Luận văn: Giải pháp địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng thực thi pháp luật địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong các Khu công nghiệp, Khu chế xuất và đề xuất giải pháp dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1 THỰC TRẠNG THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP, KHU CHẾ XUẤT

Có thể nói, một trong những mục tiêu quan trọng khi thành lập Khu công nghiệp, Khu chế xuất là thu hút vốn đầu tư, công nghệ tiên tiến, hiện đại của thế giới và trình độ quản lý cao, đặc biệt là nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Thông qua việc thu hút đầu tư nước ngoài, chúng ta có thể học hỏi kinh nghiệm quản lý, tiếp thu công nghệ mới, học tập tác phong công nghiệp, tạo hiệu ứng lan tỏa, đẩy mạnh tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Chính vì tầm quan trọng của việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài, Chính phủ đã nỗ lực hoàn thiện pháp luật về Khu công nghiệp, Khu chế xuất, trong đó có quy định về địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, một loại hình doanh nghiệp được đánh giá là đòn bẩy tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội. Qua đó, tạo tiền đề cho hoạt động của các doanh nghiệp này trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất được hiệu quả nhất.

3.1.1. Những kết quả đạt được trong quá trình thực thi pháp luật về địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong khu công nghiệp, khu chế xuất

Kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư FDI cho nền kinh tế ở nhiều nước cho thấy việc hoàn thiện chính sách về địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là một trong những biện pháp trọng tâm nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc đăng ký, hoạt động, giải ngân, nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp FDI ở thị trường quốc tế. Trong thời gian qua, Nhà nước ta đã có nhiều chính sách nhằm thu hút đầu tư vào các Khu công nghiệp, Khu chế xuất trong đó có các chính sách nhằm cải thiện địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Trên thực tế, các chính sách này đã thu được những kết quả nhất định.

Có thể nói các quy định về địa vị pháp lý của doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất nói riêng trong thời gian qua đã luôn được Nhà nước quan tâm hoàn thiện. Hiện nay, các quy định này đã khá cụ thể, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

KCN, Khu chế xuất ở Việt Nam được hình thành từ những năm đầu của thập niên 1990 nhằm thực hiện 5 mục tiêu kinh tế quan trọng của nước ta: (1) thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước; (2) giải quyết việc làm cho người lao động; (3) du nhập kỹ thuật và học tập kinh nghiệm quản lý tiên tiến của các nước phát triển trên thế giới; (4) nâng cao năng lực xuất khẩu, tạo nguồn thu ngoại tệ cho đất nước; (5) thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trải qua hơn 20 năm xây dựng và phát triển, các Khu công nghiệp, Khu chế xuất Việt Nam đã đạt được những thành tựu nhất định, góp phần phát triển kinh tế – xã hội đất nước, cụ thể: Luận văn: Giải pháp địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.

  • Thu hút vốn đầu tư:

Tính đến tháng 6/2011 Việt Nam có 257 Khu công nghiệp, Khu chế xuất thành lập tại 57 tỉnh, thành phố, thu hút 8.600 dự án đầu tư với tổng vốn đầu tư 71 tỷ USD (trong đó 3.879 dự án nước ngoài với tổng vốn đăng ký 53 tỷ USD và 4.771 dự án trong nước với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 315 nghìn tỷ đồng). Vốn đầu tư thực hiện của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt gần 18 tỷ đồng chiếm 33,5% tổng vốn đầu tư đăng ký; vốn thực hiện của doanh nghiệp trong nước đạt gần 134 nghìn tỷ đồng, chiếm 43% tổng vốn đầu tư đăng ký. Tổng giá trị sản xuất công nghiệp tăng đều hàng năm, mỗi năm từ 20-27 tỷ USD, chiếm 60% giá trị sản xuất toàn ngành, chiếm trên 40% kim ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp.

  • Giải quyết việc làm:

Tính đến cuối năm 2011, các Khu công nghiệp, Khu chế xuất đã thu hút được trên 1,7 triệu lao động, trong đó lao động từ các tỉnh thành khác trong nước chiếm khoảng 70% và lao động nữ chiếm 53% tổng số lao động, tốc độ tăng của lao động được tuyển dụng bình quân hàng năm là 53,82%/năm.

  • Về trình độ công nghệ

Thời gian đầu của quá trình phát triển Khu công nghiệp, Khu chế xuất ở nước ta chịu tác động của sự chuyển dịch sản xuất công nghiệp từ những nước phát triển sang những nước đang phát triển, nơi có nguồn lao động dồi dào, giá rẻ, các quy định về môi trường, công nghệ chưa chặt chẽ. Đồng thời, tiêu chí “lấp đầy” để giải quyết việc làm cho người lao động, tiếp cận công nghệ, nguồn vốn và trình độ quản lý từ nước ngoài nên chưa có sự chọn lọc dự án đầu tư. Càng về sau, với những kinh nghiệm và định hướng phát triển cho Khu công nghiệp, Khu chế xuất ngày càng đi vào chiều sâu, phát triển sản xuất ưu tiên các dự có trình độ khoa học kỹ thuật cao, sản phẩm trí tuệ, có chất xám.

  • Về kinh ngạch xuất khẩu:

Từ năm 1998 đến nay, các doanh nghiệp trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất liên tục xuất siêu, tổng trị giá xuất siêu lũy kế đến 30/10/2011 là 3.856 tỷ USD, góp phần bổ sung ngoại tệ cho đất nước, ổn định và phát triển sản xuất kinh doanh. Hàng hóa từ Khu công nghiệp, Khu chế xuất xuất đến hơn 75 quốc gia trên thế giới, trong đó tập trung vào thị trường Nhật Bản (24%), EU (14%), Mỹ (9%)… Luận văn: Giải pháp địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.

  • Về thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội:

Trước đây những tỉnh miền núi, vùng sâu vùng xa, đặc biệt những huyện nông thôn ngoại thành thị, vùng ven chủ yếu là đầm lầy, hoang hóa, vùng đất bạc màu có giá trị sản xuất nông nghiệp và công nghiệp thấp, dân cư thưa thớt, cơ sở hạ tầng yếu và thiếu. Sau khi những Khu công nghiệp, Khu chế xuất được hình thành những nơi này trở thành những nơi sản xuất công nghiệp có giá trị gia tăng cao, có hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội phát triển khang trang hơn, điều kiện sống, thu nhập của bà con được cải thiện. Ví dụ như huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh năm 2000 giá trị sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh là 10.525 triệu đồng thì đến năm 2010 là 144.163 triệu đồng, tăng gấp 13 lần. Bên cạnh đó, sự hành thành khu chế xuất Tân Thuận đã mở ra đường Bắc Nhà Bè Nam Bình Chánh (nay là đại lộ Nguyễn Văn Linh) với khu đô thị mới Phú Mỹ Hưng hiện đại, mở ra khu công nghiệp Hiệp Phước, nhà máy điện Hiệp Phước cùng với hệ thống cảng tổng hợp. Những yếu tố này đã đặt một nền móng vững chắc cho sự chuyển mình của một vùng nông nghiệp lạc hậu trở thành một vùng đô thị công nghiệp phát triển.

Các con số nêu trên đã phần nào phản ánh được thành tựu quá trình thực thi pháp luật về địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

3.1.2. Những vướng mắc, tồn tại Luận văn: Giải pháp địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.

Đạt được những thành tựu nêu trên, ngoài sự nỗ lực của bản thân từng doanh nghiệp, còn phải kể đến sự hỗ trợ tích cực của hệ thống cơ chế, chính sách của nhà nước đã đảm bảo cho các doanh nghiệp FDI yên tâm sản xuất, hoạt động kinh doanh tại Khu công nghiệp, Khu chế xuất. Mặc dù Nhà nước có rất nhiều nỗ lực như vậy, tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đã có nhiều cải thiện nhưng kết quả đạt được vẫn chưa xứng với tiềm năng và lợi thế của Việt Nam, việc thực thi quy định pháp luật về địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại các Khu công nghiệp, Khu chế xuất vẫn còn có những hạn chế nhất định.

  • Về sử dụng đất tại Khu công nghiệp, Khu chế xuất

Mặc dù Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo ra một hành lang pháp lý tương đối đầy đủ cho hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và góp phần giúp cho việc khai thác và sử dụng đất ngày càng có hiệu quả hơn. Đặc biệt, sự ra đời của Nghị định 29/2008/NĐ-CP đã đóng góp tích cực cho việc xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng Khu công nghiệp, Khu chế xuất, tạo thuận lợi cho hoạt động của doanh nghiệp trong các khu vực này. Tuy nhiên, một số quyền lợi của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Khu công nghiệp, Khu chế xuất về đất đai như quyền chuyển nhượng, cho thuê, quyền thế chấp đất đai vẫn chưa được quy định cụ thể. Bên cạnh đó, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chỉ được sử dụng đất theo hình thức thuê mà không được giao đất có thu tiền sử dụng đất như doanh nghiệp trong nước. Mặt khác, tại thời điểm hiện nay, phương thức trả tiền thuê đất cũng bị giới hạn chỉ còn trả tiền thuê đất hàng năm và trả tiền thuê đất toàn bộ cho cả thời hạn thuê. Do đó, doanh nghiệp không còn cơ hội được hưởng nhiều quyền lợi hơn theo chế độ trả tiền thuê đất trong nhiều năm.

