Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Địa vị pháp lý doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại các khu công nghiệp và khu chế xuất việt nam trong tương quan so sánh với pháp luật một số nước trên thế giới dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Đầu tư nước ngoài (ĐTNN) là một trong những hướng đi chiến lược đối với các nhà đầu tư khi họ đã tích lũy được các điều kiện như vốn, công nghệ, trình độ quản lý trong khi thị trường trong nước không đáp ứng đủ các yêu cầu đầu tư mở rộng sản xuất. Bên cạnh đó, để đẩy nhanh tốc độ phát triển, thực hiện chiến lược “đi tắt, đón đầu”, nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia kém hoặc đang phát triển luôn đưa ra các chính sách nhằm khuyến khích, thu hút vốn đầu tư ngoài nước vào nước mình. Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam thì việc kêu gọi đầu tư từ nước ngoài là vô cùng quan trọng, một mặt là để bổ sung vào nguồn vốn đầu tư trong nước, mặt khác là để giải quyết việc làm cho người lao động, tiếp thu vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến từ các nước phát triển trên thế giới để nâng cao năng lực xuất khẩu, tạo nguồn thu ngoại tệ cho đất nước, thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, dần rút ngắn khoảng cách về phát triển của Việt Nam và các nước. Như vậy, Đầu tư nước ngoài luôn là quan hệ mang tính gắn bó giữa nhu cầu của nhà đầu tư và nhu cầu của nước tiếp nhận đầu tư.
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã và đang trở thành một địa điểm đầu tư có sức hấp dẫn trên thế giới. Năm 2006 nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng 8,6%, năm 2007 tốc độ tăng trưởng đạt 8,3%. Năm 2008 và 2009, mặc dù phải đối mặt với những thách thức lớn của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu nhưng tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam vẫn đạt 6,7% và 5,32% vượt mức so với kế hoạch đã đề ra. Đến năm 2010, nền kinh tế khởi sắc hơn với tốc độ tăng trưởng kinh tế ước đạt khoảng 6,85% và trong 6 tháng đầu năm 2011 đạt tốc tộ tăng trưởng 7,1%.
Nói đến đầu tư nước ngoài không thể không nhắc đến hoạt động đầu tư của các nhà sản xuất trong các khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất (KCX) bởi lẽ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong các Khu công nghiệp, Khu chế xuất chính là hình ảnh của đầu tư nước ngoài tại từng quốc gia tiếp nhận đầu tư… Tại thời điểm hiện nay, hầu hết các tên tuổi lớn trong cộng đồng các nhà đầu tư quốc tế như Intel, Samsung, Canon, Toshiba, Panasonic, Toyota … đã có mặt và đang hoạt động sản xuất kinh doanh tại các Khu công nghiệp, Khu chế xuất của Việt Nam. Luận văn: Địa vị pháp lý doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Để thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài, một trong các yêu cầu quan trọng và tiên quyết đối với các nước sở tại là các quốc gia này phải có một chính sách đầu tư minh bạch và rõ ràng, đặc biệt là các quy định về địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Chỉ khi nào yêu cầu trên được đáp ứng, các nhà đầu tư mới có thể yên tâm và mạnh dạn bỏ vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý vào kinh doanh tại quốc gia kêu gọi đầu tư.
Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc kêu gọi thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, trong những năm gần đây, các cơ quan Nhà nước Việt Nam đã nỗ lực không ngừng trong việc tạo lập một môi trường pháp lý về đầu tư đồng bộ, minh bách hóa, xóa bỏ dần các khoảng cách giữa đầu tư trong nước, đầu tư nước ngoài, đưa các quy định của pháp luật về đầu tư tại Việt Nam tiệm cận dần với luật pháp và thực tiễn đầu tư quốc tế, trong đó có thể kể đến các quy định cơ bản sau đây:
- Luật Đầu tư và Luật doanh nghiệp năm 2005 thống nhất hai hệ thống pháp luật trước đây là pháp luật về đầu tư nước ngoài và pháp luật về đầu tư trong nước thành một hệ thống pháp luật đầu tư và doanh nghiệp chung. Các đạo luật này có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc tạo ra một sân chơi bình đẳng hơn cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong tương quan với các doanh nghiệp trong nước.
- Luật Thương mại và Luật đất đai năm 2005 đã cụ thể hóa quyền và nghĩa vụ của các doanh nghiệp trong lĩnh vực kinh doanh thương mại, quyền xuất nhập khẩu, quyền phân phối và quy định về quyền sử dụng đất đối với các dự án có vốn đầu tư nước ngoài thuê đất trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất.
- Nghị định 29/2008/NĐ-CP ngày 14/2/2008 của Chính phủ thay thế Nghị định 36/NĐ-CP trước đây về Khu công nghiệp, Khu chế xuất. Nghị định mới này đã có nhiều quy định rõ hơn, điều chỉnh nhiều vấn đề liên quan đến các hoạt động của doanh nghiệp trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất bước đầu đã tạo ra một khung pháp lý cơ bản về địa vị pháp lý của các doanh nghiệp trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất trong đó có các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Các quy định của pháp luật Việt Nam về địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nói chung và địa vị pháp lý của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong các Khu công nghiệp và Khu chế xuất nói riêng đã dần được củng cố, hoàn thiện cùng với sự hoàn thiện nói chung của hệ thống pháp luật về đầu tư của Việt Nam. Tuy nhiên, các quy định này vẫn còn một vài điểm hạn chế và trong nhiều trường hợp vẫn còn chưa sáng tỏ, minh bạch chưa đáp ứng được sự kỳ vọng của nhà đầu tư và trong một chừng mực nào đó vẫn còn những khoảng cách nhất định với pháp luật quốc tế. Chính vì vậy, việc nghiên cứu làm rõ về địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại các Khu công nghiệp và Khu chế xuất Việt Nam trong tương quan so sánh với pháp luật một số nước trên thế giới là một việc làm cần thiết không những về mặt lý luận mà còn là đòi hỏi của thực tiễn. Luận văn: Địa vị pháp lý doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
- Tính tích cực của đề tài:
Nghiên cứu, phân tích một cách có hệ thống các quy định của pháp luật Việt Nam về địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong các Khu công nghiệp và Khu chế xuất Việt Nam. Qua đó, tác giả mong muốn đưa ra cách nhìn nhận rõ ràng hơn về địa vị pháp lý và vai trò của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong các Khu công nghiệp và Khu chế xuất.
Góp phần giúp các nhà đầu tư nước ngoài tìm hiểu sâu hơn về địa vị pháp lý của mình khi tiến hành đầu tư vào Việt Nam đặc biệt là đầu tư vào các Khu công nghiệp, Khu chế xuất Việt Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng như hiện nay.
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng thực hiện pháp luật về địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong các Khu công nghiệp, Khu chế xuất Việt Nam đồng thời lồng ghép, so sánh trong tương quan pháp luật một số nước như Trung Quốc, Singapore, Thái Lan… tác giả đã đưa ra những kiến nghị, đề xuất các phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cho phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế của Việt
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là một vấn đề khá hấp dẫn, đã được nghiên cứu dưới nhiều giác độ khác nhau. Trong nhiều bài viết phân tích về môi trường đầu tư của Việt Nam thì địa vị pháp lý của doanh nghiệp luôn là một trong những vấn đề được bàn luận nhiều nhất. Tuy nhiên, do môi trường đầu tư đã có nhiều thay đổi và do đầu tư trong các Khu công nghiệp, Khu chế xuất có những đặc thù nhất định nên gần đây chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu sâu và chi tiết về địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong các Khu công nghiệp, Khu chế xuất Việt Nam ở cấp độ một luận văn thạc sỹ luật học. Đặc biệt, khi Việt Nam đã là thành viên Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và tham gia một loạt các thỏa thuận song phương, đa phương về đầu tư với các nước khác thì hệ thống pháp luật về đầu tư nói chung và các quy định liên quan đến địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nói riêng cần phải được nghiên cứu, tìm hiểu nhằm đáp ứng được yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.
Việc tiếp tục nghiên cứu pháp luật về địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong các Khu công nghiệp, Khu chế xuất có khảo cứu, so sánh pháp luật một số quốc gia trên thế giới với những phân tích có gắn với những yếu tố và những đòi hỏi của tình hình mới là đề tài mới mẻ và cần thiết. Luận văn: Địa vị pháp lý doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong các Khu công nghiệp và Khu chế xuất ở Việt Nam có gắn với việc so sánh pháp luật một số nước. Với cấp độ là một luận văn thạc sĩ luật học chuyên ngành Luật Quốc tế, tác giả tập trung đi sâu vào việc phân tích các quy định của pháp luật về địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nói chung và gắn với đặc thù các Khu công nghiệp, Khu chế xuất Việt Nam nói riêng qua đó phân tích đánh giá những ưu điểm và nhược điểm về địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Ngoài ra, các phân tích của luận văn cũng lồng ghép với việc so sánh và đối chiếu với pháp luật của một số nước trên thế giới như Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Singapore… nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm và đưa ra một số giải pháp hoàn thiện địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Trong quá trình phân tích quy định của pháp luật Việt Nam về địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong các Khu công nghiệp, Khu chế xuất tác giả đã cố gắng không so sánh, phân tích pháp luật một số nước một cách đơn lẻ, độc lập mà lồng ghép, phân tích đan xen trong các khía cạnh của vấn đề nghiên cứu nhằm làm toát lên, làm sáng tỏ hơn và để tìm ra điểm khác ưu việt hơn so với pháp luật Việt Nam với mục đích đưa ra các bài học, kiến nghị hoàn thiện cơ chế, chính sách pháp luật Việt Nam.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Các quy định liên quan đến đầu tư nước ngoài luôn thể hiện đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong việc thu hút các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước. Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn đã sử dụng các phương pháp khác nhau như: phương pháp luận biện chứng duy vật để nhìn nhận, đánh giá địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; phương pháp điều tra xã hội học nhằm tổng hợp, đánh giá những đóng góp của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đối với nền kinh tế Việt Nam, những hạn chế của pháp luật, cơ chế chính sách tác động đến địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài để từ đó có những kết luận, kiến nghị giải pháp nhằm nâng cao vai trò của loại hình doanh nghiệp này. Ngoài ra, tác giả cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phân tích, chứng minh, diễn giải, hệ thống hóa, so sánh, đối chiếu khi nghiên cứu đề tài.
5. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
5.1. Mục đích của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích của luận văn là nghiên cứu, phân tích một cách có hệ thống các quy định của pháp luật Việt Nam về địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong các Khu công nghiệp và Khu chế xuất Việt Nam có gắn với khảo cứu, so sánh pháp luật một số nước trên thế giới. Trên cơ sở đó, tác giả luận văn đề xuất hệ thống các phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cho phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.
5.2. Nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
- Để đạt được mục đích trên, luận văn cần giải quyết các nhiệm vụ sau:
Phân tích làm sáng tỏ về địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong các Khu công nghiệp, Khu chế xuất Việt Nam theo các qui định của hệ thống pháp luật Việt Nam và thực tiễn áp dụng có so sánh, đối chiếu với pháp luật một số nước phát triển trên thế giới.
Đúc rút ra những bài học kinh nghiệm, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong các Khu công nghiệp, Khu chế xuất Việt Nam cho phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế và nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.
