Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giá trị thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Đánh giá giá trị những quy định về thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ thời Nguyễn dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
Hoàng Việt luật lệ là sản phẩm lập pháp của triều Nguyễn – triều đại phong kiến cuối cùng, đã thống nhất áp dụng trên phạm vi toàn đất nước hơn hai phần ba thế kỷ. Pháp luật triều Nguyễn, vì thế, đó là một nền pháp luật tương đối hoàn bị, trên cơ sở đúc kết và rút tỉa được nhiều kinh nghiệm lập pháp của các triều đại trước để lại. Hiểu biết về lịch sử pháp chế Việt Nam dưới thời phong kiến trong đó có cả việc nghiên cứu pháp luật thừa kế dưới triều Nguyễn không chỉ để hiểu biết thêm về triều đại này mà còn để hiểu biết thêm về phong tục, tập quán của người Việt. Từ đó, có cái nhìn toàn diện hơn về pháp luật thừa kế hiện đại, đặt pháp luật thừa kế hiện đại trong tính lịch sử và biện chứng của nó.
Tuy nhiên, triều Nguyễn lại là triều đại mà trong sự tồn tại của mình đã gắn liền với sự kiện đất nước lần lượt rơi vào tay thực dân Pháp. Những sự kiện này nằm trong tình hình chung những biến động lịch sử của toàn bộ khu vực châu Á vào giữa thế kỷ XIX (kể cả Trung Quốc), đó là thách thức của thế lực tư bản chủ nghĩa và văn hóa tôn giáo của phương Tây. Điều này khiến cho việc đánh giá về triều Nguyễn trở nên hết sức phức tạp, các ý kiến đánh giá trái ngược nhau giữa các nhà nghiên cứu. Vấn đề nhìn nhận về luật pháp triều Nguyễn cũng nằm trong tình trạng phức tạp nói trên.
Từ trước đến nay, việc đánh giá về pháp luật triều Nguyễn có nhiều điều bất nhất. Đối với giới luật học phương Tây, Anbaret và P.L.F. Philastre là 2 nhà luật học đầu tiên đã nghiên cứu Hoàng Việt luật lệ. Ông Anbaret là người đầu tiên đã dịch Hoàng Việt luật lệ ra tiếng Pháp và xuất bản năm 1862, nhưng bản dịch này, theo giáo sư Nguyễn Quang Quýnh đã mắc phải nhiều sai sót [123; 5]. Luận văn: Giá trị thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ.
P.L.F. Philastre là người thứ 2 dịch Hoàng Việt luật lệ ra tiếng Pháp, xuất bản tại Paris vào năm 1875, dưới tiêu đề là “Le Code Annamite”. Ngoài phần dịch luật và lệ của Hoàng Việt luật lệ Philastre đã luận giải, có phân tích và so sánh với pháp luật nhà Thanh. Theo giới nghiên cứu cổ luật, đây là bản dịch đầy đủ và sát nghĩa hơn.
Ở Việt Nam hiện nay có 2 bản dịch bộ Hoàng Việt luật lệ ra chữ quốc ngữ. Bản dịch thứ nhất là của Viện Sử học Việt Nam, vẫn đang còn ở dạng bản đánh máy, hiện đang được lưu trữ tại Thư viện Viện Sử học ở Hà Nội. Bản dịch thứ hai là của Nguyễn Q. Thắng do Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin xuất bản năm 1994, có in kèm nguyên văn phần chữ Hán. Đây là lần đầu tiên, có một bản dịch đầy đủ Hoàng Việt luật lệ được xuất bản, tạo điều kiện cho công chúng Việt Nam có điều kiện được tiếp xúc rộng rãi với công trình lập pháp đồ sộ này.
Tạm gác lại những nhận định chung về bộ luật Hoàng Việt luật lệ, mà tập trung vào những nhận định đánh giá về chế định thừa kế trong pháp luật triều Nguyễn. Những nhận định này đã có sự ảnh hưởng ít nhiều từ kết luận đưa ra vào năm 1875 của P. Philastre về Hoàng Việt luật lệ “là một bộ luật mô phỏng theo bộ luật nhà Thanh, chỉ có khác là bỏ bớt vài chỗ nơi này và sửa đổi vài chỗ nơi khác” (trong “lời nói đầu” đề ngày 5 tháng 3 năm 1875).
Giáo sư Vũ Văn Mẫu trong cổ luật Việt Nam và tư pháp sử (xuất bản tại Sài Gòn năm 1973) ghi rằng: “Đây là một sự suy đồi bất ngờ trong lịch trình tiến hóa của nền pháp luật Việt Nam… Điều khổ tâm lớn nhất cho ta là bộ luật ấy, vì chép nguyên văn của bộ luật nhà Thanh, nên mất hết cả tính đặc thù của nền pháp luật Việt Nam. Bao nhiêu những sự tân kỳ mới lạ trong bộ luật triều Lê, không còn lưu lại một chút dấu tích nào trong luật nhà Thanh… Vì một việc làm vô ý thức như vậy mà trong luật lệ của nhà Nguyễn, không còn những điều khoản liên quan đến hương hỏa, chúc thư, đến chế độ tài sản của vợ chồng” [124; 5].
Từ năm 1958 đến năm 1975, quan điểm đó được giáo sư Vũ Văn Mẫu giữ nguyên và ông là người độc chuyên giảng dạy tư pháp sử ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975 nên chúng đã trở thành nhận thức chính thống của giới luật học miền Nam trước đây. Luận văn: Giá trị thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ.
