Luận văn: Giải pháp PL lao động với vấn đề lao động cưỡng bức

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp PL lao động với vấn đề lao động cưỡng bức hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Một số kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả pháp luật trong việc xóa bỏ lao động cưỡng bức ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1.Những yêu cầu đặt ra nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả pháp luật trong việc xóa bỏ lao động cưỡng bức ở Việt Nam

LĐCB đang trở thành mối quan tâm lớn đối với Nhà nước và toàn xã hội. Trước thực tế tình trạng LĐCB diễn ra với nhiều hình thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi và hậu quả ngày càng nghiêm trọng, việc nhận thức và tuân tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật lao động Việt Nam nói riêng liên quan tới vấn đề LĐCB là thực sự cần thiết. Để nâng cao hiệu quả pháp luật lao động Việt Nam với vấn đề này, thiết nghĩ, từ quá trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật tới quá trình thực thi pháp luật về vấn đề LĐCB cần phải đáp ứng được các yêu cầu sau:

Một là, đảm bảo sự định hướng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về vấn đề LĐCB. Đây là điều kiện tiên quyết để thực hiện, bảo về quyền con người nói chung và quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động riêng. Quan điểm của Đảng được thể hiện thông qua các đường lối, chủ trương, chính sách mà Đảng đề ra. Các đường lối, chính sách này giữ vai trò chỉ đạo đối với việc xây dựng, tổ chức và thực hiện pháp luật. Vì thế, trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về LĐCB, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền cần vận dụng hợp lý, linh hoạt quan điểm chỉ đạo của Đảng đối với vấn đề này. Trong cưỡng lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được bổ sung phát triển năm 2011, Đảng ta đã xác định rõ: Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển; tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân.

Hai là, đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất của pháp luật. Điều này đòi hỏi các quy định của pháp luật lao động về LĐCB phải phù hợp với Hiến pháp 2013 và phải tương thích, nhất quán với các quy định thuộc các ngành luật khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam như luật dân sự, luật hành chính, luật hình sự. Bên cạnh đó, pháp luật lao động Việt Nam cần đảm bảo sự tương thích với pháp luật lao động quốc tế thống qua các Điều ước quốc tế về vấn đề này như Công ước số 29 năm 1930 về LĐCB và Công ước số 105 năm 1957 về xóa bỏ LĐCB. Việc bảo đảm tính phù hợp trong quy định của pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế góp phần đẩy nhanh quá trình hội nhập của nước ta với cộng đồng thế giới, bảo đảm tốt hơn quyền con người thông qua việc hạn chế, xóa bỏ tình trạng LĐCB. Luận văn: Giải pháp PL lao động với vấn đề lao động cưỡng bức.

Ba là, đảm bảo tính khả thi, hiệu quả của pháp luật. Việc đảm bảo tính khả thi của pháp luật là một yêu cầu rất quan trọng được đặt ra trong suốt quá trình xây dựng pháp luật. Yêu cầu này đòi hỏi các quy định của pháp luật lao động Việt Nam về LĐCB phải có khả năng thực hiện trên thực tế, phù hợp với thực tiễn khách quan. Để luật thật sự đi vào cuộc sống mà không chỉ dừng lại trên giấy, ngoài yêu cầu về tính khả thi, cần phải tiến hành tốt việc tổ chức, thực hiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật trên thực tế.

Bốn là, đảm bảo sự công bằng, bình đằng, nhất quán và nghiêm minh trong việc tổ chức, thực hiện pháp luật lao động về LĐCB. Đây là yếu tố hết sức cần thiết để bảo đảm ý thức tuân thủ pháp luật của người dân, nâng cao hiệu quả của pháp luật.

Năm là, đảm bảo tính công khai, minh bạch của pháp luật. Yêu cầu công khai, minh bạch được hiểu là sự rõ ràng, rành mạch đối với các quy định về LĐCB trong pháp pháp luật lao động Việt Nam. LĐCB là vấn đề tương đối phức tạp, việc đảm bảo được sự rõ ràng, rành mạch trong các quy định khiến người dân ai cũng có thể tiếp cận, ai cũng có thể hiểu pháp luật về vấn đề này.