Bên cạnh đó, mô hình phát triển hạ tầng kỹ thuật trong các Khu công nghiệp, Khu chế xuất cũng đang là nguyên nhân dẫn tới khó khăn cho các doanh nghiệp hoạt động tại đây. Hiện nay, mô hình này đang được thực hiện theo hình thức Nhà nước cho doanh nghiệp phát triển hạ tầng thuê đất để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, hoặc thuê lại đất để phát triển hạ tầng. Khi có nhu cầu đầu tư vào Khu công nghiệp, Khu chế xuất, các doanh nghiệp sẽ phải thuê lại đất của các doanh nghiệp phát triển hạ tầng nói trên. Mô hình này có mặt tích cực là giúp doanh nghiệp tiết kiệm thời gian xây dựng hạ tầng, đảm bảo quy hoạch của Khu công nghiệp, Khu chế xuất. Tuy nhiên, do chính đặc điểm của mô hình này mà doanh nghiệp khi đầu tư vào Khu công nghiệp, Khu chế xuất sẽ phải chịu giá thuê đất bao gồm giá đất thô cộng với chi phí giải tỏa, chí phí đầu tư phát triển hạ tầng và lợi nhuận của doanh nghiệp phát triển hạ tầng. Mức lợi nhuận này lại không có tiêu chí để đánh giá hợp lý, mặt khác theo quy định của Luật Đầu tư, Nghị định 29/2008/NĐ-CP thì mức giá doanh nghiệp kinh doanh hạ tầng cho doanh nghiệp Khu công nghiệp thuê phải có sự thỏa thuận với cơ quan quản lý nhà nước là Ban quản lý các Khu công nghiệp, Khu chế xuất nhưng trên thực tế, mức giá thuê đất là sự thỏa thuận của các doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước đứng ngoài cuộc, do nhu cầu đầu tư vào Khu công nghiệp, Khu chế xuất khá lớn, do vậy các doanh nghiệp hoạt động trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất thường bị ép thuê với giá khá cao. Ngoài ra, việc chưa có sự phân biệt giữa quyền cho thuê đất chưa có cơ sở hạ tầng (đất thô) và quyền cho thuê đất đã có cơ sở hạ tầng cũng dẫn tới việc khó quản lý về mặt nhà nước. Luận văn: Giải pháp địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.

Theo quy định, chu kỳ tính giá thuê đất là năm năm thay đổi một lần, như vậy, trong vòng 50 năm hoạt động của dự án (thời hạn tối đa), nhà đầu tư phải có 10 lần điều chỉnh giá và không có khống chế mức điều chỉnh. Thông thường mức giá của lần điều chỉnh sau bao giờ cũng cao hơn lần trước với tỷ lệ chênh lệch giá khá lớn, gây bất hợp lý với doanh nghiệp thuê đất. Doanh nghiệp thuê đất cho rằng họ chấp nhận giá thuê đất lần đầu ký kết cao là do họ phải chịu chi phí giải phóng mặt bằng, đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật…, sau 10 đến 20 năm chủ đầu tư hoàn vốn, thu được lợi nhuận, hết khấu hao công trình, giá thuê phải hạ xuống, nhưng trên thực tế các doanh nghiệp thuê đát luôn phải chịu giá thuê đất sau mỗi lần điều chỉnh giá cao hơn. Đến kỳ điều chỉnh giá, các doanh nghiệp hoạt động trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất nhận được văn bản yêu cầu điều chỉnh giá thuê, theo mức ấn định của chủ đầu tư là Công ty kinh doanh hạ tầng kỹ thuật Khu công nghiệp, Khu chế xuất mà không cần sự thỏa thuận của doanh nghiệp trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất, các doanh nghiệp thứ phát không đồng ý hay chấp nhận mức giá mới sẽ bị Chủ đầu tư hạ tầng dùng biện pháp cắt điện, nước… gây khó khăn không thể sản xuất kinh doanh được, mà các doanh nghiệp này cũng không thể chấm dứt hợp đồng thuê đất trước thời hạn do đã đầu tư một số tiền lớn xây dựng nhà máy, dây chuyền máy móc, thiết bị sản xuất kinh doanh… Quy định này làm cho nhà đầu tư phát triển hạ tầng không thể dự tính được tiền thuê đất của mình còn các doanh nghiệp thuê đất trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất thì không thể trù tính được giá đầu vào cho những năm sau do không thể dự tính được tiền thuê đất của nhiều năm sau. Thực tế cho thấy, Bảng giá đất của các tỉnh mỗi năm đều thay đổi hàng chục phần trăm. Đây là một rủi ro lớn đối với doanh nghiệp đang sử dụng đất thuê lại đất có hạ tầng của Công ty kinh doanh và phát triển cơ sở hạ tầng các Khu công nghiệp, Khu chế xuất.

  • Về lao động:

Từ lâu, khi đánh giá ưu điểm của Việt Nam trong việc thu hút đầu tư nước ngoài, tiêu chí nguồn nhân lực rồi rào, nhân công rẻ luôn được nhắc tới và được coi là một lợi thế cạnh tranh. Tuy nhiên, đây chưa hẳn đã là ưu điểm khi ngày càng có nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có nhu cầu tuyển dụng một lực lượng lớn lao động có kỹ thuật và tay nghề cao trong khi đó, hầu hết lực lượng lao động tại các địa phương không đáp ứng được nhu cầu này. Hiện nay, “nhân lực có trình độ đại học và trên đại học trong các Khu công nghiệp chỉ chiếm 4,5% tổng số lao động; công nhân kỹ thuật đã qua đào tạo chỉ chiếm 31% tổng số lao động; trong khi đó lao động giản đơn lại chiếm đến 60% tổng số lao động” [11]. Đây là một khó khăn cho các doanh nghiệp khi muốn thực hiện việc đầu tư của mình. Trên một khía cạnh nào đó, việc thiếu lao động đã làm ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền thuê, tuyển lao động của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong các Khu công nghiệp, Khu chế xuất.

Về sử dụng và quản lý lao động nước ngoài trong các Khu công nghiệp, Khu chế xuất, hiện Chính phủ đã bỏ quy định hạn chế tỷ lệ lao động nước ngoài được sử dụng tại doanh nghiệp. Sự ra đời của Nghị định số 34/2008/NĐ-CP đã tháo gỡ nhiều khó khăn và sức ép về lao động có trình độ chuyên môn và trình độ ngoại ngữ cho doanh nghiệp trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất. Tuy nhiên, văn bản này vẫn tồn tại một số quy định về sử dụng lao động nước ngoài đang gây vướng mắc trên thực tế. Cụ thể, theo khoản 3 Điều 3 Nghị định 34/2008/NĐ-CP quy định một trong những điều kiện với lao động nước ngoài để được làm việc tại Việt Nam là lao động đó phải “là nhà quản lý, giám đốc điều hành hoặc chuyên gia”. Tuy nhiên, tại khoản 1 Điều 20 lại quy định: Đối với người nước ngoài tại Việt Nam bao gồm học sinh, sinh viên. phu nhân, phu quân, người giúp việc và người nước ngoài không thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 1 của Nghị định này có nhu cầu làm việc cho các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân tại Việt Nam thì không phải làm hồ sơ, thủ tục đề nghị cấp giấy phép lao động. Như vậy, có thể hiểu, pháp luật mở đường cho việc sử dụng lao động nước ngoài là lao động phổ thông. Trên thực tế, với quy định này rất khó kiểm soát được việc lạm dụng tuyển dụng lao động phổ thông từ nước ngoài và làm ảnh hưởng đến việc làm của lao động trong nước. Bên cạnh đó, theo quy định tại Nghị định 34/2008/NĐ-CP, lao động nước ngoài làm việc theo hình thức di chuyển nội bộ phải làm thủ tục đề nghị cấp giấy phép lao động trước khi người nước ngoài đến làm việc tại Việt Nam ít nhất 20 ngày. Tuy nhiên, quy định về hồ sơ đề nghị cấp phép lao động lại cần một số thủ tục như: khám sức khỏe, bản khai lý lịch tự thuật tại Việt Nam. Như vậy, thật khó cho doanh nghiệp trong việc lựa chọn làm thủ tục nào trước để đảm bảo các điều kiện được đặt ra.

Trong Nghị định 34/2008/NĐ-CP còn có bất cập bị cho là không phù hợp với các quy định trong quá trình hội nhập WTO là việc lao động nước ngoài làm việc theo hình thức hợp đồng lao động phải được tuyển dụng tại Việt Nam. Trên thực tế, các doanh nghiệp sẽ phải thực hiện việc tuyển dụng ở nước ngoài rồi điều chuyển sang Việt Nam vì ở Việt Nam thì rất khó có lao động nước ngoài phù hợp với yêu cầu tuyển dụng. Luận văn: Giải pháp địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.