Nhà luật học Đinh Gia Trinh trước đây cũng đã viết: “Nếu pháp luật thời Hồng Đức có quan tâm đến việc phản ánh phong tục tập quán dân tộc tới một mức nhất định và đã có những quy định về một số vấn đề dân luật quan trọng, thì luật Gia Long ngược lại đã chú ý rất ít đến những vấn đề đó. Chẳng hạn về pháp luật thừa kế, nó chỉ quan tâm đến việc đặt những quy định xét thấy cần thiết để bảo vệ trật tự đạo đức và lễ giáo phong kiến và lợi ích kinh tế và chính trị đương thời của nhà nước phong kiến, còn thì bỏ qua những vấn đề khác được coi là thứ yếu… Khác với luật Hồng Đức, luật Gia Long chú ý rất ít đến những vấn đề chế độ tài sản giữa vợ chồng, thừa kế di sản, chúc thư, khế ước v.v… Luật Gia Long đã thủ tiêu những chế định tương đối tiến bộ của pháp luật thời Hồng Đức trong phạm vi luật dân sự. Luật Hồng Đức công nhận cho người đàn bà một địa vị khá hơn trong gia đình, người vợ có thể có tài sản riêng và khi người chồng chết mà không có con thì gia đình riêng của người đó có thể được thừa kế tài sản ấy, người đàn bà góa có một số quyền đối với di sản của gia đình. Luật Gia Long tuyệt nhiên không quy định gì về những vấn đề này. Quyền của người con gái trong thừa kế di sản bị hạ xuống rất thấp. Trong khi luật nhà Lê ở thế kỷ XV có một phần nào phản ánh phong tục, tập quán của dân tộc, có xuất phát một phần từ tình hình thực tế của xã hội Việt Nam, thì luật Gia Long trái lại tỏ ra là một sự thụt lùi đối với tiến bộ lịch sử, về một số điểm đã cắt đứt quan hệ với truyền thống và tư tưởng pháp luật dân tộc” [126; 47].
Từ năm 1990 trở lại đây cũng rải rác một số ý kiến của các nhà nghiên cứu khen, chê khác nhau. Có ý kiến cho rằng: “Luật pháp triều Nguyễn chịu ảnh hưởng sâu nặng của bộ luật nhà Thanh nên nghiệt ngã, đề cao quyền cực đoan… nặng nề và cơ sở làm tăng tính chuyên chế của vương triều Nguyễn” [128; 5] và “Nhà làm luật triều Nguyễn đã mù quáng, không thừa kế được những quy tắc thích hợp của luật triều Lê”. Ngược lại, cũng có ý kiến cho rằng “Hoàng Việt luật lệ là một bộ luật lớn nhất của chế độ phong kiến Việt Nam. Có thể nói, đây là bộ luật đầy đủ và hoàn chỉnh nhất của nền cổ luật Việt Nam… Nếu đọc kỹ Hoàng Việt luật lệ và tham khảo từ các sách khác, chúng ta mới thấy được phần đóng góp và sáng tạo của các tác giả bộ luật này, và cũng từ đó thấy được tinh thần nhân đạo của nó” [144; 40].
Đánh giá đúng đắn về chế định thừa kế trong pháp luật triều Nguyễn không thể lấy sự khen, chê cảm tính hoặc ỷ lại, dựa dẫm vào cách nhìn nhận, nhận định của những nhà nghiên cứu mà phải nghiên cứu cụ thể và đối sánh pháp luật.
Loại bỏ định kiến, các nhà nghiên cứu luật pháp cần nhìn nhận triều Nguyễn bằng cái nhìn bình đẳng như những triều đại phong kiến khác trong lịch sử Việt Nam. Luận văn cố gắng khai thác các tư liệu (rất hiếm và hầu hết là tiếng Pháp, hoặc đang ở nguyên bản chữ Hán – Nôm) có thể tiếp cận được và bằng phương pháp của luật học để tìm hiểu, phát hiện những quy định, những giá trị của các định chế pháp luật thừa kế trong pháp luật triều Nguyễn và phải đặt chúng vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của xã hội đương thời để đánh giá, “không đưa ra những yêu cầu quá xa, vượt lên những điều kiện lịch sử và thời đại mà nó ra đời” [23; 5]. Chỉ như vậy, mới phần nào tránh được sự “bất cận nhân tình” đối với những xưa và nhằm hướng đến những giá trị chân, thiện, mỹ mà người xưa đã cất công tìm kiếm. Luận văn: Giá trị thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ.
Tất nhiên, không phải phủ nhận những công trình khai phá mở đường vì đây là cơ sở để chúng tôi tiếp tục nghiên cứu. Song yêu cầu khoa học buộc chúng tôi không được phép dựa dẫm hoàn toàn vào “dấu chân” người đi trước mà phải có suy nghĩ riêng, có cách nhìn nhận khách quan trên cơ sở các tài liệu khoa học tiếp cận được, phải chứng minh tính hợp lý và thỏa đáng từ các định chế pháp lý về thừa kế.
Vì những lý do này, tác giả đã mạnh dạn chọn đúng vào chỗ pháp luật triều Nguyễn bị phê phán nặng nề nhất (đó là chế định thừa kế trong Hoàng Việt luật lệ) để làm luận văn tốt nghiệp cao học. Tác giả cũng ý thức được chính điểm bị phê phán này đã dẫn đến những định kiến bấy lâu về Hoàng Việt luật lệ. Vì vậy việc “đánh giá giá trị những quy định về thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ” sau đây hy vọng góp phần ít nhiều trong việc giải tỏa định kiến và hóa giải các ngộ nhận bấy lâu.
Qua các nội dung về cơ sở, về nguyên tắc thừa kế, về di sản thừa kế, về phạm vi những người được hưởng di sản… như đã trình bày trên đây cho thấy sẽ không chính xác nếu kết luận rằng đối với pháp luật triều Nguyễn “không còn những điều khoản liên can đến hương hỏa, đến chúc thư, đến chế độ tài sản của vợ chồng”, “Hoàng Việt luật lệ triều Nguyễn củng cố sự bất bình đẳng xã hội về mọi mặt để bảo vệ một trật tự tôn ti phong kiến tối lạc hậu, thủ tiêu những chế định tương đối tiến bộ của pháp luật thời Hồng Đức trong phạm vi luật gia đình và dân sự”, hoặc “vai trò của phụ nữ được đề cao dưới thời Lê sơ (đến pháp luật triều Nguyễn đã) bị chà đạp”.