3.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật lao động Việt Nam với vấn đề lao động cưỡng bức Luận văn: Giải pháp PL lao động với vấn đề lao động cưỡng bức.

Hệ thống các quy phạm pháp luật liên quan đến LĐCB của Việt Nam về cơ bản phù hợp và tương thích với nội dung của Công ước số 29. Pháp luật Việt Nam nghiêm cấm cưỡng bức lao động dưới mọi hình thức. Tuy nhiên, để thực hiện một cách triệt để các quy định của Công ước số 29 cũng như đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng ngừa và xóa bỏ LĐCB đòi hỏi chúng ta phải có một hệ thống pháp luật hoàn thiện, đáp ứng được các yêu cầu của thực tiễn và làm cơ sở pháp lý cho công tác này được thực thi có hiệu quả. Việc “nội luật hoá” các quy định của Công ước số 29 còn chưa đầy đủ nên nhận thức và ý thức pháp luật về phòng chống và xoá bỏ LĐCB chưa cao, gây khó khăn cho quá trình tổ chức thực hiện pháp luật cũng như quá trình thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm [37]. Do vậy, vấn đề ở đây là hoàn thiện các quy định của pháp luật để phù hợp, tương đồng với các quy định của Công ước số 29 nhằm nâng cao hiệu quả của pháp luật lao động Việt Nam với vấn đề LĐCB. Theo đó, một số kiến nghị được đề xuất như sau:

Trước hết, pháp luật Việt Nam cần có một định nghĩa đầy đủ và chính xác về LĐCB, các hình thức LĐCB và các hình thức lao động không được coi là LĐCB. Vấn đề then chốt để đấu tranh, hạn chế và xóa bỏ LĐCB là phải nhận diện được hành vi này thông qua các quy định cụ thể, nhất quán của pháp luật về định nghĩa LĐCB cũng như các hình thức của LĐCB. Trên thực tế, cách hiểu và biểu hiện của LĐCB ở mỗi khu vực địa lý, mỗi điều kiện kinh tế – xã hội khác nhau của các quốc gia trên thế giới lại có những điểm đặc thù khác nhau. Nếu thiếu những quy định này sẽ gây khó khăn cho các chủ thể liên quan trong việc nhân diện, phát hiện hành vi LĐCB trên thực tế, từ đó việc phòng tránh LĐCB hay tố cáo các hành vi cưỡng bức lao động gặp nhiều khó khăn cũng như khó khăn trong việc xử lý các hành vi vi phạm. Khái niệm LĐCB cần phải thể hiện triệt để tinh thần của Công ước số 29. Đối với định nghĩa về LĐCB, định nghĩa của ILO được coi là chuẩn mực quốc tế, được đa số các quốc gia trên thế giới thừa nhận và áp dụng khả thi trên thực tế. Theo đó, khái niệm về LĐCB được đề cập ở chương 1 luận văn này là một đề xuất về khái niệm LĐCB chính thức trong quy định của pháp luật lao động Việt Nam: “LĐCB tình trạng một người bị người khác ép buộc thực hiện công việc dưới sự đe dọa về hậu quả bất lợi có thể xảy ra đối với bản thân hoặc thân nhân người đó.”

Bên cạnh đó, bản thân quy định về cưỡng bức lao động tại Điều 3 BLLĐ 2012 cần được giải thích cụ thể hơn trong nghị định hướng dẫn thi hành BLLĐ. Cần quy định rõ ràng “các thủ đoạn khác” bao gồm những hành vi nào. Có như vậy, các chủ thể liên quan mới có thể nhận diện được dễ dàng dấu hiệu của cưỡng bức lao động, tránh nhầm lẫn trong qua trình thực thi pháp luật. Theo đó, để phù hợp với quan điểm của ILO về LĐCB, “các thủ đoạn khác” nên được quy định là 11 chỉ số về cưỡng bức lao động của ILO như đã phân tích ở trên. Cụ thể, 11 chỉ số đó là: Lạm dụng tình trạng khó khăn của người lao động; lừa gạt; hạn chế đi lại; bị cô lập; bạo lực thân thể và tình dục; dọa nạt, đe dọa; giữ giấy tờ tùy thân; giữ tiền lương; lệ thuộc vì nợ; điều kiện sống và làm việc bị lạm dụng; làm thêm quá giờ quy định. Luận văn: Giải pháp PL lao động với vấn đề lao động cưỡng bức.