6. Những điểm mới của luận văn Luận văn: Địa vị pháp lý doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
- Trong phạm vi một luận văn cấp thạc sĩ, tác giả luận văn đã đạt được một số kết quả nghiên cứu sau đây:
Khái quát được địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong các Khu công nghiệp, Khu chế xuất tại Việt Nam.
Hệ thống hóa được các quy định về địa vị pháp lý của doanh nghiệp trong các Khu công nghiệp, Khu chế xuất Việt Nam trên cơ sở pháp luật đầu tư, pháp luật chuyên ngành và các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, đồng thời khảo cứu, so sánh pháp luật một số quốc gia trên thế giới. Trên cơ sở đó, luận văn rút ra những bài học nhằm đưa ra 03 giải pháp và 06 kiến nghị nhằm hoàn thiện địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong các Khu công nghiệp, Khu chế xuất Việt
Đề xuất được một số giải pháp có giá trị thực tiễn cho các cơ quan Nhà nước để hoàn thiện hệ thống pháp luật về địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Với những đóng góp như vậy, tác giả luận văn mong muốn được góp phần công sức nhỏ bé vào việc hoàn thiện, minh bạch pháp luật Việt Nam về địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài vào các Khu công nghiệp, Khu chế xuất Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận về địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong các Khu công nghiệp và Khu chế xuất.
- Chương 2: Qui định pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài về địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong các Khu công nghiệp và Khu chế xuất.
- Chương 3: Thực trạng thực thi pháp luật địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong các Khu công nghiệp, Khu chế xuất và đề xuất giải pháp.
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP VÀ KHU CHẾ XUẤT
1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP VÀ KHU CHẾ XUẤT
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài là thuật ngữ pháp lý quan trọng trong hệ thống pháp luật về đầu tư tại Việt Nam. Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta có chủ trương rút ngắn khoảng cách giữa các nhà đầu tư trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài, tuy nhiên, cũng như pháp luật của hầu hết các nước trên thế giới, theo các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam, giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài vẫn còn tồn tại nhiều khác biệt. Chính vì vậy, việc xác định và làm rõ khái niệm doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài là hết sức quan trọng vì đây là cơ sở pháp lý đầu tiên để xác định địa vị pháp lý của doanh nghiệp, pháp luật điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp, là tiền đề để doanh nghiệp có thể xác định rõ quyền và nghĩa vụ của mình theo pháp luật Việt Nam. Luận văn: Địa vị pháp lý doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Theo khoản 6 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2005, doanh nghiệp có vốn nước ngoài được xác định gồm: “doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam; doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại” [42]. Như vậy, theo Luật Đầu tư, cách hiểu về doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài chưa được rõ ràng, chưa có một cách hiểu chung thống nhất mà mới chỉ liệt kê được các trường hợp được coi là doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài. Điều này khiến cho các nhà đầu tư gặp rất nhiều khó khăn trong việc xác định liệu doanh nghiệp của mình có phải là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hay không? Nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ bao nhiêu phần trăm vốn trong doanh nghiệp thì doanh nghiệp được coi là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài? Đặc biệt, trong các trường hợp nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần trong các doanh nghiệp Việt Nam đang hoạt động thì nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ đến bao nhiều phần trăm vốn điều lệ thì doanh nghiệp sẽ chuyển sang hoạt động dưới hình thức doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài? Các doanh nghiệp được thành lập do sự tham gia góp vốn của (các) doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khác đã được thành lập ở Việt Nam thì được coi là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hay doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước?
Trong giai đoạn chuyển đổi của nền kinh tế và pháp luật đang trong quá trình hoàn thiện, những điểm chưa rõ ràng nêu trên là hoàn toàn dễ hiểu. Tuy nhiên, một cách khái quát nhất, doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài được hiểu là doanh nghiệp có sự góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài. Đây là cơ sở quan trọng nhất để nhận diện một doanh nghiệp có phải là doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài hay không. Việc góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài có thể được thực hiện dưới hình thức thành lập doanh nghiệp mới hoặc mua cổ phần, sáp nhập, mua lại. Ngoài ra, trên thực tiễn, các cơ quan quản lý nhà nước đều cho rằng các doanh nghiệp được thành lập từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khác tại Việt Nam cũng được coi là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Luận văn: Địa vị pháp lý doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Một vấn đề khác cũng được nhiều học giả và nhà đầu tư quan tâm là khái niệm nhà đầu tư nước ngoài. Bởi lẽ, nếu khái niệm về nhà đầu tư nước ngoài không được làm rõ thì khái niệm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng không thể được làm rõ. Theo khoản 5 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2005, nhà đầu tư nước ngoài được xác định gồm: “tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam” [42]. Cũng giống như khái niệm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, khái niệm nhà đầu tư nước ngoài theo Luật Đầu tư năm 2005 của Việt Nam được xây dựng theo phương pháp liệt kê. Tuy nhiên, theo tôi, khái niệm này chưa chỉ rõ một số trường hợp như người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi đầu tư vào Việt Nam được coi là nhà đầu tư trong nước hay nhà đầu tư nước ngoài. Trước đây, Luật Khuyến khích đầu tư trong nước nêu rất rõ nguyên tắc người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi đầu tư tại Việt Nam có thể được lựa chọn một trong hai hình thức đầu tư là đầu tư trong nước hoặc đầu tư nước ngoài nhưng tại Luật Đầu tư năm 2005 và các văn bản hướng dẫn cho đến thời điểm hiện nay thì nguyên tắc này lại không còn được đề cập.
Ngoài ra, khi xây dựng Luật Đầu tư 2005, các nhà làm luật đã lấy tiêu chí nguồn vốn đầu tư để phân biệt doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hay doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước. Tuy nhiên với cách định nghĩa nhà đầu tư nước ngoài nêu trên, tác giả cho rằng khái niệm nhà đầu tư nước ngoài chưa thể hiện được đầy đủ tiêu chí trên trên. Bởi lẽ, tổ chức nước ngoài cũng có thể do nhà đầu tư Việt Nam thành lập ở nước ngoài để đầu tư trở lại Việt Nam. Trên thực tiễn, trong thời gian qua, chúng ta đã chứng kiến rất nhiều trường hợp các doanh nhân Việt Nam kinh doanh ở nước ngoài và nhiều trường hợp trong số đó là rất thành công. Đến nay, các doanh nhân thông qua các công ty do họ thành lập ở nước ngoài để đầu tư vào Việt Nam. Nếu đúng theo như khái niệm về nhà đầu tư nước ngoài tại Luật Đầu tư 2005 thì các doanh nghiệp được thành lập trong trường hợp này là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (do pháp nhân nước ngoài thành lập) nhưng nếu xét trên phương diện nguồn vốn đầu tư thì các doanh nghiệp này lại là các doanh nghiệp có nguồn vốn đầu tư của các doanh nhân Việt Nam, các doanh nghiệp trong nước. Đây có thể coi là điểm còn chưa hoàn thiện của pháp luật về đầu tư của Việt Nam và cần được nghiên cứu và hoàn thiện trong thời gian tới.
Như vậy, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam là hình thức đầu tư mà ở đó các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư một phần hoặc toàn bộ vốn để lập ra pháp nhân mới tại Việt Nam theo quy định của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam nhằm thực hiện mục tiêu chung của các nhà đầu tư. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thể hiện dưới hai hình thức: doanh nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có chung một số đặc điểm sau:
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nuớc ngoài là một tổ chức có tư cách pháp nhân. Sau khi được thành lập nó trở thành chủ thể kinh doanh độc lập trực tiếp tiến hành các hoạt động kinh doanh trên danh nghĩa doanh nghiệp và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của mình.
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn. Có nghĩa là các nhà đầu tư nước ngoài chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi phần vốn đầu tư vào doanh nghiệp đối với các khoản nợ của doanh nghiệp.
- Các nhà đầu tư vốn nước ngoài có quyền sở hữu toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp theo hình thức đầu tư liên doanh hay 100% vốn.
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chịu sự điều chỉnh của Luật đầu tư và pháp luật có liên quan của Việt Nam.
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm của khu công nghiệp, khu chế xuất Luận văn: Địa vị pháp lý doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Ngay từ những năm 60, sớm nhận thấy những lợi thế phát triển của các Khu công nghiệp tập trung, những Khu công nghiệp đầu tiên của nước ta được thành lập như Khu công nghiệp Thượng Đình (Hà Nội), Khu gang thép Thái Nguyên (Thái Nguyên), Khu công nghiệp hóa chất Việt Trì (Vĩnh Phúc) … Tuy nhiên, tại các văn bản pháp luật, khái niệm Khu chế xuất chỉ mới được đưa ra vào năm 1991 tại Quy chế Khu chế xuất tại Việt Nam ban hành kèm theo Nghị định số 332-HĐBT ngày 18/10/1991 của Hội đồng Bộ trưởng. Theo đó, Khu chế xuất là “khu công nghiệp tập trung chuyên sản xuất hàng xuất khẩu và thực hiện các dịch vụ sản xuất hàng xuất khẩu và xuất khẩu” và “do Chính phủ thành lập ở những địa bàn có vị trí thuận tiện cho sản xuất hàng xuất khẩu và cho xuất khẩu, có ranh giới địa lý được ấn định theo quyết định thành lập”. Khái niệm Khu công nghiệp được đưa ra vào năm 1994 tại Quy chế Khu công nghiệp ban hành kèm theo Quyết định số 192-CP ngày 28/12/1994 của Chính phủ. Khu công nghiệp có các đặc điểm đặc thù là “Chính phủ quyết định thành lập, có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất công nghiệp và thực hiện các dịch vụ hỗ trợ sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh sống” [12].
Tuy nhiên, phải chờ đến năm 1997, cả hai khái niệm Khu công nghiệp và Khu chế xuất mới được ghi nhận một cách đầy đủ tại Quy chế Khu công nghiệp, Khu công nghiệp được ban hành kèm theo Nghị định số 36/CP ngày 24/4/1997 của Chính phủ. Theo Nghị định này:
Khu công nghiệp là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập. Trong khu công nghiệp có thể có doanh nghiệp chế xuất [13].
Tiếp theo đó, định nghĩa về Khu công nghiệp, Khu chế xuất được xây dựng chặt chẽ hơn tại một văn bản pháp lý có giá trị cao hơn, đó là Luật Đầu tư năm 2005. Theo đó: “Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ” [42] còn “khu chế xuất là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ” [42]. Các khái niệm này một lần nữa được nhắc lại trong Nghị định 29/2008/NĐ-CP về Khu công nghiệp, Khu chế xuất và khu kinh tế ngày 14/3/2008 của Chính phủ.
Như vậy, khái niệm Khu công nghiệp, Khu chế xuất đã thể hiện đầy đủ những đặc trưng cũng như yêu cầu đối với Khu công nghiệp, Khu chế xuất. Đây cũng được coi là cơ sở pháp lý trong việc phân biệt Khu công nghiệp, Khu chế xuất và các mô hình sản xuất, kinh doanh tập trung khác. Ngay trong định nghĩa về Khu công nghiệp, Khu chế xuất có thể nhận thấy ngay đặc điểm nổi bật nhất của các khu vực này chính là ở việc chuyên biệt hóa sản xuất. Cụ thể ở đây chính là hoạt động “chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp” của Khu công nghiệp, và “chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp” tại Khu chế xuất. Với tiêu chí là sản xuất hàng hóa với số lượng và quy mô lớn phục vụ cho thị trường trong nước và xuất khẩu, phương thức sản xuất trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất khác hẳn với phương thức sản xuất thủ công, nhỏ lẻ, sản xuất tự cung tự tiêu của một số vùng, một số ngành như ở nước ta trước đây.