Trong điều kiện của một nền pháp quyền phong kiến phương Đông, cổ luật được đồng nhất thể với hình luật, luân lý được hỗn đồng với pháp lý, vương quyền là “tối cao vô tỉ”, cũng như trong điều kiện chưa qua cách mạng tư sản, chưa bước sang thời cận đại, chưa biết đến thuyết “tam quyền phân lập” của Montesquieu, chưa tiếp cận các khái niệm tự do, dân chủ và thậm chí chưa có danh từ “dân luật”, mà pháp luật triều Nguyễn cũng đã nêu ra được rất nhiều các định chế về thừa kế, hương hỏa như đã trình bày trên đây thì không thể nói rằng Hoàng Việt luật lệ “đã chú ý rất ít đến những vấn đề đó”.
Ngoài việc nghiên cứu Hoàng Việt luật lệ, luận văn cũng đã chứng minh vấn đề này bằng các luật lệ bổ sung dưới thời Minh Mệnh và Thiệu Trị để đi đến kết luận: Các vua sau Gia Long cũng tiếp tục quan tâm vấn đề dân luật, phần nào chú ý đến những đòi hỏi của thực tế xã hội, giải quyết vấn đề theo tập quán sinh hoạt trong nhân dân và truyền thống luật pháp của dân tộc. Đó cũng là một nét giá trị của luật pháp triều Nguyễn không nên bỏ qua. Điều này phù hợp như nhận định của TS. Huỳnh Công Bá: “Tất nhiên so với luật Hồng Đức, luật Gia Long lúc đầu có thiếu sót về chế độ hôn sản, về vấn đề thừa kế và hương hỏa, nhưng lập tức sau đó đã được Minh Mệnh và Thiệu Trị bổ sung và cách giải quyết của nó cũng hoàn toàn giống như pháp luật triều Lê” [150; 5]. Việc đánh giá tập trung vào một số nội dung sau.
3.1. Đánh giá về quyền lợi của người con gái trong việc hưởng di sản thừa kế Luận văn: Giá trị thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ.
So sánh với triết lí Nho giáo mà Hoàng Việt luật lệ chịu ảnh hưởng và bị chi phối, so sánh với các bộ luật của Trung Quốc như bộ luật Thanh triều… được xem là khuôn mẫu để nhà lập pháp xây dựng Hoàng Việt luật lệ; so sánh với bộ Quốc triều Hình luật của triều Lê mà vua Gia Long đã tham chước để xây dựng bộ luật cho người Việt ở những năm đầu thế kỷ XIX. Thì, Hoàng Việt luật lệ cũng đã có những thành tựu tiến bộ nhất định khi có những chế định bảo vệ cho quyền được hưởng di sản của người con gái trong gia đình bất chấp định kiến “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” của Nho giáo.
Đối với quyền thừa kế di sản của người con gái, ở Lệ 1 Điều 83 Hoàng Việt luật lệ minh thị như sau: “Đích thứ tử nam trừ hữu quan ấm tập tiên tận đích trưởng tử tôn kỳ phân xách gia tài điền sản bất vấn thê thiếp tì sinh, chỉ dĩ tử số quân phân”. Quy định này cần phải dịch là: “Ngoại trừ việc tập ấm quan tước thì phải theo nguyên tắc là con trai và phân biệt giữa dòng đích và dòng thứ, trước hết là phải chọn con cháu ngành trưởng dòng đích, còn đối với việc phân chia gia tài và ruộng đất thì không phân biệt con của vợ cả, vợ thứ hay nàng hầu, chỉ căn cứ vào tổng số con cái mà phân chia”.
Như vậy, vấn đề gây tranh luận giữa các nhà nghiên cứu Hoàng Việt luật lệ chính là do cách hiểu về chữ “tử” mà ra. P. Philastre hiểu chữ “tử” là con trai (enfants mâles) nên cho là con gái không được phân chia gia tài. Đây là công trình nghiên cứu về Hoàng Việt luật lệ đầu tiên, với nhận định như vậy, P. Philastre “vô tình” đã đặt nền móng cho một loạt các nhận định không đúng đắn của các nhà nghiên cứu sau này. Sự thật, cần phải hiểu chữ “tử” ở đây là “con cái nói chung” tức gồm cả con trai lẫn con gái. Trước đây, Camille Briffant đã từng đính chính vấn đề này và do đó cần phải hiểu là “cả con trai lẫn con gái đều được chia gia tài của cha mẹ”. Luận văn: Giá trị thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ.
Thực ra, ngoài Hoàng Việt luật lệ, dưới các triều Minh Mệnh và Thiệu Trị, nhà Nguyễn còn có những tập hợp luật lệ bổ sung được chép trong Minh Mệnh đại lược, Hoàng triều khai định luật lệ và Chấn chỉnh hương phong. Nội dung của Hoàng triều khai định luật lệ và Chấn chỉnh hương phong chép gần giống nhau và bổ sung cho nhau. Điều đáng chú ý là có thể thấy trong hai văn bản đó có một số điều luật hộ, hoặc không thấy hoặc có nội dung khác những điều luật hộ trong bộ Hoàng Việt luật lệ. Trừ vài điểm thuộc thời Minh Mệnh năm thứ 6, còn hầu hết đều thuộc năm đầu thời Thiệu Trị.
Nghiên cứu các điều khoản về luật hộ trong luật lệ thời Minh Mệnh và Thiệu Trị có thể giải đáp được nhiều điều về chế độ hôn sản dưới triều Nguyễn. Theo giáo sư Nguyễn Đức Nghinh, cuộc tranh luận giữa Philastre và Briffaut về chữ “tử” được lệ viết chúc thư thời Minh Mệnh giải quyết một cách dứt khoát và phần thắng thuộc về Briffaut. Trong thể lệ viết chúc thư (bản mẫu) có nói rõ: “Vì sợ các con về sau tranh giành gia tài bèn lập chúc thư phân định hương hỏa và kỷ phần cho các con trai con gái và nếu đứa con trai con gái nào dám càn rỡ tranh giành gia tài điền sản thì tự mình chịu tội thất hiếu”.