Cần quy định về những dạng hành vi cưỡng bức lao động vào các văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật đơn ngành, liên ngành. Đó là: NSDLĐ lạm dụng tình trạng khó khăn của NLĐ; NSDLĐ lừa gạt NLĐ trong việc giao kết, thực hiện hợp đồng lao động; NLĐ bị cô lập, hạn chế đi lại; NLĐ bị NSDLĐ đe dọa; NSDLĐ giữ giấy tờ tùy thân, tiền lương hoặc sử dụng các thủ đoạn gián tiếp nhằm đưa NLĐ vào hoàn cảnh lệ thuộc, buộc phải thực hiện công việc theo yêu cầu; Điều kiện làm việc và sinh hoạt của NLĐ bị lạm dụng; NLĐ bị buộc làm thêm giờ thường xuyên, liên tục; NLĐ bị bạo lực về thân thể và tình dục. Ở mỗi dạng hành vi, cần hướng dẫn chi tiết về cách thức, đặc điểm nhận diện hành vi cũng như quy định cụ thể về chế tài pháp lý đối với dạng hành vi.

Xây dựng các quy định về ngoại lệ và các hình thức LĐCB bị cấm một cách có hệ thống, đầy đủ nhất để tránh nhầm lẫn, thiếu sót trong quá trình nhận diện về LĐCB trong pháp luật Việt Nam. Trong đó, có tính đến đặc điểm kinh tế, đặc điểm xã hội và văn hóa của bối cảnh dẫn đến hành vi này. Thực tế, các hành vi bị cấm đối với NSDLĐ trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng lao động chính là các hình thức cưỡng bức lao động. Về lâu dài, cần có sự sửa đổi, bổ sung thêm các hình thức LĐCB khác có thể xảy ra trong quan hệ lao động tại Việt Nam.

Cần phải quy định một cách đầy đủ, rõ ràng và có hệ thống các biện pháp chế tài nghiêm minh đối với các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực LĐCB, bao gồm cả chế tài hành chính, chế tài hình sự và biện pháp bồi thường thiệt hại cho NLĐ (thay vì quy định chung về bồi thường thiệt hại trong BLDS). Điều này giúp cho việc xử lý hành vi vi phạm một cách trực tiếp, hiệu quả, đảm bảo chế tài pháp lý áp dụng phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi và tính răn đe của pháp luật đối với những hành vi vi phạm pháp luật này[31]. Luận văn: Giải pháp PL lao động với vấn đề lao động cưỡng bức.

Đối với vấn đề cho thuê lại lao động, cần được điều chỉnh một cách đầy đủ và phù hợp. Điều này sẽ tạo cơ hội cho NLĐ có khả năng tiếp cận với việc làm nhiều hơn, trong điều kiện lao động được đảm bảo và giảm thiểu được nguy cơ NLĐ bị bóc lột sức lao động.

Đối với các quy định về làm thêm giờ, Bộ luật lao động đã có những quy định khá chặt chẽ tránh tình trạng bóc lột sức lao động. Tuy nhiên, nhu cầu sử dụng lao động làm thêm giờ của doanh nghiệp là rất lớn, điều này dẫn đến một thực tế là nhiều doanh nghiệp huy động lao động làm thêm quá số giờ quy định mà không có sự thỏa thuận với người lao động, hoặc nếu người lao động không đồng ý sẽ bị đe dọa kỷ luật. Trong khi đó, giới hạn của thời giờ làm việc vẫn có thể mở rộng hơn nữa, trên phạm vi đồng đều hơn nhưng vẫn phải nằm trong giới hạn cho phép để tránh và hạn chế tai nạn lao động cũng như đảm bảo được sức khỏe cho NLĐ. Qua đó, nhu cầu về huy động lao động làm thêm giờ của doanh nghiệp được đáp ứng cũng là cách thức chúng ta hạn chế và chấm dứt LĐCB liên quan đến vấn đề thời giờ làm thêm [32, tr37].