Ngoài ra, nhiều vấn đề trong Bộ luật Lao động cũng chưa có hướng dẫn phù hợp với điều kiện đặc thù của doanh nghiệp hoạt động trong các Khu công nghiệp, Khu chế xuất ở xa khu dân cư. Chẳng hạn như quy định tại Điều 115 Bộ luật Lao động cho phép lao động nữ có thai, nuôi con dưới 1 tuổi được nghỉ sớm hơn 1 giờ những vẫn được trả đủ lương. Trong các trường hợp này, người lao động cũng không thấy thoải mái khi được nghỉ sớm vì phải tự lo phương tiện đi lại do Khu công nghiệp, Khu chế xuất chỉ có xe đưa đón vào giờ cố định. Tuy nhiên, nếu linh hoạt cộng dồn và bố trí cho người lao động được nghỉ bù vào một số ngày trong tháng thì doanh nghiệp có thể bị xử phạt do bị xem là không tuân thủ pháp luật lao động hoặc yêu cầu người lao động làm thêm giờ nhưng không trả khoản tiền chênh lệch.

Tóm lại, với các chính sách về lao động còn nhiều bất cập nên trên, doanh nghiệp đầu tư trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất đã phần nào gặp khó khăn trong quá trình sử dụng lao động.

  • Về chính sách ưu đãi:

Thời điểm trước năm 2005, Luật đầu tư nước ngoài quy định chỉ được chuyển tối đa 3% lợi nhuận trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh ra nước ngoài và việc này được ghi nhận ngay trong Giấy phép đầu tư, Giấy chứng nhận đầu tư các dự án của các Công ty nước ngoài. Nhưng kể từ sau năm 2005, quy định này đã được bãi bỏ. Các nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào một nước sở tại họ thường quan tâm quyền, nghĩa vụ của họ ở nước sở tại là gì. Các chính sách ưu đãi của họ như thế nào… Theo quy định của Nghị định 108/2008/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư thì đầu tư vào Khu công nghiệp, Khu chế xuất được coi là địa bàn ưu đãi đầu tư theo phụ lục I, Nghị định này và các dự án đầu tư vào Khu công nghiệp, Khu chế xuất “được hưởng ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp như chỉ phải chịu thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 15% trong 12 năm kể từ khi bắt đầu hoạt động, được miễn 3 năm kể từ khi có thu nhập chịu thuế và giảm 50% trong 7 năm tiếp theo” [28]. Tuy nhiên, kể từ 01/01/2009 khi Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp 2008 có hiệu lực và sự ra đời của Nghị định 87/2010/NĐ-CP thì những ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp nói trên không còn nữa. Các ưu đãi đối với doanh nghiệp chế xuất như được miễn thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng cũng chỉ áp dụng đến hết năm 2011. Điều này làm giảm bớt sức hấp dẫn của việc đầu tư vào Khu công nghiệp, Khu chế xuất. Luận văn: Giải pháp địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.

  • Bên cạnh đó, như đã trình bày ở trên, doanh nghiệp đầu tư vào các khu vực này cũng không còn được hưởng ưu đãi về thuế nhập khẩu nữa.

Vấn đề giảm vốn điều lệ: Luật doanh nghiệp Việt Nam 2005 quy định Công ty TNHH một thành viên chỉ được tăng mà không được giảm vốn điều lệ. Tuy nhiên, Nghị định 25/2010/NĐ-CP lại quy định Công ty TNHH một thành viên do nhà nước sở hữu 100% vốn nhà nước được giảm vốn điều lệ. Điều này cho thấy còn có sự phân biệt giữa doanh nghiệp nhà nước làm chủ sở hữu và doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác, nhất là trong điều kiện các doanh nghiệp FDI bị lỗ, không có điều kiện bổ sung vốn mà muốn giảm vốn điều lệ tương ứng với số lỗ. Theo tác giả Luận văn đây là vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu đẻ có những quy định phù hợp, thống nhất thực hiện đối với các doanh nghiệp nhằm xóa bỏ mọi sự phân biệt giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế.

Vấn đề môi trường: Các chủ đầu tư kinh doanh phát triển hạ tầng Khu công nghiệp, Khu chế xuất chưa quan tâm đúng mức đến việc xây dựng nhà máy xử lý nước thải do quy định của pháp luật còn chưa chặt chẽ Luật quy định trường hợp Khu công nghiệp, Khu chế xuất có tỷ lệ lấp đầy từ 70% trở lên, chủ đầu tư hạ tầng kỹ thuật phải đầu tư xây dựng nhà máy xử lý nước thải tập trung), mặt khác việc đầu tư xây dựng nhà máy xử lý nước thải tốn kém rất nhiều tiền, việc thu hồi vốn rất chậm do thu phí của doanh nghiệp đăng ký xử lý tính theo m3 nước thải hoặc kg chất thải rắn. Chính vì vậy, trong các Khu công nghiệp, Khu chế xuất còn hiện tượng vi phạm về môi trường, đơn cử như trường hợp Công ty United Motor (UMV) trong Khu công nghiệp Nội Bài, Sóc Sơn, Hà Nội là doanh nghiệp chuyển lắp ráp, sản xuất phụ tùng xe máy, Công ty dùng rất nhiều hóa chất tẩy rửa, hóa chất sơn càng, khung xe máy làm mùi sơn, bụi sơn ảnh hướng đến doanh nghiệp xung quanh, nước thải của doanh nghiệp này không được xử lý triệt để mà xả thải trực tiếp vào hệ thống nước thải chung của Khu công nghiệp, nồng độ nước thải không đạt chuẩn cho phép… dẫn đến ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt của dân cư xung quanh Khu công nghiệp, gây chết hoa màu của nhân dân dẫn đến khiếu kiện kéo dài. Vừa qua, đoàn kiểm tra liên ngành do Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì đã lập biên bản, xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường đối với công ty United Motor.

Đồng thời một nghịch lý nữa đang xảy ra là một số Khu công nghiệp, Khu chế xuất đã đầu tư xây dựng nhà máy xử lý nước thải tập trung hiện đại với tổng vốn đầu tư 300-500 tỷ đồng, thì tần suất sử dụng rất ít (công suất chỉ đạt 20%-30%), không phải do chủ đầu tư không khảo sát, tính toán nhu cầu trước xây dựng mà do phí xử lý 1 m3 nước thải quá cao so với khả năng của doanh nghiệp sản xuất. Do vậy, các doanh nghiệp chọn giải pháp trốn tránh sự kiểm soát của cơ quan có thẩm quyền và xả thải trực tiếp vào hệ thống xử lý nước thải chung của toàn Khu công nghiệp, Khu chế xuất.

  • Mối liên kết với các doanh nghiệp bên ngoài: Luận văn: Giải pháp địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.

Trong thời gian qua, lượng vốn FDI vào các Khu công nghiệp của nước ta đã tăng từ mức chỉ vài triệu USD năm 1991 lên khoảng 10 tỷ USD năm 2000 và 41 tỷ USD năm 2008. Tính đến cuối năm 2008, các Khu công nghiệp đã thu hút hơn 3.360 dự án đầu tư nước ngoài, chiếm 35,7% tổng số dự án đầu tư nước ngoài và 36% tổng lượng vốn FDI của cả nước.

Mặc dù số lượng này thể hiện sự tăng lên rõ rệt số lượng doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại các Khu công nghiệp, Khu chế xuất nhưng có một thực tế đáng buồn là mối liên kết giữa các doanh nghiệp này với các doanh nghiệp trong nước còn rất yếu. Sự thiếu liên kết này thể hiện ở việc các Khu công nghiệp luôn có thâm hụt thương mại, chênh lệch nhập khẩu – xuất khẩu ngày càng tăng (năm 2006 lên tới 4,5 tỷ USD). Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thường nhập khẩu hầu hết các máy móc, thiết bị từ công ty mẹ và chi nhánh khác ở nước ngoài trong khi các cơ sở sản xuất của họ tại các Khu công nghiệp chỉ là nơi gia công để xuất khẩu tranh thủ các ưu đãi về thuế hay nhân công rẻ.

Nguyên nhân của tình trạng này không phải nằm ở chỗ các danh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có thành kiến với doanh nghiệp Việt Nam mà lý do nằm ở chỗ năng lực của các doanh nghiệp trong nước không thể đáp ứng được những yêu cầu mà doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cần. Ví dụ trong lĩnh vực sản xuất ôtô, “hai dòng sản phẩm Toyota Việt Nam và Innova đang sử dụng khoảng 9% linh kiện, phụ tùng từ các doanh nghiệp Nhật Bản đang hoạt động tại Việt Nam, 1% từ các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam và chưa có doanh nghiệp Việt Nam nào tham gia vào chuỗi sản xuất này” [34].