Cũng trong các khái niệm trên, Khu công nghiệp, Khu chế xuất còn phải có “ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định”. Khu công nghiệp, Khu chế xuất là nơi tập trung nguồn lực để phát triển công nghiệp. Đó là các nguồn lực của nước sở tại, các nhà đầu tư trong và ngoài nước tập trung vào một khu vực địa lý xác định, các nguồn lực này đóng góp vào phát triển cơ cấu ngành mà nước sở tại ưu tiên, cho phép đầu tư, thông thường các Khu công nghiệp, Khu chế xuất được định hướng phát triển các ngành nghề công nghiệp mũi nhọn phù hợp với đặc điểm vùng và điều kiện kinh tế xã hội của địa phương. Bên cạnh đó, thủ tục hành chính đơn giản, có các ưu đãi về tài chính, an ninh, an toàn xã hội tốt tạo thuận lợi cho việc sản xuất kinh doanh hàng hóa hơn các khu vực khác. Điều này giúp các doanh nghiệp trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất có điều kiện phát triển thuận lợi nhất, có điều kiện tốt nhất trong việc tiết kiệm chi phí cũng như bảo vệ môi trường. Đây cũng chính là mục tiêu Chính phủ đã đặt ra khi xây dựng các Khu công nghiệp, Khu chế xuất để thu hút vốn đầu tư với quy mô lớn, thúc đẩy xuất khẩu, tạo việc làm, phát triển cơ sở hạ tầng, chuyển giao công nghệ, kiểm soát môi trường. Đây cũng được coi là một đặc điểm khác biệt giữa các doanh nghiệp hoạt động trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất và các doanh nghiệp hoạt động bên ngoài hàng rào Khu công nghiệp, Khu chế xuất: các doanh nghiệp hoạt động trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất về thủ tục hành chính thực hiện theo cơ chế “một cửa, tại chỗ” thông qua một đầu mối là Ban quản lý các Khu công nghiệp, Khu chế xuất trực thuộc Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh giải quyết tất cả các khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp, về thời gian thường là nhanh hơn theo quy định của pháp luật (thủ tục cấp Giấy chứng nhận đầu tư Luật quy định 15 ngày đối với trường hợp đăng ký cấp Giấy chứng nhận đầu tư nhưng theo bộ thủ tục hành chính do Ban quản lý các Khu công nghiệp, Khu chế xuất Hà Nội – Hipza ban hành, thời gian giải quyết trong 10 ngày…), các Khu công nghiệp, Khu chế xuất có nhà máy xử lý nước thải tập trung do Công ty kinh doanh và phát triển hạ tầng Khu công nghiệp, Khu chế xuất xây dựng, có hệ thống PCCC và các dịch vụ, khu phụ trợ trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất (dịch vụ ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, an ninh, vệ sinh công nghiệp, vệ sinh môi trường…) tạo điều kiện phát triển sản xuất kinh doanh, giao lưu thương mại. Luận văn: Địa vị pháp lý doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Có thể nhận thấy rằng Khu công nghiệp, Khu chế xuất có nhiều đặc điểm trùng nhau, cả hai đều là loại hình Khu công nghiệp, là khu vực được xây dựng cơ sở hạ tầng một cách đồng bộ, vốn đầu tư ban đầu tương đối lớn được lập ra để phát triển công nghiệp mà phần lớn là công nghiệp tiêu dùng, không có dân cư sinh sống và có các quy chế pháp lý riêng trong hoạt động sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu… Tuy nhiên, giữa hai loại hình này vẫn có những điểm khác nhau cơ bản. Đó là, Khu chế xuất được coi là khu phi thuế quan, các sản phẩm được sản xuất ra trong Khu chế xuất về cơ bản để phục vụ xuất khẩu, nếu muốn tiêu thụ ở thị trường trong nước thì quan hệ mua bán giữa Khu chế xuất và thị trường nội địa được coi là quan hệ xuất nhập khẩu (phải tiến hành các thủ tục hải quan về nhập khẩu hàng hóa). Trong khi đó, những hàng hóa được sản xuất từ Khu công nghiệp vừa có thể xuất khẩu, vừa có thể tiêu thụ tại thị trường nội địa, quan hệ mua bán giữa Khu công nghiệp và thị trường nội địa được coi là quan hệ mua bán nội địa. Ngoài ra, một điểm khác cơ bản nữa giữa doanh nghiệp Khu chế xuất và doanh nghiệp Khu công nghiệp là vấn đề thuế: doanh nghiệp đầu tư vào Khu chế xuất được miễn nộp các loại thuế (thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng…) khi nhập khẩu hàng hóa, máy móc thiết bị, nguyên liệu, vật tư từ nước ngoài (các doanh nghiệp hoạt động trong Khu chế xuất xuất khẩu 100% sản phẩm). Đây cũng là một trong những điểm hấp dẫn nổi trội thu hút đầu tư vào Khu chế xuất. Trước đây, Khu chế xuất còn được coi là địa bàn đặc biệt được ưu đãi đầu tư và được hưởng ưu đãi cao hơn so với đầu tư vào Khu công nghiệp. Tuy nhiên, khi Việt Nam gia nhập WTO, chính sách này đã được bãi bỏ vì theo “luật chơi” của WTO, các quốc gia thành viên WTO không được cấp ưu đãi dưới mọi hình thức để khuyến khích hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp thành lập tại nước mình và theo lộ trình tại biểu Việt Nam cam kết với WTO đến 31/12/2011 các ưu đãi dành cho doanh nghiệp chế xuất sẽ hết hiệu lực.
1.1.3. Khái niệm địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong các khu công nghiệp và khu chế xuất
Địa vị pháp lý là một thuật ngữ phổ biến trong hệ thống pháp luật của một quốc gia, phản ánh tổng thể các nội dung pháp lý (các quyền, nghĩa vụ…) điều chỉnh một đối tượng cụ thể. Theo định nghĩa trong Từ điển thuật ngữ pháp lý, địa vị pháp lý là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định cho một chủ thể pháp luật, tạo cho chủ thể đó có khả năng tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập. Luận văn: Địa vị pháp lý doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Như vậy, địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất được xác định là tổng thể các quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định cho loại hình doanh nghiệp này, tạo cho loại hình doanh nghiệp có khả năng tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập. Địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất được thể hiện trong rất nhiều các quy định liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, đăng ký lại doanh nghiệp và các quy định về quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp đó trong hệ thống pháp luật như Luật Đầu tư, Luật doanh nghiệp, Luật Đất đai, Nghị định 108/NĐ-CP hướng dẫn thực hiện Luật Đầu tư, Nghị định 29/NĐ-CP quy định về Khu công nghiệp, Khu chế xuất… Như vậy có thể nói, địa vị pháp của doanh nghiệp là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định cho doanh nghiệp gắn với loại hình có yếu tố nước ngoài và trong phạm vi luận văn này, tác giả nghiên cứu các quyền và nghĩa vụ đặc thù trong các Khu công nghiệp, Khu chế xuất Việt Nam và trong tương quan so sánh với pháp luật một số nước trên thế giới.
Luật đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Nghị định 108/2006/NĐ-CP, Nghị định 29/2007/NĐ-CP quy định một số quyền và nghĩa vụ cơ bản của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khi đầu tư tại Việt Nam:
Quyền của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có toàn quyền quyết định chương trình và kế hoạch kinh doanh của mình phù hợp với giấy phép đầu tư/Giấy chứng nhận đầu tư đã được cơ quan có thẩm quyền cấp và thực hiện đúng các nghĩa vụ mà pháp luật Việt Nam đã quy định. Cụ thể một số quyền cơ bản như sau:
- Quyền chủ động tổ chức quản lý doanh nghiệp;
- Quyền chủ động trong việc xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh, kế hoạch phát triển dài hạn và kế hoạch hàng năm của mình;
- Quyền nhập khẩu máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, nguyên vật liệu để xây dựng xí nghiệp và phục vụ cho hoạt động kinh doanh;
- Quyền được trực tiếp xuất khẩu hoặc ủy thác xuất khẩu các sản phẩm của mình có quyền tiêu thụ sản phẩm của mình tại thị trường Việt Nam nhưng phải tuân theo quy định của Việt Nam về quản lý thị trường;
- Quyền tuyển dụng, thuê mướn lao động Việt Nam và phải tuân theo quy định của Việt Nam về bảo vệ người lao động, tôn trọng quyền tham gia công đoàn, các tổ chức chính trị xã hội khác. Có quyền tuyển dụng, thuê mướn lao động nước ngoài nhưng chỉ những công việc đòi hỏi kỹ thuật, nghiệp vụ cao mà người Việt Nam không đáp ứng được;
- Quyền tự chủ về tài chính và hoạt động theo nguyên tắc hạch toán kinh tế độc lập.
Nghĩa vụ của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: Luận văn: Địa vị pháp lý doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải nộp thuế lợi tức (Thuế thu nhập) bằng 25% lợi nhuận thu được. Trong trường hợp khuyến khích đầu tư có thể sẽ giảm thuế lợi tức phù hợp: 20%,15%, 10% cho từng lĩnh vực khuyến khích; miễn và giảm 50% thuế lợi tức trong những trường hợp khuyến khích đầu tư từ 2 đến 8 năm tùy theo mức độ khuyến khích được quy định cụ thể cho từng dự án;
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải nộp thuế nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng theo các quy định của pháp luật Việt Nam. Miễn thuế nhập khẩu cho các trường hợp nhập khẩu các thiệt bị, máy móc để đầu tư xây dựng cơ bản hình thành xí nghiệp hoặc mở rộng quy mô dự án đầu tư, phương tiện vận chuyển nhập khẩu để đưa đón công nhân;
Khi nhà đầu tư nước ngoài muốn chuyển lợi nhuận ra nước ngoài phải nộp thuế chuyển lợi nhuận. Tùy theo mức độ đầu tư vốn của nhà đầu tư mà tính tỷ lệ thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài: trên 10 triệu USD nộp 3%; trên 5 triệu USD dến 10 triệu USD nộp 5%; các dự án còn lại nộp 7%.
- Doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài còn phải nộp tiền thuê đất, mặt nước, mặt biển và thuế tài nguyên nếu khai thác tài nguyên;
- Trích 5% lợi nhuận để lập quỹ dự phòng. Quỹ dự phòng không quá 25% vốn pháp định của doanh nghiệp;
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải chấp hành nghiêm chỉnh các quản lý ngoại hối củaViệt Nam. Doanh nghiệp phải mở tài khoản tại ngân hàng Việt Nam. Mọi khoản thu chi của doanh nghiệp phải thực hiện thông qua tài khoản tại ngân hàng Việt Nam;
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải áp dụng chế độ kế toán Việt Nam.
1.1.4. Các quy định điều chỉnh địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong các khu công nghiệp và khu chế xuất Luận văn: Địa vị pháp lý doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Hệ thống pháp luật kinh tế nói chung (Luật doanh nghiệp, Luật Thương mại, Luật Đầu tư, Luật kinh doanh bất động sản, Luật Thuế xuất nhập khẩu…), pháp luật đầu tư nói riêng và các Điều ước quốc tế là những quy định trực tiếp điều chỉnh địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất.