Vậy là, sự thực là theo pháp chế của triều Nguyễn, cả người con gái cũng được chia gia tài điền sản của cha mẹ đẻ giống như Quốc triều Hình luật thời nhà Lê. Gia phả họ Võ chép việc các con gái được hưởng tài sản là một minh chứng thực tế cho vấn đề này.
Ngoài ra, tại Lệ 2 Điều 83 Hoàng Việt luật lệ còn nói rõ là trong trường hợp đối với hộ tuyệt tự, không có người đồng tông kế tự, thì con gái còn được hưởng tài sản hương hỏa để thờ cúng tổ tiên (“Hộ tuyệt tài sản vô đồng tông ứng kế chi nhân sở hữu thân nữ thừa thụ”). Như vậy là cả con gái cũng được thừa kế tài sản hương hỏa nếu trong trường hợp đồng tông bị tuyệt tự hoặc không có người nào đủ tư cách thừa kế nữa [102; 27].
Quy định này của Hoàng Việt luật lệ khác với pháp luật nhà Thanh của Trung Quốc, thậm chí không tìm thấy quy định này trong toàn bộ nội dung của pháp luật phong kiến Trung Quốc. Có sự khác biệt này là do ở Trung Quốc con gái thường không được hưởng tài sản gì mà chỉ được một ít của hồi môn khi về nhà chồng.
Trong khi đó ở Việt Nam, theo tục lệ và các bộ cổ luật (triều Lê, triều Nguyễn) đều thừa nhận quyền thừa kế của người con trai và con gái là như nhau. Đến đây, lại có một số ý kiến cho rằng, trong vấn đề thừa kế hương hỏa pháp luật triều Nguyễn chỉ “tiệm cận” chứ không tiến bộ như pháp luật triều Lê. Trong khi Quốc triều Hình luật cho phép con gái được hưởng thừa kế hương hỏa chỉ sau các con trai trưởng, thì Hoàng Việt luật lệ quy định chỉ trong trường hợp “đồng tông bị tuyệt tự” tức họ hàng nhà nội không còn ai nữa để thừa kế thì hương hỏa mới được giao cho người con gái. Về vấn đề này, chúng tôi nhìn nhận ở góc độ riêng. Thực ra, mục đích cuối cùng của các chế định về thừa kế và sở hữu trong cổ luật là hướng đến việc bảo vệ sự toàn vẹn ruộng đất, điền sản để lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nhất là điền sản hương hỏa thì phải được lưu truyền mãi mãi để thờ cúng dòng họ. Điều đáng sợ nhất là: “trong trường hợp đi lấy chồng thì toàn bộ ruộng đất hương hỏa có thể chuyển ra khỏi dòng họ nội” [418; 36]. Đây là mục đích tối thượng mà cả Hoàng Việt luật lệ lẫn Quốc triều Hình luật đều hướng đến trong các chế định về thừa kế. Tuy nhiên, mỗi bộ luật lại có cách giải quyết riêng. Luận văn: Giá trị thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ.
Quốc triều Hình luật thừa nhận con gái cũng được phần hương hỏa chỉ sau các con trai trưởng (quy định tại Điều 391 Quốc triều Hình luật). Thực tế đặt ra cho nhà lập pháp triều Lê là con gái lấy chồng thì phải “tòng phu”, khả năng tài sản hương hỏa sẽ “chuyển” ra khỏi nhà cô con gái mà nhập vào khối tài sản chung với nhà chồng. Vì vậy, Quốc triều Hình luật “công nhận quyền sở hữu tài sản riêng của người vợ đối với tài sản được thừa kế từ gia đình mình” [418; 36] để bảo vệ cho tài sản hương hỏa của dòng họ bên ngoại. Hoàng Việt luật lệ lại có cách giải quyết riêng. Hoàng Việt luật lệ chỉ thừa nhận quyền được thừa kế hương hỏa của các con gái chỉ khi “đồng tông bị tuyệt tự”. Quy định này về hình thức thì không tiến bộ như quy định của pháp luật nhà Lê. Tuy nhiên, về mặt nội dung và tính khả thi trên thực tế lại cao hơn. Cổ luật quy định cho người phụ nữ có quyền có tài sản riêng nhưng trên thực tế trong xã hội xưa với điều kiện kinh tế nông nghiệp là chủ yếu, vợ chồng cùng chung tay lo cái ăn, cái mặc cho gia đình, thậm chí có những người vợ phải quán xuyến cả kinh tế gia đình để tạo điều kiện cho người chồng có cơ hội thuận tiện để ăn học, dùi mài kinh sử mong muốn đỗ đạt, có cơ hội thi thố tài năng giúp đời và đổi mới cuộc sống “Quanh năm buôn bán ở mom sông, nuôi đủ năm con với một chồng”. Đó không chỉ là hình ảnh riêng của bà vợ cụ Tú Xương mà chính là tình hình chung của người đàn bà Việt Nam ngày xưa. “Dâu là con, rể là khách”, người con dâu sẽ sống trong gia đình nhà chồng như con cái trong gia đình nhà chồng, cùng chồng và gia đình chồng chăm lo cuộc sống gia đình mà người vợ vẫn giữ được điền sản riêng thì dường như không hợp lý. Thêm vào đó là nề nếp gia phong của gia đình “phụ hệ chế” cổ xưa ràng buộc người phụ nữ. Người phụ nữ kiểu mẫu không những phải có đủ “tứ đức” (công, dung, ngôn, hạnh) mà còn phải biết tôn trọng nguyên tắc “tam tòng” (tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử). Mặc dù địa vị người vợ trong gia đình đã có một vị trí nhất định như luận văn đã trình bày ở trên. Nhưng đặt trong vấn đề danh dự của dòng họ, sự giáo dục cẩn thận của gia đình (gia giáo), sự củng cố nề nếp gia phong. Người vợ trong gia đình cổ xưa bản thân luôn ý thức được tình nghĩa và bổn phận “tòng phu” của mình. Việc người vợ có tài sản riêng là phù hợp (Hoàng Việt luật lệ cũng quy định vấn đề này) nhưng người vợ được thừa kế điền sản hương hỏa từ gia đình mình đã mang theo về nhà chồng thì “mục đích giữ gìn sự toàn vẹn hương hỏa, điền sản” cho gia đình, dòng họ mà cổ luật đặt ra không sát với thực tế, vì trong xã hội xưa với điều kiện nền kinh tế nông nghiệp thì điền sản là tài sản quan trọng, chủ yếu thì việc người vợ đưa của “hương hỏa” được thừa kế để cùng tạo dựng cuộc sống gia đình nhà chồng là điều rất dễ xảy ra.. Luận văn: Giá trị thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ.