Điều đó đồng nghĩa với việc các sản phẩm này khi chế tạo tại Việt Nam sẽ phải bao gồm thêm những chi phí lớn do phải nhập khẩu linh kiện làm giảm sức cạnh tranh của sản phẩm. Đây là một trong những lý do quan trọng làm cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nản chí.

Nguyên nhân tiếp theo cần phải nhắc đến là sự thiếu vắng các cơ sở hạ tầng tri thức xung quanh các Khu công nghiệp, Khu chế xuất. Thêm vào đó, mặc dù Chính phủ và chính quyền địa phương có đưa ra chính sách hỗ trợ nghiên cứu và phát triển (R&D), hỗ trợ nguồn nhân lực nhưng những chương trình này còn rời rạc, hiệu quả mà nó đem lại chưa cao. Có thể nói, nếu không sớm khắc phục được tình trạng này thì việc xây dựng các Khu công nghiệp, Khu chế xuất rất khó để đạt được mục đích chuyển giao công nghệ, phát triển ngành công nghiệp quốc gia khi mà phần lớn đều là hoạt động gia công cho phía nước ngoài và công nghiệp nhỏ lẻ.

Hiện nay pháp luật hiện hành của Việt Nam chỉ cho phép thực hiện hoạt động công nghiệp và dịch vụ công nghiệp phục vụ xuất khẩu trong Khu chế xuất. Quy định này trên thực tế cản trở khá nhiều đến hoạt động của doanh nghiệp trong Khu chế xuất. Trong khi đó, các nước và vùng lãnh thổ như Trung Quốc, Thái Lan, Đài Loan cho phép mở khu thương mại tự do trong Khu chế xuất. Đây là những quy định tích cực, giúp mở rộng hoạt động của Khu chế xuất, tạo điều kiện cho Khu chế xuất phát triển.

3.2 SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC HOÀN THIỆN ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP, KHU CHẾ XUẤT Luận văn: Giải pháp địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.

Sự cần thiết của việc hoàn thiện địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong các Khu công nghiệp, Khu chế xuất:

Trước bối cảnh Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế toàn cầu, để góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, góp phần phát triển kinh tế – xã hội đất nước và đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì việc điều chỉnh địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cho phù hợp với từng giai đoạn là rất cần thiết. Thông qua việc nghiên cứu thực trạng thực thi pháp luật về địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất, ta có thể rút ra một số nhận xét:

Hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nói chung, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất nói riêng đã đóng góp đáng kể cho nền kinh tế Việt Nam thể hiện trên các khía cạnh như thu hút vốn Đầu tư nước ngoài tăng nhanh kèm theo đó là khoa học công nghệ mới, hiện đại của thế giới, trình độ quản lý cao, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống cho người lao động, đóng góp một phần không nhỏ vào GDP của nước sở tại… Hoạt động đầu tư của những doanh nghiệp này thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đẩy nhanh việc chuyển giao công nghệ, tăng GDP cho đất nước.

Các quy định về địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất đã được cải thiện đáng kể. Pháp luật đã tạo cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất địa vị pháp lý bình đẳng so với doanh nghiệp trong nước. Đây là động lực thúc đẩy hoạt động của các doanh nghiệp này tại Việt Nam, đồng thời cũng phù hợp với những cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO.

Việc hoàn thiện địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam nói chung, tạo ra sự minh bạch, rõ ràng trong hệ thống pháp luật Việt Nam, tạo môi trường đầu tư hấp dẫn. Chúng ta đang tham gia sân chơi không chỉ ở tầm khu vực mà trên toàn thế giới, đòi hỏi hệ thống pháp luật của chúng ta phải được xây dựng phù hợp với các quy định, thông lệ của quốc tế. Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng và mạnh mẽ, việc hoàn thiện pháp luật về địa vị pháp lý của doanh nghiệp FDI trong các Khu công nghiệp, Khu chế xuất nói riêng và hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung là một đòi hỏi bức thiết. Luận văn: Giải pháp địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.

Tuy nhiên, việc thực thi pháp luật về địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất còn tồn tại một số hạn chế nhất định như các quy định về sử dụng đất trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất; về sử dụng lao động nước ngoài…làm ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp này.

Chính vì tầm quan trọng của loại hình doanh nghiệp này, việc hoàn thiện địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là việc làm hết sức cần thiết. Cải thiện địa vị pháp lý cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng chính là việc dọn đường cho các nhà đầu tư nước ngoài đẩy mạnh đầu tư vào Việt Nam.

Yêu cầu đặt ra đối với pháp luật về địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong các Khu công nghiệp, Khu chế xuất:

Để xây dựng được hành lang pháp lý tốt, pháp luật điều chỉnh các vấn đề liên quan cần đạt được các tiêu chí sau đây:

  • Rõ ràng, minh bạch.
  • Khắc phục được những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn thực thi pháp luật và trong quy định pháp luật có liên quan.
  • Xây dựng pháp luật về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải đảm bảo hài hòa lợi ích với các doanh nghiệp trong nước, phát huy thế mạnh của Việt Nam về sự ổn định chính trị, lao động trẻ.

Đảm bảo phù hợp với đặc điểm riêng do tính chất khu vực tạo nên của các doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài trong các Khu công nghiệp, Khu chế xuất. Điều này thể hiện trong việc, ngoài bị chi phối bởi các quy định chung như những doanh nghiệp khác, các doanh nghiệp này còn chịu sự chi phối của quy chế, điều lệ riêng biệt của từng Khu công nghiệp, Khu chế xuất. Về vị trí địa lý, những doanh nghiệp này hoạt động trong một khu vực riêng, có hàng rào ngăn cách với bên ngoài, quan hệ trao đổi giữa Khu chế xuất với trong nước là quan hệ xuất nhập khẩu, chịu sự quản lý, giám sát của cơ quan hải quan. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp này phải chịu sự quản lý của Ban quản lý Khu công nghiệp, Khu chế xuất. Như vậy, pháp luật đối với những doanh nghiệp trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất cũng phải thể hiện được những đặc thù riêng nói trên mà không làm mất đi những ưu thế khi hoạt động sản xuất kinh doanh trong khu vực này.

Khi thực hiện được những yêu cầu nêu trên, cánh cửa cho nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Khu công nghiệp, Khu chế xuất mới thực sự được rộng mở và tăng sức hấp dẫn. Luận văn: Giải pháp địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.

3.3 CÁC GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP, KHU CHẾ XUẤT

3.3.1. Hoàn thiện pháp luật liên quan đến môi trường đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

  • Hoàn thiện chính sách thuế và ưu đãi tài chính trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất

Chính sách thuế và ưu đãi tài chính gắn với hoàn thiện và phát triển Khu công nghiệp, Khu chế xuất là yếu tố chủ yếu cấu thành tính hấp dẫn của môi trường đầu tư vào Khu công nghiệp, Khu chế xuất. Chính sách thuế và những ưu đãi tài chính cần được tiếp tục được duy trì, bổ sung và hoàn thiện có hệ thống, ổn định hơn trên cơ sở có nghiên cứu các quy định tương ứng của các nước trong khu vực.

Khi đã bãi bỏ chính sách ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp cho doanh nghiệp thành lập mới trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Nhà nước ta nên tìm biện pháp khác nhằm khuyến khích đầu tư vào các khu vực này. Có thể áp dụng các biện pháp tăng cường ưu đãi tài chính cho các nhà đầu tư thông qua hệ thống giá cả áp dụng đối với nhà đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp trong nước như giá điện, nước, cước vận tải, bưu điện, hàng không…

  • Cần nâng cao hiệu lực và hiệu quả của các biện pháp ưu đãi tài chính, cải cách thủ tục hành chính như giải quyết nhanh các vấn đề hoàn thuế, thủ tục hải quan cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
  • Cần đảm bảo tín dụng vốn vay cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất kể cả đối với doanh nghiệp phát triển hạ tầng. Luận văn: Giải pháp địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.

3.3.2. Đổi mới quan niệm về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

Từ khi đất nước ta tiến hành đổi mới, mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế đến nay, Nhà nước đã tích cực thay đổi những chính sách sao cho phù hợp nhằm đổi mới quan niệm về đối tượng này. Từ việc chỉ coi trọng sở hữu nhà nước, không khuyến khích các ngành kinh tế tư nhân phát triển, hiện nay Nhà nước ta đã có nhiều chính sách tạo thuận lợi cho hoạt động của mọi ngành kinh tế. Năm 2006, Việt Nam chính thức là thành viên WTO, cánh cửa hội nhập kinh tế quốc tế mở ra cho Việt Nam, chúng ta thực hiện chuyển đổi theo nền kinh tế thị trường. Việc đổi mới quan niệm và khuyến khích nhà đầu tư nước ngoài đầu tư và Việt Nam là một xu thế tất yếu của thời kỳ hội nhập. Do đó, việc thay đổi quan niệm từ chỗ phân biệt nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước đến chỗ nhất quán điều chỉnh hai hoạt động đầu tư này trong Luật Đầu tư là sự tiến bộ thấy rõ nhất.