Có thể thấy rõ rằng pháp luật kinh tế nói chung và pháp luật đầu tư nói riêng là những quy định pháp luật trực tiếp chi phối và ảnh hưởng đến địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất. Nói đến doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài là nói đến một loại hình doanh nghiệp cụ thể. Theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam, Luật doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành điều chỉnh tất cả các loại hình doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam không phân biệt nguồn vốn và lĩnh vực hoạt động như loại hình công ty cổ phần, công ty TNHH (một thành viên hoặc hai thành viên trở lên), công ty hợp danh. Luật doanh nghiệp đưa ra các quy định chung nhất về thủ tục đăng ký thành lập, về tổ chức nội bộ của doanh nghiệp, quyền, nghĩa vụ của doanh nghiệp trong quá trình hoạt động, về trình tự thủ tục tổ chức lại doanh nghiệp, giải thể, phá sản doanh nghiệp… Tất nhiên, trong một số lĩnh vực hoạt động chuyên biệt nếu pháp luật chuyên ngành có những điều chỉnh đặc thù và khác biệt so với các quy định của Luật doanh nghiệp về các nội dung như hồ sơ, trình tự, thủ tục và điều kiện thành lập, đăng ký kinh doanh, cơ cấu tổ chức quản lý, thẩm quyền của các cơ quan quản lý nội bộ doanh nghiệp, quyền, nghĩa vụ của doanh nghiệp, quyền tự chủ kinh doanh, cơ cấu lại và giải thể thì các quy định đó sẽ được ưu tiên áp dụng.
Bên cạnh việc bị điều chỉnh bởi hệ thống pháp luật về doanh nghiệp, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bị chi phối bởi các quy định của pháp luật đầu tư. Bởi vì, một trong các đặc thù của doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài là gắn với việc triển khai các dự án đầu tư cụ thể ở nước sở tại. Luật Đầu tư, Luật doanh nghiệp và các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành chứa đựng những quy định quản lý từ việc chuẩn bị đầu tư, tạo lập dự án, cấp phép, đi vào hoạt động và chấm dứt của các dự án đầu tư. Do vậy, Luật Đầu tư có những sự chi phối quan trọng đến địa vị pháp lý của các doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài. Các quy định của pháp luật đầu tư sẽ chỉ rõ liệu dự án đầu tư có thể được thành lập ở Việt Nam hay không? Ngành nghề, lĩnh vực nào cấm hoạt động, ngành nghề nào thuộc lĩnh vực kinh doanh có điều kiện, lĩnh vực nào là lĩnh vực khuyến khích đầu tư, quy định địa bàn khuyến khích đầu tư, nếu được thành lập thì phải tuân theo các điều kiện, thu tục pháp lý gì? … Ngoài ra, trong quá trình hoạt động của một dự án, pháp luật đầu tư còn đưa ra một loạt các quy định về quyền và nghĩa vụ cũng như trách nhiệm của nhà đầu tư trong nước và nước ngoài như quyền tự do kinh doanh, quyền chuyển tiền, ngoại tệ lợi nhuận về nước, quyền được bảo hộ đầu tư… song song với quyền là nghĩa vụ nộp thuế vào kho bạc nhà nước, trả lương cho người lao động, đóng bảo hiểm xã hội, thực hiện an toàn lao động, vệ sinh lao động…. Đây cũng chính là các quy định về quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài, yếu tố quan trọng để hình thành lên địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài. Luận văn: Địa vị pháp lý doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Bên cạnh pháp luật về doanh nghiệp, pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài nói chung và doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài trong các Khu công nghiệp, Khu chế xuất nói riêng phải chịu sự điều chỉnh của rất nhiều các quy định khác có liên quan như các quy định của pháp luật thương mại, các quy định của pháp luật lao động, các quy định của pháp luật thuế và tài chính, xuất nhập khẩu, môi trường, pháp luật xây dựng, đất đai, phòng cháy chữa cháy… Các quy định này tạo một hành lang pháp lý cho doanh nghiệp hoạt động, quy định những gì doanh nghiệp được làm, những gì doanh nghiệp không được làm, những gì doanh nghiệp buộc phải làm và làm như thế nào… Đây cũng chính là các yếu tố chi phối về các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp, các quy định này minh bạch, cụ thể sẽ góp phần làm sáng tỏ, rõ ràng địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tạo niềm tin, chỗ dựa vững chắc cho các nhà Đầu tư nước ngoài và thúc đẩy mở rộng sản xuất kinh doanh, tăng cường thu hút vốn FDI. Mặt khác doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất là địa bàn được thành lập theo quy hoạch, có định hướng phát triển ngành, lĩnh vực… nên các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp hoạt động trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất cũng được điều chỉnh bằng các văn bản đặc thù quy định riêng như Nghị định 36/NĐ-CP, Nghị định 29/NĐ-CP quy định về Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao.
- Các quy định nội bộ trong từng Khu công nghiệp, Khu chế xuất
Hiện nay, mỗi Khu công nghiệp, Khu chế xuất có một quy chế quản lý riêng do Bộ Kế hoạch và Đầu tư phê duyệt trên cơ sở Công ty kinh doanh và phát triển hạ tầng xây dựng dự thảo, Ban quản lý các khu công nghiệp, khu chế xuất thẩm định và trình. Trong bản Quy chế đề cập đến các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài được thành lập và hoạt động trong các khu vực này. Thông thường thì các quy chế này là sự thể hiện và cụ thể hóa các quy định của pháp luật, phù hợp với Điều lệ mẫu Khu công nghiệp, Khu chế xuất do Chính phủ ban hành và đồng thời cũng chứa đựng những quy định riêng và đặc thù của từng Khu công nghiệp, Khu chế xuất như thủ tục đầu tư và tạo lập dự án, thành lập doanh nghiệp, thủ tục thuê đất và cơ sở hạ tầng, chế độ ưu đãi đối với từng loại dự án, chế độ thu, nộp các loại phí dịch vụ, quy định về chế độ đi lại, vận chuyển hàng hóa trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất, chế độ tuyển dụng và ưu đãi, hỗ trợ của địa phương trong việc tuyển dụng lao động, vấn đề vệ sinh môi trường, vệ sinh công nghiệp, mối quan hệ giữa Công ty kinh doanh phát triển hạ tầng và doanh nghiệp Khu công nghiệp, Khu chế xuất… Đây được coi là một trong những căn cứ quan trọng trong việc xác định các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất. Các qui định trong quy chế này cụ thể hóa văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước có gắn với đặc thù Khu công nghiệp, Khu chế xuất của từng địa phương nhưng không được trái luật và văn bản dưới luật, ví dụ: Khu công nghiệp Bắc Thăng Long, Hà Nội là một điểm sáng trong việc thu hút đầu tư toàn miền Bắc, trong quy chế của Khu quy định doanh nghiệp hoạt động trong Khu công nghiệp Bắc Thăng Long phải đảm bảo tiêu chuẩn môi trường ISO 9001-14.000 mà không phải doanh nghiệp Khu công nghiệp nào cũng đạt được.
1.2 VAI TRÒ CỦA DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP VÀ KHU CHẾ XUẤT Luận văn: Địa vị pháp lý doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
1.2.1. Vai trò trong việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trước hết, phải khẳng định rằng sự phát triển của doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài trong các Khu công nghiệp, Khu chế xuất là cơ sở, là một kênh đẩy mạnh dòng chảy nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam. Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn tăng trưởng và phát triển nền kinh tế thị trường nên đòi hỏi một khối lượng vốn đầu tư rất lớn nhằm xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn, công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường tạo đà phát triển kinh tế nhanh và bền vững. Trong khi đó, số vốn, công nghệ, trình độ quản lý trong nước lại chưa thể đáp ứng được nhu cầu đó và thông thường các doanh nghiệp trong nước phải là doanh nghiệp có tiềm lực kinh tế, tài chính mạnh, trình độ công nghệ khá hiện đại, kỹ năng quản lý cao mới phát triển đầu tư ra nước ngoài nhằm tìm kiếm thị trường, tăng lợi nhuận. Do vậy, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Khu công nghiệp, Khu chế xuất là một kênh rất quan trọng, bởi lẽ Khu công nghiệp, Khu chế xuất phản ánh khá rõ ràng tiềm năng phát triển công nghiệp của mỗi quốc gia.
Trong điều kiện tích lũy nội bộ của nền kinh tế trong nước còn thấp, xu hướng đẩy mạnh việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài đóng vai trò quan trọng. Hiện nay số doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài tham gia hoạt động tại các Khu công nghiệp, Khu chế xuất của Việt Nam ngày càng đông đảo tăng về quy mô và số lượng. Chính điều này đã làm gia tăng đáng kể số vốn đầu tư nước ngoài trong cả nước. Khu công nghiệp, Khu chế xuất với những ưu thế đặc biệt về thủ tục hành chính, cơ chế quản lý, tài chính, thuế quan, môi trường đầu tư so với sản xuất trong nước, ngoài hàng rào Khu công nghiệp đã trở thành môi trường hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Ở nước ta Khu công nghiệp, Khu chế xuất đã đóng góp vai trò tích cực vào việc thu hút vốn đầu tư đặc biệt là vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, để đạt được và duy trì tốc độ tăng trưởng cao, trên cơ sở tạo lập năng suất công nghiệp mới và có hiệu quả kinh tế đất nước.
Theo Tài liệu hội thảo đánh giá tác động của cơ chế chính sách tài chính đối với những doanh nghiệp hoạt động trong các Khu công nghiệp, Khu chế xuất do Bộ Tài Chính tổ chức: Luận văn: Địa vị pháp lý doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Đầu năm 1990 nước ta bắt đầu mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài vào các khu công nghiệp, khu chế xuất, tính đến tháng 6/2011 Việt Nam có 257 khu công nghiệp, khu chế xuất thành lập tại 57 tỉnh, thành phố, thu hút 8.600 dự án đầu tư với tổng vốn đầu tư 71 tỷ USD (trong đó 3.879 dự án nước ngoài với tổng vốn đăng ký 53 tỷ USD và 4.771 dự án trong nước với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 315 nghìn tỷ đồng). Vốn đầu tư thực hiện của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt gần 18 tỷ đồng chiếm 33,5% tổng vốn đầu tư đăng ký; vốn thực hiện của doanh nghiệp trong nước đạt gần 134 nghìn tỷ đồng, chiếm 43% tổng vốn đầu tư đăng ký. Tổng giá trị sản xuất công nghiệp tăng đều hàng năm, mỗi năm từ 20-27 tỷ USD, chiếm 60% giá trị sản xuất toàn ngành, chiếm trên 40% kim ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp, giải quyết việc làm trên 1,55 triệu lao động [7].
Vài năm trước đây, mặc dù cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới lan tỏa mạnh mẽ, ảnh hưởng lớn tới việc đầu tư ra nước ngoài. Tuy nhiên, các Khu công nghiệp, Khu chế xuất Việt Nam vẫn thu hút được rất nhiều dự án lớn, với số vốn đầu tư khổng lồ mà điển hình phải nói đến là dự án sản xuất điện thoại của công ty Samsung Electronics vào Khu công nghiệp Yên Phong tỉnh Bắc Ninh với số vốn lên đến 670 triệu USD trong năm 2007, Dự án sản xuất máy in phun, máy photocopy của Công ty Canon đầu tư vào Khu công nghiệp Quế Võ, Bắc Ninh với số vốn đầu tư 1,1 tỷ USD năm 2008, Dự án sản xuất đầu đĩa từ của Công ty Hoya Glass Disk đầu tư vào Khu công nghiệp Bắc Thăng Long năm 2007 với số vốn đăng ký 890 triệu USD….
