan

Công tác quản lý và chỉ đạo của lãnh đạo Cục THADS thành phố Hà Nội vẫn còn có trường hợp chưa thực sự hiệu quả, chưa tạo ra sự thống nhất trong việc đề ra các giải quyết việc cưỡng chế kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất: Vẫn còn có vụ việc lãnh đạo đơn vị chưa chủ động trong việc chỉ đạo và quản lý Chấp hành viên tổ chức kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất; chưa thực sự sát sao trong việc kiểm tra, chỉ đạo và phát huy vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu trong giải quyết các khó khăn, vướng mắc phát sinh cũng như phân công Lãnh đạo trực tiếp phụ trách những vụ việc kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất có giá trị lớn; chưa kịp thời chỉ đạo Chấp hành viên xây dựng kế hoạch cụ thể để đảm bảo việc tổ chức kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất thi hành án hiệu quả, đúng quy định pháp luật.

  • Về phía Chấp hành viên:
  • Chậm tổ chức thi hành án hoặc cố tình trì hoãn việc tổ chức kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất.

Chấp hành viên đã không tuân thủ các quy định của pháp luật trong quá trình tổ chức kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất như:

  • (i) Không hoặc chậm tiến hành xác minh tài sản bảo đảm, xác minh điều kiện thi hành án;
  • (ii) Chậm thực hiện thông báo;
  • (iii) Vi phạm thời hạn niêm yết thông báo cưỡng chế, thông báo bán đấu giá;
  • (iv) Chậm xử lý tài sản bảo đảm bảo hoặc có sai sót trong quá trình kê biên, thẩm định giá, bán đấu giá tài sản;
  • (v) Không kiên quyết tổ chức giao tài sản cho người mua trúng đấu giá; (vi) Vi phạm thời hạn thanh toán tiền thi hành án.

Một số Chấp hành viên thiếu kỹ năng tổ chức thi hành án nên khi được giao thi hành án đối với những vụ việc có số tiền phải thi hành án lớn hoặc tài sản phải xử lý nhiều đã lúng túng hoặc để xảy ra sai sót trong kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất.

Về phía đương sự vẫn còn tình trạng người phải thi hành án cố tình trì hoãn, kéo dài việc tổ chức thi hành án; họ thường lợi dụng việc giải quyết khiếu nại, tố cáo để kéo dài thời gian hoặc khóa cửa, vắng mặt khi Cơ quan THADS kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất.

Tiểu kết Chương 2 Luận văn: Thực tiễn kê biên quyền sử dụng đất gắn liền với đất.

Số việc, số tiền phải thi hành án tại Cục THADS thành phố Hà Nội ngày càng tăng. Việc áp dụng kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất ngày càng được sử dụng nhiều. Thời gian qua các cấp ủy, chính quyền Thành phố đã vào cuộc, tham gia chỉ đạo các cơ quan có liên quan phối hợp chặt chẽ với cơ quan THADS trong quá trình tổ chức thi hành án.

Cơ quan THADS thành phố Hà Nội đã rà soát, xây dựng kế hoạch tổ chức kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất, đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, thực tiễn thực hiện vẫn còn những hạn chế và khó khăn, vướng mắc. Những hạn chế này xuất phát từ các quy định của pháp luật THADS về kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất chưa thống nhất với các luật chuyên ngành, một số quy định khó được thực hiện trên thực tế.

Bên cạnh đó, một số khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành các bản án, quyết định của tòa án về kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất như đất nông nghiệp hết thời hạn sử dụng, việc bán đấu giá, thẩm định giá… Các tồn tại, khó khăn, vướng mắc này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau từ thể chế pháp luật đến thực tế thực hiện pháp luật. Do đó, thiết nghĩ cần phải nhận diện, đánh giá để có các giải pháp phù hợp hơn. Luận văn: Thực tiễn kê biên quyền sử dụng đất gắn liền với đất.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Giải pháp kê biên quyền sử dụng đất tài sản gắn với đất

4 thoughts on “Luận văn: Thực tiễn kê biên quyền sử dụng đất gắn liền với đất

  1. Pingback: Luận văn: Kê biên quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất

  2. Luận văn: Thực tiễn kê biên quyền sử dụng đất gắn liền với đất says:

    Luận văn: Thực tiễn kê biên quyền sử dụng đất gắn liền với đất

  3. Luận văn: Thực tiễn kê biên quyền sử dụng đất gắn liền với đất says:

    Luận văn: Thực tiễn kê biên quyền sử dụng đất gắn liền với đất

  4. Luận văn: Thực tiễn kê biên quyền sử dụng đất gắn liền với đất says:

    Luận văn: Thực tiễn kê biên quyền sử dụng đất gắn liền với đất

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464