Thậm chí, trong trường hợp người vợ vẫn giữ được điền sản hương hỏa được thừa kế riêng từ gia đình nhà mình thì cũng chỉ bảo tồn cho dòng họ ngoại được một đời. Vì, theo Điều 374 Quốc triều Hình luật: “nếu vợ chồng có con thì toàn bộ tài sản riêng của người vợ (hoặc người chồng) đã chết sẽ được chia đều cho các con”. Và như vậy, điền sản hương hỏa riêng của người mẹ sẽ do các con thừa kế lấy, dĩ nhiên các con theo họ cha và hương hỏa mà người phụ nữ mang về nhà chồng đến đây thuộc về dòng họ bên chồng.
Từ những lý do nêu trên, có thể thấy Hoàng Việt luật lệ quy định vấn đề về thừa kế hương hỏa của người con gái có phần hợp lý và phù hợp với thực tế gia đình cổ xưa. Trong một chừng mực nhất định bảo vệ được mục đích tối thượng (sự toàn vẹn điền sản của dòng họ) trong thừa kế hương hỏa.
3.2. Đánh giá về quyền hưởng di sản thừa kế của các con
Đối với chế định tử hệ, pháp luật triều Nguyễn đã có những quy định cụ thể về tử hệ chính thức, tử hệ tư sinh và tử hệ nghĩa dưỡng. Trong tử hệ chính thức đã quy định về sự thừa nhận tử hệ chính thức, sự suy đoán tử hệ chính thức, sự khước từ tử hệ chính thức… Trong tử hệ tư sinh đã quy định về sự thừa nhận con tư sinh, trách nhiệm thừa nhận con tư sinh, thân trạng con tư sinh. Trong thân quyền về tử hệ, pháp luật triều Nguyễn đã định rõ các thân quyền về nhân thân và thân quyền về tài sản: thừa kế hương hỏa, thừa kế tập ấm, thừa kế thông thường của các con.
Như vậy, trong tất cả các vấn đề về tử hệ và bảo vệ quyền thừa kế cho các con mà Quốc triều Hình luật quy định thì Hoàng Việt luật lệ cũng có quy định. Không chỉ vì vài trường hợp mặc tĩnh trong Hoàng Việt luật lệ mà đi đến phủ nhận về giá trị bộ luật này cùng với nền pháp luật của triều Nguyễn nói chung. Chưa kể có một số trường hợp Hoàng Việt luật lệ tỏ ra rất tiến bộ, khoan dung, hợp tình hợp lý. Một trong những trường hợp này là vấn đề phân chia tài sản giữa con cái người mệnh một.
Điều 338 Quốc triều Hình luật quy định: “Nếu cha mẹ mất cả, nhưng có ruộng đất mà chưa kịp để lại chúc thư, anh chị em tự chia cho nhau, thì lấy 1/20 số ruộng đất đó làm phần hương hỏa, giao cho người con trai trưởng giữ, còn thì chia đều. Phần chia cho con của vợ lẽ, nàng hầu thì phải bị kém”.
Cùng có quan hệ huyết thống, cùng một cha sinh ra nhưng có sự phân biệt trong quyền hưởng di sản giữa các con. Tùy theo địa vị của người mẹ, nếu mẹ của các con là vợ cả thì các con được hưởng phần tài sản thừa kế nhiều hơn các con chỉ là con của vợ lẽ, nàng hầu. Đây là sự bất bình đẳng trong việc phân định di sản thừa kế giữa các con cùng huyết thống.
Trong khi đó, ở Lệ 1 Điều 83 Hoàng Việt luật lệ quy định: “Ngoại trừ phẩm tước tập ấm và hương hỏa, các tài sản còn lại của người chết đều được chia đều cho các con, không phân biệt con của vợ cả, vợ lẽ hay nàng hầu”. Như vậy, Hoàng Việt luật lệ bảo vệ cho các con được quyền hưởng phần thừa kế như nhau bất kể là con vợ cả, con vợ lẽ, con nàng hầu thậm chí cả con tư sinh do người cha thừa nhận. Quy định này “tiệm cận” với tư tưởng của pháp luật hiện đại trong việc thừa nhận các con đều có quyền hưởng di sản ngang nhau, không kể là con trong giá thú hay ngoài giá thú.
3.3. Đánh giá về quyền lợi của người vợ góa Luận văn: Giá trị thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ.
Qua việc tìm hiểu và phân tích “chế định phân sản” và chế định “phân định di sản thừa kế” do một trong hai người phối ngẫu mệnh một, tức là giá thú bị đoạn tiêu do vợ hoặc chồng qua đời. Ở đó cho thấy có sự tôn trọng tài sản riêng và công sức đóng góp của người vợ.
Nội dung về “phân định di sản thừa kế” mặc dù bị “mặc tĩnh” trong Hoàng Việt luật lệ nhưng lập tức đã được Minh Mệnh tham chước luật triều Lê để bổ sung. Trong “Quốc triều tân luật” của Minh Mệnh chúng ta vẫn tìm thấy các quy định về phân sản do giá thú bị đoạn tiêu như Quốc triều Hình luật, về:
- Phân chia gia tài khi vợ trước có tạo lập điền sản nhưng không có con, vợ sau có con nhưng không góp phần tạo lập điền sản.
- Phân chia gia tài khi hai vợ chồng cùng gây dựng được điền sản nhưng chết mà không có con.
- Xử lý tài sản khi người vợ trước có con nhưng không góp phần tạo lập điền sản, vợ sau không con nhưng có tạo lập điền sản.