Theo số liệu thống kê thì các Khu công nghiệp đã đóng góp hàng năm khoảng 20% vào tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Trong đó, 8 tháng đầu năm 2010, các Khu công nghiệp trên cả nước đã thu hút được tổng cộng 3.488 triệu USD vốn đầu tư nước ngoài, trong đó có 132 dự án mới với tổng số vốn đầu tư đăng ký đạt hơn 2.568,3 triệu USD và 145 lượt dự án tăng vốn với số vốn tăng thêm đạt 919,5 triệu USD. Tổng vốn đầu tư nước ngoài thu hút được vào các Khu công nghiệp trong 8 tháng đầu năm 2010 chiếm khoảng 35% so với tổng vốn đầu tư nước ngoài thu hút được trên phạm vi cả nước. Trong đó, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Dương, Đồng Nai là những tỉnh dẫn đầu cả nước về thu hút đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư nước ngoài thu hút được khoảng 1,4 tỷ USD, chiếm 40% cả nước.
Tính đến hết tháng 8 năm 2010, các Khu công nghiệp cả nước đã thu hút được 3.841 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đăng ký gần 52 tỷ USD và 4.617 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 305 nghìn tỷ đồng. Bên cạnh đó, vốn đầu tư thực hiện của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong Khu công nghiệp đạt 16.065 triệu USD, chiếm 31% tổng vốn đầu tư đăng ký. Hiện có 3.285 dự án có vốn đầu tư nước ngoài và gần 3.000 dự án đầu tư trong nước đang hoạt động sản xuất kinh doanh trong các Khu công nghiệp, Khu chế xuất trên cả nước.
Ngoài ra, trong 8 tháng đầu năm 2010, các doanh nghiệp Khu công nghiệp đạt doanh thu 14.320 triệu USD, giá trị nhập khẩu 8.133 triệu USD, giá trị xuất khẩu 7.839 triệu USD và nộp ngân sách khoảng 8.856 tỷ đồng [48].
Theo số liệu mới công bố của Cục Đầu tư nước ngoài, tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được giải ngân từ đầu năm 2011 tới ngày 30/10 ước đạt 9,15 tỷ USD, tăng 1% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể, có 861 dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký đạt gần 8,9 tỷ USD, bằng 70% so với cùng kỳ năm 2010. Có 264 lượt dự án đăng ký tăng vốn với tổng vốn đầu tư đăng ký tăng thêm gần 2,4 tỷ USD, bằng 138% so với cùng kỳ năm 2010. Công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn là lĩnh vực thu hút được nhiều sự quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài với 362 dự án đầu tư đăng ký mới và 190 dự án tăng vốn, đạt tổng số vốn là hơn 5,6 tỷ USD. Luận văn: Địa vị pháp lý doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Qua 20 năm hình thành và phát triển, hiệu quả thu hút đầu tư tại các Khu công nghiệp, Khu chế xuất được thể hiện trên 1ha đất cụ thể như: thu hút 6,5 triệu USD vốn đầu tư, tạo ra 18 triệu USD kim ngạch xuất khẩu, giải quyết việc làm cho gần 200 lao động, đóng góp cho ngân sách địa phương 725 triệu đồng/năm (theo báo cáo của Trưởng Ban quản lý các Khu công nghiệp, Khu chế xuất Thành phố Hồ Chí Minh về thực trạng tình hình các doanh nghiệp trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất Thành phố Hồ Chí Minh).
Như vậy, phải thừa nhận rằng Khu công nghiệp, Khu chế xuất nói chung và các doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài nói riêng đã góp phần rất lớn trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam giúp giải quyết việc làm, tăng giá trị xuất khẩu, đóng góp một phần không nhỏ vào GDP cả nước, góp phần quan trọng đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế.
1.2.2. Vai trò trong việc phát triển hệ thống cơ cấu hạ tầng cho sản xuất công nghiệp
Qua 15 năm hình thành và phát triển Khu công nghiệp, Khu chế xuất ở Việt Nam, đã chứng minh chủ trương phát triển các Khu công nghiệp, Khu chế xuất của Đảng và Nhà nước là một hướng đi đúng đắn, nhiều Khu công nghiệp, Khu chế xuất đã và đang đóng vai trò quan trọng là đòn bẩy tạo ra một khí thế phát triển mới cho nền kinh tế cả nước. Tại các vùng hay địa phương có các Khu công nghiệp, Khu chế xuất hoạt động mạnh thì mức độ tăng trưởng kinh tế ở đó cao hơn hẳn những nơi Khu công nghiệp, Khu chế xuất chưa phát triển, đơn cử như tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh các doanh nghiệp Khu công nghiệp, Khu chế xuất đóng góp phần lớn thuế cho ngân sách địa phương, giúp tạo việc làm, tăng thu nhập của người dân, chuyển đổi cơ cấu kinh tế địa phương sang phát triển công nghiệp…
Tính đến tháng 8 năm 2010 cả nước đã có 254 khu công nghiệp được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên là 68.800 ha, trong đó diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê đạt trên 45.000 ha, chiếm khoảng 60% tổng diện tích đất tự nhiên. Trong đó có 171 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động với tổng diện tích đất tự nhiên là 43.375 ha và 83 khu công nghiệp đang trong giai đoạn đền bù, giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ bản [24].
Các Khu công nghiệp, Khu chế xuất có đóng góp quan trọng vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các địa phương theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đa dạng hóa ngành nghề… góp phần chuyển dịch cơ cấu và tăng trưởng kinh tế của cả nước, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế. Các Khu công nghiệp, Khu chế xuất đã tạo ra một hệ thống kết cấu hạ tầng mới, hiện đại, đồng bộ… Luận văn: Địa vị pháp lý doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Tính đến tháng 8 năm 2010, tổng vốn đầu tư thực hiện của các dự án phát triển kết cấu hạ tầng khu công nghiệp đạt 896 triệu USD (dự án có vốn đầu tư nước ngoài) và hơn 43 nghìn tỷ đồng (dự án đầu tư trong nước), chiếm tương ứng 34% và 42% so với tổng vốn đầu tư đăng ký của các dự án có vốn đầu tư nước ngoài và các dự án đầu tư trong nước [49].
Các Khu công nghiệp, Khu chế xuất thường được đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ, hiện đại từ hệ thống giao thông nội bộ, hệ thống chiếu sáng, cây xanh đến hệ thống thoát nước, xử lý nước thải, cung cấp điện, nước sinh hoạt, công nghiệp… phục vụ cho các doanh nghiệp hoạt động trong các Khu công nghiệp, Khu chế xuất với điều kiện tốt nhất. Ngoài ra hệ thống hạ tầng ngoài hàng rào Khu công nghiệp, Khu chế xuất cũng được đầu tư xây dựng để đấu nối hạ tầng trong và ngoài Khu công nghiệp, Khu chế xuất đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất phục vụ gián tiếp hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Khu công nghiệp, Khu chế xuất như hệ thống đường giao thông cho xe container, xe trọng tải lớn, hệ thống PCCC, nhà ở cho công nhân, nhà văn hóa, khu vườn hoa, vui chơi, sinh hoạt cộng đồng…
Việc phát triển các doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất trong thời gian qua không những thúc đẩy các ngành dịch vụ phát triển, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, mà còn đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, góp phần đáng kể vào việc hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng trong và ngoài Khu công nghiệp, Khu chế xuất. Điều này được thể hiện qua một số khía cạnh sau: Luận văn: Địa vị pháp lý doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng các Khu công nghiệp, Khu chế xuất có tác dụng kích thích sự phát triển kinh tế địa phương, góp phần rút ngắn sự chênh lệch phát triển giữa nông thôn và thành thị, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho lao động địa phương. Điều này có thể dễ dàng nhận thấy nhất ở những vùng có Khu công nghiệp, Khu chế xuất phát triển mạnh như Biên Hòa, Nhơn Trạch (Đồng Nai), Thuận An (Bình Dương), Yên Phong (Bắc Ninh)… Cùng với quá trình phát triển Khu công nghiệp, các điều kiện về kỹ thuật hạ tầng trong khu vực đã được cải thiện đáng kể, nhu cầu về các dịch vụ gia tăng, góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh cho các cơ sở dịch vụ trong vùng.
Cùng với các chính sách ưu đãi về tài chính và công tác quản lý thuận lợi của Nhà nước, có thể nói việc thu hút nguồn vốn để đầu tư xây dựng hoàn thiện và đồng bộ các kết cấu hạ tầng trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất có vai trò quyết định trong việc thu hút đầu tư. Việc tham gia sâu rộng của doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài trong xây dựng kết cấu hạ tầng Khu công nghiệp, Khu chế xuất không những tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất hoạt động hiệu quả, mà còn tạo sự đa dạng hóa thành phần doanh nghiệp tham gia xúc tiến đầu tư góp phần tạo sự hấp dẫn trong việc thu hút đầu tư thêm của nhiều thành phần kinh tế. Các doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài tham gia đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng Khu công nghiệp theo hình thức BT, BTO, BOT, đầu tư xây dựng hạ tầng xong các doanh nghiệp này đứng ra kinh doanh hạ tầng, ký hợp đồng thuê đất có hạ tầng với doanh nghiệp thứ phát để sản xuất kinh doanh, thu phí quản lý, phí hạ tầng…
Việc đầu tư hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất không những thu hút các dự án đầu tư mới mà còn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng quy mô để tăng năng lực sản xuất và cạnh tranh, hoặc di chuyển ra khỏi các khu đông dân cư, tạo điều kiện để các địa phương giải quyết các vấn đề ô nhiễm, bảo vệ môi trường đô thị, tái tạo và hình thành quỹ đất mới phục vụ các mục đích khác của cộng đồng trong khu vực như Khu công nghiệp Tân Tạo (Thành phố Hồ Chí Minh), Việt Hương (Bình Dương)… đây cũng là mục tiêu lớn và phải có tầm nhìn dài bởi vấn đề phát triển “nóng”, tốc độ đô thị hóa quá nhanh dẫn đến các Khu công nghiệp, Khu chế xuất được quy hoạch lại nằm trọn trong nội đô, nội thị.
Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đón bắt và thu hút đầu tư các ngành như điện, giao thông vận tải, hệ thống thông tin liên lạc, cảng biển, các hoạt động dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, xúc tiến đầu tư, phát triển thị trường địa ốc và các ngành công nghiệp phụ trợ phát triển đáp ứng nhu cầu hoạt động và phát triển của các Khu công nghiệp.