Tuy nhiên, thực tế việc đổi mới quan niệm về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vẫn còn nhiều hạn chế. Hạn chế quan trọng mà từ đó nảy sinh nhiều hệ lụy ảnh hưởng đến hoạt động của đối tượng này lại xuất phát từ chính khái niệm thế nào là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Khoản 6 Điều 3 Luật Đầu tư 2005 quy định: “doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam; doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại” [42]. Như vậy, theo khái niệm của Luật Đầu tư, ta có thể hiểu chỉ cần nhà đầu tư nước ngoài góp vốn 1% vào doanh nghiệp trong nước thì doanh nghiệp đó cũng được coi là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Luật Đầu tư chưa đưa ra một giới hạn nhất định về tỷ lệ phần trăm vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài là bao nhiêu thì được coi là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Đây tưởng là vấn đề đơn giản, nhưng từ vấn đề này lại nảy sinh những khó khăn, phức tạp trong hoạt động của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến quyền lợi của những doanh nghiệp này. Về vấn đề này, Việt Nam nên tham khảo kinh nghiệm của Thái Lan, quốc gia này đã ghi nhận rõ ràng với mốc phân định là 49%.

Khó khăn đầu tiên của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài liên quan đến việc đăng ký kinh doanh. Nếu như Luật Đầu tư chỉ đưa ra khái niệm chung về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mà không có quy định cụ thể về tỷ lệ sở hữu vốn của nhà đầu tư nước ngoài trong doanh nghiệp là bao nhiêu thì được coi là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì trong thủ tục đầu tư và thành lập doanh nghiệp quy định tại Nghị định 139/2007/NĐ-CP hướng dẫn Luật doanh nghiệp lại có sự phân biệt về tỷ lệ sở hữu này. Cụ thể, đối với nhà đầu tư dự định thành lập doanh nghiệp có sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài hơn 49% vốn điều lệ thì phải thực hiện thủ tục đầu tư như dự án 100% vốn nước ngoài khác, tức là thủ tục đăng ký cấp giấy chứng nhận đầu tư; khi tỷ lệ này từ 49% trở xuống thì nhà đầu tư chỉ cần làm thủ tục đăng ký kinh doanh như đối với doanh nghiệp trong nước. Ta có thể thấy rõ độ vênh nhất định trong hai quy định này, phải chăng theo như Nghị định này, doanh nghiệp có trên 49% vốn của nhà đầu tư nước ngoài thì được xem là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, dù có được ngầm hiểu như vậy thì quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề này chưa rõ ràng. Thêm vào đó, quy định này còn làm khó cho những nhà đầu tư khi muốn mua cổ phần, sáp nhập, mua lại doanh nghiệp trong nước. Vấn đề nảy sinh ở chỗ, nếu trước đó, doanh nghiệp là doanh nghiệp trong nước, được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Sau khi nhà đầu tư nước ngoài mua trên 49% vốn của doanh nghiệp thì chiếu theo Nghị định 139/2007/NĐ-CP, doanh nghiệp này phải thực hiện thủ tục đăng ký cấp giấy chứng nhận đầu tư (do tỷ lệ sở hữu nước ngoài trên 49%). Vậy, trong trường hợp này, doanh nghiệp phải làm thế nào để đổi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thành giấy chứng nhận đầu tư khi mà chưa có quy định nào nhắc đến thủ tục để thực hiện. Đây cũng là vấn đề cần được xem xét, sửa đổi bổ sung trong lần sửa đổi Nghị định 139/2007/NĐ-CP lần tới.

Khó khăn tiếp theo thể hiện ở chỗ, xuất phát từ việc không có quy định rõ ràng về khái niệm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài dẫn tới việc áp dụng điều kiện đầu tư cũng trở lên rối rắm. Theo khoản 4 Điều 29 Luật Đầu tư 2005 “nhà đầu tư nước ngoài được áp dụng điều kiện đầu tư như nhà đầu tư trong nước trong trường hợp các nhà đầu tư Việt Nam sở hữu từ 51% vốn điều lệ của doanh nghiệp trở lên” [42]. Tuy nhiên, trên thực tế, quan niệm này lại chưa thực sự được áp dụng thống nhất giữa các cơ quan. Luận văn: Giải pháp địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.

Ví dụ, với Bộ Công thương, doanh nghiệp dù chỉ có 1% vốn của nhà đầu tư nước ngoài và phải bị ràng buộc về hạn chế tiếp cận thị trường thông qua biểu cam kết về dịch vụ thương mại với WTO. Nếu như vậy thì nhiều công ty đại chúng sau khi bán một phần vốn cho nhà đầu tư nước ngoài sẽ phải đăng ký kinh doanh lại đối với những ngành nghề mà nhà đầu tư nước ngoài bị hạn chế. Đặc biệt, đối với một số ngành nghề như dịch vụ thuế, phân phối (khi việc xin phép thành lập nhiều hơn một cơ sở bán lẻ)…doanh nghiệp còn phải làm thủ tục kiểm tra nhu cầu kinh tế.

Mới đây, Chính phủ đã ban hành Nghị định 102/2010/NĐ-CP ngày 01/10/2010 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật doanh nghiệp thay thế Nghị định 139/2007/NĐ-CP trước đây. Nghị định này đã giải quyết được một số lúng túng trong việc xác định điều kiện đầu tư. Cụ thể, khoản 3, 4 Điều 11 quy định:

Trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc pháp luật chuyên ngành có quy định khác, doanh nghiệp đã thành lập ở Việt Nam có sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49% vốn điều lệ được áp dụng điều kiện đầu tư, kinh doanh như đối với nhà đầu tư trong nước.

Trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc pháp luật chuyên ngành có quy định khác, doanh nghiệp đã thành lập ở Việt Nam có sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trên 49% vốn điều lệ được áp dụng điều kiện đầu tư, kinh doanh như đối với nhà đầu tư nước ngoài [22].

Quy định này đã giúp giải quyết vướng mắc cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, nhìn chung đây mới chỉ là quy định trong một Nghị định, mà chưa được quy định trong Luật. Thêm vào đó, Nghị định này vẫn chưa đưa ra khái niệm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mà chỉ đưa ra quy định mang tính tình thế để giải quyết quyền lợi trước mắt cho những doanh nghiệp này. Về lâu dài, vẫn cần một quy định trong luật thống nhất quan điểm thế nào là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Rõ ràng, trong trường hợp này, từ một vấn đề đơn giản là khái niệm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chưa được giải quyết triệt để mà nảy sinh biết bao hệ lụy, vướng mắc làm khó cho doanh nghiệp. Chính vì vậy, việc đổi mới quan niệm về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài càng trở lên cấp bách để từ đó hoàn thiện địa vị pháp lý của những doanh nghiệp này, rộng đường cho họ tiếp cận với môi trường đầu tư tại Việt Nam. Việc làm này nên bắt đầu từ những vấn đề cốt lõi như quy định rõ ràng thế nào là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Luận văn: Giải pháp địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.

Theo quan điểm của tác giả, Nhà nước nên ban hành quy định sửa đổi, bổ sung khái niệm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài làm sao giải quyết tận gốc vướng mắc cho doanh nghiệp theo hướng quy định rõ ràng tỷ lệ vốn của nhà đầu tư nước ngoài trong doanh nghiệp là bao nhiêu thì được coi là nhà đầu tư nước ngoài.

3.3.3 Hoàn thiện hệ thống chính sách để cải thiện môi trường sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong các khu công nghiệp, khu chế xuất và tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với loại hình doanh nghiệp này

Đối với yêu cầu hoàn thiện hệ thống chính sách để cải thiện môi trường đầu tư và tăng cường công tác quản lý nhà nước, những hoạt động cần triển khai dự kiến bao gồm:

Tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến quyền lợi của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Khu công nghiệp, Khu chế xuất về đất đai như quyền chuyển nhượng, cho thuê, quyền thế chấp đất đai.

Hoàn thiện các quy định liên quan đến lao động: để khắc phục tình trạng thiếu lao động, đặc biệt là lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật Nhà nước cần có chính sách phát triển các cơ sở đào tạo nghề gắn với nhu cầu phát triển của Khu công nghiệp, Khu chế xuất. Thành lập các cơ sở đào tạo nghề tại nơi phát triển Khu công nghiệp, Khu chế xuất có mục đích đáp ứng trực tiếp nhu cầu của các doanh nghiệp trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất, đồng thời góp phần giải quyết việc làm cho những lao động nông nghiệp có đất bị chuyển sang sản xuất công nghiệp. Song song việc thành lập cơ sở đào tạo, cần xây dựng cơ chế, chính sách miễn giảm thuế thu nhập đối với các cơ sở đào tạo nguồn nhân lực. Việc này sẽ giúp nhà đầu tư không phải tuyển dụng lao động từ các địa phương khác, thậm chí làm giảm việc sử dụng lao động nước ngoài, tránh việc di dân gây ra các hiện tượng xã hội tiêu cực xung quanh Khu công nghiệp, Khu chế xuất. Bên cạnh đó, cần phát huy vai trò của cơ quan thanh tra lao động trong việc kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách lao động và tiền lương của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất; sửa đổi các quy định về lao động và tiền lương cho phù hợp, theo kịp tình hình thực tiễn… nhằm hạn chế thấp nhất tình trạng đình công, lãn công kéo dài. Luận văn: Giải pháp địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.

Nhằm thúc đẩy hạ tầng xung quanh Khu công nghiệp, khắc phục tình trạng doanh nghiệp trong Khu công nghiệp khó tìm các đối tác cung ứng, liên kết lỏng lẻo với các doanh nghiệp bên ngoài. Pháp luật cần sớm bổ sung các quy định về việc cho doanh nghiệp phát triển hạ tầng Khu công nghiệp tham gia đầu tư các công trình kỹ thuật và hạ tầng xã hội ngoài hàng rào Khu công nghiệp cũng được hưởng các ưu đãi như đối với phát triển hạ tầng trong hàng rào Khu công nghiệp. Cần cho phép các doanh nghiệp đang hoạt động và các dự án đầu tư tại khu vực quy hoạch Khu công nghiệp theo đúng quy hoạch chi tiết đã được phê duyệt cũng được hưởng ưu đãi như các doanh nghiệp trong Khu công nghiệp. Nhà nước cần xây dựng cơ chế chính sách trích một phần phí thu hạ tầng để duy tu bảo dưỡng hạ tầng cơ sở Khu công nghiệp, Khu chế xuất; đồng thời nghiên cứu chính sách ưu đãi về thuế đối với doanh nghiệp đầu tư phát triển hạ tầng ngoài hàng rào Khu công nghiệp.

Cần hoàn thiện các quy định pháp luật về đất đai. Để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong Khu công nghiệp hoạt động thuận lợi, Nhà nước cần có chính sách trong việc vay vốn thích hợp như: áp dụng lãi suất cho vay ưu đãi và kéo dài thời gian cho vay. Quy định này xuất phát từ thực tế, hiệu quả của các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng Khu công nghiệp, Khu chế xuất phụ thuộc nhiều vào việc thu hút được nhiều các dự án đầu tư thứ cấp thuê lại đất và thường chậm thu hồi vốn. Nếu doanh nghiệp chỉ vay vốn theo lãi suất thương mại và hạch toán vào giá thành thuê lại đất thì giá thành thuê lại đất sẽ cao, khó thu hút được đầu tư. Do vậy, nên xác định các dự án đầu tư phát triển hạ tầng Khu công nghiệp, Khu chế xuất là các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, tương tự như giao thông, bến cảng được vay vốn với lãi suất và các điều kiện ưu đãi tương tự. Cần hình thành bộ máy xử lý nhanh chóng và có hiệu quả các vấn đề liên quan đến đất đai trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất mới thành lập như vấn đề thủ tục cấp đất, đề bù, giải tỏa, giải phóng mặt bằng. Đồng thời tích cực tham khảo kinh nghiệm của các nước trong khu vực như: Trung Quốc, Thái Lan, Singapore về vấn đề này như đã phân tích ở trên.

Trong hợp đồng thuê lại đất trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất cần quy định tách riêng giá thuê đất chưa có cơ sở hạ tầng và chi phí thuê cơ sở hạ tầng. Bổ sung quy định tiền sử dụng đất đối với đất thô, tiền sử dụng đất thô thấp hơn đất đã có mục đích sử dụng. Tuy nhiên, đây là vấn đề phức tạp cần được xử lý trong các quy định liên quan để giải quyết thích hợp quyền lợi và trách nhiệm của doanh nghiệp xây dựng cơ sở hạ tầng trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất.

3.3.4. Đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp, khu chế xuất đồng bộ, hiện đại xứng tầm với các nước trong khu vực và thế giới Luận văn: Giải pháp địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.

Đầu tư xây dựng hạ tầng Khu công nghiệp, Khu chế xuất theo hướng hiện đại, kết hợp chặt chẽ giữa công nghiệp – đô thị – dịch vụ với cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh, đầy đủ dịch vụ phục vụ sản xuất và người lao động động, thu hút các ngành sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng lớn, các ngành công nghiệp phụ trợ, sử dụng công nghệ sạch.

Các Khu công nghiệp, Khu chế xuất được đầu tư phải có vị trí địa lý thuận lợi về giao thông, thông tin liên lạc, giao thương. Hạ tầng kỹ thuật đồng bộ đấu nối trong và ngoài hàng rào Khu công nghiệp, Khu chế xuất: đầu tư xây dựng khu phụ trợ, dịch vụ phục vụ gián tiếp hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp trong khu như nhà ở cho công nhân, khu vui chơi thể dục, thể thao, nhà văn hóa, rạp chiếu phim, ngân hàng, bảo hiểm, ligictis, vấn đề xử lý môi trường, phòng cháy chữa cháy… diện tích Khu công nghiệp, Khu chế xuất mở rộng, tiến tới xây dựng thí điểm Khu công nghiệp sạch với các khu nhà trọc trời với đội ngũ công nhân “cổ cồn” có trình độ, kỹ năng nghề. Song song với việc đầu tư xây dựng hạ tầng, vấn đề quy hoạch, kiến trúc Khu công nghiệp, Khu chế xuất phải có tầm nhìn xa 50-100 năm, lường trước được tốc độ đô thị hóa, xây dựng đồng bộ tiêu chuẩn xây dựng với việc cung cấp điện, nước công nghiệp, sinh hoạt, nhà máy xử lý nước thải, hệ thống cây xanh, chiếu sáng, đường giao thông, khu phụ trợ…

Thực tế khảo sát cho thấy, chỉ có 15% công nhân trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất có chỗ ở ổn định, 85% công nhân chỗ ở chật hẹp, điều kiện vệ sinh, môi trường không đảm bảo điều này ảnh hưởng đến sức khỏe, khả năng tái tạo sức lao động, ảnh hưởng tình hình trật tự, an toàn xã hội. Hạ tầng xã hội ngoài hàng rào Khu công nghiệp, Khu chế xuất chưa đáp ứng đầy đủ những nhu cầu thiếu yếu, cơ bản nhất của người lao động như nhu cầu đi lại, nhu cầu về nhà ở, nhu cầu sinh hoạt và giải trí lành mạnh để tái tạo sức lao động sau những giờ lao động, làm việc căng thẳng. Bên cạnh đó hạ tầng kỹ thuật ngoài hàng rào Khu công nghiệp, Khu chế xuất hầu hết chưa phát triển đồng bộ, chưa kết nối hoàn chỉnh với hạ tầng kỹ thuật bên trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất: điều này tác động làm cho chi phí vận chuyển của doanh nghiệp tăng cao, khiến giá thành sản phẩm tăng theo, gây khó khăn trong việc cạnh tranh với doanh nghiệp khác. Chính vì vậy, tác giả luận văn mạnh dạn đề xuất Chính phủ, Quốc hội phải xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích, đẩy nhanh tiến độ những dự án hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội ngoài hàng rào Khu công nghiệp, Khu chế xuất như nhà lưu trú cho công nhân, nhà mẫu giáo cho con em của công nhân, điện, đường, trường, trạm nhằm tạo điều kiện công nhân yên tâm làm việc ổn định, lâu dài tại các Khu công nghiệp, Khu chế xuất. Đồng thời xây dựng đường xá, cầu cảng kết nối với Khu công nghiệp, Khu chế xuất được thông suốt. Hạ tầng xã hội, kỹ thuật ngoài hàng rào thuận lợi mới tạo điều kiện cho công tác thu hút vốn đầu tư nước ngoài mới tạo được sự hấp dẫn, niềm tin của nhà đầu tư vào Khu công nghiệp, Khu chế xuất. Luận văn: Giải pháp địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.

3.3.5. Tiếp tục thực hiện cải cách thủ tục hành chính

Việc cải cách hành chính phải được tiếp tục quan tâm và đi vào thực chất đặc biệt trên các lĩnh vực nhạy cảm dể xảy ra tiêu cực, nhũng nhiễu, hạch sách doanh nghiệp như thuế, hải quan, xây dựng. Đối với Ban quản lý các Khu công nghiệp, Khu chế xuất đã có Ban đại diện tại các Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Ban đại diện có phòng làm việc đặt ngay tại Công ty kinh doanh và phát triển hạ tầng Khu công nghiệp, Khu chế xuất hàng ngày có cán bộ của Ban quản lý thường trực tại Khu công nghiệp, Khu chế xuất nhưng đến nay Ban đại diện chưa phát huy được vai trò, vị trí của mình mà mới chỉ mang tính hình thức, chưa đáp ứng được đòi hỏi của doanh nghiệp là giải quyết ngay tại chỗ, nhanh chóng, kịp thời các khó khăn vướng mắc của doanh nghiệp Khu công nghiệp, Khu chế xuất. Do đó, trong thời gian tới cần đưa cơ chế thực hiện “một cửa, tại chỗ” thành một chức năng của Ban đại diện. Cán bộ Ban đại diện phải được đào tạo nâng năng lực chuyên môn nghiệp vụ hướng tới hướng dẫn phục vụ doanh nghiệp, là chỗ dựa tin cậy, vững chắc cho doanh nghiệp làm được như vậy sẽ thuận tiện hơn rất nhiều, giảm chi phí thời gian, kinh phí cho doanh nghiệp vì doanh nghiệp không phải đi lại nhiều mà hiệu quả công việc lại cao hơn. Bởi vì Ban quản lý các Khu công nghiệp, Khu chế xuất thường nằm ở nội đô, nội thị cách xa các Khu công nghiệp, Khu chế xuất. Đây cũng là một đề xuất chính đáng của hầu hết các doanh nghiệp Khu công nghiệp, Khu chế xuất nhưng thời gian vừa qua, Ban quản lý các Khu công nghiệp, Khu chế xuất chưa làm được. Ngoài ra, đối với những Khu công nghiệp, Khu chế xuất lớn, nên thành lập từng Ban quản lý Khu công nghiệp riêng để kịp thời giải quyết những khó khăn vướng mắc của doanh nghiệp.

Ngoài ra, hiện tại chưa có cơ chế chung về phối hợp giải quyết giữa các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan: như giữa Ban quản lý, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài Chính, Cục thuế, Sở Tài nguyên Môi trường… chỉ có phối hợp giải quyết theo từng vụ việc, chính vì vậy cần tiếp tục cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa, liên thông” theo đó các thủ tục hành chính được giải quyết một cách nhanh chóng, cơ quan nhà nước áp dụng phong cách quản lý tiên tiến, đảm bảo tập trung thống nhất một đầu mối, từng bước tạo được lòng tin cho nhà đầu tư trong và ngoài nước.

3.3.6. Nâng cao trình độ, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức làm việc tại Ban quản lý các khu công nghiệp, khu chế xuất Luận văn: Giải pháp địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đối với đội ngũ cán bộ công chức là vấn đề đang được đảng và nhà nước quan tâm, đặc biệt đối với đội ngũ cán bộ làm việc trong lĩnh vực có yếu tố nước ngoài nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước, chính vì vậy cán bộ làm việc tại Ban quản lý các Khu công nghiệp, Khu chế xuất phải không ngừng học tập, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đối với những cán bộ được giao nhiệm vụ làm việc trực tiếp với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: yêu cầu thông thạo ngoại ngữ, chuyên môn nghiệp vụ, tác phong, lề lối làm việc đảm bảo tính chuyên nghiệp hóa. Những cán bộ này thực hiện quyền lực nhà nước, thể hiện bộ mặt của Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Bởi một thực tế đáng buồn là hầu hết cán bộ công chức của Ban quản lý các Khu công nghiệp, Khu chế xuất chưa chuyên nghiệp, chưa đủ khả năng làm việc trực tiếp với các nhà Đầu tư nước ngoài, với các chuyên gia mà thường làm việc thông qua thông dịch viên.

3.3.7. Thành lập Trung tâm dịch vụ hành chính công

Thực tiễn hiện nay rất nhiều Công ty tư vấn đầu tư nước ngoài thực hiện việc tư vấn đầu tư như: thành lập doanh nghiệp, viết hồ sơ, dự án đầu tư đứng ra làm các thủ tục đầu tư vào Khu công nghiệp, Khu chế xuất, các hoạt động pháp lý khác (xin cấp Giấy chứng nhận đầu tư, điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư, đăng ký lao động nước ngoài, thay đổi nhân sự chủ chốt, tăng vốn, mở rộng sản xuất…) và các doanh nghiệp FDI thường phải trả khoản phí rất cao. Chính vì vậy, trong phạm vi Luận văn này, tác giả kiến nghị Ban quản lý các Khu công nghiệp, Khu chế xuất thành lập Trung tâm dịch vụ hành chính công như bên Sở Kế hoạch và Đào tạo có Trung tâm hỗ trợ doanh nghiệp, là đơn vị hành chính sự nghiệp có thu thực hiện nhiệm vụ đón tiếp các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài có nhu cầu đầu tư vào các Khu công nghiệp, Khu chế xuất, giới thiệu môi trường, chính sách đầu tư của từng tỉnh, chế độ chính sách pháp luật của Việt Nam về đầu tư, chế độ ưu đãi đầu tư đối với ngành nghề, địa bàn… khi doanh nghiệp đề xuất nhu cầu đầu tư tại Việt Nam của mình, đại diện Trung tâm sẽ giới thiệu địa điểm, vị trí thuê đất, tư vấn thủ tục pháp lý, chuẩn bị hồ sơ… nói chung Trung tâm sẽ theo sát doanh nghiệp từ khi nhà đầu tư có ý định đầu tư vào Khu công nghiệp, Khu chế xuất đến khi thành lập doanh nghiệp, hoạt động và theo hết đời dự án (làm thủ tục thuê đất, xin cấp Giấy chứng nhận đầu tư, xây dựng nhà máy, hoạt động, thủ tục lao động, thủ tục thuế, hải quan…) với mức thu phí hợp lý. Thực tiễn, trong quá trình làm việc với rất nhiều doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài có ý định đầu tư vào Khu công nghiệp, Khu chế xuất Việt Nam họ bày tỏ mong muốn nhờ Ban quản lý tư vấn, giúp đỡ về trình tự, thủ tục, chính sách…nhưng Ban quản lý luôn từ chối vì Ban là cơ quan quản lý nhà nước, không có chức năng, nhiệm vụ tư vấn, làm thủ tục pháp lý cho nhà đầu tư và trong trường hợp này, Ban quản lý để tự doanh nghiệp tìm kiếm các nhà tư vấn trong khi họ chưa biết phải bắt đầu từ công đoạn nào. Trên thực tế ở các nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ dịch vụ hành chính công như trên đã được thực hiện từ rất lâu và mang tính chuyên nghiệp, đã chứng minh được hiệu quả không chỉ tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho cán bộ công nhân viên Ban quản lý, nâng cao nghiệp vụ, chuyên môn hóa đội ngũ cán bộ mà còn thúc đẩy nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào nước sở tại tăng nhanh, tạo lòng tin cho doanh nghiệp FDI khi mới bước chân vào đầu tư tại một thị trường mới, họ cảm nhận, có cái nhìn và đánh giá cao về môi trường đầu tư, cách làm việc chuyên nghiệp, bài bản và họ mong muốn được đầu tư vào môi trường như vậy, điều đó làm họ yên tâm bỏ vốn, công nghệ, trình độ quản lý cũng như xác định làm ăn lâu dài tại đây.

3.3.8. Cung ứng nguồn nhân lực có chất lượng

Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB), chất lượng nguồn nhân lực của chỉ đạt 3,79 điểm (thang điểm 10), xếp thứ 11 trong 12 nước ở châu Á được tham gia xếp hạng. Hiện nay, Việt Nam có một số Công ty hoạt động trong lĩnh vực cung ứng nguồn nhân lực hay còn gọi là công ty săn đầu người. Tuy nhiên, việc cung ứng nguồn nhân lực có chất lượng cho Khu công nghiệp, Khu chế xuất còn hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu và đòi hỏi thực tiễn. Nguồn nhân lực ở đây không chỉ là các lao động phổ thông, công nhân kỹ thuật hay các bậc thợ mà còn các chuyên gia, các lao động trí thức nắm giữ các vị trí then chốt trong nhà máy, doanh nghiệp. Luận văn: Giải pháp địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.

Các nhà cung ứng lao động cũng như các doanh nghiệp thường quan tâm đến việc huấn luyện tay nghề cho công nhân để phục vụ cho sản xuất sao cho tiết kiệm nhất, đạt lợi nhuận cao nhất. Đa số các cơ sở dạy nghề, các công ty cung ứng nguồn lao động chưa chú trọng nhiều đến đào tạo kỹ năng mềm trong vấn đề xây dựng văn hóa trong tổ chức, văn hóa ứng xử trong doanh nghiệp, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, về pháp luật cơ bản, nhất là pháp luật lao động… điều này tạo nên sự hiểu biết, tính đoàn kết góp phần tăng năng suất lao động, giảm đình công bãi công từ đó góp phần tạo hiệu quả trong sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp. Nước ta có lợi thế cạnh tranh về nguồn nhân lực rồi rào, giá rẻ, tuy nhiên thực tiễn lao động có trình độ chuyên môn, tay nghề cao chúng ta còn thiếu, chưa đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp FDI. Cuộc tuyển chọn của Công ty Intel với 4.000 ứng viên tốt nghiệp đại học, mang lại kết quả chỉ 2% trong số đó đạt yêu cầu để làm việc tại Công ty, đã nói lên sự bất cập trong chất lượng đào tạo nguồn nhân lực bậc cao, ít ra theo quan điểm của người sử dụng lao động. Chúng ta phải tăng cường sự tham gia và hợp tác của doanh nghiệp trong quá trình đào tạo, các hoạt động như hợp tác nghiên cứu, xây dựng chương trình, giáo trình, hỗ trợ thực tập, mời giảng dạy, tổ chức sinh hoạt chuyên đề… là những hoạt động rèn luyện, trang bị kiến thức thực tiễn cho người lao động không thể thiếu.

Một doanh nghiệp Khu công nghiệp, Khu chế xuất thường có quy mô đầu tư lớn hơn nhiều lần các doanh nghiệp ngoài Khu công nghiệp, Khu chế xuất, để đi vào hoạt động được cần một bộ máy khá lớn từ Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, các phòng, ban thuộc khối văn phòng (phòng nguyên vật liệu, phòng sản xuất, phòng kỹ thuật, phòng sale, phòng marketing, văn phòng, ban thư ký…), đội ngũ lao động phổ thông đứng dây chuyền… vì vậy, nhu cầu nguồn nhân lực cho Khu công nghiệp, Khu chế xuất là rất lớn. Đơn cử như Khu công nghiệp Bắc Thăng Long, hiện nay có 137 doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh với tổng số lao động được thống kê là 275.000 lao động trong đó người nước ngoài 470 người, còn lại là lao động trong nước. Một doanh nghiệp như Công ty Canon cần đến 17.500 lao động hoạt động thường xuyên, mà hiện nay doanh nghiệp hoạt động trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất thường tự thông báo tuyển dụng qua việc dán thông báo tại bảng thông báo chung của toàn Khu công nghiệp, Khu chế xuất hoặc qua báo đài, tự tổ chức tuyển dụng mà không có kênh tuyển dụng thường chuyên, chuyên biệt thì rất khó cho doanh nghiệp đặc biệt sau mỗi đợt nghỉ tết cổ truyền, tỷ lệ công nhân, người lao động bỏ việc tăng cao, đầu xuân, năm mới tuyển dụng lại khó khăn làm ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và môi trường đầu tư của Việt Nam. Luận văn: Giải pháp địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.

Hiện nay, một số Ban quản lý các Khu công nghiệp, Khu chế xuất có thành lập Trung tâm giới thiệu việc làm nhưng hoạt động chưa hiệu quả, không có tính chuyên nghiệp, hoạt động nhỏ lẻ, manh mún chỉ đáp ứng được nhu cầu tuyển dụng con số vài chục hoặc vài trăm lao động phổ thông cho một vài doanh nghiệp. Đồng thời, Trung tâm chỉ mang tính giới thiệu chưa tổ chức đào tạo, tuyển dụng theo đơn đặt hàng…, chính vì vậy, các Trung tâm này cần tiến tới hoạt động chuyên nghiệp, cung ứng lao động có trí thức, qua đào tạo có kỹ năng, tay nghề (có các bộ phận đào tạo, tìm kiếm nhân sự, tuyển dụng…) phục vụ các đơn đặt hàng của các doanh nghiệp FDI có chất lượng, đạt yêu cầu, thay vì các doanh nghiệp phải tự tìm vào các trường đại học, cao đẳng thuộc hệ giáo dục, các trường nghề để tìm kiếm, tuyển dụng, các Trung tâm giới thiệu việc làm chủ động liên kết đào tạo các Trường này để tuyển lao động, đào tạo, đào tạo lại như tác phong công nghiệp, nội quy lao động, phổ biến các chính sách lao động…

3.3.9. Cải thiện môi trường trong khu côn g nghiệp, khu chế xuất

Vấn đề môi trường cần được quan tâm đúng mức, phải được cải thiện sâu rộng, mạnh mẽ trong thời gian tới. Theo báo cáo của Vụ khu công nghiệp, khu kinh tế Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đến thời điểm hiện tại (tháng 11/2011) có 102/257 Khu công nghiệp, Khu chế xuất có hệ thống xử lý nước thải tập trung, chiếm 59% tổng số Khu công nghiệp, Khu chế xuất đã vận hành; 33 Khu công nghiệp, Khu chế xuất đang xây dựng nhà máy xử lý nước thải tập trung. Các chủ đầu tư hạ tầng kỹ thuật Khu công nghiệp, Khu chế xuất phải có trách nhiệm đầu tư xây dựng nhà máy xử lý nước thải tập trung, trung tâm xử lý chất thải rắn, tiếng ồn, hóa chất độc hại… đồng thời tăng cường kiểm duyệt đầu vào dây chuyền công nghệ của các doanh nghiệp FDI mang vào Việt Nam (hiện nay chúng ta đã bãi bỏ quy định cấm nhập khẩu máy móc thiết bị đã qua sử dụng), một số doanh nghiệp đưa vào Việt Nam công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường, trốn tránh nghĩa vụ mua phí xử lý nước thải, chất thải mà xả thải trực tiếp ra hệ thống thoát nước của Khu công nghiệp, Khu chế xuất được minh chứng bằng một số vụ việc vừa qua bị cơ quan cảnh sát môi trường phanh phui đã gióng lên hồi chuông cảnh báo.

Các giải pháp này tác động rất lớn đến địa vị pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài, đến việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của loại hình doanh nghiệp này, tạo lòng tin, tăng tính minh bạch và thu hút vốn Đầu tư nước ngoài, công nghệ, trình độ quản lý vào các Khu công nghiệp, Khu chế xuất Việt Nam. Các giải pháp này phải được thực hiện một cách đồng bộ, song song với ba giải pháp mang tính trực tiếp nêu trên, điều này đã được minh chứng tại các nước tiên tiến trên thế giới thực hiện rất tốt các giải pháp này và đã mang lại hiệu quả rất cao.

KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.

Đầu tư nước ngoài là một yếu tố quan trọng để thúc đẩy kinh tế trong nước. Trong đó, việc thu hút đầu tư nước ngoài vào những khu vực riêng với những quy chế đặc thù, hình thức hoạt động khác biệt mà điển hình là Khu công nghiệp, Khu chế xuất là một hoạt động cần thiết và góp phần thiết thực trong việc giảm tác động xấu tới môi trường, khu dân cư. Chính vì thế, khi xây dựng chính sách thu hút đầu tư nước ngoài, Nhà nước ta đã có nhiều lần sửa đổi chính sách nhằm cải thiện địa vị của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nói chung, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất nói riêng.

Dựa trên quan điểm đó, luận văn đã khái quát chung về địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong các Khu công nghiệp, Khu chế xuất, vai trò của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, phát triển kết cấu hạ tầng, phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn, chuyển giao công nghệ, phương thức quản lý tiên tiến, giải quyết việc làm, nâng cao năng lực xuất khẩu, phát triển kinh tế – xã hội đất nước.

Tác giả đã tiến hành nghiên cứu những quy định pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài về địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất từ thủ tục thành lập, quản lý, chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; đăng ký lại và tổ chức lại doanh nghiệp, quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: quyền sử dụng đất, hạ tầng trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất, quyền đầu tư xây dựng, quyền và nghĩa vụ liên quan đến lĩnh vực tài chính, ngoại hối, các chế độ ưu đãi trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất liên quan đến chính sách miễn, giảm thuế, thủ tục hải quan, thủ tục hành chính… trên cơ sở có sự so sánh với những quy định điều chỉnh doanh nghiệp hoạt động bên ngoài và pháp luật một số nước trong khu vực như Trung Quốc, Singapore, Nhật Bản… Tác giả đã cố gắng không so sánh, phân tích pháp luật một số quốc gia một cách đơn lẻ, độc lập về địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mà lồng ghép, đan xen trong phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam.

Các quy định về địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mặc dù khá đầy đủ về số lượng và phạm vi điều chỉnh nhưng trên thực tế, các quy định điều chỉnh về địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất vẫn tồn tại nhiều bất cập, vướng mắc và cần phải được kịp thời tháo gỡ. Thông qua việc nghiên cứu về thực tiễn thực thi, những bất cập của pháp luật Việt Nam về địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cùng với việc nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia, Luận văn đã đưa ra 03 nhóm giải pháp mang tính trực tiếp nhằm hoàn thiện môi trường đầu tư, đổi mới quan niệm về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng như hoàn thiện quy định về địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất để từ đó thúc đẩy thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và 6 kiến nghị nhằm hoàn thiện địa vị pháp lý của doanh nghiệp FDI gồm: Đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật Khu công nghiệp, Khu chế xuất đồng bộ, hiện đại xứng tầm với các nước trong khu vực và thế giới; tiếp tục cải cách thủ tục hành chính; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức làm việc tại các Ban quản lý các Khu công nghiệp, Khu chế xuất; Cung ứng nguồn nhân lực có chất lượng cho Khu công nghiệp, Khu chế xuất; Thành lập trung tâm dịch vụ hành chính công; Cải thiện môi trường trong Khu công nghiệp, Khu chế xuất. Luận văn: Giải pháp địa vị pháp lý DN có vốn đầu tư nước ngoài.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Địa vị pháp lý doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464