- Xử lý tài sản riêng của người vợ hay của người chồng vốn là tài sản thừa kế riêng của cha mẹ mình.
- Phân chia tài sản riêng của người chồng chết trong trường hợp vợ cả có một hay nhiều con, người vợ sau không có con.
- Phân chia tài sản do người vợ cả tạo lập nên cho con người vợ cả và cho người vợ sau không có con.
Qua các quy định này cho thấy trong trường hợp tài sản do hai vợ chồng cùng góp sức tạo lập nên thì pháp luật triều Nguyễn vẫn tôn trọng sự đóng góp công sức của người vợ, và trước pháp luật, cả hai vợ chồng đều có quyền hưởng dụng và sở hữu như nhau. Ngoài ra, pháp luật triều Nguyễn còn cho thấy có sự tôn trọng những tài sản riêng của người vợ mang về nhà chồng. Và nếu không có con chung thì lúc người này mệnh một, phần tài sản riêng này sẽ truyền lại cho những người thừa kế khác của mình (đó là cha mẹ, người thừa tự của người vợ trong họ hàng của người vợ). Trường hợp có con chung, thì chỉ con đẻ của bà ta mới được thừa hưởng phần tài sản riêng này, chứ không phải là người chồng hay gia đình chồng được hưởng.
Đồng thời, pháp luật triều Nguyễn cũng thừa nhận quyền gia trưởng của người góa phụ: “nếu người chồng chết trước, tài sản được giao cho người vợ quản lý”. Quy định này của luật lệ dưới thời Minh Mệnh đã được chứng minh bằng việc giải đáp câu hỏi 44 của Ủy ban cố vấn Án lệ như sau: “Nếu người chồng quá cố là gia trưởng, người quả phụ tiếp tục hành xử quyền của chồng. Người quả phụ có toàn quyền của người chồng đã mất để điều khiển gia đình”. Trên cơ sở đó, pháp luật triều Nguyễn cũng cho phép người vợ được quyền hưởng dụng một phần di sản của người chồng sau khi chồng chết (dùng để cấp dưỡng suốt đời) mà chỉ phải trả lại cho gia đình nhà chồng trong trường hợp người góa phụ tái giá.
Tinh thần của những chế định liên quan đến quyền thừa kế của người con gái, quyền lợi của người góa phụ trong gia đình đã làm nổi rõ quyền làm chủ tài sản của người phụ nữ ngang quyền, bình đẳng như nam giới, quyền của người vợ giống như quyền của người chồng. Đó là sự thừa nhận trên mặt luật pháp, địa vị thực tế của người phụ nữ trong nền kinh tế gia đình giữ một vị trí quan trọng không kém gì nam giới. Luật pháp triều Lê đã phải công nhận địa vị đó và luật lệ triều Nguyễn, sau Gia Long cũng phải trở về với tinh thần của những chế định nói trên. Luận văn: Giá trị thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ.
Trong lịch sử Việt Nam, so với pháp chế triều Lê, pháp chế triều Nguyễn đã bị nhiều nhà nghiên cứu cho rằng là một bước thụt lùi, sao chép nguyên văn luật lệ nhà Thanh, vứt bỏ khá nhiều những định chế tiến bộ thời Hồng Đức, trong đó có những định chế liên quan đến quyền thừa kế của người phụ nữ. Thực ra, khi xem xét cụ thể và toàn diện pháp chế triều Nguyễn, đặt trong tình hình chung của pháp quyền phong kiến Đông – Tây, cho thấy vị trí của người phụ nữ Việt Nam thời Nguyễn không đến nỗi “bị chà đạp” như vài nhận định.
Việc tham chước về quan chế và pháp chế là một hiện tượng rất bình thường trong lịch sử tiến hóa của nhân loại. Chỉ qua pháp chế nhân thân và quyền được hưởng di sản của người phụ nữ, quyền lợi của người vợ góa cho thấy pháp luật triều Nguyễn đã tôn trọng tục lệ của dân tộc, phản ánh được một nền văn hóa “thấm nhuần sâu sắc nguyên lý “mẹ”” [105; 27]. Thực tế, trong quá trình pháp chế hóa, triều Nguyễn đã thể hiện tính tự tôn của một dân tộc độc lập. Và cho dù có mô phỏng pháp chế triều Thanh thì pháp luật triều Nguyễn vẫn là sản phẩm tinh thần có ý thức của triều đại này. Trong đó địa vị, quyền lợi của người phụ nữ trong gia đình vẫn được bảo vệ trong khuôn khổ của pháp quyền phong kiến không khác gì so với Quốc triều Hình luật và có những mặt tiến bộ so với các quốc gia phong kiến phương Đông cùng thời. Tất nhiên, lúc ban đầu Hoàng Việt luật lệ còn có những thiếu sót về phân định thừa kế, hương hỏa nhưng đã được lập tức bổ sung trong Hoàng triều khai định luật lệ và Chấn chỉnh hương phong của các vua sau vua Gia Long. Nhìn nhận toàn diện nền lập pháp triều Nguyễn về vấn đề thừa kế không có sự cách biệt lớn với Quốc triều Hình luật thời nhà Lê.
Cũng như pháp quyền phong kiến Đông phương nói chung, Hoàng Việt luật lệ không tránh khỏi sự lẫn lộn giữa luân lý và luật pháp. Luân lý lại rất khắt khe với người phụ nữ, đặt người phụ nữ trong sự tuyệt đối của “tòng phu”, của “tam tòng, tứ đức”. Do đó, không tránh khỏi những hạn chế nhất định về quyền lợi của người phụ nữ. Tuy nhiên, bình tĩnh mà xét thì những nguyên tắc đó, cũng đã một thời răn đe, góp phần ổn cố trật tự gia đình và cả trật tự xã hội, làm cho gia đình truyền thống nói riêng và cả Đông phương nói chung, trở nên ấm áp, một điều mà nhiều người phương Tây hiện nay đang mơ ước vì nạn ly hôn, bạo hành trong gia đình đang tấn công và gặm nhấm đời sống gia đình.