Như vậy, một Khu công nghiệp, Khu chế xuất năng động và hiệu quả ngoài việc đầu tư vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng thì đòi hỏi còn phải có chiến lược phát triển, kinh nghiệm, phương pháp kinh doanh, cũng như công nghệ đạt tiêu chuẩn nhất định. Những yêu cầu này nếu chỉ có sự đóng góp của các doanh nghiệp trong nước thì vẫn chưa đủ. Chính vì vậy, việc thu hút sự tham gia của các doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài vào đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng các Khu công nghiệp, Khu chế xuất là rất cần thiết. Luận văn: Địa vị pháp lý doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
1.2.3. Vai trò trong việc phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn theo hướng tập trung
Ngành công nghiệp mũi nhọn là ngành có khả năng cạnh tranh, chiếm tỷ trọng đáng kể tại thị trường trong nước và quốc tế, có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa, dẫn dắt và kéo theo sự phát triển của các ngành công nghiệp khác, của các ngành công nghiệp phụ trợ. Hiện nay, Việt Nam đang tập trung phát triển 3 nhóm ngành với những cơ chế và chính sách khác nhau. Đó là: nhóm ngành công nghiệp có lợi thế cạnh tranh (may mặc, giày dép, đồ gỗ), nhóm ngành công nghiệp nền tảng (cơ khí, hóa dầu, phân bón), và nhóm ngành công nghiệp tiềm năng (điện tử – viễn thông, cơ khí chế tạo, hóa chất). Kinh tế công nghiệp nhà nước được xem là nền tảng và kinh tế công nghiệp tư nhân và đầu tư nước ngoài là động lực phát triển toàn ngành, đồng thời coi đầu tư nước ngoài là chìa khóa để công nghiệp Việt Nam cất cánh và hội nhập với thế giới. Với những chính sách ưu đãi đặc biệt và định hướng đầu tư vào các Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Việt Nam đã khuyến khích được sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài vào các ngành công nghiệp mũi nhọn tại các khu vực này, từ đó hình thành được các khu vực sản xuất chuyên biệt và sản phẩm có chất lượng cao, đồng thời giải quyết được vấn đề quản lý và công tác môi trường. Kết quả của việc thu hút này là các nhà đầu tư nước ngoài đã đóng góp rất lớn trong sự phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn của Việt Nam. Sau đây là bảng số liệu thể hiện tỷ lệ đầu tư nước ngoài theo một số ngành cơ bản trong Khu công nghiệp.
- Bảng 1.1: Đầu tư nước ngoài trong Khu công nghiệp theo ngành (tính đến 6/2011)
- Biểu đồ 1.1: Tỷ lệ % số dự án Đầu tư nước ngoài trong Khu công nghiệp theo ngành
- Biểu đồ 1.2: Tỷ lệ % vốn Đầu tư nước ngoài trong Khu công nghiệp theo ngành
Bên cạnh việc thu hút vào các ngành mũi nhọn, Chính phủ Việt Nam cũng đang mở rộng thu hút nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Khu công nghiệp công nghiệp phụ trợ. Đây là hệ thống cơ sở sản xuất chuyên đảm nhiệm cung cấp đầu vào (thiết kế, nguyên vật liệu, bán thành phẩm, linh phụ kiện…) phục vụ chế tạo, lắp ráp đồng bộ các sản phẩm hoàn chỉnh cuối cùng. Chính đầu tư vào các Khu công nghiệp, Khu chế xuất đã góp phần thúc đẩy các ngành công nghiệp phụ trợ phát triển, bởi vì: các tập đoàn công nghiệp xuyên quốc gia đầu tư vào Việt Nam thường tập trung chủ yếu vào các Khu công nghiệp, Khu chế xuất có điều kiện phù hợp về diện tích đất, hạ tầng, chính sách ưu đãi đầu tư… như tập đoàn Canon, Toshiba, Panasonic, Nissei, Toyota… thường kéo theo một loạt các doanh nghiệp vệ tinh sản xuất các linh kiện, bộ phận để lắp ráp hoàn chỉnh sản phẩm cho các tập đoàn này. Ví dụ, Công ty Canon trong Khu công nghiệp Thăng Long, Hà Nội (có vốn đầu tư đăng ký 1,7 tỷ USD) với mục tiêu sản xuất máy in phun, máy photocopy, máy ảnh kỹ thuật số, camera, thì họ kéo theo Công ty Yamazaky vốn đầu tư nhỏ hơn (7 triệu USD) chuyên sản xuất lò xo cho máy in, máy photocopy; Công ty Tokyo Micro chuyên thiết kế, sản xuất hộp carton, hộp nhựa đựng sản phẩm xuất khẩu cho Công ty canon…một ví dụ điển hình nữa là Công ty Yamaha, Khu công nghiệp Quang Minh, Hà Nội (vốn đầu tư đăng ký 950 triệu USD) với mục tiêu sản xuất, lắp ráp xe máy, ô tô thì họ kéo theo Công ty Denso chuyên sản xuất các phụ tùng, dụng cụ (bu lông, ốc vít) cho ngành ô tô, xe máy cũng hoạt động trong Khu công nghiệp này…
Hiện nay, Việt Nam có khoảng 24 ngành kinh tế – kỹ thuật đều cần đến công nghiệp phụ trợ, trong đó có nhiều ngành sản xuất hàng xuất khẩu. Tuy nhiên, công nghiệp phụ trợ của Việt Nam còn nhiều bất cập, trong đó, tỷ lệ nội địa hoá trong một sản phẩm hoàn chỉnh còn thấp là một nhược điểm lớn. Ngoài ngành sản xuất bao bì cung cấp các loại bao bì bằng giấy, gỗ, nhựa… phục vụ cho việc đóng gói sản phẩm có những tiến bộ rõ rệt về công nghệ, hầu hết các ngành khác có tỷ lệ nội địa hoá đều ở mức độ thấp. Đặc biệt, ngành công nghiệp phụ trợ cho ô tô kém phát triển, tỷ lệ nội địa hoá đạt khoảng 5 – 10%, chỉ cung cấp được vài sản phẩm đơn giản, giá trị thấp, như bộ dây điện, ghế ngồi, một số chi tiết bằng nhựa hoặc kim loại. Trong ngành điện – điện tử, tỷ lệ nội địa hoá được chừng 20 – 40%. Ngành dệt may, da giày dù có kim ngạch xuất khẩu dẫn đầu nhưng vẫn phải nhập khẩu tới 70 – 80% vải, vải giả da, kim, chỉ cao cấp, nút áo, khuy bấm, dây khoá kéo kim loại, vật liệu dựng độn kể cả những nguyên liệu Việt Nam đã sản xuất được, như vải, dây khoá kéo. Công nghiệp nhựa với trên 200 doanh nghiệp, nhưng kỹ thuật mới dừng ở sản xuất hàng tiêu dùng thông thường và rất ít sản phẩm là các chi tiết đủ tiêu chuẩn về độ bền, độ chính xác để lắp ráp máy móc, ô tô, điện -điện tử. Việc chậm đổi mới công nghệ cũng làm cho sản phẩm chi tiết cơ khí của Việt Nam chưa đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế nên cũng ít được dùng để lắp ráp sản phẩm. Ngành xử lý bề mặt chỉ có số ít dây chuyền tĩnh điện, xì, mạ nên chưa đảm bảo phủ bì những sản phẩm cao cấp… Việt Nam chưa có các chính sách hỗ trợ phát triển công nghiệp phụ trợ để thu hút vào các khu công nghiệp tập trung. Luận văn: Địa vị pháp lý doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Các nước láng giềng của Việt Nam như Indonesia, Thái Lan… đều có những chính sách hỗ trợ nhất định cho nhóm doanh nghiệp trong ngành công nghiệp phụ trợ. Điển hình là Thái Lan, sau 15 năm coi công nghiệp phụ trợ là vấn đề lớn nhất, cho dù chưa đạt được kết quả như các đối tác nước ngoài mong muốn, song họ đã có những kết quả tốt. Chính điều này đã tạo nên sức hấp dẫn với nguồn vốn Đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực công nghiệp sản xuất, chế tạo [53].
Như vậy, Khu công nghiệp, Khu chế xuất đã trở thành hạt nhân, điểm nhấn quan trọng trong việc thu hút dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi tiếp nhận công nghệ tiên tiến, đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng công nghiệp, thúc đẩy phát triển kinh tế, các ngành công nghiệp phụ trợ và các doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài thực sự đã đóng vai trò rất lớn trong sự phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn mà Việt Nam đề ra.
1.2.4. Vai trò trong việc chuyển giao công nghệ, phương thức quản lý tiên tiến từ nước ngoài vào Việt Nam
Với đặc thù sản xuất hàng công nghiệp hay hàng hóa chuyên xuất khẩu, Khu công nghiệp, Khu chế xuất đòi hỏi một kỹ thuật công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường phục vụ cho mục đích chuyên môn. Trong các dự án kinh doanh có yếu tố nước ngoài, việc học tập, tiếp thu và chuyển giao công nghệ, khoa học kỹ thuật hiện đại từ các đối tác nước ngoài diễn ra phổ biến và đóng vai trò quan trọng trong thành công của các dự án. Đặc biệt, trong Khu công nghiệp và Khu chế xuất, nơi có sự thống nhất về kế hoạch sản xuất kinh doanh, việc chuyển giao công nghệ trở nên vô cùng quan trọng và được thực hiện thông qua một “kênh” rất hữu ích là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Cơ cấu ngành chuyển dịch theo hướng ích cực: từ đa dạng hóa -> chuyên môn hóa, từ tích lũy -> sáng tạo và từ kỹ năng cơ bản -> kỹ năng tiên tiến.
Việc đầu tư vào các Khu công nghiệp, Khu chế xuất của doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài thường đi kèm với việc đem đến những kỹ thuật công nghệ hiện đại, trình độ quản lý cao cho ngành sản xuất trong nước. Hiện nay, các ngành sản xuất chủ yếu ở các Khu công nghiệp, Khu chế xuất là cơ khí, điện tử đã áp dụng các kỹ thuật tiên tiến trên thế giới, đặc biệt là từ các doanh nghiệp đến từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ. Điển hình như Công ty TNHH Canon Việt Nam, Mabuchi Motor, Samsung Việt Nam, các công ty có vốn đầu tư của Tập đoàn Panasonic. Chính việc mang vốn, công nghệ, máy móc thiết bị hiện đại, trình độ quản lý cao vào Việt Nam là một cơ hội lớn cho doanh nghiệp Việt Nam học hỏi kinh nghiệm quản lý, tiếp thu, làm chủ khoa học, công nghệ, đây là một bước quan trọng trong chiến dịch “đi tắt, đón đầu” nhanh chóng đưa Việt Nam phát triển xứng tầm châu lục. Sự đóng góp của các doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài trong chuyển giao công nghệ tiên tiến được thể hiện trong bảng số liệu sau: Luận văn: Địa vị pháp lý doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
- Bảng 1.2: Phân loại trình độ công nghệ các doanh nghiệp trong Khu công nghiệp
Từ bảng trên có thể thấy rõ được vai trò quan trọng của các doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài tại Khu công nghiệp trong việc tiếp thu công nghệ mới và hiện đại kèm theo đó là vốn, trình độ quản lý… Định hướng phát triển ngành nghề, lĩnh vực đầu tư trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất ngày càng đi vào chiều sâu, phát triển sản xuất theo hướng nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm, từng bước thu hút những dự án có trình độ công nghệ ngày càng cao hơn: sản xuất tự động hóa, sản xuất các sản phẩm có độ chính xác cao trong các lĩnh vực cơ khí, điện tử, cáp quang, vi mạch, bán dẫn, pin năng lượng mặt trời, phát triển nghiên cứu và thiết kế chip, phần mềm điện toán của các công ty, tập đoàn lớn từ Nhật Bản, Mỹ, Châu Âu, Đài Loan, Hàn Quốc…
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài đã góp sức đào tạo được đội ngũ lao động công nghiệp sử dụng và vận hành thành thạo các trang thiết bị phục vụ quản lý và sản xuất, nắm vững công nghệ, có tác động lan toả và nâng trình độ tay nghề của đội ngũ lao động Việt Nam lên một tầm cao mới. Các doanh nghiệp FDI khi tiến hành đầu tư vào Việt Nam, họ phải tuyển lao động Việt Nam vào làm việc. Để công việc sản xuất kinh doanh của Công ty được vận hành trôi chảy, có hiệu quả và lợi nhuận cao, các nhà đầu tư nước ngoài đã tuyển dụng, đào tạo lại bằng cách gửi các lao động Việt Nam về Công ty mẹ để học tập, đi nước ngoài, nước có nền công nghệ phát triển và qua đó các lao động Việt Nam đã làm chủ được công nghệ và nắm giữ các vị trí quan trọng trong nhà máy như: giám đốc điều hành, trưởng phòng công nghệ, trưởng phòng kỹ thuật, sản xuất…
Có thể nói, việc thỏa mãn được yêu cầu cơ bản về cơ sở hạ tầng cho việc tiếp nhận chuyển giao công nghệ tại các Khu công nghiệp, Khu chế xuất là một trong những yếu tố chính thu hút các doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài. Cùng với đó, sức “hấp thụ” công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến từ nước ngoài cũng ngày càng gia tăng. Đây là mối quan hệ thể hiện vai trò hai chiều của Khu công nghiệp, Khu chế xuất và doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài. Một mặt, các Khu công nghiệp, Khu chế xuất là nơi tạo lợi nhuận đầu tư cho doanh nghiệp, ngược lại, doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài đem đến những công nghệ kỹ thuật hiện đại cho nền sản xuất trong nước, các doanh nghiệp trong nước tiếp thu khoa học, công nghệ, học hỏi trình độ quản lý. Sự có mặt của doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài với công nghệ và năng lực quản lý tiên tiến sẽ dẫn đến sự thay đổi cơ cấu sản xuất, chất lượng, cơ cấu sản phẩm. Việc xuất khẩu sẽ thay đổi theo hướng giảm tỷ trọng hàng hóa có hàm lượng công nghệ thấp sang hàng hóa có hàm lượng công nghệ cao và giàu chất xám hơn, giảm tỷ trọng xuất khẩu hàng hóa sơ chế, sản phẩm thô, lắp ráp giản đơn sang hàng hóa đã qua chế biến, sản phẩm hoàn chỉnh có hàm lượng kỹ thuật. Điều này được chứng minh qua thực tế phát triển các Khu công nghiệp, Khu chế xuất ở Việt Nam. Giai đoạn đầu, việc thu hút đầu tư chủ yếu ở các ngành: dệt may, lắp ráp điện tử, nhưng càng về sau, đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất máy chính xác, linh kiện điện tử yêu cầu kỹ thuật cao dần tăng mạnh. Kết quả này một phần lớn xuất phát từ sự gia tăng chuyển giao công nghệ tại các Khu công nghiệp, Khu chế xuất do có các doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài.