Xây dựng các quy định về điều kiện, đặc biệt là quyền lợi của NLĐ khi bị áp dụng LĐCB trong các trường hợp cụ thể. Hoàn thiện các quy định của pháp luật về vấn đề hỗ trợ nạn nhân và bảo vệ nạn nhân của LĐCB. Đặc biệt là các văn bản về vấn đề hồi hương cho NLĐ đi làm việc tại nước ngoài và tái hòa nhập cộng đồng cho NLĐ bị cưỡng bức lao động.

Bên cạnh đó, BLLĐ cũng nên quy định về những điều kiện đảm bảo cho hoạt động của tổ chức công đoàn một cách hiệu quả và có cơ chế bảo vệ cán bộ công đoàn khi họ bảo vệ quyền và lợi ích của NLĐ nói chung, trong đấu tranh với hiện tượng cưỡng bức lao động đối với NLĐ nói riêng. Điều đó không chỉ góp phần hoàn thiện thêm cơ chế ba bên trong quan hệ lao động mà còn để tránh tình trạng phân biệt đối xử vì lý do công đoàn đã xảy ra dưới góc độ là một trong những biểu hiện về LĐCB đã xảy ra trong thực tiễn với chính cán bộ công đoàn [25].

Bổ sung một số quy định mới để điều chỉnh kịp thời những biểu hiện của LĐCB trong bối cảnh quan hệ lao động đa dạng, phức tạp của nền kinh tế thị trường, nhưng cũng đảm bảo cho quan hệ lao động phát triển hài hoà, ổn định và linh hoạt hơn như quy định về LĐCB trong quan hệ cho thuê lại lao động. Luận văn: Giải pháp PL lao động với vấn đề lao động cưỡng bức.

Tăng cường hợp tác quốc tế thông qua việc tổ chức nghiên cứu để xem xét phê duyệt các điều ước quốc tế liên quan đến LĐCB như Công ước 105 về xóa bỏ LĐCB của tổ chức ILO. Tuy nhiên, khi Việt Nam phê chuẩn Công ước số 105 lại gặp một vấn đề trở ngại lớn đó là: Công ước 105 quy định về việc không sử dụng LĐCB như một biện pháp cưỡng chế hay giáo dục. Trong khi đó, Việt Nam hiện nay vẫn tồn tại trên pháp luật và thực tiễn việc đưa người chưa thành niên vi phạm pháp luật vào trường giáo dưỡng để giáo dục. Người chưa thành niên buộc phải chấp hành mọi nội quy, quy chế của trường giáo dưỡng, trong dó có quy định về việc bắt buộc lao động. Do đó, để phù hợp với tinh thần của Công ước 105, thiết nghĩ, cần phân biệt rõ ràng giữa LĐCB và lao động bắt buộc. Hay nói cách khác, lao động trong trường giáo dưỡng không được coi là LĐCB.

3.3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả pháp luật trong việc xóa bỏ lao động cưỡng bức ở Việt Nam