3.4. Đánh giá về truyền thống, phong tục tập quán của dân tộc trong các quy định về thừa kế Luận văn: Giá trị thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ.
Mặc dù mô phỏng khuôn mẫu của các bộ luật phong kiến Trung Quốc, chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo nhưng Hoàng Việt luật lệ vẫn là sản phẩm lập pháp có ý thức của triều Nguyễn, ít nhiều vẫn giữ được sắc thái dân tộc độc đáo, riêng biệt của người Việt Nam. Nhất là đối với pháp luật thừa kế của dân luật – là những định chế hết sức đặc biệt, được thiết lập cho một mối quan hệ xã hội đặc biệt, quan hệ về văn hóa gia đình – văn hóa tộc người. Do đó, ở đây thừa kế gắn liền với lĩnh vực pháp lý văn hóa và nhà lập pháp khi xây dựng pháp luật cũng như khi vận dụng pháp luật đều phải có sự am hiểu sâu sắc về phong tục tập quán của dân tộc, về văn hóa dân tộc và tộc người. Nhà lập pháp triều Nguyễn đã tiếp thu các giá trị văn hóa của dân tộc thông qua các phong tục, tập quán của dân tộc vốn có từ lâu đời và đang được đông đảo quần chúng lao động ủng hộ. Có những trường hợp khi Hoàng Việt luật lệ tỏ ra mặc tĩnh, nhất là các vấn đề liên quan đến tài sản thì các vua triều sau lập tức tìm kiếm giải pháp để giải quyết trong tục lệ của dân tộc. Thậm chí, có những nội dung cổ luật không minh thị quy định mà nhường việc giải quyết cho phong tục, tập quán, tục lệ của dân tộc. Thí dụ: vấn đề thừa kế của vợ lẽ, nàng hầu…
Việc thừa nhận và áp dụng các phong tục tập quán như vậy đã ít nhiều đưa Hoàng Việt luật lệ vào gần hơn với thực tế cuộc sống, dễ hiểu hơn và do đó có tính khả thi nhất định. Đặt trong bối cảnh chung của các nước phong kiến khi cổ luật chỉ chủ yếu đặt ra phục vụ cho vương triều thì việc thừa nhận và tiếp thu các phong tục tập quán trên đây đã là một thành tựu đáng kể của pháp luật triều Nguyễn.
Quan hệ thừa kế gắn liền với văn hóa về gia đình, dòng tộc, phản ánh bản sắc của gia đình Việt Nam truyền thống, với đặc điểm trên kính dưới nhường, gọi dạ bảo vâng, thương yêu hòa thuận, bình đẳng nhưng có trật tự và nề nếp. “Con hơn cha là nhà có phúc” nhưng không phải là lối “Cá đối bằng đầu”, dân chủ bình đẳng quá trớn trong gia đình. “Vợ chồng bình đẳng, người vợ có địa vị không thua kém chồng trong gia đình” nhưng trong gia đình cũng cần phải có một người gia trưởng để có một người đại diện thực tế cho gia đình và khi giải quyết các vấn đề cụ thể của gia đình, cũng như việc giáo dục con cái và cả những việc kết ước giao dịch với các đệ tam sẽ khỏi phải bị đình trệ… Vì thế, nếu hạ thấp các giá trị truyền thống của gia đình mà chỉ chú trọng đến việc “phân định tài sản” thì sẽ phá vỡ thiết chế bền vững của nề nếp gia đình, mục đích “kế tự thừa diêu” không đạt được. Nếu không thừa nhận phong tục: “Máu chảy ruột mềm”, “Chị ngã em nâng”, “Một giọt máu đào hơn ao nước lã”… thì không thể có các chế định trong Hoàng Việt luật lệ, trong pháp luật triều Nguyễn trừng phạt nặng “con cháu chia tách gia tài khi cha, mẹ còn sống”, “con cháu càn rỡ bất tuân, tranh giành gia sản”… Luận văn: Giá trị thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ.
Một trong những đặc trưng về bản sắc văn hóa Việt Nam là tính cộng đồng và tình nghĩa: đây là tính cộng đồng trong gia đình, họ tộc mở rộng ra là tính cộng đồng trong xóm giềng, làng bản, vùng miền, đất nước… Tôn trọng tính cộng đồng của gia đình và dòng tộc nên Hoàng Việt luật lệ đã tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc huyết thống, nguyên tắc bảo đảm tuyệt đối Hiếu – Lễ – Nghĩa… trong các chế định về thừa kế. Thừa kế trong bối cảnh phải giữ vững diện mạo, tình đoàn kết của gia đình, phải tiếp tục kế tự để phát triển bền vững cho cả dòng họ. Từ quá khứ, tính cộng đồng xuất phát trước hết và quyết định không phải là theo luật, song luật pháp (bao gồm cả tục lệ) lại có một vai trò hết sức quan trọng trong việc củng cố và điều chỉnh các mối quan hệ ứng xử đã trở thành phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc.
Các phong tục tập quán dù có mâu thuẫn với quan điểm Nho giáo như vấn đề địa vị pháp lý của người phụ nữ trong gia đình nhưng nhà lập pháp triều Nguyễn vẫn chấp nhận giải pháp của tục lệ. Nhất là đối với thừa kế, gắn liền với các phong tục và truyền thống liên quan đến vấn đề kinh tế thì sự can thiệp của luật thành văn không hề đơn giản, thậm chí còn làm cho nó phức tạp hơn. Những nhân tố kinh tế đó ảnh hưởng, chi phối đời sống hàng ngày của dân chúng và gắn bó chặt chẽ với phong tục thờ cúng tổ tiên. Vì vậy, pháp luật triều Nguyễn đã thừa nhận việc thờ cúng này và điều chỉnh nó là nghĩa vụ pháp lý của con cháu. Thừa kế hương hỏa này theo TS. Nguyễn Quang Quýnh không tìm thấy trong pháp luật Trung Quốc kể cả bộ luật Thanh triều mà Hoàng Việt luật lệ lấy làm khuôn mẫu. Như vậy, thừa kế hương hỏa là quy định riêng có của cổ luật Việt Nam. Vì vậy, khi Minh Mệnh và Thiệu Trị tham chước để quy định về hương hỏa đã tìm kiếm giải pháp tục lệ của dân tộc mà tục lệ của dân tộc lại được phản ánh trung thực trong Quốc triều Hình luật dưới triều Lê nên các vua sau Gia Long đã tham chước các quy định về hương hỏa được quy định trong Quốc triều Hình luật. Các quy định về hương hỏa của pháp luật triều Nguyễn sau Gia Long không khác gì pháp luật nhà Lê thời Hồng Đức.