1.2.5. Vai trò trong việc giải quyết việc làm cho lao động trong nước Luận văn: Địa vị pháp lý doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Đứng ở góc độ lao động và việc làm thì sự có mặt của các doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài trong các Khu công nghiệp, Khu chế xuất đã tạo nên sự tác động tích cực trên cả hai phương diện: thu hút lao động, chống thất nghiệp và rèn luyện tác phong công nghiệp, nâng cao kỷ luật cho người lao động, tăng thu nhập và ổn định tình hình kinh tế – xã hội.
Tính đến cuối năm 2011, các Khu công nghiệp đã tạo ra việc làm cho hơn 1,8 triệu người làm việc trực tiếp và khoảng 2,5 triệu người làm việc gián tiếp. Số lượng lao động làm việc cho doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài ngày một tăng nhanh. Nguyên nhân chính là số tiền lương do các doanh nghiệp này trả cho người lao động khá cao, kèm với đó là điều kiện làm việc chuyên nghiệp, hiện đại, chế độ đãi ngộ tốt, thực hiện nghiêm chỉnh quy định pháp luật Lao đông như: thời giờ lao động, thời giờ nghỉ ngơi, đóng bảo hiểm xã hội, biện pháp an toàn, vệ sinh lao động… thu hút được một lượng lớn lao động trong nước, từ tầng lớp trí thức đến lao động phổ thông. Các doanh nghiệp nước ngoài trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất có xu hướng trả lương ngày một cao cho lao động Việt Nam. Mức lương khởi điểm cho người lao động từ 3-6 triệu/người/tháng là khá phổ biến, cao nhất cho lao động trí thức với vị trí giám đốc điều hành, trưởng phòng công nghệ sản xuất có thể lên tới 70 – 80 triệu/người/tháng.
Một số lượng đáng kể người lao động Việt Nam được đảm nhận các vị trí quản lý doanh nghiệp, được tiếp xúc với phương thức quản trị hiện đại, kỹ năng marketing, tổ chức nhân sự quy củ như trưởng phòng sale, trưởng phòng marketting, trưởng phòng nhân sự… Việc được làm việc trực tiếp trong môi trường nước ngoài có kỷ luật cao, yêu cầu tay nghề cao, giúp lao động Việt Nam lĩnh hội những kỹ năng, bản lĩnh làm việc và thích ứng nhanh hơn với một nền công nghiệp tiên tiến, hiện đại. Đây là những nhân tố tốt có tính lan tỏa đối với các lao động Việt Nam khác, khi họ tiếp thu đủ công nghệ sản xuất, trình độ quản lý và có vốn họ sẽ đứng ra tạo lập và làm chủ doanh nghiệp của mình tạo sự cạnh tranh lành mạnh đối với doanh nghiệp FDI họ đã từng phục vụ. Luận văn: Địa vị pháp lý doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Hiện nay nhu cầu tuyển lao động của các doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài vẫn rất cao. Riêng tại các Khu công nghiệp, Khu chế xuất tại Thành phố Hồ Chí Minh, “năm 2010, các doanh nghiệp cần tuyển dụng khoảng 15.000 lao động. Điển hình như Công ty Freetrend cần tuyển thêm 6.000 lao động, Công ty Nissei Electric cần tuyển thêm 2.000 lao động” [25]. Một số doanh nghiệp có chương trình phối hợp tổ chức tuyển sinh đào tạo cho lao động trong khu quy hoạch Khu công nghiệp, Khu chế xuất và tuyển dụng vào làm việc sau khi đã đào tạo. Một số Tập đoàn lớn như Panasonic, Samsung Việt Nam… đã tuyển kỹ sư ngay trong các trường đại học kỹ thuật của Việt Nam và đào tạo họ ngay trong quá trình học tập bằng cách tổ chức các lớp đào tạo, tổ chức thực tập tại nước ngoài hoặc họ thực hiện “đào tạo theo đơn đặt hàng” chủ doanh nghiệp FDI ký hợp đồng đào tạo với các Trường Đại học danh tiếng của Việt Nam để đào tạo theo tiêu chuẩn, yêu cầu kỹ năng của họ cả trong nước và nước ngoài, họ sẵn sàng bỏ tiền ra trả học phí, chi phí khác, cuối khóa sau khi tốt nghiệp họ kiểm tra lại trình độ và sinh viên được thụ hưởng chi phí đào tạo đạt yêu cầu cam kết làm việc tại Công ty của họ trong thời gian nhất định. Như vậy, nhóm doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài phát huy vai trò tích cực trong việc tạo công ăn việc làm, giải quyết tình trạng thất nghiệp cho lao động trong nước, đồng thời góp phần nâng cao đáng kể chất lượng nguôn nhân lực cho lao động Việt Nam.
1.3 LƯỢC SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP VÀ KHU CHẾ XUẤT
1.3.1. Pháp luật trong nước
- Pháp luật Việt Nam về doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài trong các Khu công nghiệp, Khu chế xuất từ 1986 -1992:
Trong những năm 1980, nước ta lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế trầm trọng, sự vận hành của cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp đã cản trở sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam, mức lạm phát lên tới trên 700% năm 1986. Đứng trước bối cảnh đất nước như vậy, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12 năm 1986) đã đề ra những chính sách hết sức đúng đắn, đánh dấu bước chuyển biến quan trọng, đưa nền kinh tế nước ta thoát khỏi khủng hoảng, mở ra công cuộc “đổi mới” toàn diện trên mọi mặt của đời sống xã hội, đặc biệt là trên lĩnh vực kinh tế. Có thể nói sự ra đời của pháp luật về Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong thời kì này xuất phát từ những yêu cầu khách quan của sự vận động xã hội, nó đã tạo ra được một môi trường pháp lý cao hơn để thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt nam. Chúng ta có Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam từ năm 1987, tiếp đó qua hai lần sửa đổi, bổ sung vào năm 1990 và năm 1992. Cùng với đó, chúng ta cũng ban hành một số văn bản dưới luật quy định về hoạt động của các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Luận văn: Địa vị pháp lý doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Các văn bản pháp luật thời kỳ này đã đưa ra khái niệm về xí nghiệp liên doanh, xí nghiệp 100% vốn nước ngoài. Tuy nhiên, đây là quy định áp dụng chung cho tất cả các doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài, vẫn chưa có một quy định riêng lẻ về doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài trong các Khu công nghiệp, Khu chế xuất. Bên cạnh đó, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất trong giai đoạn này chưa thực sự phát huy được vai trò của nó trong nền kinh tế, và do vậy, pháp luật về đầu trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam cũng chưa thể hiện một vị trí xứng đáng cho doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất.
Điểm nổi bật của giai đoạn này là sự ra đời của Quy chế Khu chế xuất ban hành kèm theo Nghị định số 322-HĐBT ngày 18/10/1991 của Hội đồng Bộ trưởng.
- Pháp luật Việt Nam về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong các Khu công nghiệp, Khu chế xuất từ 1992 – 2005:
Trong những năm đầu của giai đoạn này, thu hút đầu tư nước ngoài đã tăng rõ rệt. Điều này, khẳng định việc ban hành các quy định về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam là đúng đắn. Đầu tiên phải kể tới việc ban hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (sửa đổi) năm 1992. Văn bản có giá trị pháp lý bậc nhất này đã ghi nhận chính sách khuyến khích thu hút đầu tư nước ngoài vào các Khu công nghiệp, Khu chế xuất. Qua đó, các Khu công nghiệp, Khu chế xuất đã khẳng định vai trò quan trọng của mình trong nền kinh tế và chính sách chú trọng thu hút đầu tư vào các khu vực này của Chính phủ.
Bên cạnh đó, trong giai đoạn này, Chính phủ cũng đã ban hành Quy chế Khu công nghiệp kèm theo Nghị định số 192/CP ngày 28-12-1994 của Chính phủ. Theo quy định này, phiên bản đầu tiên của thuật ngữ doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất đã xuất hiện với tên gọi Xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất (Điều 3 Quy chế Khu công nghiệp ban hành kèm theo Nghị định 192/CP của Chính phủ). Tuy chưa có những quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất nhưng có thể nói Quy chế này là cơ sở cho hàng loạt các văn bản pháp luật sau đó quy định về các quyền lợi, nghĩa vụ cũng như các ưu đãi của doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài trong các Khu công nghiệp, Khu chế xuất.