Thứ nhất, đẩy mạnh hoạt động tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giải thích, giáo dục pháp luật về LĐCB, góp phần hình thành và nâng cao nhận thức, ý thức pháp luật về LĐCB cho các chủ thể, đặc biệt là người sử dụng lao động (NSDLĐ), người lao động (NLĐ), tổ chức đại diện của NLĐ, đại diện của NSDLĐ… Khi tình trạng LĐCB xảy ra, NLĐ sẽ là người đầu tiên được biết, chịu tác động đầu tiên và là chủ thể nắm rõ các chứng cứ chứng minh hành vi cưỡng bức lao động của NSDLĐ. Chính vì vậy, trước tiên hơn bất cứ biện pháp nào, NLĐ phải là người được trang bị kiến thức, hiểu biết về LĐCB. Việc tổ chức tuyên truyền, giáo dục pháp luật và nâng cao nhận thức của NLĐ về LĐCB có thể thông qua nhiều phương thức khác nhau: Thông qua việc giáo dục, phổ biến pháp luật của tổ chức đại diện NLĐ tại cơ sở; thông qua việc giáo dục, phổ biến pháp luật NSDLĐ hoặc qua việc tìm hiểu thông tin của chính những NLĐ này. Để đạt được hiệu quả trong việc giáo dục, tuyên truyền pháp luật cho NLĐ về LĐCB, cơ quan chức năng quản lý nhà nước về lao động, NSDLĐ hay tập thể đại diện NLĐ tại cơ sở cần có kênh thông tin về LĐCB. Trong đó tập trung vào những dấu hiệu của tình trạng này trên thực tế và các biện pháp, cơ chế hỗ trợ khi NLĐ rơi vào tình trạng khó khăn cần giúp đỡ. Đồng thời, công tác đối thoại, thương lượng tập thể cần được đẩy mạnh, tổ chức đại diện NLĐ tại cơ sở cần đề cao vai trò của mình trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của NLĐ, đấu tranh hạn chế, loại bỏ hành vi cưỡng bức của NSDLĐ [31,tr.68]. Luận văn: Giải pháp PL lao động với vấn đề lao động cưỡng bức.

Thứ hai, nâng cao hiệu quả của việc tổ chức thực hiện pháp luật. Chú trọng công tác thanh kiểm tra và xử lý những vi phạm pháp luật liên quan đến LĐCB, nâng cao năng lực của cơ quan chức năng trong việc phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật về LĐCB. Cơ quan thanh tra lao động, Ủy ban nhân dân và TAND là các cơ quan có trách nhiệm chủ yếu trong công tác xử lý hành vi cưỡng bức lao động. Việc nâng cao năng lực, khả năng nhận biết, xử lý hành vi cưỡng bức lao động của các cán bộ chuyên trách có ý nghĩa rất quan trọng. NLĐ trong tình trạng bị cưỡng bức khó có khả năng bảo vệ quyền lợi của mình, chính vì vậy, các cán bộ chức năng cần nhận diện được hành vi cưỡng bức lao động, nắm bắt thông tin chính xác, kịp thời hỗ trợ và bảo vệ NLĐ. Đồng thời, cần đẩy mạnh công tác quản lý nhà nước, thanh tra, kiểm tra việc sử dụng LĐCB; xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm của các tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực này[31,tr.68].

Thứ ba, tăng cường hợp tác quốc tế trong vấn đề xóa bỏ LĐCB. Trao đổi, hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm giữa các quốc gia đối với vấn đề LĐCB luôn là hoạt động cần thiết không chỉ trong công tác lập pháp, mà còn có nhiều ý nghĩa quan trọng trong công tác thực tiễn áp dụng pháp luật. Tăng cường hợp tác quốc tế bảo vệ quyền lợi NLĐ Việt Nam trước tình trạng LĐCB xảy ra ở nước ngoài là yêu cầu cấp thiết, có tính thời sự, vì vậy, ngoài việc qua con đường các cơ quan ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài tham gia bảo vệ quyền lợi NLĐ, cần có những hiệp định về việc loại bỏ hành vi cưỡng bức lao động đối với NLĐ Việt Nam làm việc ở nước ngoài. Điều này phù hợp với tinh thần của Công ước về lao động di trú, lao động Việt Nam không có giấy tờ làm việc ở nước ngoài vẫn được quyền yêu cầu bảo vệ quyền lợi trước những hành vi xâm phạm về LĐCB có thể xảy ra [26].

Thư tư, thường xuyên thống kê, cập nhật tình hình LĐCB. Điều này giúp các cơ quan chức năng kịp thời nắm rõ được tình hình LĐCB trong từng giai đoạn, ở từng địa phương để từ đó đưa ra những giải pháp nhằm hạn chế và xóa bỏ tình trạng LDDCB. Những thống kê và thông tin về tình trạng LĐCB chính xác sẽ giúp các bên nhân thức được mức độ nguy hiểm cũng như việc cần thiết phải xóa bỏ LĐCB. Để thực hiện tốt điều này, cần phát huy tốt sức mạnh của truyền thông và các phương tiện thông tin đại chúng. Luận văn: Giải pháp PL lao động với vấn đề lao động cưỡng bức.

Thứ năm, cùng với các giải pháp trên, các giải pháp phòng ngừa LĐCB cũng góp phần quan trọng trong công tác xóa bỏ LĐCB. Để chủ động làm tốt công tác này, thiết nghĩ phải kết hợp chặt chẽ công tác phòng ngừa cưỡng bức lao động với việc giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội (y tế, giáo dục, văn hóa, việc làm…) trong đó giải pháp kinh tế là cơ bản và trọng tâm. Theo đó, cần phải nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, góp phần ổn định xã hội. Tăng cường phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đặc biệt chú trọng phát triển kinh tế – xã hội cho vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo để thu hẹp khoảng cách phát triển về kinh tế cũng như xã hội giữa các vùng miền.

Bên cạnh đó,để có đầy đủ cơ sở thực tiễn, bên cạnh cơ sở pháp lý quốc tế và các quy định của Hiến pháp,Việt Nam cần có một cuộc điều tra tổng thể về thực trạng LĐCB, đặc biệt là trong các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam để làm căn cứ xây dựng các quy định về LĐCB.

Kết luận chương 3

Tóm lại, để nâng cao hiệu quả pháp luật lao động Việt Nam với vấn đề LĐCB nhằm phòng chống và tiến tới xóa bỏ LĐCB cần phải có sự phối kết hợp hài hòa của nhiều giải pháp khác nhau. Bên cạnh những giải pháp mạnh mẽ của các cơ quan chức năng còn cần sự chung tay, góp sức của người dân, đặc biệt là những NLĐ và cả NSDLĐ trong việc phát hiện, ngăn chặn và kịp thời đưa những hành vi cưỡng bức lao động ra trước pháp luật để xử lý.

KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp PL lao động với vấn đề lao động cưỡng bức.

Qua những phân tích về LĐCB, hy vọng rằng Luận văn thạc sĩ với đề tài: “Pháp luật lao động Việt Nam với vấn đề lao động cưỡng bức” đã đưa ra khái niệm mới về LĐCB trên cơ sở phân tích khái niệm về LĐCB trong pháp luật quốc tế và pháp luật lao động Việt Nam, đồng thời phân tích những đặc điểm của LĐCB; Luận giải được sự cần thiết phải điều chỉnh pháp luật về LĐCB và khái quát các nội dung về pháp luật LĐCB của nhiều quốc gia trên thế giới. Luận văn đã bám sát vào các chỉ số của LĐCB để đánh giá tương đối toàn diện các hình thức (lĩnh vực) sử dụng LĐCB và phân tích, đối chiếu với quy định chung của pháp luật quốc tế. Bên cạnh đó, dựa trên thực tiễn thực hiện pháp luật về LĐCB ở Việt Nam trong thời gian qua, luận văn đã đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả trong việc xóa bỏ LĐCB ở Việt Nam, bảo vệ NLĐ trước tình trạng LĐCB cũng như bảo đảm quyền con người của họ. Trong quá trình nghiên cứu và xây dựng luận văn, tác giả đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ, cung cấp tài liệu, đóng góp ý kiến xây dựng của thầy cô, bạn bè. Em xin trân trọng gửi lời cảm ơn đên PGS-TS. Lê Thị Hoài Thu – giáo viên hướng dẫn, Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội, các thầy giáo, cô giáo và các bạn đã giúp em hoàn thành luận văn này. Luận văn: Giải pháp PL lao động với vấn đề lao động cưỡng bức.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Pháp luật lao động với vấn đề lao động cưỡng bức

One thought on “Luận văn: Giải pháp PL lao động với vấn đề lao động cưỡng bức

  1. Pingback: Luận văn: Thực trạng PL lao động với vấn đề lao động cưỡng bức

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464