Thờ cúng là việc thể hiện tấm lòng tôn kính ông bà, cha mẹ, của con cháu. Đây là truyền thống tốt đẹp là bản sắc văn hóa của người Việt Nam. Xét về phương diện đạo đức và xã hội thì đây là cơ sở để pháp luật triều Nguyễn quy định về hương hỏa. Hương hỏa là sự biết ơn sinh thành, dưỡng dục, là sự tưởng nhớ đến công ơn của tổ tiên, ông bà, cha mẹ.
Ngày nay, pháp luật dân sự của Nhà nước ta kế thừa quy định về hương hỏa tại Điều 670 Bộ luật Dân sự 2005. Theo TS. Phùng Trung Tập quy định này “có sự kế thừa bản sắc dân tộc”, bảo đảm tính truyền thống “trong việc bảo tồn những di sản của cha, ông cho con, cháu nội tộc theo quan hệ huyết thống sâu sắc: Đích tử, đích tôn, đồng tông, đồng tính, theo tôn ti, theo thế thứ”. Hơn nữa, “quy định này là sự đặt lòng tin vào những người con, cháu, anh, em, vợ, chồng của người để lại di sản thực hiện đầy đủ các nghi lễ, tín nghĩa, trách nhiệm đối với cha ông, tổ tiên trong việc duy trì phong tục tốt đẹp của dân tộc. Đây là cội nguồn của sự bền vững dòng họ, gia đình và mối quan hệ truyền thống của anh em ruột thịt và là cơ sở để đảm bảo sự đoàn kết trong dòng tộc” [51; 37].
KẾT LUẬN Luận văn: Giá trị thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ.
Pháp luật về thừa kế là một bộ phận trong nền pháp luật của một triều đại, thể hiện sâu sắc phong tục tập quán của một dân tộc. Mặc dù có tham khảo pháp luật của nhà Thanh, cũng giống như Quốc triều Hình luật đã tham khảo pháp luật nhà Đường, nhưng pháp luật triều Nguyễn vẫn là sản phẩm tinh thần có ý thức của triều đại này. Thực tế nghiên cứu cho thấy trong quá trình điển chế hóa so với Quốc triều Hình luật tất nhiên, Hoàng Việt luật lệ lúc đầu có thiếu sót về vấn đề thừa kế và hương hỏa nhưng lập tức sau đó đã được Minh Mệnh và Thiệu Trị bổ sung và cách giải quyết vẫn hoàn toàn giống như pháp luật triều Lê. Và như vậy, pháp luật triều Nguyễn vẫn giải quyết vấn đề thừa kế theo phong tục tập quán sinh hoạt của người Việt Nam, là sự kế tục của truyền thống pháp luật dân tộc, không có gì khác hơn. Điều đó thể hiện rất rõ qua các nội dung về di sản thừa kế… được giải quyết trong luận văn. Đặc biệt đối với vấn đề pháp chế về nhân thân và tài sản của người phụ nữ, triều Nguyễn đã thể hiện sâu sắc đặc trưng của văn hóa Việt là sự tôn trọng phụ nữ (khác với xã hội gia trưởng phụ quyền của Trung Quốc): người con gái được thừa kế của cha mẹ để lại, người vợ góa có quyền quản lý di sản và thay quyền gia trưởng khi chồng mệnh một… Thậm chí một số vấn đề pháp luật nhà Thanh không quy định như thừa kế hương hỏa nhưng vẫn được pháp luật triều Nguyễn đề cập đến. Và trong một số vấn đề, nó đã giải quyết được một cách gọn ghẽ nhiều điều mà nền pháp lý phương Tây phải tốn hao không biết bao nhiêu là công sức và giấy mực nhưng vẫn chưa thể giải quyết được một cách thỏa đáng.
Nghiên cứu đề tài này, học viên gặp rất nhiều khó khăn: không đọc tốt chữ Hán – Nôm và tiếng Pháp, bản thân lại quá trẻ để có thể am hiểu được hết tục lệ của dân tộc và khó khăn nhất là do nguồn tài liệu quá khan hiếm, các tài liệu trước năm 1975 hầu hết đều bị hư hỏng, thất lạc. Đề tài này lại quá cổ điển, nghe qua dường như không mang tính thời sự, tính hiện đại như những đề tài khác nên nhiều bạn đồng nghiệp cho rằng “tác giả trẻ mà hoài cổ”. Bất chấp những khó khăn, học viên vẫn nỗ lực hết sức để thực hiện luận văn này vì học viên yêu thích tính cổ điển và trên hết học viên là người con được sinh ra, lớn lên ở Huế, mong muốn làm điều gì đó dù là rất nhỏ bé cho quê hương mình. Thực hiện luận văn này, học viên tâm đắc với câu nói của nhà văn hào Leibnitz: “Hiện tại chứa đầy quá khứ và cũng nặng gánh tương lai”, âu cũng là “một lòng bất vong bản”, ấy cũng là “nghĩa cử của người”.
Tất nhiên, đây chỉ là bước đầu nghiên cứu về cổ luật triều Nguyễn của một học viên “trẻ mà hoài cổ”, gặp phải rất nhiều khó khăn nêu trên nên không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót nhất định. Rất mong quý thầy cô, các nhà nghiên cứu lượng thứ và chỉ bảo! Luận văn: Giá trị thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thừa kế pháp luật trong hoàng việt luật lệ thời nguyễn

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