Tiếp đó, vào giai đoạn mở cửa từ năm 1996, nhằm thu hút tốt hơn đầu tư nước ngoài, Quốc hội khóa 9 kỳ họp thứ 10 ngày 12/11/1996 đã thông qua Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996. Luật này đã “luật hóa” vấn đề Khu công nghiệp, Khu chế xuất và cho phép nhà đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng Khu công nghiệp. Đồng thời, các khái niệm về doanh nghiệp Khu công nghiệp, doanh nghiệp Khu chế xuất, cũng như các ưu đãi cho các đối tượng này đã rõ ràng hơn. Luận văn: Địa vị pháp lý doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Cùng với đó, hàng loạt các văn bản dưới luật đã được ra đời nhằm cụ thể hóa các quy định của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996. Có thể kể đến Nghị định 12/1997/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; Thông tư liên bộ 01/LB ngày 31/3/1997 của Tổng cục Thống kê và Bộ Kế hoạch đầu tư hướng dẫn công tác thống kê đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và Bên nước ngoài tham gia BCC; Thông tư 60-TC/CĐKT ngày 01/9/1997 hướng dẫn thực hiện công tác kế toán và kiểm toán đối với các doanh nghiệp, tổ chức có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; Thông tư 02/TT-NH7 ngày 28/6/1997 của Ngân hàng nhà nước hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài và bên nước ngoài tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh; Nghị định 08/1998/NĐ-CP ngày 22/01/1998 của Chính phủ về Quy chế thành lập Hiệp hội doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam; Công văn 1841/TCHQ-GSCL ngày 03/6/1998 của Tổng cục Hải quan về thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; Nghị quyết số 09/2001/NQ-CP ngày 28/08/2001 của Chính phủ về tăng cường thu hút và nâng cao hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài thời kỳ 2001-2005…. Đặc biệt phải kể đến Nghị định 10/1998/NĐ-CP ngày 23/01/1998 của Chính phủ về một số biện pháp khuyến khích và bảo đảm hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam và sau đó là Quyết định 53/1999/QĐ-TTg ngày 26/3/1999 của Thủ tướng Chính phủ về một số biện pháp khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài. Các quy định của Nghị định 10/1998/NĐ-CP về các địa bàn khuyến khích đầu tư, về các doanh nghiệp trong các địa bàn khuyến khích đầu tư chính là cơ sở để hình thành các quy định về các doanh nghiệp trong các Khu công nghiệp, Khu chế xuất trong Luật Đầu tư năm 2005 ra đời sau đó.
Qua hàng loạt các văn bản pháp luật quy định về hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, chủ trương thu hút đầu tư nước ngoài của Nhà nước ta được thể hiện rõ nét, đặc biệt là chính sách thu hút doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Khu công nghiệp, Khu chế xuất. Số dự án đầu tư nước ngoài cùng với số vốn đầu tư ở giai đoạn này tăng với tốc độ cao và tại các Khu công nghiệp, Khu chế xuất số dự án có vốn đầu tư nước ngoài lớn hơn nhiều so với số dự án đầu tư trong nước.
Trong giai đoạn từ 1995-1998, số dự án đầu tư nước ngoài (lũy kế) tăng bình quân hơn 40%/năm, số vốn đầu tư đăng ký (lũy kế) tăng bình quân 60%/năm, số lượng các dự án có vốn đầu tư nước ngoài lớn hơn từ 3-4 lần so với số dự án trong nước. Từ năm 1998 đến nay, số dự án đầu tư nước ngoài tăng bình quân 25% năm. Đến năm 2004, cả nước có trên 1700 dự án có vốn đầu tư nước ngoài, cao hơn 16% so với năm 2003 [2]. Luận văn: Địa vị pháp lý doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Về chính sách ưu đãi, Khu công nghiệp và Khu chế xuất đều được xác định là địa bàn được ưu đãi đầu tư, cụ thể là Khu công nghiệp được coi là địa bàn có điều kiện kinh tế- xã hội khó khăn và Khu chế xuất được coi là địa bàn có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn. Tùy theo lĩnh vực hoạt động là sản xuất hay dịch vụ hoặc có thuộc lĩnh vực được khuyến khích đầu tư hay không mà doanh nghiệp đầu tư vào các khu vực này có khả năng được hưởng ưu đãi thuế tốt nhất theo Nghị định số 164/2003/NĐ-CP và Nghị định số 152/2004/NĐ-CP. Doanh nghiệp đầu tư vào Khu chế xuất có thể được hưởng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 10% trong suốt thời gian hoạt động của dự án và miễn thuế 4 năm, giảm 50% số thuế thu nhập phải nộp 9 năm tiếp theo kể từ khi có thu nhập chịu thuế. Trong các quy định này vẫn song song tồn tại hai hệ thống pháp luật điều chỉnh đầu tư trong nước và Đầu tư nước ngoài với các qui định khá khác biệt về quyền và nghĩa vụ.
- Pháp luật Việt Nam về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong các Khu công nghiệp, Khu chế xuất từ 2005 – nay:
Luật Đầu tư năm 2005 ra đời thay thế Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và Luật Khuyến khích đầu tư trong nước. Khác cơ bản với Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trước đây, Luật Đầu tư 2005 đã thống nhất gộp hai đạo luật này lại với nhau, Luật Đầu tư được thiết kế theo hướng chỉ quy định các nội dung liên quan đến hoạt động đầu tư, còn các nội dung liên quan cụ thể được dẫn chiếu tới các luật chuyên ngành. Kèm theo Luật Đầu tư 2005 là một loạt các Luật khác được ban hành để đảm bảo tính đồng bộ như: Luật Thương mại 2005, Luật doanh nghiệp 2005, Luật Đất đai 2005… Pháp luật đã có những quy định thể hiện sự đối xử ngang bằng về quyền và lợi ích của các nhà đầu tư nước ngoài với nhà đầu tư trong nước. Trong đó chính thức ghi nhận nhiều quyền lợi đặc thù của nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào các khu vực này. Đáng chú ý là nhà đầu tư được thuê hoặc mua nhà xưởng, văn phòng, kho bãi đã xây dựng; được chuyển nhượng và nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thuê đất, thuê lại đất đã xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật trong khu công nghiệp, khu chế xuất để phục vụ sản xuất, kinh doanh (Điều 19.1 Nghị định số 108/2006/NĐ-CP). Các nhà đầu tư nước ngoài thuê đất 50 năm trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất đóng tiền một lần vẫn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và làm cơ sở để thế chấp vay vốn ngân hàng để quay lại tái đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh… Bên cạnh đó, về mặt luật định, thời gian cấp giấy chứng nhận đầu tư trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất được giới hạn tối đa 20 ngày làm việc đối với dự án thuộc diện phải thẩm tra cấp phép cũng sẽ nhanh hơn 1/2 so với đầu tư tại bên ngoài các khu vực này (Điều 49 Nghị định 108/2006/NĐ-CP). Ngoài ra, doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu đầu tư trong các khu vực này còn được lập kho bảo thuế. Đây là loại kho mà hàng hóa đưa vào sẽ chưa phải nộp thuế nhập khẩu, không phải làm thủ tục hải quan như hàng tạm nhập tái xuất… (Theo Điều 70 Nghị định số 108/2006/NĐ-CP).
Trước năm 2009 (thời điểm Nghị định số 124/2008/NĐ-CP có hiệu lực), doanh nghiệp đầu tư trong khu công nghiệp, khu chế xuất còn được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo diện đầu tư vào lĩnh vực ưu đãi đầu tư và địa bàn có điều kiện kinh tế- xã hội khó khăn. Bên cạnh đó, hoạt động tự đầu tư xây dựng chung cư cho công nhân làm việc tại các khu công nghiệp, khu chế xuất còn được hưởng ưu đãi theo diện đầu tư vào lĩnh vực đặc biệt ưu đãi đầu tư. Doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhà ở cho công nhân được giao đất không phải nộp thuế đất, các vật tư, máy móc thiết bị nhập khẩu phục vụ xây dựng không phải nộp thuế nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng…
Từ năm 2009, doanh nghiệp đầu tư mới vào khu công nghiệp và khu chế xuất không còn được hưởng ưu đãi theo các tiêu chí này. Các doanh nghiệp đang được hưởng ưu đãi được tiếp tục hưởng đến hết thời hạn hoạt động của Dự án. Riêng doanh nghiệp chế xuất chỉ được hưởng ưu đãi theo tỷ lệ xuất khẩu đến 31 tháng 12 năm 2011.
Mặc dù bị cắt giảm ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, doanh nghiệp đầu tư vào khu công nghiệp, khu chế xuất vẫn được hưởng các ưu đãi khác về tiền thuê đất, ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp do sử dụng nhiều lao động nữ, thủ tục hành chính, hải quan (trong các Khu công nghiệp lớn có Chi cục Hải quan phục vụ hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu của các doanh nghiệp trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất ví dụ như chi cục Hải quan Bắc Thăng Long, chi cục Hải quan Quế Võ, Bắc Ninh…).
1.3.2. Các Điều ước quốc tế có liên quan Luận văn: Địa vị pháp lý doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Có thể nói, từ rất sớm Việt Nam đã tham gia các Điều ước quốc tế song phương cũng như đa phương về hợp tác kinh tế quốc tế, và phần lớn Điều ước này đều dựa trên nguyên tắc đối xử quốc gia và đối xử tối huệ quốc khi điều chỉnh về vấn đề quyền và lợi ích của nhà đầu tư của các bên ký kết hoạt động tại nước sở tại. Ảnh hưởng lớn đến việc cải thiện môi trường đầu tư tại Việt Nam phải kể đến các Hiệp định song phương và đa phương sau đây: Hiệp định thương mại Việt Nam và Hoa Kỳ; Hiệp định Tự do, xúc tiến và bảo hộ đầu tư giữa Việt Nam và Nhật Bản; Hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN; Nghị định thư về việc gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) của Việt Nam, Việt Nam là thành viên của diễn đàn APEC, Công ước Oasington 1965 về giải quyết tranh chấp thương mại nhà đầu tư nước ngoài (Việt Nam là thành viên), Hiệp định Trips trong khuôn khổ WTO… Theo thống kê đến tháng 10 năm 2010, Việt Nam đã ký 76 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư với 76 quốc gia và vùng lãnh thổ.. Theo các điều ước quốc tế nêu trên, Việt Nam cam kết mở cửa thị trường cho tương đối rộng cho các nhà đầu tư nước ngoài, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng trong kinh doanh giữa các thành phần kinh tế.
Mặc dù không có Điều ước quốc tế nào quy định rõ ràng và trực tiếp về quyền và lợi ích của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất, nhưng với việc thực hiện các Điều ước quốc tế này đã gián tiếp tác động vào các doanh nghiệp FDI và cũng góp phần tạo sự bình đẳng tương đối giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp nội địa, giữa các doanh nghiệp nước ngoài với nhau trên toàn quốc và trong các Khu công nghiệp, Khu chế xuất.
Ngoài ra, các điều ước quốc tế cũng góp phần giúp các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm chi phí kinh doanh và được cạnh tranh công bằng trên cơ sở được hưởng giá dịch vụ công bằng với doanh nghiệp nội địa và giảm được sự độc quyền cung cấp dịch vụ. Ngoài ra, các điều ước quốc tế, đặc biệt là các cam kết liên quan đến việc Việt Nam gia nhập WTO còn tạo thêm sự đảm bảo về đầu tư và khuyến khích đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, tạo môi trường đầu tư minh bạch tại Việt Nam. Theo lộ trình Việt Nam cam kết với WTO, chúng ta đã mở cửa thị trường đối với cá ngành nghề trước đây chúng ta coi là nhạy cảm và luôn độc quyền như ngân hàng, dịch vụ tài chính, viễn thông, thương mại dịch vụ (quyền xuất nhập khẩu, quyền phân phối đối với hầu hết các mặt hàng như điện, điện tử, hàng tiêu dùng…). Luận văn: Địa vị pháp lý doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Pháp luật địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Giải pháp địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài